Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 24. Ca Diếp Bồ Tát

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,370
Reaction score
1,699
Điểm
113
* 7 Hiền Vị, 4 Gia Hạnh.

Kinh văn: Trong khế kinh ta lại nói noãn pháp, đảnh pháp, nhẫn pháp, thế đệ nhứt pháp thuộc nơi sơ thiền đến tứ thiền. Với các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói bốn pháp ấy thuộc nơi cõi sắc. Trong khế kinh ta lại nói hàng ngoại đạo đã dứt được phiền não cõi tứ thiền tu tập noãn pháp đảnh pháp, nhẫn pháp, thế đệ nhứt pháp, quán tứ đế chứng quả A Na Hàm. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói thế đệ nhứt pháp thuộc nơi cõi vô sắc.
Ở bài giải Duy thức tam thập tụng. HT. Thích Trí Châu nói:

"Con người khi hiện hữu họp nhóm lại thành từng nhóm, từng địa phương, phát minh ra cách thức để liên lạc với nhau, đặt ra các quy ước về dấu hiệu và âm thanh để diễn tả các đối tượng vật chất bên ngoài và tình cảm bên trong, nhận xét và đặt tên, định nghĩa, phân biệt đặc tánh của từng hiện tượng. Thành Duy Thức gọi đó là bốn pháp tầm tư. Tầm tư danh, tầm tư nghĩa, tầm tư đặc tánh và tầm tư sai biệt.

+ Ở bậc noãn, vị bồ tát phát sanh tầm tư bậc hạ, quán bốn pháp tầm tư đều do tự tâm biến hiện, giả nói là có chứ kỳ thực không có gì để nắm bắt, tức là không có tướng sở thủ. Các pháp đều như huyễn, và do cái huyễn đó mà đặt ra có tên gọi, do tên gọi đó mà biết ý nghĩa và đặc tánh của các pháp, từ đó mới phân biệt được sự khác biệt của các pháp. Các vị bồ tát tiếp tục quán như vậy tới lúc đạt được hơi lửa đầu tiên của mặt trời trí huệ, là đạt được bậc noãn, là hơi ấm, là tướng nóng.

+ Ở bậc đảnh, vị bồ tát phát sanh tầm tư bậc thượng, vẫn quán thấy bốn pháp tầm tư nói trên đều do tự tâm biến hiện, các pháp đó chỉ giả thiết nói ra mà thôi chứ thật sự không có gì để nắm bắt. Ở giai đoạn này tướng sáng của lửa trí tuệ tăng thêm. Địa vị này là tột đỉnh của địa vị tầm tư nên gọi là đảnh, vị bồ tát đã đứng trên đỉnh núi vượt trên mọi sự mê lầm, thấy được khoảng không gian trong sáng bao la.

Noãn và Đảnh đều nương bốn tầm tư mà thành lập.

+ Ở bậc nhẫn thì phát khởi Trí Như Thật bậc hạ, lìa khỏi Sở Thủ và Năng Thủ, nhẫn chịu cảnh và thức đều không nên gọi là nhẫn. Khi ấy trí giác ngộ sáng tỏ, thân tâm giữ được sự yên lặng trong sáng, không bị các pháp vẩn đục ở chung quanh chi phối.

+ Ở bậc thế đệ nhất thì phát khởi Trí Như Thật bậc thượng, lìa Năng Thủ và Sở Thủ liên tục không gián đoạn nên chắc chắn sẽ nhập vào Kiến Đạo. Vì đây là pháp tối thắng hơn cả của phàm phu nên gọi là thế đệ nhất, phá hết được các kiến hoặc sai lầm của Phi tưởng phi phi tưởng, sẵn sàng nhập vào dòng thánh.


Nhẫn và Thế Đệ Nhất đều nương bốn như thật trí mà thành lập. Bốn Như Thật Trí là Như Thật Trí Danh, Như Thật Trí Nghĩa, Như Thật Trí Đặc Tánh và Như Thật Trí Sai Biệt.

Như Thật Trí là trí biết hai thủ năng và sở đều không có thật tánh tức là rõ biết rằng lìa thức thì không có bốn tướng Danh, Nghĩa, Đặc Tánh, Sai Biệt và lìa bốn tướng đó thì cũng không có thức chấp thủ. Tất cả chỉ là sự chuyển hiện nơi tâm thức, không có gì là hiện lượng (chân thật) để nắm bắt."

* Ở PHẨM PHÂN BIỆT HIỀN THÁNH (Câu Xá Luận) Quy các Pháp đó về 7 Hiền Vị, 4 Gia hạnh:




[ Clik vào hình để xem lớn]
 

Tịch Nhiên

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
12 Tháng 1 2017
Bài viết
980
Reaction score
399
Điểm
63
Ồ! cảm ơn thầy Viên Quang Quang!

Nhờ có bài này con hiểu rõ hơn về các cảnh giới sẽ hiện trên đường tầm tư của hành giả. Hì hì...

Tự tánh có cái đại dụng phản hiện. Tả chân, đuôi, vòi để hiện nghĩa con Voi. Nói sóng, nói nước để hiện nghĩa Biển. Tam tạng kinh điển chỉ để hiện đệ nhất nghĩa đế hì hì...

Nghĩa Sắc phản hiện rõ nghĩa không. Nghĩa không làm rõ nghĩa sắc. Vạn pháp hiễn rõ nghĩa Tâm. Nghĩa tâm hiển bày vạn pháp. Vì đệ nhất nghĩa dung thông không ngăn ngại các nghĩa nên hiện Nghĩa vô sanh pháp nhẫn hì hì...
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,370
Reaction score
1,699
Điểm
113
* 12 Nhân Duyên "NHƯ".

Ồ! cảm ơn thầy Viên Quang Quang!

Nhờ có bài này con hiểu rõ hơn về các cảnh giới sẽ hiện trên đường tầm tư của hành giả. Hì hì...

Tự tánh có cái đại dụng phản hiện. Tả chân, đuôi, vòi để hiện nghĩa con Voi. Nói sóng, nói nước để hiện nghĩa Biển. Tam tạng kinh điển chỉ để hiện đệ nhất nghĩa đế hì hì...

Nghĩa Sắc phản hiện rõ nghĩa không. Nghĩa không làm rõ nghĩa sắc. Vạn pháp hiễn rõ nghĩa Tâm. Nghĩa tâm hiển bày vạn pháp. Vì đệ nhất nghĩa dung thông không ngăn ngại các nghĩa nên hiện Nghĩa vô sanh pháp nhẫn hì hì...
Kính cảm ơn ĐH Tịch Nhiên. VQ cũng nhận thức giống như ĐH vậy: " Đệ nhất nghĩa dung thông không ngăn ngại các nghĩa nên hiện Nghĩa vô sanh pháp nhẫn "

Như đoạn kinh sau:

Kinh văn: Nầy Thiện Nam Tử ! Trong khế kinh ta nói mười hai nhơn duyên : Từ vô minh sanh ra hành, từ hành sanh ra thức, từ thức sanh ra danh sắc, từ danh sắc sanh ra lục nhập, từ lục nhập sanh ra xúc, từ xúc sanh ra thọ, từ thọ sanh ra ái, từ ái sanh ra thủ, từ thủ sanh ra hữu, từ hữu sanh ra sanh, từ sanh thời có già chết buồn khổ. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu được ý của ta bèn nói rằng đức Như Lai nói mười hai nhơn duyên quyết định là hữu vi.

