Thảo luận kinh Viên giác.- Chương 6

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,376
Reaction score
1,701
Điểm
113
CHƯƠNG SÁU

TÁNH VIÊN GIÁC VỐN LÀ PHI TÁNH

--- o0o ---

Bấy giờ, Bồ tát Thanh Tịnh Tuệ đảnh lễ Phật và chấp tay thưa:

Đấng Đại bi Thế Tôn vì chúng con nói những việc bất tư nghì, từ trước chúng con chưa từng được nghe. Nhờ sự chỉ dạy khéo léo của Thế Tôn thân tâm chúng con khinh an thư thới được lợi ích lớn lao. Kính xin Như Lai Thế Tôn vì đại chúng trong hội này, dạy rõ thêm về tánh Viên Giác. Đối với Như Lai Viên Giác Diệu Tánh chúng sanh, Bồ tát và chư Phật tu hành khi chứng đắc có sai khác chi chăng? Cúi mong Như Lai chỉ dạy, khiến cho chúng sanh đời sau tùy thuận khai ngộ và lần lần thể nhập.

Phật dạy: Thanh tịnh Tuệ! Ông cũng lại hỏi Như Lai về pháp tu hành tiệm tiến sai biệt! Này, Thanh Tịnh Tuệ ! VIÊN GIÁC TỰ TÁNH vốn là PHI TÁNH, tùy thuận các tánh hư vọng đối đãi mà Như Lai khai thị, thực lý thì không có gì để chứng đắc, cũng không có gì để nắm lấy. Bởi vì ở trong thật tướng không có Bồ tát và chúng sanh. Bởi vì Bồ tát và chúng sanh đều là huyễn hóa. Huyễn hóa diệt, không còn ai là người chứng đắc. Ví như con mắt không tự thấy con mắt, vì tánh của nó tự bình đẳng, không có chủ thể bình đẳng can dự vào. Chúng sanh mê mờ điên đảo, chưa có thể diệt trừ huyễn hóa, đối với kẻ diệt người chưa, dựa trên công dụng hư vọng đó mà giả định ra có sai biệt! Nếu tùy thuận cảnh giới tịch diệt VIÊN GIÁC NHƯ LAI thì không có đối tượng tịch diệt và người chứng nhập tịch diệt.

Này, Thanh Tịnh Tuệ ! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến giờ do vọng tưởng về bản ngã và tham ái bản ngã, cho nên khởi niệm ghét thương đam mê ngũ dục, không từng phản tỉnh hồi quang. Nếu gặp thiện tri thức chỉ bày TÁNH VIÊN GIÁC THANH TỊNH, xác định rõ ràng và phân tích tánh khởi diệt vô thường hư huyễn của tự ngã, bèn nhận biết kiếp sống này chỉ là bóng quáng khởi diệt trong NHƯ LAI VIÊN GIÁC nhiệm mầu.

Lại có hạng người trừ hết bóng quáng khởi diệt như huyễn, được cảnh giới thanh tịnh, bèn chấp ở cảnh tịnh, khiến cảnh tịnh trở thành đối tượng chướng ngại, cho nên ở trong Viên Giác mà không được tự tại. Hạng người như thế, gọi là phàm phu tùy thuận tánh Viên Giác.

Hàng Bồ tát thường bị chướng ngại vì hiểu biết. Dù trừ được cái ngại đó, nhưng còn mắc vào cái ngại giác tri (năng quán) do vậy mà không được tự tại. Hạng người như thế, gọi là Bồ tát chưa đăng địa tùy thuận tánh Viên Giác.

Này, Thanh Tịnh Tuệ ! Có "sở chiếu", "năng chiếu" đều là chướng ngại. Thế cho nên Bồ tát thường Giác mà không trụ ở Giác. Năng chiếu, sở chiếu đồng thời vắng bặc. Ví như người tự cắt đầu, đầu đã đứt rồi mà không có người cắt. Cũng vậy, lấy tâm ngại tự diệt các chướng ngại. Ngại đã diệt hết rồi, không có người diệt ngại. Nhận thức rằng giáo lý của kinh điển ví như ngón tay chỉ trăng, nhìn thấy trăng rồi, ngón tay không phải là trăng. Tất cả Như Lai vận dụng ngôn thuyết khai thị cho Bồ tát cũng như thế đấy. Hạng người như vậy, gọi là Bồ tát đăng địa tùy thuận tánh Viên Giác.

Này, Thanh Tịnh Tuệ ! Tất cả chướng ngại là cứu cánh giác. Niệm đúng, niệm sai đều là giải thoát. Pháp tốt, pháp xấu đều là Niết bàn. Trí tuệ ngu si đều lá Bát Nhã. Pháp hành của Bồ tát, của ngoại đạo đều là Bồ đề. Vô minh, chơn như xem đồng một thể. Giới, định, tuệ, dâm, nộ, si đều là phạm hạnh. Chúng sanh, quốc độ đồng một pháp tánh. Địa ngục, Thiên cung đều là Tịnh độ. Hữu tình, vô tình đều thành Phật đạo. Tất cả phiền não là rốt ráo giải thoát. Dùng pháp giới hải tuệ thấy rõ thực tướng của các tướng y như hư không. Đấy gọi là cảnh giới Như Lai tùy thuận tánh Viên Giác.

Này, Thanh Tịnh Tuệ ! Bồ tát và chúng sanh nào ở trong mọi lúc không khởi vọng niệm. Đối với vọng tâm cũng không ngăn dứt. Ơ?ảnh vọng tưởng không tăng thêm bực bội. Lúc không bực bội không luận bàn chân thực. Những chúng sanh nghe được pháp môn như thế mà tin hiểu, thọ trì, không sanh kinh sợ, đó là người tùy thuận tánh Viên Giác trọn vẹn trên cõi đời.

Các ông phải biết những chúng sanh như thế, là người đã từng cúng dường trăm ngàn muôn ức hằng hà sa chư Phật và đại Bồ tát, là người đã trồng sâu gốc rễ phước đức rồi. Phật nói người như thế quyết định thành tựu nhất thiết chủng trí.

Bấy giờ đức Thế Tôn tuyên lại nghĩa trên bằng một bài kệ :

Thanh Tịnh Tuệ nên biết.

Tánh Bồ đề viên mãn.

Không lấy cũng không chứng.

Không Bồ tát chúng sanh.

Lúc Giác và chưa giác.

Thứ lớp có sai khác.

Chúng sanh ngại vì biết.

Bồ tát ngại vì Quán.

Đăng địa tròn tịch diệt.

Không trụ tất cả tướng.

Đại Giác đều viên mãn.

Gọi tùy thuận hoàn toàn.

Hậu thế các chúng sanh.

Tâm không sanh hư vọng.

Phật nói người như thế.

Là Bồ tát hiện đời.

Cúng dường mười phương Phật.

Công đức đã tròn đầy.

Dù có nhiều sai biệt.

Phương tiện của Như Lai.


TRỰC CHỈ


Hiện tượng sanh từ bản thể. Tùy duyên sanh trong bất biến. Cảnh mộng sanh từ cõi thực, khách về chủ ở luôn. Bụi mờ lắng xuống, hư không trường tồn. Vấn đề "mê" "giác" cũng lại như vậy. Ngoài cảnh giới "toàn mê" tất còn có cảnh giới "Viên Giác ". Thế cho nên thực lý mà nói DIỆU TÁNH VIÊN GIÁC vốn không là gì cả. Nó là cái tánh ngoài các thứ tánh chấp ngã chấp pháp, các thứ tánh biến kế, y tha cần viễn ly phần còn lại không viễn ly được, gọi cái đó là DIỆU TÁNH VIÊN GIÁC vậy thôi.
Kinh nói: "Viên Giác tư tánh phi tánh tánh hữu". DIỆU TÁNH VIÊN GIÁC VỐN LÀ PHI TÁNH.

Tùy thuận tánh Viên Giác đồng nghĩa với tùy thuận pháp tánh. Người tu Viên Giác gọi là xứng tánh khởi tu. Cho nên cảnh giới Viên Giác không phải đối tượng sở chứng. Người tùy thuận Viên Giác không có cái để được. Bởi vì "thật tướng là vô tướng". Do vậy mà khi chứng nhập cảnh giới Viên Giác, không còn thấy có cảnh giới tịch diệt và người được tịch diệt.

Chúng sanh thường qua lại rong chơi trong biển đại tịch diệt Như Lai Viên Giác, vậy mà không biết không hay. Cũng như những kẻ sanh manh đang hòa mình trong ánh sáng tươi mát diệu hiền muôn hồng nghìn tía của ngày xuân mà không hề thưởng thức được cảnh sắc mùa xuân rạng rỡ hữu tình.
Người xưa nói:

"Ỏ trong nước chớ nhọc công tìm nước.

Đứng trên non đừng phí sức tìm non".



Vấn đề tùy thuận Viên Giác, nói một cách thông thường dễ hiểu là vấn đề chứng đắc. Như Lai Viên Giác Diệu Tánh là tánh bình đẳng, là chân lý phổ biến. Cho nên chúng sanh, Bồ tát, Phật khi tùy thuận Viên Giác rồi thì tất cả bình đẳng không có gì sai khác.
Tuy nhiên, dựa trên công dụng hư vọng diệt trừ huyễn hóa hư vọng, có kẻ diệt người chưa; kẻ diệt nhiều, người diệt ít mà ước định địa vị, giả đặt mỗi địa vị một cái tên:

Phàm phu tùy thuận Giác tánh.
Nhị thừa tùy thuận Giác tánh.
Bồ tát địa tiền tùy thuận Giác tánh.
Bồ tát đăng địa tùy thuận Giác tánh.
Như Lai tùy thuận Giác tánh.
Thế thì quả không sai khác, mà nhơn thì có sai khác. Nhơn đã sai khác thì dựa trên căn tánh và sức tinh tấn của mỗi người mà Như Lai Viên Giác Diệu Tánh dường như có sai khác. Ví như ngọc kim cương vốn không có nhiều màu, tùy góc đứng của người nhìn ngắm mà màu sắc biến ảo dường như ngọc kim cương thực có nhiều màu.

