Thảo luận Kinh Đại Bát Niết Bàn- Phẩm 23

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,373
Reaction score
1,699
Điểm
113
ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG
Pháp Sư Thích Từ Thông

PHẨM THỨ HAI MƯƠI BA

SƯ TỬ HỐNG BỒ TÁT


*************************************************************

* NGHI, là pháp chướng đạo.

Kinh văn: Bấy giờ đức Phật bảo toàn thể đại chúng : Này ! Các Thiện nam tử ! NGHI, là pháp chướng đạo, một tâm sở hữu có công năng đóng bít nẻo Bồ đề Niết bàn của những người cần tu học đạo giải thoát giác ngộ.

TRỰC CHỈ

NGHI là một tâm sở hữu pháp, là một trong sáu món phiền não căn bản, cũng là một trong năm món tư hoặc. Ở kinh Đại Niết bàn này, Phật dạy: Nghi là pháp chướng đạo. Sự thật, nếu phản quan tự kỷ ta sẽ thấy trong cuộc sống ta còn có vô số điều nghi.

Nghi chướng đạo đó là sự thật. Đại nghi đại ngộ lại cũng là sự thật. Lợi hại tùy cách ứng dụng

Như Lai viên mãn "nhất thiết chủng trí" cho nên Như lai giải đáp tất cả nghi vấn bất cứ từ ai. Tuy nhiên, người hỏi cũng cần biết căn cơ trình độ của mình.

Giải thích thuật ngữ:

+ Thế nào là: Tâm sở hữu pháp ?

- Theo Phật Học Duy Thức. Tâm có 2 thành phần. Tâm Vương và Tâm sở.

Tâm vương còn gọi là Bát Thức Tâm Vương, 8 thức này ví như vua, có quyền sai sử quyết định. Có 8 món là: Nhãn thức, nhĩ thức, Tỷ thức, Thiệt thức, Thân thức, ý thức, mạc na thức và a lại da thức.

Tâm sở (gồm 51 món) là các món phụ thuộc Tâm Vương, ví như quần thần phải bị tâm vương sai sử.

Trong đó NGHI là một trong các món Tâm sở. Là Căn bản phiền não tâm sở
6 Căn bản phiền não tâm sở (根本煩惱, mūlakleśa):

Tham (rāga);
Hận (pratigha);
Mạn (māna);
Vô minh (avidyā);
Nghi (vicikitsā);
Kiến (dṛṣṭi) cũng được gọi là Ác kiến.

(Thường người biết đơn sơ chỉ nói THAM, SÂN, Si, mà không đề cập đến MẠN và NGHI. Nhưng khi thực hành, thì MẠN và NGHI rất quan trọng)

Như vậy nên kinh nói: NGHI là một tâm sở hữu pháp, là một trong sáu món phiền não căn bản,

+ Tư hoặc là gì ?

Kiến hoặc và tư hoặc là hai danh từ được dùng để phạm trù hóa hai hình thức si mê của chúng sinh chưa giác ngộ.

Kiến hoặc là những si mê về tri kiến; và tư hoặc là những si mê về các hành nghiệp. Nói khác đi, kiến hoặc là những thứ phiền não thuộc về lý và tư hoặc là những phiền não thuộc về sự.

Theo Duy thức (Yogācāra) kiến hoặc có năm loại đó là: thân kiến, biên kiến, kiến thủ, giới cấm thủ, và tà kiến. Tư hoặc cũng có năm loại đó là: tham, sân, si, mạn, và nghi. Cộng chung cả kiến hoặc và tư hoặc sẽ bao gồm mười loại phiền não (kleśa) căn bản, là cội nguồn của sinh tử khổ đau.