Lại một ngày kia ta bảo các Tỳ Kheo rằng mười hai nhơn duyên tánh tướng là thường trụ không luận có Phật hay không Phật. Có mười hai duyên chẳng từ duyên sanh, có từ duyên sanh chẳng phải mười hai duyên, có từ duyên sanh cũng là mười hai duyên, có chẳng phải duyên sanh mà cũng chẳng phải là mười hai duyên.

Có mười hai duyên chẳng phải là duyên sanh, chính là mười hai chi đời vị lai. Có từ duyên sanh mà chẳng phải là mười hai chính là thân ngũ ấm của A La Hán. Có từ duyên sanh cũng là mười hai duyên chính là thân ngũ ấm của phàm phu. Mười hai nhơn duyên chẳng phải là duyên sanh, chẳng phải mười hai duyên chính là hư không Niết Bàn.

Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu được ý của ta, bèn cho rằng đức Như Lai nói mười hai nhơn duyên quyết định là vô vi
.
Ở đây:

+ Quán 12 Nhân duyên sanh khởi: Từ vô minh sanh ra hành, từ hành sanh ra thức, từ thức sanh ra danh sắc, từ danh sắc sanh ra lục nhập, từ lục nhập sanh ra xúc, từ xúc sanh ra thọ, từ thọ sanh ra ái, từ ái sanh ra thủ, từ thủ sanh ra hữu, từ hữu sanh ra sanh, từ sanh thời có già chết buồn khổ.

Khi quán như thế. Hành giả không nên chấp 12 Nhân Duyên thật có sanh.

Vì nếu thấy 12 Nhân Duyên thật có sanh, thì 12 Nhân Duyên là Pháp Hữu Vi. Mà Pháp hữu Vi thì không tồn tại. Không phải là Chân Lý.

Hành giả nên quán: Tất cả pháp đều do Nhân Duyên mà có. Nên từ Vô Minh cũng là pháp hòa hợp nên không thật có Vô Minh. Nhẫn đến vô minh không thật có nên không thật sanh ra hành, hành không thật có nên không thật sanh ra sanh ra thức, từ thức không thật có nên không thật sanh ra sanh ra danh sắc, từ danh sắc không thật có nên không thật sanh ra sanh ra lục nhập, từ lục nhập không thật có nên không thật sanh ra sanh ra xúc, từ xúc không thật có nên không thật sanh ra sanh ra thọ, từ thọ không thật có nên không thật sanh ra sanh ra ái, từ ái không thật có nên không thật sanh ra sanh ra thủ, từ thủ không thật có nên không thật sanh ra sanh ra hữu, từ hữu không thật có nên không thật sanh ra sanh ra sanh, từ sanh không thật có nên không thật sanh ra có già chết buồn khổ.

Bản chất mỗi 1 chi của 12 Nhân Duyên cũng là Pháp hòa hợp, nên không thật có (giống như Vô Minh).

NHƯ TRÊN LÀ QUÁN 12 NHÂN DUYÊN LÀ VÔ SANH, LÀ NHƯ, LÀ ĐỆ NHẤT NGHĨA ĐẾ.

Như vậy 12 Nhân Duyên không phải là Pháp Hữu Vi. Nhưng 12 Nhân Duyên cũng không phải quyết định là Pháp Vô Vi Niết Bàn.- Vì nếu chúng sanh còn có Vô minh, chưa liễu ngộ Phật Tánh, thì vẫn bị 12 nhân duyên chi phối mà vẫn bị sanh tử ưu bi khổ não, bị Hữu vi pháp ràng buộc

Do vậy mà Phật tùy theo căn cơ chúng sanh mà thuyết pháp. không nói pháp 12 Nhân Duyên quyết định là Hữu Vi, là Vô Vi.




 

Tịch Nhiên

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
12 Tháng 1 2017
Bài viết
980
Reaction score
399
Điểm
63
DẠ Kính thầy VIÊN QUANG!

Theo con hiểu ý Thầy muốn nói là vạn pháp đều NHƯ. Trí, Quán đều NHƯ cho đến giác ngộ, giải thoát đều NHƯ nên Đệ Nhất NGHĨA NHƯ chẵng động phải không ạ hì hì...
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,370
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Chấp trước và Bất Nhị.

DẠ Kính thầy VIÊN QUANG!

Theo con hiểu ý Thầy muốn nói là vạn pháp đều NHƯ. Trí, Quán đều NHƯ cho đến giác ngộ, giải thoát đều NHƯ nên Đệ Nhất NGHĨA NHƯ chẵng động phải không ạ hì hì...
Vâng. Thưa Quý ĐH. Như thị, như thị...

Tín - Tâm - Minh Tam Tổ dạy:

Nhãn nhược bất thùy,
Chư mộng tự trừ.
Tâm nhược bất dị,
Vạn pháp nhất như.


Dịch nghĩa:

Mắt nếu chẳng ngủ,
Các mộng tự trừ.
Tâm nếu chẳng khác,
Muôn pháp nhất như.


Nhất như thể huyền,
Ngột nhi vọng duyên.
Vạn pháp tề quán,
Qui phục tự nhiên.


Dịch nghĩa:

Nhất như thể huyền,
Ngây ngất quên duyên.
Muôn pháp đồng quán,
Trở lại tự nhiên.



Nhưng phải đề phòng sự Chấp Trước.

Thế nào là "Chấp trước" ?

= Chấp là cố chấp, là ôm giữ lấy.

= Trước không phải nghĩa trước sau. Mà là dính mắc.

Trong kinh đức Phật nhắc nhở về sự Chấp trước, như bài kinh:

Kinh văn: Nầy Thiện Nam Tử ! Những điều tránh tụng như vậy là cảnh giới của chư Phật chẳng phải hàng Thanh Văn Duyên Giác biết được. Nếu người nào đối với những việc nầy sanh lòng nghi còn có thể phá hoại được vô lượng phiền não. Nếu người nào ở trong những việc nầy sanh lòng quyết định thời gọi là chấp trước.

Ca Diếp Bồ Tát bạch Phật rằng : Thế nào là chấp trước ?

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Những người như vậy hoặc do người khác dạy bảo, hoặc nghe người khác nói, hoặc tự tìm kinh điển, với những điều ham thích chẳng thể buông bỏ đây gọi là chấp trước.
Các Pháp đều là NHƯ, nhưng do Tâm Nhị Nguyên, bất giác mà thấy có 2 mặt . Ví như Có và Không, sanh tử và Niết Bàn, giải thoát và trói buộc v.v...

Như là Bất Nhị, là không còn thấy có 2.

Tín Tâm minh dạy:

Tiền không biến chuyển,
Giai do vọng kiến.
Bất dụng cầu chơn,
Duy tu tức kiến.

Dịch nghĩa:

Không trước chuyển biến,
Ðều do vọng kiến.
Chẳng cần cầu chơn,
Chỉ cốt dứt kiến.

Giảng giải:

Tiền không biến chuyển, giai do vọng kiến: Cái không trước hay chuyển biến đều là do vọng thấy. Người nhận thấy cái không cho nó là quan trọng, những người đó đều do nơi vọng kiến nên chấp như vậy. Tỉ dụ: nghe nói tâm không cho cái Không đó là quí, rồi tìm nó và đè xuống, như vậy là bám vào cái không, chấp chặc vào nó, chấp không là do cái không trước biến ra.

