Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 24. Ca Diếp Bồ Tát

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113

PHẨM CA DIẾP BỒ TÁT

* Thiện Tinh Tỳ kheo.

Kinh văn: Ca Diếp Bồ Tát bạch rằng : “ Thế Tôn ! Đức Như Lai thương xót tất cả chúng sanh. Có thể điều phục kẻ chẳng điều phục, có thể thanh tịnh kẻ chẳng thanh tịnh, có thể quy y kẻ chẳng quy y, có thể giải thoát kẻ chưa giải thoát, được tám môn tự tại là bực đại Y Sư, đại Dược Vương.

Bạch Thế Tôn ! Thiện Tinh Tỳ Kheo là con trai của đức Phật lúc chưa xuất gia, sau khi làm Tỳ Kheo, Thiện Tinh thọ trì đọc tụng giải thuyết mười hai bộ kinh, phá kiết sử cõi dục chứng được tứ thiền. Tại sao đức Như Lai nói Thiện Tinh là hạng Nhứt Xiển Đề, là người hạ tiện người không thể trị được phải ở nơi địa ngục cả kiếp. Cớ gì đức Như Lai chẳng trước diễn nói chánh pháp cho Thiện Tinh, để được làm Bồ Tát. Nếu đức Thế Tôn chẳng cứu được Thiện Tinh Tỳ Kheo, thời đâu được gọi là có đại từ bi, có đại phương tiện ?

Phật nói : “ Nầy Thiện Nam Tử ! Ví như cha mẹ chỉ có ba người con trai : Người trai thứ nhứt cung kính cha mẹ có lòng tin thuận, thông minh trí huệ có thể làm xong được sự nghiệp trong đời ; người trai thứ hai không cung kính tin thuận cha mẹ, thông minh trí huệ có thể làm xong sự nghiệp trong đời ; người trai thứ ba không cung kính tin thuận cha mẹ, ngu si vô trí.

Nầy Thiện Nam Tử ! Nếu lúc cha mẹ muốn dạy bảo điều gì, thời nên dạy đứa con nào trước, thân ái đứa con nào trước, nên bảo đứa nào làm sự nghiệp trước ?

_ Bạch Thế Tôn ! Cha mẹ đó nên trước dạy bảo đứa con có lòng cung kính tin thuận thông minh trí huệ hiểu biết sự nghiệp trong đời, kế đến dạy bảo đứa thứ hai, rồi sau mới đến đứa con thứ ba. Hai đứa sau dầu không lòng cung kính tin tbhuận nhưng vì xót thương nên cũng lần lượt dạy bảo.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai cũng như vậy. Đứa con thứ nhứt dụ cho Bồ Tát, đứa giữa dụ cho hàng Thanh Văn, đứa thứ ba dụ cho hạng Nhứt Xiển Đề.

Như trong khế kinh, những nghĩa lý vi tế ta đã trước giảng nói cho các vị Bồ Tát. Những nghĩa cạn cợt thời giảng nói cho hàng Thanh Văn. Những nghĩa thế gian thời giảng nói cho hạng Nhứt Xiển Đề phạm tội ngũ nghịch, dầu trong đời hiện tại họ không được lợi ích, nhưng cũng làm chủng tử lành cho đời sau.

Nầy Thiện Nam Tử ! Ví như ba hạng ruộng : Hạng thứ nhứt nước chảy lưu thông, không có ngói đá gai gốc, trồng một thâu được trăm. Hạng thứ hai dầu không ngói đá gai gốc, nhưng đường nước không được lưu thông nên hoa mầu kém ruộng trên phân nửa. Hạng thứ ba đường nước khó khăn lại nhiều ngói đá gai gốc cỏ mọc lan tràn trồng một chỉ thâu được một.

Nầy Thiện Nam Tử ! Đến mùa gieo trồng thời nông phu nên gieo trồng ruộng nào trước ?

_ Bạch Thế Tôn ! Nông phu kia nên gieo trồng ruộng thứ nhứt trước, kế đến ruộng thứ hai, sau rốt đến ruộng thứ ba.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Ruộng thứ nhứt dụ cho Bồ Tát, ruộng thứ hai dụ cho Thanh Văn, ruộng thứ ba dụ cho hạng Nhứt Xiển Đề.

Nầy Thiện Nam Tử ! Ví như ba cái chậu : Cái thứ nhứt nguyên vẹn, cái thứ hai rịn chảy, cái thứ ba bể. Nếu muốn đựng sữa, lạc, nước, tô thời trước nên dùng chậu nào ?

_ Bạch Thế Tôn ! Nên trước dùng chậu lành, kế đến dùng chậu nứt, sau rốt mới đến chậu bể.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Chậu lành dụ cho Bồ Tát, chậu nứt dụ hàng Thanh Văn, chậu bể dụ hạng Nhứt Xiển Đề.

Nầy Thiện Nam Tử ! Như có ba người bịnh đồng đến y sĩ : Người thứ nhứt dễ trị, người thứ hai khó trị, người thứ ba không thể trị. Y Sĩ nên trước trị cho người nào ?

_ Bạch Thế Tôn ! Nên trị cho người dễ trước, kế đến người thứ hai, sau rốt đến người thứ ba, vì là hàng thân thuộc.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Người bịnh dễ trị dụ cho Bồ Tát, người bịnh khó trị dụ cho Thanh Văn, người bịnh không thể trị dụ cho hạng Nhứt Xiển Đề. Dầu hạng sau rốt nầy đối với chánh pháp không được quả lành trong đời hiện tại, nhưng vì xót thương nên đức Như Lai cũng gieo trồng chủng tử lành cho họ đời sau.

Nầy Thiện Nam Tử ! Ví như nhà vua có ba hạng ngựa : Hạng thứ nhứt điều thuận mạnh mẽ, hạng thứ hai không điều thuận nhưng mạnh mẽ, hạng thứ ba không điều thuận là già yếu. Lúc muốn cỡi, nhà vua nên cỡi hạng ngựa nào trước ?

_ Bạch Thế Tôn ! Nhà vua nên trước cỡi hạng ngựa điều thuận mạnh mẽ, kế đến hạng thứ hai, sau cùng đến hạng thứ ba.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Hạng điều thuận mạnh mẽ dụ cho Bồ Tát, hạng thứ hai dụ cho Thanh Văn, hạng thứ ba dụ cho Nhứt Xiển Đề. Dầu hạng sau rốt nầykhông được lợi ích trong đời hiện tại, nhưng vì xót thương nên đức Như Lai vun trồng chủng tử lành đời sau cho họ.

Nầy Thiện Nam Tử ! Như lúc bố thí lớn có ba hạng người đến xin : Hạng thứ nhứt dòng sang thông minh giữ giới hiền lành, hạng thứ hai dòng trung lưu ngu tối nhưng cũng giữ giới hiền lành, hạng thứ ba, dòng hạ tiện ngu tối phá giới hung ác.

Nầy Thiện Nam Tử ! Thí chủ kia nên bố thí cho hạng nào trước ?

_ Bạch Thế Tôn ! Nên trước bố thí cho hạng thứ nhứt, kế đến hạng thứ hai, sau rốt đến hạng thứ ba.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Hạng thứ nhứt dụ cho Bồ Tát, hạng thứ hai dụ cho Thanh Văn, hạng thứ ba dụ cho Nhứt Xiển Đề.
Đoạn kinh này, ngài Ca Diếp Bồ Tát hỏi Phật: Phật có hiệu là "Điều ngự trượng phu" cớ sao, lại không điều ngự được Thiện Tịnh là con của Phật, đến nổi Thiện Tịnh phải bị là hạng Nhứt Xiển Đề, là người hạ tiện người không thể trị được phải ở nơi địa ngục cả kiếp....?

Ở đây, chúng ta nên quán "Nghiệp" để thấy.

Thế nào là "Nghiệp" ?

"Nghiệp" là vô minh là tội , nó do chúng sanh tự tạo tác và đeo mang theo chúng sanh.

Nó là nguyên nhân chướng đạo. Mà kinh gọi là Tam chướng.- Nghiệp chướng, Báo chướng, Phiền não chướng.

Phật dù có lòng từ bi thương xót muốn độ. Nhưng chúng sanh phải cố tiêu trừ Tam nghiệp mới có thể được độ.

Ví như chúng ta không biết đường đi để đến thành trì Niết Bàn. Chúng ta đứng ở ngã tư đường mong được người chỉ đường. Nhưng chúng ta lại bịt tai, bỉ mắt, bịt miệng.

Đức Phật như người chỉ đường. Muốn tiếp nhận thì chúng ta phải mở tai, mở mắt, mở miệng, thì mới được độ.

Kinh nói Phật có Tam năng, tam bất năng:

Tam năng tam bất năng là ba món được và ba món không được, căn cứ trên nhơn quả và nghiệp báo của chúng sanh đối với hóa độ của Đức Phật.

Ngài Nguyên Phong Thiền Sư nhận xét rằng : Phật là bậc vô lượng giác, lòng từ bi của Ngài dù trãi khắp thế giới chúng sanh, nhưng vẫn không vượt qua được chơn lý. Vì thế Phật có Tam năng tam bất năng.

A.1. Tam năng :

1.Năng thông nhất thiết tướng, thạnh vạn pháp trí.

2. Năng tri quần sanh tánh cùng ức hiếp sanh tử sự.

3. Năng độ vô lượng vô số chúng sanh.

B.1. Tam bất năng :

1. Bất năng tức diệt định nghiệp.

2. Bất năng hóa độ vô duyên chúng sanh.

3. Bất năng độ tận chúng sanh giới.

Vậy tam năng tam bất năng nghĩa là :

- Phật không bị ràng buộc bởi các tướng, thấu triệt hết vạn pháp “ được “ mà diệt định nghiệp tức thì (ngay trong một lúc) “ không được”

- Phật biết tất cả căn tánh của chúng sanh và những việc lâu xa cùng tội ức kiếp “được” mà hóa độ chúng sanh vô duyên thì “không được”

- Phật độ vô lượng vô số chúng sanh “được” mà độ tận thế giới chúng sanh “không được”.


(Theo PHDS của HT Thích Từ Thông.)
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* Nhất xiển đề.

Kinh văn: Bạch Thế Tôn ! Hạng Nhứt Xiển Đề do nhơn duyên gì mà không có pháp lành ?

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Vì hạng Nhứt Xiển Đề dứt căn lành. Chúng sanh đều có năm căn : tín, tấn, niệm, định và huệ, mà hạng Nhứt Xiển Đề dứt hẳn căn lành nầy. Do nghĩa đây nên giết hại con kiến còn mắc phải tội sát sanh, nhưng giết hại hạng Nhứt Xiển Đề không mắc tội sát sanh.

_ Bạch Thế Tôn ! Vì Nhứt Xiển Đề trọn không pháp lành nên gọi là Nhứt Xiển Đề
ư ?

_ Đúng như vậy !

_ Bạch Thế Tôn ! Tất cả chúng sanh có ba thứ pháp lành : Quá khứ , vị lai và hiện tại. Hạng Nhứt Xiển Đề không thể dứt được pháp lành đời vị lai, sao lại nói rằng dứt hết pháp lành gọi là Nhứt Xiển Đề.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Luận về sự dứt có hai thứ : Một là hiện tại dứt, hai là hiện tại chướng ngại vị lai. Hạng Nhứt Xiển Đề đủ cả hai thứ nầy nên ta nói rằng Nhứt Xiển Đề dứt hết căn lành.

