THẢO LUẬN KINH VIÊN GIÁC chương 6,7,8,9,10,11,12

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
b). Phá Sắc Giới.

Khi đã vào được Sơ Thiền, ấy là bước vào Sắc Giới.

Sơ Thiền có 5 trạng thái Tâm,( cũng là 5 phần Huyễn Trí)

1. Tầm (giác), 2 Tứ (quán), 3 Hỷ, 4 Lạc, 5 Nhất tâm.

Muốn đi lên các tầng Thiền phía trên. Hành giả phải dùng Xả Tâm sẽ dần dần gần được "Huyễn Không" ( 4 Vô Sắc Định). Như bài kinh sau Phật dạy:

NHỊ THIỀN:
Còn chấp có "hai pháp"
Là tâm còn loạn động;
Nên xả ác xong rồi,
Thiện cũng phải ly luôn,
Giữ tâm thường bất động,
Như mặt hồ đứng yên.
Mặt nước đang phẳng lặng.
Chó nên làm gợn sóng.
Người đang giấc ngủ muồi,
Chó nên quấy rầy họ.
Đang ngủ bị đánh thức,
Tâm họ rất phiền muộn.
Khi nhiếp tâm vào Thiền.
Giác quán gây trở ngại,
Nên phải trừ giác quán.
Để vào Nhất Thế xứ,
Vào Nhất Thế xứ rồi,
Khiến nội tâm thanh tịnh,
Định ấy sanh hỷ lạc.
Dẫn vào Đệ nhị Thiền
.

TAM THIỀN
Lại rời tâm hỷ lạc.
Nhiếp tâm đệ nhất định,
Tịch nhiên không chỗ niệm.
Ưu hỷ đều xả sạch.
Do thọ mới sanh hỷ,
Mất hỷ sẽ sanh ưu,
Ly hỷ được Diệu Lạc.
Vào được Đệ Tam Thiền.


TỨ THIỀN
Lại biết lạc cũng bệnh,
Nên liền xả bỏ lạc,
Được Xả Niệm phương tiện,
An trú nơi bất động.
Ưu hỷ trước đã trừ,
Khổ lạc cũng xả luôn,
Tâm xả niệm thanh tịnh,
Vào được Đệ Tứ Thiền.
Nơi cõi Dục đoạn ưu,
Sơ, Nhị Thiền trừ khổ,
Trước đã trừ ưu hỷ,
Nay lại dứt khổ lạc.
Ở nơi Đệ Tứ Thiền,
Được trí huệ bất động.

(trích ĐTĐL)

Tu như vậy gọi là Dụng huyễn Không (xã) mà trừ huyễn trí. - Phá được Sắc Giới để vào Vô Sắc Giới Định.

7113


"Càng buông bỏ dưới chân này. Ấy là chỗ đứng càng ngày càng cao”.
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
c). Phá Vô Sắc Giới.

.......Vào Đệ Tứ Thiền, thiền giả được Bất Động Huệ.

....... Đến đây, thiền giả quán hết thảy các tướng, không khởi niệm phân biệt tướng, diệt hết thảy các tướng Hữu thì vào được Vô Biên Hư Không Xứ Định.

.......Vào định này, thiền giả lại quán "sắc thân thô trọng do duyên hòa hợp tạo thành". Đã có thân thì có Khổ, nên lại quán thân như hư Không. Khi đã được thân nhẹ nhàng rồi, thiền giả thấy 4 Đại ở bên trong thân và ở bên ngoài đều như nhau cả. Do vậy mà thấy vô lượng vô biên hư không, cả trong lẫn ngoài, khiến tâm nhẹ nhàng thanh thoát, nên được gọi là Vô Biên Hư Không Xứ Định. Ví như chim bị nhốt trong lồng, khi được thả tự do, thư thái, bay vút lên không trung.

....... Thiền giả lại duyên Thọ, tưởng, Hành, Thức xem như bệnh hoạn, quán Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã, rồi xả Hư Không Vô Biên Xứ Định để duyên hiện tại, quá khứ, vị lai, duyên thức xứ ở nhiều đời. Rồi thiền giả lại thấy "Thức Xứ" cũng chẳng có biên giới, vào được Vô biên Thức Xứ Định.

....... Dùng Vô biên Thức Xứ làm duyên khởi, thiền giả lại quán Thọ, Tưởng, Hành, Thức đều như bệnh, như mục nhọt, quán Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã là hư dối, quán Thức cũng là như vậy. Rồi thiền giả phá được "Thức tướng", tán thán "Vô sở hữu Xứ", vào được Vô Sở Hữu Xứ Định.

....... Ở nơi Vô Sở Hữu Xứ, thiền giả lại duyên Thọ, Tưởng, Hành, Thức, thấy rõ thân là Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã, do duyên hòa hợp mà thành, nên xả Vô Sở Hữu Xứ Định, vào được Vô Tưởng Định.

....... Vào được Vô tưởng Định rồi, là Thiền giả được "Đệ nhất Diệu Xứ" là Phi Hữu Tưởng Phi Vô tưởng Xứ Định.......


Hỏi: Nơi Phi Hữu Tưởng Phi Vô tưởng Xứ vẫn còn Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Như vậy vì sao lại gọi Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng Xứ ?

....... Đáp: Ở nơi đây vẫn còn Thọ, Tưởng, Hành, Thức nhưng rất vi tế. Vì quá vi tế khó có thể biết được, nên gọi là Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưỡng Xứ.

....... Phàm phu tưởng rằng Định này là Niết Bàn. Theo Phật pháp thì do nhân duyên tu tập mà thấy rõ "Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưỡng " rất vi tế, nên gọi Định này là Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưỡng Định vậy thôi.

....... Hỏi: Thế nào gọi là Vô tưởng ?

....... Đáp: Phải hiểu nghĩa Vô tưởng theo 3 trường hợp:


- Vô tưởng Định.
- Diệt Thọ tưởng Định.
- Vô Tưởng Thiên.


....... Phàm phu Ngoại đạo muốn diệt sự sanh khởi của Tâm nên vào Vô tưởng Định.

....... Các đệ tử Phật muốn diệt tâm vô tưởng sanh khởi, nên vào Diệt Thọ tưởng Định. Còn chư Thiên thì vào Vô tưởng Thiên.

(trích ĐT ĐL)

Ngoài ra Phật còn dạy Thiền Bát Bối Xã để phá Tam giới:

+ Bát Bối Xả, ,Bát bối xả hay còn gọi là Bát giải thoát là tám phương thức tu tập thiền định để giải thoát khỏi sự trói buộc của sắc dục. Tám phương thức đó là:

1. Nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát, nghĩa là trong lòng còn tham sắc mà quán sắc bên ngoài là bất tịnh để giải thoát sắc dục;

2. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát, nghĩa là trong lòng đã diệt sắc dục song để tận trừ nên quán sắc bên ngoài bất tịnh;

3. Tịnh thân tác chứng cụ túc trú giải thoát, nghĩa là quán sắc thanh tịnh mà không tham sắc và tự thân chứng nghiệm, an trú đầy đủ trong sự giải thoát ấy;

4. Không vô biên xứ giải thoát, nghĩa là giải thoát trong sự chứng nhập vào cảnh giới định thoát ly ra khỏi mọi giới hạn của không gian;

5. Thức vô biên xứ giải thoát, nghĩa là giải thoát trong sự chứng nhập vào cảnh giới định siêu thoát ra ngoài mọi hạn cuộc của thức tâm;

6. Vô sở hữu xứ giải thoát, nghĩa là giải thoát trong sự chứng nhập vào cảnh giới định không còn biên tế của đối tượng;

7. Phi tưởng phi phi tưởng xứ giải thoát, nghĩa là giải thoát trong sự chứng nhập cảnh giới thiền định mà thức tâm đạt đến sự vi diệu như có như không;

8. Diệt thọ tưởng định giải thoát, nghĩa là giải thoát trong sự chứng nhập vào cảnh giới thiền định bặt dứt mọi cảm thọ và tư tưởng.

(trích ĐT ĐL)

Thiền giả vào được Diệt Thọ tưởng Định, là đã hoàn toàn phá hết Tam Giới,- Đó là Cuối cùng huyễn Không cũng bỏ .- chứng quả A la Hán, Vào được Vô Sanh -
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,466
Điểm tương tác
413
Điểm
83
c). Phá Vô Sắc Giới.

.......Vào Đệ Tứ Thiền, thiền giả được Bất Động Huệ.

....... Đến đây, thiền giả quán hết thảy các tướng, không khởi niệm phân biệt tướng, diệt hết thảy các tướng Hữu thì vào được Vô Biên Hư Không Xứ Định.

.......Vào định này, thiền giả lại quán "sắc thân thô trọng do duyên hòa hợp tạo thành". Đã có thân thì có Khổ, nên lại quán thân như hư Không. Khi đã được thân nhẹ nhàng rồi, thiền giả thấy 4 Đại ở bên trong thân và ở bên ngoài đều như nhau cả. Do vậy mà thấy vô lượng vô biên hư không, cả trong lẫn ngoài, khiến tâm nhẹ nhàng thanh thoát, nên được gọi là Vô Biên Hư Không Xứ Định. Ví như chim bị nhốt trong lồng, khi được thả tự do, thư thái, bay vút lên không trung.

....... Thiền giả lại duyên Thọ, tưởng, Hành, Thức xem như bệnh hoạn, quán Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã, rồi xả Hư Không Vô Biên Xứ Định để duyên hiện tại, quá khứ, vị lai, duyên thức xứ ở nhiều đời. Rồi thiền giả lại thấy "Thức Xứ" cũng chẳng có biên giới, vào được Vô biên Thức Xứ Định.

....... Dùng Vô biên Thức Xứ làm duyên khởi, thiền giả lại quán Thọ, Tưởng, Hành, Thức đều như bệnh, như mục nhọt, quán Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã là hư dối, quán Thức cũng là như vậy. Rồi thiền giả phá được "Thức tướng", tán thán "Vô sở hữu Xứ", vào được Vô Sở Hữu Xứ Định.

....... Ở nơi Vô Sở Hữu Xứ, thiền giả lại duyên Thọ, Tưởng, Hành, Thức, thấy rõ thân là Vô thường, Khổ, Không, Vô ngã, do duyên hòa hợp mà thành, nên xả Vô Sở Hữu Xứ Định, vào được Vô Tưởng Định.

....... Vào được Vô tưởng Định rồi, là Thiền giả được "Đệ nhất Diệu Xứ" là Phi Hữu Tưởng Phi Vô tưởng Xứ Định.......


