Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 24. Ca Diếp Bồ Tát

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
* A la Hán.(tt)

+ 2 loại sanh tử. và 7 loại sanh tử.

THẤT CHỦNG SANH TỬ

Sự luân chuyển sanh tử của chúng sanh, trong ba cõi có thể phân biệt làm hai phần: Phần đoạn sanh tử và Biến dịch sanh tử. Các bộ luận đều dựa vào hai phần này mà lập ra bảy thuyết sanh tử bao gồm:

Phần đoạn sanh tử: Là sự luân chuyển theo nghiệp báo trong ba cõi dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Dù chúng sanh trong ba cõi có thọ mạng dài ngắn, thân thể có nhỏ lớn khác nhau, tất cả đều chẳng thoát khỏi sự luân chuyển sanh tử, do lực cuốn hút của nghiệp báo dẫn dắt.

Lưu nhập sanh tử: Là ban đầu do vô minh, tâm thức quên chân theo vọng, khiến chúng sanh nhập vào vòng sanh tử.

Phản xuất sanh tử: Tức ra khỏi vòng luân chuyển sanh tử, khi đã tu hành tâm thức tỉnh giác, buông vọng về chân, là chỉ cho các bậc A La Hán và hàng Bồ Tát trong quá trình tu tập trừ phiền não mê hoặc, được chứng quả dần từ thấp đến cao, tạo ra sự dời đổi sanh tử theo ba luật nhân dời thời quả đổi.

Phương tiện sanh tử: Là chỉ cho hàng Bồ Tát đã đoạn trừ hết lậu hoặc phiền não và đã lìa sanh tử trong ba cõi, vì phương tiện giáo hóa cho chúng sanh, nên sanh lại trong ba cõi dục giới, sắc giới, vô sắc giới để độ chúng sanh.

Nhân duyên sanh tử: Là chỉ cho các hàng Bồ Tát từ sơ địa đến cửu địa, còn phải lưu chuyển để tu tập. Lấy lý bất khả tư nghì làm nhân và trí chân thực vô lậu (không còn phiền não rỉ chảy) có công năng quán soi làm duyên để phá trừ hoàn toàn vô minh hoặc (sự che lấp mê mờ của vô minh) hơn nữa Bồ Tát nhân hóa độ chúng sanh mà thị hiện luân chuyển trong ba cõi.

Hữu lậu sanh tử: Là chỉ cho giai vị Bồ Tát pháp vân địa (hàng Bồ Tát ở địa vị thứ mười trong Thập địa) do còn một chút vô minh hoặc sau chưa đoạn trừ, cần phải có một lần biến dịch sanh tử sau cùng để đoạn trừ.

Vô lậu sanh tử: Là chỉ cho các vị Bồ Tát Đẳng Giác, đã phá sạch hết vô minh phiền não và vào quả vị Diệu Giác không còn thọ thân sau nữa (?)

(Theo PHDS của Như Thọ - Nguyên Liên)

Vị A la Hán, do dứt nghiệp hữu lậu không còn ngã chấp nên dứt được:

1. Phần đoạn sanh tử.
2. Lưu nhập sanh tử
3. Hữu lậu sanh tử

Nhưng vẫn có các loại sanh tử:

1. Phản xuất sanh tử
2. Phương tiện sanh tử
3. Nhân duyên sanh tử
4. Vô lậu sanh tử.

Ngài Huyền giác từng nói:

Kỷ hồi tử, kỷ hồi sinh

Sinh tử du du vô định chi!

Ngã sư đắc kiến nhiên đăng Phật

Đa kiếp tằng vi nhẫn nhục tiên


Dịch nghĩa:

Việc sinh tử kể sao cùng số…

Tử rồi sinh, sinh tử lững lờ trôi

Bổn sư ta vô lượng kiếp phát tâm lành

Làm tiên nhẫn nhục, tu hành từ thời

NHIÊN ĐĂNG cổ Phật.

Nếu tu hành thành A la Hán rồi, mà không còn sanh không còn tử, Vậy là Đoạn kiến ư ? là hư vô ư ?

Đức Phật không dạy Đoạn kiến, mà dạy Pháp Thân thường trụ.- Đây là Ý SANH THÂN

Nếu A la Hán hoàn toàn không Sanh tử vậy đức Phật khi thị hiện tái sanh làm thái tử Tất Đạt Đa, lúc trước ngài chưa chứng A la Hán ư ?

Nếu đã chứng thì không tái sanh thành Thái tử.

Hiển nhiên A la Hán đã tái sanh thị hiện rồi thành Phật, rõ ràng A la Hán vẫn dùng Ý SANH THÂN để tịnh hóa thành Phật.

Và Thành Phật cũng không là hư vô đoạn diệt. Vì Pháp Thân Phật là Chân Như bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh, bất tăng, bất giảm, bất khứ, bất lai, thường trụ trong 10 phương 3 đời.

Phẩm Tu Di Đảnh.- Kinh hoa Nghiêm dạy:

Quan-sát nơi các pháp

Đều không có tự-tánh

Tướng nó, vốn sanh-diệt

Chỉ là danh thuyết giả.

Tất cả pháp vô-sanh

Tất cả pháp vô-diệt

Nếu hiểu được như vậy

Chư Phật thường hiện tiền.

Pháp-tánh vốn không tịch

Vô-thủ, cũng vô-kiến

Tánh không, tức là Phật

Chẳng thể nghĩ lường được.

Nếu biết tất cả pháp

Thể tánh đều như vậy

Người này thời chẳng bị

Phiền-não làm nhiễm trước.

Phàm phu thấy các pháp

Chỉ chuyển theo tướng giả

Chẳng rõ pháp vô-tướng

Do đây chẳng thấy Phật.

Đức Phật lìa ba thời

Các tướng đều đầy đủ

Trụ nơi vô-sở-trụ

Cùng khắp mà bất-động.

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
* A la Hán.(tt)

+ Dứt nhân duyên sanh tử.

Kinh văn: Nầy Thiện Nam Tử ! Bực A La Hán dứt hẳn nhơn duyên sanh tử ba đời, nên tự nói tôi đã hết sanh tử.
Nhân duyên sanh tử chính là VÔ MINH. (Pháp 12 Nhân Duyên đã chỉ Vô minh dẫn đến Sanh tử). Những gì là Vô Minh ? Đó là:

+ 10 Triền (trói buộc):

- Sân Khuể, tức lòng sân hận rất nặng.

- Phú: Ẩn giấu tội lỗi của chính mình.