Nầy Thiện Nam Tử ! Ví như có người té chìm trong hầm phẩn, dầu còn một sợi tóc chưa chìm, nhưng một sợi tóc không thể kéo nổi toàn thân. Hạng Nhứt Xiển Đề cũng như vậy dầu đời vị lai sẽ có căn lành nhưng không thể cứu được khổ địa ngục. Đời vị lai dầu có thể cứu khỏi, nhưng đời hiện tại không thể làm sao được. Do đây nên gọi là kẻ không thể cứu vớt.

Do Phật tánh làm nhơn duyên thời cứu vớt được, vì Phật tánh chẳng phải quá khứ chẳng phải vị lai chẳng phải hiện tại, nên Phật tánh không bị dứt mất. Như hột mục hư thời không thể mọc mọng, hạng Nhứt Xiển Đề cũng như vậy.
Nhứt xiển đề là người cực ác, dứt mất căn lành.

Đức Phật dạy về những kẻ có thể dứt mất căn lành do lòng nghi ngờ Chánh pháp.

Phật dạy: “Có những người thông minh lanh lợi, trí tuệ sáng suốt, khéo biết phân biệt, nhưng lìa xa bạn tốt, không nghe Chánh pháp, không khéo suy xét, không thực hành đúng pháp; những người như vậy có thể dứt mất căn lành.”

Do bốn yếu tố sai lầm vừa nêu mà những người này sẽ tự sanh khởi sự nghi ngờ và suy diễn sai lệch về Chánh pháp, dẫn đến không còn tin vào lý nhân quả, vào nhân lành của sự bố thí, cho đến không tin vào tất cả những gì Phật dạy, không tin rằng có các bậc thánh nhân đạt đạo ở thế gian này, không có Thánh đạo giải thoát.v.v...

Những suy diễn của hạng người “thông minh lanh lợi” này nghe qua có vẻ như rất hợp lý, nhưng thật ra chỉ hoàn toàn là những điều suy diễn dựa vào chỗ “thế trí biện thông” của họ, không có sự tu chứng, thể nghiệm trực tiếp trong thực tiễn đời sống. Vì thế, do chính những suy nghĩ sai lầm đó mà họ tự mình dứt mất căn lành. Nếu như không may mắn gặp được bậc thiện tri thức chỉ bày khuyên bảo ắt họ phải rơi vào chỗ sa đọa mãi mãi.

https://thuvienhoasen.org/p16a182/24-pham-ca-diep-bo-tat-thu-hai-muoi-bon

Thiện căn (căn lành) có 5 thứ:

1. Tín: Là lòng tin 3 ngôi Tam Bảo, tin nhân quả, tội phước...
2. Tấn: Siêng năng làm việc thiện.
3. Niệm: Nghĩ nhớ Phật, Pháp, Tăng, Giới, Thí, và Chân lý.
4. Định: Tâm luôn trú thiền định.
5. Huệ: Thường tư duy pháp Không.

Người dứt mất căn lành, là người phỉ báng, phá hoại 5 pháp trên. Nhất định bị đọa địa ngục. Phật dạy: Những loại mất căn lành này, các vị long thần hộ pháp dù có tiêu diệt vẫn không mang tội sát sanh.- Vì sẽ giúp chận đứng tác hại ác nhân mà họ sẽ gây ra ác quả cho nhân loại.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* Phật Tánh thường hằng.

Kinh văn:Bạch Thế Tôn ! Tất cả chúng sanh có ba thứ pháp lành : Quá khứ , vị lai và hiện tại. Hạng Nhứt Xiển Đề không thể dứt được pháp lành đời vị lai, sao lại nói rằng dứt hết pháp lành gọi là Nhứt Xiển Đề.

_ Nầy Thiện Nam Tử ! Luận về sự dứt có hai thứ : Một là hiện tại dứt, hai là hiện tại chướng ngại vị lai. Hạng Nhứt Xiển Đề đủ cả hai thứ nầy nên ta nói rằng Nhứt Xiển Đề dứt hết căn lành.

Nầy Thiện Nam Tử ! Ví như có người té chìm trong hầm phẩn, dầu còn một sợi tóc chưa chìm, nhưng một sợi tóc không thể kéo nổi toàn thân. Hạng Nhứt Xiển Đề cũng như vậy dầu đời vị lai sẽ có căn lành nhưng không thể cứu được khổ địa ngục. Đời vị lai dầu có thể cứu khỏi, nhưng đời hiện tại không thể làm sao được. Do đây nên gọi là kẻ không thể cứu vớt.

Do Phật tánh làm nhơn duyên thời cứu vớt được, vì Phật tánh chẳng phải quá khứ chẳng phải vị lai chẳng phải hiện tại, nên Phật tánh không bị dứt mất. Như hột mục hư thời không thể mọc mọng, hạng Nhứt Xiển Đề cũng như vậy.

_ Bạch Thế Tôn ! Hạng Nhứt Xiển Đề chẳng dứt Phật tánh, Phật tánh là pháp lành, tại sao nói rằng dứt tất cả pháp lành ?

Nầy Thiện Nam Tử ! Nếu chúng sanh nào trong đời hiện tại có Phật tánh thời chẳng được gọi là Nhứt Xiển Đề. Như ngã tánh trong thế gian. Phật tánh là thường chẳng thuộc về ba đời. Nếu thuộc về ba đời thời gọi là vô thường. Vì đời vị lai sẽ thấy Phật tánh, nên nói rằng chúng sanh đều có Phật tánh. Do nghĩa nầy nên bực Thập Trụ Bồ Tát trang nghiêm đầy đủ công hạnh mới thấy được phần ít.

_ Bạch Thế Tôn ! Phật tánh là thường dường như hư không, tại sao đức Như Lai nói rằng vị lai ? Nếu đức Như Lai nói rằng hạng Nhứt Xiển Đề không có pháp lành, lẽ đâu hạng nầy không có lòng thương tưởng đối với bạn bè, cha mẹ, vợ con thân quyến. Nếu họ có lòng thương tưởng thời lòng thương nầy chẳng phải là lành ư ?
Nội dung thưa hỏi tiếp theo của Bồ Tát Ca-diếp là một vấn đề hết sức tinh tế, đó là sự dứt mất căn lành và sự thường tồn của tánh Phật. Hai điều này có vẻ như tự chúng là mâu thuẫn nhau và không thể cùng tồn tại song hành, vì tánh Phật nếu không thể dứt mất thì tự nó đã là căn lành, làm sao có sự dứt mất căn lành ở những kẻ nhất-xiển-đề nếu như tánh Phật là không dứt mất?

Trước khi trả lời câu hỏi này, đức Phật dạy về bốn phương thức trả lời của đức Như Lai để tùy thuận giáo hóa chúng sanh. Bốn cách trả lời đó bao gồm: trả lời bằng cách xác định chắc chắn (định đáp), trả lời bằng cách phân biệt giải thích (phân biệt đáp), trả lời thích hợp tùy theo câu hỏi (tùy vấn đáp) và trả lời bằng cách phớt lờ, xem như không nghe (trí đáp). Như vậy, đối với những người có thể tin nhận, đức Phật sẽ đáp câu hỏi trên bằng cách phân biệt giải thích: vì sao tánh Phật là có, vì sao gọi là không; vì sao gọi là cũng thuộc về ba đời quá khứ, hiện tại và vị lai; và vì sao không thuộc về ba đời.v.v... Nhân đây đức Phật cũng giải thích cặn kẽ về tánh Phật ở các địa vị tu chứng khác nhau của hàng Bồ Tát.

Tuy nhiên, đối với những kẻ cố chấp cho rằng tánh Phật ở những người đã dứt căn lành nhất định là có hoặc nhất định là không, Phật dạy rằng cần phải đáp lại câu hỏi của họ bằng cách phớt lờ đi. Sự phớt lờ này có hai ý nghĩa, một là ngăn chặn, chấm dứt sự tranh cãi vô ích với hạng người cố chấp; hai là tự mình không để vướng mắc vào sự cố chấp sai lầm đó.


https://thuvienhoasen.org/a2000/tong-quan-kinh-dai-bat-niet-ban
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* 5 chủng tánh.

Kinh văn: Nầy Thiện Nam Tử ! Người hộ trì cấm giới tinh tấn chẳng biến trể, chẳng phạm bốn tội trọng, chẳng gây năm tội nghịch, chẳng lạm dụng vật của Tăng, chẳng dứt căn lành, chẳng làm Nhứt Xiển Đề, tin thọ kinh điển Đại Niết bàn nầy, những người đây tất hy hữu như lượng số đất trên móng tay.

Người lười biếng phá giới, phạm bốn tội trọng, gây năm tội nghịch, lạm dùng của Tăng, làm Nhứt Xiển Đề dứt mất căn lành, chẳng tin kinh Niết Bàn nầy, số lượng đông nhiều như đất trong mười phương thế giới.

Nầy Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai biết rõ căn tánh thượng trung hạ của chúng sanh như vậy nên gọi là đầy đủ tri chư căn trí lực.

Bạch Thế Tôn ! Đức Như Lai có đủ tri chư căn trí lực như vậy, nên biết rõ căn tánh thượng trung hạ của tất cả chúng sanh, biết rõ căn tánh của chúng sanh đời hiện tại, cũng biết rõ căn tánh của chúng sanh đời vị lai, biết rõ những chúng sanh nầy sau khi Phật nhập diệt sẽ nói rằng đức Như Lai rốt ráo nhập Niết Bàn hoặc nói rằng đức Như Lai không rốt ráo nhập Niết Bàn, hoặc nói có ngã, hoặc nói không ngã, hoặc cho rằng có trung ấm, hoặc không trung ấm, hoặc nói có thối thất, hoặc không thối thất, hoặc nói thân Như Lai là hữu vihoặc nói là vô vi, hoặc có kẻ nói mười hai nhơn duyên là pháp hữu vi, hoặc nói là pháp vô vi, hoặc nói tâm là thường trụ, hoặc nói tâm là vô thường, hoặc có người nói hưởng vui ngũ dục thời hay chướng thánh đạo, hoặc nói chẳng chướng ngại, hoặc có kẻ nói thế đệ nhứt chỉ thuộc về cõi dục hoặc nói thuộc về cả ba cõi, hoặc nói bố thí chỉ thuộc nơi ý nghiệp, hoặc nói bố thí thuộc nơi ngũ ấm, hoặc nói có ba pháp vô vi, hoặc nói không ba pháp vô vi, hoặc nói có tạo sắc, hoặc nói không tạo sắc, hoặc nói có vô tác sắc, hoặc nói không vô tác sắc, hoặc nói có tâm sở, hoặc nói không tâm sở ; hoặc nói có năm đại chủng, hoặc nói có sáu đại chủng ; hoặc nói giới Ưu Bà Tắc thọ đầy đủ bát quan trai, hoặc nói chẳng thọ được đầy đủ ; hoặc nói Tỳ Kheo đã phạm tội tứ trọng mà giới Tỳ Kheo vẫn còn, hoặc nói chẳng còn ; hoặc nói bực Tu Đà Hoàn, Tư Đà Hàm, A Na Hàm, A La Hán, đều được thành Phật, hoặc nói chẳng được thành : Hoặc nói chính nơi chúng sanh có Phật tánh, hoặc nói rời chúng sanh có Phật tánh ; hoặc nói hạng Nhứt Xiển Đề phạm bốn tội trọng năm tội nghịch đều có Phật tánh, hoặc nói không có Phật tánh ; hoặc nói có chư Phật mười phương, hoặc nói không có chư Phật mười phương.
Thường chúng sanh có 5 chủng tánh:

Theo PHDS của Thích Nữ Đức Trí giải thích:

Ngũ chủng tánh là năm loại chủng tánh y theo Duy Thức, chúng sanh vì các nghiệp sai biệt nên mới có năm loại chủng tánh, năm loại chủng tánh ấy là :

1. Đại thừa chủng tánh :Đây cũng gọi là Bồ Tát chủng tánh, Hạng này có đủ ba phần chủng tử:

+ Một là kiến đạo chủng, đây là chủng tử Diệu quan sát trí và Bình Đẳng tánh trí, hai trí này mỗi mỗi đều có chủng tử của căn bản trí và hậu đắc trí.