Đối với các tư hoặc (tham, sân, si, mạn, nghi), vì tính chất của nó rất sâu nặng, u ám, khó dứt trừ nên được gọi là độn sử (khó điều phục). Ngược lại đối với các kiến hoặc thì tính chất của nó thuộc về nhận thức, dễ điều phục hơn nên được gọi là lợi sử. Do vậy, về mặt tu tập, chỉ khi nào hành giả đạt đến địa vị Tu đạo trở lên thì mới đoạn trừ được các tư hoặc. Đối với kiến hoặc, hành giả khi bước vào địa vị Kiến đạo thì có thể đoạn trừ các tri kiến mê lầm này. Bậc Thánh A-la-hán được xem là đã đoạn trừ tất cả kiến hoặc và tư hoặc.

(Trích Cẩm nang Phật tử)

NGHI là ác pháp nó làm chướng ngại không cho thấy được Đạo. Vì thế trên bước đường học Đạo, hành Đạo hành giả cần phải giải quyết.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,373
Reaction score
1,699
Điểm
113
* NGHI ! (tt)

Kinh văn: Trên bước đường học đạo, tu đạo, hành đạo các vấn đề : Có Phật hay không Phật ? Có pháp hay không pháp ? Có Tăng hay không Tăng ? Có khổ hay không khổ ? Có tập hay không tập ? Có diệt hay không diệt ? Có đạo hay không đạo ? Có ngã hay không ngã ? Có thường hay không thường? Có lạc hay không lạc ? Có tịnh hay không tịnh ? Có thừa hay không thừa ? Có tánh hay không tánh ? Có chúng sanh hay không chúng sanh ? Có hữu vi hay không hữu vi ? Có vô vi hay không vô vi ? Có chơn hay không chơn ? Có vọng hay không vọng ? Có nhơn hay không nhơn ? Có quả hay không quả ? Có tác giả hay không tác giả ? Có nghiệp hay không nghiệp ? Có báo hay không báo ?...Và còn nhiều hơn thế nữa. Giờ đây đại chúng có thể tùy ý hỏi ra, Như Lai sẽ giải quyết rõ ràng cho chư liệt vị !
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,373
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Phật, Pháp, Tăng có hay không ?

Phàm các Tôn giáo trong thế gian, đều có một trọng tâm để "Tín đồ" hướng tâm mà tôn thờ.

Như đạo Chúa thì có Chúa Trời (chúa Cha), chúa Jésu (chúa Con) và chúa Thánh Thần.- là 3 ngôi.

Đạo Hồi thì có Thánh Ala, Muhammad và kinh Qur'an.- là 3 ngôi.

Đạo Bà La môn thì có

- Đấng Brahma là Thần Sáng tạo,

- Đấng Civa là Thần Tranh đấu,

- Đấng Vishnu là Thần Bảo tồn.

và 4 bộ kinh Véda, để làm tín hướng.

Ba Đấng ấy hợp lại gọi là Tam vị Nhất thể. (Đạo Cao Đài gọi 3 Đấng ấy là Tam Thế Phật, cai quản 3 Ngươn: Thượng Ngươn, Trung Ngươn và Hạ Ngươn, có đúc tượng đặt trên nóc Bát Quái Đài, Tòa Thánh Tây Ninh).

Riêng Đạo Phật thì lấy Phật, Pháp Tăng làm Tam Bảo để người Phật tử tín hướng.

Vậy. Tam Bảo có thật, hay là một đấng siêu nhân, siêu nhiên mà con người tưởng tượng ra để làm niềm tin dựa dẫm ?

Đó là mối NGHI lớn, mà chúng ta nên giải quyết.
 

Nguyên Chiếu

Ban Đại Biểu nhiệm kỳ III (2015-2016)
Thành viên BQT
Tham gia ngày
5 Tháng 5 2014
Bài viết
1,001
Reaction score
331
Điểm
83
Kính thưa Thầy,


Theo Con hiểu Tam Bảo theo đạo Phật là :



Nếu nhìn theo tục đế thì Tam Bảo là thật có


Nếu nhìn theo Chân đế thì Tam Bảo là bất nhị, là trung đạo đế, là đệ nhất nghĩa đế, là thậm thâm vì diệu pháp, là bất khả tư nghì....


Kính.