Phàm phu vừa trừ được huyễn hóa lại đam mê vào "cảnh tịch tịnh".

Bồ tát địa tiền diệt được "giải ngại" nhưng còn vướng mắc "kiến ngại".

Bồ tát đăng địa thường giác thường chiếu dùng tâm ngại diệt chướng ngại. Ngại diệt hết rồi không thấy có người diệt ngại, ví như người tự cắt đầu mình… Lại nhận thức rằng: "Tất cả kinh điền như ngón tay chỉ trăng"…

Như Lai thì: tất cả chướng ngại là cứu cánh giác. Phiền não là Bồ đề. Sanh tử tức Niết bàn. Sử dụng Pháp Giới Hải Tuệ nhìn thấy pháp giới trong mười phương như hoa đốm trong hư không loạn khởi loạn diệt. Sanh tử và Niết bàn như mộng sự đêm qua…

Phải học Bát nhã, hành Bát nhã và sống trong Bát nhã để đủ sức quán chiếu:
"Tất cả pháp hữu vi.

Như mộng, huyễn, bóng bọt.

Như sương như điện xẹt.

Như vậy mà tư duy".

Tư duy như thế, rồi tự mình nhận định và xác định bằng cái tuệ đích thực của mình. Lúc bấy giờ hành giả có được cái nghị lực phi thường trước mọi biến thiên thành bại của vạn pháp. Hành giả sẽ là con người tự tại đến độ:

"NHƯ NHƯ BẤT ĐỘNG".
 

Kim Cang Thoi Luan

Thành viên vinh dự
Thành viên BQT
Tham gia ngày
13 Tháng 8 2018
Bài viết
509
Reaction score
119
Điểm
43
7083



Bảo Tánh Luận của ngài Di Lặc nói:
Tịnh tâm như hư không, thường trong sáng không chuyển biến.
Vì hư vọng phân biệt, nhiễm phiền não khách trần.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,376
Reaction score
1,701
Điểm
113
* TÁNH VIÊN GIÁC VỐN LÀ PHI TÁNH.

Trực chỉ:
Hiện tượng sanh từ bản thể. Tùy duyên sanh trong bất biến. Cảnh mộng sanh từ cõi thực, khách về chủ ở luôn. Bụi mờ lắng xuống, hư không trường tồn. Vấn đề "mê" "giác" cũng lại như vậy. Ngoài cảnh giới "toàn mê" tất còn có cảnh giới "Viên Giác ". Thế cho nên thực lý mà nói DIỆU TÁNH VIÊN GIÁC vốn không là gì cả. Nó là cái tánh ngoài các thứ tánh chấp ngã chấp pháp, các thứ tánh biến kế, y tha cần viễn ly phần còn lại không viễn ly được, gọi cái đó là DIỆU TÁNH VIÊN GIÁC vậy thôi.
Kinh nói: "Viên Giác tư tánh phi tánh tánh hữu". DIỆU TÁNH VIÊN GIÁC VỐN LÀ PHI TÁNH.

(hết trích)

Thế nào là “Phi Tánh” ?
* Tam Tự Tánh:
Phần Trực chỉ có nói về Biến kế và Y tha Tánh.- Đó là Tam Tánh trong Duy Thức học đã nói:

1/. Biến Kế sở chấp Tánh:

Còn gọi là Phân biệt tánh, Vọng kế tự tánh, Vọng phân biệt tánh, Vọng tưởng tự tánh, Tự tánh giả lập (parikalpita-svabhava).

Thí dụ, vì một kinh nghiệm tiêu cực nào đó trong thời thơ ấu mà bây giờ tôi đã quên, tôi ghét màu đỏ. Trái lại có người rất thích nó. Thích hay ghét màu đỏ, đó là sự phân biệt chủ quan, sai lầm, giả lập, không khách quan. Sự phân biệt sai lầm, hư vọng và chấp chặt này nằm trong Biến kế sở chấp tánh. Suy rộng ra, một thế giới quan của một người bình thường chưa thấy cái chân thật cũng là Biến kế sở chấp tánh.
Luận Thành Duy Thức nói về Biến kế sở chấp tánh:

20. Do các thứ vọng tưởng phân biệt
Mọi vật được tưởng tượng ra
Những cái được hình thành do vọng tưởng này
Đều không có tự tánh.

King Lăng Già (bản dịch của DT Suzuki, 1959) nói:

“Đại Huệ! Biến kế sở chấp tánh (vọng tưởng tự tánh) sanh khởi từ tướng (nimitta). Đại Huệ, nó sanh khởi từ tướng như thế nào? Trong duyên khởi tự tánh, những cái có thực xuất hiện theo nhiều cách, như có các tướng, các dấu hiệu, các hình dáng… Khi các đối vật, hình tướng và dấu hiệu này được bám chấp cho là thật, thì sự gắn dính này xảy ra theo hai cách. Các bậc giác ngộ tuyên bố cốt lõi của biến kế sở chấp là bám luyến vào những tên gọi và những đối vật. Bám luyến những đối vật nghĩa là dính chặt với vật bên trong và vật bên ngoài (như là có thật). Bám luyến những tên gọi là nhận thấy trong những đối vật bên trong và bên ngoài có những đặc tính của cá thể và tổng thể và xem chúng đích thực thuộc về những đối vật.”
(hết trích)

Cái không có thật mà cho là có thật, cho là có những tính chất bất biến thế này thế nọ, đó là vọng tưởng, vọng phân biệt, giả lập, biến kế. Rồi theo nó mà bám chấp, bám luyến, gắn bó, dính chặt. Đó là những đều chúng ta có thể hiểu về Biến kế sở chấp.
Nhưng Biến kế sở chấp này có thể càng ngày càng lớn, càng nặng nề, vì được tích tập thêm, luôn tập thêm nhờ sự liên tục của thức. Một dấu vết nào in lên tâm thức, được lập đi lập lại, thì ngày càng sâu càng khó xóa. Kết quả là tâm thức càng ngày càng bị điều kiện hóa, bị bó hẹp, giam nhốt trong những kiến chấp, thành kiến, phân biệt cực đoan, thậm chí đưa đến cái xấu ác – nhưng tất cả đều là vọng tưởng giả lập. Nhưng ngược lại, Biến kế sở chấp này cũng có thể càng ngày càng nhẹ bớt, những hàng rào trói buộc của nó càng lỏng thưa, đến độ chúng ta có thể thoát khỏi nó, tự do khỏi nó. Với Phật giáo, giải thoát không phải là đi đâu cả, mà ra khỏi những hàng rào trói buộc trong tâm, trong đó Biến kế sở chấp là hàng rào thứ nhất và thô nặng nhất.
Màu đỏ mà tôi thương hay ghét như đã nói trên đâu phải là sự thật tuyệt đối (chân đế), nó chỉ là sự thật tương đối (tục đế). Con chó nằm dưới chân tôi đây chỉ thấy hai màu đen trắng, làm gì có màu đỏ. Tôi thấy màu đỏ là do hệ thống mắt và hệ thần kinh được tổ chức theo một cách thuộc về loài người của tôi thôi. Ngày nay các nhà khoa học đã nói rằng trong thế giới, các nguyên tử không làm gì có màu sắc, hương vị.. Hơn nữa, tôi thấy cái gì là do các photon đi đến mắt, tác động vào hệ thần kinh của tôi, photon có thể nhiều hoặc ít, bước sóng có thể khác nhau, nhưng photon làm gì có màu. Thế thì màu đỏ tôi thích hay ghét là “vọng thấy biệt nghiệp” của tôi, và thấy màu đỏ chung như tất cả mọi người là “vọng thấy đồng phận” loài người của tôi (theo Kinh Lăng Nghiêm). Dĩ nhiên cả hai đều không phải là cái thấy đúng, cái thấy tuyệt đối, mà chỉ là cái thấy tương đối, tạm thời, giả lập, thuộc về nghiệp, thuộc về thế giới sanh tử. Cũng chính vì cái thấy này không thật, tương đối, giả lập, như huyễn mà chúng ta mới có cơ may thoát khỏi sanh tử, vì sanh tử cũng không thật, tương đối, giả lập, như huyễn vì sanh tử do cái vọng thấy mà tạo ra. Nếu sanh tử mà thật một cách tuyệt đối thì làm sao phá vỡ nó để giải thoát?
Nhưng nhìn toàn bộ con đường, chúng ta cũng phải cám ơn cái vọng thấy này, cái Biến kế sở chấp tánh này: nó đã gây cho chúng ta khổ đau, để nhờ đó mà tìm cách giải thoát khỏi nó. Nếu không, chúng ta cũng chỉ là đất đá vô tri.
Trong kinh luận Đại thừa, có nhiều ví dụ để chỉ tính Biến kế sở chấp này: như mộng huyễn bọt ảnh, như sương cũng như chớp, như hoa đốm giữa hư không, mặt trăng thứ hai, mắt nhặm thấy tóc rủ trước mặt, đi dưới thuyền mà cho là bờ chạy, như lông rùa sừng thỏ, như dợn nắng trên sa mạc mà tưởng là nước…

(hết trích)

Như vậy là Biến Kế sở chấp Tánh (của phàm phu).- Phải loại trừ hóa giải Tánh này thì Tánh Viên giác mới hiện ra.- Đây là điều kiện tiệm tu Viên giác Tánh thứ nhất.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,376
Reaction score
1,701
Điểm
113
2/ Y tha khởi tánh: (Paratantra-svabhava),

còn gọi là Duyên khởi tánh, Tương thuộc tánh. Y tha khởi: nương vào cái khác mà khởi sanh khởi. Suzuki dịch Y tha khởi tánh là cái biết ở phương diện tương đối (paratantra). Đây là tính chất duyên sanh tương thuộc của hiện hữu. Luận Thành Duy Thức nói:

21. Tự tánh y tha khởi
Do phân biệt các duyên mà sanh
Viên thành thật nơi đó
Thường xa lìa tánh Biến kế trước.

Kinh Lăng Già nói:
“Y tha khởi tánh sanh khởi từ sự phân chia của chủ thể và đối tượng”.