+ Hai là Trung phần chủng tử, đây cũng là chủng tử của hai trí trước, vì nó hơn kém không đồng, nên phân làm hai phần sai biệt.

+ Ba là Thượng phẩm chủng tử : tức là chủng tử của Phật quả. Đây là chủng tử tương ứng với bốn trí của tự tánh thanh tịnh niết Bàn.

2. Nhị thừa quyết định chủng tánh : Chủng tánh này có hai. Độc giác quyết định chủng và Thanh văn quyết định chủng. Hai hạng này đều có ba phần chủng tử là : Kiến đạo chủng, Tu đạo chủng và Vô học đạo chủng. Sao gọi là Nhị thừa quyết định? Bởi hai hạng này hướng về tịch diệt lấy đó làm vui, quyết định nhập vào vô dư Niết Bàn, không cần tiến lên Phật quả, chẳng nghĩ đến việc độ sanh.

3. Bất định chủng tánh: Đây là hạng người có đủ chủng tánh ba thừa, đi theo đường lối tiệm ngộ, trước trãi qua các thừa sau mới vào Đại thừa, tiến trình hạng này có hai lối : Từ thanh văn hay Duyên giác vào Bồ Tát thừa, hoặc từ Độc giác vào Bồ Tát thừa, vì hạng này không nhất định lấy cảnh Vô dư Niết Bàn làm tiêu điểm chung cuộc nên gọi là Bất định chủng tánh vậy.

4. Ngoại đạo chủng tánh : Hạng này từ kiếp trước đã tu theo ngoại đạo nên trong tàng thức đã có hạt giống ngoại đạo, ưa thích ngoại giáo và bài bác chánh pháp. Những vị có chủng tử chánh pháp mà lạc vào ngoại đạo, nếu gặp thiện hữu tri thức có thể trở lại chánh giáo, trái lại nếu những kẻ có hạt giống ngoại đạo tuy hoàn cảnh được ở trong Đạo Phật nhưng lòng tin của họ không vững, gặp ngoại đạo liền hướng theo, vì thiếu chánh kiến nên họ diễn giải kinh điển thường bị sai lầm.

5. Thế gian chủng tánh : Đây cũng gọi là vô tánh, vô tánh là không chủng tánh gồm chánh pháp hoặc ngoại đạo mà chỉ có chủng tánh thế gian, người có chủng tánh thế gian hay nói cách khác là hạt giống đời, thì đối với Đạo lòng tin rất nông cạn. Dù có diễn giải về Đạo họ cũng lấy sự học hiểu của đời làm căn bản, không thể thâm nhập và làm mất ý nghĩa thuần túy của Đạo. Tuy nhiên vì đối với Đạo không có nhận thức và tin tưởng cố định, nên hạng này dễ dẫn nhập vào chánh pháp hơn kẻ ngoại đạo.

Trên đây là căn cứ theo nghiệp thức chúng sanh mà lập ra năm loại chủng tánh. Tuy nhiên thức tánh của loài hữu tình vẫn như huyễn, nếu chưa lên ngôi vị bất thối chuyển, thì dù có chủng tánh Bồ Đề mà không gặp thiện hữu tri thức vẫn có thể bị cảnh duyên làm biến đổi, phải bị sa đọa vào Tam Đồ, cho nên người học Phật cần phải duyệt lãnh Kinh điển, gần gũi Thầy lành bạn tốt, phải xa lánh các nhiễm duyên, siêng năng dõng mãnh, y cứ theo chỗ văn tư mà tu hành thì trên đường giải thoát mới có phần bảo đảm.

Do tầm ảnh hưởng của 5 chủng tánh này, mà chúng sanh có những nhận thức hoặc đúng hoặc sai với giáo lý Phật.

Đức Phật dùng Tri chư căn trí lực. Là trí biết tất cả căn tánh của chúng sanh. Đây là 1 trong 10 trí lực của đức Phật do công đức Bồ đề mà có được.

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* Phật Pháp là Bất Định Pháp.

Kinh văn: Ca Diếp Bồ Tát bạch rằng : Đức Như Lai thành tựu đầy đủ tri chư căn trí lực như vậy, tại sao hôm nay chẳng nói quyết định ?

Nầy Thiện Nam Tử ! Những nghĩa như vậy chẳng phải là nhãn thức biết được nhẫn đến chẳng phải là ý thức biết được, đây là chỗ biết của trí huệ. Nếu với người có trí huệ, thời ta trọn chẳng nói phân hai, người trí nầy cũng cho rằng Phật chẳng nói phân hai. Với người vô trí thời ta nói bất định người vô trí nầy cũng cho rằng Phật nói bất định.

Nầy Thiện Nam Tử ! Tất cả công hạnh lành của Như Lai đều vì điều phục chúng sanh. Như tất cả phương thuốc của lương y đều để chữa trị những bịnh khổ.

Nầy Thiện Nam Tử ! Vì quốc độ, vì thời tiết, vì ngôn ngữ của người, vì độ người, vì căn tánh sai khác, nên đức Như Lai ở trong một pháp mà nói phân hai, nơi một danh từ nói thành vô lượng danh từ, nơi trong một nghĩa nói thành vô lượng, nơi trong vô lượng nghĩa nói thành vô lượng.
Ngài Ca Diếp hỏi Phật: Tại sao đức Phật là người có Tri Căn Trí Lực. Mà sao Phật không dạy một thứ Chân Lý, mà lại nói phân hai không quyết định.

Ví dụ như đã dạy Vô thường, sao còn nói có Thường ? Dạy Vô Ngã sao còn nói Chơn Ngã ? Dạy Khổ sao còn nói Chơn Lạc ? Dạy Bất Tịnh sao còn nói Chơn Tịnh ?

Phật dạy: "Những nghĩa như vậy chẳng phải là nhãn thức biết được nhẫn đến chẳng phải là ý thức biết được, đây là chỗ biết của trí huệ."

Vậy thế nào là BIẾT BẰNG TRÍ ? THẾ NÀO LÀ BIẾT BẰNG THỨC ?
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* Phật Pháp là Bất Định Pháp.(tt)

A. Vòng xoay 18 Giới.

Các vấn đề liên quan đến con người và sự hình thành con người, theo quan điểm của Phật giáo, thường được bàn đến gồm: bốn Ðại, sáu Ðại, mười hai Xứ và mười tám Giới. Trong quá trình tu tập, các vấn đề trên được Ðức Phật phân tích cụ thể, nhằm xây dựng cho người tu tập một cái nhìn chính xác về bản chất của thân năm Uẩn và thế giới sự vật hiện tượng chung quanh con người. Do đó, phân tích về các Uẩn (Skandha), Xứ (Ayatana) và Giới (Dhàtu) chính là phân tích về sự hiện hữu của con người và thế giới. Ðấy cũng chính là thế giới quan, nhân sinh quan Phật giáo. Mục đích của sự phân tích nội quán này là cái nhìn giúp người học đạo thấy rõ sự thật vô ngã của các pháp.

Mười tám Giới: Mười tám Giới là cơ sở giao tiếp toàn diện của con người với thế giới thực tại khách quan, bao gồm: sáu nội xứ, sáu ngoại xứ và sáu tình thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý (nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức).

Khi sáu căn tiếp xúc với sáu trần, thì liền phát sinh những nhận thức, phân biệt. Do đó, có sáu loại phân biệt của thức (sự nhận biết) gồm: sự thấy biết của mắt, sự nghe biết của tai, sự ngửi biết của mũi, sự nếm biết của lưỡi, sự tri giác của toàn thân và sự hiểu biết của ý thức.

Như thế, từ sáu căn tiếp xúc với sáu trần để hình thành sáu thức (Vijnàna) và cộng chung lại là mười tám Giới. Ðây là tiến trình nhận thức luận về thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo .

Từ những trưng dẫn trên, chúng ta biết rằng, tri giác của con người rất giới hạn, và mọi sự đo lường phân biệt, nhận thức của con người đối với thế giới cũng rất giới hạn. Giới hạn ở chỗ sự hiểu biết của chúng ta là do cái thấy từ một tâm thức còn vô minh, thấy bằng tri giác phân biệt của tự ngã chứ không phải là thấy từ một tâm thức toàn tri (giác ngộ). Do đó, cái mà chúng ta cho là thường thì bản chất của nó là vô thường, như dòng sông không ngừng trôi chảy. Bản chất của ý thức phân biệt và vô minh là như thế. Nó luôn luôn biến động, vô thường.

Con người khổ đau chỉ vì lầm chấp vào ý thức phân biệt của mình, cho rằng cái này là tôi, cái này là của tôi, cái này là tự ngã của tôi, rồi cố gượng sống và bám víu vào những suy nghĩ như thế nên chìm đắm trong sinh tử trầm luân, vậy thôi.


(Trích từ Phật Học Cơ Bản - Tập Hai

của HT. Thích Tâm Thiện)

+ Giới ở đây là ranh giới, là giới hạn. Sự nhận Thức của con người thông thường chỉ nằm trong vòng xoay 18 giới, chỉ trừ những người đạt đạo.

+ Trong 18 giới, thì có 6 giới. từ nhãn thức giới, nhĩ thức giới, tỷ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới, cho đến ý thức giới.- Là sự nhận thức của con người.

+ Sự biết trong vòng xoay 18 giới, và biết bằng 6 thức giới là biết bằng Thức.

+ Biết bằng Thức, thì có vô số sai lầm. Vì thức là một chi của Vô Minh (12 nhân duyên), là cội gốc của sanh tử ưu bi khổ não.
 

Tịch Nhiên

Moderator
Staff member
Tham gia
12 Thg 1 2017
Bài viết
985
Điểm tương tác
401
Điểm
63
Hi hi...

Kính thầy Viên Quang!

Theo con thì cái bất động trí khởi ra thức. Thức là dụng của Trí, khi nhân duyên đầy đủ thức lại chuyển lại soi sáng Trí nên gọi chuyển thức thành trí cũng gọi Hậu Đắc Trí. Như viên bảo châu phát ra ánh sáng tự soi chính nó.

Vậy nên có câu : Muốn thấy Phật Tánh phải quán thời tiết nhân duyên là vậy . Hi hi. ..
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* Phật Pháp là Bất Định Pháp.(tt)

B. 5 lọai tri thức.

...
cái bất động trí khởi ra thức. Thức là dụng của Trí, khi nhân duyên đầy đủ thức lại chuyển lại soi sáng Trí nên gọi chuyển thức thành trí cũng gọi Hậu Đắc Trí. ..
Kính cảm ơn ĐH Tịch Nhiên đã chỉ ra Trí Hậu Đắc.