Bất dụng cầu chơn, duy tu tức kiến: Người tu chủ yếu đừng có cầu chơn, cầu chơn là muốn thấy cho tâm, muốn thấy đã là bệnh rồi. Chỉ cần dừng hết mọi kiến chấp thì chơn tâm hiện tiền. Chấp thật giả, phải quấy, vừa có những niệm chấp như vậy là đã mất cái chân thật. Cho nên chủ yếu của sự tu hành là buông hết kiến chấp, kiến chấp hết thì chơn tâm hiện bày.

https://thuvienhoasen.org/images/file/poNdkJ1G0QgQAFh8/tintamminhgianggiai.pdf
 

Ưu Đàm

New Member
Tham gia ngày
23 Tháng 10 2018
Bài viết
12
Reaction score
5
Điểm
3
Thật tình là Ưu Đàm đọc không hiểu gì cả. Mọi người có thể kinh theo những ví dụ ngoài cuộc sống có được không
 

Tịch Nhiên

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
12 Tháng 1 2017
Bài viết
980
Reaction score
399
Điểm
63
Hi hi....

Chào bạn Ưu Đàm!

Cái vụ hiểu hay không hiểu là chuyện bình thường thôi mà. Giống như mình giờ sang nước ngoài ý họ nói gì mình cũng không hiểu luôn hì hì...

Nhưng bạn yên tâm. Bởi vì duyên sanh nghĩa hiện là do huân tập mà hiện. Người xưa nói : Đọc sách ngàn lần chân nghĩa tự hiện" hì hì... Đạo lý quá là bình thường luôn hì hì.... Bởi vì sự huân tập chẵng đồng nên chỗ nghĩa hiện cũng chẳng đồng, nên cùng đọc một sách mà mỗi người hiểu mỗi kiểu là quá bình thường luôn hì hi...


Vậy nên Phật Pháp xuất thế để dạy mọi người huân tập lại cái hiểu biết mê lầm tức Tu Hành đó bạn hi hi...
 

khuclunglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
26 Tháng 12 2017
Bài viết
2,877
Reaction score
568
Điểm
113
À .. Kính bạn Ưu Đàm và mọi người một ly trà [smile]:

Phật đạo tu hành tại tâm. Đương nhiên nhiên những người tin vào Phật Đạo sẽ có sự cầu phật. Ngày xưa Tổ Đức Sơn cũng có câu chuyện gặp một bà lão .. câu chuyện đó có đoạn này:

Sư bèn khăn gói lên đường, mang theo bộ Thanh Long sớ sao tới Lễ Châu. Trên đường, sư gặp một người đàn bà bán bánh rán, bảo bà lấy ít bánh ăn điểm tâm. Bà chỉ gánh của sư hỏi:
"Gói này là gì."
Sư trả lời: "Thanh Long sớ sao."

Bà nói: "Tôi có một câu hỏi, nếu thầy đáp được, tôi xin cúng dường bánh điểm tâm. Bằng đáp không được, mời thầy đi nơi khác."
Sư ưng ý, bà liền hỏi: "Trong kinh Kim cương có nói

‘Tâm quá khứ bất khả đắc,

tâm vị lai bất khả đắc,

tâm hiện tại bất khả đắc.’

Vậy Thầy muốn điểm tâm nào?"


Sư lặng thinh, không đáp được.



Chỗ mà Tổ Đức Sơn lúc đó không giải được chính là chỗ tinh túy của Phật Pháp: Lý Bất Nhị ... TÂM và PHẬT = tức là MỘT không phải là 2.

Và đó là chỗ giảng giải bài kinh kệ Tín Tâm Minh của Tam Tổ Tăng Xán, do Hòa Thượng Thích Thanh Từ [viện chủ của Thiền Viện Trúc Lâm] giảng giải. Đoạn trích lời giản của HT Thích Thanh Từ có nói lên chỗ quan trọng mà cả BÀ LÃO đó cũng biết:

TÂM ba thời không thể đắc ... và CÁI THẤY của TÂM đó là ngăn ngại .. chỉ khi TÂM ĐÓ "được tịnh hóa" .. bỏ đi .. dứt đi .. thì mới nhìn thấy được "VỊ PHẬT" trong tâm của mỗi người hoạt động ra sao ?

cho nên đó là chỗ DỨT KIẾN của TÂM trong ba thời [smile].


Tu hành theo BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM cũng vậy .. cũng nghe thấy được tất cả mọi nỗi khổ và cuối cùng phát hiện ra --> VỊ PHẬT TRONG TÂM .. nhìn thấy được NGŨ UẨN GIAI KHÔNG có thể độ được NHẤT THIẾT KHỔ ÁCH.

[một chút kỹ thuật tu hành thôi ..không có gì đặc biệt đâu .. nếu bạn phát tâm tu hành .. học hỏi .. bạn cũng làm được .. và đương nhiên phải nhớ học hỏi từ các vị "CHÂN" SƯ .. những vị thày có thể giúp chúng ta hiểu được CHÂN Ý NGHĨA CỦA PHẬT PHÁP, của tu hành theo Phật Đạo ..

trong ý nghĩa ấy, như thày VQ ở đây cũng là một "chân" sư .. bởi vì thày ấy là đệ tử của một HT mà chính KLL cũng rất là kính trọng: HT Thích Từ Thông ... [smile] ]

kính,
KLL
 

khuclunglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
26 Tháng 12 2017
Bài viết
2,877
Reaction score
568
Điểm
113
Kính bạn Ưu Đàm một ly trà [smile]:

Chúng ta có thể xem vấn đề Cầu Phật .. và minh họa vấn đề TÂM tức là Phật bằng con đường tu hành Giới Định Tuệ như chính đức Phật đã dạy.

Đời là bể khổ.

Trên bể khổ mênh mông đó, cái gì cũng khổ, chỗ nào cũng khổ, có biết bao nhiêu chuyện có thể khổ mà nhiều lúc chúng ta không biết phải làm gì và bám víu nương tựa vào đâu.


i. thì chính Giới Hạnh là nền tảng của Định .. là chỗ an ổn, cũng là chỗ nương tựa chúng ta có thể TỰA VÀO bằng chánh niệm tỉnh giác mỗi khi chính mình có sự đau khổ ... trong đời sống và bể khổ mênh mông đó [smile]

** thí dụ: niệm phật cũng là thực hành định .. giúp tâm người ta an trụ .. bớt lăng xăng suy tư chuyện khổ .. ... cũng chính là GIỚI HẠNH [smile]

vì vậy GIỚI HẠNH như là những hòn đá nổi trên mặt biển -->> xây dựng lâu dài sẽ trở thành HẢI ĐẢO TỰ THÂN .. là núi TU DI .. là sự UNG DUNG TỰ TẠI [smile]

và khi đó .. TÂM --> ĐỊNH --> TUỆ .. tức là sẽ xảy ra hiện tượng HÓA PHẬT .. TÂM tức là Phật cũng tức là LÝ BẤT NHỊ [không phải là hai ].



Đây là con đường, tuy nhiên, dĩ nhiên ai cũng phải mừng vui cho bạn khi thấy bạn đang tìm tòi học hỏi thực hành GIỚI HẠNH: GIỚI ĂN CHAY đi chẳng hạn. Chúc bạn tiếp tục đi trên con đường này, được nhiều niềm vui và hạnh phúc trên con đường phật đạo.


kính,
KLL
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,370
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Chấp trước là pháp bất thiện.

Thật tình là Ưu Đàm đọc không hiểu gì cả. Mọi người có thể kinh theo những ví dụ ngoài cuộc sống có được không
Kính Bạn Ưu Đàm. Cảm ơn Bạn tham gia thảo luận.

Ở đoạn kinh trên đức Phật đang nói về sự chấp trước.

- Chấp là cố chấp.
- Trước là dính mắc.

VQ và các ĐH đang phân tách đến chỗ:

+ Chấp 2 bên. như có và Không, phải và trái v.v... Đó là "Chấp trước". Mà nhẫn đến thấy được Trung Đạo, tức là thấy được NHƯ, mà khởi tâm CHẤP NHƯ cũng là "Chấp trước".