Y tha khởi tánh này có hai phần:

Phần nhiễm: là “do phân biệt các duyên mà sanh”, “sanh khởi từ sự phân chia của chủ thể và đối tượng”. Chúng ta chú ý chữ sanh và sanh khởi này. Đối với Phật giáo cái thấy có sanh, có sanh khởi thì chưa hoàn toàn là thật, còn vô minh. Trạng thái hết vô minh để giải thoát được gọi là Vô sanh pháp nhẫn. Do đó trong phần Ba vô tánh của Duy thức (tướng vô tánh đối lại với biến kế sở chấp tánh, sanh vô tánh đối lại với y tha khởi tánh, và thắng nghĩa vô tánh đối lại viên thành thật tánh) để đưa ba tính chất này về thực tại tối hậu là tánh Không, Y tha khởi tánh được chuyển hóa thành “ sanh vô tánh”: tất cả các pháp đều vô sanh.

Phần tịnh: tức là “ở nơi y tha khởi này” mà không còn những phân biệt vi tế khiến thấy có sanh, thì đây là tính chất thanh tịnh vô lậu của Y tha khởi. Đây cũng chính là Viên thành thật tánh.

Một thí dụ: khi không còn thấy hoa đốm giữa hư không, thì chỗ nào trước kia thấy hoa đốm, bây giờ thấy là hư không, là không gian của bầu trời.

(hết trích)

Khi quán Y Tha khởi Tánh. Hành giả thường khởi đầu quán "Duyên Sanh" kế đến quán "Tánh Không" vào "Trí Bát Nhã" sau rốt là "Chân Như Thật Tướng".- Đây là bước thứ 2 tiệm tu Viên giác Tánh .
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,376
Reaction score
1,701
Điểm
113
3/ Viên thành thật tánh: (Parinispana-svabhava),

còn gọi là Viên thành tự tánh, Đệ nhất nghĩa đế thể tánh, Tự tánh tuyệt đối.

Thành Duy Thức nói:

21 Viên thành thật nơi đó (nơi y tha khởi)
Thường xa lìa biến kế trước
22 Nên nó và y tha
Không khác không chẳng khác
Như tánh vô thường không khác không chẳng khác với các pháp vô thường
Thấy tánh Viên thành này mới thấy tánh Duyên khởi kia.
23 Dựa vào ba tánh này
Lập ba vô tánh kia
Nên Phật mật ý nói
Tất cả pháp vô tánh (không có tự tánh, là tánh Không).
24 Một là tướng vô tánh
Hai là sanh vô tánh
Ba, do xa lìa cái trước
Tánh chấp lấy ngã pháp.
25 Đây là sự thật tối hậu (chân lý tuyệt đối) của tất cả các pháp
Cũng tức là Chân Như (Bhutatathata)
Bởi vì nó không biến đổi, tánh thường như vậy
Đây là thực tánh của Duy Thức.
Kinh Giải Thâm mật nói: “Viên thành thật tánh là Chân Như bình đẳng của tất cả các pháp”.

Kinhh Lăng Già nói: “Viên thành thật tánh được chứng ngộ khi người ta xua tan những ý niệm phân biệt về hình tướng, tên gọi, đặc tính và sự chấp thật. Đó là sự chứng ngộ bên trong bằng trí huệ bậc thánh. Viên thành thật tánh này là thể tánh của Như Lai tạng”.

Như vậy, Viên thành thật tánh là Chân Như, tánh Không, Như Lai tạng tánh, Phật tánh, Pháp thân… Theo quan điểm Đại thừa, cái này vốn có sẵn nơi mỗi chúng sanh. Đó cũng là quan điểm của Kim Cương thừa: “Bản tánh giác ngộ của chúng sanh, ý niệm này là một điều rất quan trọng chung cho Du già hành tông (Duy thức tông) và Mật tông Tây Tạng, nhấn mạnh vào bản tánh giác ngộ của con người. Các hệ phái Du già hành tông và Mật tông đều nhấn mạnh sự thực là mỗi một con người đều vốn đã giác ngộ. Vô minh và mê muội chỉ là yếu tố phụ thuộc hoặc ngoại sanh tạm thời, tự trong bản chất con người chẳng có chút nào yếu tố tiêu cực đó…. Bản tánh giác ngộ sáng suốt ấy trong kinh văn Du già hành tông gọi là Như Lai tạng. Nói chung, Như Lai tạng được hiểu là Phật tánh” (Traleg Rinpoche, Ảnh hưởng của Du già hành tông trong Mật tông Tây Tạng, trang 166, trong Du già Hành Tông, Thích Nhuận Châu soạn dịch, Văn Thành xuất bản, 2005).

Duy thức tông căn cứ trên quan điểm chung của Đại thừa và Kim Cương thừa là tất cả chúng sanh đều có Phật tánh hay Như Lai tạng tánh hay Viên thành thật tánh vốn thanh tịnh từ vô thủy. Viên thành thật tánh là Chơn Như, là thực tại bất sanh bất diệt, bất lai bất khứ, bất nhất bất dị… làm nền tảng vô hạn cho tất cả mọi sanh diệt, lai khứ, nhất dị… Viên thành thật tánh này là thực tánh của Duy thức, nó là nền tảng, con đường và quả của Duy thức tông.

Viên thành thật tánh là thực tại không sanh không diệt, không dơ không sạch, không tăng không giảm, trên đó Y tha khởi tánh được thiết lập và trên nữa là Biến kế sở chấp. Lấy một thí dụ của Đại thừa, Viên thành thật tánh là đại dương thanh tịnh, trong lặng, vô nhiễm. Y tha khởi tánh là những làn sóng do những duyên, những hoàn cảnh mà sanh. Còn Biến kế sở chấp là lầm cho sóng là dữ là hiền, là xanh là trắng, là thuận hay nghịch với ta… Nếu ở trong Viên thành thật tánh, thì tất cả sóng đều là nước, đều là đại dương. Như thế sóng có sanh mà thật không sanh, vì tất cả là nước, tất cả là Viên thành thật tánh. Như vậy tất cả các hiện tượng, tất cả các pháp đều chỉ có một vị là nước đại dương, đều chỉ có một tướng là đại dương.

Một thí dụ khác: sợi dây mà thấy lầm là con rắn. Sự thấy lầm này là Biến kế sở chấp. Hết thấy lầm thì sợi dây là sợi dây do duyên sanh, do nhiều thứ hợp lại mà thành. Đây là Y tha khởi tánh, nhưng cũng chỉ mới là chân lý tương đối. Với cái thấy rốt ráo thì sợi dây là Chân Như. Y tha khởi tánh chính là Viên thành thật tánh. Chân lý tương đối chính là chân lý tuyệt đối, tối hậu. Sắc tức là Không. Sanh tử tức Niết bàn. Phiền não tức Bồ đề.

Như vậy, để hết vô minh, chúng ta phải chuyển hóa tâm thức, phải chuyển y (asrayaparavrtti) hay chuyển thức thành trí. Nghĩa là chuyển Biến kế và Y tha thành Viên thành thật.

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,376
Reaction score
1,701
Điểm
113
* Viên giác Phi Tánh.

Kính các Bạn: chuyển hóa tâm thức, phải chuyển y (asrayaparavrtti) hay chuyển thức thành trí. Nghĩa là chuyển Biến kế tánh và Y tha tánh thành Viên thành thật tánh.

Mà thật ra Viên Thành Thật Tánh, không phải là Tánh gì cả. Chỉ là: Bỏ hiện tượng mà trở về bản thể.- Hiện tượng sanh từ bản thể. Tùy duyên sanh trong bất biến. Cảnh mộng sanh từ cõi thực, khách về chủ ở luôn. Bụi mờ lắng xuống, hư không trường tồn. Vấn đề "mê" "giác" cũng lại như vậy. Ngoài cảnh giới "toàn mê" tất còn có cảnh giới "Viên Giác ".

Thế cho nên thực lý mà nói DIỆU TÁNH VIÊN GIÁC vốn không là gì cả. Nó là cái tánh ngoài các thứ tánh chấp ngã chấp pháp, các thứ tánh biến kế, y tha cần viễn ly phần còn lại không viễn ly được, gọi cái đó là DIỆU TÁNH VIÊN GIÁC vậy thôi. Chỉ là trở về
"Tánh Phi Tánh" (Viên giác vốn có)

Quá trình tu tập để hiển lộ "Tánh Phi Tánh" (Viên giác vốn có) chỉ là quá trình dụng huyễn tu huyễn, để cuối cùng Chân Tánh tự hiện. như kinh diễn tả:

1. Lấy Huyễn Tâm để lìa Huyễn Cảnh,
2. Lấy Huyễn trí để lìa huyễn Tâm.
3. Lấy Huyễn Không để lìa Huyễn Trí.
4. Cuối cùng huyễn Không cũng bỏ lúc không còn gì để bỏ nữa.