Vâng. Khi nhân duyên đầy đủ. Đó là 5 giai đoạn, 5 loại Trí, mà Phật dạy, như sau:

1. Tưởng tri: chỉ cho sự hiểu biết của kẻ vô văn phàm phu (puthujjana), chưa có cơ duyên học hỏi và hành trì lời Phật dạy. Đối với kẻ vô văn phàm phu này chỉ có sự hiểu biết gọi là tưởng tri, nghĩa là hiểu biết mọi sự vật và hiện tượng gắn liền với tập quán tham ái và chấp trước, đi đôi với ngã tưởng, làm tăng trưởng tham-sân si.

2. Thức tri (vijànàti): tức sự hiểu biết thế gian, là kiến thức, tri thức mang tính học hỏi và tích lũy kinh nghiệm, được trưởng thành trên cơ sở học tập, thu thập, tích lũy và trau dồi kiến thức; sự hiểu biết mang tính nhị nguyên, đi đôi với ngã tưởng, gắn liền với thói quen tham ái và chấp thủ, có công năng chuyển đổi và cải thiện đời sống theo chiều hướng phước báo hữu lậu nhưng không làm sanh khởi đạo lộ xuất thế vì không nhận thức đầy đủ Khổ đế (không hướng đến thắng tri, tuệ tri và liễu tri).

3. Thắng tri: chỉ cho sự hiểu biết của người có học tập và hành trì lời Phật dạy gọi là vị hữu học (sekha). Nhờ có học tập và tu tập pháp giác ngộ của Phật, vị hữu học vượt qua tưởng tri và thức tri, đạt được thắng tri, nhận thức rõ tính chất duyên sinh, vô thường, khổ, vô ngã của mọi sự vật và hiện tượng, không còn bị tập quán tham ái và chấp thủ chi phối, không rơi vào dục hỷ và chấp ngã đối với các pháp hữu vi (24 pháp trong bài kinh). Chính thái độ hiểu biết chơn chánh sáng suốt như vậy khiến cho vị hữu học có khả năng giải thoát khổ đau sinh tử luân hồi, tức là có khả năng đạt đến liễu tri khổ đau và đoạn tận khổ đau.

4. Tuệ tri (pajànàti):sự phát triển lớn mạnh của thắng tri, có nghĩa là thông hiểu về khổ, khổ tập, khổ diệt và con đường đưa đến khổ diệt qua kinh nghiệm hành sâu Bát Thánh đạo hay qua sự thực tập chuyển hóa tự nội bằng con đường Giới-Định-Tuệ, thấy rõ bản chất biến hoại khổ đau hàm tàng trong mọi hiện hữu, trong con người ngũ uẩn, có khả năng dứt trừ vô minh, buông bỏ mọi tập quán tham ái và chấp thủ, hướng đến đoạn trừ các lậu hoặc, giải thoát khổ đau sinh tử luân hồi.

5. Liễu tri (parijànàti): tức sự thấy biết đầy đủ, rốt ráo, viên mãn về khổ đau và con đường đi ra khỏi khổ đau của những người đã tu tập và thành tựu đầy đủ về mười Thánh đạo, gồm Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, Chánh trí, Chánh giải thoát, đã hoàn thành mục đích đoạn tận các lậu hoặc, không còn tái sinh, chấm dứt khổ đau sinh tử luân hồi. Đây là sự thấy biết của chư Phật và các vị đã giác ngộ.

5 Loại Tri Thức trên là Phật dạy ở Trung Bộ kinh Nikaya.


+ Tưởng Tri và Thức Tri là THỨC.

+ Thắng Tri, Tuệ Tri và Liễu Tri là TRÍ

Ở đoạn kinh này, đức Phật dạy: Không thể dùng THỨC để mà hiểu được ý nghĩa Chân Lý Phật dạy, mà phải dùng TRÍ.

Muốn có được TRÍ thì phải tu tập Thiền Quán mà đức Phật đã dạy. Đây là một trong 4 Pháp Tứ Y.- Y Trí Bất y Thức.


 

Vo Minh

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
27 Thg 12 2017
Bài viết
414
Điểm tương tác
226
Điểm
43
* Phật Pháp là Bất Định Pháp.(tt)

B. 5 lọai tri thức.



Kính cảm ơn ĐH Tịch Nhiên đã chỉ ra Trí Hậu Đắc.

Vâng. Khi nhân duyên đầy đủ. Đó là 5 giai đoạn, 5 loại Trí, mà Phật dạy, như sau:

1. Tưởng tri: chỉ cho sự hiểu biết của kẻ vô văn phàm phu (puthujjana), chưa có cơ duyên học hỏi và hành trì lời Phật dạy. Đối với kẻ vô văn phàm phu này chỉ có sự hiểu biết gọi là tưởng tri, nghĩa là hiểu biết mọi sự vật và hiện tượng gắn liền với tập quán tham ái và chấp trước, đi đôi với ngã tưởng, làm tăng trưởng tham-sân si.

2. Thức tri (vijànàti): tức sự hiểu biết thế gian, là kiến thức, tri thức mang tính học hỏi và tích lũy kinh nghiệm, được trưởng thành trên cơ sở học tập, thu thập, tích lũy và trau dồi kiến thức; sự hiểu biết mang tính nhị nguyên, đi đôi với ngã tưởng, gắn liền với thói quen tham ái và chấp thủ, có công năng chuyển đổi và cải thiện đời sống theo chiều hướng phước báo hữu lậu nhưng không làm sanh khởi đạo lộ xuất thế vì không nhận thức đầy đủ Khổ đế (không hướng đến thắng tri, tuệ tri và liễu tri).

3. Thắng tri: chỉ cho sự hiểu biết của người có học tập và hành trì lời Phật dạy gọi là vị hữu học (sekha). Nhờ có học tập và tu tập pháp giác ngộ của Phật, vị hữu học vượt qua tưởng tri và thức tri, đạt được thắng tri, nhận thức rõ tính chất duyên sinh, vô thường, khổ, vô ngã của mọi sự vật và hiện tượng, không còn bị tập quán tham ái và chấp thủ chi phối, không rơi vào dục hỷ và chấp ngã đối với các pháp hữu vi (24 pháp trong bài kinh). Chính thái độ hiểu biết chơn chánh sáng suốt như vậy khiến cho vị hữu học có khả năng giải thoát khổ đau sinh tử luân hồi, tức là có khả năng đạt đến liễu tri khổ đau và đoạn tận khổ đau.

4. Tuệ tri (pajànàti):sự phát triển lớn mạnh của thắng tri, có nghĩa là thông hiểu về khổ, khổ tập, khổ diệt và con đường đưa đến khổ diệt qua kinh nghiệm hành sâu Bát Thánh đạo hay qua sự thực tập chuyển hóa tự nội bằng con đường Giới-Định-Tuệ, thấy rõ bản chất biến hoại khổ đau hàm tàng trong mọi hiện hữu, trong con người ngũ uẩn, có khả năng dứt trừ vô minh, buông bỏ mọi tập quán tham ái và chấp thủ, hướng đến đoạn trừ các lậu hoặc, giải thoát khổ đau sinh tử luân hồi.

5. Liễu tri (parijànàti): tức sự thấy biết đầy đủ, rốt ráo, viên mãn về khổ đau và con đường đi ra khỏi khổ đau của những người đã tu tập và thành tựu đầy đủ về mười Thánh đạo, gồm Chánh tri kiến, Chánh tư duy, Chánh ngữ, Chánh nghiệp, Chánh mạng, Chánh tinh tấn, Chánh niệm, Chánh định, Chánh trí, Chánh giải thoát, đã hoàn thành mục đích đoạn tận các lậu hoặc, không còn tái sinh, chấm dứt khổ đau sinh tử luân hồi. Đây là sự thấy biết của chư Phật và các vị đã giác ngộ.

5 Loại Tri Thức trên là Phật dạy ở Trung Bộ kinh Nikaya.


+ Tưởng Tri và Thức Tri là THỨC.

+ Thắng Tri, Tuệ Tri và Liễu Tri là TRÍ

Ở đoạn kinh này, đức Phật dạy: Không thể dùng THỨC để mà hiểu được ý nghĩa Chân Lý Phật dạy, mà phải dùng TRÍ.

Muốn có được TRÍ thì phải tu tập Thiền Quán mà đức Phật đã dạy. Đây là một trong 4 Pháp Tứ Y.- Y Trí Bất y Thức.


Muốn có được LIỄU TRI thì phải là VÔ SƯ TRÍ


“Liễu” là hoàn toàn, tột cùng.
Liễu Tri hay Liễu liễu thường tri


Trí Tuệ của các bậc Vô Học

đã quét sạch mọi phàm tình thánh giải,
đã giác ngộ và giải thoát hoàn toàn.

TT Thích Thông Huệ​
 

ngokhong

Member
Tham gia
2 Thg 12 2009
Bài viết
835
Điểm tương tác
0
Điểm
16
* 5 chủng tánh.



Thường chúng sanh có 5 chủng tánh:

Theo PHDS của Thích Nữ Đức Trí giải thích:

Ngũ chủng tánh là năm loại chủng tánh y theo Duy Thức, chúng sanh vì các nghiệp sai biệt nên mới có năm loại chủng tánh, năm loại chủng tánh ấy là :

1. Đại thừa chủng tánh :Đây cũng gọi là Bồ Tát chủng tánh, Hạng này có đủ ba phần chủng tử:

+ Một là kiến đạo chủng, đây là chủng tử Diệu quan sát trí và Bình Đẳng tánh trí, hai trí này mỗi mỗi đều có chủng tử của căn bản trí và hậu đắc trí.

+ Hai là Trung phần chủng tử, đây cũng là chủng tử của hai trí trước, vì nó hơn kém không đồng, nên phân làm hai phần sai biệt.

+ Ba là Thượng phẩm chủng tử : tức là chủng tử của Phật quả. Đây là chủng tử tương ứng với bốn trí của tự tánh thanh tịnh niết Bàn.

2. Nhị thừa quyết định chủng tánh : Chủng tánh này có hai. Độc giác quyết định chủng và Thanh văn quyết định chủng. Hai hạng này đều có ba phần chủng tử là : Kiến đạo chủng, Tu đạo chủng và Vô học đạo chủng. Sao gọi là Nhị thừa quyết định? Bởi hai hạng này hướng về tịch diệt lấy đó làm vui, quyết định nhập vào vô dư Niết Bàn, không cần tiến lên Phật quả, chẳng nghĩ đến việc độ sanh.

3. Bất định chủng tánh: Đây là hạng người có đủ chủng tánh ba thừa, đi theo đường lối tiệm ngộ, trước trãi qua các thừa sau mới vào Đại thừa, tiến trình hạng này có hai lối : Từ thanh văn hay Duyên giác vào Bồ Tát thừa, hoặc từ Độc giác vào Bồ Tát thừa, vì hạng này không nhất định lấy cảnh Vô dư Niết Bàn làm tiêu điểm chung cuộc nên gọi là Bất định chủng tánh vậy.

