Tổng Quan Tìm Hiểu Mật Tông Tây Tạng

Phithuydu

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
8 Thg 8 2008
Bài viết
756
Điểm tương tác
175
Điểm
43
Địa chỉ
Việt Nam
Kính thưa quý đạo hữu
Lịch sử truyền thừa Phật giáo nói chung và Mật tông nói riêng , vào Tây tạng ,có nhiều thư liệu nói đến , nhưng có quyển "Mật Tông Phật Giáo" của tác giả Nguyễn Tuệ Chân trình bày khá đầy đủ và xác thực. Tôi xin mượn nội dung trong quyển này để thuật lại về sự truyền thừa Mật Tông Phật giáo vào Tây Tạng.

Theo tác giả Nguyễn Tuệ Chân , thì vào thế kỷ thứ 5 đã có hai vị sư Mật Giáo từ Ấn Độ vào Tây Tạng mang theo một số pháp khí của Mật Giáo để cúng dường Lục Tự Đại Minh Chân Ngôn. Nhưng vua Tây Tạng thời ấy không biết Phạn Văn , và cả dân chúng cũng vậy , nên đối với các pháp khí ,người Tây Tạng chỉ biết xem là "thánh vật huyền bí" mà không có một khái niệm gì . Mật giáo không thâm nhập vào dòng đời ở Tây Tạng.
Mãi đến năm 630 , khi vua Songten Gampo ( Tùng Tán Cương Bố )lên ngôi rồi sau đó có hai vị công chúa - một của Nepal Ấn Độ ,tên Bhruti (Xích Tôn ) , và một của nhà Đường Trung Hoa , tên Kim Thành , lần lượt kết hôn với vua , thì hai vị công chúa này mỗi vị đều có đem theo kinh Phật , tượng Phật vào Tây Tạng. Được sự hỗ trợ của nhà vua Songten Gampo, hai vị công chúa đã cho xây hai ngôi chùa ở Lhasa ( Lạp Tát ) là chùa Ramoche và chùa Jokhang . Nhà vua Songten Gampo đã cho phiên dịch kinh điển Phật giáo sang tiếng Tây Tạng , vua đã thỉnh các luận sư ở Ấn Độ đến Tây Tạng và nhờ sự hợp tác của người Hán và người Tây Tạng . Các kinh điển được phiên dịch bao gồm cả kinh điển của Mật tông . Tuy nhiên Phật giáo trong gian đoạn bấy giờ chỉ có ảnh hưởng trong Vương triều hoặc chỉ trong tư thất của Vua mà chưa truyền bá sâu rộng vào quần chúng dân gian .
Sau khi vua Songten Gampo băng hà năm 649 , hai vương triều của hai vị vua kế tiêp không có phát triển Phật giáo . Đến khi vua Tride Tsuktsen ( Xích Đức Tổ Tán ) lên ngôi năm 704, vua tuy có ý muốn tiến hành công cuộc phục hưng và phát triển Phật giáo nhưng gặp sự chống đối của Bôn Giáo ( tôn giáo cho đến bấy giờ là quốc giáo của Tây Tạng) . Sau khi vua Tride Tsuktsen mất vào năm 755, con ông lên kế vị mới 12 tuổi . Khi vua Trisong Detsen ( Xích Tùng Đức Tán ) đến tuổi trưởng thành mới có năng lực phục hưng và phát triển Phật giáo . Vua Trisong Detsen đã cho thỉnh đại sư Tịch Hộ ( Tĩnh Mệnh ) từ Nepal tới Tây Tạng . Tịch hộ giảng Phật pháp Hiển giáo cho vua và dân Tây Tạng , nhưng bị Bôn Giáo khiêu chiến . Tịch Hộ xin về Nepal để thỉnh Đạo sư Liên Hoa Sanh của Mật giáo sang để đối phó với sự khiêu chiến của ngoại đạo . Liên Hoa Sanh sau khi đến Tây Tạng thực hiện pháp thuật cầu mưa , khiến được mùa ... nên có uy tín .Và Đạo sư Liên Hoa Sanh đã giao đấu