THẢO LUẬN KINH VIÊN GIÁC chương 6,7,8,9,10,11,12

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* Bệnh TÁC .- và Hành hạnh Vô Hành .

Kinh văn:

Nầy, Phổ Giác! Người thiện tri thức ấy, đối với pháp sở chứng đã tự viễn ly bốn bệnh rồi !
Bốn bệnh là những gì ?
Một, bệnh TÁC. Giả như có người nói: vì cầu Viên Giác, tôi phải LÀM, phải phấn đấu phát tâm chuyên tu khổ hạnh, phải ít ngủ bớt ăn… nhưng chánh nhơn để vào nhà Viên Giác không phải do "làm" mà được. Vì vậy, gọi TÁC là một chứng bệnh.


Trực chỉ:

Bệnh TÁC, chữ TÁC có nghĩa là làm. Làm có vẻ tích cực nhưng việc làm không đúng chánh nhân giải thoát.
Thực ra tu hành cốt yếu là đoạn phiền não, diệt vô minh, vun bồi trí tuệ để nhận thức chân lý, để sống hợp chân lý, để có giác ngộ giải thoát và để tự mình thọ dụng sự giải thoát giác ngộ đó trong cuộc sống hiện tại cũng như mãi mãi ở tương lai. Mục đích của chư Phật ba đời đều như vậy cả. Ở người bệnh "tác" thì trái lại, họ dụng ý bày vẻ: Nay lập đạo tràng nầy, mai ấn định nghi thức nọ. Trì luyện canh khuya, khẩn cầu suốt tối. Ép xác hành thân… Làm như thế chỉ khổ công mà vô ích. Người tu hành như thế gọi là người mắc phải chứng bệnh TÁC.

(hết trích)

Tư duy: Tác có nghĩa là Làm, cũng có nghĩa là tu, là Hành. Ở kinh này nói "Tác" là một loại bệnh làm trở ngại Viên giác.- Đó là nói những lối tu, lối hành còn mang dáng dấp "Ngã tướng".

Kinh 42 chương Đức Phật dạy rằng: Những người xuất gia làm sa môn phải dứt bỏ ái dục, nhận biết nguồn tâm của mình, quán triệt chánh pháp thâm diệu của Đức Phật chứng ngộ pháp vô vi, trong vô sở đắc, ngoài vô sở cầu, tâm không vướng mắc nơi đạo, cũng không còn kết nghiệp, vô niệm, vô tác, phi tu phi chứng, không trải qua các quả vị, mà vẫn cao vĩ. Đó mới thật là Đạo.
(hết trích)

Hành hạnh Vô Hành hay
Bất hành nhi hành: là một cách làm không có sự tính toán trước - ta có thể dùng từ "tuỳ cơ ứng biến" - song lúc nào cũng phù hợp với thời điểm, lúc nào cũng đúng. Một yếu tố cần thiết để đạt được trình độ này chính là sự phát triển định lực; tuy nhiên, chỉ với định lực thôi cũng không đủ để đạt đến trình độ "Bất hành nhi hành". Mà Hành giả cần phải giữ tâm trạng không vướng mắc vào những kết quả của những hành động của mình, nói một cách khác: không tự biết mình làm, không tự biết rằng có "ta" thực hiện và có "một việc" được hoàn tất.
(hết trích)

Kính các Bạn.

* TÁC là một bệnh (nếu trong hành tác đó còn mang tính chất Ngã chấp, pháp chấp).

* TÁC Sẽ là "Diệu lực" nếu được NHẤT TÂM như ĐH Hoa Vô Tướng đã nói trên.
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* Bệnh Nhậm.

Kinh văn: Hai, bệnh NHẬM. Giả như có người nói: Tôi không cần đoạn trừ sanh tử, cũng chẳng mong chứng được Niết bàn. Niết bàn và sanh tử không cần phải mong muốn hay đoạn trừ. Cứ MẶC KỆ BUÔNG TRÔI theo dòng pháp tánh… nhưng tánh Viên Giác không phải là tánh "mặc kệ buông trôi". Vì vậy, gọi NHẬM là một chứng bệnh.

Trực chỉ:

Hai bệnh NHẬM. "Nhậm" có nghĩa là buông trôi không làm gì hết. Sống với dáng vẻ đờ đẫn, thẫn thờ, mặc cho thế cuộc…
Người tu hành là tinh tấn cần cù với tất cả thiện nghiệp lợi ích cho đời cho tất cả chúng sanh. Nhưng khác hơn người thường là làm mà không thấy mình làm. Làm với tâm thành "ưng vô sở trụ" chớ không phải làm như kẻ ăn sổi ở thì hững hờ với thế cuộc.
Không làm gì hết, thờ thẫn buông trôi, không phải là thiện. Không làm gì hết mà hy vọng chứng đắc Bồ đề Niết bàn, thể nhập Như Lai Viên Giác Diệu Tâm, rõ là hạng người tham lam mà không đếm xỉa gì lý trí, vì vậy gọi NHẬM là một chứng bệnh.