4. Ngoại đạo chủng tánh : Hạng này từ kiếp trước đã tu theo ngoại đạo nên trong tàng thức đã có hạt giống ngoại đạo, ưa thích ngoại giáo và bài bác chánh pháp. Những vị có chủng tử chánh pháp mà lạc vào ngoại đạo, nếu gặp thiện hữu tri thức có thể trở lại chánh giáo, trái lại nếu những kẻ có hạt giống ngoại đạo tuy hoàn cảnh được ở trong Đạo Phật nhưng lòng tin của họ không vững, gặp ngoại đạo liền hướng theo, vì thiếu chánh kiến nên họ diễn giải kinh điển thường bị sai lầm.

5. Thế gian chủng tánh : Đây cũng gọi là vô tánh, vô tánh là không chủng tánh gồm chánh pháp hoặc ngoại đạo mà chỉ có chủng tánh thế gian, người có chủng tánh thế gian hay nói cách khác là hạt giống đời, thì đối với Đạo lòng tin rất nông cạn. Dù có diễn giải về Đạo họ cũng lấy sự học hiểu của đời làm căn bản, không thể thâm nhập và làm mất ý nghĩa thuần túy của Đạo. Tuy nhiên vì đối với Đạo không có nhận thức và tin tưởng cố định, nên hạng này dễ dẫn nhập vào chánh pháp hơn kẻ ngoại đạo.

Trên đây là căn cứ theo nghiệp thức chúng sanh mà lập ra năm loại chủng tánh. Tuy nhiên thức tánh của loài hữu tình vẫn như huyễn, nếu chưa lên ngôi vị bất thối chuyển, thì dù có chủng tánh Bồ Đề mà không gặp thiện hữu tri thức vẫn có thể bị cảnh duyên làm biến đổi, phải bị sa đọa vào Tam Đồ, cho nên người học Phật cần phải duyệt lãnh Kinh điển, gần gũi Thầy lành bạn tốt, phải xa lánh các nhiễm duyên, siêng năng dõng mãnh, y cứ theo chỗ văn tư mà tu hành thì trên đường giải thoát mới có phần bảo đảm.

Do tầm ảnh hưởng của 5 chủng tánh này, mà chúng sanh có những nhận thức hoặc đúng hoặc sai với giáo lý Phật.

Đức Phật dùng Tri chư căn trí lực. Là trí biết tất cả căn tánh của chúng sanh. Đây là 1 trong 10 trí lực của đức Phật do công đức Bồ đề mà có được.


Hihihih ...

mấy cái chủng tánh này sẽ quyết định chúng ta là Ngài Lục Tổ hay là Ngài Thần Tú đây ...

Ngài Lục Tổ mơ màng chặt củi mà còn ngộ đạo,còn cái ông Thần Tú suốt ngày cặm cụi lau chùi cái gương mà nhìn chả rõ được cái gì ...

hihihh ...
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* Phật Pháp là Bất Định Pháp.(tt)

C. Tứ Tất Đàn.

Do căn tánh chúng sanh không đồng, có 5 chủng tánh và 5 trình độ tri thức, nên Phật dùng 4 Tất Đàn để tùy căn tánh mà dạy bảo. ví như ông thầy thuốc tùy bệnh mà cho thuốc khác nhau (nên Phật Pháp là Bất Định Pháp).

Tứ tất đàn là gì ?

Tứ Tất Đàn, tiếng Phạn là catvari siddhanta; catvari có nghĩa là tứ và siddhanta phiên âm là tất đàn, có khi còn được phiên âm là “ Tất Đàm”, và dịch là “Tác Thành Tựu”, có nghĩa là làm cho công việc thuyết pháp của Đức Phật được thành tựu. Chữ siddhanta, Hán dịch là "thành tựu", nghĩa là nhờ dựa vào bốn phương pháp này, mà Đức Phật thuyết pháp và thành tựu được sự nghiệp hoằng hóa, giáo hóa chúng sinh, đưa chúng sinh từ mê lầm đến giác ngộ, từ sinh tử đến Niết Bàn, từ phàm lên Thánh, từ mê lầm đến sự hiểu biết cao thượng.
(theo HT. Thích Thái Hòa)

Nội dung của Tứ tất đàn

1. Thế gian tất đàn:

Ngôn ngữ thế gian quan niệm như thế nào, thì đức Phật dự̃a vào đó để nói Pháp

Thí dụ: Để chỉ ra sự khổ hạnh không cần thiết trong sự đạt đạo. Đức Phật ví người tu ví như cây đàn: Dây quá căng thì tiếng không hay, dây quá chùng thì tiếng cũng không hay, mà vừa phải thì tiếng đàn mới trở thành vi diệu.

2. Vị nhân tất đàn

Vị nhân tất đàn nghĩa là sự thuyết pháp, hoằng pháp, làm việc đạo thành tựu đối với từng người, đối với từng đối tượng. Việc thuyết pháp đó là vì con người mà nói, vì con người mà diễn giảng chánh pháp, vì con người mà làm việc đạo.

Muốn vì con người mà làm việc đạo để giúp cho họ được thành công thì phải hiểu tâm lý của họ, phải hiểu rõ hoàn cảnh của họ, phải hiểu rõ nghiệp báo, nhân duyên, nhân quả của họ để chuyển vận bánh xe chánh pháp giúp họ, giúp họ tiến bộ, xả bỏ được khổ đau trong đời sống để đi tới với đời sống hạnh phúc; giúp họ giải thoát khỏi những trói buộc để đi đến với đời sống tự do đích thực; giúp họ thoát khỏi sự chậm tiến, đi tới với đời sống tiến bộ, văn minh.

Do đó, Vị nhân tất đàn nghĩa là khi mình thuyết pháp cho ai, thì phải hiểu được người đó, hiểu được tâm lý, trình độ của họ, phải hiểu được nhân duyên hoàn cảnh họ đang sống, thì mình mới giúp họ thoát khỏi được tình trạng của họ.

Thí dụ: Để độ vị tu sĩ vì thất giới mà muốn hoàn tục không tu nữa. Trước đây vị này là nông dân, nhà có nuôi bò. Đức Phật dạy: Ví như một người có 4 con bò dùng để cày cấy. Rủi bị trộm bắt mất một con. Nếu là người thông minh, thì họ nên giữ gìn 3 con còn lại để tiếp tục cày cấy, hay là nên đem cho kẻ trộm cả 3 con còn lại ?

3. Đối trị tất đàn

Đối trị có nghĩa là trị liệu, chuyển hóa. Đối trị tất đàn có nghĩa là chuyển hóa thành tựu hay đối trị thành tựu. Pháp Đức Phật dạy nhắm tới chuyển hóa những phiền não nơi tâm chúng sinh. Mọi phương pháp mà Đức Phật dạy, Ngài nói bằng cách này hay bằng cách khác, Ngài nói cao, nói thấp; Ngài nói rộng, nói hẹp; Ngài nói một cách tha thiết hay nói một cách khắc khổ hay nói một cách sâu sắc, tất cả là nhằm mục đích làm cho người nghe, nghe hiểu, thực hành được và chuyển hóa những phiền não ở nơi tâm họ.

Ví dụ, đối với những chúng sinh nặng về tham dục, thì Ngài nói về những nguy hiểm của các dục đem lại. Nhưng, muốn nói được sự nguy hiểm do các dục đem lại, thì trước hết, Đức Phật vẫn nói về vị ngọt hấp dẫn của thế gian. Nếu nói rằng "danh không có sự hấp dẫn", thế gian sẽ không tin. Cho nên, Đức Phật nói các danh tướng của thế gian vẫn có vị ngọt, vẫn có sự hấp dẫn của nó, nhưng người đời chỉ thấy được sự hấp dẫn, thấy được vị ngọt mà không thấy được nguy hiểm của nó. Do đó, đằng sau vị ngọt của các dục thế gian là cả một sự đắng cay, nguy hiểm.

4. Đệ nhất nghĩa tất đàn

Đệ nhất nghĩa tất đàn tức là sự thành tựu tối thượng. Đó là sự thành tựu tuyệt đối. Đó là mục đích hoằng Pháp của Đức Phật. Nên, Đức Phật thuyết pháp bằng Thế giới tất đàn, bằng Vị nhân tất đàn, bằng Đối trị tất đàn, với mục tiêu cuối cùng là để hiển thị Đệ nhất nghĩa tất đàn. Nghĩa là Đức Phật thuận theo thế gian để làm gì, thuận theo từng người để thuyết pháp, nhằm mục đích gì, đối trị với từng căn bệnh phiền não, sở tri của từng người để làm gì? Để đưa họ đi về với Đệ nhất nghĩa tất đàn, tức là cuối cùng sẽ hiển thị cho họ thấy được chân lý tuyệt đối.

Chân lý tuyệt đối mà Đức Phật giảng cho mọi người, nói cho mọi chúng sinh là gì? Đó là "tất cả chúng sinh đều có Phật tính, đều có khả năng thành Phật". Muốn thành Phật thì phải chứng nhập Phật tính. Muốn chứng nhập Phật tính thì phải từ nơi tâm bồ đề hay từ nơi bản giác mà phát khởi đại nguyện lợi hành, giáo hóa hết thảy chúng sinh bằng phương pháp này hay phương pháp khác. Giáo hóa nhưng không mắc kẹt vào nơi phương pháp giáo hóa, nơi hình thức giáo hóa, khiến cho chúng sinh được giáo hóa đi tới được với chân lý tuyệt đối, với hạnh phúc an lạc. Đó là Đệ nhất nghĩa đế tất đàn.

Do chúng sanh có nhiều tâm bệnh như thế. Đức Phật dùng các Tất Đàn như thế để trị bệnh. Mỗi tất đàn đều mang tính chất Khế Lý, khế cơ. Nên cồ đức nói chúng sanh có 8 vạn 4 ngàn bệnh. Phật có 8 vạn 4 ngàn Pháp môn tu để độ là vậy.

Do vậy đức Phật không nói Pháp quyết định.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* Phật Pháp là Bất Định Pháp.(tt)

D. "NGHĨA CƯA" Phá Chấp đưa về Trung Đạo.

Thế nào là chấp ?

Chúng sanh do vô minh che tâm, nên sự thấy, nghe, hay, biết luôn bị phiến diện, cố chấp một nên. Ví như thấy biển thì chấp sóng không phải là nước, nước không phải là sóng v.v...Sự cố chấp như vậy, nhà Phật gọi là "Biên kiến", tức là thấy một bên, trong khi chân lý là toàn diện.

Để giải tỏa sự kiến chấp này, đức Phật dạy Lý Trung Đạo.

Thế nào là Trung Đạo ?

Trung đạo được định nghĩa là tránh xa hai cực đoan.

Từ ý nghĩa Trung đạo được định nghĩa là tránh xa hai cực đoan: Hưởng thụ dục vọng và tu tập khổ hạnh, dần dần diễn biến phát triển thành tránh hai cực đoan: chấp hữu và chấp vô, chấp đoạn chấp thường, bất nhị, nói chung là phủ nhận thái độ cố chấp bảo thủ, dù là bên này hay bên kia.

Đức Phật thuyết pháp, phá biên chấp đưa về Trung Đạo, như pháp thoại "NGHĨA CƯA" sau:

Tổ Phú Na Dọa Xoa độ Mã Minh, Ngài hỏi đồ chúng :

- Các ngươi có biết người mới vào đây chăng ? Xưa Phật huyền ký rằng : < Sau khi ta diệt độ gần 600 năm,sẽ có một vị thánh nhơn ra đời hiệu Mã-Minh, sanh trong nước Ba-La-Nại, nói pháp nơi thành Hoa-Thị, bẻ dẹp các đạo khác, độ người vô lượng >. Mã-Minh nghe Ngài nói trúng tên mình thì thầm khen, bước ra đảnh lễ Ngài và hỏi :

- Tôi muốn biết Phật, thế nào là Phật ?