với Vu sư Bôn giáo , bằng mật pháp , và đã hàng phục được Vu sư và vị thần của Bôn giáo .. Sau đó vua Trisong Detsen nhờ sự hỗ trợ của hai đại sư Liên Hoa Sanh và Tịch Hộ để xây ngôi chùa Samye ( Tang Da ) , chùa hoàn thành năm 766. Kế đến có hai việc quan trọng , một là có bảy người Tây Tạng đầu tiên xuất gia làm tăng trong chùa , hai là Kinh điển Phật giáo hiển , mật được phiên dịch rộng rãi .Liên Hoa Sanh truyền Mật pháp Kim Cương thừa cả bốn Tantra ( Đát đặc la )hay bốn cấp bộ mật pháp :Tát Đát đặc la, Hành Đát đặc la, Du Già Đát Đặc la , Vô Thương Du Già Đát đặc la . Tây Tạng lúc ấy nhận cả bốn bộ Tantra này.
Mật tông Phật giáo đã thật sự du nhập vào Tây Tạng ở hậu bán thế kỷ thứ 8.Đây là công trình của vị vua trước là Songten Gampo, và Trisong Detsen tiếp nối công trình này . Vua Trisong Detsen đã phải đương đầu với những khó khăn và phải tìm cách loại bỏ những nhân vật chống lại ảnh hưởng và sự phát triển của đạo Phật , đến từ những nhân vật của đạo Bôn .Thiết tưởng cũng cần nói qua về đạo này.
Bôn giáo của Tây Tạng thờ các Linh Khí như Thiên , Địa , Nhật, Nguyệt , Tinh Tú , Sông núi, Cây Cỏ , Sấm sét ...Đạo Bôn xem các Vô Tình đó là các Linh Thể và được gọi là đạo thờ Linh Khí của vũ trụ . Đạo này cho rằng vị vua đầu tiên của Vương triều là con của Thiên , sau khi chết leo thang về trời .Mọi hoạt động tôn giáo như cúng tế , hôn nhân , tang lễ , trồng trọt, giao binh , xây lăng cho vua ...đều do chức sắc của đạo là Vu Sư quyết định . Vu sư phần nhiều do giới quý tộc ( quan chức theo vua ) đưa ra trong giới của họ , nên luôn luôn ủng hộ giới quý tộc , vốn chi phối hành động của vua , nên quyền lực của vua hạn chế bởi sự chi phối này .
Sau đó một thời gian, lúc ấy vào thời vua Khritsu Detsan ( Xích Tổ Đức Tán ,tại vị 815-mất 838)nhóm chống phá Phật giáo do một số Đại thần chủ mưu đã giết vua Khritsu Detsan và đưa Langdarma ( Lãng Đạt Ma ) lên ngôi năm 838.
Cuộc tiêu diệt Phật giáo lại nổi lên dữ dội .Chùa chiền bị đóng cửa hay phá hủy , tượng Phật bị đập vỡ , vứt xuống sông , kinh Phật bị thiêu hủy . Một số tu sĩ đã phải chôn giấu kinh điển trong hang động , một bộ phận tu sĩ phải trốn sang Ấn Độ . Cuối cùng có một vị tăng đã phải giết chết vua Langdarma thì mới chấm dứt được sự tiêu diệt đạo Phật, vào năm 842.Thời kỳ tiền truyền tiếp diễn . Thời kỳ này không cho truyền bá Du Già Vô Thượng và gọi là Cựu Phái Mật tông.
Vào thời kỳ hậu truyền được xem như bắt đầu năm 978 có truyền bá Vô Thương Du Già , được gọi là Tân Phái Mật tông .Vào thời kỳ này có nhiều trường phái Mật giáo . Phái có mặt sớm nhất là phái Nyingma-pa ( Ninh Mã ), sau có thêm nhiều phái mà ba phái chính là phái Sakya-pa, phái Kagyu-pa, và phái Gelug-pa.
Đường lối tu tập chính của từng phái là gì chúng ta sẽ tìm hiểu .
 

