Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn. Phẩm 25 - Kiều Trần Như

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,369
Reaction score
1,699
Điểm
113
Phẩm Kiều Trần Như.- 25

* Vô Thường thị Thường (Vô Thường mà là Thường).

Kinh văn: Lúc bấy giờ đức Thế Tôn bảo Kiều Trần Như : “ Sắc là vô thường, do dứt sắc nầy được sắc thân thường trụ giải thoát. Thọ, tưởng, hành và thức cũng đều vô thường, do dứt thức ấm nầy mà được thức uẩn giải thoát thường trụ.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là khổ, dứt sắc ấm nầy mà được sắc thân an lạc giải thoát. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là không, do dứt sắc không nầy mà được sắc uẩn giải thoát phi không. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là vô ngã, do dứt sắc ấm nầy mà được sắc uẩn giải thoát chơn ngã. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc ấm là bất tịnh, do dứt sắc ấm nầy mà được sắc uẩn giải thoáthanh tịnh. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là tướng của sanh, lão , bịnh, tử, do dứt sắc ấm nầy mà được sắc uẩn giải thoát chẳng phải tướng sanh, lão, bịnh, tử. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là nhơn của vô minh do dứt sắc ấm nầy mà được sắc uẩn giải thoát chẳng phải nhơn của vô minh. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Nhẫn đến sắc ấm là nhơn của sanh, do dứt sắc ấm nầy mà được sắc uẩn giải thoát chẳng phải nhơn của sanh. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc ấm là nhơn của bốn tưởng điên đảo, do dứt sắc ấm điên đảo nầy mà được sắc uẩn giải thoát chẳng phải nhơn của bốn tưởng điên đảo. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc ấm là nhơn của vô lượng ác pháp : Nào là thân nam , thân nữ v.v…, nào là thực ái, dục ái, tham sân, tật đố, ác tâm, xan tâm, đoàn thực, xúc thực, tư thực, thức thực, noãn sanh, thai sanh, thấp sanh, hóa sanh, ngũ dục, ngũ cái v.v… : Tất cả ác pháp nầy đều nhơn nơi sắc cả. Do dứt sắc ấm nầy mà được sắc uẩn giải thoát không có vô lượng ác pháp như vậy. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là trói buộc, do dứt sắc nầy mà được sắc giải thoát không trói buộc. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là lưu chuyển, do dứt sắc nầy mà được sắc giải thoát không lưu chuyển. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc chẳng phải chỗ quy y, do dứt sắc nầy mà được sắc giải thoát quy y. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là ghẻ lở, do dứt sắc nầy mà được sắc giải thoát không tội lỗi. Thọ, tưởng, hành, thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc chẳng tịch tịnh, do dứt sắc nầy được sắc Niết Bàn tịch tịnh. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Người nào rõ biết được như trên đây thời gọi là Sa Môn là Bà La Môn có đủ những pháp Sa Môn, pháp Bà La Môn
.
Ở đoạn kinh này, có 3 điểm nhấn mạnh:

1/. 5 Ấm
2/. 5 Uẩn.
3/. Dứt 5 Ấm được Thường Trụ.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,369
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Vô Thường thị Thường (Vô Thường mà là Thường).(tt)

+ Chuyện tích Tôn Giả Kiều Trần Như.


Tôn giả KIỀU TRẦN NHƯ (Trích Thập Đại Đệ tử Phật)

(Kaundinya - Kondanna)

(Vị đệ tử xuất gia và chứng quả A la hán đầu tiên của đức Phật, là thành viên đầu tiên của giáo đoàn, có pháp lạp cao nhất)

Tên của tôn giả, gọi cho đầy đủ là A Nhã Kiều Trần Như (Ajnata Kaundinya - Anna Kondanna). Tôn giả vốn là một đạo sĩ Bà la môn trẻ tuổi và cực kì thông minh ở thành Ca Tì La Vệ vào lúc thái tử Tất Tạt Đa (Siddhartha - Siddhattha) đản sinh. Thuở ấy, vua Tịnh Phạn đã mời sa môn Kiều Trần Như và đông đảo các vị sa môn học rộng tài cao khác vào triều dự lễ đặt tên cho thái tử. Trong buổi lễ này, sau khi quan sát tướng mạo đặc biệt của thái tử, Kiều Trần Như quả quyết rằng, sau này thái tử sẽ hoàn toàn thoát tục và đắc quả đại chánh giác. Bởi vậy, về sau, khi nghe tin thái tử Tất Đạt Đa từ bỏ hoàng cung vào rừng xuất gia học đạo, ông đã dẫn theo bốn đạo sĩ thân thiết (con của các vị đạo sĩ khác) tên là Bạt Đề (Bhardrika - Bhaddiya), Bà Sư Ba (Vaspa -Vappa), Ma Ha Nam (Mahanama) và A Thuyết Thị (Asvajit - Assaji), cùng đi tìm thái tử để tu học. Khi đức Cồ Đàm (Gautama - Gotama - tức thái tử Tất Đạt Đa) tìm đến đạo tràng của đạo sư Uất Đầu Lam Phất (Udraka Ramaputra - Uddaka Ramaputta), ở vùng phụ cận phía Nam kinh thành Vương Xá, của vương quốc Ma Kiệt Đà để xin học đạo, Ngài đã gặp sa môn Kiều Trần Như nơi đây (1). Hai vị sa môn đần dần kính mến nhau về thông minh tài trí và đức hạnh thanh cao, mà trở thành tri kỉ của nhau. Không những sa môn Kiều Trần Như đã coi sa môn Cồ Đàm là một người bạn tri kỉ, mà còn hơn nữa, là một bậc thầy; vi sa môn Cồ Đàm đã tỏ ra là bậc có trí tuệ siêu việt, trong khắp đạo tràng không ai sánh kịp, cả đến thầy của họ là đạo sĩ Uất Đầu Lam Phất cũng bái phục.

Sa môn Cồ Đàm đã đạt được thành quả cao tột tại đạo tràng này, ngang với đạo sĩ Uất Đầu Lam Phất, nhưng Ngài vẫn không thấy thỏa mãn, vì vẫn chưa giải thoát được lưới sinh tử. Cho nên, Ngài đã khéo léo xin từ giã nơi đây để tự mình nổ lực tìm lấy con đường giải thoát giác ngộ cho chính mình.

Ngài tìm đến núi Tượng Đầu (Dugsiri), rừng Già Da (Gaya), ở bờ Tây sông Ni Liên (Nairanjana - Neranjara), thuộc thôn Ưu Lâu Tần Loa (Uruvilva - Uruvela), và chọn nơi đây làm chỗ tu tập. Một thời gian sau, sa môn Kiều Trần Như cũng từ giã đạo tràng của đạo sĩ Uất Đầu Lam Phất, dẫn theo bốn người bạn, cùng đi tìm đức Cồ Đàm. Họ đi lần đến rừng Già Da, và gặp lại Ngài. Vì vẫn kính mến và tin tưởng vào khả năng giác ngộ của Ngài, họ đã xin ở lại đây để được tu học dưới sự hướng dẫn của Ngài. Ngài cho biết là Ngài đang thực tập các phương pháp khổ hạnh để điều phục thân xác, cả năm người đều vui vẻ quyết tâm tu tập theo.

Sau một thời gian dài tu khổ hạnh một cách triệt để, cả 6 người đều kiệt sức , mà trí tuệ vẫn không phát triển thêm, trái lại còn mòn mỏi đi. Một hôm đức Cồ Đàm tuần tự kiểm điểm lại sự tu tập trong thời gian qua, và bỗng nhiên bừng tỉnh. Ngài thấy rõ, con đường khổ hạnh là con đường sai lầm. Hưởng thụ dục lạc là một cực đoan, mà hành hạ thể các cũng là một cực đoan; cả hai đều sai lầm, đều không giúp ích được gì cho sự phát triển trí tuệ. Ngài bèn quyết định từ bỏ phép tu khổ hạnh triệt để như bấy lâu nay, trở lại ăn uống bình thường để phục hồi sức khỏe, và bắt đầu theo đuổi con đường thiền tập - mà Ngài xét thấy, đó mới là con đường chính đáng nhất cho rằng đưa đến đạo quả giác ngộ.

Sa môn Kiều Trần Như thấy đức Cồ Đàm ăn uống bình thường trở lại, bỏ việc tu khổ hạnh và chỉ chuyên tu thiền định, thì nói với bốn người bạn của mình rằng:

- Sa môn Cồ Đàm đã nửa chừng bỏ dở công phu tu hành. Ông ta bây giờ chỉ lo bổ dưỡng xác thân và sống những ngày nhàn hạ. Ông ta không còn là kẻ đáng chúng ta trông cậy nữa. Chúng ta hãy bỏ ông ta và tìm đến nơi khác tu hành theo con đường riêng của chúng ta.

Thế rồi sa môn Kiều Trần Như dẫn bốn người bạn tu, rời bỏ khu rừng núi Già Da ra đi. Họ đi sang vường Nai (Lộc Uyển, Mrgadava - Migadava), gần thành Ba La Nại (Varanasi - Baranasi), nước Ca Thi (Kasi), để cùng tu học với nhau. Nửa năm sau, bỗng một hôm họ trông thấy đức Cồ Đàm tìm đến với họ. Khi thấy bóng dáng Ngài còn đang thấp thoáng ở ngoài xa, họ đã bảo nhau là sẽ không ra đón tiếp và cũng không cần phải đứng dậy khi Ngài vào tới nơi. Họ nói:

- Sa môn Cồ Đàm hồi đó đang tu khổ hạnh với chúng ta thì bỏ cuộc nửa chừng. Ông ta đã ăn uống và vào ra thôn xóm giao thiệp với người làng, làm cho chúng ta hết sức thất vọng. Vậy hôm nay ông ấy đến đây, chúng ta cũng không nên đón tiếp nồng hậu làm gì.

Nhưng kì lạ làm sao, sự tình đã không xảy ra đúng như họ dự tính! Khi đức Cồ Đàm vừa bước vào tới chỗ của họ thì không ai bảo ai, tất cả năm người đều mừng vui đứng dậy. Chính sa môn Kiều Trần Như tiến tới trước, đỡ lấy chiếc bình bát trên tay Ngài; các vị khác, người thì lấy nước rửa chân cho Ngài, người thì lấy ghế mời Ngài ngồi, người thì lấy quạt để quạt hầu, người thì cuống quít không biết phải làm gì.

Sau khi rửa mặt, tay, chân, và ngồi xuống ghế, đức Cồ Đàm nhìn khắp lượt năm người bạn đồng tu một cách thân thiết, rồi nói:

- Này quí vị! Tôi đã tìm ra đạo giải thoát, và tôi sẽ chỉ dạy lại cho quí vị.

Nghe thế, năm người đều nửa tin nửa ngờ. Sa môn Kiều Trần Như lên tiếng:

- Sa môn Cồ Đàm! Trước kia, trong khi đang cùng tu với chúng tôi, hiền hữu đã bỏ cuộc nửa đường. Hiền hữu đã ăn cơm, uống sữa, vào ra thôn xóm giao tiếp với người làng, thì làm sao hiền hữu có thể tìm được đạo giải thoát, và làm sao hiền hữu có thể chỉ dạy cho chúng tôi đạo giải thoát?

- Sa môn Kiều Trần Như! Hiền hữu đã quen biết tôi từ gần sáu năm nay; trong thời gian ấy tôi đã từng nói dối hiền hữu một lần nào chưa?

- Sa môn Cồ Đàm nói đúng! Trong thời gian qua, tôi chưa một lần nào nghe hiền hữu nói điều không phù hợp với sự thật.

- Vậy, sa môn Kiều Trần Như, quí vị hãy nghe đây! Tôi đã tìm ra được Đạo Lớn rồi, và tôi sẽ chỉ dạy cho quí vị. Quí vị là những sa môn đầu tiên trên thế gian được nghe giáo pháp mầu nhiệm mà tôi đã thực chứng. Quí vị hãy đem hết trí năng thanh tịnh mà nghiêm túc lắng nghe.

Lời nói của Ngài thật có uy lực lớn, khiến cho cả năm người đều trở nên thành khẩn. Họ sửa thế ngồi nghiêm chỉnh, và hướng về Ngài chờ đợi. Sa môn Kiều Trần Như kính cẩn bạch:

- Xin sa môn Cồ Đàm đem lòng xót thương mà chỉ dạy cho chúng tôi.