*******************************************



(VQ cúng dường)
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,373
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Nhất Thể Tam Bảo

Kính thưa Thầy,


Theo Con hiểu Tam Bảo theo đạo Phật là :



Nếu nhìn theo tục đế thì Tam Bảo là thật có


Nếu nhìn theo Chân đế thì Tam Bảo là bất nhị, là trung đạo đế, là đệ nhất nghĩa đế, là thậm thâm vì diệu pháp, là bất khả tư nghì....


Kính.


*******************************************



(VQ cúng dường)
ĐH Nguyễn Chiếu luận về Nhất Thể Tam Bảo rất hay.

Thông thường, người ta hiểu rằng: có Phật mới có Pháp và Tăng. Nhưng thật tế PHÁP mới năng sanh Phật.- Có Pháp mới có Phật.

Đại Trí Độ Luận dạy:

Bát Nhã chính là Mẹ
Hay xuất sinh nuôi nấng…
Bát Nhã sinh ra Phật
Bát Nhã là Tổ Mẫu
Của hết thảy chúng sinh


(Đại Trí Độ Luận, Hòa Thượng Đại Lão Thiện Siêu dịch, tập I, trang 691-692)

Bát Nhã Ba la mật chính là PHÁP tối thượng hay sanh ra chư Phật ?

Trung Bộ Kinh I, số 28; Tương Ưng III, tr. 144 và Tiểu Bộ I, tr. 48, chép lời Thế Tôn: "Ai thấy Duyên khởi là thấy Pháp. Ai thấy Pháp là thấy Phật (Ta)."

Phật, Pháp, Tăng Tam Bảo từ PHÁP mà có ?

Sau đây, kính mời Quý Đạo hữu. Chúng ta cùng khảo sát về PHÁP .
 

Ba Tuần

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
28 Tháng 7 2016
Bài viết
1,529
Reaction score
485
Điểm
83
Kính thầy Vienquang6,

Nếu có Phật rồi mới có Pháp thì đây là theo thuyết duy Thần, nhất nguyên; Phật trở thành đấng sáng tạo như chúa trời.

Nếu có Pháp rồi mới có Phật thì đây là theo thuyết duy vật, đa nguyên; Phật trở thành cái sinh diệt, do lý Vô thường là đặc tính chung của hết thảy các pháp.

- Vì khi bậc Thánh chứng quả, tham sân si chẳng khởi xuất thì làm sao còn thấy sự tham sân si của chúng sinh ? vậy là tham sân si chẳng thật diệt.




 

Tịch Nhiên

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
12 Tháng 1 2017
Bài viết
980
Reaction score
399
Điểm
63
Kính thầy Vienquang6,

Nếu có Phật rồi mới có Pháp thì đây là theo thuyết duy Thần, nhất nguyên; Phật trở thành đấng sáng tạo như chúa trời.

Nếu có Pháp rồi mới có Phật thì đây là theo thuyết duy vật, đa nguyên; Phật trở thành cái sinh diệt, do lý Vô thường là đặc tính chung của hết thảy các pháp.

- Vì khi bậc Thánh chứng quả, tham sân si chẳng khởi xuất thì làm sao còn thấy sự tham sân si của chúng sinh ? vậy là tham sân si chẳng thật diệt.





Ha ha...

Lão ca ngươi không nghe cổ đức dạy sao?

Nói tức Phật trước Pháp sau

Nghe tức Pháp trước Phật sau

Vậy thì.

Chứng ngộ thì Phật trước. Độ sanh thì Pháp trước đây cũng không phải là 2. Tùy thời kiến lập. Nay tiểu đệ cứ bảo Phật Pháp không 2 không khác đấy ha ha...
 

Ba Tuần

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
28 Tháng 7 2016
Bài viết
1,529
Reaction score
485
Điểm
83
Ha ha...

Lão ca ngươi không nghe cổ đức dạy sao?

Nói tức Phật trước Pháp sau

Nghe tức Pháp trước Phật sau

Vậy thì.