Hỏi: Nơi Phi Hữu Tưởng Phi Vô tưởng Xứ vẫn còn Thọ, Tưởng, Hành, Thức. Như vậy vì sao lại gọi Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưởng Xứ ?

....... Đáp: Ở nơi đây vẫn còn Thọ, Tưởng, Hành, Thức nhưng rất vi tế. Vì quá vi tế khó có thể biết được, nên gọi là Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưỡng Xứ.

....... Phàm phu tưởng rằng Định này là Niết Bàn. Theo Phật pháp thì do nhân duyên tu tập mà thấy rõ "Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưỡng " rất vi tế, nên gọi Định này là Phi Hữu Tưởng Phi Vô Tưỡng Định vậy thôi.

....... Hỏi: Thế nào gọi là Vô tưởng ?

....... Đáp: Phải hiểu nghĩa Vô tưởng theo 3 trường hợp:


- Vô tưởng Định.
- Diệt Thọ tưởng Định.
- Vô Tưởng Thiên.


....... Phàm phu Ngoại đạo muốn diệt sự sanh khởi của Tâm nên vào Vô tưởng Định.

....... Các đệ tử Phật muốn diệt tâm vô tưởng sanh khởi, nên vào Diệt Thọ tưởng Định. Còn chư Thiên thì vào Vô tưởng Thiên.

(trích ĐT ĐL)

Ngoài ra Phật còn dạy Thiền Bát Bối Xã để phá Tam giới:

+ Bát Bối Xả, ,Bát bối xả hay còn gọi là Bát giải thoát là tám phương thức tu tập thiền định để giải thoát khỏi sự trói buộc của sắc dục. Tám phương thức đó là:

1. Nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát, nghĩa là trong lòng còn tham sắc mà quán sắc bên ngoài là bất tịnh để giải thoát sắc dục;

2. Nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát, nghĩa là trong lòng đã diệt sắc dục song để tận trừ nên quán sắc bên ngoài bất tịnh;

3. Tịnh thân tác chứng cụ túc trú giải thoát, nghĩa là quán sắc thanh tịnh mà không tham sắc và tự thân chứng nghiệm, an trú đầy đủ trong sự giải thoát ấy;

4. Không vô biên xứ giải thoát, nghĩa là giải thoát trong sự chứng nhập vào cảnh giới định thoát ly ra khỏi mọi giới hạn của không gian;

5. Thức vô biên xứ giải thoát, nghĩa là giải thoát trong sự chứng nhập vào cảnh giới định siêu thoát ra ngoài mọi hạn cuộc của thức tâm;

6. Vô sở hữu xứ giải thoát, nghĩa là giải thoát trong sự chứng nhập vào cảnh giới định không còn biên tế của đối tượng;

7. Phi tưởng phi phi tưởng xứ giải thoát, nghĩa là giải thoát trong sự chứng nhập cảnh giới thiền định mà thức tâm đạt đến sự vi diệu như có như không;

8. Diệt thọ tưởng định giải thoát, nghĩa là giải thoát trong sự chứng nhập vào cảnh giới thiền định bặt dứt mọi cảm thọ và tư tưởng.

(trích ĐT ĐL)

Thiền giả vào được Diệt Thọ tưởng Định, là đã hoàn toàn phá hết Tam Giới,- Đó là Cuối cùng huyễn Không cũng bỏ .- chứng quả A la Hán, Vào được Vô Sanh -
Chân thành cám ơn Thầy đã diễn đạt rất chi tiết và người học theo đó có thể quán xét tu hành.
Kính thưa Thầy, theo con được biết, quả vị A LA HÁN giải thoát khỏi 6 đường luân hồi sanh tử, không bị sự trói buộc của tam giới. Nhưng Đức Phật cũng dạy rằng: quả vị A LA HÁN là chưa viên mãn rốt ráo.

1. Đức Phật lúc ngồi dưới cây Bồ Đề cũng Thiền, cũng Định nhưng tại sao Ngài chứng Phật Quả, còn các đệ tử lại chứng A LA HÁN? Phải chăng diệt Thọ Tưởng Định chưa phải Phật Quả viên mãn? Làm sao để được quả vị viên mãn rốt ráo từ việc Thiền-Định?

2. Nếu các quả vị A LA HÁN chưa viên mãn thì các vị ấy hiện nay ở đâu? Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Đức Phật có thọ ký cho các vị A LA HÁN sẽ tiếp tục hành trình Bồ Tát Đạo và đều sẽ thành Phật. Vậy thì các vị A LA HÁN đã nhập Niết Bàn, hữu vi không đến được thì làm sao biết để xuất Niết Bàn hành Bồ Tát Đạo?

Kính Thầy chỉ bảo.
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
Chân thành cám ơn Thầy đã diễn đạt rất chi tiết và người học theo đó có thể quán xét tu hành.
Kính thưa Thầy, theo con được biết, quả vị A LA HÁN giải thoát khỏi 6 đường luân hồi sanh tử, không bị sự trói buộc của tam giới. Nhưng Đức Phật cũng dạy rằng: quả vị A LA HÁN là chưa viên mãn rốt ráo.

1. Đức Phật lúc ngồi dưới cây Bồ Đề cũng Thiền, cũng Định nhưng tại sao Ngài chứng Phật Quả, còn các đệ tử lại chứng A LA HÁN? Phải chăng diệt Thọ Tưởng Định chưa phải Phật Quả viên mãn? Làm sao để được quả vị viên mãn rốt ráo từ việc Thiền-Định?

2. Nếu các quả vị A LA HÁN chưa viên mãn thì các vị ấy hiện nay ở đâu? Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Đức Phật có thọ ký cho các vị A LA HÁN sẽ tiếp tục hành trình Bồ Tát Đạo và đều sẽ thành Phật. Vậy thì các vị A LA HÁN đã nhập Niết Bàn, hữu vi không đến được thì làm sao biết để xuất Niết Bàn hành Bồ Tát Đạo?

Kính Thầy chỉ bảo.
Kính Bạn VNBN và Các Bạn.

Cảm ơn Bạn đã ra câu hỏi rất hay.

2 Vấn đề này chúng ta sẽ cùng tìm hiểu trong các chương kế tiếp.

Kính mời các Bạn tiếp tục thảo luận.

Mến
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
Chương 7: Xa Ma Tha, Tam Ma Bát Đề và Thiền Na là pháp hành căn bản trong toàn bộ nền giáo lý Phật
Pháp Sư Thích Từ Thông

Nguồn: Pháp Sư Thích Từ Thông


Lúc bấy giờ Bồ tát Uy Đức Tự Tại đảnh lễ dưới chân Phật và chấp tay thưa:
Đấng Đại bi Thế Tôn đã vì chúng con dạy rõ phương pháp tu hành tùy thận Viên Giác tánh, hàng Bồ tát chúng con giác tâm bừng sáng, không phải tu tập mà được lợi ích lớn lao.
Bạch Thế Tôn ! Ví như đại đô thành, đường đi vào không phải một, tùy hướng mà đến theo sự thuận lợi và ý thích của mỗi người. Bồ tát tu hành trang nghiêm Phật độ có lẽ không phải chỉ có một pháp môn. Cúi xin Như Lai vì chúng con và chúng sanh đời sau dạy cho pháp môn tu hành tiệm tiến, chúng con cần phải làm gì và có bao nhiêu phương cách để vun bồi trí tuệ, hầu tỏ ngộ diệu tánh Viên Giác để rong chơi trong biển đại tịch diệt của Như Lai?
Phật dạy: Nầy Uy Đức Tự Tại ! Vô thượng diệu giác phổ biến khắp mười phương, sản sanh ra chư Như Lai và tất cả pháp bình đẳng đồng thể. Ơ?rong đó việc tu hành không có hướng hai, nhưng vì tùy thuận căn cơ chủng tánh mở bày phương tiện nên có vô lượng pháp môn sai khác. Tuy vậy, có thể tóm kết sự sai khác ấy trong ba phương thức tu hành căn bản:
Một, trước hết Bồ tát phải tỏ ngộ và xác định tánh Viên Giác thanh tịnh vốn có của mình. Lấy sự tỏ ngộ ấy làm đối tượng trụ tâm. Từ đó, vọng niệm đứng lặng, tuệ giác phát sanh, nhận biết phiền não nội tâm chỉ là thứ khách trần. Xả bỏ được tính chấp nặng nề, tâm hành giả bèn có được trạng thái khinh an tịch tĩnh. Bấy giờ tâm của chư Phật hiển hiện vào như hình tượng ảnh hiện trong gương. Thực hiện phương thức nầy thành tựu, gọi đó là pháp môn phương tiện XA MA THA (CHỈ).
Hai, Bồ tát phải tỏ ngộ và xác định tánh Viên Giác thanh tịnh vốn có của mình. Sử dụng giác tâm nhận thức căn trần đều là huyễn hóa. Lấy huyễn tâm trừ huyễn cảnh, lấy huyễn trí giải hoá huyễn tâm. Bừng tỉnh giác biết rằng thân tâm cảnh giới đều hư huyễn. Bấy giờ tâm hành giả được trạng thái khinh ai đại bi. Theo đà phát triển của giác tâm thanh tịnh tăng tiến tu hành trưởng dưỡng quán trí như đất nuôi mạ. Thành tựu hiệu lực như thế, gọi đó là pháp môn phương tiện TAM MA BÁT ĐỀ (QUÁN).
Ba, Bồ tát phải tỏ ngộ và xác định tánh Viên Giác thanh tịnh vốn có của mình. Sử dụng giác tâm trừ chấp. Xóa bỏ cái thấy biết huyễn hóa. Xoá bỏ cái nhận thức thanh tịnh của giác tâm. Không để cho ngăn ngại vì cái biết và cái không biết. Vượt qua tất cả các ngại. Thân tâm hiện hữu trên cõi đời mà Niết bàn và phiền não không trở ngại gì nhau. Ví như tiếng ngân vang của chuông từ chuông mà có, nhưng tiếng và chuông không hề ngăn ngại cho nhau. Lúc bấy giờ hành giả phát ra sự khinh an tịch diệt, tùy thuận diệu tánh Viên Giác. Ơ?rong cảnh tịch diệt, ý niệm vọng chấp: ta, người, chúng sanh và thọ mạng trở thành phù hư không còn công dụng. Thành tựu được hiệu lực như thế, gọi đó là pháp môn tu tập THIỀN NA (gọi tắt là THIỀN).
Nầy Uy Đức Tự Tại ! Ba pháp môn đó là những phương thức gần gũi và tuỳ thuận tánh Viên Giác. Mười phương Như Lai nhơn đó mà thành Phật. Mười phương Bồ tát, bao nhiêu phương tiện đồng dị cuối cùng đều y ba phương thức tu hành đó mà người thì chứng ngộ, kẻ được thể nhập Như lai Viên Giác.
Nầy Uy Đức Tự Tại ! Giả sử có ngưới siêng tu thánh đạo, giáo hoá thành tựu trăm ngàn muôn ức A La Hớn, Bích Chi Phật, không bằng người nghe pháp môn Viên Giác thanh tịnh nầy tùy thuận tu tập trong một sát na!
Bấy giờ đức Thế Tôn tuyên lại nghĩa trên bằng một bài kệ:
Uy Đức ông nên biết.
Viên Giác tâm Vô thượng.
Bản chất không hai tướng.
Tùy thuận mở phương tiện.
Pháp môn có rất nhiều.
Như Lai tóm kết lại.
Phương thức có ba điều.
Tịch tĩnh XA MA THA.
Như gương in ảnh tượng.
NHƯ HUYỄN TAM MA ĐỀ.
Như đất nuôi mọng mạ.
THIỀN NA sâu tịch diệt.
Như tiếng ngân và chuông.
Ba pháp môn màu nhiệm.
Đều tùy thuận Viên Giác.
Mười phương các Như Lai.
Và chư Bồ tát chúng.
Nhơn đấy được thành đạo.
Ba pháp, tu viên mãn.
Được cứu cánh Niết bàn.