Đức Thế Tôn từ ái dạy:

- Này quí vị sa môn! Có hai thái cực mà người tu hành nên tránh: một bên là đắm vào sự hưởng lạc nhục thể, và một bên là hành hạ thân xác quá đáng cho đến tiều tụy. Cả hai con đường cực đoan đó đều phá hủy thân tâm. Tôi tránh cả hai thái cực kia, và đã tìm ra con đường trung đạo, có thể đem đến trí tuệ, an lạc, giải thoát; đó là “con đường của tám sự hành trì chân chính” (Bát chánh đạo): thấy biết chân chính, suy nghĩ chân chính, nói năng chân chính, chuyên cần chân chính, niệm tưởng chân chính và thiền định chân chính. Này quí vị, tôi đã tìm ra và thực hiện con đường của tám sự hành trì chân chính đó, và đã đạt được trí tuệ, an lạc, giải thoát ...

Đức Thế Tôn tiếp tục giảng về CON ĐƯỜNG BÁT CHÁNH, rồi khai thị về BỐN SỰ THẬT mầu nhiệm. Sa môn Kiều Trần Như chăm chú nghe, và bỗng cảm thấy tâm mình bừng sáng. Ông thấy rõ ngay tức khắc con đường giải thoát thật sự mà lâu nay ông từng tìm kiếm. Nét mặt ông sáng rỡ chưa từng có, khiến cho đức Thế Tôn chỉ ngay vào ông, nói trong niềm hoan hỉ:

- Sa môn Kiều Trần Như! Hiền hữu đã thấy rõ! Hiền hữu đã thấy rõ!

Lập tức, sa môn Kiều Trần Như quì xuống thành khẩn bạch:

- Sa môn Cồ Đàm! Xin Thầy nhận cho Kiều Trần Như làm đệ tử của Thầy. Con tin tưởng rằng, dưới sự chỉ dạy của Thầy, con sẽ đạt thành sở nguyện.

Bốn vị sa môn kia thấy người anh cả của họ làm vậy, cũng lập tức quì xuống theo, và cùng xin được làm đệ tử của đức Thế Tôn.

Bấy giờ, cả năm vị sa môn nhóm Kiều Trần Như đều tôn đức Cồ Đàm làm Thầy, gọi Ngài là Phật, và gọi giáo pháp do Ngài chỉ dạy là Đạo Phật. Họ từ bỏ lối tu khổ hạnh cũ, cùng tinh cần tu tập theo sự hướng dẫn của Phật. Chỉ trong một thời gian ngắn sau đó, nhờ quyết tâm và tinh chuyên tu học, cả năm vị, đầu tiên là Kiều Trần Như, rồi tiếp đến là bốn vị kia, lần lượt đều chứng thánh quả A la hán, Đức Phật rất hoan hỉ, liền dạy:

- Này quí thầy! Từ hôm nay, chúng ta đã có một đoàn thể xứng đáng được gọi là Tăng già. Rồi đây quí thầy cũng sẽ phải cùng với tôi đem hạt giống giác ngộ đi gieo rắc khắp mọi nơi.

Vậy là, nơi vườn Lộc Uyển lúc bấy giờ, sa môn Kiều Trần Như cùng vơí bốn bạn hữu đã trở thành năm vị đệ tử tì kheo đầu tiên của đức Phật. Họ cũng là năm thành viên đầu tiên của giáo đoàn đức Phật. Riêng tôn giả Kiều Trần Như lại còn là vị đệ tử đã chứng thánh quả A la hán đầu tiên của Phật, và trở thành vị đệ tử lớn nhất của Ngài lúc bấy giờ. Từ đây, ngôi Tam Bảo đã được xuất hiện ở thế gian, với đức Thích Ca Cồ Đàm (Sakya Gotama) là Phật Bảo, giáo pháp do Ngài vừa giảng dạy là Pháp Bảo, và năm vị tì kheo nhóm Kiều Trần Như là Tăng Bảo.

Vườn Lộc Uyển lúc đó được coi là đạo tràng hành hóa đầu tiên của đức Phật, và Ngài đã mặc nhiên giao trách nhiệm trông coi đạo tràng cho tôn giả Kiều Trần Như.(Cơ sở vật chất của đạo tràng này vào lúc đó chưa có gì, Phật và chư tăng vẫn trú tại các gốc cây rừng hoặc dưới những túp lều mái lá như những năm tháng trước đó).

Sau năm vị trên, cũng chính tại đạo tràng này, đức Phật đã thu nhận chàng thanh niên Da Xá (Yasa) cùng 54 người bạn của chàng được xuất gia làm tì kheo. Tôn giả Kiều Trần Như lại được Phật giao nhiệm vụ chỉ dạy cho họ về nếp sống căn bản đầu tiên của đời sống xuất gia, và hướng dẫn họ tu học theo giáo pháp của Phật.

Cũng tại đạo tràng này, để tạo điều kiện thuận lợi trong việc tiếp độ người xuất gia, đức Phật đã cho phép, ở những nơi và vào những lúc không có sự hiện diện của Ngài, các vị tì kheo được đại diện cho Ngài để thọ lễ xuất gia của những người cư sĩ phát tâm sống đời phạm hạnh. Thừa tôn ý của Phật, tôn giả Kiều Trần Như đã trình lên Ngài một đề nghị đơn giản về nghi lễ xuất gia như sau:

- Bạch Thế Tôn! Theo con thì trước tiên cho đương sự cạo sạch râu tóc. Sau đó họ được mặc áo ca sa bày vai bên phải, rồi quì xuống chắp tay trước mặt vị tì kheo truyền giới đại diện cho Phật. Kế tiếp, đương sự đọc lời phát nguyện: “Con về nương tựa Phật; con về nương tựa Pháp; con về nương tựa Tăng”. Đương sự đọc ba lần như vậy xong là trở thành một vị tì kheo.

Phật dạy:

- Kiều Trần Như! Nghi thức thầy đề nghị hợp lí lắm. Vậy tôi xác định với quí thầy: một người quì dưới chân một vị tì kheo, đọc ba lần lời phát nguyện quay về nương tựa Tam Bảo, thì được trở thành một vì tì kheo.

Tôn giả Kiều Trần Như đã hoàn toàn được đức Phật tin tưởng về mọi mặt: trí tuệ, đức độ cũng như khả năng lãnh đạo và giáo hoá. Cho nên, sau đó, không lâu, đức Phật đã một mình rời vườn Lộc Uyển để đi Ma Kiệt Đà, giao trách nhiệm trông coi đạo tràng Lộc Uyển cho tôn giả gánh vác. Trên đường đi, Ngài đã thu nhận ba mươi thanh niên làm đệ tử xuất gia, và bảo họ tìm về ngay vườn Lộc Uyển gặp tôn giả để được xuống tóc và hướng dẫn tu học.

Gần bốn tháng sau, đức Phật tới thành Vương Xá thủ đô nước Ma Kiệt Đà. Cùng đi với Ngài có cả ngàn vị tì kheo - vốn là ba anh em đạo sĩ Bà la môn Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp (Uruvilva Kasyapa - Uruvela Kassapa), thờ thần lửa, cùng đồ chúng của họ - mà Ngài hóa đã hóa độ trên đường đi. Phật và chúng tăng tạm trú trong một khu rừng cách kinh thành Vương Xá không xa lắm về phương Nam. Tăng đoàn bây giờ đã phát triển đến một số lượng đáng kể, nhất là sau khi hai đạo sĩ Xá Lợi Phất và Mục Kiền Liên đã dẫn theo hai trăm năm mươi đệ tử đến xin Phật cho xuất gia; cho nên tôn giả Kiều Trần Như, từ vườn Lộc Uyển đã về đây phụ tá đức Phật trong việc điều hành tăng đoàn. Ngoài Kiều Trần Như, bây giờ đức Thế Tôn còn có thêm ba vị đệ tử lớn khác nữa là Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp, Xá Lợi Phất, và Mục Kiền Liên.

Tại Vương Xá, quốc vương của nước Ma Kiệt Đà là Tần Bà Sa La (Bimbisara), sau khi được nghe pháp, đã phát nguyện qui y làm đệ tử tại gia của Phật. Để đền đáp công ơn hóa độ này, đức vua đã dâng cúng Phật khu rừng tre ở ngoại ô kinh thành về hướng Bắc để xây cất tu viện, làm cơ sở tu học và hành đạo cho Phật và giáo đoàn. Chính tôn giả Kiều Trần Như và các vị đệ tử lớn khác của Phật đã bàn bạc, hoạch định việc xây cất tu viện, đồng thời giúp Phật tổ chức, hướng dẫn tu học và điều hành mọi việc trong tu viện. Tu viện được đặt tên là Trúc Lâm (Venuvana - Veluvana). Đó là cơ sở đạo tràng rộng lớn và có qui củ đầu tiên của giáo đoàn.

Từ đây, đạo Phật ngày càng phát triển rộng rãi khắp nơi, từ Ma Kiệt Đà đến các vương quốc Ca Thi, Kiều Tát La (Kosala), Bạt Kì (Vrji - Vajji), Thích Ca (Sakya) v.v... cho nên, đức Phật đã không ở yên một nơi nhất định nào, mà Ngài phải đi mọi nơi để hành hóa. Bởi vậy, Ngài đã cử tôn giả Kiều Trần Như chính thức làm tu viện trưởng và tôn giả Ưu Lâu Tần Loa Ca Diếp làm giám viện tu viện Trúc Lâm. Hai vị có hoàn toàn trách nhiệm lãnh đạo và hướng dẫn đại chúng tu học tại tu viện. Đức Phật cũng ban ý chỉ cho tất cả tăng chúng đang hành đạo trong vương quốc Ma Kiệt Đà hãy y chỉ vào hai vị tôn giả ấy.

Cuộc đời về sau này của tôn giả Kiều Trần Như, không thấy có tài liệu nào nói tới; chỉ biết là tôn giả đã nhập niết bàn trước Phật rất lâu.

Tôn giả đã được Phật công nhận là vị đệ tử lớn có pháp lạp cao nhất của Ngài.

(hết trích)


Ở đây chúng ta lưu ý:

+ Tôn Giả Kiền Trần Như đại biểu cho tư tưởng Tiểu Thừa lúc đạo Phật sơ khai,

+ Kinh Đại Bát Niết Bàn đại biểu cho tư tưởng Đại Thừa lúc đạo Phật mãn khai.

* Như vậy Phẩm kinh này.- Chính là diễn đạt sự thăng hoa tối thượng của tư tưởng Đạo Phật.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,369
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Vô Thường thị Thường (Vô Thường mà là Thường).(tt)

+ 5 Ấm là gì ? 5 Uẩn là gì ?


Kinh văn: Lúc bấy giờ đức Thế Tôn bảo Kiều Trần Như : “ Sắc là vô thường, do dứt sắc nầy được sắc thân thường trụ giải thoát. Thọ, tưởng, hành và thức cũng đều vô thường, do dứt thức ấm nầy mà được thức uẩn giải thoát thường trụ.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là khổ, dứt sắc ấm nầy mà được sắc thân an lạc giải thoát. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là không, do dứt sắc không nầy mà được sắc uẩn giải thoát phi không. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là vô ngã, do dứt sắc ấm nầy mà được sắc uẩn giải thoát chơn ngã. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc ấm là bất tịnh, do dứt sắc ấm nầy mà được sắc uẩn giải thoáthanh tịnh. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là tướng của sanh, lão , bịnh, tử, do dứt sắc ấm nầy mà được sắc uẩn giải thoát chẳng phải tướng sanh, lão, bịnh, tử. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy
.
Theo lời Phật dạy: "Tất cả Pháp duyên hòa hợp sinh".

NGÃ (cái Ta) cũng vậy do 5 Nhân Duyên hòa hợp sinh ra. Đó là:

Năm uẩn là năm yếu tố hay năm nhóm kết hợp lại tạo thành con người; hay nói cách khác, con người là một hợp thể của năm yếu tố, gồm có:

1. Sắc uẩn (Rùpa) là yếu tố sinh lý - vật lý;

2. Thọ uẩn (Vedanà) là yếu tố cảm giác;

3. Tưởng uẩn (Sãnnã) là yếu tố tri giác, là sự nhận biết đối tượng giác quan hay tâm lý;

4. Hành uẩn (Sankhàra) là yếu tố tâm lý hoạt động ngoài Thọ và Tưởng là những tâm lý tạo động lực đi tới tạo nghiệp và kết quả của nghiệp như ước muốn, quyết định... thuộc ý chí còn gọi là Tư;

5. Thức uẩn (Vinãna) là yếu tố nhận thức, phát hiện sự có mặt của đối tượng, gồm có sáu thức. Thức làm nền tảng cho Thọ, Tưởng và Hành, theo Duy thức học thì có tám thức.

Trong kinh tạng Nikàya và A Hàm thường dùng từ Năm thủ uẩn (Pãnca upàdana khandha), nghĩa là năm uẩn là đối tượng của sự chấp thủ, của tâm tham ái thì gọi là năm thủ uẩn.