Phithuydu

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
8 Thg 8 2008
Bài viết
756
Điểm tương tác
175
Điểm
43
Địa chỉ
Việt Nam
Thưa quý đạo hữu
Mật tông Phật giáo sau khi chính thức truyền thừa vào Tây Tạng thì trải qua thời gian gọi là thời kỳ tiền truyền , rồi đến giai đoạn gọi là thời kỳ hậu truyền bắt đầu từ năm 978. Trong thời kỳ này với sự ra đời của các trường phái , sơ lược qua các phái thì có :
_ PHÁI NYINGMA-PA ( Ninh Mã )
Vào thế kỷ 11 , một số vị tu sĩ của Tây Tạng dựa vào những gì Đạo Sư Liên Hoa Sanh để lại mà họ được thừa hưởng qua công trình, truyền pháp của Đạo Sư như Chú Pháp, Pháp Khí ,những kinh điển hệ Mật truyền ,Các vị tu sĩ này đã tu tập theo những gì Đạo sư Liên Hoa Sanh đã truyền dạy và họ đã tôn Liên Hoa Sanh làm Tổ Sư . Những vị tu sĩ này đã bắt đầu tạo dựng chùa miếu , trung tâm hoằng truyền Mật Pháp , thành lập phái tu lấy cứu cánh là đạt được cảnh giới Đại Viên Mãn của chân như bản thể .Phái này được gọi tên là Nyingma-pa, chú trọng vào Mật pháp , không có điều luật yêu cầu người theo phải học kinh điển Hiển giáo .Tuy được hình thành ở thế kỷ 11 là thuộc thời kỳ Hậu truyền , nhưng do vì do vì với đường lối cũ nên phái vẫn được xem là Cựu phái .
_ Phái Sakya-pa (Tát Ca )
Trên trái núi có một tu viện Mật giáo tọa lạc thật hoành tráng, dốc núi thoai thoải lên và xuống.Nửa chừng dốc , hành giả sẽ nhìn thấy có một khối đá to màu xám , và mặt dốc có một khoảng là mặt đá xám . Ngôi chùa vì thế được mệnh danh là chùa Sakya có nghĩa là " Đất Xám" , và giáo phái Mật hoằng dương từ ngôi chùa này được gọi là phái Sakya.Phái này chú trọng tu theo kiến giải của "Sinh Tử Niết Bàn không khác "
Có 18 bộ Kinh Luận được giảng dạy trong phái này , trong đó có 6 bộ sau :
* A tì đạt ma câu xá
*Hiện Quán Trang Nghiêm
*Nhập Trung
*Lượng Thích
*Đại Thừa Tối Thượng
*Ba La Đề Mục Xoa Kinh
Phái này có nhiều đóng góp về Ngũ Minh Học và có ảnh hưởng đến nền chính trị tại Tây Tạng thế kỷ 13, 14.Chân sư của phái :Kunga Gyaltshan (1182-1251) hiệu Tát Ca Ban Thiền , Phagas-pa (Bát Tư Ba , 1235 _ 1280 )
Nguyên phái Sakya do một dòng họ quý tộc thành lập . Đó là dòng họ có một người cửu huyền là một trong số bảy người Tây Tạng đầu tiên xuất gia vào thời Trisong Detsen ở ngôi vua ( 755 lên ngôi - mất 797 )
 