TRỰC CHỈ

Trong đạo Phật có rất nhiều pháp môn để tu và hành. Tùy hoàn cảnh, căn tánh, hành giả có thể chọn một pháp môn tu thích hợp với mình. Kinh sách Phật có câu: "vô lượng pháp môn tu". Ý nghĩa của câu đó, cho biết rằng, người tu chọn pháp môn nào cũng được đều có thể đạt mục đích được, không nhất thiết bắt buộc phải theo một pháp môn giáo điều cố định nào. Đó là tinh thần phóng khoáng và tánh "tự do" của nền giáo lý Phật. Tuy vậy, trong phóng khoáng tự do vẫn có tiêu chuẩn của tự do phóng khoáng. Xa Ma Tha, Tam Ma Bát Đề và Thiền na là tiêu chuẩn chung cho "tất cả pháp môn". XA MA THA là Phạn âm Trung Hoa dịch là CHỈ. Chỉ là ngăn dứt vọng tâm chặn đứng loạn tưởng. Tâm con người thường ngày quay cuồng trong cái vòng lẩn quẩn: Mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn… không có phút đứng yên. Tất cả thức đó là nguyên nhân gây ra khổ não. Hành giả vận dụng nội lực cắt bỏ, chặn đứng các thứ vọng tưởng của cái vòng lẩn quẩn ấy để tâm được dừng trụ. Tâm dừng trụ một chỗ, đó là công dụng của pháp tu CHỈ và XA MA THA. Trạng thái dừng trụ yên tĩnh được chiếm nhiều thời gian trong ngày, trong cuộc sống. Đây là bước đầu hành giả được làm quen và là cơ hội để hành giả nhận diện bộ mặt thật của "chơn tâm thường trú" của mình.
TAM MA BÁT ĐỀ Trung Hoa dịch là QUÁN. Quán là vận dụng TRÍ để nhận xét đối tượng. Ví dụ: Cái bàn. Lấy cái bàn làm vật đối tượng để nhận xét.
Ví dụ: "Cái bàn là vật VÔ THƯỜNG". Qua nhận xét bằng TRÍ, hành giả thấy "cái bàn vô thường" là một chân lý.
TRÍ nhận xét thuật ngữ gọi là "năng quán". Cái bàn bị nhận xét, thuật ngữ gọi là "sở quán". Dùng trí năng quán, quán xét biết được đối tượng sở quán (cái bàn) là một vật vô thường.
Đó là cách sử dụng Tam Ma Bát Đề trong tu tập. Dựa trên pháp quán về "cái bàn" ấy, bậc đại trí lợi căn còn suy diễn và đánh giá hiện tượng vạn hữu qua kết luận bao quát bằng sự nhận thức chân lý:
"Tất cả hiện tượng vạn hữu đều vô thường.
Vì chúng là vật chất.
Phàm vật chất đều vô thường.
Ví như cái bàn…"
THIỀN NA là Phạn âm Trung Hoa dịch TĨNH LỰ, có nghĩa là tư duy trong tịch tĩnh. Chữ TĨNH có ý nghĩa như chữ CHỈ. Chữ LỰ có ý nghĩa như chữ QUÁN. Do vậy, THIỀN NA được hiểu đồng nghĩa như CHỈ QUÁN. Cho nên nói đến "TU THIỀN" là nói đến pháp môn CHỈ QUÁN song tu. Thiền là gọi tắt của từ Thiền na ấy.
Tóm lại, XA MA THA, TAM MA BÁT ĐỀ, THIỀN NA, là ba pháp môn: CHỈ, QUÁN và CHỈ QUÁN đồng tu. Đó là ba pháp môn căn bản của tám muôn bốn ngàn pháp môn tu trong đạo Phật. Học Phật, tu Phật mà không biết sử dụng CHỈ, QUÁN hoặc CHỈ QUÁN đồng tu thì quả quyết mà nói thẳng rằng: cách tu đó, bất cứ với dạng thức nào, đều được xem là tu sai lạc, hoàn toàn không đem lại một lợi ích, một kết quả nào. Ví như người thợ làm bánh Trung Thu trong lò bánh không có bột, đường, thịt, hạt, trứng… thì không làm sao có được bánh Trung Thu ngon lành trong thị trường Trung Thu tháng Tám !
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
Kinh Như Lai Viên Giác Trực chỉ đề cương
Chương 8: Chỉ, Quán, Thiền có thể xoay vòng thay đổi thành 25 cách trong tiến trình tu tập.

Pháp Sư Thích Từ Thông

Nguồn: Pháp Sư Thích Từ Thông



Bấy giờ, Biện Âm Bồ tát trước đại chúng, đảnh lễ Phật và chấp tay thưa:
Bạch Thế Tôn ! Thế Tôn đã dạy cho đại chúng trong hội nầy pháp tu CHỈ, QUÁN và THIỀN NA là pháp môn rất hi hữu, nhưng với phương tiện đó, các Bồ tát đã vào cửa Viên Giác rồi, phải tu tập thế nào đối với ba pháp ấy ?
Phật dạy: Như Lai Viên Giác thanh tịnh vốn không phải là đối tượng sở tu. Dựa trên trình độ giác ngộ của chúng sanh và huyễn lực tu tập hợp với khả năng của từng người, bấy giờ trên bước đường tu có thể xoay vòng thay đổi trước sau thành hai mươi lăm cách:
Nắm giữ cực tĩnh. Do cực tĩnh đoạn hết phiền não, thành tựu rốt ráo, không rời đương xứ mà nhận lấy Niết bàn. Đây gọi là pháp đơn tu XA MA THA.
Chuyên quán như huyễn. Linh động trong việc độ sanh, hành Bồ tát hạnh mà không mất tĩnh tuệ. Đây gọi là pháp đơn tu TAM MA BÁT ĐỀ.
Chuyên trừ diệt các huyễn. Thiên nặng đoạn phiền não, chứng được thật tướng. Đây gọi là pháp đơn tu THIỀN NA.
Nắm giữ lấy cực tĩnh và quán chiếu vạn pháp duyên sanh như huyễn. Khởi hạnh tu như thế, gọi là trước tu CHỈ, sau tu QUÁN.
Nắm giữ tĩnh tuệ và đoạn trừ phiền não vượt ra sanh tử ưu bi… pháp hành nầy gọi là trước tu CHỈ, sau tu THIỀN.
Trước nắm giữ tĩnh tuệ, kế đến linh động độ sanh như huyễn, sau đoạn trừ phiền não thể nhập tịch diệt cảnh giới. Pháp hành như thế gọi là trước tu CHỈ, giữa tu QUÁN và sau tu THIỀN.
Trước giữ lấy cực tĩnh, nhờ vậy đoạn trừ hết phiền não, sau khởi Bồ tát hạnh hoá độ chúng sanh như huyễn. Hành theo pháp nầy gọi là trước tu CHỈ, giữa tu THIỀN, sau tu QUÁN.
Trước giữ lấy cực tĩnh, nhờ vậy tâm đoạn trừ hết phiền não và sau linh động độ sanh xây dựng thế giới. Hành theo pháp nầy gọi là trước tu CHỈ, sau THIỀN và QUÁN đồng tu.
Trước nắm giữ lấy cực tĩnh và linh động độ sanh như huyễn, sau đoạn trừ phiền não. Pháp môn nầy gọi là trước đồng tu CHỈ, QUÁN và sau tu THIỀN.
Do nắm giữ cực tĩnh, mà được tịch diệt trọn vẹn, sau khởi dụng độ sanh, kiến lập thế giới. Hành pháp môn nầy gọi là trước đồng tu CHỈ và THIỀN, sau tu QUÁN.
Tuỳ thuận, linh động hoá độ chúng sanh, sau thu liễm vào nắm giữ lấy cực tĩnh. Hành pháp như thế gọi là trước tu QUÁN, sau tu CHỈ.
Do hóa độ chúng sanh mà được tịch diệt hoàn toàn. Hành theo pháp nầy gọi là trước tu QUÁN, sau tu THIỀN.
Linh động làm các Phật sự, mà vẫn an trụ trong tịch tĩnh và đoạn hết phiền não ưu bi. Thành tựu như vậy gọi đó là trước tu QUÁN, giữa tu CHỈ và sau tu THIỀN.
Linh động là tất cả việc lợi ích chúng sanh mà vận đoạn trừ hết phiền não và an trụ trong cực tĩnh. Thành tựu theo pháp môn nầy gọi là trước tu QUÁN, giữa tu THIỀN và sau tu CHỈ.
Vận dụng phương tiện trong việc độ sanh như huyễn mà vẫn trụ trong cực tĩnh và tịch diệt. Thành tựu kết quả nầy gọi là trước tu QUÁN, sau đồng tu CHỈ và THIỀN.
Linh động khởi dụng độ sanh như huyễn và an trụ trong cực tĩnh sau hết đoạn trừ phiền não. Thành tựu pháp môn đó gọi là trước đồng tu QUÁN và CHỈ, sau tu THIỀN.
Linh động trong sự nghiệp độ sanh, thường trụ trong tịch diệt mà không rời cực tĩnh. Pháp môn nầy gọi là trước đồng tu QUÁN và THIỀN, sau tu CHỈ.
Nếu do sức tịch diệt mà được thanh tịnh đến cực tĩnh. Thành tựu nầy gọi là trước tu THIỀN, sau tu CHỈ.
Nếu do sức tịch diệt mà khởi công dụng hóa độ chúng sanh như huyễn. Đây gọi là trước tu THIỀN, sau tu QUÁN.
Nếu do sức tịch diệt mà được cực tĩnh rồi khởi dụng độ sanh. Pháp hành như thế gọi là trước tu THIỀN, giữa tu CHỈ và sau tu QUÁN.
Trước do sức tịch diệt, mà khởi dụng hóa độ chúng sanh, sau quay về trụ trong cực tĩnh. Thành tựu nầy gọi là trước tu THIỀN, giữa tu QUÁN và sau tu CHỈ.
Nếu do sức tịch diệt mà đi sâu vào chỗ cực tĩnh, từ cực tĩnh khởi công dụng linh động trong sự nghiệp hộ thế chúng sanh. Thành tựu pháp môn nầy gọi là trước tu THIỀN, sau đồng tu CHỈ và QUÁN.
Nếu do sức tịch diệt mà dẫn đến cực tĩnh rồi khởi dụng lợi ích chúng sanh, theo pháp môn nầy gọi là trước đồng tu THIỀN và CHỈ, sau tu QUÁN.
Nếu do sức tịch diệt dẫn đến khởi công dụng linh động trong việc lợi ích chúng sanh, sau quay về cực tĩnh với trí tuệ trong sáng. Thành tựu pháp môn nầy gọi là trước đồng tu THIỀN, QUÁN và sau tu CHỈ.
Nếu sử dụng tuệ nhãn, nhìn vạn pháp tánh tứơng viên dung không rời Viên Giác. Thành tựu pháp môn nầy gọi là viên tu ba tự tánh, tuỳ thuận trọn vẹn CHỈ, QUÁN và THIỀN NA.
Nầy, Biện Âm! Đây là25 cách xoay vòng thay đổi trước sau, Bồ tát đều có thể theo đó mà tu hành, tùy căn tánh thích hợp tu theo phương thức nào cũng đều đạt đến kết quả trở về với NHƯ LAI VIÊN GIÁC DIỆU TÂM thanh tịnh của chính mình.
Bấy giờ đức Thế Tôn tuyên lại nghĩa trên bằng một bài kệ:
Biện Âm ông nên biết.
Tất cả các Bồ tát.
Tuệ thanh tịnh vô ngại.
Đều nương thiền định sanh.
Ấy là Xa Ma Tha.
Tam Ma Đề, Thiền Na.
Ba pháp tu đốn, tiệm.
25 cách xoay vòng.
Mười phương các Như Lai.
Ba đời người tu tập.
Hết thảy đều nhơn đó.
Mà được thành Bồ đề.
Chỉ trừ người đốn giác.
Bất tùy thuận tiệm tu.
Tất cả các Bồ tát/
Và Chúng sanh đời sau.
Siêng tu theo pháp nầy.
Nhờ Phật lực đại bi.
Niết bàn thường hiện hữu.