* Đối với hạng chúng sanh phàm phu 5 ẤM có khả năng ngăn che tâm trí, chướng ngại Đạo Nghiệp, nên lúc đó 5 Uẩn mà gọi là 5 ẤM, lại trong kinh Thủ Lăng Nghiêm còn gọi là NGŨ ẤM MA.- Nghĩa là 1 trong 4 loại Ma nó làm chướng ngại việc tu học.

Trong giáo lý Thinh Văn Thừa, dạy rằng:

5 Điều Giác ngộ.

Một là giác ngộ
Thế gian vô thường
Đất nước mong manh
Tứ đại khổ không
Ngũ ấm vô ngã
Sinh diệt biến đổi
Hư ngụy không chủ
Tâm là nguồn ác
Thân là rừng tội
Quán chiếu như thế
Dần lìa sinh tử.


Nhưng với người đã giác ngộ. 5 yếu tố này không còn khả năng ngăn che tâm trí của bậc giác ngộ nữa.- Lúc đó gọi là 5 UẨN. Nghĩa là 5 Yếu Tố Sanh Thân đã trở thành Pháp Thân.

Chúng ta cần lưu ý: BẬC GIÁC NGỘ VẪN CÓ 5 UẨN, CHỚ KHÔNG PHẢI MẤT 5 UẨN. (Chỉ không còn bị vô minh ngăn che tâm).- Do lý do này. Đoạn kinh trên Phật dạy:

“ Sắc là vô thường, do dứt sắc nầy được sắc thân thường trụ giải thoát.

Thọ, tưởng, hành và thức cũng đều vô thường, do dứt (các) ấm nầy mà được (các) uẩn giải thoát thường trụ.".


Vậy làm sao: DỨT ẤM ĐỂ ĐƯỢC UẨN ?
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,369
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Vô Thường thị Thường (Vô Thường mà là Thường).(tt)

+ 5 Ấm là gì ? 5 Uẩn là gì ?


Kinh văn: Lúc bấy giờ đức Thế Tôn bảo Kiều Trần Như : “ Sắc là vô thường, do dứt sắc nầy được sắc thân thường trụ giải thoát. Thọ, tưởng, hành và thức cũng đều vô thường, do dứt thức ấm nầy mà được thức uẩn giải thoát thường trụ.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là khổ, dứt sắc ấm nầy mà được sắc thân an lạc giải thoát. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là không, do dứt sắc không nầy mà được sắc uẩn giải thoát phi không. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là vô ngã, do dứt sắc ấm nầy mà được sắc uẩn giải thoát chơn ngã. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc ấm là bất tịnh, do dứt sắc ấm nầy mà được sắc uẩn giải thoáthanh tịnh. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy.

Nầy Kiều Trần Như ! Sắc là tướng của sanh, lão , bịnh, tử, do dứt sắc ấm nầy mà được sắc uẩn giải thoát chẳng phải tướng sanh, lão, bịnh, tử. Thọ, tưởng, hành và thức cũng như vậy
.
Theo lời Phật dạy: "Tất cả Pháp duyên hòa hợp sinh".

NGÃ (cái Ta) cũng vậy do 5 Nhân Duyên hòa hợp sinh ra. Đó là:

Năm uẩn là năm yếu tố hay năm nhóm kết hợp lại tạo thành con người; hay nói cách khác, con người là một hợp thể của năm yếu tố, gồm có:

1. Sắc uẩn (Rùpa) là yếu tố sinh lý - vật lý;

2. Thọ uẩn (Vedanà) là yếu tố cảm giác;

3. Tưởng uẩn (Sãnnã) là yếu tố tri giác, là sự nhận biết đối tượng giác quan hay tâm lý;

4. Hành uẩn (Sankhàra) là yếu tố tâm lý hoạt động ngoài Thọ và Tưởng là những tâm lý tạo động lực đi tới tạo nghiệp và kết quả của nghiệp như ước muốn, quyết định... thuộc ý chí còn gọi là Tư;

5. Thức uẩn (Vinãna) là yếu tố nhận thức, phát hiện sự có mặt của đối tượng, gồm có sáu thức. Thức làm nền tảng cho Thọ, Tưởng và Hành, theo Duy thức học thì có tám thức.

Trong kinh tạng Nikàya và A Hàm thường dùng từ Năm thủ uẩn (Pãnca upàdana khandha), nghĩa là năm uẩn là đối tượng của sự chấp thủ, của tâm tham ái thì gọi là năm thủ uẩn.

* Đối với hạng chúng sanh phàm phu 5 ẤM có khả năng ngăn che tâm trí, chướng ngại Đạo Nghiệp, nên lúc đó 5 Uẩn mà gọi là 5 ẤM, lại trong kinh Thủ Lăng Nghiêm còn gọi là NGŨ ẤM MA.- Nghĩa là 1 trong 4 loại Ma nó làm chướng ngại việc tu học.

Trong giáo lý Thinh Văn Thừa, dạy rằng:

8 Điều Giác ngộ.

Một là giác ngộ
Thế gian vô thường
Đất nước mong manh
Tứ đại khổ không
Ngũ ấm vô ngã
Sinh diệt biến đổi
Hư ngụy không chủ
Tâm là nguồn ác
Thân là rừng tội
Quán chiếu như thế
Dần lìa sinh tử.


Nhưng với người đã giác ngộ. 5 yếu tố này không còn khả năng ngăn che tâm trí của bậc giác ngộ nữa.- Lúc đó gọi là 5 UẨN. Nghĩa là 5 Yếu Tố Sanh Thân đã trở thành Pháp Thân.

Chúng ta cần lưu ý: BẬC GIÁC NGỘ VẪN CÓ 5 UẨN, CHỚ KHÔNG PHẢI MẤT 5 UẨN. (Chỉ không còn bị vô minh ngăn che tâm).- Do lý do này. Đoạn kinh trên Phật dạy:

“ Sắc là vô thường, do dứt sắc nầy được sắc thân thường trụ giải thoát.

Thọ, tưởng, hành và thức cũng đều vô thường, do dứt (các) ấm nầy mà được (các) uẩn giải thoát thường trụ.".


Vậy làm sao: DỨT ẤM ĐỂ ĐƯỢC UẨN ?
 

Tịch Nhiên

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
12 Tháng 1 2017
Bài viết
980
Reaction score
399
Điểm
63
+ DỨT ẤM ĐỂ ĐƯỢC UẨN ?

Kính thầy Viên Quang!

Chỉ tại tưởng biến thì Thể khác. Cái cửa một tâm môn này vốn đã sẵn sàng. Cùng khắp pháp giới chỉ là một Linh Thể, không hề có ta người, do nghiệp lực tạo tác mà mỗi mỗi vọng kiến tự thấy khác.

Lục tổ có nói : giới với uẩn tánh bất nhị. Nên việc dạy giữ giới dứt uẩn cũng chỉ là phương tiện tạm thời, pháp này người mê chẳng thể nào tin nhận nỗi. Nếu không tin tự tâm thì thuốc nào cứu nổi hì hì...
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,369
Reaction score
1,699
Điểm
113
+ Kính hoa- Thủy nguyệt.

Ví như những đóa hoa biến hiện ở "Kính vạn hoa".- Muôn hình, vạn trạng, biến ão khôn lường.- Nhưng không có tự thể.



"Ấm tướng" cũng vậy.

Đó là các tính chất chướng ngại làm Uẩn trở thành Ấm. Như:

Những tính chất vô thường, khổ, không, vô ngã, bất tịnh... Chúng là những cánh "Kính hoa hư ão".- CHÚNG LÀ HIỆN TƯỢNG.

Và nhờ dứt trừ được năm ấm với những tính chất đó mà người tu tập đạt đến cảnh giới giải thoát với các phẩm tính thường, lạc, ngã, tịnh. ĐÂY LÀ BẢN THỂ.

Kinh dạy:

Vô thường thị thường,
thị sinh diệt pháp;
sinh diệt diệt dĩ,
tịch diệt vi lạc.


Dịch:

“Chỉ có pháp vô thường,
sinh diệt mới là thường;
một khi hiện trạng sinh diệt không còn
mới thật là vĩnh viễn an lạc.”


Xa lìa mọi sự chi phối, tác động của sinh thành và hoại diệt chính là trạng thái siêu việt, là mục tiêu “liễu sinh thoát tử” tối hậu của đạo lộ giải thoát. Chỉ có khả năng của một vị đã đạt đển cảnh giới của “tâm giải thoát” và “tuệ giải thoát”, một vị A-la-hán đã hoàn thành sứ mạng, hoàn thiện tư cách, thành tựu công đức, thể nhập và thân chứng vào cảnh giới của ngã không - pháp không: “sinh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không trở lại Tam giới nữa.” (Ngã sinh dĩ tận, phạm hạnh dĩ lập, sở tác dĩ biện, bất thọ hậu hữu.) Hành trạng của một vị A-la-hán đi vào cảnh giới Niết-bàn bất tử.

Tóm lại: Nhận thức được Huyễn Pháp (TRI HUYỄN). Tức là lìa các huyễn (LY). Lìa Huyễn là Chơn (GIÁC) Cứu cánh niết Bàn.

TT Thích Nhật Hiếu có cấu nói rất hay:

Sống không phải còn mãi, nhưng chết đâu phải mất đi! Sự sống chết của cuộc đời cũng chỉ là sự biến thái biểu hiện trong nhất thời vô cùng sống động, chuyển giao giữa cái quá khứ chuyển tiếp đến hiện tại, giữa cái hiện tại diễn tiến cho tương lai. Chính vì vậy mà sống không nên chủ quan, mà chết cũng chẳng có gì phải bi quan. Vì rằng sống chết là một lẽ thường tình, tất yếu, mà người tu đã làm chủ được quá trình diễn tiến cho cuộc sống tái sinh này, tự tại dung thông, chủ động cho sự đến và đi, cuộc sống mới này là cuộc sống hướng thượng, không trôi nổi trong chốn u đồ khổ não, đoạ lạc trầm luân. Thế nên, người tu Phật luôn có cái nhìn tuệ giác bất động, bất biến giữa dòng đời vạn biến:

“Xá chi suy thạnh việc đời,
Thạnh suy như hạt sương rơi đầu cành.”

(Mạc vị thạnh suy vô bố uý,
Thạnh suy như lộ thảo đầu phô.)
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,369
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Tranh biện.

Kinh vănL: Nầy Kiều Trần Như ! Người nào rõ biết được như trên đây thời gọi là Sa Môn là Bà La Môn có đủ những pháp Sa Môn, pháp Bà La Môn.

Nếu ngoài Phật pháp thời không có Sa Môn, Bà La Môn, cũng không có pháp Sa Môn, pháp Bà La Môn. Tất cả ngoại đạo dối trá tự xưng, toàn hư giả không có thiệt hạh. Dầu họ tưởng rằng họ có hai bực nầy, nhưng thật ra thời không có. Vì nếu đã không có pháp Sa Môn và Bà La Môn, làm sao có được hai bực Sa Môn và Bà La Môn.

Ta thường ở giữa đại chúng xướng to những lời nầy. Các ông cũng nên xướng to như vậy....(lượt)

.....Lúc đó một số đông ngoại đạo họp nhau đến ra mắt vua A Xà Thế.

Vua hỏi các ngài mỗi phái riêng tu tập theo đạo của mình, đều là người xuất gia rời bỏ danh lợi, nhơn dân trong nước của ta đều kính trọng cúng dường, nay duyên cớ gì họp nhau đến đây ?

Các ngài đều có pháp tu tập khác nhau, giới cấm khác nhau, mỗi người tự theo giáo phái của mình mà xuất gia tu hành, nay duyên cớ gì lại họp nhau một lòng như những lá rụng bị gió trốt thổi gom lại một chỗ.

Ta thường ủng hộ người xuất gia nhẫn đến chẳng tiếc thân mạng. Nay duyên cớ gì mà các ngài họp nhau đến đây ?

Chúng ngoại đạo đồng thưa : Tâu Đại Vương ! Nay Đại Vương là cây cầu đại pháp, có tiếng tăm lớn, có công đức lớn, là căn bổn của các nước, là tấm gương sáng của tất cả nước, là hình tượng của chư thiên, là cha mẹ của nhơn dân. Nhà vua coi việc nước chẳng riêng rẻ người thân kẻ thù, lòng vua bình đẳntg như đất nước lửa gió, do đây nhà vua đáng gọi là công đức tạng.

Tâu Đại Vương ! Dầu chúng sanh hiện tại tuổi đời ngắn ngủi, nhưng công đức của nhà vua như các vua thời kỳ trường thọ an lạc thuở xưa : Như các vua Đảnh Sanh, Thiện Kiến, Nhẫn Nhục, Na Hầu Sa, Da Da Đế, Thi Tỳ, Nhứt Xoa Câu v.v… Nhờ nhà vua mà trong nước an vui, nhơn dân giàu mạnh. Do đây nên tất cả người xuất gia đều mến nước Ma Dà Đà nầy.