Chứng ngộ thì Phật trước. Độ sanh thì Pháp trước đây cũng không phải là 2. Tùy thời kiến lập. Nay tiểu đệ cứ bảo Phật Pháp không 2 không khác đấy ha ha...
Pháp, danh từ chung nhất để gọi tên tất cả, không nên chỉ giới hạn nó là "lời đức Phật dạy".

đức Phật cũng chỉ là một hình thái của Pháp. Phật là cái chung ẩn chứa trong các Pháp, là mối liên hệ chung của các Pháp, là bản chất của các Pháp, là thật tướng của các Pháp. Cho nên mới nói: "Thấy Pháp tức là thấy Phật".

 

Tịch Nhiên

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
12 Tháng 1 2017
Bài viết
980
Reaction score
399
Điểm
63
Pháp, danh từ chung nhất để gọi tên tất cả, không nên chỉ giới hạn nó là "lời đức Phật dạy".

đức Phật cũng chỉ là một hình thái của Pháp. Phật là cái chung ẩn chứa trong các Pháp, là mối liên hệ chung của các Pháp, là bản chất của các Pháp, là thật tướng của các Pháp. Cho nên mới nói: "Thấy Pháp tức là thấy Phật".

Ha ha...

Tiểu đệ bảo tùy thời kiến lập. Thì tùy thời cũng phá ha ha...

Như Lai đắc pháp vô thật vô hư . Người huyển độ người huyển nên gọi là Tăng Bảo đó ha ha....
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,373
Reaction score
1,699
Điểm
113

Rất hay. Nhị vị nói rất hay.

+ Một người nói ra Pháp Tướng.

+ Một người nói ra Pháp Tánh.

Pháp, danh từ chung nhất để gọi tên tất cả, không nên chỉ giới hạn nó là "lời đức Phật dạy".

đức Phật cũng chỉ là một hình thái của Pháp. Phật là cái chung ẩn chứa trong các Pháp, là mối liên hệ chung của các Pháp, là bản chất của các Pháp, là thật tướng của các Pháp. Cho nên mới nói: "Thấy Pháp tức là thấy Phật".

Ha ha...

Tiểu đệ bảo tùy thời kiến lập. Thì tùy thời cũng phá ha ha...

Như Lai đắc pháp vô thật vô hư . Người huyển độ người huyển nên gọi là Tăng Bảo đó ha ha....
Đây là Song kiếm hợp bích. TUYỆT

 
Tham gia ngày
28 Tháng 5 2018
Bài viết
2
Reaction score
2
Điểm
3
Kính mừng phật đản

Hoan hỷ đạo hữu!
Muôn pháp thị hiện: ViênQuang-BaTuần - Tịchnhiên- Vônăng- NguyễnChiếu- VNBN- Người điênhọcphật - Cónhớemkhông - Docoden- Nguyễnviệttrí-các thành viên, diễn đàn đều thị hiện là pháp, con người, chúng sinh, trái đất...trùng trùng muôn pháp thị hiện
Hoan hỷ
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,373
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Tánh Tướng Phật Pháp cập Tăng già.

Pháp là gì ?

Pháp (zh. fă 法, ja. hō, sa. dharma, pi. dhamma), cũng được dịch theo âm Hán-Việt là Đạt-ma (zh. 達磨, 達摩), Đàm-ma (zh. 曇摩), Đàm-mô (zh. 曇無), Đàm (曇). Chữ dharma vốn xuất phát từ tiếng Phạn, ngữ căn √dhṛ, có nghĩa là "nắm giữ", đặc biệt là nắm giữ tính năng hoạt động của con người. Cách dùng chữ thuật ngữ này rất đa dạng, và vì vậy, nó mang rất nhiều nghĩa:
......
Tổng quát lại, người ta có thể hiểu Pháp là "tất cả những gì có đặc tính của nó - không khiến ta lầm với cái khác - có những khuôn khổ riêng của nó để nó làm phát sinh trong đầu óc ta một khái niệm về nó" (nhậm trì tự tính, quỹ sinh vật giải 任持自性、軌生物解).

https://vi.wikipedia.org/wiki/Pháp_(Phật_giáo)
Ở đây chúng ta dụng 2 nghĩa:

1. Bản thể, bản tính; (tức là Pháp Tánh)

2. "tất cả những gì có đặc tính của nó - không khiến ta lầm với cái khác - có những khuôn khổ riêng của nó để nó làm phát sinh trong đầu óc ta một khái niệm về nó" -nhậm trì tự tính, quỹ sinh vật giải- (tức là Pháp Tướng).