TRỰC CHỈ
.
CHỈ, QUÁN và THIỀN là ba pháp căn bản trong vô lượng pháp môn tu. theo phương cách tu thông thường, trước phải tu CHỈ, tiếp theo tu QUÁN, sau là CHỈ QUÁN ĐỔNG TU, tức là THIỀN. CHỈ có công dụng như GIỚI. QUÁN có công dụng như ĐỊNH. Và CHỈ QUÁN ĐỔNG TU có công dụng như TUỆ. Công dụng của GIỚI ví như cái bóng đèn. Công dụng của ĐỊNH ví như ngọn đèn đứng yên. Công dụng của TUỆ ví như ánh sáng ngọn đèn tỏa sáng tròn đầy. Do bóng đèn, ngọn đèn đứng yên. Do ngọn đèn đứng yên mới tỏa ra ánh sáng. A?h sáng tỏa ra soi sáng mọi vật, soi sáng những chỗ cần soi sáng. Vì vậy, cho nên CHỈ, QUÁN và THIỀN lẽ thường phải tu theo thứ tự. Giống như GIỚI, ĐỊNH, TUỆ, tam vô lậu học, cũng tu theo thứ tự. Chủng tánh Tiểu thừa và trong giai đoạn học tu Tiểu thừa đều phải học và tu theo thứ tự như vậy.
Kinh Như Lai Viên Giác, thuộc hệ tư tưởng liễu nghĩa Đại thừa cho nên vượt ngoài khuôn khổ có tánh giáo điều. Người Đại thừa cho rằng sự thực hành thứ tự cố định đó không cần thiết, mà nó còn kềm hãm khả năng "nhảy vọt", hạn chế những phát huy sáng kiến trong tiến trình hành đạo và chứng đạo của con người.
Ơ?hương tám nầy, người đọc sẽ thấy rõ tinh thần phóng khoáng của Đại thừa tư tưởng: Rằng "Phật pháp bất định pháp". "Nhất thiết chư pháp vô phi Phật pháp". "Phật pháp tại thế gian, bất ly thế gian giác"… Pháp Phật là pháp bất định chứ không cố định. Tất cả các pháp đều là Phật pháp và Phật pháp ở khắp thế gian. Thành Phật không rời thế gian. Cho nên, dỡ chân lên, hạ chân xuống cũng là Phật pháp, khư khư bảo thủ quả vị chứng đắc Bồ đề Niết bàn đã là sai, khư khư chấp chặt thứ tự trước sau của XA MA THA, TAM MA BÁT ĐỀ, THIỀN NA lại càng vô bổ. Vì vậy, CHỈ, QUÁN, và CHỈ QUÁN ĐỔNG TU có thể xoay vòng thay đổi trước sau thành 25 cách trong tiến trình tu tập mà kết quả đem lại ai cũng được: TÙY THUẬN VIÊN GIÁC DIỆU TÁNH giống nhau.
Ở kinh Thủ Lăng Nghiêm thì 25 vị Thánh đệ tử trình bày lên Phật về duyên cớ và dữ kiện chứng đắc VIÊN THÔNG:
I. DỰA TRÊN LỤC CĂN CHỨNG ĐẮC VIÊN THÔNG:
Ông A Na Luật Đà.
Ông Quán Thế Âm Bồ tát.
Ông Châu Lợi Bàn Đặc.
Ông Kiều Phạm Ba Đề.
Ông Tất Lăng Gìa Bà Ta.
Ông Tu Bồ Đề.
II. DỰA TRÊN LỤC TRẦN CHỨNG ĐẮC VIÊN THÔNG:
Ông Ưu Ba Ni Sa Đà.
Ông Kiều Trần Như.
Ông Hương Nghiêm Đồng Tử.
Ông Dược Vương và Dược Thượng.
Ông Bạt Đà Bà La.
Ông Ma Ca Ha Diếp.
III. DỰA TRÊN LỤC THỨC CHỨN G ĐẮC VIÊN THÔNG:
Ông Xá Lợi Phất.
Ông Phổ Hiền Bồ tát.
Ông Tôn Đà La Nan Đà.
Ông Phú Lâu Na.
Ông Ưu Ba Ly.
Ông Đại Mục Kiền Liên.
IV. DỰA TRÊN THẤT ĐẠI CHỨNG ĐẮC VIÊN THÔNG:
Ông Trì Địa Bồ tát.
Ông Nguyệt Quang Đồng Tử.
Ông Ô Sô Sắc Na.
Ông Lưu Ly Quang Pháp Vương Tử.
Ông Hư Không Tạng Bồ tát.
Ông Đại Thế Chí Pháp Vương Tử.
Ông Di Lặc Bồ tát.
"Quả vị có thấp cao, giải thoát giống nhau không khác mấy.
"Căn trần thức giới thất đại đều là dữ kiện chứng đắc VIÊN THÔNG"
(Xin đọc Thủ Lăng Nghiêm kinh Trực chỉ Đề cương tập II cùng một soạn giả từ trang 77 sẽ được hiểu rõ hơn).
Đọc kinh DUY MA CẬT SỞ THUYẾT TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG, ta thấy chư Bồ tát chứng nhập PHÁP MÔN KHÔNG HAI, minh chứng rõ thêm về Phật pháp là "bất định pháp" và "bất ly thế gian".
Các Bồ tát tiếp cận môi trường dữ kiện khác nhau. Nhưng tất cả cũng đạt đến một mục đích là cùng CHỨNG NHẬP PHÁP MÔN KHÔNG HAI:
1/ Bồ tát Pháp Tư Tại dựa trên SANH và DIỆT.
2/ Bồ tát Đức Thủ :
NGÃ và NGÃ SỞ.
3/ Bồ tát Bất Thuấn:
THỌ và BẤT THỌ.
4/ Bồ tát Đức Đãnh:
CẤU và TỊNH.
5/ Bồ tát Thiện Tú :
ĐỘNG TÂM và NIỆM TƯỞNG.
6/ Bồ tát Thiện Nhãn:
TƯỚNG NHẤT và TƯỚNG VÔ.
7/ Bồ tát Diệu Tý :
TÂM BỔ TÁT và TÂM THANH VĂN.
8/ Bồ tát Phất Sa:
THIỆN và BẤT THIỆN.
9/ Bồ tát Sư Tử :
TỘI và PHƯỚC.
10/ Bồ tát Sư Tử Ý :
HỮU LẬU và VÔ LẬU.
11/ Bồ tát Tịnh Giải :
HỮU VI và VÔ VI.
12/ Bồ tát Na La Diên:
THẾ GIAN và XUẤT THẾ GIAN.
13/ Bồ tát Thiện Ý :
SANH TỬ và NIẾT BÀN.
14/ Bồ tát Thiện Kiến:
TẬN và BẤT TẬN.
15/ Bồ tát Phổ Thủ :
NGÃ và VÔ NGÃ.
16/ Bồ tát Điển Thiên:
MINH và VÔ MINH.
17/ Bồ tát Hỷ Kiến :
SẮC và KHÔNG.
18/ Bồ tát Minh Tướng:
TỨ ĐẠI và SỰ SAI KHÁC CỦA KHÔNG ĐẠI.
19/ Bồ tát Diệu Ý :
NHÃN CĂN và SẮC TRẦN.
20/ Bồ tát Vô Tận Ý
BỐ THÍ và HỔI HƯỚNG NHẤT THIẾT TRÍ.
21/ Bồ tát Thâm Tuệ:
KHÔNG, VÔ TƯỚNG, VÔ TÁC.
22/ Bồ tát Tịnh Căn:
PHẬT, PHÁP và TĂNG.
23/ Bồ tát Tâm Vô Ngại:
THÂN và THÂN DIỆT.
24/ Bồ tát Thượng Thiện:
THÂN, KHẨU, Ý .
25/ Bồ tát Phước Điền:
LÀM PHƯỚC LÀM TỘI, LÀM KHÔNG PHƯỚC KHÔNG TỘI.
26/ Bồ tát Hoa Nghiêm:
Từ BẢN NGÃ KHỞI CHẤP.
27/ Bồ tát Đức Tạng:
Có tướng SỞ ĐẮC.
28/ Bồ tát Nguyệt Thượng:
TỐI và SÁNG.
29/ Bồ tát Bảo Ấn Thủ :
Ham mộ NIẾT BÀN nhàm chán THẾ GIAN.
30/ Bồ tát Châu Đảnh:
CHÁNH ĐẠO và TÀ ĐẠO.
31/ Bồ tát Nhạo Thật:
THẬT và KHÔNG THẬT.
32/ Bồ tát Văn Thù :
Dùng Ý phân biệt là sai. Ngôn ngữ luận bàn không đến được.
33/ Cuối cùng Trưởng giả Duy Ma Cật:
Lặng im và lặng im…
(Xin đọc Kinh DUY MA CẬT TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG cùng một soạn giả ).
Tóm lại, CHỈ, QUÁN và CHỈ QUÁN ĐỔNG TU, hành giả có thể hành theo thứ tự cũng đạt đến kết quả "Tùy thuận VIÊN GIÁC DIỆU TÁNH" và xoay vòng thay đổi trước sau thành 25 cách tu cùng đem lại kết quả giống nhau.
Căn, Trần, Thức, Thất đại, dữ kiện khác nhau mà cùng chứng đắc VIÊN THÔNG giống nhau.
Nhận thức khác nhau, môi trường phản tĩnh khác nhau nhưng cùng chứng nhập PHÁP MÔN KHÔNG HAI giống nhau.