Tâu Đại Vương ! Trong kinh của chúng tôi có nói : Nếu người xuất gia ở nơi nước nào mà tinh tấn trì giới tu hành, thời vua nước ấy cũng có phần tu công đức lành.

Tâu Đại Vương ! Tất cả trộm cướp nhà vua đã dẹp xong, nên người xuất gia không còn sợ sệt. Hiện nay chỉ còn có một người đại ác là Sa Môn Cù Đàm nhà vua chưa xét đến, chúng tôi rất lo sợ. Cù Đàm tự thị dòng họ cao quý, thân hìng đẹp mạnh, lại do phước bố thí đời trươc mà được cúng dường nhiều. Cù Đàm cậy những việc nầy mà quá kiêu mạn, hoặc cậy chú thuật giỏi mà ngạo nghễ. Cù Đàm không thể tu khổ hạnh lãnh và chứa những y phục nệm chăn mịn nhuyễn, nên những người ác trong đời vì tham lợi dưỡng mà theo làm quyến thuộc. Do sức chú thuật, Cù Đàm điều phục Ca Diếp, Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên v.v…

Nay đến chỗ ở của chúng tôi, nơi rừng Ta La, tuyên bố rằng thân nầy là thường, lạc, ngã, tịnh để khuyến dụ hàng đệ tử của chúng tôi.

Tâu Đại Vương ! Ngày trước Cù Đàm nói thân người là không thường, lạc, ngã, tịnh chúng tôi còn có thể nhẫn được. Nay Cù Đàm tuyên bố thân nầy là thường, lạc, ngã, tịnh chúng tôi thiệt chẳng chịu đựơc.

Xin Đại Vương cho phép chúng tôi luận nghị với Cù Đàm.

Vua A Xà Thế nói : Hôm nay các ngài do ai bày vẽ mà tâm trí cuồng loạn chẳng định như vậy ? Khác nào nước nổi sóng, vòng lửa xoay, khỉ vượn leo cây , thật đáng hổ thẹn.

Người trí nghe được việc nầy tất sẽ xót thương cho các ngài. Kẻ ngu nghe biết thời tất chê cười các ngài. Lời nói của các ngài chẳng phải là lời của người xuất gia. Các ngài nếu mang phải bịnh tật, ta đều có thuốc trị lành được. Nếu như mắc bịng ma quỉ, thời anh ta là Kỳ Bà có thể trị được.

Nay các ngài muốn lấy móng tay mà chẻ núi Tu Di, muốn dùng răng để cắn nghiền chất Kim Cang, khác nào người ngu thấy Sư Tử Vương lúc đói nằm ngủ mà muốn chọc cho thức dậy, như người lấy ngón tay muốn để trong miệng rắn độc, như muốn lấy tay đậy ngọn lửa, như con chồn rừng muốn kêu rống như sư tử, như con muỗi muốn bay đua với Kim Súy Điểu, như con thỏ lội qua biển muốn chưn đụng đến đáy. Nay các ngài cũng như vậy. Các ngài như chiêm bao thấy hơn Sa Môn Cù Đàm, đây là mơ mộng điên cuồng, chẳng nên tin tưởng.

Nay các ngài có quan niệm muốn tranh biện với Sa Môn Cù Đàm, khác nào con phi nga tự đáp vào đống lửa lớn. Các ngài phải theo lời của ta chẳng cần nói nữa.

Các ngài dầu tán thán ta là bình đẳng như cán cân, nhưng chớ để cho người ngoài nghe được lời nầy.

Các ngoại đạo lại thưa : Tâu Đại Vương ! Sa Môn Cù Đàm có lẽ dùng chú thuật đến bên nhà vua, nên làm cho lòng vua nghi mà chẳng tin các vị thánh nhơn nầy. Nhà vua chẳng nên khinh miệt chúng tôi.

Tâu Đại Vương ! Mặt trăng tròn khuyết, nước biển mặn v.v…, những việc như thế ai làm ra ? Há chẳng phải hàng Bà La Môn chúng tôi ư !

Nhà vua chẳng nghe nước sông Hằng dừng ở trong lỗ tai của A Kiệt Đa Tiên trọn mười hai năm ư ? Nhà vua chẳng nghe Cù Đàm Tiên nhơn cả hiện thần thông mười hai năm biến làm Đế Thích, rồi biến thân Đế Thích làm thân dê đực, biến ngàn nữ căn ở thân Đế Thích ? Nhà vua chẳng nghe Kỳ Nâu Tiên trong một ngày uống hết nước bốn biển làm cho quả đất khô ?

Nhà vua chẳng nghe bà Tẩu Tiên làm ba con mắt cho Tự Tại Thiên ư ? Nhà vua chẳng nghe La Lã Tiên biến thành Ca La Phú làm nước mọi ư ?

Tâu Đại Vương ! Trong phái Bà La Môn có những Tiên nhơn thần thông như vậy, sao nhà Vua lại khinh miệt ư ?

Vua nói : “ Các ngài nếu chẳng tin theo lời của ta, đức Như Lai chánh giác hiện ở trong rừng Ta La, các ngài có thể qua đó tùy ý vấn nạn, Đức Như Lai cũng sẽ giải thích vừa ý các ngài.”

Liền đó vua A Xà Thế cùng chúng ngoại đạo đến chỗ Phật. Vua đầu mặt làm lễ đi nhiễu ba vòng ngồi qua một bên bạch Phật rằng : “ Thế Tôn ! Các nhà ngoại đạo nầy muốn được tùy ý vấn nạn, xin đức Như Lai tùy ý đáp đó.”

Phật nói : “ Nầy Đại Vương ! Như Lai tự biết phải lúc.”
Đức Phật đưa ra sự xác quyết về phương pháp tu hành của hàng ngoại đạo là không thể dẫn đến sự giải thoát chân chánh.

Phật dạy: “Tất cả ngoại đạo chỉ tự xưng một cách giả dối, không hề có đạo hạnh chân thật.”

– Việc đức Phật đưa ra lời xác quyết như trên có thể xem là nhằm mục đích hóa độ cho một số lượng rất đông những người theo các phái ngoại đạo hiện đang có mặt trong thính chúng. Vì chính qua sự xác quyết như vậy của đức Phật mới có thể khiến họ phải bộc lộ những nhận thức sai lầm, tà kiến ra trước thính chúng, và đức Phật sẽ lần lượt phá vỡ tất cả mọi luận thuyết sai lầm của họ, dẫn dắt họ quay về con đường Chánh đạo.
(theo: https://thuvienhoasen.org/a2000/tong-quan-kinh-dai-bat-niet-ban )
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,369
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Sanh nhân và Liễu Nhân.

Kinh văn: Trong chúng ngoại đạo có Bà La Môn Xà Đề Thủ Na lên tiếng hỏi :” Nầy Cù Đàm ngài nói Niết Bàn là pháp thường trụ phải chăng ?”

_ Nầy Đại Bà La Môn ! Đúng như vậy.

_ Nếu Cù Đàm nói Niết Bàn là thường trụ thời không đúng nghĩa. Vì như những sự vật trong đời, từ hột sanh ra trái nối luôn chẳng dứt, như từ đất sét làm ra cái bình, từ những sợi chỉ mà có cái áo. Cù Đàm thường nói rằng tu quán tưởng vô thường chứng được Niết Bàn. Nhơn là vô thường sao quả lại thường trụ ?

Cù Đàm lại nói giải thoát dục tham chính là Niết Bàn, giải thoát sắc tham và vô sắc tham chính là Niết Bàn. Dứt vô minh v.v… tất cả phiền não thời là Niết Bàn. Từ dục, sắc, nhẫn đến vô minh phiền não đều là vô thường. Nhơn đã vô thường thời quả Niết Bàn cũng phải vô thường.

Cù Đàm lại nói từ nghiệp nhơn nên sanh cõi Trời, do nghiệp nhơn nên sanh địa ngục, do nghiệp nhơn mà được giải thoát, nên các pháp đều do nơi nhơn mà sanh. Nếu đã từ nơi nhơn sanh mà được giải thoát, sao lại nói Niết Bàn là thường ?

Cù Đàm cũng nói rằng sắc theo duyên mà sanh nên gọi là vô thường, thọ tưởng hành thức cũng như vậy. Giải thoát như vậy, nếu là sắc thời là vô thường, nếu là thọ tưởng hành thức cũng là vô thường. Nếu ngoài năm ấm mà có giải thoát, thời giải thoát nầy chính là hư không. Nếu đã là hư không thời chẳng được nói rằng do nhơn duyên sanh, vì hư không là thường là duy nhứt, là khắp tất cả.

Cù Đàm cũng nói rằng : Phàm do nhơn duyên sanh ra thời là khổ, nếu đã là khổ sao lại nói giải thoát là lạc.

Cù Đàm lại nói : Vô thường là khổ, khổ là vô ngã. Nếu đã là vô thường, là khổ, là vô ngã thời là bất tịnh. Tất cả những pháp do nhơn duyên sanh ra, đều là vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh, sao lại nói Niết Bàn là thường , lạc, ngã tịnh ?

Nếu Cù Đàm nói rằng cũng là thường cũng vô thườntg, cũng khổ cũng vui, cũng là ngã cũng là vô ngã, cũng tịnh cũng bất tịnh, như thế há chẳng phải là hai lời ư ?

Tôi cũng từng nghe bực tôn túc nói nếu Phật ra đời thời lời nói không hai. Nay Cù Đàm nói hai lời, lại xưng rằng Phật chính là thân ta đây. Xin giải thích những điều tôi đã hỏi .

Phật nói : Nầy bà La Môn ! Cứ theo lời của ông, nay tôi hỏi ông tùy ý ông đáp.

Nầy Bà La Môn ! Tánh của ông là thường hay là vô thường ?

_ Tánh của tôi là thường.

Nầy Bà La Môn ! Tánh ấy có thể làm nhơn cho tất cả pháp trong và ngoài chăng ?

_ Chính thế, thưa Cù Đàm.

_ Nầy Bà La Môn ! Tánh ấy làm nhơn như thế nào ?

_ Thưa Cù Đàm ! Từ tánh sanh ra đại, từ đại sanh mạn, từ mạn sanh mười sáu pháp : Năm đại là địa, thủy, hỏa, phong, không, năm tri căn là nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân, năm nghiệp căn là tay , chơn, miệng tiếng, nam căn, nữ căn, cùng tâm bình đẳng căn. Mười sáu pháp nầy do năm pháp : Sắc, thinh, hương, vị, xúc sanh ra. Hai mươi mốt pháp nầy có ba pháp căn bổn : Nhiễm, thô và đen. Nhiễm là ái, thô là sân, đen là vô minh. Hai mươi ba pháp nầy, đều nhơn nơi tánh mà sanh.

_ Nầy Bà La Môn ! Những pháp đại, mạn v.v… là thường hay vô thường ?

_ Thưa Cù Đàm theo giáo pháp của tôi thời tánh là thường, những pháp đại v.v… đều là vô thường.

_ Nầy Bà La Môn ! Như trong pháp của ông nhơn là thường còn quả là vô thường. Trong pháp của ta dầu nhơn là vô thường nhưng quả là thường, thời có lỗi gì ?
Trong phép biện chứng: NHÂN NÀO QUẢ NẤY là đúng.

Nhưng Niết Bàn không phải là Sanh Nhân.- Niết Bàn là LIỄU NHÂN.

Thế nào là Sanh Nhân ? Ví như hạt lúa sanh ra cây lúa là Sanh Nhân.

Thế nào là Liễu Nhân ? Niết Bàn có 3 Nhân để "sanh"

1. Chánh Nhân.
2. Duyên Nhân.
3. Liễu nhân.

1. Chánh Nhân NB: Nghĩa là "Tâm" vốn nó là Níết Bàn, chứ không phải do tu tập "Tâm" mà sanh ra Niết Bàn.

2. Duyên Nhân NB: Thế nào là Duyên Nhơn ?

Đó là do tu tập Giới- Định- Huệ, các Pháp Hành mà đức Phật dạy. Do tu tập mà vô minh, tập khí được muội lượt (suy yếu).

3. Liễu Nhân NB:- Thế nào là Liễu Nhơn ?

Là Tu tập được công viên quả mãn không còn tham sân si.

Lúc hết tham sân si thì Niết Bàn tự hiện. Ví như con gà ấp trứng, đến đủ ngày thì trứng khẻ mỗ mà ra.