- Thùy và Miên, ngủ nghê quá nhiều, thường ngủ gà, ngủ gật.

- Hý: Đùa bỡn.

- Trạo Cử (Điệu Cử): Trong tâm bất ổn, chẳng định được. Đây quả thật là chuyện rất khổ sở, chướng ngại tu hành.

- Xan Lận (keo kiệt): Tuy kẻ ấy chẳng có tâm tham, nhưng đối với những gì mà chính mình có sẽ chẳng nỡ đem cho người khác.

- Tật Đố (ghen ghét).

- Vô Tàm (chẳng thẹn thùng).

- Vô Quý (chẳng xấu hổ).

Hợp những điều này lại thành Thập Triền.

+ 10 Sử (sai sử, làm cho không được tự ý):

Thập Sử là Kiến Tư phiền não, gồm năm Lợi Sử và năm Độn Sử. Năm Lợi Sử là Thân Kiến, Biên Kiến, Kiến Thủ Kiến, Giới Thủ Kiến, và Tà Kiến, năm thứ kiến giải sai lầm ấy. Năm Độn Sử là tham, sân, si, mạn, nghi. Nghi là hoài nghi Thánh giáo.

Người tu hành khi đoạn dứt được 20 món trên.- Gọi là hết Vô minh. Hết Vô minh thì hết Sanh lão tử ưu bi khổ não.- Nên kinh nói: Bực A La Hán dứt hẳn nhơn duyên sanh tử ba đời, nên tự nói tôi đã hết sanh tử.- Dứt Sanh tử ở đây chính là dứt:

1. Phần đoạn sanh tử.
2. Lưu nhập sanh tử
3. Hữu lậu sanh tử.

3 loại Sanh tử này lấy Vô Minh làm năng lượng.

Nhưng Vô minh Thật Tánh là Phật Tánh. Nên KHÔNG CÓ VÔ MINH CŨNG KHÔNG CÓ LÚC HẾT VÔ MINH (Kinh Bát Nhã). Mà Vô minh khi đã "Tịnh hóa" thì trở thành "Trí Tuệ".

Bậc A la Hán và Phật:

+ Thân tùy trí tuệ hành

+ Khẩu tùy trí tuệ hành

+ Ý tùy trí tuệ hành.

(Đây là 18 Bất Cộng Pháp)

Do vậy Sanh tử của các Bậc này có 4 loại:

1. Phản xuất sanh tử
2. Phương tiện sanh tử
3. Nhân duyên sanh tử
4. Vô lậu sanh tử.

4 Loại Sanh tử này tùy thuận Chân như nên Sanh mà Vô Sanh, lão tử mà không có ưu bi khổ não.

Kinh Bát Nhã nói: VÔ LÃO TỬ DIỆC VÔ LÃO TỬ TẬN. (thật không có lão tử, cũng không có lúc chấn dứt lão tử.)


 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
* A la Hán.(tt)

+ Tận Trí và Vô Sanh Trí.

Kinh văn: Vì được tận trí và vô sanh trí nên nói rằng tôi đã hết sanh tử, dứt hết kiết sử hữu lậu. Do nghĩa nầy nên gọi bực A La Hán đặng đến bờ kia.

Như A La Hán, bực Bích Chi Phật cũng lại như vậy.
+ Công dụng của Trí.

Luận Câu Xá. PHẨM PHÂN BIỆT TRÍ, nói về TRÍ như sau:

Phẩm Hiền Thánh đã nói rõ quả vị vô lậu, giác ngộ. Còn nhân duyên vô lậu dẫn đến kết quả đó chính là trí tuệ và thiền định. Trí tuệ là thân nhân, thiền định là sơ duyên, ...

Tuy nhiên trí và tuệ cũng cùng một thể, nên có khi nói trí, có khi nói tuệ mà nghĩa cũng như nhau.

Chẳng những thế, trí hoặc tụê còn được gọi bằng nhiều tên tùy theo tác dụng đặc thù của nó như quán, nhẫn, kiến, quang, minh, giác, phương tiện v.v... cho đến chánh kiến, chánh tư duy, trạch pháp v.v... trong 37 đạo phẩm. Tu hành cố nhiên cần có trí tuệ mới khỏi bị lạc đường mà giác ngộ cũng cần có trí tuệ mới rốt ráo viên mãn. Kinh A-hàm nói: "Minh (trí) vi nhất thiết thiện pháp chi căn bản".
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
+ Tận Trí và Vô Sanh Trí. * A la Hán.(tt)

+ Trí tuệ gồm có hai loại: Trí hữu lậu và vô lậu.

- Trí hữu lậu là trí còn mang tính chất phiền não hữu lậu xấu xa, không có khả năng dứt các phiền não (hoặc) mê lý mà chỉ là thứ trí tuệ phổ thông biết đến những cảnh vật thế tục như bình, áo, núi, sông và nó còn bị đối trị, nên cũng gọi là trí thế tục.

- Trái lại trí vô lậu là trí tuệ thanh tịnh, không nhơ bẩn ngoài mọi thứ phiền não xấu xa. Nó gồm hai thứ là pháp trí và loại trí. Pháp trí là trí biết rõ trực tiếp chân lý của các pháp Tứ đế và có khả năng dứt sạch mọi phiền não do mê lý Tứ đế ngay ở cõi Dục khởi lên......

- Nó gồm hai thứ là pháp trí và loại trí. Pháp trí là trí biết rõ trực tiếp chân lý của các pháp Tứ đế và có khả năng dứt sạch mọi phiền não do mê lý Tứ đế ngay ở cõi Dục khởi lên.

- Loại trí là trí cùng loại tương tợ với Pháp trí, có khả năng biết lý Tứ đế của hai cõi trên ngang qua lý Tứ đế của cõi Dục, hoặc nói cách khác là biết lý Tứ đế của hai cõi trên theo cách loại suy với trí biết lý Tứ đế của cõi Dục, do đó có khả năng dứt mọi phiền não do mê lý Tứ đế của hai cõi trên khởi lên.

- Từ Pháp trí và Loại trí lại cùng hai trí trong hai cách quán lý Tứ đế, và quán mỗi đế thì thành mỗi trí nên phát sinh ra 4 trí nữa là Khổ trí, Tập trí, Diệt trí, và Đạo trí chúng có khả năng dứt sạch mọi phiền não do mê lý Tứ đế khởi lên.