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
Chân thành cám ơn Thầy đã diễn đạt rất chi tiết và người học theo đó có thể quán xét tu hành.
Kính thưa Thầy, theo con được biết, quả vị A LA HÁN giải thoát khỏi 6 đường luân hồi sanh tử, không bị sự trói buộc của tam giới. Nhưng Đức Phật cũng dạy rằng: quả vị A LA HÁN là chưa viên mãn rốt ráo.

1. Đức Phật lúc ngồi dưới cây Bồ Đề cũng Thiền, cũng Định nhưng tại sao Ngài chứng Phật Quả, còn các đệ tử lại chứng A LA HÁN? Phải chăng diệt Thọ Tưởng Định chưa phải Phật Quả viên mãn? Làm sao để được quả vị viên mãn rốt ráo từ việc Thiền-Định?

2. Nếu các quả vị A LA HÁN chưa viên mãn thì các vị ấy hiện nay ở đâu? Trong Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Đức Phật có thọ ký cho các vị A LA HÁN sẽ tiếp tục hành trình Bồ Tát Đạo và đều sẽ thành Phật. Vậy thì các vị A LA HÁN đã nhập Niết Bàn, hữu vi không đến được thì làm sao biết để xuất Niết Bàn hành Bồ Tát Đạo?

Kính Thầy chỉ bảo.
Xin trở lại với các câu hỏi của Bạn VNBN.

1/. Nếu các quả vị A LA HÁN chưa viên mãn thì các vị ấy hiện nay ở đâu?

Kính thưa Bạn: Tất cả đều "từ NHƯ mà đến, đến rồi trở về NHƯ", Lại cũng nói "Không từ đâu đến cũng không về đâu cả".Yếu nghĩa này Bạn tìm xem lại Chân Như Tánh.- Hoặc bài viết "Nguồn Tâm" theo link này: https://diendanphatphaponline.com/diendan/threads/minh-tam-kien-tanh-phan-2-phu-luc-bat-nhi-phap-mon.34033/

2/ các vị A LA HÁN làm sao biết để xuất Niết Bàn (hữu dư) hành Bồ Tát Đạo?

Kính thưa Bạn: Do ĐỊNH mà sanh HUỆ. Nên các Vị AlaHan do được Nhât Thiết Trí, nên dần dần biết được Phật quả

3/. Làm sao để được quả vị viên mãn rốt ráo từ việc Thiền-Định?

Kính thưa Bạn VNBN và Các Bạn. Thật ra Quả Vị Phật không do tu tập bất cứ Pháp môn nào mà được thành tựu. Vì sao ? Vì PHẬT là Chân Như Sẳn có bất tăng, bất giảm nghĩa không phải do tu mà có ra. không phải do tạo tội mà mất đi. Nói cách khác: Phật Tánh ví như tấm gương tự sáng, nhưng bởi bị bụi trần che lấp mà ố mờ. Sở dĩ Đức Phật dạy các Pháp Chỉ- Quán - thiền là các Pháp làm phát sinh trí huệ. Thiền giả dùng trí huệ đó mà lao sạch bụi mờ vô minh phiền não chấp mắc để trở về tấm gương Viên giác thanh tịnh vốn có.- Đó là "được quả vị viên mãn rốt ráo từ việc Thiền-Định"


Vấn đề đó được Đức Phật dạy rõ ở Chương 9 sau đây. Kính mời các Bạn xem và thảo luận.

Mến
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
Chương 9: Chứng ngộ liễu giác là pháp chướng ngại Bồ đề
Pháp Sư Thích Từ Thông

Nguồn: Pháp Sư Thích Từ Thông

***************************************************************************

* Chấp NGÃ là đầu mối của Vô minh.

Kinh:
Bấy giờ, Bồ tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng trước đại chúng đứng dậy đảnh lễ Phật và chấp tay thưa:
Bạch đấng Đại bi Thế Tôn! Như Lai Thế Tôn vì chúng con chỉ dạy rõ về Nhơn Địa tu hành của chư Phật trong hằng sa kiếp, khiến cho đại chúng trong hải hội này được điều chưa từng có, chúng con hết sức thâm cảm vui mừng.
1. Kính bạch Thế Tôn! Tâm Viên Giác vốn thanh tịnh, vậy do duyên cớ gì lại có nhiễm ô, khiến cho chúng sanh mê mờ không được ngộ nhập. Cúi mong Thế Tôn khai ngộ cho hậu thế chúng sanh mối nghi lầm ấy ngõ hầu có được đạo nhãn tương lai?
Phật dạy: Tịnh Chư Nghiệp Chướng! Ông hãy thận trọng lưu tâm, nghe cho kỹ điều hệ trọng này. Như Lai sẽ vì ông mà chỉ dạy!
2. Này Tịnh Chư Nghiệp Chướng! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ kiếp vì vọng tưởng, khởi chấp nặng sâu về bốn tướng: ngã, nhơn, chúng sanh và thọ mệnh. Bốn tướng đó, vốn không có cái ngã thể chơn thật. Thế mà chúng sanh điên đảo vọng chấp không rời. Từ vọng chấp sanh ra ý niệm ghét thương. Từ ghét thương chồng thêm vọng chấp khác. Vọng lại sanh vọng cứ thế mà nhân lên đến đỉnh cao cứu cánh, vọng thành tham, sân, si, mạn, các nghiệp hữu lậu. Từ đó vọng thấy có luân hồi sanh tử. Người khởi tâm nhàm chán sanh tử lại vọng thấy Niết bàn. Do vậy, chúng sanh không vào được cảnh giới Viên Giác thanh tịnh. Không vào được, không phải cảnh giới Viên Giác ngăn cản không cho mà tại chúng sanh đánh mất tiêu chuẩn, cho nên không đủ điều kiện để vào. Vào hay không do người, Viên Giác thanh tịnh không có tướng vào ra. Nên biết, chúng sanh khởi niệm hay ngưng niệm đều thuộc phạm trù mê muội! Bởi vì tất cả chúng sanh không có tuệ nhãn để cho vô minh sanh khởi từ vô thỉ làm chủ tề đời mình, cho nên thân tâm trở thành công cụ biểu hiện của vô minh, khó mà trừ diệt, ví như con người, không ai nở tự giết chế mệnh sống của mình. Vì vậy, nên biết! Có yêu bản ngã thì người ta nuông chìu theo bản ngã. Nếu ai không thuận chìu bèn sanh lòng oán ghét. Lòng yêu ghét lại nuôi lớn vô minh thêm, cho nên tu hành cầu đạo thì nhiều mà ít người thành Phật.

(hết trích)
Tư duy:

ĐT ĐL dạy:

Hỏi: Ngã kiến và mạng căn có khác nhau chăng ?


....... Ngã kiến cũng như các tà kiến khác đều có tướng riêng khác. Vì sao nói :" Hết thảy các kiến chấp đều nhiếp ở trong ngã kiến cả ? ".

....... Đáp: Tuy rằng biệt tướng có sai khác, nhưng tất cả các kiến chấp đều y nơi ngã kiến làm gốc. Lại nữa, do vô minh duyên khởi mà có chấp ngã.

....... Bồ tát biết rõ ngã kiến cùng các kiến chấp khác đều là hư vọng, chẳng có thật. Phàm phu, do chấp 5 ấm thân, mà dẫn sanh ngã kiến; từ đó khởi sanh các chấp khác, như : Chấp thường, chấp đoạn, chấp 5 dục lạc thế gian, chấp chẳng có nhân quả v.v... Tất cả các chấp như vậy đều là điên đảo, là tội lỗi.

(hết trích)

Kính các Bạn.
Chấp NGÃ là đầu mối của Vô minh. Chúng sanh y cứ nơi Chấp ngã mà các Chấp khác trùng trùng duyên khởi. Trên đường tu.- Hành giả còn "Chấp Ngã" là biểu hiện: Ngăn chướng Đạo Đạo.
 
Last edited:

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,466
Điểm tương tác
413
Điểm
83
Chương 9: Chứng ngộ liễu giác là pháp chướng ngại Bồ đề
Pháp Sư Thích Từ Thông

Nguồn: Pháp Sư Thích Từ Thông

***************************************************************************

* Chấp NGÃ là đầu mối của Vô minh.