Đó chính là lúc "Khách về chủ ở lại, tình thức mộng tự trừ". Viên giác Phi Tánh tự hiện, mà không phải là Tánh gì cả. vậy mà thôi.
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
23 Tháng 8 2010
Bài viết
1,396
Reaction score
404
Điểm
83
1. Lấy Huyễn Tâm để lìa Huyễn Cảnh,
2. Lấy Huyễn trí để lìa huyễn Tâm.
3. Lấy Huyễn Không để lìa Huyễn Trí.
4. Cuối cùng huyễn Không cũng bỏ lúc không còn gì để bỏ nữa.
Thưa Thầy, Thầy có thể giảng rõ 1,2,3. Còn 4 thì lấy gì để lìa Huyễn Không? Xin Thầy chỉ bảo.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,376
Reaction score
1,701
Điểm
113
* 4 tầng huyễn mộng.

Thưa Thầy, Thầy có thể giảng rõ 1,2,3. Còn 4 thì lấy gì để lìa Huyễn Không? Xin Thầy chỉ bảo.
Xin cảm ơn Bạn VNBN tham gia thảo luận.

Vâng. VQ xin giải trình thêm về 4 tầng huyễn mộng.

I/ Huyễn Cảnh.

Kính các Bạn. Tất cả Pháp trên thế gian là nói đến: 1. Con người (NGÃ) và 2. Cái phụ thuộc đi theo con người (NGÃ SỞ HỮU).

Tuy là nhiều. Nhưng đức Phật khái quát thành 4 khoa:

1. Ngũ Uẩn (sắc, thọ, tường, hành, thức).

2. Bảy Đại: Địa, thủy ,hỏa, phong, không, kiến và thức

3. Thập Nhị xứ: Mười hai Xứ là cơ sở giao tiếp giữa con người với thế giới thực tại khách quan, bao gồm sáu nội xứ (thuộc về tự thân) và sáu ngoại xứ (thuộc về ngoại cảnh). Sáu nội xứ là: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thức. Sáu ngoại xứ là: hình thể, âm thanh, hương khí, mùi vị, sự tiếp xúc và các sự vật hiện tượng (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp).

4. Thập bát giới: Mười tám Giới là cơ sở giao tiếp toàn diện của con người với thế giới thực tại khách quan, bao gồm: sáu nội xứ, sáu ngoại xứ và sáu tình thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức).

Tất cả các Pháp ấy đều không có Thật Ngã (Vô ngã), là đều do các duyên hòa hợp mà thấy có Sanh.- Nên gọi là HUYỄN CẢNH.

Phật dạy:

"Hởi các ngươi ! Sắc, thọ, tưởng, hành, thức đều là không, là vô sở hữu; 12 nhập, 18 giới cũng đều là không, là vô sở hữu. Sắc, thọ, tưởng, hành, thức , 12 nhập, 18 giới đều là đều là như mộng, như hưởng, như ảnh, như diệm, như huyễn, như hóa.

Các pháp vốn chẳng có. Chẳng có 5 ấm, 18 giới; chẳng có mộng cũng chẳng có người thấy mộng ... dẫn đến chẳng có hóa, cũng chẳng có người được hóa.

Hết thảy các pháp đều chẳng có nguồn gốc, vì thật tánh là vô sở hữu. Do nghiệp dẫn sanh mà các ngươi mới thọ 5 ấm, nhưng 5 ấm vốn là không.

Đã chẳng có 5 ấm, thì cũng chẳng có 12 nhập, 18 giới.

Hết thảy pháp đều do nhân duyên hòa hợp sanh, đều do chấp tâm điên đảo mà khởi, và đều thuộc về nghiệp quả báo vậy.

Vì sao nơi "pháp không" chẳng có nguồn gốc, mà các ngươi lại chấp lấy tướng nguồn gốc ?.

(Kinh Đại Bát nhã)

Kính các Bạn. Chỉ do điên đão vọng tưởng mà ta thấy thật có các pháp. Như câu chuyện giấc mộng nam Kha sau:

Thuần Vu Phần nằm mộng thấy chàng đến nước Hòe An. Thuần được vua Hòe An cho vào bái yết. Thấy Thuần tướng mạo khôi vĩ nên gả con gái, cho làm phò mã và đưa ra quận Nam Kha làm quan Thái thú, cai trị cả một vùng to lớn.

Đương lúc vợ chồng Thuần sống một cuộc vương giả, cực kỳ sung sướng thì bỗng có giặc kéo đến vây quận Nam Kha. Thuần đem quân chống cự. Giặc đông mạnh, Thuần thua chạy. Quân giặc vây thành đánh phá. Công chúa nước Hòe An, vợ của Vu Phần chết trong đám loạn quân.
Thuần Vu Phần đem tàn quân về kinh đô tâu lại vua cha. Nhà vua nghi kỵ Thuần đã đầu hàng giặc, nên tước hết phẩm hàm, đuổi về làm thường dân. Thuần oan ức vừa tủi nhục, khóc lóc bi thương... Vừa lúc ấy thì Thuần chợt tỉnh dậy, thấy mình nằm dưới gốc cây hòe, trên đầu một nhành cây hòe chĩa về phía nam. Cạnh Thuần lại có một ổ kiến lớn. Bầy kiến kéo hàng đàn hàng lũ trèo lên cây hòe.
Cũng có sách chép:
Đời nhà Đường có một nho sinh họ Lữ đi thi không đỗ. Trở về, dọc đường, vừa buồn lại vừa đói nên ghé vào một ngôi chùa con bên cạnh khu rừng, xin đỡ lòng. Chùa nghèo, nhà sư nấu kê thay gạo đãi khách.
Vì mệt mỏi nên họ Lữ nằm một lúc thì ngủ khò. Chàng thấy mình đã thi đỗ, được quan chức cao, nhà vua lại còn gả công chúa, phong cho chàng làm phò mã và cho đi trấn nhậm một nơi. Thật là vinh quang phú quý, không ai bằng. Nhưng khi đi đến nửa đường thì bỗng gặp quân giặc đỗ đến đánh. Lữ chống cự không lại. Lính hộ vệ bị giết. Xe kiệu bị đập phá tan tành. Chúng thộp cổ cả vợ chồng Lữ, đưa gươm kề họng... Lữ hoảng hốt, kêu lên một tiếng, giựt mình thức dậy mới biết là chiêm bao.
Mà giữa lúc ấy nồi kê cũng chưa chín.
Trong tác phẩm "Cung oán ngâm khúc" của Nguyễn Gia Thiều, có câu:

Giấc Nam Kha khéo bất bình,
Bừng con mắt dậy, thấy mình tay không.


Kính các Bạn Huyễn Cảnh là vậy.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,376
Reaction score
1,701
Điểm
113
I/ Huyễn Cảnh (tt).

Huyễn Cảnh gồm Tam giới: (1) Dục- (2) Sắc- (3) Vô Sắc.

Vũ trụ thế giới tùy theo nghiệp lực, trình độ sai khác của chúng sinh mà chia ba tầng gọi là ba cõi. Trong đó mỗi cõi lại tùy theo lòng tham dục nặng nhẹ mà chia ra cõi Dục và sáu bậc trời thuộc cõi Dục; tùy theo sức thiền định cạn sâu mà chia ra nhiều bậc thiền thuộc cõi Sắc và Vô sắc,

Chúng sanh ra vào 3 cõi này, kinh điển chi tiết thành 25 cõi. Như bài kệ:

Tứ vức, tứ ác thú,

Lục dục, Tịnh phạm thiên,

Tứ thiền, tứ vô sắc,

Vô tưởng, cập bất hoàn.



- Tứ vức cõi có: Đông thắng thần châu, Tây ngưu hóa châu, Nam thiện bộ châu, Bắc câu lâu châu.

- Tứ ác thú cõi có: Địa ngục, Ngạ quĩ, Súc sanh, A tu la.

- Lục dục cõi có: Tứ thiên vương thiên, Đao lợi thiên, Dạ ma thiên, Đâu suất đà thiên, Hóa lạc thiên, Tha hóa tự tại thiên.

- Trời Phạm thiên cõi.

- Tứ thiền cõi có: Sơ thiền, Nhị thiền, Tam thiền, Tứ thiền.

- Tứ vô sắc cõi có: Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

- Vô Tưởng Cõi (Trời Vô Tưởng - Vô Tưởng Thiên): là tu thiền định thấy mình không còn gì nữa, không còn tư tưởng, tất cả rõng không (diệt tận định).

- Bất Hoàn Cõi (Tịnh Cư Thiên)

Tổ Quy Sơn dạy:


“Huyễn thân mộng trạch

Không trung vật sắc

Tiền tế vô cùng

Hậu tế ninh khắc?”



Dịch:

Thân huyễn nhà mộng

Vật sắc trong không

Mé trước không cùng

Mé sau đâu biết?


Giảng:

Tổ nhắc chúng ta nên thấy thân này là huyễn hóa, cõi này như cõi mộng. Tất cả hình ảnh sự vật trước mắt ta chẳng khác nào hoa đốm giữa hư không. Tất cả đều là huyễn hóa do nhân duyên sanh, mà nhân duyên thì trùng trùng điệp điệp nên mé trước không cùng, mé sau không thể tính hết.
 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,376
Reaction score
1,701
Điểm
113
II. Huyễn Tâm.

1/. Định nghĩa:Huyễn Tâm, tức là Vọng Tâm từ Chân Như vọng hiện. Ví như mắt bị nhặm mà thấy có bóng lòe của mặt trăng.

Đây là do chúng sanh chấp lấy "Phần Chiếu" của Tâm mà có.