(hết trích)
Tư duy:

Người tu Phật chúng, nếu không khéo dụng công sẽ dể rơi vào 2 trường hợp:

1. Bệnh Tắc: như nói trên. Những người này họ tu theo "bệnh hình thức" mà Ngài Huyền Giác đã nói : "Thượng sĩ nhất quyết nhất thiết liễu, trung hạ đa văn đa bất tín, đản tự hoài trung giải cấu y, thùy năng hướng ngoại khoa tinh tấn?" (Bậc trung hạ, những căn cơ thấp kém, học thì nhiều học trích cú tầm chương, luôn mồm khoe học vị với văn bằng, cởi áo bẩn không biết đường mở nút -- HT. Thích Từ Thông dịch).

2. Bệnh Nhậm: Nghĩa là lười biếng buông trôi. Như trong Cảnh Sách Tổ Quy Sơn nói: Tại sao vừa được giới phẩm lại tùy tiện cho mình là bậc Tỳ Kheo? Dùng của thí chủ, ăn của thường trú, không biết xét nghĩ cho kỹ những thứ ấy từ đâu mà có, lại nói bừa rằng hiến cúng như vậy là lẽ tất nhiên đúng pháp. Ăn rồi, xúm đầu huyên náo, chỉ nói toàn những chuyện tạp của thế gian. Nhưng đó là cái vui nhất thời mà không biết chính cái vui đó lại là nguyên nhân của đau khổ. Bao kiếp xưa kia, chạy theo trần cảnh, chưa từng phản tỉnh. Thời giờ mãi trôi, năm tháng lần lữa, hưởng dụng càng nhiều, lợi dưỡng càng lắm, trãi qua nhiều năm mà chẳng nghĩ tính đến việc rời bỏ. Tích chứa cho nhiều, cũng chỉ vì nuôi giữ lấy cái thân xác hư huyễn này mà thôi. Đấng Đạo Sư có khuyên răng và khuyến khích Tỳ Kheo phải giữ thân mà tiến trên đường Đạo, còn ba việc ăn, mặt, và ngủ thường ngày đừng nên cho đầy đủ quá. Con người đa số đều đam mê những mùi vị ấy không ngừng, ngày qua tháng lại, thoáng chốc đã bạc đầu. Cho nên kẻ hậu học chưa nghe được ý chỉ huyền diệu của Phật Pháp phải học hỏi sâu rộng với các bậc giác ngộ đi trước, sao lại có thể nói rằng việc xuất gia quý ở nơi cầu cơm no áo ấm?
(hết trích)


* Hoặc có người cho rằng Niệm Phật, tham thiền là pháp phương tiện không phải là cứu cánh. Thế rồi cả ngày bờ bẩn ăn rồi lại ngũ.

* hoặc có người cho rằng Tụng kinh, học lý là "nhai cặn bã của người xưa". Để rồi: Cho đến tuổi đời, tuổi Hạ đều cao, mà bụng rỗng tâm cao, chẳng chịu thân cận bạn lành, chỉ biết nghênh ngang kêu ngạo, chưa thông giáo pháp và giới luật, nên sự thúc liễm toàn không. Hoặc lời cao tiếng lớn, nói năng vô phép. Chẳng kính các bậc Thượng, Trung, Hạ tọa, chẳng khác gì sự tụ hội của các Bà La Môn. Khua bát ra tiếng, ăn rồi dậy trước, đến đi trái phép, tăng thể toàn không, đứng ngồi lăng xăng, làm động niệm tâm người. Chẳng còn một chút phép tắc, một tí oai nghi nào, thì lấy gì để thúc liễm hậu bối? Còn kẻ mới học cũng không nhân đâu mà noi theo được!
(trích Quy sơn Cảnh sách)


Vì vậy gọi NHẬM là một chứng bệnh. Làm ngăn trở con đường về Viên giác.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* Bệnh CHỈ, bệnh DIỆT.