Kinh:
Bấy giờ, Bồ tát Tịnh Chư Nghiệp Chướng trước đại chúng đứng dậy đảnh lễ Phật và chấp tay thưa:
Bạch đấng Đại bi Thế Tôn! Như Lai Thế Tôn vì chúng con chỉ dạy rõ về Nhơn Địa tu hành của chư Phật trong hằng sa kiếp, khiến cho đại chúng trong hải hội này được điều chưa từng có, chúng con hết sức thâm cảm vui mừng.
1. Kính bạch Thế Tôn! Tâm Viên Giác vốn thanh tịnh, vậy do duyên cớ gì lại có nhiễm ô, khiến cho chúng sanh mê mờ không được ngộ nhập. Cúi mong Thế Tôn khai ngộ cho hậu thế chúng sanh mối nghi lầm ấy ngõ hầu có được đạo nhãn tương lai?
Phật dạy: Tịnh Chư Nghiệp Chướng! Ông hãy thận trọng lưu tâm, nghe cho kỹ điều hệ trọng này. Như Lai sẽ vì ông mà chỉ dạy!
2. Này Tịnh Chư Nghiệp Chướng! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ kiếp vì vọng tưởng, khởi chấp nặng sâu về bốn tướng: ngã, nhơn, chúng sanh và thọ mệnh. Bốn tướng đó, vốn không có cái ngã thể chơn thật. Thế mà chúng sanh điên đảo vọng chấp không rời. Từ vọng chấp sanh ra ý niệm ghét thương. Từ ghét thương chồng thêm vọng chấp khác. Vọng lại sanh vọng cứ thế mà nhân lên đến đỉnh cao cứu cánh, vọng thành tham, sân, si, mạn, các nghiệp hữu lậu. Từ đó vọng thấy có luân hồi sanh tử. Người khởi tâm nhàm chán sanh tử lại vọng thấy Niết bàn. Do vậy, chúng sanh không vào được cảnh giới Viên Giác thanh tịnh. Không vào được, không phải cảnh giới Viên Giác ngăn cản không cho mà tại chúng sanh đánh mất tiêu chuẩn, cho nên không đủ điều kiện để vào. Vào hay không do người, Viên Giác thanh tịnh không có tướng vào ra. Nên biết, chúng sanh khởi niệm hay ngưng niệm đều thuộc phạm trù mê muội! Bởi vì tất cả chúng sanh không có tuệ nhãn để cho vô minh sanh khởi từ vô thỉ làm chủ tề đời mình, cho nên thân tâm trở thành công cụ biểu hiện của vô minh, khó mà trừ diệt, ví như con người, không ai nở tự giết chế mệnh sống của mình. Vì vậy, nên biết! Có yêu bản ngã thì người ta nuông chìu theo bản ngã. Nếu ai không thuận chìu bèn sanh lòng oán ghét. Lòng yêu ghét lại nuôi lớn vô minh thêm, cho nên tu hành cầu đạo thì nhiều mà ít người thành Phật.

(hết trích)
Tư duy:

ĐT ĐL dạy:

Hỏi: Ngã kiến và mạng căn có khác nhau chăng ?


....... Ngã kiến cũng như các tà kiến khác đều có tướng riêng khác. Vì sao nói :" Hết thảy các kiến chấp đều nhiếp ở trong ngã kiến cả ? ".

....... Đáp: Tuy rằng biệt tướng có sai khác, nhưng tất cả các kiến chấp đều y nơi ngã kiến làm gốc. Lại nữa, do vô minh duyên khởi mà có chấp ngã.

....... Bồ tát biết rõ ngã kiến cùng các kiến chấp khác đều là hư vọng, chẳng có thật. Phàm phu, do chấp 5 ấm thân, mà dẫn sanh ngã kiến; từ đó khởi sanh các chấp khác, như : Chấp thường, chấp đoạn, chấp 5 dục lạc thế gian, chấp chẳng có nhân quả v.v... Tất cả các chấp như vậy đều là điên đảo, là tội lỗi.

(hết trích)

Kính các Bạn.
Chấp NGÃ là đầu mối của Vô minh. Chúng sanh y cứ nơi Chấp ngã mà các Chấp khác trùng trùng duyên khởi. Trên đường tu.- Hành giả còn "Chấp Ngã" là biểu hiện: Ngăn chướng Đạo Đạo.
Kính thưa Thầy, con nghĩ Vô Minh là đầu mối của chấp ngã. Do không rõ biết vật, không rõ mình mà chấp rằng vật thế này, ta là như thế này,... Chấp ngã là biểu hiện của Vô Minh. Kính thưa Thầy, Vô Minh lại chẳng có đầu mối, như người mắt nhậm, thấy có hoa đốm trong hư không, nay bệnh mắt hết thì cái hoa đốm đó cũng chẳng thấy đâu. Chấp ngã là biểu hiện hữu vi của Vô Minh. Hết chấp ngã thì không có nghĩa là hết Vô Minh, trụ vị chứng đắc thì đó cũng là biểu hiện vô vi của Vô Minh.
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,466
Điểm tương tác
413
Điểm
83
Xin trở lại với các câu hỏi của Bạn VNBN.

1/. Nếu các quả vị A LA HÁN chưa viên mãn thì các vị ấy hiện nay ở đâu?

Kính thưa Bạn: Tất cả đều "từ NHƯ mà đến, đến rồi trở về NHƯ", Lại cũng nói "Không từ đâu đến cũng không về đâu cả".Yếu nghĩa này Bạn tìm xem lại Chân Như Tánh.- Hoặc bài viết "Nguồn Tâm" theo link này: https://diendanphatphaponline.com/diendan/threads/minh-tam-kien-tanh-phan-2-phu-luc-bat-nhi-phap-mon.34033/

2/ các vị A LA HÁN làm sao biết để xuất Niết Bàn (hữu dư) hành Bồ Tát Đạo?

Kính thưa Bạn: Do ĐỊNH mà sanh HUỆ. Nên các Vị AlaHan do được Nhât Thiết Trí, nên dần dần biết được Phật quả

3/. Làm sao để được quả vị viên mãn rốt ráo từ việc Thiền-Định?

Kính thưa Bạn VNBN và Các Bạn. Thật ra Quả Vị Phật không do tu tập bất cứ Pháp môn nào mà được thành tựu. Vì sao ? Vì PHẬT là Chân Như Sẳn có bất tăng, bất giảm nghĩa không phải do tu mà có ra. không phải do tạo tội mà mất đi. Nói cách khác: Phật Tánh ví như tấm gương tự sáng, nhưng bởi bị bụi trần che lấp mà ố mờ. Sở dĩ Đức Phật dạy các Pháp Chỉ- Quán - thiền là các Pháp làm phát sinh trí huệ. Thiền giả dùng trí huệ đó mà lao sạch bụi mờ vô minh phiền não chấp mắc để trở về tấm gương Viên giác thanh tịnh vốn có.- Đó là "được quả vị viên mãn rốt ráo từ việc Thiền-Định"


Vấn đề đó được Đức Phật dạy rõ ở Chương 9 sau đây. Kính mời các Bạn xem và thảo luận.

Mến
Kính Thưa Thầy, con lại nghĩ rằng:

1. "Từ Chân Như mà đến rồi trở về chân Như, không từ đâu đến không đi về đâu" đó chính là Lý Tánh của mọi cá nhân. Còn chỗ A LA HÁN là nói về sự tánh cụ thể. Các vị A LA HÁN, hành trình tiếp theo là gì thì không nhất định có một đường hướng. Có vị đã nhập Niết Bàn hiện nay cũng chưa xuất Niết Bàn, có vị nhập Niết Bàn nhưng nay xuất vô y vào các hữu hành Bồ Tát Đạo hoặc thân cận chư Phật mười phương làm Phật sự.

2. A LA HÁN khi nhập Niết Bàn, đó cũng do trí tuệ diệt thọ tưởng định. Nên nếu nói vẫn còn trong giai đoạn định sinh huệ thì chưa phải lý, Nhất Thiết Trí là trí huệ chứ không phải định!
Các vị A LA HÁN đang Niết Bàn vì cầu Phật Trí nên mới xuất Niết Bàn hành Bồ Tát Đạo, ngoài lý do đó không có lí do nào khác. Vậy ai chỉ điểm cho vị ấy mà biết cầu Phật Trí hay Nhất thiết chủng trí?


A LA HÁN nhập Niết Bàn cách lý thế gian sanh diệt nhưng không cách ly đối với Như Lai vì rõ biết sự giải thoát hiện tại là do ân nhân Như Lai giáo hóa mà được, vẫn duyên với Như Lai, lại được Như Lai âm thầm giáo hóa, nhơn duyên do đó mà từ từ biết chỗ của mình cũng chưa rốt ráo mà cầu Phật Trí.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
..... Hết chấp ngã thì không có nghĩa là hết Vô Minh, (???) trụ vị chứng đắc thì đó cũng là biểu hiện vô vi của Vô Minh.
Bạn VNBN cảm nhận cũng sâu sắc đấy. Rất hay.

VQ cũng thấy như Bạn nói:

NGÃ có Thô và Tế. Hết "Chấp Ngã" chỉ là hết Ngã tướng Thô.- Trụ nơi CHỨNG- NGỘ- LIỄU- GIÁC là Ngã tướng Tế.

CHỨNG- NGỘ- LIỄU- GIÁC là Ngã tướng "trá hình". Là yêu quái giả Phật. Như câu chuyện Tây Du đoạn Tiểu lôi Âm sau:

Hồi 65 Loài yêu riêng giả Lôi Âm nhỏ Các sải đồng vương ách nạn to


Bốn thầy trò kiếm đường ra khỏi cụm rừng thì đất bằng dễ lắm. Ði hèn lâu gặp một hòn núi, cao thấu chơn mây.

Tam Tạng càng kinh hãi, Tôn Hành Giả cắp thiết bãng đi trước, ba thầy trò theo sau. Ðến khi đi khỏi đầu non, gần tới chơn núi.

Tam Tạng ngó thấy xa xa có lâu đài đền các.

Hào quang chiếu sáng thấu trời.

Nghe tiếng chuông ngân văng vẳng!

Tam Tạng nói :

- Ðồ đệ, kiểng chùa đó phải chăng?

Tôn Hành Giả thưa rằng:

Thiệt là kiểng chùa, song không rõ cớ nào, trên hào quang có hơi yêu khí, chắc không phải kiểng chùa Lôi âm, chúng ta đi ngang qua, chẳng nên ghé; e lầm kế yêu tinh .

Tam Tạng nó:

- Có khi núi nầy là núi Linh Sơn, chùa ấy là Lôi âm tự, ngươi đừng hồ nghi mà đi qua, uổng công .

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Không phải đâu! Tôi đến chùa Lôi âm biết mấy thứ đường đi đả thuộc cháo chan. Có đâu gần như vậy!

Sa Tăng nó:

- Sư huynh chẳng cải làm chi, đễ đi ngang qua cửa chùa thì biết .

Tôn Hành Giả nói phải.

Tam Tạng giục ngựa thẳng xông.

Ði tới cửa ngõ chùa, thấy chữ Lôi âm tự.