2/. Biểu hiện của Huyễn Tâm là 8 Thức Tâm Vương và các món Tâm sở.


(trích Duy thức học)

A. TÂM VƯƠNG (CÓ TÁM MÓN)

Tám món tâm này rất thù thắng,tự tại và tự chủ; cũng như vị Quốc vương, nên gọi là Tâm vương(nhứt thế tối thắng cố)

1. Nhãn thức: Cái biết của con mắt. Vì thức này nương Nhãn căn, khởi ra tác dụng phân biệt về sắc trần, nên gọi là "Nhãn thức".

2. Nhĩ thức: Cái biết của lỗ tai. Vì thức này nương Nhĩ căn, khởi ra tác dụng phân biệt về thinh trần, nên gọi là "Nhĩ thức".

3. Tỹ thức: Cái biết của mũi. Vì thức này nương Tỹ căn, khởi ra tác dụng phân biệt về hương trần, nên gọi là "Tỹ thức".

4. Thiệt thức: Cái biết của lưỡi. Vì thức này nương Thiệt căn, khởi ra tác dụng phân biệt về vi trần, nên gọi là "Thiệt thức".

5. Thân thức: Cái biết của thân. Vì thức này nương thân căn, khởi ra tác dụng phân biệt về xúc trần, nên gọi là "Thân thức".

6. Ý thức. Thức này nương Ý căn (thức thứ 7) khởi tác dụng phân biệt Pháp trần, nên gọi là "Ý thức".

7. Mạc Na thức:

Thức này có nhiều tên: 1. Mạt na (goị theo nguyên âm tiếng Phạn), 2. Ý căn: Thức này là căn của ý thức (Thức thứ Sáu); Vì thức thứ Sáu nương thức này phát sanh. 3. Thức thứ Bảy: Theo thứ đệ thì thức này đứng nhằm thứ Bảy. 4. Truyền thống thức: Vì thức này có công năng truyền các pháp hiện hành. 5. Ý thức, vì thức này sanh diệt tương tục không gián đoạn nên gọi là "Ý". Song, sợ người lầm lộn với ý thức thứ Sáu, nên thức thứ Bảy này chỉ gọi là "Ý", mà không thêm chữ "Thức". Thức này chỉ duyên kiến phần của thức A lại da chấp làm thật ngã và thật pháp.

8. A LẠI DA THỨC

Thức này có rất nhiều tên, khi đọc đến luận "A đà na thức" quý vị sẽ hiểu rõ. Nay chúng tôi chỉ kể sơ lược một vài tên.

1. Đệ bát thức: Thức thứ tám. Vì theo thứ đệ: một là nhãn thức, hai là nhĩ thức, cho đến thức thứ Tám là thức này, nên gọi là Đệ bát thức.

2. A lại da thức: Tàu dịch là "Tàng thức": Thức này có công năng chứa đựng chủng tử của các pháp. "Thức" là thể, mà "chứa" là dụng. Hiệp cả thể và dụng, nên gọi là "thức chứa" (Tàng thức). Có 3 nghĩa:

a. Năng tàng: Năng chứa. Thức này co công năng chứa đựng và gìn giữ chủng tử (hạt giống) của các pháp.

b. Sở tàng: Bị chứa. Thức này là chổ để chứa các pháp.

c. Ngã ái chấp tàng, gọi tắt là "chấp tàng": Thức thứ Bảy chấp kiến phấn của thức này làm Ta và thường ái luyến.

(hết trích)
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,376
Reaction score
1,701
Điểm
113
II. Huyễn Tâm.(tt)
B. Tâm Sở.

Trong Duy thức tông, người ta phân biệt 51 loại tâm sở. Đại sư Vô Trước (asaṅga) phân chia 51 tâm sở này thành sáu loại trong Đại thừa a-tì-đạt-ma tập luận (sa. abhidharmasamuccaya):

Biến hành tâm sở

5 Biến hành tâm sở (遍行, sarvatraga), năm loại tâm pháp lúc nào cũng hiện hành xuất phát cùng với một tâm vương, gồm có:

Xúc (sparśa);
Tác ý (manaskāra);
Thụ (vedanā);
Tưởng (saṃjñā);
Tư (cetanā), tương ưng với tất cả tâm và tâm sở;

Biệt cảnh tâm sở

5 Biệt cảnh tâm sở (別境, viniyata) năm loại tâm pháp xác định ngoại cảnh:

Dục (chanda);
Thắng giải (adhimokṣa);
Niệm (smṛti);
Định (samādhi);
Huệ (prajñā), chỉ duyên (nương) theo các cảnh khác nhau mà sinh khởi.

Thiện tâm sở

11 Thiện tâm sở (善, kuśala):

Tín (śraddhā);
Tàm (hrī);
Quý (apatrāpya);
Vô tham (alobha);
Vô sân (adveṣa);
Vô si (amoha);
Tinh tiến (vīrya);
Khinh an (praśrabdhi);
Bất phóng dật (apramāda);
Xả (upekśā);
Bất hại (avihiṃsā).

Căn bản phiền não tâm sở

6 Căn bản phiền não tâm sở (根本煩惱, mūlakleśa):

Tham (rāga);
Hận (pratigha);
Mạn (māna);
Vô minh (avidyā);
Nghi (vicikitsā);
Kiến (dṛṣṭi) cũng được gọi là Ác kiến.
Điểm thứ sáu là Kiến cũng thường được chia ra làm năm loại:
Thân kiến (身見, satkāyadṛṣṭi): một kiến giải cho rằng thân thể được tạo bằng ngũ uẩn là một cái "ta" (我), là "cái của ta" (我所);
Biên kiến (邊見, antagrāhadṛṣṭi): một kiến giải liên hệ đến phiền não, cho rằng cái "ta" được tạo bằng ngũ uẩn là một cái gì đó thường còn, vĩnh viễn [thường kiến] hoặc ngược lại, là một cái gì đó bị đoạn diệt, không có gì tiếp nối giữa hai cuộc sống con người [đoạn kiến];
Kiến thủ kiến (見取見, dṛṣṭiparāmarśa): kiến giải cho rằng một kiến giải bất thiện hoặc ngũ uẩn, cơ sở xuất phát của kiến giải bất thiện này là những điều tuyệt hảo. Kiến giải bất thiện trong trường hợp này là Thân kiến, Biên kiến;
Giới cấm thủ kiến (戒禁取見, śīlavrata-parāmarśa): là một kiến giải cho rằng, những quy tắc xử sự sai hoặc những lời hướng dẫn tu tập sai – như tự xem mình như con thú và bắt chước thái độ của nó –, hoặc ngũ uẩn, cơ sở của những việc sai trái trên là điều hay nhất;
Tà kiến (邪見, mithyādṛṣṭi): kiến phủ nhận cái gì thật sự tồn tại, thêu dệt thêm vào những gì thật sự không có.

Tuỳ phiền não tâm sở

20 Tuỳ phiền não tâm sở (隨煩惱, upakleśa):

Phẫn (krodha);
Hận (upanāha), uất ức, tâm thù oán;
Phú (mrakṣa), che giấu tội lỗi, đạo đức giả;
Não (pradāśa), làm bực bội phiền nhiễu;
Tật (īrṣyā), ganh ghét vì thấy người ta hơn mình;
Xan (mātsarya), tham lam, ích kỉ;
Xiểm (māyā), giả dối, nói mình có những đức tính tốt mà thật ra thì không có;
Cuống (śāṭhya), gian lận, dối gạt, lừa lọc;
Kiêu (mada), tự phụ;
Ác (vihiṃsā);
Vô tàm (āhrīkya), không tôn kính, không biết hổ thẹn về việc tội lỗi mình đã làm;
Vô quý (anapatrāpya, anapatrapā), tâm không biết sợ trước tội quả, không biết hổ thẹn đối với người khác khi phạm tội;
Hôn trầm (styāna), tâm chìm đắm, lừ đừ, thiếu linh động, nhạy bén;
Trạo cử (auddhatya), xao động không yên;
Bất tín (āśraddhyā);
Giải đãi (kausīdya), tâm trạng không tinh tiến, biếng nhác;
Phóng dật (pramāda);
Thất niệm (失念, muṣitasmṛtitā), chóng quên, không chú tâm;
Tán loạn (散亂, vikṣepa);
Bất chính tri (不正知, asaṃprajanya), hiểu biết sai.
Bất định tâm sở
4 Bất định tâm sở (aniyata), bất định bởi vì các tâm sở này thay đổi giá trị tuỳ theo các tâm vương. Chúng bao gồm:

Hối (kaukṛtya), hối hận;
Miên (middha), lừ đừ buồn ngủ;
Tầm (vitarka), suy nghĩ, tìm hiểu dạng thô;
Tứ (vicāra), suy nghĩ, tìm hiểu dạng tinh tế.

Cách phân chia như trên của Duy thức tông được xem là bước tiến triển cuối cùng trong việc phân tích, phân loại các tâm sở và cũng là bản phân loại tiêu chuẩn cho tất cả những trường phái Đại thừa tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,376
Reaction score
1,701
Điểm
113
II. Huyễn Tâm.(tt)
* Các Tâm sở tương tác nhau mà hình thành Tam giới.

Kính các Bạn. Các Tâm Sở phân làm 3 nhóm chính:

1. Thiện Tâm sở.
2. Bất Thiện tâm sở
3. Vô ký tâm sở.

chúng tương với 3 phần vô minh (chánh) là THAM- SÂN- SI. và GIỚI- ĐỊNH- HUỆ.