- Từ sáu trí là Pháp, Loại, Khổ, Tập, Diệt, Đạo thuộc Hữu học vị trên đây tiến lên tại Vô học vị phát khởi hai trí là Tận trí và Vô sanh trí.

+ Bậc Thánh giả vô học tự biết rằng: ta đã biết Khổ, ta đã dứt Tập, ta đã chứng Diệt, ta đã tu Đạo(ngã dĩ tri Khổ, ngã dĩ đoạn Tập, ngã dĩ chứng Diệt, ngã dĩ tu Đạo), đó gọi là Tận trí, tức là trí biết rõ hành tướng cùng tận về Tứ đế. Nói cách khác, ngay trong khi dứt hết tư hoặc phẩm thứ chín của cõi Hữu đảnh (chót cõi trời Vô sắc) thì tất cả mọi phiền não của ba cõi đều tiêu sạch, bước lên địa vị Vô học, và phát khởi sáu trí Pháp, Loại, Khổ, Tập, Diệt, Đạo, đấy gọi là Tận trí.

+ Vô sanh trí là đối với tác dụng biết, dứt, chứng, tu, thành được phi trạch diệt. Gọi là vô sanh. Trí quán thấy được lý vô sanh đó, gọi là vô sanh trí. Nói cách khác, bậc Thánh vô học sau khi đã biết: ta đã biết Khổ, dứt Tập, chứng Diệt, tu Đạo; bây giờ còn biết thêm: ta đã biết Khổ, không còn phải biết nữa; ta đã dứt Tập, không còn phải dứt nữa; ta đã chứng Diệt, không còn phải chứng nữa; ta đã tu Đạo, không còn phải tu nữa. Cái trí tuệ có được nhờ biết rõ hành tướng vô sanh (không còn biết, dứt, chứng, tu nữa) đó, gọi là vô sanh trí. Tuy nhiên bậc Vô học A-la-hán có hạng độn căn, có hạng lợi căn. Hạng độn căn còn bị thối thất, không thể phát khởi vô sinh trí, hạng lợi căn bất động tính, không còn bị thối thất mới có thể phát khởi vô sinh trí.


(Trích Câu Xá Luận- Phẩm Phân biệt Trí)

Ghi chú:

- Từ 3 quả vị Tư Đà hoàn, Tu Đà Hàm, A na Hàm gọi là Bậc HIỀN Hữu Học Vị (còn phải học)

- Quả thứ 4 A la Hán gọi là Bậc THÁNH Vô học Vị̣ (không còn phải học)

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
+ Vô Sanh Trí. * A la Hán.(tt)


Vô Sanh Trí : Là Trí biết rõ bản thể các pháp là Bất sanh bất diệt, Như Như Niết bàn tướng, nhưng các pháp từ Vô Sanh mà giả sanh.chân tướng các pháp là vô tướng bất động, biết rõ 4 Đế chứng được lý vô sanh, biểt rõ tự tánh không sanh diệt, tự tánh vốn đầy đủ...

Như bài tựa Đại Trí Độ Luận nói:

Luận: Muôn sự muôn vật đều do sinh sinh mà được hình thành. Thế nhưng cội gốc của sinh sinh lại là vô sinh. Từ vô thỉ đến nay và mãi mãi về sau, tính vô sinh ấy vẫn thường bất động. Do duyên khởi biến hóa mà giả danh có các sự vật.

Thật ra, tất cả các sự các vật đều là hư vọng, là không thật có, là vô tự tính. Phàm phu do chìm đắm trong mê muội, mà khởi các vọng chấp cho rằng các sự vật là thật có.

Trong kinh A Hàm, Phật dạy rằng: “Các sự thấy nghe hay biết của chúng sinh đều do nhiễm trước nơi cảnh sở duyên mà có”. Chúng sinh do bị vô minh ngăn che tâm trí, nên khởi sinh các tà kiến chấp, vì vậy mà bị các pháp sai sử.

Chỉ có trí huệ Bát Nhã mới làm tan biến được mà vô minh u ám, mới hiển bày được thật tướng của các pháp. Dùng trí huệ Bát Nhã soi chiếu đến tận gốc rễ sẽ liễu ngộ được lý siêu việt chân thường, dẫn đến chỗ tuyệt tư cảnh giới. Trái lại, nếu dùng danh tự ngôn ngữ mà diễn đạt thì sẽ trái với chỗ thậm thâm vi diệu; còn nếu dùng lý trí mà tư duy, thì sẽ mất đi chỗ y chỉ.

Ở nơi Tam tạng Pháp Bảo, hàng Thanh Văn cũng không liễu tri đến chỗ thâm diệu; còn người tạp học thì phải chịu thúc thủ chẳng sao bước vào được cửa Không, chỉ ví như cá muốn hóa rồng, phí công mà chẳng sao được như nguyện, đành phơi mang trước cửa Long cung
.
* Thấy (Kiến) được BẢN THỂ các Pháp là VÔ SANH mà "Huyễn sanh" (trong đó TA cũng huyễn sanh) ; Không còn lầm chấp hiện tượng Sanh diệt huyễn ão nữa Gọi là LIỄU THOÁT SANH TỬ LUÂN HỒI, là XUẤT LY SANH TỬ vậy thôi.

Nếu còn chấp Thật có lúc "Hết Sanh tử".- Như vậy là không thấy được SANH TỬ CHỈ LÀ HUYỄN. NGƯỜI NÀY KHÔNG THỂ HẾT SANH TỬ (Vì còn Vô Minh - mê lầm).

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
+ Vô Sanh Pháp Nhẫn. * A la Hán.(tt)

Vì sao gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn ?

Như trên đã nói: Trí hay Nhẫn đều là nghĩa của TRỊ́ Nhưng lúc nói Trí, lúc nói Nhẫn là tùy theo tác dụng.

- Vô Sanh Pháp Nhẫn là sức Nhẫn chịu khi đã có Trí huệ Bát Nhạ̃ Trí này phát hiện khi Quán Chiếu Bát Nhã, thấy được "Tánh Không" của các Pháp. Như bài luận Đại Trí Độ đã nói sau:

"Do hành pháp tánh không, nên được "vô sanh pháp nhẫn". Ở nơi đây chẳng còn có pháp nào là khả đắc; hết thảy các pháp đều là bất khả đắc, dẫn đến vi tế pháp cũng đều là bất khả đắc cả.

....... Khi đã được "vô sanh pháp nhẫn" rồi, thì chẳng có tác "vô tác" cũng chẳng có khởi "vô khởi" các nghiệp báo nữa.