Kinh văn:
3, bệnh CHỈ. Giả sử có người nói: Trên đường tu hành, tôi chỉ cần NGƯNG BẶC niệm lự để hợp với tánh tịch nhiên của Viên Giác. Ý tưởng đó không đúng, vì tánh Viên Giác không phải là tánh "ngưng bặc". Vì vậy, gọi CHỈ là một chứng bệnh.
4, bệnh DIỆT. Giả sử có người nói: Tôi nay đoạn trừ tất cả phiền não, thân tâm, căn trần. Vì tất cả là cảnh giới hư vọng cần phải đoạn DIỆT, nhưng Viên Giác không phải là tứơng "đoạn diệt". Vì vậy cho nên gọi DIỆT là một chứng bệnh.
Trên đường tu cần phải xa rời bốn chứng bệnh như vậy. Xa rời bốn bệnh tức là xa rời những cái nhân "phi nhân" không phù hợp chân lý.
4. Nầy, Phổ Giác ! Chúng sanh đời sau muốn tu hành phải hết lòng cúng dường phụng sự gần gũi người thiện tri thức của mình. Ở gần thì một lòng kính trọng, ở xa phải luôn nhớ những ý tốt lời lành. Nếu người có biểu lộ những cảnh bằng lòng hoặc trái ý hãy quán niệm như chẳng có gì, thân tâm của mình, của mọi người đều đồng thể bình đẳng. Nên nhớ, chúng sanh không được thành đạo do có những quan niệm thương, ghét, ta, người, hơn, thua, tốt, xấu… Nếu có người xem oan gia như cha mẹ không có ý tưởng hai; ân oán bình đẳng không khởi tâm thương ghét, Như Lai nói người như thế, không bao lâu sẽ vào đến nhà Viên Giác.
Nầy, Phổ Giác ! Chúng sanh đời sau muốn cầu Viên Giác phải phát lời thệ nguyện:
"Tất cả chúng sanh, cùng tận thế giới hư không, tôi đều phụng sự khiến cho họ được vào nhà Như Lai Viên Giác và chừa bỏ tất cả ý niệm triền phược bỉ thử ngã nhơn…
Người phát tâm tu hành như vậy sẽ không rơi vào tà kiến.
Bấy giờ, đức Thế Tôn tuyên lại nghĩa trên bằng một bài kệ:
Phổ giác ông nên biết.
Hậu thế các chúng sanh.
Muốn cầu thiện tri thức.
Nên cầu người chánh kiến.
Tâm không ở Nhị thừa.
Pháp hành ly bốn bệnh.
Là TÁC, NHẬM, CHỈ
Ơ?ần thì tôn kính.
Cách biệt nhớ lời răn.
Khi thấy hiện tướng gì.
Nên sanh lòng hi hữu.
Kính như Phật tại thế.
Không phạm các oai nghi.
Giới căn đều thanh tịnh.
Độ tất cả chúng sanh.
Trọn vào nhà Viên Giác.
Bỉ thử ngã nhơn tướng.
Dùng tuệ giác chiếu soi.
Đường tu y chánh pháp.
Tà kiến khỏi rơi vào.
Ngày về nhà Viên Giác/
Niết bàn bến gần kề
.

Trực chỉ:
3. bệnh CHỈ. "CHỈ" có nghĩa là chặn đứng là ngưng bặc, diệt hết ý niệm tư duy.
Người tu hành phải là ngừơi giàu tư duy và rất cần trí tuệ để tư duy nhận thức chân lý. "Chánh tư duy" là một trong tám con đường chánh. Tư duy không phải là vọng tưởng. Người nhiều vọng tưởng không phải là người giàu tư duy. Ngưng bặc chánh tư duy, con người trở thành vật vô tri vô giác như hình nộm, như tượng đất ích lợi cho ai ! Lợi cho đời còn không có, còn mong gì thành tựu đạo quả, vì vậy CHỈ là một thứ bệnh chướng ngại Bồ đề Niết bàn.

4. bệnh DIỆT. "DIỆT" có nghĩa là triệt tiêu, hủy diệt hết.
Đức Thế Tôn thành tựu Vô Thượng Bồ Đề chính là lúc "tam minh" ở trong Ngài hiển hiện. Trí tuệ của đức Thế Tôn lúc bấy giờ bừng tỏ rạng, mà người đời gọi là rực ánh hào quang. Từ Bồ đề thọ hạ cho đến Ta La song tho nhập Niết bàn, đức Phật không có lúc nào không sử dụng tuệ giác để làm lợi ích cho chúng sanh, bằng sự nghiệp giáo hóa suốt 49 năm của đời Ngài. Nhìn tấm gương sáng, rực ánh hào quang của đức Phật, thì ra đức Phật chẳng có lúc nào "diệt" tư duy và trí tuệ. Căn, trần không có lỗi, dụng công "diệt" nó để làm gì. Vả lại có muốn diệt cũng không sao diệt được. Vô minh huyễn vọng, không vọng chẳng tìm có vô minh. Diệt thân tâm lại trở thành kẻ điên cuồng tự sát ! Vì vậy, kẻ tu hành dụng ý "diệt" vô tình laị mang thêm chứng bệnh, khiến cho đường thẳng Niết bàn bị cắt đứt không thể tiến lên.
4. Diệt trừ bốn tướng, xa lánh bốn bệnh, oán thân bình đẳng, rửa sạch thị phi Phật nói người như thế không lâu sẽ đến nhà Như Lai Viên Giác.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
Chương 11: Xa Ma Tha Tam Ma Bát Đề và Thiền Na trong bước đường tu tập.

Chương 12: Biển cả dung chứa nước hết thảy sông ngòi khe lạch. Viên Giác đại thừa giáo lợi ích khắp căn cơ.

Kính thưa Đại Chúng.

Trên đây VQ đã trùng tuyên lại Kinh Viên Giác do Hòa Thượng Ân Sư Thích Từ Thông diễn giảng.

Nếu có được bao nhiêu công đức nguyện hồi hướng cho Hòa Thượng Ân Sư được thân tâm an lạc, trí huệ thường minh, lợi lạc quần sanh, Ta bà cửu trụ.
Đồng nguyện cho Pháp giới chúng sanh cùng vào Biển Viên giác thanh tịnh.

Nam mô Hoan Hỷ Tạng Bồ Tát.
 
Last edited:
Bên trên