A. Bất Thiện Tâm Sở qui kết về Tham, Sân, Si.

1/. Nhóm nhiếp về THAM:
Tham (rāga);Mạn (māna);Xan (mātsarya), tham lam, ích kỉ;Xiểm (māyā), giả dối, nói mình có những đức tính tốt mà thật ra thì không có;Cuống (śāṭhya), gian lận, dối gạt, lừa lọc;Kiêu (mada), tự phụ;Ác (vihiṃsā);

2/. Nhóm nhiếp về SÂN: Phẫn (krodha);
Hận (upanāha), uất ức, tâm thù oán;Phú (mrakṣa), che giấu tội lỗi, đạo đức giả; Não (pradāśa), làm bực bội phiền nhiễu; Tật (īrṣyā), ganh ghét vì thấy người ta hơn mình;Cuống (śāṭhya), gian lận, dối gạt, lừa lọc; Kiêu (mada), tự phụ;Tầm (vitarka), suy nghĩ, tìm hiểu dạng thô; Tứ (vicāra), suy nghĩ, tìm hiểu dạng tinh tế.

3/. Nhóm nhiếp về SI: Mạn (māna); Vô minh (avidyā); Nghi (vicikitsā); Kiến (dṛṣṭi) cũng được gọi là Ác kiến.Vô tàm (āhrīkya), không tôn kính, không biết hổ thẹn về việc tội lỗi mình đã làm;
Vô quý (anapatrāpya, anapatrapā), tâm không biết sợ trước tội quả, không biết hổ thẹn đối với người khác khi phạm tội;
Hôn trầm (styāna), tâm chìm đắm, lừ đừ, thiếu linh động, nhạy bén;Trạo cử (auddhatya), xao động không yên; Bất tín (āśraddhyā); Giải đãi (kausīdya), tâm trạng không tinh tiến, biếng nhác;
Phóng dật (pramāda);
Thất niệm (失念, muṣitasmṛtitā), chóng quên, không chú tâm;
Tán loạn (散亂, vikṣepa);
Bất chính tri (不正知, asaṃprajanya), hiểu biết sai.Hối (kaukṛtya), hối hận; Miên (middha), lừ đừ buồn ngủ;

B. Thiện Tâm Sở qui kết về GIỚI- ĐỊNH- HUỆ.

1/. Nhóm nhiếp về giới:
Tín (śraddhā);
Tàm (hrī);
Quý (apatrāpya);
Tinh tiến (vīrya);
Khinh an (praśrabdhi);
Bất phóng dật (apramāda);
Xả (upekśā);
Bất hại (avihiṃsā).

2/. Nhóm nhiếp về ĐỊNH:
Xúc (sparśa);
Tác ý (manaskāra);
Thụ (vedanā);
Tưởng (saṃjñā);
Tư (cetanā), tương ưng với tất cả tâm và tâm sở;
Dục (chanda);
Thắng giải (adhimokṣa);
Niệm (smṛti);
Định (samādhi);

3/. Nhóm nhiếp về HUỆ:
Dục (chanda);
Thắng giải (adhimokṣa);
Huệ (prajñā), chỉ duyên (nương) theo các cảnh khác nhau mà sinh khởi.
Vô tham (alobha);
Vô sân (adveṣa);
Vô si (amoha);

Chính các TÂM SỞ này tương tác mà tạo ra TAM GIỚI (Dục, Sắc, Vô Sắc).

Ngộ Tánh Luận. Tổ Đạt Ma chỉ rõ:

II. Tánh Thể Bất Giảm Bất Tăng
- Tam giới là tham sân si.
- Trái với tham sân si là giới định huệ.
- Có giới định huệ gọi là vượt khỏi tam giới.
- Thật ra tham sân si cũng không có thể tánh chơn thiệt. Chỉ y cứ nơi chúng sanh mà nói đó thôi.
- Nếu có thể phản chiếu thì thấy rõ tánh của tham sân si là Phật tánh. Ngoài tham sân si không có Phật tánh riêng.
- Kinh dạy rằng: Chư Phật từ nào vẫn ở tại tam độc mà nuôi lớn các pháp lành, mà thành đấng Thế Tôn.
Ở Đoạn khác ngài cũng nói:
Chẳng sanh vọng tưởng gọi là Niết-bàn.
HT, Thích Thanh Từ giải:
Không còn vọng tưởng nữa thì Niết-bàn chớ không có đi đâu tìm Niết-bàn, không cần tìm kiếm Niết-bàn, không cần cầu mong Niết-bàn, chỉ hết vọng tưởng là Niết- bàn. Như vậy chẳng sanh vọng tưởng gọi là Niết-bàn.

(hết trích)

VQ nhớ lại cố HT, Thích Đạt Hão có bài thơ (phần nào) nói về sự biến hóa của Tâm Sở sanh ra Tam giới, như sau:

Hỏi Cảnh Cực Lạc

Nghe đồn huynh ở chốn thiền lâm,
Xin hỏi Tây Phương mấy dặm tầm ?
Qua lại bao phen gần Cực Lạc ?
Dọc ngang mấy kiếp đến Lôi Âm ?
Bồ Đề bảo thọ nay cao thấp ?
Chín phẩm Liên Trì đã thiển thâm ?
Bồ Tát ít nhiều xin kể rõ,
Kẽo mà Thiện tín luống hoài tâm !


Chỉ cảnh Cực Lạc

TA BÀ CỰC LẠC ĐÓ THIỀN LÂM.
CÒN HỎI LÀM CHI MẤY DẬM TẦM.
VÔ NÃO VÔ ƯU CHƠN CỰC LẠC.
BẤT SANH BẤT DIỆT ẤY LÔI ÂM.
BỒ ĐỀ BẢO THỌ KHÔNG CAO THẤP
BÁT NHẢ LIÊN TRÌ CHẲNG THIỂN THÂM.
BỒ TÁT THÁNH PHÀM ĐỒNG NHẤT THỂ.
THẦN THÔNG BIẾN HÓA CŨNG DO TÂM.


(Thích Đạt Hão- Pháp Quang Thiền Viện Q8)

Kính các Bạn:

TÂM SANH CÁC PHÁP LÀ VẬY. CÁC LOẠI TÂM SỞ THIỆN VÀ ÁC HÓA HIỆN TAM GIỚI LÀ VẬY.

Tuệ Trung Thượng Sĩ có bài kệ:

Tâm vọng sinh thì sinh tử sinh
Vọng tâm diệt thì sinh tử diệt
Sinh tử xưa nay vốn tánh Không
Thân huyễn hóa này rồi cũng diệt

Phiền não Bồ đề phải tiêu tan
Địa ngục thiên đường khô cạn kiệt
Vạc sôi lửa bỏng thoắt mát tươi
Núi kiếm rừng đao tự gãy hết...


Vạn Sự Quy Như :

Từ không hóa có có không thông
Có có không không rốt ráo đồng
Phiền não Bồ đề nguyên chỉ một
Chân Như vọng niệm thảy đều không

Thân như huyễn cảnh nghiệp như ảnh
Tâm tợ thanh phong tánh tợ bồng
Chớ hỏi tử sinh ma với Phật
Muôn sao chầu Bắc nước về Đông.


Vâng. Kính các Bạn. Dùng huyễn Tâm mà diệt Huyễn Cảnh là vậy.- Đó là dùng GIỚI- ĐỊNH- HỆ mà diệt THAM- SÂN- SI đó.
 
Chỉnh sửa cuối:

Kim Cang Thoi Luan

Thành viên vinh dự
Thành viên BQT
Tham gia ngày
13 Tháng 8 2018
Bài viết
509
Reaction score
119
Điểm
43
7093


*Một số người đã rơi vào quan điểm triết học về “chủ nghĩa hư vô đoạn kiến”, đó là một nguyên nhân tái sinh xuống địa ngục.
-Tất cả mọi thứ ngoài trường phái Tông Khách Ba đề xướng ra, đều thể hiện một quan điểm triết học sai lầm.
Đức pháp chủ Gelugpa Pabongka Rinpoche
 

Hoa Vô Tướng

Active Member
Thành viên vinh dự
Tham gia ngày
9 Tháng 4 2018
Bài viết
331
Reaction score
129
Điểm
43
View attachment 7093

*Một số người đã rơi vào quan điểm triết học về “chủ nghĩa hư vô đoạn kiến”, đó là một nguyên nhân tái sinh xuống địa ngục.
-Tất cả mọi thứ ngoài trường phái Tông Khách Ba đề xướng ra, đều thể hiện một quan điểm triết học sai lầm.
Đức pháp chủ Gelugpa Pabongka Rinpoche
Cái gì vậy đại ca?

Suốt ngày chỉ lôi lời người khác ra nhai lại rồi làm như chính mình nói ra, nghe có vẻ cao siêu khó hiểu thật là đáng nể nha.

Phật Pháp là pháp liễu thoát sanh tử, không biết đại sư Tông Kách Ba bây giờ ở đâu? Người học theo chỉ nhặt lấy đờm giải cho là quý mà không biết đại sư bây giờ ở đâu thì học làm gì nữa? Đốt sách đi!!!
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,376
Reaction score
1,701
Điểm
113
II. Huyễn Trí.

* Khái niệm về TRI- THỨC và TRÍ trong thuật ngữ Phật học.

A. TRI.

Trong hệ thống thuật ngữ thuộc hệ Nam Truyền, có các thuật ngữ sau:

1/. Tưởng tri (sanjànàti) là hiểu biết thông thường của con người nhận ra một sự vật hay hiện tượng nhờ ký ức hay do nhớ lại, hồi tưởng lại những gì mình đã trải nghiệm; sự hiểu biết thuộc nghiệp thức, gắn liền với ngã tưởng, đi đôi với tập quán tham ái và chấp thủ, có công năng nuôi lớn tham-sân-si, nuôi lớn khổ đau.