Hay nói cách khác:

+ Pháp Tướng là những tướng trạng của tất cả các hiện tượng trong vũ trụ gồm 2 lĩnh vực: 1. Động vật, và 2. Thực vật + khoáng vật.- Còn gọi là Hữu Tình chúng sanh và Vô tình chúng sanh.
Thí dụ: Con người là một pháp tướng trong vạn pháp.

Đức Phật Thích Ca Mâu Ni thị hiện giáng sanh ở Ấn Độ cách đây trên 2500 năm. Nên Đức Phật là "Phật tướng" do Pháp Ứng hiện.

+ Pháp Tánh là bản thể THANH TỊNH BẢN NHIÊN (vốn tự thanh tịnh). Thể Thanh tịnh này ở vô tình gọi là Pháp Tánh, Ở Hữu Tình gọi là Phật Tánh.

Tiến Sĩ Lâm Như Tạng. giải thích:

Pháp Tánh : “Bản Tánh của các Pháp, thật thể của chúng sanh và sự vật. Bản tánh của các Pháp vốn là không, không tịch, nghĩa là các Pháp không thật có, chẳng qua là những Pháp ấy món nầy giống món kia, cái nầy tiếp nối cái kia, cho nên hàng phàm phu tưởng lầm là có thật, còn chư Phật và chư Bồ Tát thấy là không, không tịch.
Pháp Tánh là tánh tự nhiên của Pháp hửu vi hoặc pháp vô vi. Pháp Tánh tức là Chơn Như. Tánh nghĩa là thể, là bản chất không thay đổi. Chơn Như là thể của các Pháp. Thể ấy thường trụ không thay đổi, cho nên gọi là Pháp Tánh.


Đức Phật lấy Pháp Tánh làm Thân, nên gọi là Pháp thân.

Tiến Sĩ Lâm Như Tạng. giải thích:

PHÁP TÁNH THÂN
Thân Pháp Tánh. Gọi tắc là Pháp Thân, một trong Tam Thân của Phật. Pháp Tánh Thân của Phật mới thật là Chơn Thân. Nó chẳng sanh chẳng diệt, chẳng luân hồi, vẫn thường trụ, phổ cập khắp mười phương vũ trụ. Nó có vô lượng vô biên tướng hảo trang nghiêm, vô lượng quang minh, vô lượng âm thinh.
“Tính là nói về thể, cái thể không đổi. Chân Như là thể của muôn Pháp; trong cái nhơ, cái sạch của loài hửu tình, ở loài phi tình, tính nó không đổi, không biến nên gọi là Pháp Tính.

* Pháp Tánh- Pháp Tướng.
* Phật tướng- Phật Tánh.

Tuy hai mà không hai. Giống một mà chẳng một. Vì một bên là chỉ cho Hiện tượng, một bên là chỉ cho bản thể.

Luận Hiển dương Chánh giác nói:

Phật Tánh tại hữu tình, Pháp Tánh tại vô tri.
Phật- Pháp bản lai vô nhị tánh. Nhất hỏa năng thiêu bách vạn sài.


Nghĩa là vốn cùng một tánh Chân Như, nhưng tác động vào loài vô tình thì gọi Pháp Tánh. Tác động vào loài Hữu Tình thì gọi là Phật Tánh.- Ví như cùng là lửa mà đốt phân bò thì cháy nhỏ, mà đốt rừng thì cháy lớn.

Như vậy: Quyết định rằng Phật- Pháp- Tăng Tam bảo là có thật.