–Ngài đáp : - Ông muốn biết Phật, chẳng biết ấy là phải.

– Đã chẳng biết Phật thì đâu biết là phải ?

– Ông đã chẳng biết Phật, tại sao biết chẳng phải ?

– Đây thật là nghĩa cưa.

– Đó là nghĩa cây. Ông nói nghĩa cưa là thế nào ?

– Tôi cùng thầy phân ra bằng nhau. Nghĩa cây của thầy nói là sao ?

– Ngươi bị ta xẻ

Mã-Minh liền ngộ được thắng nghĩa của Ngài, vui thích cầu xin xuất gia Ngài vì độ cho ông xuất gia và thọ giới cụ-túc.

Số chúng được Ngài độ, có đến hai trăm vị chứng quả A-La-Hán, ngoài ra còn vô số người phát tâm qui kính Tam-bảo. Thấy cơ duyên giáo hóa sắp viên mãn, Ngài kêu Mã-Minh lại dặn dò :

-Ngươi nên chuyển bánh xe pháp làm vị Tổ thứ 12. Xưa đại pháp nhãn tạng của Như-Lai trao cho Tổ Ca-Diếp lần lượt truyền trao, nay ta trao cho ngươi, ngươi phải truyền tiếp . Nghe ta nói kệ :

Mê ngộ như ẩn hiển,
Minh ám bất tương ly,
Kim phó ẩn hiển pháp,
Phi nhất diệc phi nhị .


Dịch :

Mê ngộ như ẩn hiện,
Tối sáng chẳng rời nhau,
Nay trao pháp ẩn hiện,
Chẳng một cũng chẳng hai .


Vì lẻ như vậy đức Phật không nói Pháp quyết định.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* Phật Pháp là Bất Định Pháp.(tt)

E. Thật nghĩa- Vô ngôn.

Kinh dạy: "Như Lai giả chư Pháp NHƯ NGHĨA".

- Như Lai, theo quan niệm trong kinh Kim Cương, là một thực tại siêu việt mọi tướng trạng, là cái Chân như của vạn pháp, vận hành một cách phổ quát trong mọi sự vật.

Như vậy: Tất cả pháp đều có cái "NHƯ NGHĨA" này. Vì thế Kinh nói: "Tất cả Pháp đều là Phật Pháp".

Nhưng: NHƯ có thật nghĩa là:

Kinh Bát Nhã dạy: "Chân như sâu xa, chỉ dùng trí biết, không dùng ngữ ngôn. Tại vì sao vậy? Chân như các pháp, siêu vượt văn tự, lìa sự nói năng, tất cả ngữ ngôn nói không thể đến. Nó lìa hí luận, dứt sự phân biệt, không thử không bỉ, lìa tướng có – không, lìa sự tầm tư, vượt cảnh tìm kiếm, không tưởng không tướng, vượt qua tưởng - tướng, lìa xa ngu phu, vượt bỏ ngu phu, diệt các ma sự, lìa khỏi chướng ngại, dùng thức không biết, trụ nơi vô trụ, thánh trí tịch tĩnh, là vô phân biệt, là Trí hậu đắc, không ngã – ngã sở, cầu không thể được, không thủ không xả, không nhiễm không chấp, thanh tịnh không cấu, tối thắng bậc nhất, tánh thường bất biến. Nếu Phật xuất thế hay không xuất thế, nó vẫn thường trụ”.

Do vậy :

THẬT NGHĨA LÀ VÔ NGÔN, LÀ VÔ TỰ.

Nhưng chúng sanh phải nhờ văn tự, ngữ ngôn mới biết được Đạo. Do vậy Phật mới dùng vô số phương tiện ngữ ngôn, văn tự để chỉ cái Vô ngôn.

Kinh Viên giác nói: "Nhứt thiết Tu đa la giáo như tiêu nguyệt chỉ"

Nghĩa là tất cả kinh giáo chỉ là ngón tay (văn tự) để chỉ mặt trăng chân lý (vô ngôn). ()

Thi hào Nguyễn Du có bài thơ tán thán vô ngôn, như sau:

Ngã độc Kim Cương thiên biến linh
Kỳ trung áo chỉ đa bất minh
Cập đáo Phân Kinh Thạch Đài hạ
Chung tri: vô tự thị chân kinh.

Kim Cương đọc đến ngàn lần
Mà trong mờ ảo như gần như xa
Thạch Đài tìm đến hiểu ra
Chân kinh thật nghĩa chẳng qua không lời


Vì lẻ như vậy đức Phật không nói Pháp quyết định.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* Phật Pháp để độ chúng sanh.

Kinh văn: Nầy Thiện Nam Tử ! Tất cả công hạnh lành của Như Lai đều vì điều phục chúng sanh. Như tất cả phương thuốc của lương y đều để chữa trị những bịnh khổ.

Nầy Thiện Nam Tử ! Vì quốc độ, vì thời tiết, vì ngôn ngữ của người, vì độ người, vì căn tánh sai khác, nên đức Như Lai ở trong một pháp mà nói phân hai, nơi một danh từ nói thành vô lượng danh từ, nơi trong một nghĩa nói thành vô lượng, nơi trong vô lượng nghĩa nói thành vô lượng.

Thế nào là một danh từ nói thành vô lượng danh từ ? Như Niết Bàn, cũng gọi là Niết Bàn, là vô sanh, là vô xuất, là vô tác, là vô vi, là quy y, là nhà cửa, là giải thoát, là quang minh, là đèn sáng, là bờ kia, là vô úy, là bất thối, là chỗ an ổn, là tịch tịnh, là vô tưởng, là bất nhị, là nhứt hạnh, là thanh lương, là không tối tăm, là không chướng ngại, là vô tránh, là vô trược, là quảng đại, là cam lộ, là cát tường.

Thế nào là một nghĩa nói thành vô lượng ? Như Đế Thích : Cũng gọi là Đế Thích, cũng gọi là Kiều Thi Ca, là Bà Ta Bà, là Phú Lan Đà La, là Ma Pháp Bà, là Nhơn Đà La, là Thiên Nhãn, là Xá Chỉ Thiên, là Kim Cang, là Bửu Đảnh, là Bửu Tràng.

Thế nào là nơi vô lượng nghĩa nói thành vô lượng ? Như Phật Như Lai cũng gọi là Như Lai, vì nghĩa khác nên tên cũng khác, gọi là A La Ha, cũng gọi là Tam Miệu Tam Phật Đà, cũng gọi là Thuyền Sư, cũng gọi là Đạo Sư, là Chánh Giác, là Minh Hạnh Túc, là Sư Tử Vương, là Sa Môn, là Bà La Môn, là Tịch Tịnh, là Thí Chủ, là Đáo Bĩ Ngạn, là Đại Y Vương, là Đại Tượng Vương, là Đại Long Vương, là Thí Nhãn, là Đại Lực Sĩ, là Đại Vô Uùy, là Bửu Tựu, là Thương Chủ, là Đắc Thoát, là Đại Trượng Phu, là Thiên Nhơn Sư, là Đại Vân Đà Lợi, là Vô Đẳng Lữ , là Đại Phước Điền, là Trí Huệ Hải, là Vô Tướng, là Bát Trí.

Lại có một nghĩa mà nói thành vô lượng danh từ, như ấm : Cũng gọi là ấm, cũng gọi là điên đảo, là đế, là tứ niệm xứ, là tứ thực, là chỗ ở của tứ thức, là hữu, là đạo, là thời, là chúng sanh, là thế, là đệ nhứt nghĩa, là ba pháp tu : Thân, giới và tâm, là nhơn quả, là phiền não, là giải thoát, là mười hai nhơn duyên, là Thanh Văn, là Bích Chi Phật, là Phật, là địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh, nhơn, thiên, là quá khứ, hiện tại, vị lai.
Kinh Phật dùng vô số ngôn từ, vô số phương tiện; chỉ nhằm mục đích phổ độ chúng sanh.

Thế mà buồn thay...Có một số người lại cho rằng: Những pháp cao siêu này không phải nói cho phàm phu chúng ta. Mà là dành cho Phật và Bồ Tát !

Không. Phật và Bồ Tát đâu phải là người cần được độ ! Các ngài đã giác ngộ rồi.,.. Chỉ còn lại chúng ta thôi...
 

Vo Minh

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
27 Thg 12 2017
Bài viết
414
Điểm tương tác
226
Điểm
43
Đức Phật nhập Đại Niết Bàn dạy Bốn Điều Tham Chiếu Lớn

* Phật Pháp để độ chúng sanh.



Kinh Phật dùng vô số ngôn từ, vô số phương tiện; chỉ nhằm mục đích phổ độ chúng sanh.

Thế mà buồn thay...Có một số người lại cho rằng: Những pháp cao siêu này không phải nói cho phàm phu chúng ta. Mà là dành cho Phật và Bồ Tát !

Không. Phật và Bồ Tát đâu phải là người cần được độ ! Các ngài đã giác ngộ rồi.,.. Chỉ còn lại chúng ta thôi...
ĐỨC PHẬT VÀ PHẬT PHÁP​

Đại Đức Narada Maha Thera, 1980-
Phạm Kim Khánh dịch Việt, 1998
Nguyên tác: "The Buddha and His Teachings"
Buddhist Publication Society, Sri Lanka

Đức Phật nhập Đại Niết Bàn



Bốn Điều Tham Chiếu Lớn:


Đức Phật đến Bhoganagara và tại đây Ngài dạy bốn Đại Giáo Pháp tức là bốn điều tham chiếu lớn (Mahapadesa), theo đó ta có thể trắc nghiệm và làm sáng tỏ giáo huấn của Đức Phật.

Ngài dạy:

1. "Một vị tỳ khưu có thể nói rằng tôi nghe chính Đức Phật đă tuyên ngôn như vầy: *"Đây là Giáo Pháp, đây là Giới Luật, đây là Giáo Huấn của Đức Bổn Sư". Những lời ấy, không nên chấp nhận, cũng không nên gác bỏ ngoài tai. Không chấp nhận, không bác bỏ, mà phải nghiên cứu tận tường từng chữ, từng tiếng, rồi hăy đối chiếu và so sánh với Kinh (Sutta) và Luật (Vinaya).

Nếu khi đối chiếu và so sánh kỹ càng, nhận thấy rằng nó không phù hợp với Kinh và không nhất trí với Luật, con có thể kết luận rằng: "Chắc chắn, đây không phải là Phật ngôn. Vị tỳ khưu kia đã hiểu sai." Như vậy, con phải loại bỏ những lời ấy.

"Nếu, khi đối chiếu và so sánh, những lời ấy phù hợp với Kinh và nhất trí với Luật, con có thể kết luận rằng: "Chắc chắn đây là Phật ngôn, vị tỳ khưu ấy đã hiểu đúng."

"Hãy xem đó là điều tham chiếu lớn đầu tiên.


2. "Lại nữa, một vị tỳ khưu có thể nói rằng trong ngôi chùa kia có chúng Tăng sống chung và có những vị sư lãnh đạo: Tôi nghe chính các sư ấy nói như thế này: "Đây là Giáo Pháp, đây là Giới Luật, đây là Giáo Huấn của Đức Bổn Sư." Không nên chấp nhận, cũng không nên gác bỏ ngoài tai những lời ấy. Không chấp nhận, không bác bỏ, mà phải nghiên cứu tận tường, từng chữ, từng tiếng, rồi hãy đối chiếu với Kinh và so sánh với Luật.