2/. Thức tri (vijànàti) tức sự hiểu biết thế gian, là kiến thức, tri thức mang tính học hỏi và tích lũy kinh nghiệm, được trưởng thành trên cơ sở học tập, thu thập, tích lũy và trau dồi kiến thức; sự hiểu biết mang tính nhị nguyên, đi đôi với ngã tưởng, gắn liền với thói quen tham ái và chấp thủ, có công năng chuyển đổi và cải thiện đời sống theo chiều hướng phước báo hữu lậu nhưng không làm sanh khởi đạo lộ xuất thế vì không nhận thức đầy đủ Khổ đế (không hướng đến thắng tri, tuệ tri và liễu tri).

3/. Thắng tri (abhijànàti) nghĩa là thấy biết thù thắng, vượt lên trên sự hiểu biết thông thường của thế gian, sự thấy biết đưa đến ly tham, phát khởi nhờ tu tập Tăng thượng giới (Adhisìla), Tăng thượng tâm (Adhicitta), Tăng thượng trí tuệ (Adhipanna), thấy biết trực diện, thuộc Chánh niệm (Sammàsati) và Chánh định (Sammàsamàdhi), vượt ra ngoài mọi tạp niệm và vọng niệm, không tưởng tượng, không suy luận; sự nhận ra bản chất duyên sinh, vô thường, khổ, vô ngã của mọi sự vật và hiện tượng, có khả năng rời bỏ mọi tập quán ái luyến và chấp trước, hướng đến ly tham, giải thoát khổ đau sinh tử luân hồi, được trưởng thành trên cơ sở sự thực hành Bát Thánh đạo hay công phu tu tập và chuyển hóa tự nội thông qua tiến trình rèn luyện đạo đức (Giới), huấn luyện tâm thức (Định) và phát triển trí tuệ (Tuệ).

4/. Tuệ tri (pajànàti), sự phát triển lớn mạnh của thắng tri, có nghĩa là thông hiểu về khổ, khổ tập, khổ diệt và con đường đưa đến khổ diệt qua kinh nghiệm hành sâu Bát Thánh đạo hay qua sự thực tập chuyển hóa tự nội bằng con đường Giới-Định-Tuệ, thấy rõ bản chất biến hoại khổ đau hàm tàng trong mọi hiện hữu, trong con người ngũ uẩn, có khả năng dứt trừ vô minh, buông bỏ mọi tập quán tham ái và chấp thủ, hướng đến đoạn trừ các lậu hoặc, giải thoát khổ đau sinh tử luân hồi.

5/. Liễu tri (parijànàti) tức sự thấy biết đầy đủ, rốt ráo, viên mãn về khổ đau và con đường đi ra khỏi khổ đau của những người đã tu tập và thành tựu đầy đủ về mười Thánh đạo, gồm Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, Chánh trí, Chánh giải thoát, đã hoàn thành mục đích đoạn tận các lậu hoặc, không còn tái sinh, chấm dứt khổ đau sinh tử luân hồi. Đây là sự thấy biết của chư Phật và các vị đã giác ngộ.

trích: https://thuvienhoasen.org/a29208/thang-tri

* Ở đây chúng ta loại bỏ 2 loại TƯỞNG TRI và THỨC TRI vì chúng không thể trừ được HUYỄN TÂM.

* cũng không quán về LIỄU TRI.- Vì đó là CHÂN NHƯ TRÍ của chư Phật mà không phải là HUYỄN TRÍ.

* THẮNG TRI tương đương với HUYỄN TRÍ mà chúng ta sẽ khảo sát sau đây.
 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,376
Reaction score
1,701
Điểm
113
B. THỨC. (Đã nói ở phần 8 Thức phía trên)

C. TRÍ.

Trong kinh điển có nói rất nhiều về các loại Trí. Có thể tạm chia làm 3 thể loại:

1/. Chơn Trí: Gồm có Căn bản trí, Hậu đắc trí, 10 Trí Lực của Phật, Nhất Thiết chủng Trí của Phật, Đạo chủng trí, Bát Nhã Trí v.v... các loại này chúng ta chưa khảo sát.

2. Phàm trí: Tương đương với Tưởng Tri và Thức Tri đã nói ở trên (không khảo sát)

3/ Huyễn Trí: Cụ thể là Nhất Thiết Trí, và Tứ Trí.- Đây là trí do các bậc Hữu Học Thanh Văn, Duyên giác y cứ nơi Thiền định, quán chiếu mà phát sanh. Như đoạn Luận Trí Độ sau:


3a). Nhất Thiết Trí:

Này Tu Bồ Đề ! Nhất Thiết Trí là trí của hết thảy Thanh Văn và Bích Chi Phật; Đạo Chủng Trí là trí của Bồ tát, Nhất Thiết chủng Trí là trí của Phật.

....... Ngài Tu Bồ Đề bạch Phật: Bạch Thế Tôn ! Vì sao Nhất Thiết Trí là trí của Thanh Văn và Bích Chi Phật ?

....... Phật dạy: Này Tu Bồ Đề ! Hàng Thanh Văn và Bích Chi Phật do biết hết thảy các nội pháp và ngoại pháp, mà được Nhất Thiết Trí, nhưng chẳng có được Đạo Chủng Trí và Nhất Thiết chủng Trí .


LUẬN:


....... Ngài Tu Bồ Đề hỏi: Thế Tôn thuyết Nhất Thiết Trí chăng ?

....... Phật dạy: Ta thuyết Nhất Thiết Trí .

....... Ngài Tu Bồ Đề hỏi: Thế Tôn thường thuyết Nhất Thiết Trí, Đạo Chủng Trí, và Nhất Thiết chủng Trí. Nghĩa của 3 trí nấy có gì khác nhau chăng ?

....... Phật dạy: Nhất Thiết Trí là trí của hàng Thanh Văn. vì sao ? Vì trí biết hết thảy nội pháp và ngoại pháp đều là vô thường, khổ, không, vô ngã, là Tổng tướng của Thanh Văn Trí và Phật Trí.
Tư duy:

* Nội pháp gồm các món ở trong thân. Như: Sắc, Thọ, tưởng, hành, thức.

* Ngoại pháp, gồm các món ở ngoài thân. Như: Sắc, thinh, hương, vị, v.v...

* Biết hết thảy nội pháp và ngoại pháp đều là vô thường, khổ, không, vô ngã, đây là Tổng tướng của Thanh Văn Trí và Phật Trí. Nên gọi là Nhất Thiết Trí.

(hết trích)

Nhất Thiết Trí của Thinh Văn Duyên giác có là do tu tập thiền định, quán chiếu tánh chất vô thường, khổ, không, vô ngã, của các Pháp mà có được. Nhưng thực chất các Pháp lại là rốt ráo thanh tịnh, là Thường, lạc, ngã, tịnh. Do vậy Nhất Thiết Trí là chưa rốt ráo,.- Nên gọi là Huyễn Trí.

Tuy là Huyễn Trí nhưng nó vẫn có công năng diệt trừ Huyễn Tâm.
 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,376
Reaction score
1,701
Điểm
113
3b). Tứ Trí:

Là 4 loại trí huệ do chuyển hóa 8 thức tâm vương mà có: Đó là:
(trích: http://chuavanhanh.free.fr/Tudien.php?lg=&Reference=386 )
thức thứ 8 thành Đại viên cảnh trí, thức thứ 7 thành Bình đẳng tính trí, thức thứ 6 thành Diệu quan sát trí, 5 thức giác quan thành Thành sở tác trí.

Bốn trí này, ngài Chân Đế dịch trong Nhiếp đại thừa luận thích là Hiển liễu trí, Bình đẳng trí, Hồi quan trí, Tác sự trí; ngài Gupta dịch trong Nhiếp đại thừa luận thích luận là Cảnh trí, Bình đẳng trí, Chính quán trí, Tác sở ứng tác trí; ngài Prabhākaramitra dịch trong Đại thừa trang nghiêm kinh luận là Cảnh trí, Bình đẳng trí, Quán trí, Tác sự trí.

1. Đại viên cảnh trí: Do chuyển thức hữu lậu thứ 8 là A lại da thức mà thành. Trí này có được do xa lìa hết thảy sự chấp vào cái tôi, cái của tôi; xa lìa sự phân biệt, khả năng nắm giữ và cái được nắm giữ; hành tướng của năng duyên và nội cảnh của sở duyên đều vi tế, rất khó nhận biết, nhưng đối với tất cả cảnh giới ấy, Trí vô lậu này có khả năng nhận biết rõ ràng, không mê muội, không quên mất (thường hiện tại). Tính và tướng của Trí này hoàn toàn thanh tịnh, xa lìa hết thảy mọi nhiễm ô phiền não, là Trí thuần tịnh viên mãn; là chỗ phát sinh, biểu hiện hay hiện hành mọi công đức của thân và tâm, nhưng cũng đồng thời là chỗ thu nhiếp, cất giữ tất cả mọi hạt giống công đức thanh tịnh vô lậu. Trí này có khả năng biểu hiện thân Phật và quốc độ của Phật để tự thọ dụng; nó cũng phản ánh ảnh tượng của ba trí còn lại. Trí này không bị gián đoạn, soi suốt tận cùng vị lai, giống như một tấm gương lớn, có khả năng phản chiếu mọi hình ảnh. Kinh Phật Địa nói: Đại viên cảnh trí giống như tấm gương lớn soi rõ mọi hình ảnh. Cho nên, nương vào tấm kinh trí tuệ của Như Lai, tất cả mọi hình ảnh từ sáu xứ, sáu cảnh, sáu thức đều hiển hiện rõ ràng.