Phithuydu

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
8 Thg 8 2008
Bài viết
756
Điểm tương tác
175
Điểm
43
Địa chỉ
Việt Nam
Phái Sakya các tu sĩ đội mũ hồng nên được gọi là Hồng phái.
_ Phái KAGYU -PA ( Cát Nhĩ )
Thành lập ở thế kỷ 12 với tên là Dagno Kagyu , phân thành nhiều hệ phái .Sau cùng lấy tên là Kagyu . "kAGYU" là tiếng Phạn có nghĩa là "khẩu nhĩ truyền " và nghĩa của tên phái Kagyu là phái truyền bằng khẩu từ vị Kim Cang Sư, và thụ nhận qua tai của người đệ tử .Các đạo sư của phái nhập thất thời gian từ hai đến ba năm rồi trở ra truyền Mật Ngữ.
Phái Kagyu lấy giáo lý Hiển giáo Trung Quán làm điểm trọng yếu
Mật giáo quan trọng của phái là Đại Thủ Ấn, là phép tu thiền định bằng cách tập trung tâm ý vào một điểm , một cảnh ,hay một việc ,để đạt Định, rồi quán minh sát Tâm để tìm Tâm xem có thấy không .
Phép tu Tối Cao của phái Kagyu là Vô Thượng Du Già.
Sư Tổ của phái : Tilopa (988 - 1069)
Chân sư của phái : Đại sư Naropa ( 1016 - 1100 ) , đại sư Marpa ( 1012 - 1098 ), đại sư Milarepa ( 1040 - 1123 ).
Phái này lấy sáu pháp tu của Naropa là Naropa Lục Pháp làm căn bản
Người tu phái Kagyu mặc y phục trắng nên phái này còn có tên là Bạch phái.

_ Phái GELUG-PA( Cách Lỗ )
Do đại sư Tsongkhapa ( Tông Khách Ba ,1357- 1419 ) thành lập
Phái lấy bộ luận của Tsongkhapa về sự giác ngộ làm căn bản.
"Gelug " có nghĩa là "hiền nhân ".
Phái này chủ trương người tu phải đặt nặng việc học Tam Tạng kinh điển Hiển giáo. Các tu sỹ của phái này không được có vợ .
Chủ yếu pháp môn của phái là Duyên Khởi Tính không
Phái xem việc tu thiền là quan trọng
Phái Gelug là phái cho đến bây giờ có tầm ảnh hưởng quan trọng nhất và trở thành phái lớn nhất.
Truyền qua 14 đời đại sư , hiện bây giờ vị đại sư gọi là Lạt Ma hay Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đang hoằng truyền pháp trên thế giới , được sự tín nhiệm của người Âu Mỹ , và đã được giải Nobel về Hòa Bình .Đó là Đạt Lai Lạt Ma Tenzin Gyatso , ngài sinh năm 1933.Ngài được xem là hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát.
Phái Gelug người tu đội mũ vàng nên còn được gọi là Hoàng phái.
 

Phithuydu

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
8 Thg 8 2008
Bài viết
756
Điểm tương tác
175
Điểm
43
Địa chỉ
Việt Nam
Thưa quý đạo hữu
Nói đến phái Kagyu ( Cát Nhĩ ) là chúng ta không thể không nhớ : Sáu pháp Naropa , Vô thượng Du Già . Vậy thì chúng ta sẽ đi lại những điểm quan trọng này .
_Sáu pháp Naropa :
1-Linh Nhiệt : khơi nội hỏa để tạo sức nóng (TUMMO)
2-Huyễn quán : trải nghiệm quán và thấy thân này giả tạm (GYULU)
3-Mộng quán : quán sát những giấc mộng (MILAM )
4-Tịnh Quang quán :quán và thể nghiệm ánh sáng của tâm thức sáng rực (OSEL)
5-Trung hữu :trải nghiệm lý về thân trung ấm (BARDO)
6-Thiên thức :di chuyển tâm thức mình vào một Tịnh độ ( PHOWA )

_ Vô Thượng Du Già : Là bộ tantra cao cấp nhất trong bốn bộ . Trải xong ba bộ tantra trước (Tác, Hành, Du Già )thì hành giả sẽ mới được sư phụ của mình làm lễ quán đỉnh thứ tư để nhập môn Vô Thượng Du Già .Trong tantra này lại có hai hệ :Bí Mật Tập Hội , Kim Cương hội.
Vô thượng du già có thể được hiểu là pháp môn tu để đạt được sự trực nhận chân lý với niềm vui vô biên của đại lạc của những vị đại thành tựu. Sự thành tựu này có là do sự hòa hợp giữa phương tiện và trí huệ qua kinh nghiệm thực tại siêu việt của Bồ đề tâm .