Như vậy: Tu tập để bào mòn tham sân si, để cho Niết Bàn sẳn có không còn bị tham sân si che lắp, mà tự hiễn bày. Niết Bàn gọi là có Liễu nhơn nhưng thật ra không có nhơn nào cả. vì Niết Bàn vốn đã sẳn có.

Do vậy Niết Bàn nói "Nhân" mà thật không có nhân. Nói "Quả" mà thật không phải Quả. Nên không thể dùng "Sanh Nhân" mà luận Niết Bàn.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,369
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Tranh biện (tt).

+ Giải thoát được Niết Bàn.


Kinh văn: Lại có Phạm Chí Bà Trư Tra hỏi Phật : “ Cù Đàm nói Niết Bàn là thường trụ phải chăng ?”

_ Nầy Phạm Chí ! Đúng như vậy.

_ Cù Đàm toan chẳng nói rằng không phiền não là Niết Bàn ư ?

_ Nầy Phạm Chí ! Đúng như vậy.

_ Thưa Cù Đàm ! Ở thế gian có bốn thứ gọi là không : Một là những pháp chưa có ra thời gọi là không, như cái bình lúc chưa ra khỏi viên đất thời gọi là không có cái bình. Hai là những pháp đã diệt mất gọi là không, như cái bình đã hư bể thời gọi là không. Ba là lẫn không có tướng loại khác mà gọi là không, như trong bò không có ngựa, trong ngựa không có bò. Bốn là rốt ráo không nên gọi là không, như lông rùa sừng thỏ.

Thưa Cù Đàm ! Nếu vì đã dứt trừ phiền não mà gọi là Niết Bàn, thời Niết Bàn là không có. Nếu đã là không Niết Bàn, sao lại nói có thường, lạc, ngã, tịnh ?

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Niết Bàn đây chẳng phải là trước không có như cái bình lúc còn là viên đất, cũng chẳng phải dứt mất thành không như cái bình lúc hư bể, cũng chẳng phải rốt ráo không như lông rùa sừng thỏ. Niết Bàn nầy đồng với khác loại mà không.

Như lời ông nói, dầu trong bò không có ngựa, nhưng chẳng được nói rằng bò cũng là không. Dầu trong ngựa không có bò nhưng cũng chẳng được nói rằng ngựa cũng là không. Niết Bàn cũng như vậy : Trong phiền não không Niết Bàn, trong Niết Bàn không phiền não, do đây nên gọi là lẫn không có tướng khác nhau.

Thưa Cù Đàm ! Nếu cho Niết Bàn là lẫn không tướng khác nhau, sự không nầy không có thường, lạc, ngã, tịnh, sao Cù Đàm lại nói Niết Bàn là thường, lạc, ngã, tịnh ?

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Như không tướng khác nhau của ông nói có ba thứ không : Bò, ngựa đều là trước không sau có, đây gọi là trước không ; đã có trở thành không đây gọi là hư hoại mà không ; không có tướng khác nhau thời như ông đã nói. Niết bàn không có ba tướng nầy, nên Niết Bàn là thường, lạc, ngã, tịnh.

Như ba thứ bịnh của người đời ; Bịnh nhiệt, bịnh phong, bịnh hàn. Ba thứ thuốc có thể trị được : Tô trị được bịnh nhiệt, dầu trị được bịnh phong, mật trị được bịnh hàn.

Nầy Thiện Nam Tử ! Trong bịnh phong không có dầu, trong dầu không có bịnh phong, nên dầu có thể trị được bịnh phong. Hai thứ kia cũng như vậy.

Tất cả chúng sanh có ba thứ bịnh : Tham, sân và si. Có ba thứ pháp dược trị được ba bịnh nầy : Bất tịnh quán là thuốc trị được bịnh tham, từ tâm quán là thuốc trị được bịnh sân, nhân duyên quán là thuốc trị được bịnh si.

Nầy Thiện Nam Tử ! Vì trừ tham nên quán pháp chẳng phải tham, vì trừ sân nên quán pháp chẳng phải sân, vì trừ si nên quán pháp chẳng phải si. Trong ba thứ bịnh không ba thứ thuốc pháp, trong ba thứ thuốc pháp không ba thứ bịnh.

Nầy Thiện Nam Tử ! Vì trong ba thứ bịnh không có ba thứ thuốc pháp, nên là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Trong ba thứ thuốc pháp không có ba thứ bịnh nên được gọi là thường, lạc, ngã, tịnh.

_ Bạch Thế Tôn ! Đức Như Lai vì tôi nói thường là vô thường. Xin giải thích thế nào là thường, thế nào là vô thường ?

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Sắc ấm là vô thường, giải thoát sắc ấm là thường.Nhẫn đến thức ấm là vô thường, giải thoát thức ấm là thường.

Nếu có người nào quán sắc nhẫn đến thức là vô thường, nên biết rằng người nầy chứng được pháp thường trụ.

_ Bạch Thế Tôn ! Nay tôi đã biết pháp thường và pháp vô thường.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Ông rõ biết pháp thường và vô thường như thế nào ?

_ Bạch Thế Tôn ! Nay tôi biết sắc ấm của tôi là vô thường, được giải thoát là thường, nhẫn đến thức cũng như vậy.

_ Lành thay ! Nầy Thiện Nam Tử ! Nay ông đã đền xong thân nầy.

Đức Phật bảo Kiều Trần Như : Bà Trư Tra đã chứng quả A La Hán, ông nên ban cho Bà Trư Tra ba y và bát.

Ngài Kiều Trần Như tuân lời Phật trao y bát cho Bà Trư Tra.

Lãnh y bát xong , Bà Trư Tra thưa rằng : Bạch Đại Đức Kiều Trần Như ! Nay tôi do thân tệ ác nầy mà được quả lành. Xin Đại Đức vì tôi đến bạch với đức Thế Tôn : Tôi là người ác xúc phạm đến họ Cù Đàm của đức Như Lai. Mong Đại Đức vì tôi mà sám hối tội nầy. Tôi cũng không thể ở lâu nơi thân ác độc nầy. Nay xin nhập Niết Bàn.

Ngài Kiều Trần Như liền đến bạch Phật : Thế Tôn ! Tỳ Kheo Bà Trư Tra sanh lòng hổ thẹn, tự nói là hung dữ xúc phạm họ Cù Đàm của đức Như Lai. Nay ông ấy muốn diệt thân, nhờ tôi sám hối.

Phật nói ; Nầy Kiều Trần Như ! Tỳ Kheo Bà Trư Tra đã thành tựu căn lành nơi vô lượng Phật quá khứ, nay thọ giáo với ta mà trụ đúng pháp, vì trụ đúng pháp nên chứng được chánh quả. Các ông phải cúng dường thân của ông ấy.

Ngài Kiều Trần Như nghe Phật dạy xong, đến nơi thân của Bà Trư Tra mà trần thuyết cúng dường.

Lúc thiêu thân, Bà Trư Tra hiện các thứ thần thông.
Như lời Phật dạy: Giải thoát 5 ấm khỏi tham- sân- si . tức là quán 5 Ấm Vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh.- Thì được Thường- lạc- ngã- tịnh, tức Niết Bàn.
 

Hoa Vô Tướng

Active Member
Thành viên vinh dự
Tham gia ngày
9 Tháng 4 2018
Bài viết
316
Reaction score
125
Điểm
43
Hi hi...

Chào Thầy Viên Quang!

Đọc đoạn kinh này con lại nhớ tới câu kệ của cổ nhân:

Lúc giàu ngàn miệng ăn vẫn chê là ít

Khi nghèo chỉ một thân cũng hận là nhiều

Cái căn thân đúng thật là cái gốc chiêu phiền não. :010:
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,369
Reaction score
1,699
Điểm
113
Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 24. Ca Diếp Bồ Tát

* Tranh biện (tt).

+ Huyễn Ngã.

Kinh văn: Lại có Phạm Chí Tiên Ni hỏi Phật : Thưa Cù Đàm ! Cù Đàm có ngã không ?

Đức Như Lai nín lặng.

Tiên Ni lại hỏi : Thưa Cù Đàm ! Cù Đàm không có ngã ư ?

Đức Như Lai cũng nín lặng.

Tiên Ni hỏi luôn mấy lần như vậy, đức Phật đều nín lặng.

Tiên Ni nói : Thưa Cù Đàm ! Nếu tất cả chúng sanh có ngã khắp tất cả chỗ là một tác giả, cớ sao Cù Đàm nín lặng chẳng trả lời ?

Phật nói : Nầy Tiên Ni ! Ông nói ngã đó là khắp tất cả chỗ phải chăng ?

_ Thưa Cù Đàm ! Chẳng những là tôi nói, mà tất cả người trí cũng nói như vậy.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Nếu ngã đó cùng khắp tất cả chỗ lẽ ra phải đồng thời thọ báo trong ngũ đạo. Nếu đồng thời thọ báo nơi ngũ đạo, hàng Phạm Chí các ông duyên cớ gì chẳng gây tạo những điều ác để khỏi địa ngục, mà lại tu những pháp lành để được thân Trời ?

_ Thưa Cù Đàm ! Ngã trong giáo pháp của chúng tôi có hai thứ : Một là ngã tác thân, hai là ngã thường thân. Vì ngã tác thân mà phải lìa nghiệp ác để khỏi địa ngục, phải tu những pháp lành để được sanh lên Trời.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Như ông đã nói ngã khắp tất cả chỗ. Ngã đó nếu ở trong tác thân thời là vô thường. Nếu trong tác thân không có ngã sao lại nói là khắp ?

_ Thưa Cù Đàm ! Ngã của chúng tôi lập cũng ở trong tác thân, mà cũng là thường trụ. Như người lúc để lửa cháy nhà, chủ nhà chạy ra ngoài, chẳng thể nói rằng nhà cửa bị cháy chủ nhà cũng bị cháy. Ngã nầy cũng như vậy, đương lúc tác thân vô thường, ngã nầy xuất ra đi, nên ngã nầy cũng là khắp, cũng là thường.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Như lời ông nói ngã đó cũng khắp cũng thường, nghĩa nầy không đúng. Vì khắp có hai thứ : Thường và vô thườntg. Lại có hai thứ ; Sắc và vô sắc. Do đây nên nếu nói rằng khắp tất cả thời cũng là thườntg cũng là vô thường, cũng là sắc cũng là vô sắc.

Nếu nói chủ nhà chạy ra khỏi nên chẳng gọi là vô thường, nghĩa nầy chẳng đúng. Vì nhà chẳng gọi là chủ, chủ chẳng gọi là nhà. Cái bị cháy khác, người chạy ra khác, nên được như vậy. Ngã nầy thời chẳng như vậy, vì ngã là sắc, sắc là ngã, ngã là vô sắc, vô sắc là ngã, sao lại nói rằng đương lúc sắc thân vô thường ngã xuất ra khỏi.

Nầy Thiện Nam Tử ! Ý ông nếu cho rằng : Tất cả chúng sanyh đồng một ngã, thời trái với pháp thế gian và xuất thế gian. Vì pháp thế gian có cha mẹ, con trai, con gái. Nếu ngã là một, thời cha là con trai, con trai là cha, mẹ là con gái, con gái là mẹ, thù là thân , thân là thù, đây là kia, kia là đây. Nên nếu nói rằng tất cả chúng sanh đồng một ngã thời là trái với pháp thế gian và xuất thế gian.

Tiên Ni nói : “ Tôi chẳng nói tất cả chúng sanh đồng một ngã. Mà tôi nói mỗi người đều riêng có một ngã”.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Nếu ông nói một người đều riêng có một ngã, đây là nhiều ngã, thời không đúng nghĩa. Vì như trước kia ông nói, ngã khắp tất cả chỗ. Nếu đã khắp tất cả thời tất cả chúng sanh lẽ ra phải đồng một nghiệp căn : Lúc được Trời mà thấy thời lúc được Phật cũng thấy, lúc được thân Trời làm, thời lúc được Phật cũng làm, nghe biết và nhẫn đến tất cả pháp cũng như vậy.

Nếu được thân Trời mà thấy chẳng phải là được Phật mà thấy thời chẳng nên nói rằng ngã khắp tất cả chỗ. Nếu ngã chẳng khắp thời là vô thường.

_ Thưa Cù Đàm ! Ngã của tất cả chúng sanh khắp tất cả. Còn pháp cùng phi pháp chẳng khắp tất cả. Do nghĩa nầy nên tác dụng của Phật khác, tác dụng của Trời khác. Chẳng nên nói rằng lúc Phật thấy lẽ ra Trời cũng thấy, lúc Phật nghe Trời cũng nên nghe.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Pháp và phi pháp chẳng phải là nghiệp làm ra ư ?