2. Bình đẳng tính trí Trí này chuyển hóa từ thức thứ bảy, thức Mạt Na. Thức Mạt Na phân biệt ta và không ta, kỳ thị giữa của tôi và không phải của tôi. Nhưng nếu thực tập thông minh, ta có thể chuyển hóa Thức thứ bảy thành Trí mang tính Bình Đẳng, thấy mình và người khác là một, và mầu nhiệm như nhau. Như khi gặp kẻ thù mà ta lạy xuống một lạy, thì ta sẽ thấy thù cũng cùng một bản tính với bạn, người kia với mình là một và ý niệm hận thù không còn nữa. Đó là Bình Đẳng Tánh Trí, phát hiện ngay trong lòng của thức Mạt Na, cái thức chấp ngã.

3. Diệu quan sát trí: Diệu quan sát trí là khả năng quan sát một cách mầu nhiệm, được chuyển hóa từ thức thứ sáu. Thức thứ sáu, tức Ý Thức, đầy dẫy những tri giác sai lầm. Nó tạo tác biết bao nhiêu khổ đau. Nhờ Trí Đại Viên Cảnh, nhờ sự chuyển hóa, Ý Thức trở thành Trí Diệu Quan Sát, có thể quán sát muôn vật mà không bị kẹt vào tri giác sai lầm.

4. Thành sở tác trí: Là một Trí tuệ mà gốc là các Thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Con mắt có vô minh làm cho ta say đắm, nhìn giả thành thật. Con mắt làm cho ta mù tối. Bây giờ con mắt có minh tạo tác được những thành tựu, mở cửa cho ta thấy pháp Thân mầu nhiệm.

(hết trích)

Sao lại gọi 4 Trí này là Huyễn Trí ? Vì chúng là pháp duyên sanh do tu tập thiền định mà chuyển hóa Huyễn Tâm (8 Thức) mà thành. Huyễn sanh nên gọi là Huyễn Trí.

Như.-Khi vị tăng Trí Thông hỏi về Bốn Trí, Lục tổ nói bài kệ:

Đại viên cảnh trí: tánh thanh tịnh
Bình đẳng tánh trí: tâm không bệnh
Diệu quan sát trí: thấy chẳng công
Thành sở tác trí: đồng viên cảnh
Năm, tám, sáu, bảy quả nhân chuyển
Chỉ dùng danh ngôn không thật tánh
Nếu nơi chỗ chuyển chẳng lưu tình
Rộn ràng vẫn mãi Na-già định.


Vâng thưa các Bạn. Tuy Tứ Trí chỉ là Huyễn trí, nhưng vẫn có công năng trừ huyễn Tâm nên chúng ta cần phải tu tập.

Tu tập như vậy gọi là "Lấy Huyễn Trí mà trừ Huyễn Tâm".
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,376
Reaction score
1,701
Điểm
113
III. Huyễn Không.

Trong giáo lý Đạo Phật có nói nhiều loại KHÔNG. Ví dụ: Hư không.- là khoảng không trong vũ trụ, ngoan không là cái không vô lý như lông con rùa, sừng con thỏ không bao giờ có được, Có và Không là khái niệm của ý thức nhị biên, Chơn Không là Bản thể của Vạn vật v.v... chúng ta chưa bàn đến các vấn đề này.

HUYỄN KHÔNG chúng ta thảo luận ở đây , là nói cái Không (Mộng Giác) do tu tập Thiền Định, để phá tan "Tam giới" do "Nghiệp" khởi. Như bài kệ diễn tả:

Kiến văn như huyễn ế,
Tam giới nhược không hoa.
Văn phục ế căn trừ,
Trần tiêu giác viên tịnh.


Thấy nghe như huyễn mộng
Ba cõi như không hoa
Điều phục tâm tan mộng
Sạch bụi trời trong xanh



Cụ thể hơn. Ở đây chúng ta, quán sát về "4 cõi Không của Thiền Định". Đó là:

1. Hư Không Vô biên Xứ.
2. Thức Vô biên Xứ.
3. Vô Sở Hữu xứ
4. Phi tưởng phi phi tưởng xứ.

Đây là 4 cõi trời Vô Sắc Giới.

Tổ Qui Sơn dạy:

Nhược dục tham thiền học đạo, đốn siêu phương tiện chi môn, tâm khế huyền tân, nghiên cơ tinh yếu, quyết trạch thâm áo, khải ngộ chân nguyên, bác vấn tiên tri, thân cận thiện hữu, thử tông nan đắc kỳ diệu, thiết tu tử tế dụng tâm, khả trung đốn ngộ chánh nhân, tiện thị xuất trần giai tiệm. Thử tắc phá tam giới nhị thập ngũ hữu,

Việt:

Nếu muốn tham Thiền học Đạo, chóng vượt qua các cửa phương tiện, thì tâm phải đến tới bờ mé sâu thẩm của ý thức tham cứu cho rốt ráo chỗ tinh yếu của Đạo, quyết chọn chỗ sâu xa, để mở sáng nguồn chân, tham vấn rộng khắp với những vị giác ngộ đi trước, thân cận với người lành. Tông nầy khó đạt được chỗ kỳ diệu của nó nên cần phải khẩn thiết dụng tâm cho tinh tế (miên mật), mới có thể ngay trong đó mà đốn ngộ chánh nhân, đó chính là thềm bực ra khỏi trần lao. Theo đó tức là phá sạch hết hai mươi lăm cảnh giới của ba cõi.

(hết trích)

Kính các Bạn: "Điều phục tâm tan mộng".- Đó là Huyễn Không. Vì Tâm Điều Phục vốn là Không, Mộng cũng là Không.

"phá sạch hết hai mươi lăm cảnh giới của ba cõi. " Là dùng Huyễn Không để phá tan "Tam Giới",- Đó là dụng Huyễn Không để trừ Huyễn Trí.

Vậy chúng ta phải dụng công như thế nào ?
 

Hoa Vô Tướng

Active Member
Thành viên vinh dự
Tham gia ngày
9 Tháng 4 2018
Bài viết
331
Reaction score
129
Điểm
43
Dạ kính thầy @vienquang6 !

Nói về dụng công như thế nào thì con cũng xin ý kiến ạ, để con trình bày cách dụng công hàng ngày của con để mọi người góp ý ạ.

Ngày trước thì con cũng học ngồi tĩnh tọa nhưng cách này không hợp với con lắm, vì cứ ngồi lúc là tâm thức lại lăng xăng đủ thứ tạp nham con không thể an trụ được, vì vậy trong lúc hành quán vô tình con khám phá ra là khi đi bộ hoặc chạy xe trên đường cảnh vật thay đổi liên tục khi tham cứu thì dễ vào trạng thái nhất tâm bất loạn hơn ạ. Con nghĩ các vị ngày xưa thường đi hành cước hay đi kinh hành chắc cũng lý do này ạ.

Dạo gần đây thì con lại phát hiện ra là nằm yên hoặc ngồi yên khi nghe âm thanh mười phương hiện khởi liên tục thì cũng giống như khi chạy xe con cũng vào trạng thái nhất tâm bất loạn giống như vậy ạ.

Như vậy theo ý kiến của con là : Đối cảnh vô tâm chính là công phu huyễn không trừ huyễn trí ạ!
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,376
Reaction score
1,701
Điểm
113
III. Huyễn Không. (tt)
* Pháp Hành.
a). Phá Dục giới.


Cảm ơn Bạn Hoa Vô Tướng đã chia sẻ "Pháp Hành".

Vâng. Thưa các Bạn.- Pháp Hành tùy nhân duyên, tùy phước báu không thể nghĩ bàn. VQ chỉ xin trích một số kinh điển Đức Phật dạy, để chúng ta cùng "thực Hành Thiền" để phá Tam giới, nhị thập ngũ hữu:

1/. Để phá Dục giới. Hành giả tu tập Giới- Định- Huệ. Do công năng Tam Vô lậu Học (Giới- Định- Huệ) mà thoát cõi Dục đi vào Cõi Sắc. Như đoạn luận dạy:

nói "Phải ly 5 Dục, xả 5 Cái, tu (*) 5 Hạnh, mới vào được Sơ Thiền", như vậy hành giả muốn vào Sơ Thiền phải y nơi pháp quán nào ?

....... Đáp: Hành giả phải y vào pháp quán bất tịnh, phải tu niệm hơi thở, phải vào định, phải ly các pháp bất thiện, mới vào được Sơ Thiền. Như bài kệ thuyết:

Ly Dục và ác pháp,
Có giác và có quán.
Ly sanh được hỷ lạc,
Tức vào được Sơ Thiền.
Xa lìa được lửa Dục,

Như vào chốn thanh lương,
Như rời chỗ nóng bức.
Như tắm trong nước mát,
Như đang nghèo được của.
Tâm vui mừng khôn xiết,
Thành tựu tâm quán ấy.
Là vào được Sơ Thiền.

(hết trích)

Ngoài ra, chư Tổ còn dạy Pháp quán "Ngũ Đình Tâm" .-tu (*) 5 Hạnh-, Hoặc Niệm Phật.- để vào Thiền. Đó là:

  1. Quán sổ tức, để đối trị bệnh tán loạn của tâm trí.
  2. Quán bất tịnh, để đối trị lòng tham sắc dục.
  3. Quán từ bi, để đối trị lòng sân hận.
  4. Quán nhân duyên, để đối trị lòng si mê.
  5. Quán giới phân biệt, để đối trị chấp ngã.

7111


Kính các Bạn.- Vào được Sơ Thiền, là hành giả đã phá được Dục giới, đi lên Sắc Giới.- Đó là dụng Huyễn Tâm trừ đi huyễn cảnh Dục giới.
 
Chỉnh sửa cuối:
Top