....... Tu hành như vậy gọi là được "vô sanh pháp nhẫn" .

Quán thế nào, gọi là : "chẳng còn có pháp nào là khả đắc; hết thảy các pháp đều là bất khả đắc, dẫn đến vi tế pháp cũng đều là bất khả đắc cả ?"
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
+ Vô Sanh Pháp Nhẫn. * A la Hán.(tt)

+ Thế nào là "bất khả đắc" ?

+ Vô Sanh Pháp Nhẫn. * A la Hán.(tt)

- Bất khả đắc là KHÔNG THỂ NẮM BẮT, KHÔNG THỂ ĐẠT ĐƯỢ̣C

Câu chuyện sau đây, phần nào minh họa cho Bất khả đắc .

Có một anh nọ nghèo kiết xác, Muốn ăn chả chiên, nhưng không muốn tốn tiền . Anh ta bèn đến chỗ bán chả chiên, rồi đứng hít hà ngửi mùi chả chiên rồi khen ngon !

Anh hàng chả này cũng là người keo kiệt thấy vậy bèn đòi tiền anh nọ . Không chịu trả 2 người mới tìm người phân xử..

Nghe đầu đuôi câu chuyện, kẻ trí phân sử mới bảo anh ngửi mùi chả trả tiền cho anh hàng chả; bằng cách : Lấy đồng tiền xu để vào chén rồi khua lên cho có tiếng để anh kia nghe, xong cất tiền vào túi !

- Anh chủ hàng chả than trách: Như vậy tôi có được gì đâu ? Anh kia có mất gì đâu ?

- Người phân sử nói : Thì kẻ ngửi mùi chả của anh cũng đâu có được gì đâu, nên chẳng mất gì cả ...

Đấy "Bất khả đắc" là vậy chỉ có danh mà không có thật Là BẤT KHẢ ĐẮC .

Tổ Qui Sơn nói:

“Huyễn thân mộng trạch

Không trung vật sắc

Tiền tế vô cùng

Hậu tế ninh khắc?”


Dịch:

Thân huyễn nhà mộng

Vật sắc trong không

Mé trước không cùng

Mé sau đâu biết?


Tổ nhắc chúng ta nên thấy thân này là huyễn hóa, cõi này như cõi mộng. Tất cả hình ảnh sự vật trước mắt ta chẳng khác nào hoa đốm giữa hư không. Tất cả đều là huyễn hóa do nhân duyên sanh, mà nhân duyên thì trùng trùng điệp điệp nên mé trước không cùng, mé sau không thể tính hết.

“Tham luyến thế gian

Ấm duyên thành chất

Tùng sanh chí lão

Nhất vô sở đắc”.


Dịch:

Tham luyến cõi đời

Ấm duyên thành chất

Từ sanh đến già

Trọn không gì được.


Chúng ta vì tham luyến thế gian nay nên mới có thân, tức hợp năm uẩn lại thành sắc chất. Như vậy có thân đây cũng do gốc từ luyến ái mà ra. Nhưng từ lúc sanh ra cho đến già nhắm mắt nào có được gì đâu. Đến tay không thì đi cũng tay không, chỉ có mang theo nghiệp mà thôi. Còn nghiệp thì sanh tử lại trùng trùng tiếp nối.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
+ Vô Sanh Pháp Nhẫn. * A la Hán.(tt)

+ Tánh KHÔNG của các Pháp:

Sở dĩ các Pháp "Bất khả đắc là KHÔNG THỂ NẮM BẮT, KHÔNG THỂ ĐẠT ĐƯỢ̣C" là vì các Pháp không thật, là các Pháp Huyễn có, chúng có nhưng cũng chỉ như Kính hoa- Thủy nguyệt.- Vì chúng do nhân duyên nương gá mà thấy có . Như dùng que diêm xếp hình con cá



Do những que diêm xếp lại với nhau mà thấy là con cá, nếu lấy các que diêm thì không có con cá . Các Pháp cũng vậ̣y do hợp các duyên mà thấy có nếu lấy hết các nhân duyên thì không cọ̀n

Trung Quán Luận, phẩm XXIV, đoạn 18 viết:

"Chúng nhân duyên sanh pháp
Ngã thuyết tức thị Không.
Diệc vi thị giả danh
Diệc thị Trung đạo nghĩa"

(Pháp do các nhân duyên sinh
Ta nói tức là Không
Cũng gọi là Giả danh
Cũng là nghĩa Trung đạo)

Các hiện hữu là do các nhân duyên phối hợp mà khởi sinh, chúng không tự có.Vì thế các hiện hữu không thực có tự ngã, tự tính. Nói khác đi, cái gọi là ngã tướng, ngã tính của các hiện hữu là trống rỗng (empty), không thực hữu. Đại luận sư Long Thọ (Nagarjuna) gọi nó là Không, là Tánh Không (Súnyatà). Cũng gọi nó là Giả danh (chỉ là tên gọi - mere name); cũng là nghĩa Trung đạo (Duyên sinh).

Luận sư lại viết ở đoạn 40, phẩm XXIV, Trung Quán Luận rằng:

"Thị cố kinh trung thuyết
Nhược kiến nhân duyên pháp
Tắt vi năng kiến Phật
Kiến Khổ, Tập, Diệt, Đạo"

(Thế nên trong kinh nói
Nếu thấy pháp nhân duyên
Thì có thể thấy Phật
Và thấy Khổ, Tập, Diệt, Đạo)


Như thế, Không Tánh của Trung Quán Luận đồng nghĩa với Pháp tánh (Dharmatà-Dhammatà) và với Phật tánh, Chân như tánh (Buddhatà), Duyên khởi tánh (Paticcasamupadatà).

Tánh Không ấy, do vậy, ở ngoài tất cả ngã tính như thường, đoạn; sinh, diệt; khứ, lai; nhất, dị; tốt, xấu; toàn, bất toàn; v.v... như hai bài kệ đầu của Trung Quán Luận đã nói:

1. "Bất sanh diệc bất diệt,
Bất thường diệc bất đoạn,
Bất nhất diệc bất dị,
Bất lai diệc bất xuất"

2. "Năng thuyết thị nhân duyên
Thiện diệt chư hý luận
Ngã khể thủ lễ Phật
Chư thuyết trung đệ nhất"

(Không sanh cũng không diệt,
Không thường cũng không đoạn,
Không đồng nhất cũng không dị biệt,
Không đến cũng không đi.