_ Thưa Cù Đàm ! Là nghiệp làm ra.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Nếu pháp cùng phi pháp là nghiệp làm ra thời là đồng pháp, sao nói rằng khác. Vì chỗ nghiệp của Phật có ngã của Trời, chỗ ngã của Trời có ngã của Phật, do đây nên lúc Phật tác dụng, Trời cũng tác dụng, pháp và phi pháp cũng phải như vậy.

Nầy Thiện Nam Tử ! Nếu tất cả chúng sanh pháp cùng phi pháp là như vậy, thời quả báo lẽ ra chẳng khác.

Nầy Thiện Nam Tử ! Từ nơi nhơn sanh ra quả, nhơn nầy trọn chẳng suy nghĩ phân biệt ta chỉ nên là quả Bà La Môn, chẳng làm quả cho Sát Lợi, Tỳ Xá, Thủ Đà. Vì từ nhơn sanh ra quả trọn chẳng trở ngại đối với bốn giòng như vậy. Pháp cùng phi pháp cũng như vậy, không thể phân biệt ta chỉ nên làm quả Phật, chẳng làm quả Trời, hoặc ta chỉ làm quả Trời chẳng làm quả Phật. Vì nghiệp bình đẳng vậy.

_ Thưa Cù Đàm ! Như trong một nhà có trăm ngàn ngọn đèn, ngọn đèn có khác nhưng ánh sáng thời không khác. Ngọn đèn khác nhau dụ cho pháp cùng phi pháp, ánh sáng không sai khác dụ cho ngã của chúng sanh.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Ông đem đèn sáng để dụ cho ngã đó, không được đúng nghĩa. Vì đèn khác nhà khác. Ánh sáng của đèn cũng ở bên ngọn đèn mà cùng khắp trong nhà. Ngã của ông nói nếu đồng như vậy thời bên pháp và phi pháp đều phải có ngã, trong ngã cũng phải có pháp và phi pháp đều phải có ngã, trong ngã cũng phải có pháp và phi pháp. Nếu pháp cùng phi pháp không có ngã, thời chẳng được nói rằng ngã khắp tất cả chỗ. Nếu đều chung có cả, đâu đặng dùng đèn và ánh sáng để làm ví dụ.

Nầy Thiện Nam Tử ! Nếu ý của ông cho rằng ngọn đèn cùng ánh sáng thiệt khác nhau, duyên cớ gì ngọn đèn thêm thời ánh sáng nhiều, ngọn đèn lụn thời ánh sáng mất. Do đây chẳng nên đem pháp cùng phi pháp dụ như ngọn đèn, ánh sáng không khác dụ cho ngã. Vì pháp và phi pháp cùng với ngã ba thứ là một.

_ Thưa Cù Đàm ! Ngài dẫn ví dụ ngọn đèn, việc đó chẳng tốt. Vì ví dụ ngọn đèn nếu là tốt thời tôi đã dẫn trước rồi. Như ví dụ đó chẳng tốt cớ sao ngài lại nói ?

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Ví dụ ta dẫn ra đó đều chẳng làm tốt cùng chẳng tốt, đó là theo ý của ông để nói. Trong ví dụ đó cũng trình bày hai nghĩa rời ngoài ngọn đèn có ánh sáng và chính nơi ngọn đèn có ánh sáng, ý ông chẳng bình đẳng nên ông nói ngọn đèn dụ cho pháp cùng phi pháp, ánh sáng thời dụ cho ngã. Do đây nên ta trách ông : Ngọn đèn chính là ánh sáng, rời ngọn đèn có ánh sáng. Trong pháp có ngã, trong ngã có pháp, trong phi pháp có ngã, trong ngã có phi pháp. Nay cớ gì ông chỉ nhận lấy một bên bỏ một bên. Ví dụ như vậy là chẳng tốt đối với ông, nên nay ta trở lại dẫn ví dụ đó để dạy bảo ông.

Nầy Thiện Nam Tử ! Ví dụ như vậy thời chẳng thành, vì chẳng thành ví dụ nên với ta thời tốt, mà chẳng tốt đối với ông.

Nầy Thiện Nam Tử ! Nếu ý ông cho rằng nếu tôi chẳng tốt thời ngài cũng chẳng tốt. Ý nghĩ nầy chẳng đúng, vì thấy người đời dùng sức mình để hại lấy mình, tự mình làm ra mà người khác thọ dụng. Ví dụ của ông dẫn ra đó cũng như vậy. Nơi ta thời tốt, nơi ông thời chẳng tốt.

_ Thưa Cù Đàm ! Vừa rồi ngài trách tôi tâm chẳng bình đẳng, nay lời nói của ngài cũng chẳng bình đẳng. Vì ngài lấy tốt về mình, mà chẳng tốt lại để cho tôi. Cứ đây mà suy thời thật là chẳng bình đẳng.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Sự bất bình của ta có thể phá được sự bất bình của ông, do đây nên ông được bình, sự bất bình của ta chính là tốt vậy. Sự bất bình của ta phá sự bất bình của ông, làm cho ông được bình cũng chính là ta bình đẳng, vì đồng được bình đẳng với các thánh nhơn.

_ Thưa Cù Đàm ! Ngã thường là bình đẳng, sao ngài lại nói phá hoại sự bất bình của tôi. Tất cả chúng sanh bình đẳng có ngã sao ngài nói rằng ngã là bất bình ?

_ Nầy Thiện nam Tử ! Ông cũng có nói rằng : Sẽ thọ quả địa ngục, sẽ thọ quả ngạ quỉ, sẽ thọ quả súc sanh, sẽ thọ quả nhơn , thiên. Nếu ngã đã khắp trong ngũ đạo, sao ông lại nói sẽ thọ quả nơi các loài ?

Ông cũng nói rằng cha mẹ hòa hiệp rồi sau mới sanh con. Nếu con đã có trước, sao ông lại nói hòa hiệp rồi mới có. Nếu một người có thân trong ngũ đạo, đã là trước có thân trong ngũ đạo, duyên cớ gì lại vì thân mà tạo nghiệp. Do nghĩa trên đây nên là chẳng bình đẳng.

Nầy Thiện Nam Tử ! Ý của ông nếu cho rằng ngã là tác giả, thời cũng chẳng đúng. Vì nếu ngã là tác giả, duyên cớ gì ngã lại tự làm ra sự khổ. Nhưng hiện nay chúng sanh thiệt có bị khổ nên biết rằng ngã chẳng phải tác giả.

Nếu ông nói sự khổ nầy chẳng phải ngã làm ra, chẳng do nơi nhơn sanh, thời tất cả pháp cũng phải như vậy, chẳng do nhơn sanh, cớ gì lại nói là ngã làm ra .

Nầy Thiện Nam Tử ! Sự khổ vui của chúng sanh thiệt do nơi nhơn duyên. Sự khổ vui nầy có thể làm chúng sanh lo và mừng. Lúc lo không mừng, lúc mừng không lo, hoặc mừng hoặc lo, người trí đâu nên nói đó là thường trụ.

Nầy Thiện Nam Tử ! Ông nói ngã là thường. Nếu ngã là thường, sao lại nói có mười thời kỳ sai khác. Đã là thường lẽ ra chẳng có thời kỳ đậu thai nhẫn đến thời kỳ già.

Phật pháp thường như hư không còn chẳng có một thời kỳ, huống lại có cả mười thời kỳ !

Nếu ngã chẳng phải là thời kỳ đậu thai nhẫn đến chẳng phải thời kỳ già, sao lại nói có mười thời kỳ sai khác.

Nầy Thiện Nam Tử ! Nếu ngã là tác giả, ngã nầy cũng có lúc thạnh lúc suy, chúng sanh cũng có lúc thạnh lúc suy. Nếu ngã đã như vậy sao lại là thường.

Nầy Thiện Nam Tử ! Nếu ngã là tác giả, sao một người lại có khôn lanh, có đần độn ? Nếu ngã là tác giả, ngã nầy có thể làm ra thân nghiệp và khẩu nghiệp. Thân nghiệp và khẩu nghiệp nếu là ngã làm ra, sao miệng lại nói rằng không có ngã ư ? Sao lại tự nghi có ngã hay không có ngã ?

Nầy Thiện Nam Tử ! Nếu ý ông cho rằng rời ngoài nhãn căn có sự thấy. Lời nầy không đúng, vì nếu ngoài nhãn căn đã riêng có sự thấy thời cần gì đến nhãn căn nầy ? Như nhãn căn, nhĩ căn v.v… cũng như vậy. Nếu ý ông cho rằng dầu ngã có thể thấy nhưng cần phải do nhãn căn mới thấy, nghĩa nầy cũng chẳng đúng. Như có người nói rằng bông Tu mạn na có thể đốt cháy cả thôn xóm lớn, tại sao có thể cháy ? Vì lửa có thể cháy. Ông lập ngã có thể thấy cũng như vậy.

_ Thưa Cù Đàm ! Như người cầm liềm thời có thể cắt cỏ. Ngã nhơn nơi năm căn mà có thể thấy nghe nhẫn đến xúc cũng như vậy.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Liềm cùng người đều khác nhau, nên người cầm liềm thời cắt được cỏ. Rời ngoài năm căn không có ngã riêng khác, sao lại nói rằng ngã nhơn nơi năm căn mà có công năng ?

Nầy Thiện Nam Tử ! nếu ý ông cho rằng vì cầm liềm nên có thể cắt cỏ, ngã cũng như vậy. Như thế thời ngã có tay hay không tay ? Nếu có tay sao ngã chẳng tự cầm ? nếu ngã không có tay sao lại nói rằng ngã là tác giả ?

Nầy Thiện Nam Tử ! Có thể cắt cỏ đó chính là cái liềm, chẳng phải ngã cũng chẳng phải người. Nếu ngã và người có thể cắt cớ sao lại nhơn nơi cái liềm !

Nầy Thiện Nam Tử ! Người có hai tác động : Một là nắm lấy cỏ, hai là cầm cái liềm. Cái liềm nầy thời chỉ có công năng xén cắt,

Chúng sanh ngó thấy các pháp cũng như vậy : Nhãn căn có thể thấy sắc, từ nhơn duyên hòa hiệp mà có ra sự thấy đó. Nếu đã từ nhơn duyên hòa hiệp , người trí sao lại nói là có ngã ?

Nầy Thiện Nam Tử ! Nếu ý ông cho rằng thân làm mà ngã thọ, cũng không đúng nghĩa. Vì trong đời không bao giờ thấy Trời tạo nghiệp mà Phật thọ quả.

Nếu nói rằng chẳng phải là thân làm, ngã chẳng phải thọ, cớ sao các ông lại từ nơi nhơn duyên tu hành để cầu giải thoát ?

Thân nầy của ông trước kia chẳng phải nhơn duyên sanh. Khi được giải thoát rồi cũng lẽ ra không do nhơn duyên mà lại sanh ra thân. Như thân , tất cả phiền não cũng như vậy.

_ Thưa Cù Đàm ! Ngã có hai thứ : Một là hữu tri, hai là vô tri. Ngã vô tri có thể thọ lấy thân, ngã hữu tri có thể rời bỏ thân. Như cái bình đất, khi đã bị nung rồi thời mất màu sắc đất, chẳng còn sanh trở lại, phiền não của người trí cũng như vậy, đã dứt, mất rồi thời trọn chẳng còn sanh.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Ông nói là hữu tri đó, là trí có thể biết hay ngã có thể biết ? Nếu trí có thể biết sao lại nói rằng ngã là hữu tri ? Nếu ngã có thể biết cớ gì phải dùng phương tiện tu hành để cầu có trí ? Nếu ý ông cho rằng ngã nhơn nơi trí mà có biết thời đồng với điều dụ bông đốt cháy trước kia.

Nầy Thiện Nam Tử ! Như cây gai tánh của nó tự có thể đâm, chẳng được nói rằng cây cầm gai để đâm. Trí cũng như vậy : Trí tự có thể hiểu biết. Sao lại nói rằng ngã cầm lấy trí để biết ?

Nầy Thiện Nam Tử ! Như trong pháp của ông nói ngã được giải thoát, là ngã vô tri được giải thoát, hay là ngã hữu tri được ?

Nếu là ngã vô tri được thời phải biết rằng vẫn còn đủ phiền não. Nếu là ngã hữu tri được thời nên biết rằng đã có ngũ căn, vì ngoài ngũ căn không còn có sự biết. Nếu đã đủ ngũ căn thời sao lại nói là được giải thoát ?

Nếu cho rằng tánh của ngã nầy thanh tịnh rời ngoài ngũ căn, sao lại nói rằng ngã khắp trong ngũ đạo, duyên cớ gì tu các pháp lành để được giải thoát ?

Nầy Thiện nam Tử ! Như có người nhổ gai hư không. Ông cũng như vậy : Nếu ngã đã thanh tịnh sao lại nói rằng dứt các phiền não ?