Thông thường, thế gian có 2 sự chấp trước nặng nề nhất. Đó là CHẤP NGÃ và CHẤP PHÁP.

- Chấp Ngã là Chấp cái TA.
- Chấp Pháp là chấp cái CỦA TA.

Xã được Ngã và Pháp, nhưng nếu còn chấp cái Thanh tịnh, cái rỗng rang của "hết chấp" (tức là NHƯ) cũng là "Chấp trước".

Tỉ dụ: nghe nói tâm "không", rồi cho cái "Không" đó là quí, rồi tìm nó và đè xuống, như vậy là bám vào cái không, chấp chặc vào nó, chấp không là do cái không trước biến ra.

Bất dụng cầu chơn, duy tu tức kiến: Người tu chủ yếu đừng có cầu chơn, cầu chơn là muốn thấy cho tâm, muốn thấy đã là bệnh rồi. Chỉ cần dừng hết mọi kiến chấp thì chơn tâm hiện tiền. Chấp thật giả, phải quấy, vừa có những niệm chấp như vậy là đã mất cái chân thật. Cho nên chủ yếu của sự tu hành là buông hết kiến chấp, kiến chấp hết thì chơn tâm hiện bày.

Kính mời các Bạn, chúng ta tiếp tục nha.

Kinh văn: (Ngài Ca Diếp hỏi tiếp)_ Bạch Thế Tôn ! Sự chấp trước nầy là thiện hay là bất thiện ?

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Sự chấp trước như vậy chẳng gọi là thiện, vì không thể phá hoại những lưới nghi.
Ở đây Phật dạy. Tâm chấp trước là Pháp bất thiện. Vì nó trở ngại cho "tâm phá nghi". Do vậy chúng ta phải trừ bỏ.

Tại sao phải trừ bò ?

Vì quả vị đầu tiên của đệ tử Phật là Tư Đà Hoàn, phải có 3 điều kiện tiên quyết:

1 Dứt Nghi.

2. Trừ được thân kiến

3. Trừ được giới cấm thủ.

Cho nên dứt nghi là hạnh tu đầu tiên để nhập lưu. nghĩa là vào giòng Thánh. Mà việc dứt nghi phải xã chấp trước.

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,370
Reaction score
1,699
Điểm
113
* 4 Cách đức Phật giải đáp nghi vấn.

Kinh văn: _ Nầy Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai vì chúng sanh nên có ba thứ giải đáp : Một là đáp quyết định, hai là phân biệt mà đáp, ba là theo lời hỏi mà đáp, bốn là yên lặng mà đáp.

Thế nào là quyết định đáp ? Nếu có ai hỏi rằng nghiệp ác cảm quả lành hay quả chẳng lành ? Thời nêu quyết định đáp rằng cảm quả chẳng lành. Hỏi thiện nghiệp cũng đáp như vậy . Nếu hỏi đức Như Lai có phải là bực nhứt thiết trí chăng ? Thời nên quyết định đáp rằng là bực nhứt thiết trí. Nếu hỏi Phật pháp là thanh tịnh chăng ? Thời nên quyết định đáp rằng là thanh tịnh. Nếu hỏi đệ tử của Phật có ăn ở đúng như pháp chăng ? Thời nên quyết định đáp rằng có đúng như pháp mà ở. Đây gọi là quyết định đáp.

Thế nào là phân biệt mà đáp ? _ Như đức Phật giảng nói bốn chơn đế. _ Thế nào là bốn ? _ Là khổ tập diệt đạo. _ Sao gọi rằng khổ đế ? _ Vì có tám điều khổ nên gọi là khổ đế. _ Thế nào là tập đế ? _ Vì là nhơn của ngũ ấm nên gọi là tập đế. _ Thế nào là diệt đến ? _ Vì đã dứt hẳn tham sân si nên gọi là diệt đế. _ Thế nào là đạo đế ? _ Ba mươi bảy pháp trợ đạo gọi đó là đạo đế. Đây gọi là phân biệt mà giải đáp.

Thế nào là theo lời hỏi mà đáp ? Hỏi rằng đức Thế Tôn nói những pháp gì là vô thường ? _ Đáp rằng đức Như Lai nói pháp hữu vi là vô thường. Vô ngã cũng như vậy. _ Hỏi rằng đức Thế Tôn vì những pháp gì mà nói tất cả đốt cháy ? _ Đáp rằng đức Như Lai vì tham, sân, si mà nói tất cả đốt cháy.

Nầy Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai có mười trí lực, bốn vô sở úy, ba niệm xứ, Đại Từ Đại Bi, Thủ Lăng Nghiêm v.v…tám muôn ức môn Tam Muội, ba mươi hai tướng, tám mươi vẻ đẹp, năm trí ấn v.v… ba muôn năm ngàn môn Tam Muội, Kim Cang định v.v…bốn ngàn hai trăm môn Tam Muội, vô lượng vô biên phương tiện Tam Muội, những công đức trên đây là Phật tánh của Phật. Phật tánh nầy có bảy điều : Thường, lạc, ngã, tịnh, chơn, thật và thiện. Đây gọi là phân biệt mà giải đáp.

Nầy Thiện Nam Tử ! Phật tánh của Bồ Tát thân rốt sau có sáu điều : Thường, tịnh, chơn, thật, thiện và thiểu kiến. Đây gọi là phân biệt mà giải đáp.

Như trước kia ông hỏi : Người dứt mất căn lành có Phật tánh. Người nầy cũng có Phật tánh của Như Lai, cũng có Phật tánh của Bồ Tát thân rốt sau. Hai Phật tánh nầy vì chướng ngại vị lai nên được gọi là không, vì rốt ráo sẽ được nên gọi là có. Đây gọi là phân biệt mà đáp.

Phật tánh của Như Lai chẳng phải quá khứ, chẳng phải hiện tại, chẳng phải vị lai.

Phật tánh của Bồ Tát thân rốt sau là hiện tại và vị lai : Vì có thể thấy phần ít nên gọi là hiện tại, vì chưa thấy đầy đủ nên gọi là vị lai.

Đức Như Lai lúc chưa chứng được vô thượng Bồ Đề, về nhơn Phật tánh cũng là quá khứ, hiện tại và vị lai. Về quả Phật tánh thời chẳng như vậy : Có là ba đời, có chẳng phải ba đời.

Phật tánh của Bồ Tát thân rốt sau về nhơn cũng là ba đời, về quả cũng như vậy. Đây gọi là phân biệt mà đáp.

Phật tánh của Cửu Trụ Bồ Tát có sáu điều : Thường, thiện, chơn, thật, tịnh, khả kiến. Nhơn Phật tánh cũng là ba đời, quả cũng như vậy. Đây gọi là phân biệt mà nói.

Bát Trụ Bồ Tát xuống đến bực Lục Trụ, Phật tánh có năm điều : Chơn, thật, tịnh, thiện và khả kiến. Nhơn Phật tánh cũng là ba đời, quả cũng như vậy. Đây gọi là phân biệt mà đáp.

Ngũ Trụ Bồ Tát xuống đến bực Sơ Trụ, Phật tánh có năm điều : Chơn, thật, tịnh, khả kiến và thiện bất thiện.

Nầy Thiện Nam Tử ! Năm thứ Phật tánh, sáu thứ Phật tánh, bảy thứ Phật tánh, người dứt mất căn lành quyết sẽ được nên gọi là có, đây gọi là phân biệt mà đáp.

Nếu nói rằng người dứt mất căn lành quyết định có Phật tánh quyết định không Phật tánh. Đây gọi là yên lặng mà đáp.