Tam Tạng hoảng kinh nhảy xuống ngựa, mắng Bát Giới rằng:

- Con khỉ khốn nạn gạt ta quá! Coi thử phải Lôi âm tự hay không?

Tôn Hành Giả cười rằng:

- Xin thầy đừng nóng giận, hãy coi lại cho rõ ràng; đừng có mắng tôi oan lắm! Tấm biển bốn chữ sao thầy đọc có ba mà thôi?

Tam Tạng coi lại thiệt tấm bảng bốn chữ: Tiểu lôi âm tự.

Xem rồi nói rằng:

- Dầu Tiểu lôi âm tự mặc lòng cũng có vị phật ở đó. Bởi trong kinh có nói rằng: Tam thiên chi Phật nghĩa là ba ngàn vị phật, lẽ nào ở một chỗ hay sao. Như Quan Âm ở Nam Hải, Phồ Hiền ở núi Nga mi, Văn Thù ở núi Võ Ðài, chắc chùa Tiểu lôi âm cũng có Phật. Lời xưa nói: Hễ có phật thì có kinh. Chúng ta hãy vào coi thử .

Tôn Hành Giả thưa rằng:

- Chùa nầy có yêu khí. Nếu thầy cãi mà vào đó, có mắc nạn xin chớ trách tôi .

Tam Tạng nói:

- Ta đã nguyện gặp Phật thì lạy Phật lẽ nào lại trách ngươi?

Nói rồi hối Bát Giới lấy mão tì lư, áo cà sa, thay đổi xong rồi bước vào của núi.

Xảy nghe tiếng kêu rằng:

- Ðường Tăng, ngươi từ đông độ quyết đến đây lạy Phật thỉnh kinh. Sao bây giờ đến đây lại trễ nãi?

Tam Tạng nghe nói liền lạy, Sa Tăng, Bát Giới đều quì.

Còn Bát Giới ở sau sửa soạn gói đồ và dắt ngựa; rồi cũng đi theo.

Khi thầy trò vào cửa ngõ thứ nhì, ngó vào đại hùng bửu điện, thấy Phật Tổ ngồi trên tòa sen, còn dưới thì năm trăm La Hàn, ba ngàn Yết đế, bốn vị Kim Cang, tám bị Bồ Tát, và chư tăng không biết bao nhiêu.

Sa Tăng nói:

- Thiệt là hào quang muôn đạo hoa kiểng đủ màu; khác cảnh tiên xa lắm .

Tam Tạng và Bát Giái, Sa Tăng nhứt bộ nhứt bái, Tôn Hành Giả chẳng chịu lạy cứ đi theo sau lưng thầy.

Xảy thấy vị Phật Tổ ngồi trên tòa sen nói lớn rằng:

- Còn Tôn ngộ Không sau thấy Như Lai mà chẳng làm lễ .

Tôn Hành Giả coi rõ, biết là yêu giả Phật, liền bỏ gói đồ và buông dây cương ngựa, rút thiết bãng nạt rằng:

- Khen cho loài yêu dám cả gan giả Phật, làm cho nhẹ thể Như Lai!

Nói rồi lướt tới chưa kịp đánh xảy nghe một tiếng rỗn rãng, ấy là cái chiêng bằng vàng sa xuống, chụp Tôn Hành Giả vào trong chiêng.

Sa Tăng, Bát Giới kinh hãi, lấy bửu trượng và đinh ba lướt tới, bị mấy người Phật giả bắt hết hai người và trói Tam Tạng.

Chúng nó đều hiện nguyên hình.

Tam Tạng biết chúa yêu giả Thích Ca, các tiểu quỷ giả làm chư Phật; ăn năn thì đã muộn rồi!
(hết trích)

Các Bạn mến.


Thấy mình CHỨNG-Thấy mình NGỘ- Thấy mình LIỄU-Thấy mình GIÁC là Ngã tướng "trá hình" đó, là Tiểu Lôi Âm đó. Nói nhỏ thêm với Bạn: Thấy mình được Phật rước về Tây Phương, thấy mình chứng nhập niết Bàn v.v... cũng đều là Ngã tướng vi tế đó....

Tất cả chúng đó đều là Pháp chướng Đạo.
 
Last edited:

thantanmadai

Member
Tham gia
24 Thg 7 2019
Bài viết
117
Điểm tương tác
7
Điểm
18
Thấy mình CHỨNG-Thấy mình NGỘ- Thấy mình LIỄU-Thấy mình GIÁC là Ngã tướng "trá hình" đó, là Tiểu Lôi Âm đó. Nói nhỏ thêm với Bạn: Thấy mình được Phật rước về Tây Phương, thấy mình chứng nhập niết Bàn v.v... cũng đều là Ngã tướng vi tế đó....

Tất cả chúng đó đều là Pháp chướng Đạo.

Có có có lý, nhưng có lý hơn là cái ông Tam Tạng Huyền Trang tu cho đến lúc đầu không còn một sợi lông nào nữa mà con ngu si, nhìn gà hóa quốc, nhìn Ma nói Phật. đây là cái tội không biết mà nói biết, việc trước mắt mà còn chẳng hay, lại còn nhìn ra bên ngoài mà nói có thế giới khoái Lạc như thằng VO- NHAT-BAT-NHI nhưng mà không nhận mình là ngu.
Còn lão Tam Tạng lại còn sanh tâm ngã mạn mắng chửi Lão Tôn....hề hề
Rốt cục thì trên đường lấy được chân kinh thì ba anh đồ đệ phải khiêng vác cái các xác phàm ngu si, vượt qua sóng gió gian lao, để tự mình nhận ra cái lẽ sống chân thật là phải chiến đấu ngay nơi cuộc sống này giữa thiện và ác , giữa giả dối và chân thật, giữa ngu dốt và thông minh, giữa ngu si và trí tuệ, giữa hoang đường và sự thật.....thành Phật là tại đây tại cõi Ta Bà này, mà thành Phật là không gì khác hơn là nhìn đúng bản chất sự vật làm chủ ý thức biết phân biệt rõ tất cả ...chứ không phải cứ tin mù như mộng ảo chưa từng thấy biết mà đã tin...
 

thantanmadai

Member
Tham gia
24 Thg 7 2019
Bài viết
117
Điểm tương tác
7
Điểm
18
Kính Thưa Thầy, con lại nghĩ rằng:

1. "Từ Chân Như mà đến rồi trở về chân Như, không từ đâu đến không đi về đâu" đó chính là Lý Tánh của mọi cá nhân. Còn chỗ A LA HÁN là nói về sự tánh cụ thể. Các vị A LA HÁN, hành trình tiếp theo là gì thì không nhất định có một đường hướng. Có vị đã nhập Niết Bàn hiện nay cũng chưa xuất Niết Bàn, có vị nhập Niết Bàn nhưng nay xuất vô y vào các hữu hành Bồ Tát Đạo hoặc thân cận chư Phật mười phương làm Phật sự.

2. A LA HÁN khi nhập Niết Bàn, đó cũng do trí tuệ diệt thọ tưởng định. Nên nếu nói vẫn còn trong giai đoạn định sinh huệ thì chưa phải lý, Nhất Thiết Trí là trí huệ chứ không phải định!
Các vị A LA HÁN đang Niết Bàn vì cầu Phật Trí nên mới xuất Niết Bàn hành Bồ Tát Đạo, ngoài lý do đó không có lí do nào khác. Vậy ai chỉ điểm cho vị ấy mà biết cầu Phật Trí hay Nhất thiết chủng trí?


A LA HÁN nhập Niết Bàn cách lý thế gian sanh diệt nhưng không cách ly đối với Như Lai vì rõ biết sự giải thoát hiện tại là do ân nhân Như Lai giáo hóa mà được, vẫn duyên với Như Lai, lại được Như Lai âm thầm giáo hóa, nhơn duyên do đó mà từ từ biết chỗ của mình cũng chưa rốt ráo mà cầu Phật Trí.
Ông 6 sao để cái thằng nói nhảm này nhảy vô đây nói bậy vậy?
Chẳng lẽ Kinh Viên Giác nói những điều như thằng điên này nói hả ông 6? hay ông muốn nó diễn giải kinh Viên Giác kiểu này thay ông?
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,466
Điểm tương tác
413
Điểm
83
Các Bạn mến.

Thấy mình CHỨNG-Thấy mình NGỘ- Thấy mình LIỄU-Thấy mình GIÁC là Ngã tướng "trá hình" đó, là Tiểu Lôi Âm đó. Nói nhỏ thêm với Bạn: Thấy mình được Phật rước về Tây Phương, thấy mình chứng nhập niết Bàn v.v... cũng đều là Ngã tướng vi tế đó....

Tất cả chúng đó đều là Pháp chướng Đạo.
Kính Thưa Thầy,
Dạ đúng như vậy. Môn Thiền mà thấy như vậy thì trượt, nhưng với Tịnh Độ thấy Phật A Di Đà đến rước là thành công đó Thầy. Dạ, đương nhiên đó chỉ là hóa Phật thôi, chứ Phật không hình không tướng. Về đó rồi, nếu còn nhân chấp ngã thì sẽ được phá chấp ngã, đoạn lìa lậu hoặc, giải thoát tam giới. Nếu còn ngã vi tế thì cũng dần dần trừ sạch. Thế Giới Cực Lạc phương tiện bậc nhất đó Thầy. Ngay cả bậc đã vô sanh pháp nhẫn cũng đưa đến Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát mà không cần phải đi đâu cả, còn nếu muốn rời khỏi là do tâm nguyện rộng độ của hành giả.

Biết huyễn mà vẫn muốn đến đó, để 1 lần độ mình cho chắc chắn; sau đó, năng lực rồi thì có thể độ người.

Con biết Thầy tu Thiền, cám ơn Thầy đã tùy hỷ trao đổi.
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,466
Điểm tương tác
413
Điểm
83
Rốt cục thì trên đường lấy được chân kinh thì ba anh đồ đệ phải khiêng vác cái các xác phàm ngu si, vượt qua sóng gió gian lao, để tự mình nhận ra cái lẽ sống chân thật là phải chiến đấu ngay nơi cuộc sống này giữa thiện và ác , giữa giả dối và chân thật, giữa ngu dốt và thông minh, giữa ngu si và trí tuệ, giữa hoang đường và sự thật.....thành Phật là tại đây tại cõi Ta Bà này, mà thành Phật là không gì khác hơn là nhìn đúng bản chất sự vật làm chủ ý thức biết phân biệt rõ tất cả ...chứ không phải cứ tin mù như mộng ảo chưa từng thấy biết mà đã tin...
ka ka ka ka tính quậy sao?
Sao ông bạn quả quyết thành Phật là phải thành trong ta bà. Thế giới nào cũng có thể thành Phật được cả. Như ông bạn nói đó "nhìn đúng bản chất sự vật làm chủ ý thức biết phân biệt rõ tất cả ...". Thì vậy, chứ đâu phải do ta bà hay ở đây ở kia. Ta thích thì ta cứ đến Tây Phương, ta cảm thấy trong ta bà này rối ren quá, tâm trí là bù lu bù loa, .... ôi, đủ thứ, tức là ta không đủ tâm trí để đời này nhìn ra cái bản chất sự vật mà nhà người nói. Thế là ta nguyện thế giới Cực Lạc, thanh tịnh yên ổn để cho tu miên mật không phải bận tâm cái cuộc sống bận rộn này! Đơn giản thế thôi anh bạn à.