Nói rõ thuyết nhân duyên ấy,
Khéo dập tắt các hý luận.
Con cúi đầu lễ Phật
Bậc thuyết giảng đệ nhất trong các bậc thuyết giảng)

Tánh Không, tương tự Chân Như, Niết Bàn, ở ngoài thế giới khái niệm của ngã tính. Không thể định nghĩa về Không, mà chỉ có thể gợi ý rằng Không không thể là đối tượng của tư duy ngã tính (nhị duyên), mà là thực tại như thực của sự thể nhập (Penetration).


https://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbpha551.htm
Thấy được các Pháp Tánh Không . Kham nhẫn được Tánh không đó , gọi là Vô Sanh Pháp Nhẫn .
 

Bình Đẳng Giác

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
4 Tháng 10 2015
Bài viết
538
Reaction score
222
Điểm
43
Xem thầy nói cũng giống con xem trong phim.vô sanh pháp nhẫn có nghĩa là phá trừ được chấp ngã và chấp pháp hướng tới trung đạo,đạt được bất thoái chuyển không thiện không ác.không niệm không phải không niệm
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
+ Vô Sanh Pháp Nhẫn. * A la Hán.(tt)

+ PHÁP là gì ? VI TẾ PHÁP là gì ?

- Pháp tức là các đối tượng mà chúng ta, thấy, nghe, hay,biết, suy nghĩ, tưởng tượng ... được .

- Vi tế Pháp là các NHÂN DUYÊN ĐỂ TẠO RA CÁC PHÁP ĐÓ .

Thí dụ như:

- Cái Nhà là một Pháp, nó là do các nhân duyên cột, kèo, rui, mái hạch, ngói v.v... Như vậy cái nhà ví như con cá được tạo hình bởi các que diêm nhân duyên đó . Vì thế cái Nhà không có tự Ngã, chỉ có danh mà không có thực Ngã, nên nó Bất Khả Đắc .

- VI TẾ PHÁP của cái nhà là: các nhân duyên cột, kèo, rui, mái hạch, ngói v.v...cũng là pháp duyên hợp không có tự ngã . Như cây cột không tự nó là cột mà phải do nhiều tế bào gổ kết gợp, lại do nhân công gọt đẽo v.v... mới có . Như vậy cái cột không có tự Ngã, chỉ có danh mà không có thực Ngã, nên nó Bất Khả Đắc .

Đây là ý nghĩa kinh nói: CÁC PHÁP TÁNH KHÔNG . hay đoạn kinh : "hết thảy các pháp đều là bất khả đắc, dẫn đến vi tế pháp cũng đều là bất khả đắc cả."

Vì "hết thảy các pháp đều là bất khả đắc, dẫn đến vi tế pháp cũng đều là bất khả đắc cả." NÊN THẬT CHẤT CÁC PHÁP CHƯA HỀ CÓ SANH, NÊN CÁC PHÁP KHÔNG HỀ CÓ DIỆT . CÁC PHÁP LÀ NHƯ NHƯ BIẾT BÀN TƯỚNG, BẤT ĐỘNG TƯỚNG, VÔ SANH TƯỚNG .

Người nào nhận ra THẬT TƯỚNG CÁC PHÁP LÀ VÔ SANH BẤT ĐỘNG đó, tức là CÓ ĐƯỢC VÔ SANH TRÍ . Không chống trái với chân lý Vô Sanh đó tức là được Vô Sanh Pháp Nhẫn.

Kinh dạy :

Khi đã được "vô sanh pháp nhẫn" rồi, thì chẳng có tác "vô tác" cũng chẳng có khởi "vô khởi" các nghiệp báo nữa. (Nghĩa là không còn nguyên nhân để chịu sanh tử ưu bi khổ não . VQ chú)

....... Tu hành như vậy gọi là được "vô sanh pháp nhẫn" .


 

Tào Tháo

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
23 Tháng 11 2016
Bài viết
254
Reaction score
54
Điểm
28
Xem thầy nói cũng giống con xem trong phim.vô sanh pháp nhẫn có nghĩa là phá trừ được chấp ngã và chấp pháp hướng tới trung đạo,đạt được bất thoái chuyển không thiện không ác.không niệm không phải không niệm
Vấn đề là ở chỗ làm như thế nào thì không thiện không ác.không niệm không phải không niệm.( phương pháp ) mà vẫn sống sờ sờ , hoạt dụng làm việc, sinh hoạt và tất cả chỗ ... đều không thiếu sót gì để vẫn là người hữu dụng ....
 

Ba Tuần

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
28 Tháng 7 2016
Bài viết
1,527
Reaction score
485
Điểm
83
Xem thầy nói cũng giống con xem trong phim.vô sanh pháp nhẫn có nghĩa là phá trừ được chấp ngã và chấp pháp hướng tới trung đạo,đạt được bất thoái chuyển không thiện không ác.không niệm không phải không niệm
Xin hỏi đạo hữu, thế nào là “không niệm không phải không niệm” ?
 

Ba Tuần

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
28 Tháng 7 2016
Bài viết
1,527
Reaction score
485
Điểm
83
Chẳng thiện chẳng ác đấy là nhị, chẳng phải bất nhị. Bởi còn chủ thể tự chấp và đối tượng phân biệt.

Ngôn từ “bất nhị” biểu đạt cho năng lực cảm giác ra vào các cơ quan như mắt, tai, mũi, lưỡi, óc.

Nói ra vào để nhằm chỉ tính tự do của nó, chẳng phải như vật thay đổi vị trí trong không gian mà đặt tên là ra vào.

Bản tính bao trùm của năng lực cảm giác vốn là rộng không ngằn mé, nay bị ngăn che bởi suy tưởng trở thành có ngằn mé. Suy tưởng chẳng là gì khác chính là sự mất kiểm soát của năng lực cảm giác ( thấy, nghe...).

Nay muốn lấy lại năng lực này thì chỉ cần tùy tiện chọn lấy một nhánh năng lực cảm giác bất kì ( hoặc thấy, hoặc nghe...) lấy nó soi chiếu lại chính nó, như nghe cái năng lực nghe, thấy cái năng lực thấy...

Rõ là việc chẻ trăng, vuốt mây...thật là thú vị biết bao.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
* Qua bờ Sanh tử .

Kinh văn: Nầy Thiện Nam Tử ! Bảy chúng sanh đây vì chẳng thể tu tập bốn điều : Thân, giới tâm và huệ, nên hay gây tạo tội ngũ nghịch, dứt căn lành, phạm bốn tội trọng, hủy báng Phật, Pháp, Tăng, do đây nên gọi là thường chìm đắm.