* Vì Pháp là CÓ nên có Pháp Tướng- Pháp Tánh. Vì Pháp Tướng có nên có Hữu Tình chúng sanh.

* Vì có Hữu Tình chúng sanh, nên có Phật Tánh. Thái tử Sĩ Đạt Ta nhận ra Phật Tánh, nên Có Phật Tướng là Đức Thích Ca Mâu Ni.

* Hòa hợp Phật và Pháp tức là TĂNG Tánh. Hiện tướng đầu tròn áo vuông Thanh Văn, Duyên giác, Bồ Tát là Tăng Tướng. Nghĩa là chúng sanh nào tu học để nhận ra Phật Tánh, sống theo Phật Tánh tức là Tăng, hiện tướng đầu tròn áo vuông là Tăng.

Do vậy xác định Tam Bảo là có thật chứ không phải do tưởng tượng mà có ra.
 

Tịch Nhiên

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
12 Tháng 1 2017
Bài viết
980
Reaction score
399
Điểm
63
Dạ kính thầy Viên Quang!

Triệu Luận nói : tam thừa đều do quán tánh KHÔNG mà ngộ. Chỉ vì kiến chấp khác nhau mà thành quả khác nhau .

Tổ sư thì dạy : Toàn Thể tức là Ông! Không có người nào khác!

Bổn phận của người học là "Phản Quan Tự Kỷ " cũng gọi quán Tâm, hết thảy đều là do Tâm hiện lượng . Học hiểu đều là Tâm hiện lượng nếu không nhận được bản Tâm thì đuổi theo tình thức chỉ lớn nghiệp huyễn rốt cuộc vẫn mê lầm!

Kỳ lạ thay! Ai cũng sẵn sàng mà sao không chịu quay đầu nhìn lại bản Tâm dù chỉ 1 lần.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,373
Reaction score
1,699
Điểm
113
Dạ kính thầy Viên Quang!

Triệu Luận nói : tam thừa đều do quán tánh KHÔNG mà ngộ. Chỉ vì kiến chấp khác nhau mà thành quả khác nhau .

Tổ sư thì dạy : Toàn Thể tức là Ông! Không có người nào khác!

Bổn phận của người học là "Phản Quan Tự Kỷ " cũng gọi quán Tâm, hết thảy đều là do Tâm hiện lượng . Học hiểu đều là Tâm hiện lượng nếu không nhận được bản Tâm thì đuổi theo tình thức chỉ lớn nghiệp huyễn rốt cuộc vẫn mê lầm!

Kỳ lạ thay! Ai cũng sẵn sàng mà sao không chịu quay đầu nhìn lại bản Tâm dù chỉ 1 lần.
Kim Cương đọc đến ngàn lần
Mà trong mờ ảo như gần như xa
Thạch Đài tìm đến hiểu ra
Chân kinh thật nghĩa chẳng qua không lời.


(Nguyễn Du )
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,373
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Tứ Đế và Niết Bàn.

Kinh văn: các vấn đề : Có khổ hay không khổ ? Có tập hay không tập ? Có diệt hay không diệt ? Có đạo hay không đạo ? ...Và còn nhiều hơn thế nữa. Giờ đây đại chúng có thể tùy ý hỏi ra, Như Lai sẽ giải quyết rõ ràng cho chư liệt vị !
Nền Giáo lý Đạo Phật, dựa trên căn bản Tứ Đế, Đó là Khổ Đế, Tập Đế, Diệt Đế và Đạo Đế. Đây là 4 Chân lý chắc thật, mà con người đã, đang và sẽ thọ dụng.

+ Khổ Đế và Tập Đế là cặp phạm trù Nhân- Quả về Thế gian.

- Khổ Đế: Gồm có 3 Khổ (hoặc 8 khổ). là:

a. "Khổ Khổ". Nghĩa là các khổ tâm và khổ thân ồ ạt kéo đến trong cuộc sống con người.
b. "Hành Khổ" là các Khổ về sanh, già, và bệnh, ép ngặt con người,
c. "hoại Khổ" là Khổ về sự chết.