" Hiển giáo vốn xem sắc dục là CHƯỚNG ĐẠO pháp nên giới cấm nghiêm cách , giảng về tịnh , bài xích nhiễm .Vô thượng Du Già của Mật tông thì lại xem đó là pháp tu đạo.Mật tông nói : "Lạ thay tự tính tịnh , tùy nhiễm dục tự nhiên , vì ly dục thanh tịnh , dùng nhiễm mà điều phục "(KIM Cương Đỉnh Kinh )... Như khái niệm "dục câu " trong Phật giáo có nghĩa là dùng ái dục lôi kéo người để mà cứu độ họ . Trong kinh Duy Ma có câu :"tiên dĩ dục câu khiên , hậu lệnh nhân Phật trí " ( trước dùng sắc dục trói buộc , sau khai mở Phật trí ). Do vậy Mật tông Vô thượng Du già là phép tu dùng dục chế dục" ( "Mật Tông Phật Giáo" của Nguyễn Tuệ Chân )

Nói đến phái Gelug là nói đến Đạt Lai (Lạt ma ), Ban Thiền ( lạt ma ), tái sinh ... do đó chúng ta liên hệ tới những yếu tố khác như gueshe ,guru, tulku , hóa thân..Vậy chúng ta sẽ xem những danh từ đó nghĩa là gì .
-Lạt Ma :Là phiên âm Hán Việt của tiếng Tây tạng "Lama" có nghĩa là "Thầy, Đạo sư "và chữ Lama là dịch nghĩa của "Guru" tiếng Phạn nghĩa là Thầy , Đạo Sư.
_ Đạt lai là phiên âm Hán Việt của tiếng Tây tạng "Dalai", nghĩa là "biển lớn của trí huệ ", "Pháp Vương ".
Chúng ta biết rằng hành giả muốn tu Mật Pháp phải có một vị Thầy ( Guru ) nhận mình.Và muốn được thầy nhận thì phải đạt danh hiệu Gueshe. Muốn đạt danh hiệu gueshe, hành giả phải thông đạt 5 chủ đề sau:
_ Bát Nhã Ba La Mật Đa
_Trung Quán Luận
_Nhân Minh học hoặc Lượng học
_ A tì đạt ma.
_ Luật .
Và phải trải qua một kỳ khảo sát kiểm tra.
Đạt danh hiệu này có nghĩa là hành giả đã có trình độ học tập về Hiển giáo , đủ để bắt đầu chuyên tu bên Mật giáo .
Trong Mật tông Tây Tạng các Đạo Sư (Lạt Ma )của đời này là đạo sư đời trước tái sinh . Do đó pháp Bồ Đề Tâm của Mật tông là Tulku ( Chu Cô ), nghĩa là tái sinh.Có hai dòngTulku chính:
Panchen Lama và Dalai Lama( Ban Thiền Lạt Ma và Đạt Lai Lạt Ma ).Dòng Ban Thiền Lạt Ma , vị tái sinh là Hóa thân của Phật A Di Đà . Dòng Đạt Lai Lạt Ma , vị tái sinh là Hóa thân của Quán Thế Âm Bồ Tát .
(Về Hóa thân thì có các nghĩa :
1- Thân thị hiện( tái sinh bằng Đại nguyện và khả năng của vị Bồ Tát đã đạt địa vị thứ tám trong Thập Địa )
2-Thân biến hóa ( bằng thần thông hiện ra )
3-Ứng Thân ( Thân Sắc -tướng tương ưng để thể hiện Trí Tuệ Phật ))

Các Lạt Ma chính thức có thêm nhiệm vụ lãnh đạo chính trị, từ thế kỷ 20

(Nguồn tham khảo : Phật Học Đạo Uyển , Mật tông Phật Giáo -Nguyễn Tuệ Chân-, Wikipedia )
 
Bên trên