Nầy Thiện Nam Tử ! Trong bảy hạng chúng sanh nầy ai có thể gần gũi thiện tri thức chí tâm nghe và nhận lấy chánh pháp của Như Lai, trong tâm khéo tư duy ở đúng pháp, siêng năng tu tập thân, giới, tâm và huệ, do đây nên được gọi là qua khỏi sông sanh tử đến nơi bờ kia.
Qua những khảo sát nói trên .- Chúng thấy " Vượt thoát sanh tử, chỉ là VƯỢT THOÁT Ý NIỆM SAI LẦM VỀ SANH TỬ (mà thôi). Do vậy đoạn kinh này đức Phật nói: "tâm khéo tư duy ở đúng pháp, siêng năng tu tập thân, giới, tâm và huệ, do đây nên được gọi là qua khỏi sông sanh tử đến nơi bờ kia."

Và đó cũng là ý nghĩa : "không niệm không phải không niệm"

+ Không NIỆM là vì "Vượt thoát mọi vọng niệm"
+ Không phải không niệm là vì Không rơi vào Đoạn kiến . Mà Tất cả Niệm đều khế hợp Tâm Chơn Như .
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
* Hủy báng Tam Bảo (Tin và Hiểu) .

Kinh văn: Nếu nói rằng tất cả chúng sanh quyết định có Phật tánh, hoặc nói quyết định không Phật tánh, đều gọi là hủy báng Phật, Pháp, Tăng.

Nầy Thiện Nam Tử ! Do đây nên trong khế kinh ta nói rằng có hai hạng người hủy báng Phật, Pháp, Tăng : Một là người chẳng tin, vì họ giận hờn ; hai là người dầu tin nhưng vì chẳng hiểu nghĩa.

Nếu người tin mà không có trí huệ thời hay thêm lớn vô minh. Nếu người có trí huệ mà không có tín tâm thời hay tăng trưởng tà kiến.

Người chẳng tin vì tâm họ giận hờn nên nói rằng không có Phật, Pháp, Tăng. Người tin mà không trí huệ giải nghĩa điên đảo làm cho người nghe pháp hủy báng Phật, Pháp, Tăng. Do đây nên ta nói người chẳng tin vì lòng hờn giận, người tin lại không trí huệ, những người nầy hay hủy báng Phật, Pháp, Tăng.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
* Thế Lưu bố tưởng và Đão tưởng .

Kinh văn: _ Nầy Thiện Nam Tử ! Thế nào là Thánh nhơn mà có đảo tưởng ?

_ Bạch Thế Tôn ! Tất cả Thánh nhơn đối với con bò con ngựa tưởng là bò là ngựa rồi cũng nói là bò là ngựa. Đối với nam nữ lớn nhỏ nhà cửa v.v… cũng như vậy, do đây nên gọi là đảo tưởng.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Tất cả phàm phu có hai thứ tưởng : Một là thế lưu bố tưởng, hai là chấp trước tưởng. Tất cả Thánh nhơn chỉ có thế lưu bố tưởng, không có chấp trước tưởng. Tất cả phàm phu vì ác giác quán nên đối với thế lưu bố sanh ra chấp trước tưởng. Tất cả Thánh nhơn vì thiện gíac quán nên đối với thế lưu bố chẳng sanh tưởng chấp trước. Do đây nên phàm phu gọi là đảo tưởng. Thánh nhơn dầu biết các pháp mà chẳng gọi là đảo tưởng.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
* Phạm hạnh thanh tịnh .

Kinh văn: Người trí quán sát nhơn của tưởng rồi kế lại quán quả báo : Ác trưởng nầy thọ quả nơi địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, nhơn và thiên. Như ta do vì dứt ác giác quán nên vô minh xúc dứt, do đây mà tưởng dứt, vì tưởng dứt nên quả báo cũng dứt. Người trí vì dứt nhơn của tưởng nên tu bát chánh đạo.

Nếu có người quán sát được như vậy, thời gọi là phạm hạnh thanh tịnh.

Nầy Thiện Nam Tử ! Như trên đây gọi là trong thân ác độc của chúng sanh mà có thuốc hay. Như trong núi Tuyết dầu có cỏ độc nhưng cũng có cây thuốc hay.

Nầy Thiện nam Tử ! Người trí kế lại quán sát dục, tức là sắc, thinh, hương, vị, xúc. Đây là đức Như Laiở trong nhơn mà nói quả, vì từ năm trần nầy mà sanh ra dục, thiệt ra năm trần chẳng phải dục.

Nầy Thiện Nam Tử ! Người ngu si vì tham cầu thọ lấy nên đối với sắc sanh ra tưởng điên đảo, đối với thanh, hương, vị, xúc cũng sanh ra tưởng điên đảo. Do đảo tưởng làm nhơn duyên mà sanh ra thọ. Do đây nên trong đời nói rằng nhơn đảo tưởng sanh ra mười món tưởng.

Do dục làm nhơn duyên mà thọ lấy quả báo ác nơi thế gian. Đem sự ác làm hại cha mẹ, Sa Môn, Bà La Môn v.v…, chỗ chẳng nên làm ác mà cố làm chẳng tiếc thân mạng. Người trí quán sát ác tưởng nầy làm nhơn duyên mà sanh ra dục tâm.

Quán sát nhơn duyên của dục rồi kế lại quán quả báo : Dục nầy có nhiều quả báo ác : Địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, nhơn và thiên.

Nếu những ác tưởng nầy đã trừ diệt được, thời vĩnh viễn chẳng sanh dục tâm nầy, vì không dục tâmnên chẳng sanh ác thọ, đã không ác thọ thời không ác quả, do đây nên phải dứt ác tưởng trước. Ác tưởng đã dứt thời những pháp ác khác tự nhiên đều dứt. Do cớ trên đây nên người trí vì dứt ác tưởngmà tu bát chánh đạo, đây gọi là phạm hạnh thanh tịnh, cũng gọi là trong thân độc của chúng sanh có vị thuốc hay. Như trong núi Tuyết dầu có cỏ độc nhưng cũng có cây thuốc hay.

Nầy Thiện Nam Tử ! Người trí quán dục như vậy rồi kế nên quán nghiệp. Phải suy nghĩ rằng : Bốn thứ thọ, tưởng, xúc và dục chính là phiền não. Phiền não nầy có thể làm sanh nghiệp mà chẳng làm thọ nghiệp. Phiền não nầy cùng đi với nghiệp có hai thứ : Một là làm sanh nghiệp, hai là làm tác nghiệp.