Nếu khi đối chiếu và so sánh kỹ càng, những lời ấy không phù hợp với Kinh và không nhất trí với Luật, con có thể kết luận: "Chắc chắn đây không phải là Phật ngôn. Vị tỳ khưu kia đã hiểu sai." Như vậy, con phải loại bỏ những lời ấy.

"Nếu, khi đối chiếu và so sánh, những lời ấy phù hợp với Kinh và nhất trí với Luật, con có thể kết luận rằng: "Chắc chắn đây là Phật ngôn. Vị tỳ khưu ấy hiểu đúng."

"Hãy xem đó là điều tham chiếu lớn thứ nhì.


3. "Lại nữa, một vị tỳ khưu có thể nói rằng trong ngôi chùa kia có nhiều vị sư và những vị cao tăng học rộng, thông suốt Giáo Lý, hiểu rộng Kinh, Luật, Pháp Yếu (Matika): Tôi nghe chính các vị sư ấy nói như vầy: "Đây là Giáo Pháp, đây là Giới Luật, đây là Giáo Huấn của Đức Bổn Sư". Không nên chấp nhận, cũng không nên gác bỏ ngoài tai. Không chấp nhận, không bác bỏ, mà phải nghiên cứu tận tường từng chữ, từng tiếng, rồi đem đối chiếu với Kinh (Sutta) và so sánh với Luật (Vinaya).

Nếu khi đối chiếu và so sánh như vậy, những lời ấy không phù hợp với Kinh và không nhất trí với Luật, con có thể kết luận: "Chắc chắn đây không phải là Phật ngôn. Vị tỳ khưu kia đã hiểu sai." Như vậy, con phải loại bỏ những lời ấy.

"Nếu, khi đối chiếu và so sánh, những lời ấy phù hợp với Kinh và nhất trí với Luật, con có thể kết luận rằng: "Chắc chắn đây là Phật ngôn. Vị tỳ khưu ấy hiểu đúng."

"Hãy xem đó là điều tham chiếu lớn thứ ba.


4. "Lại nữa, một vị tỳ khưu có thể nói rằng trong ngôi chùa kia có một vị tỳ khưu cao hạ, học rộng, thông suốt Giáo Lý, hiểu rộng Kinh, Luật, và các Pháp Yếu (Matika): Tôi có nghe vị tỳ khưu cao hạ ấy nói như vầy: "Đây là Giáo Pháp, đây là Giới Luật, đây là Giáo Huấn của Đức Bổn Sư". Không nên chấp nhận, cũng không nên gác bỏ ngoài tai. Không chấp nhận, không bác bỏ, mà phải nghiên cứu kỹ càng, tường tận, từng chữ, từng tiếng, rồi đem đối chiếu với Kinh và so sánh với Luật.

Nếu khi đối chiếu và so sánh, những lời ấy không phù hợp với Kinh và không nhất trí với Luật, con có thể kết luận: "Chắc chắn đây không phải là Phật ngôn. Vị tỳ khưu kia đã hiểu sai." Như vậy, con phải loại bỏ những lời ấy.

"Nếu, khi đối chiếu và so sánh, những lời ấy phù hợp với Kinh và nhất trí với Luật, con có thể kết luận rằng: "Chắc chắn đây là Giáo Pháp, đây là Giới Luật, đây là Giáo Huấn của Đức Bổn Sư."

"Hãy xem đó là điều tham chiếu lớn thứ tư.


"Này các Tỳ Khưu, đó là bốn điều tham chiếu lớn."
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* thuyết pháp - Vị nhân Tất Đàn-.

Kinh văn: Nầy Thiện Nam Tử ! Đức Như Lai vì chúng sanh nên trong rộng mà nói lược, trong lược mà nói rộng, nơi đệ nhứt nghĩa đế nói thành thế đế, nơi thế đế nói thành đệ nhứt nghĩa đế.

Thế nào trong rộng mà nói lược ? Như ta bảo các Tỳ Kheo : Hôm nay ta giảng nói mười hai nhơn duyên. Thế nào gọi là mười hai nhơn duyên ?

Chính là nhơn quả.

Thế nào gọi là trong lược mà nói rộng ? Như ta bảo các Tỳ Kheo : Hôm nay ta giảng nói khổ tập diệt đạo. Khổ là vô lượng sự khổ, tập là vô lượng phiền não, diệt là vô lượng giải thoát, đạo là vô lượng phương tiện.

Thế nào gọi là nơi đệ nhứt nghĩa đế nói là thế đế ? Như ta bảo các Tỳ Kheo. Thân của ta đây có già bịnh chết.

Thế nào gọi là nơi thế đế nói là đệ nhứt nghĩa đế ? Như ta bảo Kiều Trần Như : Vì ông đắc pháp nên gọi là A Nhã Kiều Trần Như.

Do vì tùy theo người tùy theo ý, tùy theo thời như vậy, nên gọi đức Như Lai có đủ tri chư căn trí lực.

Nầy Thiện Nam Tử ! Đối với những nghĩa như vậy nếu ta nói quyết định thời ta chẳng được gọi là đức Như Lai có đủ tri chư căn trí lực. Người có trí biết rằng chỗ mang chở của hương tượng chẳng phải lừa ngựa mang nổi. Tất cả chúng sanh có vô lượng hành nghiệp, nên đức Như Lai vì họ mà nói vô lượng pháp, đó là do vì chúng sanh có vô lượng phiền não. Nếu đức Như Lai nói một hạnh một pháp thời chẳng gọi là đức Như Lai có đủ tri chư căn trí lực. Do đây nên trong các kinh khác ta nói rằng có năm hạng chúng sanh chẳng nên vì họ nói năm thứ pháp : Vì người chẳng có lòng tin thời chẳng tán than chánh tín, vì người phá giới cấm thời chẳng tán thán trì giới, vì người xan tham thời chẳng tán thán bố thí, vì người giải đãi thời chẳng tán thán đa văn vì người ngu si thời chẳng tán thán trí huệ. Nếu người trí vì năm hạng này mà nói năm việc trên đây, thời nên biết rằng người thuyết pháp nầy chẳng có đủ tri chư căn trí lực, cũng chẳng được gọi là thương xót chúng sanh. Vì năm hạng nầy nếu nghe giảng nói năm điều trên đây thời họ sẽ sanh lòng nghi, lòng ác, lòng sân hận, mà phải chịu quả báo khổ trong vô lượng đời. Do đây nên trước kia trong các kinh khác ta bảo Xá Lợi Phất rằng : Ông phải cẩn thận chớ vì người lợi căn mà rộng thuyết pháp, chớ vì người độn căn mà lược thuyết pháp. Xá Lợi Phất bạch rằng tôi chỉ vì thương xót mà thuyết pháp, chẳng phải là có đủ tri chư căn trí lực mà thuyết pháp.

Nầy Thiện Nam Tử ! Thuyết pháp hoặc rộng hoặc lược là cảnh giới của Phật, chẳng phải hàng Thanh Văn và Duyên Giác biết được.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* Ngã - Vô Ngã đều là quyền thuyết.
* VÔ NGÃ và CHƠN NGÃ có sự tương thông.


Kinh văn: Lại một thời kỳ kia ta vì chúng sanh mà nói rằng ngã chính là tánh, nghĩa là những nhơn duyên trong thân ngoài cảnh, mười hai nhơn duyên, ngũ ấm, tâm, giới, công đức, hành nghiệp, tự tại thiên chính đây gọi là ngã. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai quyết định nói có ngã.

Nầy Thiện Nam Tử ! Ngày kia có một Tỳ Kheo đến bạch rằng : Thế Tôn ! Thế nào gọi là ngã, ai là ngã ? Duyên gì mà có ngã ? Ta bảo Tỳ Kheo đó rằng : Nầy Tỳ Kheo không có ngã không có ngã sở. Ngã đó chính là trước không mà nay có, có rồi trở lại không. Lúc nó sanh không từ đâu lại, lúc nó diệt cũng không đến đâu. Dầu có nghiệp quả mà không có tác giả, không có ai rời bỏ ngũ ấm cũng như không có ai thọ lấy ngũ ấm. Như lời ông hỏi thế nào là ngã ? Ngã đó chính là thời kỳ vậy. Ai là ngã ? Chính là nghiệp vậy. Duyên gì mà có ngã ? Chính là ái vậy. Nầy Tỳ Kheo ! Như hai tay vổ nhau trong đó phát ra tiếng. Ngã cũng như vậy, chúng sanh, nghiệp, ái, do ba nhơn duyên nầy mà gọi đó là ngã. Nầy Tỳ Kheo ! Nơi tất cả chúng sanh, sắc chẳng phải là ngã, trong ngã không có sắc, trong sắc không có ngã,thọ tưởng hành thức cũng như vậy. Nầy Tỳ Kheo ! Các ngoại đạo dầu nói là có ngã nhưng trọn chẳng lìa ngũ ấm. Không bao giờ có thể nói rằng riêng có ngã rời ngoài ngũ ấm. Tất cả chúng sanh, hành nghiệp như huyễn hóa như dương diệm. Nầy Tỳ Kheo ! Ngũ ấm đều là vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh.

Nầy Thiện Nam Tử ! Lúc ta giảng dạy những lời trên đây, có vô lượng Tỳ Kheo quán ngũ ấm là vô ngã, là không ngã sở, mà chứng đặng quả A La Hán.

Nầy Thiện Nam Tử ! Các đệ tử của ta nghe lời nói trên đây chẳng hiểu được ý của ta cho rằng đức Như Lai quyết định nói vô ngã.
Thực ra VÔ NGÃ và CHƠN NGÃ có sự tương thông.

Đại Trí Độ Luận dạy:

Tổ Dạy: Đối với hạng người chấp đoạn diệt thì chẳng nên vì họ nói vô ngã.

....... Chấp về đoạn kiến có hai trường hợp. Đó là:

.......- Chấp chẳng có đời sau, chẳng có tội phước, chẳng có thọ quả báo khổ lạc. Dối với hạng người này phải nói có ngã (hữu ngã) phải nói có đời này, có đời sau, có tội phước, có thọ quả báo khổ lạc.

.......- Chấp hết thảy pháp đều là KHÔNG trơn. Đây là tà kiến về đoạn diệt. Đối với hạng người này phải nói về hết thảy các pháp hữu vi và pháp vô vi thì họ mới hiểu rõ được nghĩa của pháp KHÔNG.

....... Lại nữa, đối với người độn căn, lụt trí thì vì họ nói vô ngã, nhằm phá trừ chấp ngã nơi họ. Đối với người lợi căn, thông trí thì phải vì họ nói các pháp, trước sau đều rốt ráo KHÔNG, giúp họ thấy rõ về " ngã không" và "pháp không".

....... Như bài kệ sau đây:

Người rõ biết vô ngã,
Là người chẳng còn chấp.
Nghe "hữu pháp" chẳng vui,
Nghe "vô pháp" chẳng sợ.

Lại nữa, Phật có hai cách thuyết:

- Nếu rốt ráo thì nói hết thảy pháp đều KHÔNG.
- Nếu phương tiện thì nói vô ngã.