Vậy việc xuất hiện Cực lạc Thế Giới không hề chống trái với giáo lý Nhà Phật nói chung. Chỉ có một điều duy nhất là: có tin được Cực Lạc có hiện hữu không hay thôi.

Bạn không đủ căn cứ để bảo rằng không có. Còn tôi nói là có là do trong rất nhiều Kinh nói đến, các Tổ minh chứng, .... hơn nữa còn do nhân duyên tiền kiếp và sở học của tôi nữa. Nhân duyên tiền kiếp của tôi thì bạn chẳng biết được. Bạn cũng chẳng biết chỗ của Phật Thích Ca bằng chứng là một người phàm như tôi đang nghĩ gì bạn cũng chẳng biết rõ được. Chừng nào trong Kinh không có, các Tổ không tu tập theo thì bạn mới có quyền nói tôi tin mù vô cớ, mơ tưởng!

kakakakakaka

Thôi qua chỗ khác, chỗ này để cho Thầy VQ tuyên truyền Kinh điển.
 

thantanmadai

Member
Tham gia
24 Thg 7 2019
Bài viết
117
Điểm tương tác
7
Điểm
18
ka ka ka ka tính quậy sao?
Sao ông bạn quả quyết thành Phật là phải thành trong ta bà. Thế giới nào cũng có thể thành Phật được cả. Như ông bạn nói đó "nhìn đúng bản chất sự vật làm chủ ý thức biết phân biệt rõ tất cả ...". Thì vậy, chứ đâu phải do ta bà hay ở đây ở kia. Ta thích thì ta cứ đến Tây Phương, ta cảm thấy trong ta bà này rối ren quá, tâm trí là bù lu bù loa, .... ôi, đủ thứ, tức là ta không đủ tâm trí để đời này nhìn ra cái bản chất sự vật mà nhà người nói. Thế là ta nguyện thế giới Cực Lạc, thanh tịnh yên ổn để cho tu miên mật không phải bận tâm cái cuộc sống bận rộn này! Đơn giản thế thôi anh bạn à.

Vậy việc xuất hiện Cực lạc Thế Giới không hề chống trái với giáo lý Nhà Phật nói chung. Chỉ có một điều duy nhất là: có tin được Cực Lạc có hiện hữu không hay thôi.

Bạn không đủ căn cứ để bảo rằng không có. Còn tôi nói là có là do trong rất nhiều Kinh nói đến, các Tổ minh chứng, .... hơn nữa còn do nhân duyên tiền kiếp và sở học của tôi nữa. Nhân duyên tiền kiếp của tôi thì bạn chẳng biết được. Bạn cũng chẳng biết chỗ của Phật Thích Ca bằng chứng là một người phàm như tôi đang nghĩ gì bạn cũng chẳng biết rõ được. Chừng nào trong Kinh không có, các Tổ không tu tập theo thì bạn mới có quyền nói tôi tin mù vô cớ, mơ tưởng!

kakakakakaka


Thôi qua chỗ khác, chỗ này để cho Thầy VQ tuyên truyền Kinh điển.
Tiên sư mi chỗ này là nói về kinh Viên Giác , mà mi nói si thì ta đào mả tổ mi lên chứ chẳng chơi. Kinh Viên giác mà như mi nói sao? nếu ông Sáu còn dung túng mi nói càn về kinh Viên Giác ta cũng chẳng để yên chứ đừng nói là mi. Ông Sáu đâu vào coi nó nói vậy đúng hay sai về yếu chỉ kinh Viên Giác ?
 

thantanmadai

Member
Tham gia
24 Thg 7 2019
Bài viết
117
Điểm tương tác
7
Điểm
18
Kính Thưa Thầy,
Dạ đúng như vậy. Môn Thiền mà thấy như vậy thì trượt, nhưng với Tịnh Độ thấy Phật A Di Đà đến rước là thành công đó Thầy. Dạ, đương nhiên đó chỉ là hóa Phật thôi, chứ Phật không hình không tướng. Về đó rồi, nếu còn nhân chấp ngã thì sẽ được phá chấp ngã, đoạn lìa lậu hoặc, giải thoát tam giới. Nếu còn ngã vi tế thì cũng dần dần trừ sạch. Thế Giới Cực Lạc phương tiện bậc nhất đó Thầy. Ngay cả bậc đã vô sanh pháp nhẫn cũng đưa đến Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát mà không cần phải đi đâu cả, còn nếu muốn rời khỏi là do tâm nguyện rộng độ của hành giả.

Biết huyễn mà vẫn muốn đến đó, để 1 lần độ mình cho chắc chắn; sau đó, năng lực rồi thì có thể độ người.

Con biết Thầy tu Thiền, cám ơn Thầy đã tùy hỷ trao đổi.
Tiên sư mi chỉ được cái mở mồm là bợ đít, ông Sáu đã nói rõ ràng rồi còn lải nhải cái gì, toàn là nhai lại như bò nhai rơm , mi về ợ cho bố mẹ mẹ mi hưởng, đừng ợ ra đây mà hôi thối nhà ông Sáu.
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,466
Điểm tương tác
413
Điểm
83
Tiên sư mi chỉ được cái mở mồm là bợ đít, ông Sáu đã nói rõ ràng rồi còn lải nhải cái gì, toàn là nhai lại như bò nhai rơm , mi về ợ cho bố mẹ mẹ mi hưởng, đừng ợ ra đây mà hôi thối nhà ông Sáu.
Ây da, ngươi chẳng thấy ta đã thừa nhận chỗ Thầy VQ đã nói hay sao. Áp dụng điều đó qua Tịnh Độ thì là cũng là tu Thiền chứ không phải tu Tịnh Độ vãng sanh. Kinh Viên Giác rõ ràng dạy tu Thiền, chứ không phải dạy tu Tịnh Độ vãng sanh. Cho nên gán ghép qua bên việc vãng sanh là không khế hợp rồi.

Một người tu Thiền mà lại thấy Phật rước mình, rồi chứng đắc này kia .. thì đó là ma hạnh, ma chướng.

Nhưng một người tu Tịnh Độ lâm chung thấy Phật rước hoặc được Phật báo trước ngày giờ vãng sanh là khế hợp theo yếu chỉ của Tịnh Độ Tông. Phật rước là hóa Phật thôi.

Còn ngươi cho rằng tu Tịnh Độ vãng sanh là tà pháp, là ảo tưởng thì ta sẽ nói mãi thế thôi.

Chừng nào các bạn tu Thiền mà sống được như lời các bạn nói đó, như tấm gương phản chiếu gì đó. Còn nếu như VNBN nghĩ gì mà cũng không biết thì làm sao mà phản chiếu được tên VNBN về chỗ của nó chứ!
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
Kính các Bạn. Ví như muốn có được 1 ngôi nhà đẹp thì phải có đủ loại vật liệu như cột kèo v.v... mới cấu thành ngôi nhà hoàn chỉnh. còn nếu chỉ có một đống đá... thì....

Một diễn đàn Phật pháp thì cũng có nhiều trường phái, nhiều pháp môn mới thể hiện được sức sống của Phật Giáo.... Nếu chỉ Thiên kiến một pháp môn thì...đơn bạc lắm.

VQ luôn tôn trọng và trân quỳ những ý kiến chia sẻ của các Bạn dù đứng trên lập trường nào. Tông phái nào...

Rất mong các Bạn sống trong tinh thần KIẾN HÒA ĐỒNG GIẢI. KHẨU HÒA VÔ TRANH.

Mong thay.
 

thantanmadai

Member
Tham gia
24 Thg 7 2019
Bài viết
117
Điểm tương tác
7
Điểm
18
Kính các Bạn. Ví như muốn có được 1 ngôi nhà đẹp thì phải có đủ loại vật liệu như cột kèo v.v... mới cấu thành ngôi nhà hoàn chỉnh. còn nếu chỉ có một đống đá... thì....

Một diễn đàn Phật pháp thì cũng có nhiều trường phái, nhiều pháp môn mới thể hiện được sức sống của Phật Giáo.... Nếu chỉ Thiên kiến một pháp môn thì...đơn bạc lắm.

VQ luôn tôn trọng và trân quỳ những ý kiến chia sẻ của các Bạn dù đứng trên lập trường nào. Tông phái nào...

Rất mong các Bạn sống trong tinh thần KIẾN HÒA ĐỒNG GIẢI. KHẨU HÒA VÔ TRANH.


Mong thay.
Kính Ngài VQ5+1!
Tui cũng xem qua Kinh Viên Giác , thấy trong kinh có nói trước khi phật thuyết Viên Giác, Ngài phải ở trong đại định mới nói , và Thánh chúng Bồ Tát cũng phải tâm thật định mới lĩnh hội được ý chỉ lời Phật dạy.
Chẳng hay khi bàn luận về Kinh Viên Giác những người tham gia đã có cái định ấy chưa?
Nếu nói đến cái anh chàng Bất Nhất Bất Nhị thì tâm còn mong cầu thế giới Cực Lạc , thân còn mang nặng tham lam dục ái , ngu si mà sao lao vào đây biện luận về Viên Giác là sao?
Hắn đi theo con đường còn lầm chấp vô minh mà cũng nói viên giác được , thì e rằng lời Phật nói là không thật rồi phải không ngài VQ5+1?
Tôi chỉ hi vọng người tham dự vào luận bàn Viên Giác phải thực sự là những người đạt được những yêu cầu mà Phật đã tuyên nói.
Hoặc chí ít tham gia phải nói về Viên Giác , nếu không nói về Viên Giác thì Ngài phải loại bỏ ngay lập tức , kẻo chính Ngài cũng đồng lõa với vô minh mà phỉ báng Phật.
Tôi chỉ là đưa ra một ý nhỏ mong Ngài lưu tâm, chớ để nơi ngôi nhà của Ngài rượu chè be bét vung vãi khắp nơi thì khó xem lắm....
 
Bên trên