- Tập Đế: Là nguyên nhân sanh khổ. Đại khái là do Vô minh, Ái và Dục, Căn bản là do Ngã Chấp mà sanh ra.

Khổ và Tập là 2 điều hiển nhiên trong cuộc sống. Chúng ta không ai xa lạ với chúng, ai cũng phải tin chắc thật là CÓ.

+ Diệt Đế và Đạo Đế là cặp phạm trù Nhân- Quả về Xuất Thế gian.

- Diệt Đế là Niết Bàn.

- Đạo Đế là con đường khai thông đến Thành Trì Niết Bàn mà Đức Phật đã dạy. Gồm 37 Phẩm Trợ Đạo.

Sau đây chúng ta cùng ôn lại 37 Phẩm Trợ Đạo.- Con đường dẫn đến Niết Bàn.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,373
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Ngũ Căn.

Ngũ Căn là 5 điều căn bản mà người tu học Phật Pháp cần phải có.

Chữ CĂN là rễ, Chữ BẢN là Gốc.

Thí dụ như:

1. Một học sinh ở lớp 6, lớp 7 không được học kiến thức nền đầy đủ, thì lên các lớp lớn hơn khó tiếp thu việc học. Thì gọi học sinh đó là MẤT CĂN BẢN.

2. Ví như một cái hạt me, hạt đậu. Khi chúng bắt đầu nứt mộng, thì chúng vương lên chiếc rễ mầm để cấm sâu vào đất, đó là CĂN.

Trong Phật Pháp. có 5 Căn Bản là 5 cội rễ mà người tu cần phải có.- dùng đó mà mới có thể cắm sâu vào đất Tâm, mà thành cây Bồ Đề lớn mạnh. Đó là: Tín Căn, Tấn Căn, Niệm Căn, Định Căn và Huệ Căn.

I/. Tín Căn: Là Niềm Tin.

Kinh Hoa Nghiêm nói:“Tín vi đạo nguyên công đức mẫu, trưởng dưỡng nhất thiết chư thiện căn” (tín là mẹ nguồn công đức của đạo, nuôi dưỡng hết thẩy mọi căn lành). Long Thọ bồ tát nói “Phật pháp đại hải, tín vi năng nhập, trí vi năng độ” (biển Phật pháp bao la, chỉ tín mới vào được, chỉ trí mới qua được). Đại thừa Phật pháp lấy tín là cửa ngỏ, là bước đầu để vào đạo.

Nhưng Niềm Tin của người học Phật không thể bạ đâu tin đó, để rồi trở thành Mê tín; mà phải dựa trên 6 điều kiện để phát khởi lòng Tin.

1. Tín Tự: Nghĩa là Tự Tin rằng mình có Phật Tánh, do đó tự mình có thể tu hành, có thể thành Phật, chớ quả vị Phật, công đức tu hành không do ai ban, ai tặng mà được.

khả năng “tự mình” cũng được Tổ Linh Hựu sách tấn: “Kim sanh, tiện tu quyết đoán, tưởng liệu bất do biệt nhơn!”
Tạm dịch: đời nay phải tự quyết đoán, xét ra không do ai khác! (Qui sơn cảnh sách)

“Bỉ ký trượng phu ngã diệc nhĩ, bất ưng tự khinh khi thoái khuất”. Trong kinh A Hàm có kể chuyện Ngài La Hầu La, Ngài đi tu lúc còn bé, nên hơi khỉ. Có lần thấy các vị Tỳ Kheo ngủ, Ngài đến chọc léc. Các Tỳ Kheo mách lên Phật, Phật quở:

-Sao ông không học theo những vị trưởng lão đằm thắm nghiêm chỉnh, lại đi trửng giỡn như thế?

La Hầu La thưa:

-Bạch Thế Tôn, con đâu dám bì với các hàng Trưởng lão.

Phật dạy:

“Kia là trượng phu, mình cũng thế. Cớ sao lại tự khinh mình, lại có những tánh xấu như vậy?”