_ Bạch Thế Tôn ! Tôi nghe rằng chẳng đáp mới gọi là yên lặng mà đáp. Nay cớ gì đức Như Lai đáp mà lại gọi là yên lặng đáp ?

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Ta cũng chẳng nói ra, để đó chẳng giải đáp nên gọi là yên lặng mà đáp.

Nầy Thiện Nam Tử ! Yên lặng đáp như vậy lại có hai thứ : Một là ngăn dứt, hai là chẳng chấp trước. Do nghĩa nầy nên được gọi là yên lặng đáp
.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,370
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Nhơn thiện mà quả ác.

Kinh văn: Nầy Thiện Nam Tử ! Có bốn việc lành mang lấy quả ác : Một là vì hơn người mà đọc tụng kinh điển, hai là vì lợi dưỡng mà thọ trì cấm giới, ba là vì hệ thuộc người khác mà làm việc bố thí, bốn là vì cõi phi tưởng, phi phi tưởng mà nhiếp niệm tư duy, đây là bốn điều lành được quả báo ác. Nếu người thật hành bốn việc như vậy thời gọi là chìm rồi lại nổi lên, nổi lên rồi lại chìm xuống. Vì ưa thích ba cõi hữu lậu nên gọi là chìm. Vì thấy ánh sáng tức là được nghe pháp trì giới, bố thí, thiền định, đây gọi là nổi lên. Thêm lớn tà kiến, sanh kiêu mạn nên gọi là lại chìm xuống. Do đây nên trong khế kinh ta nói kệ rằng :

Nếu có chúng sanh thích các cõi, Vì các cõi mà tạo nghiệp ác, Người nầy mê mất đạo Niết Bàn, Đây là tạm nổi lại chìm xuống. Đi nơi biển sanh tử tối tăm, Dầu được giải thoát xem phiền não, Người nầy lại thọ quả báo ác, Đây là tạm ra lại chìm xuống.

Nầy Thiện Nam Tử ! Như cá lớn kia do thấy ánh sáng tạm thời nổi lên khỏi nước, vì thân nặng nên lại chìm xuống, hai hạng người trên đây cũng lại như vậy.

Nầy Thiện nam Tử ! Hoặc có người tham đắm ba cõi hữu lậu đây gọi là chìm. Được nghe kinh Đại Niết Bàn nầy mà sanh lòng tin, đây gọi là nổi lên. Duyên cớ gì gọi đó là nổi lên ? Ví nghe kinh nầy rồi xa lìa pháp ác tu tập pháp lành, nên gọi là nổi lên. Người nầy dầu tin nhưng cũng chẳng đầy đủ. Duyên cớ gì tín tâm chẳng đầy đủ ? Người nầy dầu tin Đại Niết Bàn thường, lạc, ngã, tịnh, mà nói rằng thân Như Lai là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Đức Như Lai có hai thứ Niết Bàn : Một là hữu vi, hai là vô vi. Hữu vi Niết Bàn không có thường lạc ngã tịnh. Vô vi Niết Bàn có thường lạc ngã tịnh. Dầu tin Phật tánh là chúng sanh có, nhưng bất tất là tất cả đều có. Do đây nên gọi là tín tâm chẳng đầy đủ
.
 

Tịch Nhiên

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
12 Tháng 1 2017
Bài viết
980
Reaction score
399
Điểm
63
Cảm ơn thầy Viên Quang!

Đoạn trích trên ý Nghĩa thật xâu xa. Chấp một hiểu, một biết riêng thì đã đoạ nghiệp si. Nghĩa hiện đều là cảnh duyên khởi tâm ham thích Diệu Nghĩa đều là tâm bệnh. Kinh nói Bồ Tát ở nơi tri kiến mà chẳng động. Vì chẳng theo duyên khởi vọng tình.

Giác chiếu vô công, căn trần nào tội! Xưa nay có pháp nào chướng ngại được Y?

Tổ sư nói Tâm tự vô tâm cũng chẳng có người làm cho Vô Tâm , người ngộ chỉ là mặc khế ý này. Tức Ngộ cũng còn chẳng dính dáng gì hì hì...

Thế nào là mặc khế? " Ta nghe như uống cam lồ vậy. Tan hết vào trong chẳng nghĩ bàn" hi hi...
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,370
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Đối trị tất đàn.

Kinh văn: Nầy Thiện Nam Tử ! Trí chẳng đầy đủ phàm có năm điều , người nầy biết rồi cầu gần bạn lành. Bạn lành nầy nên xem xét người trên đây nhiều tham dục hay nhiều sân khuể, ngu si, tư giác, chấp ngã ?

Nếu biết là nhiều tham dục thời nên dạy cho pháp quán bất tịnh : Nhiều sân khuể dạy pháp quán từ bi ; nhiều ngu si dạy pháp quán nhơn duyên ; nhiều tư giác dạy pháp quán sổ tức ; nhiều chấp ngã nên dạy phân tích thập bát giới v.v…

Người nầy nghe rồi chí tâm thọ trì, thọ trì rồi tu hành đúng như pháp, thật hành đúng như pháp rồi lần lượt chứng được tứ niệm xứ quán thân thọ tâm pháp, đặng pháp quán nầy rồi lại quán mười hai nhơn duyên, quán rồi chứng được noãn pháp
.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,370
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Noãn Pháp.

Kinh văn: _ Bạch Thế Tôn ! Thế nào gọi là noãn ? Là tánh nó tự noãn hay vì pháp khác mà noãn ?

_ Nầy Thiện Nam Tử !Noãn pháp nầy tánh nó là noãn chẳng phải do pháp khác mà noãn.

_ Bạch Thế Tôn ! Đức Như Lai trước kia nói rằng Mã Sư và Mãn Tú không có noãn pháp, vì hai người nầy không có tín tâm đối với Tam Bảo. Do đây nên biết rằng tín tâm chính là noãn pháp.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Tín tâm chẳng phải là noãn pháp, vì do tín tâm mà chứng noãn pháp.

Nầy Thiện Nam Tử ! Luận về noãn pháp chính là trí huệ, vì quán tứ đế nên gọi là mười sáu hạnh. Hạnh đây chính là trí.

Nầy Thiện Nam Tử ! Như lời ông hỏi duyên cớ gì mà gọi là noãn ?

Nầy Thiện Nam Tử ! Luận về noãn pháp chính là tướng lửa của tám thánh đạo.

Như cọ lửa : Trước có hơi nóng, kế có lửa, rồi sau có khói, đạo vô lậu nầy cũng như vậy : Hơi nóng là mười sáu hạnh, lửa là quả T u Đà Hoàn, khói là trong vị tu đạo dứt kiết sử.

_ Bạch Thế Tôn ! Noãn pháp nầy cũng là pháp có, cũng là hữu vi. Noãn pháp nầy được qủa báo thân ngũ ấm cõi sắc nên gọi là có. Vì là nhơn duyên nên lại gọi là hữu vi. Nếu là hữu vi tại sao có thể làm tướng đạo vô lậu ?

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Đúng như vậy ! Noãn pháp nầy dầu là pháp hữu vi hữu lậu, nhưng trở lại có thể phá hoại pháp hữu vi hữu lậu, nên có thể làm tướng đạo vô lậu. Như người cỡi ngựa cũng thương ngựa nhưng cũng đánh ngựa. Noãn pháp cũng vậy : Vì ái mà thọ sanh, vì nhàm mà tu quán hạnh, do đây nên dầu là hữu lậu hữu vi mà có thể làm tướng cho chánh đạo kia.