....... Cả hai cách thuyết đều dẫn vào Bát nhã Ba- la- mật.

Đức Phật dùng phương tiện thì dạy Vô Ngã, rốt ráo thì dạy Tánh Không (Tánh không là Chơn ngã)

(HẾT TRÍCH)

* Vô Ngã là gì ?

- Tất cả đều do nhân duyên sinh, cái này có, là vì cái kia có. không có một cái gì hiện tồn nằm ngoài nguyên lý naỳ, .

+ Chơn Ngã là gì ?

- Chơn Ngã là Chơn Như. Đại thừa khởi tín, dạy:

- “Chân bất khả khiển, Như bất khả lập”. Chân là không thể dời đổi,Như không thể thêm bớt-

- “Nhất thiết chư pháp, tùng bổn dĩ lai, ly văn tự tướng, ly ngôn thuyết tướng, ly tâm duyên tướng, tất cánh bình đẳng, bất khả phá hoại, cố danh Chân như”. - Tất cả pháp từ xưa đến nay, lìa tướng ngôn thuyết, lìa tướng danh tự, lìa tướng tâm duyên, rốt ráo bình đẳng, không có biến khác, chẳng thể phá hoại, chỉ là nhất tâm, nên gọi là Chân Như.

Chân Như là thực tại “bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm”, nghĩa là thực tại nguyên sơ và tối hậu từ đó tất cả mọi thế giới hiện tượng sinh ra. Chỉ lấy một số từ ngữ trong Luận Đại Thừa Khởi Tín thì Chân Như là: Tâm Chân Như (đối lại với tâm sinh diệt), Pháp tánh Chân Như, Như Lai tạng, Nhất Tâm, Thể Đại tổng tướng của Nhất Pháp giới, tánh Không, Pháp thân, Bản giác, Cứu cánh giác, cái gương như hư không, tánh giác, Tâm, Pháp giới tánh, Phật thể…

Chúng ta có thể định nghĩa khái quát Chân Như duyên khởi như sau: Tất cả những gì chúng ta thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc chạm, suy nghĩ (nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, sắc thanh hương vị xúc pháp) đều sinh ra, duyên khởi từ Chân Như, hiện hữu trong Chân Như và diệt mất trong Chân Như. Nói cách khác, tất cả mọi hiện tượng mà chúng ta kinh nghiệm đều là Chân Như.

http://giacngo.vn/phathoc/luockhao/2009/04/21/5EC01B

* Chơn Như đáp ứng được điều kiện cần và đủ của khái niệm Ngã.- Nên được cho là Chơn Ngã.

Nói cách khác: Chân Như là thực tại “bất sinh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm”, nghĩa là thực tại nguyên sơ và tối hậu từ đó tất cả mọi thế giới hiện tượng sinh ra.

Kết luận:

+ Chơn Như (Chơn Ngã) là "Bản Thể" (cái gốc).

+ Các "hiện tượng" tùng duyên sanh khởi, nên chúng Vô Ngã (cành ngọn).

* Do vậy: Khi đức Phật nói - Ngã - Vô Ngã đều là quyền thuyết. Thực ra VÔ NGÃ và CHƠN NGÃ có sự tương thông.

Đây là THẬT NGHĨA VÔ NGÔN, CHỈ DÙNG TRÍ MỚI THẤY, KHÔNG THỂ DÙNG THỨC ĐỂ THẤY.
 

Tịch Nhiên

Moderator
Staff member
Tham gia
12 Thg 1 2017
Bài viết
985
Điểm tương tác
401
Điểm
63
Dạ kính thầy Viên Quang!

Đọc đoạn này con lên tưởng tới câu nói của ngài Vĩnh Gia Huyền Giác khi gặp Lục Tổ.

- Thể tức vô sanh. Liễu vốn không mau.

Các pháp chẳng tự sanh. Do duyên hội mới hiện. Như đọc sách hiện nghĩa gọi hiểu biết đó đều là duyên sanh. Cho đến thất đại hội hợp thành các báo thân cũng vậy. Nền tảng này xưa nay như vậy còn nơi nào cầu Phật? Hi hi....
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* Trung Ấm thân.

Kinh văn: Nầy Thiện Nam Tử ! Trong khế kinh ta lại nói rằng do ba sự hòa hiệp mà có thân : Cha mẹ, trung ấm. Hoặc có lúc ta nói bực A Na Hàm nơi hiện thân nhập Niết Bàn, hoặc nói nơi thân trung ấm nhập Niết Bàn. Hoặc nói rằng thân căn của trung ấm minh mẫn sáng suốt đều do nơi hạnh nghiệp đời trước, như đề hồ trong sạch.

Nầy Thiện Nam Tử ! Có lúc ta nói rằng chúng sanh tệ ác thọ thân trung ấm xấu xí như vải bố thô. Chúng sanh thuần thiện thọ thân trung ấm tốt đẹp như lụa trắng. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai nói có thân trung ấm.

Nầy Thiện Nam Tử ! Ta lại vì những chúng sanh phạm tội nghịch mà nói rằng kẻ tạo tội ngũ nghịch sau khi chết chẳng vào địa ngục A Tỳ.

Ta lại nói rằng Tỳ Kheo Đàm Ma Lưu Chi, sau khi chết chẳng vào địa ngục A Tỳ, nơi khỏang giữa không chỗ dừng ở.

Ta lại bảo Phạm Chí Độc Tử : Nầy Phạm Chí ! Nếu có thân trung ấm thời có sáu sự có. Ta lại nói có chúng sanh cõi vô sắc không có thân trung ấm. Các đệ tử của ta nghe lời trên đây chẳng hiểu được ý của ta bèn nói rằng đức Phật quyết định nói không thân trung ấm.
Bình thường.- Thân của chúng sanh dọi là "Tiền Ấm", sau khi chết sẽ thọ thân sau gọi là "hậu ấm". Ở khoảng giữa 49 ngày chưa rhọ sanh gọi là "Thân Trung Ấm".

"Thân Trung Ấm" này có một số tiền bối dẫn giải là một cái thân giống như đứa bé 7 tuổi, cứ 7 ngày nó sẽ chịu 1 lần sanh diệt, sau 49 ngày thì sẽ thọ thân Hậu ấm.

Kinh nói có 2 trường hợp không thọ "Thân Trung Ấm".- Đó là cực thiện được về các cõi Phật. Hoặc cực ác đọa địa ngục A Tỳ.

"Thân Trung Ấm" này ít ai thấy được, nên nhiều người cho là Không có "Thân Trung Ấm".

Đại Trí Độ Luận có nói:

Lại nữa, do nhân duyên 6 căn "xúc" 6 trần, mà khởi sanh ra các thọ cùng các tâm sở khác. Cũng có thể nói do căn, trần và thức hòa hợp, dẫn sanh ra các thọ, cùng các tâm sở khác, mà căn bản của sự hòa hợp là "xúc" vậy.

....... Ngay khi "xúc" khởi, thì liền có 6 trần y chỉ, 6 căn y chỉ và từ đó liền có "6 nhập".

....... 6 " nhập" cũng tức là "danh sắc". Khi chưa thành tựu thì được gọi là "danh sắc". Khi đã thành tựu rồi thì được gọi là "6 nhập". Khi đã được thành tựu thì trong 6 nhập có 5 nhập thuọc về sắc, còn 1 nhập thuộc về danh. Sắc là thân, danh là tâm của bào thai.

....... Lại do nhân duyên có "thức" gá vào thai mẹ, mà bào thai lúc ban đầu chẳng bị hư nát. Thức này rất vi tế, được gọi là thức trung ấm.

....... Nếu chẳng có "thức" gá vào thai mẹ, thì bào thai chẳng có thể được hình thành. Phải hội đầy đủ tất cả các nhân duyên hòa hợp mới hình thành bào thai vậy.

.......Hỏi: Vì sao thức lại vào thai mẹ ?

.......Đáp: Do nhân duyên có 3 nghiệp quá khứ, nên khi cha mẹ giao hợp thì các nghiệp ấy liền dẫn thức vào thai mẹ.

....... Ví như gió thổi làm lửa tắt, nhưng ở trong hư không lửa vẫn y chỉ nơi gió, nhen nhúm thêm nhiều đám lửa khác. Cũng như vậy, vì ở đời trước mỗi người đã từng đốt lên 6 thức, nên khi chết, gió nghiệp lại dẫn thức vào thai mẹ, để thọ thân ở đời sau.

() (hết trích)

Lại ở ĐT ĐL nói chỉ có người chứng được A la Hán mới thấy được thân Trung Ấm.

Bản chất Thân Trung Ấm là do Nghiệp và Vô Minh sanh, nên là như huyễn. có cũng như không. Người nào cố chấp Có Trung Ấm hay cố chấp Không Trung Ấm, đều không đúng chân lý.

Vì vậy đức Phật không nói Pháp quyết định.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,400
Điểm tương tác
1,713
Điểm
113
* Hữu Vi- Vô Vi đều Như.

Kinh văn: Trong khế kinh ta nói thân của Như Lai có hai thứ : Một là sanh thân, hai là pháp thân. Sanh thân là thân phương tiện ứng hóa. Thân nầy có thể nói là sanh già bịnh chết, cao thấp đen trắng, là đây là kia là học là vô học. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu được ý của ta bèn cho rằng đức Như Lai quyết định nói thân Phật là pháp hữu vi. Pháp thân là thường lạc ngã tịnh, lìa hẳn tất cả sanh già bịnh chết, chẳng phải trắng đen, chẳng phải cao thấp, chẳng phải đây kia, chẳng phải học vô học, Phật ra đời hoặc chẳng ra đời vẫn thường trụ chẳng động không biến đổi. Các đệ tử của ta nghe lời nầy chẳng hiểu được ý của ta, bèn cho rằng đức Như lai quyết định nói thân Phật là pháp vô vi.
+ Sanh Thân Phật:

Đại Trí Độ Luận dạy:

Quán chiếu tận cùng Thật Tướng của Hữu Vi Pháp là Vô Vi .
Vì sao? Vì truy nguyên tận cùng các Nguyên Nhân nhỏ nhất để duyên khởi hình thành các Pháp đều là Không, các Pháp chỉ có giả danh mà không có thực thể.

Như vậy là Quán Hữu Vi Không. Bản chất Hữu Vi Pháp là Không, nên là Pháp Như. Do vậy Sanh Thân Phật Bản chất là NHƯ.

+ Pháp Thân Phật: Tức là Vô Vi.

Đại Trí Độ Luận dạy:

Vô Vi Không.

LUẬN:

....... Pháp Vô vi là pháp chẳng có tạo tác, chẳng có nhân duyên tạo tác, chẳng có chủ ý tạo tác.

....... Vô vi Không là pháp quán các pháp Vô vi, chẳng có nhân duyên (vô nhân duyên) sanh, nên cũng là hư dối, chẳng thật có. Do đối đải với pháp hữu vi mà nói có pháp Vô vi vậy thôi.

Vì vậy Vô Vi là Pháp chỉ có giả danh mà không có thực thể.

Như vậy là Quán Vô Vi Không. Bản chất Vô Vi Pháp là Không, nên là Pháp Như. Do vậy Pháp Thân Phật Bản chất là NHƯ.

Sanh Thân và Pháp Thân đều là NHƯ, nên tùy trường hợp mà đức Phật nói Pháp để dẫn vào Trung Đạo Như. Vì thế Phật không nói Pháp quyết định.

 
Bên trên