Nếu ý ông cho rằng chẳng do nhơn duyên mà được giải thoát, cớ gì tất cả chúng sanh lại chẳng được ?
NGÃ chấp của chúng sanh rất nặng nề.- Chúng sanh khó có thể xả ly.

Nếu Chấp Ngã thì là chúng sanh vô minh.

Nếu Chấp Vô Ngã thì là Nhị Thừa.

Thật ra Ngã là "Huyễn". Vì là Huyễn nên không thật - không hư. Ví như kính hoa- thủy nguyệt.

Khi nào chúng sanh ly Huyễn thì chỉ còn Chân Như Bất động.
 

Vo Minh

Active Member
Thành viên vinh dự
Tham gia ngày
27 Tháng 12 2017
Bài viết
414
Reaction score
226
Điểm
43
Đức Phật không xác nhận, cũng như không phủ nhận Đức Phật CÓ NGÃ hay KHÔNG CÓ NGÃ.

* Tranh biện (tt).

+ Huyễn Ngã.


Kinh văn: Lại có Phạm Chí Tiên Ni hỏi Phật : Thưa Cù Đàm ! Cù Đàm có ngã không ?

Đức Như Lai nín lặng.

Tiên Ni lại hỏi : Thưa Cù Đàm ! Cù Đàm không có ngã ư ?

Đức Như Lai cũng nín lặng.

Tiên Ni hỏi luôn mấy lần như vậy, đức Phật đều nín lặng.




NGÃ chấp của chúng sanh rất nặng nề.- Chúng sanh khó có thể xả ly.

Nếu Chấp Ngã thì là chúng sanh vô minh.

Nếu Chấp Vô Ngã thì là Nhị Thừa.

Thật ra Ngã là "Huyễn". Vì là Huyễn nên không thật - không hư. Ví như kính hoa- thủy nguyệt.

Khi nào chúng sanh ly Huyễn thì chỉ còn Chân Như Bất động.
Thầy Viên Quang kính,

Đức Phật im lặng khi được hỏi:

Đức Phật CÓ NGÃ hay KHÔNG CÓ NGÃ?

Như vậy:

Đức Phật không xác nhận, cũng như không phủ nhận Đức Phật CÓ NGÃ hay KHÔNG CÓ NGÃ.

Đức Phật đã không xác nhận, cũng như không phủ nhận Đức Phật CÓ NGÃ hay KHÔNG CÓ NGÃ thì:

Tại sao chúng ta không những CHẤP chúng ta CÓ NGÃ, mà lại còn CHẤP chúng ta CÓ VÔ NGÃ???

Kính mong thầy Viên Quang có thể làm rõ thêm vạn vật CÓ NGÃ hay KHÔNG CÓ NGÃ?

NGÃ luôn là một vấn đề làm cho chúng ta không thể giác ngộ.

Xin thành thật cám ơn.
 

Hoa Vô Tướng

Active Member
Thành viên vinh dự
Tham gia ngày
9 Tháng 4 2018
Bài viết
316
Reaction score
125
Điểm
43
Chào bạn hiền!

Bạn nói "chúng ta" thì đã mặc nhiên công nhận cái sẵn sàng!

Nói có thì ngoài sẵn sàng lại thêm? Nói không thì thành phỉ báng!

Trong kinh Lăng Nghiêm có đoạn: Văn Thù con chẳng có nghĩa là Văn Thù hay chẳng Phải Văn Thù!

Bởi sẵn sàng nên không có lý gì chấp có. Chấp không!
 

khuclunglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
26 Tháng 12 2017
Bài viết
2,872
Reaction score
568
Điểm
113
kính bạn Hiền VM một ly trà [smile]:

[nếu KLL có nói gì sai với Phật lý . vẫn kính xin thày VQ tận tình chỉ dạy ... KLL nguyện học hỏi theo ]

câu hỏi của bạn hay quá ... cho xin luôn ... [smile]

một đời tôi đi tìm tôi .. 1 đời tôi đi tìm em ... tìm đâu thấy .. chỉ thấy hư vô cuồng si - Nhật Trung

- phải có những lần nhìn thấy mình có đau khổ .. rùi lại nhìn thấy mình thoát được đau khổ .. rùi tự nhìn thấy mình: DỤNG TÂM thoát khỏi đau khổ --> NGÃ --> THƯỜNG LẠC TỊNH ..

và cái dụng tâm linh lợi đối với KHỔ như vậy ... thì mới dần dần hiểu được chân nghĩa của TAM TỰ QUY

thiên khai bổn tánh --> phương thức chân

cửu giới --> TAM QUY --> thủy tự tân (1)

thoát khước du mao --> QUY --> cực lạc (2)

phản bổn hoàn nguyên .. hiện bản tôn


vì vậy ... chư Phật ba thời cũng làm vậy thôi:

nhược nhân dục --> LIỄU TRI [biết xa ... smile]

tam thế --> NHỨT THIẾT Phật

ưng --> quán --> pháp, giới tánh

---> NHỨT THIẾT duy tâm tạo



(1) người ta kể rằng có 1 vị vua Việt Nam chúng ta tự hỏi: Nước dơ lấy gì mà rửa

thì câu trả lời .. "thủy tự tân" này thiệt là có ý nghĩa quá ... chính vì BIẾT QUY "NGÃ PHẬT" mà người ta lại được bình yên, dòng sông lại mới mẻ .. vì NGÃ PHẬT = có LẠC và TỊNH mà [smile]


(2) người ta cũng lại nói: Cõi Cực Lạc .. là cõi không có ưu phiền .. bởi vì người QUY VỀ CÕI CỰC LẠC ... bản thân của họ --> biết tự xa lánh ưu phiền

1 cảnh giới của TÂM tạo ra ... [smile]

--> chắc chắn phải nói là --> có lẽ là vậy ---> .. để mà .... luôn được an vui [smile]

KLL
 

Vo Minh

Active Member
Thành viên vinh dự
Tham gia ngày
27 Tháng 12 2017
Bài viết
414
Reaction score
226
Điểm
43
Tại sao chúng ta là PHẬT TỬ không thể IM LẶNG như Đức Phật?????

* Tranh biện (tt).

+ Huyễn Ngã.


Kinh văn: Lại có Phạm Chí Tiên Ni hỏi Phật : Thưa Cù Đàm ! Cù Đàm có ngã không ?

Đức Như Lai nín lặng.

Tiên Ni lại hỏi : Thưa Cù Đàm ! Cù Đàm không có ngã ư ?

Đức Như Lai cũng nín lặng.

Tiên Ni hỏi luôn mấy lần như vậy, đức Phật đều nín lặng.




NGÃ chấp của chúng sanh rất nặng nề.- Chúng sanh khó có thể xả ly.

Nếu Chấp Ngã thì là chúng sanh vô minh.

Nếu Chấp Vô Ngã thì là Nhị Thừa.

Thật ra Ngã là "Huyễn". Vì là Huyễn nên không thật - không hư. Ví như kính hoa- thủy nguyệt.

Khi nào chúng sanh ly Huyễn thì chỉ còn Chân Như Bất động.
Thầy Viên Quang kính,

Đức Phật im lặng khi được hỏi:

Đức Phật CÓ NGÃ hay KHÔNG CÓ NGÃ?

Như vậy:

Đức Phật không xác nhận, cũng như không phủ nhận Đức Phật CÓ NGÃ hay KHÔNG CÓ NGÃ.

Đức Phật đã không xác nhận, cũng như không phủ nhận Đức Phật CÓ NGÃ hay KHÔNG CÓ NGÃ thì:

Tại sao chúng ta không những CHẤP chúng ta CÓ NGÃ, mà lại còn CHẤP chúng ta CÓ VÔ NGÃ???

Kính mong thầy Viên Quang có thể làm rõ thêm vạn vật CÓ NGÃ hay KHÔNG CÓ NGÃ?

NGÃ luôn là một vấn đề làm cho chúng ta không thể giác ngộ.

Xin thành thật cám ơn.
Rõ ràng Đức Phật không xác nhận, cũng như không phủ nhận Đức Phật CÓ NGÃ hay KHÔNG CÓ NGÃ.

Như vậy:
Chúng ta là GÌ?????
Dựa vào NGÃ, hay VÔ NGÃ mà giải thích NGÃ, VÔ NGÃ là GÌ??????


Có phải rõ ràng chúng ta là NGOẠI ĐẠO như là Phạm Chí Tiên Ni giải thích NGÃ, VÔ NGÃ?????
_ Thưa Cù Đàm! Chẳng những là tôi nói, mà tất cả người trí cũng nói như vậy.????




Tại sao chúng ta là PHẬT TỬ không thể IM LẶNG?????

Rõ ràng IM LẶNG là NHƯ THỊ, là CHÂN NHƯ BẤT ĐỘNG mới THẬT SỰ chính là chúng ta, là Đức Phật.

Nói một cách khác:
IM LẶNG là câu trả lời cho tất cả chúng ta về Phật Pháp.

NIÊM HOA VI TIẾU mới là GIÁO LÝ TỐI THƯỢNG của Đức Phật cho chúng ta thiền quán.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,369
Reaction score
1,699
Điểm
113
+ Ngã & Vô Ngã.

Thầy Viên Quang kính,

Đức Phật im lặng khi được hỏi:

Đức Phật CÓ NGÃ hay KHÔNG CÓ NGÃ?

Như vậy:

Đức Phật không xác nhận, cũng như không phủ nhận Đức Phật CÓ NGÃ hay KHÔNG CÓ NGÃ.

Đức Phật đã không xác nhận, cũng như không phủ nhận Đức Phật CÓ NGÃ hay KHÔNG CÓ NGÃ thì:

Tại sao chúng ta không những CHẤP chúng ta CÓ NGÃ, mà lại còn CHẤP chúng ta CÓ VÔ NGÃ???

Kính mong thầy Viên Quang có thể làm rõ thêm vạn vật CÓ NGÃ hay KHÔNG CÓ NGÃ?

NGÃ luôn là một vấn đề làm cho chúng ta không thể giác ngộ.

Xin thành thật cám ơn.
Đầu năm kính chúc ĐH Vo Minh và Quý ĐH trên điễn đàn vô lượng an lạc.

Vâng ! Vấn đề ĐH nêu ra rất hay. Nhân mấy ngày đầu xuân này, chúng cùng thảo luận thay cho chén trà ngày tết nhé.

Kính thưa các Bạn:

"TẤT CẢ PHÁP VÔ NGÃ" đã được đức Thế Tôn khẳng định trong các kinh thời kỳ đầu khi chuyển Pháp Luân.

Pháp VÔ NGÃ được Đức Phật giảng dạy qua Giáo lý DUYÊN KHỞI.

Theo Kinh Tương Ưng Nhân Duyên (Tương Ưng Bộ Kinh II), Thế Tôn Tỳ-bà-thi (Vipassi), sáu Thế Tôn tiếp theo Thế Tôn Tỳ-bà-thi trong quá khứ, Thế Tôn Thích-ca-mâu-ni và cả chư Thế Tôn trong vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ-đề từ giáo lý Duyên khởi.

Tại sao giác ngộ Duyên khởi là giác ngộ tối thượng ?

Vì Duyên khởi nói lên thực tính của các pháp. Thực tính ấy là Duyên sinh tính hay Vô ngã tính.

Trung Bộ Kinh I, số 28; Tương Ưng III, tr. 144 và Tiểu Bộ I, tr. 48, chép lời Thế Tôn: "Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp. Ai thấy Pháp là thấy Phật (Ta)." Thấy Phật quả là sự giác ngộ tối thượng.

Thế nhưng.- Tại sao vấn đề NGÃ & VÔ NGÃ lại được Thế Tôn im lặng khi được hỏi ?

Vấn đề này chúng ta sẽ từ từ thảo luận sau khi đã thảo luận:

NGÃ là Gì ?

VÔ NGÃ là gì ?

Kính mời các Bạn...


 

Kim Cang Thoi Luan

Thành viên vinh dự
Thành viên BQT
Tham gia ngày
13 Tháng 8 2018
Bài viết
498
Reaction score
119
Điểm
43
+ Ngã & Vô Ngã.



Đầu năm kính chúc ĐH Vo Minh và Quý ĐH trên điễn đàn vô lượng an lạc.

Vâng ! Vấn đề ĐH nêu ra rất hay. Nhân mấy ngày đầu xuân này, chúng cùng thảo luận thay cho chén trà ngày tết nhé.

Kính thưa các Bạn:

"TẤT CẢ PHÁP VÔ NGÃ" đã được đức Thế Tôn khẳng định trong các kinh thời kỳ đầu khi chuyển Pháp Luân.

Pháp VÔ NGÃ được Đức Phật giảng dạy qua Giáo lý DUYÊN KHỞI.