Do đây nên người trí phải quán sát nơi nghiệp. Nghiệp nầy có ba : Thân, khẩu và ý. Hai nghiệp thân, khẩu tên là nghiệp mà cũng gọi là nghiệp quả, ý chỉ gọi là nghiệp, vì là nhơn của nghiệp nên gọi là nghiệp. Hai nghiệp thân, khẩu là nghiệp ngoài, ý gọi là nghiệp trong. Ba thứ nghiệp nầy đi cùng với phiền não làm thành hai thứ nghiệp : Một là sanh nghiệp, hai là thọ nghiệp.

Nầy Thiện Nam Tử ! Chánh nghiệp tức là ý, kỳ nghiệp tức là thân khẩu. Phát sanh trước gọi là ý nghiệp, từ ý nghiệp sanh ra gọi là thân khẩu nghiệp. Do đây nên ý nghiệp được gọi là chánh.

Người trí đã quán nghiệp rồi kế lại quán nghiệp nhơn. Nghiệp nhơn đây là vô minh xúc. Do nơi vô minhxúc mà chúng sanh cầu lấy có. Nhơn duyên cầu lấy có tức là ái. Nhơn nơi ái mà gây tạo ba thứ nghiệp, thân, khẩu, ý.

Người trí quán nghiệp nhơn rồi kế lại quán quả báo. Quả báo đây có bốn : Một là hắc hắc quả báo, hai là bạch bạch quả báo, ba là tạp tạp quả báo, bốn là bất hắc bất bạch quả báo.

Hắc hắc quả báo là lúc tạo nghiệp nhơ đục quả báo cũng nhơ đục. Bạch bạch quả báo là lúc tạo nghiệp thanh tịnh quả báo cũng thanh tịnh.

Tạp tạp quả báo là lúc tạo nghiệp tạp quả báo cũng tạp. Bất bạch bất hắc quả báo là nói vô lậu nghiệp.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
* Phạm hạnh thanh tịnh (tt) .


Kinh văn: Nầy Thiện nam Tử ! Người trí kế lại quán sát dục, tức là sắc, thinh, hương, vị, xúc. Đây là đức Như Laiở trong nhơn mà nói quả, vì từ năm trần nầy mà sanh ra dục, thiệt ra năm trần chẳng phải dục.

Nầy Thiện Nam Tử ! Người ngu si vì tham cầu thọ lấy nên đối với sắc sanh ra tưởng điên đảo, đối với thanh, hương, vị, xúc cũng sanh ra tưởng điên đảo. Do đảo tưởng làm nhơn duyên mà sanh ra thọ. Do đây nên trong đời nói rằng nhơn đảo tưởng sanh ra mười món tưởng.

Do dục làm nhơn duyên mà thọ lấy quả báo ác nơi thế gian. Đem sự ác làm hại cha mẹ, Sa Môn, Bà La Môn v.v…, chỗ chẳng nên làm ác mà cố làm chẳng tiếc thân mạng. Người trí quán sát ác tưởng nầy làm nhơn duyên mà sanh ra dục tâm.

Quán sát nhơn duyên của dục rồi kế lại quán quả báo : Dục nầy có nhiều quả báo ác : Địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, nhơn và thiên.

Nếu những ác tưởng nầy đã trừ diệt được, thời vĩnh viễn chẳng sanh dục tâm nầy, vì không dục tâm nên chẳng sanh ác thọ, đã không ác thọ thời không ác quả, do đây nên phải dứt ác tưởng trước. Ác tưởng đã dứt thời những pháp ác khác tự nhiên đều dứt. Do cớ trên đây nên người trí vì dứt ác tưởng mà tu bát chánh đạo, đây gọi là phạm hạnh thanh tịnh, cũng gọi là trong thân độc của chúng sanh có vị thuốc hay. Như trong núi Tuyết dầu có cỏ độc nhưng cũng có cây thuốc hay.
+ Theo kinh nói rằng : Ở cõi trời có một cõi tên là PHẠM THIÊN . Chúng sanh ở đó thanh tịnh không có các dục.

Người tu sĩ Phật giáo tu hạnh đoạn dục nên gọi là PHẠM HẠNH.

+ Đoạn kinh này đức Phật dạy tu quán để thành tựu Phạm hạnh
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
* Phạm hạnh thanh tịnh (tt) .

+ Tam Nghiệp .

Kinh văn : Nầy Thiện Nam Tử ! Người trí quán dục như vậy rồi kế nên quán nghiệp. Phải suy nghĩ rằng : Bốn thứ thọ, tưởng, xúc và dục chính là phiền não. Phiền não nầy có thể làm sanh nghiệp mà chẳng làm thọ nghiệp. Phiền não nầy cùng đi với nghiệp có hai thứ : Một là làm sanh nghiệp, hai là làm tác nghiệp.

Do đây nên người trí phải quán sát nơi nghiệp. Nghiệp nầy có ba : Thân, khẩu và ý. Hai nghiệp thân, khẩu tên là nghiệp mà cũng gọi là nghiệp quả, ý chỉ gọi là nghiệp, vì là nhơn của nghiệp nên gọi là nghiệp. Hai nghiệp thân, khẩu là nghiệp ngoài, ý gọi là nghiệp trong. Ba thứ nghiệp nầy đi cùng với phiền não làm thành hai thứ nghiệp : Một là sanh nghiệp, hai là thọ nghiệp.

Nầy Thiện Nam Tử ! Chánh nghiệp tức là ý, kỳ nghiệp tức là thân khẩu. Phát sanh trước gọi là ý nghiệp, từ ý nghiệp sanh ra gọi là thân khẩu nghiệp. Do đây nên ý nghiệp được gọi là chánh.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,345
Reaction score
1,692
Điểm
113
* Phạm hạnh thanh tịnh (tt) .

+ Dẫn Nghiệp .

Kinh văm :
Nghiệp như vậy có chỗ định thọ báo, như mười pháp ác quyết định ở địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, mười nghiệp lành quyết định ở nhơn, thiên.

Mười pháp ác có thượng, trung và hạ : Nghiệp thượng thọ thân địa ngục, nghiệp trung thọ thân súc sanh, nghiệp hạ thọ thân ngạ quỉ.

Mười nghiệp lành về nhơn đạo có bốn hạng : Nghiệp hạ sanh Bắc Câu Lô Châu, nghiệp trung sanh Tây Ngưu Hóa Châu, nghiệp thượng sanh Đông Thắng Thần Châu, nghiệp thượng thượng sanh Diêm Phù Đề.