Có bảy mươi ba hạng người được noãn pháp : Cõi dục mười hạng người. Mười hạng người nầy đầy đủ tất cả phiền não : Từ dứt một phần đến chín phần. Như cõi dục, Sơ thiền nhẫn đến Vô Sở Hữu Xứ cũng như vậy. Đây gọi là bảy mươi ba. Những người nầy được noãn pháp rồi thời chẳng còn lại có thể dứt căn lành tạo tội ngũ nghịch phạm bốn tội trọng. Những người nầy có hai hạng : Một là gặp bạn lành, hai là gặp bạn ác.
+ Noãn , Đảnh, Nhẫn, Thế Đệ Nhất là 4 quả vị thuộc Bồ Tát thừa.

Bồ Tát do tư duy tu mà chứng được Noãn Pháp.

Thế nào là Noãn Pháp ?

Ở bài giải Duy thức tam thập tụng. HT. Thích Trí Châu nói:

"Con người khi hiện hữu họp nhóm lại thành từng nhóm, từng địa phương, phát minh ra cách thức để liên lạc với nhau, đặt ra các quy ước về dấu hiệu và âm thanh để diễn tả các đối tượng vật chất bên ngoài và tình cảm bên trong, nhận xét và đặt tên, định nghĩa, phân biệt đặc tánh của từng hiện tượng. Thành Duy Thức gọi đó là bốn pháp tầm tư. Tầm tư danh, tầm tư nghĩa, tầm tư đặc tánh và tầm tư sai biệt."

+ Ở bậc noãn, vị bồ tát phát sanh tầm tư bậc hạ, quán bốn pháp tầm tư đều do tự tâm biến hiện, giả nói là có chứ kỳ thực không có gì để nắm bắt, tức là không có tướng sở thủ. Các pháp đều như huyễn, và do cái huyễn đó mà đặt ra có tên gọi, do tên gọi đó mà biết ý nghĩa và đặc tánh của các pháp, từ đó mới phân biệt được sự khác biệt của các pháp. Các vị bồ tát tiếp tục quán như vậy tới lúc đạt được hơi lửa đầu tiên của mặt trời trí huệ, là đạt được bậc noãn, là hơi ấm, là tướng nóng.

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,370
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Noãn Pháp (tt).

Kinh văn: Nầy Thiện Nam Tử ! Trí chẳng đầy đủ phàm có năm điều , người nầy biết rồi cầu gần bạn lành. Bạn lành nầy nên xem xét người trên đây nhiều tham dục hay nhiều sân khuể, ngu si, tư giác, chấp ngã ?

Nếu biết là nhiều tham dục thời nên dạy cho pháp quán bất tịnh : Nhiều sân khuể dạy pháp quán từ bi ; nhiều ngu si dạy pháp quán nhơn duyên ; nhiều tư giác dạy pháp quán sổ tức ; nhiều chấp ngã nên dạy phân tích thập bát giới v.v…

Người nầy nghe rồi chí tâm thọ trì, thọ trì rồi tu hành đúng như pháp, thật hành đúng như pháp rồi lần lượt chứng được tứ niệm xứ quán thân thọ tâm pháp, đặng pháp quán nầy rồi lại quán mười hai nhơn duyên, quán rồi chứng được noãn pháp.


Quán bất tịnh, thế nào ?



Bất tịnh có nghĩa là nhơ nhớp, không sạch, không bền chắc. Đây là một sự thật của thân này. Chỉ cần lưu tâm, xem xét ngay nơi chính bản thân mình cũng giúp nhận ra sự bất tịnh, nhơ bẩn, kể cả lúc mình được xem là sạch sẽ nhất.
Mặc dù ai cũng đã từng nhận ra sự bất tịnh của thân này nhưng do tập nghiệp chấp thủ sâu dày nên ta dường như không mấy quan tâm. Ngược lại còn rất mực cưng chiều, quý mến, xem là bậc nhất, là trung tâm, kết tụ hết những tinh hoa của trời đất. Chính sự chấp thủ này là cội nguồn của mọi phiền não, dính mắc, tạo ra vô vàn khổ đau trong cuộc sống. Vì không thấy rõ ràng và thường trực về sự bất tịnh nên ta luôn bị tham dục, sân hận, thùy miên, trạo hối, nghi ngờ che phủ.
“Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp Cô Độc. Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

Ta ở trong chúng này, không thấy một pháp nào mà chưa có dục tưởng liền chẳng dục tưởng, dục tưởng đã sanh liền có thể diệt; tưởng sân giận chưa sanh liền chẳng sanh, tưởng sân giận sanh rồi liền có thể tiêu diệt, tưởng thùy miên chưa sanh liền chẳng sanh, tưởng thùy miên đã sanh liền có thể tiêu diệt, tưởng trạo hối đã sanh liền có thể tiêu diệt, tưởng nghi chưa sanh liền chẳng sanh, tưởng nghi đã sanh liền có thể tiêu diệt, như là quán sát nhơ bẩn bất tịnh. Đã quán nhơ bẩn bất tịnh thì tưởng dục chưa sanh liền chẳng sanh, đã sanh liền có thể tiêu diệt; sân giận chưa sanh liền chẳng sanh, sân giận đã sanh liền có thể tiêu trừ, cho đến tưởng nghi chưa sanh liền chẳng sanh, tưởng nghi đã sanh liền có thể tiêu diệt. Thế nên, này các Tỳ-kheo, thường nên chuyên ý quán tưởng bất tịnh. Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm”.

(Kinh Tăng nhất A-hàm, tập I, phẩm 9. Một đứa con,
VNCPHVN ấn hành, 1997, tr.102)

Những hành giả thực tập thiền định đều thấy rõ ràng rằng nếu năm món ngăn che này (tham dục, sân hận, thùy miên, trạo hối, nghi ngờ) còn mạnh mẽ thì tâm không thể an trú vào các đề mục chỉ quán. Sự nhất tâm, cận định sẽ không xảy ra khi năm triền cái vẫn tung hoành. Dù rằng, mỗi triền cái có một cách đối trị riêng nhưng quán bất tịnh, uế trược, nhơ nhớp, vô thường của thân là nền tảng quan trọng, có tác dụng tích cực cho việc an trụ và hàng phục tâm.

Chấp thủ vào thân tâm, không thấy bất tịnh là điểm tựa mạnh mẽ nhất cho tham ái và các món triền phược khác hoành hành. Nên một khi thấy rõ về sự thật của thân này là không sạch, vô thường, hư giả thì các trói buộc tự khắc suy yếu hoặc rơi rụng. Vì thế, thiền quán bất tịnh được xem như pháp môn căn bản, không thể thiếu trong lộ trình tu tập. Như kinh nghiệm của Thế Tôn: “Đã quán nhơ bẩn bất tịnh thì tưởng dục chưa sanh liền chẳng sanh, đã sanh liền có thể tiêu diệt; sân giận chưa sanh liền chẳng sanh, sân giận đã sanh liền có thể tiêu trừ, cho đến tưởng nghi chưa sanh liền chẳng sanh, tưởng nghi đã sanh liền có thể tiêu diệt”.

Ta chính là cát bụi, sẽ trở về cát bụi là điều ai cũng biết. Nếu luôn thường trực, nằm lòng về sự thật cát bụi của thân này thì đây là một tuệ giác lớn. Càng thấy rõ về thân phận mình là bọt bèo thì càng dễ buông. Buông nhiều, dính mắc ít thì đi vào định càng nhanh, năm triền cái lắng dịu, năm thiền chi tăng trưởng, tâm càng tịnh sáng hơn
(Quảng Tánh)

Pháp quán bất tịnh này chửa trị được bệnh nhiều tham dục, là phương tiện đưa đến Noãn Pháp.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,370
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Noãn Pháp (tt).