Theo Kinh Tương Ưng Nhân Duyên (Tương Ưng Bộ Kinh II), Thế Tôn Tỳ-bà-thi (Vipassi), sáu Thế Tôn tiếp theo Thế Tôn Tỳ-bà-thi trong quá khứ, Thế Tôn Thích-ca-mâu-ni và cả chư Thế Tôn trong vị lai đều chứng ngộ Vô Thượng Bồ-đề từ giáo lý Duyên khởi.

Tại sao giác ngộ Duyên khởi là giác ngộ tối thượng ?

Vì Duyên khởi nói lên thực tính của các pháp. Thực tính ấy là Duyên sinh tính hay Vô ngã tính.

Trung Bộ Kinh I, số 28; Tương Ưng III, tr. 144 và Tiểu Bộ I, tr. 48, chép lời Thế Tôn: "Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp. Ai thấy Pháp là thấy Phật (Ta)." Thấy Phật quả là sự giác ngộ tối thượng.

Thế nhưng.- Tại sao vấn đề NGÃ & VÔ NGÃ lại được Thế Tôn im lặng khi được hỏi ?

Vấn đề này chúng ta sẽ từ từ thảo luận sau khi đã thảo luận:

NGÃ là Gì ?

VÔ NGÃ là gì ?

Kính mời các Bạn...


Chào quý Ngài, Ngã thật ra chỉ thành lập do Ngũ Uẩn (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Suy tìm tất cả chẳng có pháp nào thật, khi đi ngủ ý thức thô cũng ngừng hoạt động, chỉ có thức vi tế hoạt động. Đại Thừa Phật pháp, thâm sâu quảng đại, như Ngài Vô Trước trong Đại Thừa Trang Nghiêm Kinh Luận nói rằng: Ý kinh Đại thừa ngoài ngôn ngữ. Ngoài ngôn ngữ không phải là bỏ ngôn ngữ, dùng nó nhưng quý vị cần phải lìa tướng nó. Như ngài Long Thọ nói: Chưa từng có, một pháp không từ nhân duyên sinh. Nghĩa có thể hiểu rằng: Quả vị Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (Phật quả cứu cánh), không phải tự nhiên mà có, cũng không phải sẵn, không phải là không có nguyên nhân.
-Bởi vậy tất cả các pháp đều có nhân của nó, nếu nói nhân có trước hay quả có trước! Vì có quả nên biết rằng có nguyên nhân của nó. Nếu không có quả thì nói không thể có nhân. Do đó ngài Thánh Thiên trong Tứ Bách Kệ Tụng nói: "Tất cả là quả sinh .Do đó tánh vô thường." Quả là những thứ ta có thể thấy, cảm nhận ngay trước mắt.
-Cùng một chữ Vô Thường giảng ý nghĩa Pali văn và Bắc Phạn văn (sanskrit) ý nghĩa có thâm sâu, quảng đại khác nhau về ý nghĩa.
-Vô thường trong Đại Thừa cũng chẳng phải là trong Thường-Vô Thường, chẳng phải thường, chẳng phải vô thường. (Tất cả câu trên chỉ là hý luận). Mình thấy các pháp vô thường nên sinh tâm sinh diệt, cái này người thế gian cũng thấy được.
-Cùng một ý nghĩa Tứ Diệu Đế nhưng Đại thừa giảng quá thâm sâu, không cạn như Tiểu Thừa. Trong Tiểu Thừa họ chỉ chú trọng giảng Nhân Vô Ngã (không có cơ sở của các uẩn thành lập cái ta), trong Đại thừa lại mở rộng giảng Pháp Vô Ngã (các pháp cũng không thành lập có ngã).
-Tiểu thừa học Vi Diệu Pháp cũng tương tự chúng ta học A Tỳ Đạt Ma, tiểu thừa cho rằng vạn vật từ vi trần khởi, vi trần mà họ nói chính là lân hư trần, cái trần này nó cũng giống như hư không cho nên nó không hình tướng. Cho nên Tiểu Thừa 2 phái lớn là Kinh Lượng Bộ (chỉ y theo kinh) và Nhất Thiết Hữu Bộ (tất cả pháp có). Bởi vậy, Theravada (nguyên thủy, tiểu thừa) học vi diệu pháp. Chính vì vậy, quý Ngài sẽ giảng có Niết Bàn, có nghiệp chướng, có luân hồi v.v.. tuy là đúng chân lý, nhưng nó không phải là chân lý tuyệt đối. Bởi vậy, ngài Long Thọ nói rằng: Chúng ta chẳng từ lân hư trần, chẳng phải thời sinh, chẳng phải do hòa hợp, v.v.. mà là duyên sinh.
-Sự ra đời của Ngài Long Thọ đã phê bình cách nhìn của 2 tông lớn là Hữu Bộ Tông và Kinh Bộ Tông, Độc Tử Bộ v.v...Tiếp đó là những vị như ngài Vô Trước, ngài Thiên Thân, ngài Trần Na, ngài Pháp Xứng đề xướng Vô Ngã theo Duy Thức nhưng lại chấp có thức A Lại Da, cho nên ngài Long Thọ trong Thất Thập Không Tánh Luận nói rằng: Thức do sở thức sinh, cho nên thức chẳng có. Không có, không có nghĩa là đoạn diệt các pháp, mà thực sự truy tìm cũng không có thức (có tâm), cho nên trong Bát Nhã Tâm Kinh ngài Quán Thế Âm nói: Không có ý thức, ngài cũng bác bỏ luôn không có pháp giới, tiếp đó là ngài Thánh Thiên, ngài Phật Hộ, ngài Nguyệt Xứng phục hồi ý nghĩa thực sự của Phật.
-Trong Bát Thiên Tụng Bát Nhã chính ngài Vô Trước cũng đọc không hiểu, nên nhờ ngài Di Lặc giảng, và ngài Di Lặc giảng Hiện Quán Trang Nghiêm Luận tác phẩm này cũng không nhắc đến Như Lai Tạng , hay thức, đây thực sự là ý nghĩa Trung Quán (lìa hai biên có-không, ở giữa).
Muốn hiểu lời Phật, phải chấp nhận bỏ cái ngã này xuống, nếu bất kỳ ai giảng nói hợp lý mình phải nghe. Không thể nói, tôi chỉ theo pháp này, tông này. Khi đức Phật còn tại thế thực chất không tông phái, sau khi Phật Niết Bàn, chư tổ vì lòng bi mẫn mà chia ra cho hàng hậu học dễ học mà thôi.
A Di Đà Phật.
 

Hoa Vô Tướng

Active Member
Thành viên vinh dự
Tham gia ngày
9 Tháng 4 2018
Bài viết
316
Reaction score
125
Điểm
43
Ha ha...

Chào thầy Viên Quang!

Trong cái tưởng chấp ngã chỉ là cái tưởng chấp ngã. Trong cái tưởng chấp vô ngã chỉ là cái tưởng chấp vô ngã.

Thức lậu nếu không rỉ chảy. Xưa nay một vầng trăng!
 

Ba Tuần

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
28 Tháng 7 2016
Bài viết
1,529
Reaction score
485
Điểm
83
Kính quý đạo hữu,

Thể của vạn pháp là Giác, Tánh của vạn pháp là Không.

Khi một niệm chấp bỗng khởi thì ở nơi Thể Tánh nhất như bèn sinh phân biệt vạn pháp nơi thể tánh, cùng thể tánh.

Sự bỗng khởi này chẳng có nguồn gốc nên gọi là vọng.

Cho nên từ Tứ Đế cho tới Bát Nhã đều lấy Xả làm chánh hạnh.

Xả ngã, xả vô ngã, xả không, ngay cái tâm xả cũng xả nữa thì ấy mới là cứu cánh của sự giải thoát. Như thế mới chẳng mê lại được nữa.

**********************************



VQ kính ngài 1 chén trà.


 

khuclunglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
26 Tháng 12 2017
Bài viết
2,872
Reaction score
568
Điểm
113
kính bạn HVT và mọi người một ly trà [smile]:

năm mới năm me
bánh mứt đầy mè
im re mà hết
tết giấu trong nhà
--> mình ta tận hưởng [smile]

nói chơi thôi ... chứ thiệt ra ... phương pháp mà KLL hiểu được NGÃ và VÔ NGÃ cũng có nét giống như là bạn HVT vậy ... đó là DÙNG Ý NHÌN VÀO TÂM như là những VẬT LIỆU ĐÃ CÓ SẴN .. và có thể làm được gì ? [smile]

Ở đây: chúng ta tạm đặt

1. NGÃ = SẢN PHẨM của TÂM ... và VÔ NGÃ = tức là khi cái SẢN PHẨM của TÂM đó ... không còn đặc tính thực dụng, lợi ích trong 1 lúc, 1 không gian ...

2. TÂM = SẮC, THỌ TƯỞNG HÀNH THỨC ... là tổ hợp những vật liệu ở đơn vị có đặc tính nếu kết hợp lại thì làm thành --> 1 NGÃ [smile]

3. và cái Ý của người đứng trước mớ vật liệu đó ... thì sẽ là gì ? ... và đương nhiên ý là gì .. thì người ta làm vậy ?

tuy nhiên ... cũng phải nói trước là QUY TRÌNH TÂM KHỞI --> LẬP NGÃ --> xảy ra rất là lẹ ... nếu không để ý tới ... thì sẽ không biết ... nó thiệt xảy ra lẹ như vậy ...[smile]


Thí Dụ: KLL có 1 người bạn thân là A ... anh A và anh B lúc trước có xảy ra một chuyện bất hòa .. không được vui... nhà của Anh B ở NGÕ C ..... nên khi hôm qua tới nhà Anh A tặng quà Tết nhưng trước đó vì có chuyện cũng tình cờ đi qua NGÕ C ...

nên mới nói với ANH A ... là lúc nãy ..... "KLL trước khi đi tới đây ... đi qua NGÕ C thấy cái này cái này ... cái này ... "

- thế là tự dưng thấy mặt hai vợ chồng ANH B buồn ngay [smile]


TƯỞNG THỌ ở đây là những biến cố đã xảy ra ở quả KHỨ

NGÕ C ..... cũng dính liền với THỌ và TƯỞNG cũng với ANH B đó ..

cho nên .. chỉ cần nhắc tới NGÕ C -->

thì lập tức CON NGƯỜI CŨ: A và B đồng xuất hiện



cho nên chúng ta có thể rút ra 1 kết luận: NGÃ LẬP bởi vì CÓ Ý = đứng trước một số vật liệu ... mà nhiều khi người ta không hiểu rõ ... VẬT LIỆU BAO GỒM GÌ .. ngay tại thời điểm này chúng là gì ... mà có nhiều khi: NGÃ LẬP THEO SỰ NGHĨ NHỚ --> dẫn tới BIẾN CỐ ANH B và ANH C có xích mích bất hòa không vui trong quá khứ luôn ...


cho nên ... nói là: TƯỞNG tức là TƯỞNG ... THỌ tức là THỌ ... tức là cái Ý = của người đứng trước TƯỞNG và THỌ đó --> đã có thể duy trì được vị trí "TỰ CHỦ, TỰ DO, ĐỘC LẬP" ... với lại những thọ và tưởng đó ...

Ý dẫn đầu các "VẬT LIỆU" và CÁC PHÁP

Ý TẠO TÁC --> làm chủ

nếu với Ý thanh tịnh

--> AN LẠC bước theo sau


cho nên ... nếu đã với Ý THANH TỊNH rồi ... thì đứng trước TIN TỨC là KLL đi qua NGÕ C ... mắc mớ gì tới ANH B ... trong khi đó .. có bạn tới nhà chơi sao ngày tết .. sao lại chẳng vui ? [smile] (1)

--> NHÂN SINH --> đắc Ý .. tu tận hoan ...


cho nên KLL có lẽ rất là tâm đắc với hai câu thơ trong bài Thương Tiến Tửu của Lý Bạch

nhân sinh ĐẮC Ý .... tu tận hoan

mạc sử kim tôn ... không đối nguyệt

ờ mà đúng không ?

KLL

(1) NGÕ C -> trong trí nhớ ... dính liềnh với ANH B .. nhưng NGÕ C .. tự nó cũng là 1 vật liệu độc lập .. ở NGÕ C cũng thiếu gì thứ vui ...

cho nên ... nhiều khi ... tại vì NHANH TỚI "NGÃ LẬP" là ANH B quá ... NHƯ CÓ CON ĐƯỜNG SẴN RÙI --> TRẠCH mà

mà không biết được ... có nhiều CƠ HỘI KHÁC .. NHIỀU THỨ KHÁC cũng khởi lên từ NGÕ C .. và cũng rất là AN VUI ... có lẽ vì vậy mà PHI TRẠCH .. cũng là 1 phần của VÔ VI [smile]
 
Top