Người trí quán sát như vậy rồi liền nghĩ rằng : Ta phải làm thế nào dứt những quả báo ấy ? Lại nghĩ rằng nhơn duyên của những nghiệp nầy do vô minh xúc sanh ra, nếu ta dứt trừ vô minh cùng xúc, thời nghiệp quả nầy dứt mất chẳng còn sanh. Vì dứt trừ vô minh và xúc nên người trí tu bát chánh đạo, đây gọi là phạm hạnh thanh tịnh. Cũng gọi là trong thân độc của chúng sanh có vị thuốc hay, như trong núi Tuyết dầu có cỏ độc nhưng cũng có cây thuốc.
Dẫn nghiệp là gì ?

Trong đời này, không có gì xảy ra một cách ngẫu nhiên hết, mọi sự việc, quá trình xảy ra đều có nhân duyên của nó.
Định nghĩa nghiệp là gì?

Nghiệp là hành động có dụng tâm, hành động mà không có dụng tâm thì không phải là nghiệp theo đúng nghĩa của từ này. Một người lái xe không cẩn thận, cán chết người, người đó có thể mang tội ngộ sát, phải trả tiền bồi thường và ngồi tù. Nhưng thật ra, anh ta không có tạo nghiệp sát sinh, anh ta chỉ là một cái duyên, hay là một điều kiện để người bị cán chết trả một món nợ cũ, một cái nghiệp cũ, khiến anh ta bị cán chết.

Lạnh lùng mà nói, tình hình đích thực là như vậy, nếu chúng ta có một nhận thức sâu sắc về thuyết nghiệp. Trong đời này, không có gì xảy ra một cách ngẫu nhiên hết, mọi sự việc, quá trình xảy ra đều có nhân duyên của nó. Có đủ nhân, đủ duyên và đúng thời, từ sự việc xảy ra tốt hay xấu, lành hay dữ, may mắn hay bất hạnh. Mọi sự việc xảy ra đều tương ứng với nhân duyên. Nhưng đây là nghiệp chứ không phải là số mệnh.


Có đủ nhân, đủ duyên và đúng thời, từ sự việc xảy ra tốt hay xấu, lành hay dữ, may mắn hay bất hạnh.

Dẫn nghiệp và mãn nghiệp - Hai loại nghiệp quan trọng

Nghiệp có nhiều loại, nhưng Phật giáo thường chú ý hai loại chính là dẫn nghiệp và mãn nghiệp.

Dẫn nghiệp là nghiệp dắt dẫn chúng sanh đi vào một trong sáu cõi, trong số này có ba cõi thiện là cõi loài trời, cõi loài A-tu-la và cõi loài người. Và ba cõi ác là cõi loài người rất nhiều, mắt ta không thấy họ, nhưng không phải là không tồn tại. Dân gian không biết, gọi họ bằng đủ các thứ tên như thần, tiên, quỷ….

Trong các loại chúng sanh sống ở cõi ác, có hai loại mắt người không thấy được là chúng sanh loài quỷ đói và chúng sanh loài địa ngục. Loài quỷ đói là loài chúng sanh do cấu tạo sinh lý (bụng rất to, nhưng cổ họng rất bé) cho nên luôn luôn bị đói. Chúng sanh ở địa ngục thì bị khổ triền miên, khổ ở mức loài người không tưởng tượng nổi.

Còn súc sanh thì rất nhiều loại, không thể biết xuể được, nhưng chúng có đặc tính chung là hay cấu xé lẫn nhau, trừ một số trường hợp ngoại lệ. Loại súc sanh quen thuộc nhất là gia súc như chó, mèo, gà, lợn, ngựa, trâu. Chúng nó sống khổ thế nào, chúng ta đều biết. Nhưng có điều nhiều người không biết là nếu không sống thiện, không tu tập và sống lối sống ngu si như súc vật thì sau khi chết, chúng ta có thể tái sanh, và làm súc vật. Rất có khả năng đó, chúng ta không thể xem thường.

Cho nên, ít nhất chúng ta phải biết cơ chế vận hành của nghiệp, đặc biệt là loại nghiệp gọi là dẫn nghiệp. Mục đích là dùng cơ chế vận hành của nghiệp để cuộc sống chúng ta có ý nghĩa, để cho chúng ta chủ động tạo ra những nghiệp có cường độ mạnh để cho đời này cũng như ở các đời sống sau, chúng ta không bị đọa vào các cõi ác, khổ và luôn tái sanh vào các cõi lành, cõi thiện, dẫn chúng ta đến mục đích cao nhất là giác ngộ và giải thoát.

Vì dẫn nghiệp quyết định hướng tái sanh, cho nên cũng có tên gọi là tái sanh nghiệp, với tiếng Anh tương đương là reproductive kamma. Kamma là tiếng P li nghĩa là nghiệp, còn tiếng Sanskrit tương đương là karma, một từ mà sách Tây Phương rất hay dùng để chỉ nghiệp.

Tái sanh nghiệp hay dẫn nghiệp là những hành động tạo nghiệp có cường độ mạnh hoặc thiện hay bất thiện, quyết định hướng tái sanh của một chúng sanh cũng như những sự kiện chủ yếu ở đời sau của chúng sanh đó.

Sau đây, tôi xin đưa vài ví dụ minh họa, trước hết những hành động tạo nghiệp cực ác, quyết định không tránh khỏi hướng tái sanh của một chúng sanh vào một trong ba cõi ác là địa ngục, quỷ đói, súc sanh. Đó là các hành động cố ý giết cha mẹ, bậc Thánh A-la-hán, làm chảy máu Phật và phá sự hòa hợp của Tăng chúng.

Nếu phạm vào một trong năm nghiệp ác nói trên, thì nhất định phải tái sanh vào cõi sống ác, khổ. Năm trường hợp nói trên là những trường hợp cực đoan, còn nói chung sống buông thả, không giữ năm giới, không làm điều thiện thành thói quen, với tâm ác không biết sửa chữa đều có nguy cơ sanh vào một trong ba cõi ác là địa ngục, quỷ đói và súc sanh, và dù có may mắn được tái sanh làm người thì sẽ là người sống bất hạnh như chết yểu, tật nguyền, hay ốm đau bị người đời khinh rẻ….



( Trích bài viết của Giáo sư Minh Chi

Học viện Phật giáo, TP Hồ Chí Minh)
 
Top