+ Quán thế nào gọi: nhiều ngu si dạy pháp quán nhơn duyên ?

Đối với lý Phật. Thấy sai về sự hình thành Ngã và Pháp, gọi là ngu si. Đối trị ngu si để có được trí huệ thì tu quán 12 Nhân Duyên.

Pháp Quán 12 Nhân Duyên, là tiền đề của Bát Nhã Ba La Mật, tức là Pháp Không.- Nên gọi là Trí Huệ.

Quán 12 nhơn duyên gồm:

(trích https://thuvienhoasen.org/a7793/thap-nhi-nhan-duyen)

PHẬT HỌC THƯỜNG THỨC
Tâm Minh Lê Đình Thám

THẬP NHỊ NHÂN DUYÊN

Thập nhị nhân duyên là phép tu hành của Duyên giác thừa, phép này chủ yếu quán sát tất cả các sự vật, cho đến luân hồi, đều do nhân duyên mà phát khởi, nhân duyên hội họp thì gọi là sanh, nhân duyên tan rã thì gọi là diệt, sự thất vốn không có cái gì sanh, cái gì diệt cả.....

1. Vô minh: Vô minh là không sáng suốt, là mề lầm, không nhận được bản tính duyên khởi chân thật. Do vô minh, nên không biết tất cả sự vật, dầu thân, dầu cảnh, dầu sinh, dầu diệt, dầu năng, dầu sở, dầu có, dầu không, đều do nhân duyên hội họp mà giả dối sinh ra, do nhân duyên tan rã mà giả dối mất đi, đều theo nhân duyên mà chuyển biến như huyễn, như hóa, không có thật thể. Chính vì không biết như thế, nên lầm nhận thật có cái ta, thật có cái thân, thật có hoàn cảnh, rồi do sự đối đãi giữa thân tâm và cảnh giới, phát khởi ra những tâm niệm sinh diệt chuyển biến không ngừng.

2. Hành: Hành, chính là cái tâm niệm sinh diệt chuyển biến không ngừng ấy, nó làm cho chúng sanh nhận lầm có cái tâm riêng, cái ta riêng của mình, chủ trương gây các nghiệp, rồi về sau chịu quả báo.

3. Thức: Tâm niệm sinh diệt tiếp tục ấy, theo nghiệp báo duyên ra cái thức tâm của mỗi đời, chịu cái thân và cái cảnh của loài này hoặc loài khác.

4. Danh sắc: Các thức theo nghiệp báo duyên sinh ra danh sắc. Sắc, bao gồm những cái có hình tướng, như thân và cảnh; Danh, bao gồm nhwnxgc ái không có hình tướng, như cái sự hay biết, nói một cách khác, là thức tâm thuộc nghiệp nào, thì hiện ra thâm tâm và cảnh giới của nghiệp ấy.

5. Lục nhập: Thân tâm đối với cảnh giới thì duyên khởi ra các sự lãnh nạp nơi 6 giác quan, nhãn căn lãnh nạp sắc trần, nhĩ căn lãnh nạp thanh trần, tỷ căn lãnh nạp hương trần, thiệt căn lãnh nạp vị trần, thân căn lãnh nạp xúc trần và ý căn lãnh nạp pháp trần.

6. Xúc: Do những lãnh nạp như thế, mà các trần ảnh hưởng đến tâm hay biết sinh ra quan hệ với nhau, nên gọi là xúc.

7. Thọ: Do những quan hệ giữa tâm và cảnh như thế, nên sinh ra các thọ là khổ thọ, lạc thọ, hỷ thọ, ưu thọ và xả thọ.

8. Ái: Do các thọ đó, mà sinh lòng ưa ghét, đối với lạc thọ, hỷ thọ thì ưa, đối với khổ thọ, ưu thọ thì ghét và đã có ưa ghét thì tâm gắn bó với thân, với cảnh, hơn bao giờ hết.

9. Thủ: Do tâm gắn bó với thân, với cảnh nên không thấy được sự thật như huyễn, như hóa, mà còn kết hợp được những ảnh tượng rời rạc đã nhận được nơi hiện tại, thành những sự tướng có định, rồi từ đó chấp mọi sự vật đều có thật, sự chấp trước như thế, gọi là thủ.

10. Hữu: Do tâm chấp trước, nên những sự vật như huyễn như hóa lại biến thành thật có, có thân, có cảnh, có người, có ta, có gây nghiệp, có chịu báo, có sống và có chết, cái có như thế, tức là hữu.

11. Sinh: Có sống, tức là có sinh, nói một cách khác, là do không rõ đạo lý duyên khởi như huyễn, không có tự tánh, nên nhận lầm thật có sinh sống.

12. Lão tử: Lão tử là già rồi chết. Do có sinh sống, nên có già, rồi có chết.

Mười hai nhân duyên là một dây chuyền liên tục, chuyền từ khâu này đến khâu khác trong nhiều đời. Do có vô minh qua hành ở các đời quá khứ nên duyên khởi ra thức tâm của đời này. Thức tâm ấy, theo nghiệp báo duyên sinh ra danh sắc, danh sắc duyên sinh ra lục thập, lục thập duyên sinh ra xúc, xúc duyên sinh ra thọ. Thức, danh sắc, lục nhập, xúc và thọ, đều là cái quả báo dị thục của các nghiệp, đã gây ra từ trước.

Khi tâm chúng sanh chịu cái quả báo đó, thì do sự đối đãi giữa thân và cảnh lại sinh ra những điều ưa ghét, đó là ái. Rồi do có ưa ghét, mà gắn bó với thân và cảnh, chấp là thật có, không biết thân tâm và cảnh giới đều duyên khởi như huyễn, đó là thủ. Do có chấp trước, nên mọi sự vật, vốn là huyễn hóa, lại biến thành thật có, thân cũng có, cảnh cũng có, ý thức phân biệt cũng có, mình cũng có, người cũng có, rồi từ đó, sinh ra có gây nghiệp và có chịu báo.

Đã có gây nghiệp và đã có chịu báo, thì khi hết thân này, nghiệp báo sẽ dẫn dắt vào một thân khác trong vị lai, đó là sanh, mà đã có sanh thì nhất định có lão tử.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,370
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Noãn Pháp (tt).

+ Quán thế nào gọi Quán Sổ Tức ?

Quán Sổ tức là đếm hơi thở. Quán là tập trung tư tưởng để quan sát, phân tích hay suy nghiệm đến một vấn đề. Sổ tức quán là tập trung tâm trí để hơi thở ra vào của mình, mà mục đích là để đình chỉ tâm tán loạn.

Vì Sao Phải Đình Chỉ tâm Tán Loạn .

Tâm trí chúng ta bị muôn việc ở đời chi phối, khi vui khi buồn, khi lo việc này, khi suy nghĩ chuyện khác, khi mừng khi giận, khi thương khi ghét, không bao giờ được định tĩnh. Dù cho ta có ngồi yên một chỗ, khoanh tay lại, tâm trí chúng ta cũng không dừng nghỉ, mà vẫn sống với đời sống lăng xăng rộn ràng của nó.

Riêng trong phạm vi nhỏ hẹp, chúng ta cũng nhận thấy có nhiều người học hành chẳng nhớ, gặp việc hay quên, niệm Phật không thành công, tham thiền quán tưởng chẳng kết quả, đều do sự tán loạn của tâm trí mà ra.

Vậy, muốn học hành mau nhớ, gặp việc không quên, niệm Phật được nhất tâm bất loạn, tham thiền quán tưởng được thành tựu, điều cốt yếu là phải làm sao cho tâm trí được yên định.

Vì sao tâm trí được yên định, thì dễ đạt được những kết quả như trên? Ta hãy lấy một thí dụ thông thường mà nhiều người đã kinh nghiệm: Khi ta học một bài thuộc lòng hay làm một bài toán vào lúc hoàng hôn hay giữa cảnh náo nhiệt, thì ta thấy vất vả khó khăn vô cùng, vì suốt ngày tâm ta đã mệt mỏi tính toán lăng xăng, phân tán theo trần cảnh. Trái lại, cũng một bài học đó, hay bài toán đó, mà trong buổi khuya thanh vắng, một mình một bóng với ngọn đèn, thì ta lại học bài rất mau thuộc, làm bài rất mau xong, tâm tánh ta hình như thông minh sáng suốt phi thường. Vì sao vậy? Vì buổi khuya mới thức dậy, tâm trí ta yên tịnh, chưa bị trần cảnh chi phối.

Ta có thể làm một thí dụ thứ hai nữa để vấn đề càng thêm sáng tỏ: Một cây đèn dầu, mặc dù rất lớn ngọn, nhưng khi thắp lên bị gió từ phía đàn áp phải lung lay, leo lét khi mờ khi tỏ, có nhiều khi gần muốn tắt. Một ngọn đèn như thế chỉ làm hao dầu rất nhiều, chứ không thể soi sáng được gì hết. Nhưng khi chúng ta lấy ống khói chụp lại, gió không đánh bạt được nữa, ngọn đèn đứng thẳng và tỏa ánh sáng khắp gần xa, chiếu phá được một vùng bóng tối trong đêm trường.

Cũng như ngọn đèn bị gió bạt kia, tâm hành giả bị bát phong xuy động, thất tình lục dục chi phối, lục trần bủa vây làm cho tán loạn, không soi sáng được gì cả. Vậy hành giả, muốn cho tâm được minh mẫn thì phải đừng cho nó tán loạn, nghĩa là phải định tâm, định càng thâm thì tâm càng tỏ, như ngọn đèn càng đứng lặng, thì ánh sáng càng tỏa. Phật dạy: "Tâm có định mới phát sinh trí huệ, có trí huệ mới phá trự được vô minh để minh tâm kiến tánh". Sở dĩ, các vị Thánh hiền được biết nhiều quá khứ vị lai và có nhiều điều thần diệu, đều do tâm đã định mà phát minh trí huệ sáng suốt, nên mới được như thế. Nên kinh chép: "Chế tâm nhất xứ, vô sự bất biến", nghĩa là ngăn vọng tâm lại được một chỗ, thì không việc gì chẳng thành tựu. Hành giả muốn cho tâm mình hết tán loạn, được yên định, thì phải tu phép quán Sổ tức, một phép quán rất dễ thật hành và rất kiến hiệu, ai cũng có thể làm được.

(Theo PHCB HT. Thích Thiện Hoa)

Tóm lại: Quán Sổ tức là Pháp "Thiền Chỉ" (Samatha) nghĩa là Pháp thiền làm dừng lại mọi vọng niệm trong tâm trí, để tâm được chuyên nhất , Tức là đưa tâm ý vào trạng thái Tứ Thiền: 1 Giác, 2 Quán, 3 Hỷ, 4 Lạc, 5 NHẤT TÂM.

+ Trong pháp Thiền này, đầu tiên hành giả ngồi ngay ngắn kiết già, tay kiết ấn Tam muội, mắt nhắm nhẹ nhìn xuống chóp mũi, lưỡi cuống lên nắp vọng,- Nghĩa là thu nhiếp 5 căn lại. Tiếp đó dùng Ý thức quán sát hơi thở ra vào.

- Khi hơi thở hít vào, dùng ý thức "Giác niệm" hơi thở hít vào. Khi hơi thở thả ra, dùng ý thức "Giác niệm" hơi thở thả ra và ghi nhớ 1 tức, tiếp tục như vậy ghi nhớ 10 tức, không để cho lầm lẫn. Nếu bị quên thì bỏ hết, đếm lại.

- Khi đã định được 10 tức, thì bội lên trăm tức, nghìn tức không cho sai siểng.

+ Đến được trăm tức, nghìn tức không sai siểng là đã đạt được Giác, Quán và sanh tâm hoan hỷ, an lạc. Đây là trạng thái Sơ Thiền.

Từ trạng thái Sơ Thiền, hành giả đình chỉ 4 trạng thái Giác, Quán, Hỷ, Lạc chỉ còn Nhất Tâm.- Đây là trạng thái Tứ Thiền tương đương "NOÃN PHÁP".

Đây là pháp đối với người nhiều tán loạn dạy Pháp Quán Sổ Tức
 

Tịch Nhiên

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
12 Tháng 1 2017
Bài viết
980
Reaction score
399
Điểm
63
Ồ!!! Hóa ra là thế!

Cảm ơn thầy Viên Quang. Bài viết này không ngờ lại xúc động cảm ngộ của con hi hi....

Cảm ngộ về cái tên gọi chỉ cảnh giới hì hì...

Tên ứng với vật. Tên ứng với cảnh . Vật như thế có tên Như thế. Cảnh như thế có tên Như thế. Kể cả trạng thái như buồn, vui đều có tên y Nghĩa . Bởi vì minh bạch cảnh 100% nên khi ứng chiếu chẳng thiếu chẳng dư nên gọi là hiểu.

Ví như nói: ông A. Đi từ B đến C. Thì người biết ông A là gì. B là gì. Đi là gì rồi sẽ không có thắc mắc. Nhưng người không biết ông A là gì? B là gì. C là gì thì cũng như người Việt nghe tiếng Lào thôi:icon_irre2:

Nghĩa tức là cảnh. Cảnh tức là nghĩa . Khi chúng ta chưa rõ nghĩa gì thì chúng ta sẽ chơi trò lắp ráp mô hình (Quán). Chúng ta sẽ lấy dữ kiện từ những cảnh đã minh bạch 100% và lắp ráp cho tới khi mô hình hoàn hảo khớp với cái sự thật trước mắt 100% thì nghĩa viên mãn. Nghĩa với cảnh không 2 không khác.

Ý muốn hiểu tức ý muốn tạo cảnh. Ý sinh cảnh. Nghĩa viên mãn thì ý Tức cảnh. Toàn cảnh tức ý. Toàn ý Tức cảnh.

Vậy nên các cảnh giới đều là chổ ý hóa sanh. Do cầu mà hóa thành.

Hi hi... Trên con nói cảm ngộ là hóa ra cảnh sơ thiền là cái cảnh đó. Thật là hài hước... Bởi con không có ý đi tu luyện tứ thiền , bát định gì cả nhưng cảnh sơ thiền thầy nói đến đó con rõ. Tịch Nhiên con đúng là ếch ngồi đáy giếng thật hi hi...

Giác quán của con chưa viên mãn bởi con có cảm giác nếu viên mãn thì nó sẽ ăn khớp với thực tại 100%. Chưa được tùy thời Nhất Tâm bất loạn.
 

Tịch Nhiên

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
12 Tháng 1 2017
Bài viết
980
Reaction score
399
Điểm
63
Ha ha...

Nhờ đọc đoạn trích kinh Phật bên kia con hiểu rồi!

Giác quán của con bị dừng nên không khớp với thực tại. Phải trôi cùng dòng tùy thời cùng chiếu . Vạn cảnh cùng quán. Buông lỏng tự nhiên. Bước đúng nhịp điệu . Tựa như động tựa như bất động
 
Top