Từ đó, câu “ Bỉ ký Trượng phu ngã diệc nhĩ, bất ưng tự khinh nhi thoái khuất” luôn được nhắc nhở đến. Chúng ta thường có cái bịnh là tự ti mặc cảm. Nghe nói đến Phật thì tưởng như Phật ngồi trên mây cao, còn mình thì ở dưới đất. Biết thế nên Phật đã hạ thấp Ngài xuống để hòa với chúng ta và bảo: “Ta là Phật đã thành, các ngươi là Phật sẽ thành”. Tức Phật đã nâng chúng ta lên mà chúng ta vẫn không dám, nên xem chuyện thành Phật quá cao xa, không làm nổi. Tu là tu vậy, chớ không dám tin là mình sẽ thành Phật. Cứ thầm tưởng như vậy nên thay vì cố gắng mười phần chỉ ráng năm, sáu phần thôi. Như anh học trò sắp thi Tú Tài mà lại mang mặc cảm là sẽ rớt, nên đến trường học cầm chừng thôi, bạn bè có rủ đi chơi liền đi. Từ ý niệm thiếu tự tin dẫn đến bê tha. Nếu anh đinh ninh thế nào cũng đậu thì sẽ cố học, ai rủ ren cũng không đi chơi, nhờ thế mà trong suốt niên học siêng năng cần mẫn. Vậy bê tha hay cần mẫn đều do tự tin hay không tự tin. Hiện nay đại đa số người tu chúng ta hầu như mất tự tin. Vì nghĩ mình tu không thành Phật nên thôi thong thả tu, chớ cố gắng làm chi cho nhọc. Có ai rủ đi giải trí thì đi cho khuây khỏa một chút, chắc cũng không phạm tội gì. Cứ thế từ lỗi nhỏ dẫn dần đến lỗi lớn, rồi càng ngày càng xa đạo. Gốc là do thiếu tự tin.

Đức Phật đã minh thị: “Các ngươi hãy tự nỗ lực để tiến đến giải thoát giác ngộ. Đức Như Lai chỉ là người dẫn đường” (Đại cương Kinh Trường A Hàm, dịch giả Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, XB 1993, tr.94).

Phật dạy: HÃY TỰ MÌNH THẮP ĐUỐC LÊN MÀ ĐI.
 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,373
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Ngũ Căn (tt).

2/. Tín Tha. Nghĩa là tin vào các Bậc Thánh Trí, tức là Phật, Bồ Tát, Thanh Văn, Duyên giác. Các ngài đã chứng được Chân lý và đức hạnh để chúng ta noi theo.

3/. Tín Nhân.

4/. Tín Quả. Nghĩa là tin chắc lý Nhân Quả.

5/. Tín Sự. Nghĩa là tin các pháp hữu vi là vô thường, Khổ, vô ngã bất tịnh.

6/. Tín Lý. Nghĩa là tin Pháp Vô Vi là Tịch Tịnh an lạc. Chơn Như thường trụ.

* Sự và Lý có liên quan với nhau:

Thí dụ:

+ Tuy làm các Thiện nghiệp hữu vi, như bố thí, cúng dường, tạo phước bằng vật chất hữu vi (như vật phẩm, tiền bạc v,v... ) nhưng đồng thời nghiệp tham, sân. si được hóa giải mà hưởng được an lạc Niết Bàn hữu thượng.

+ Tuy các pháp hữu vi, như 6 nẽo luân hồi Trời, người, A tu la, Địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh phải chịu sanh, già, bệnh, chết, vô thường. Nhưng không mất hẳn. Vì Vô thường nhưng duyên khởi từ Chơn Như bất sanh, bất diệt.

* Tin bằng cách mê muội không lý trí là Mê Tín.

Có đủ 6 niềm Tin như vậy, gọi là có Tín Căn.
 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,373
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Ngũ Căn (tt).

II. Tấn Căn: Sự siêng năng liên tục .

Tất cả các pháp do duyên sanh. Duyên lại có 4 loại:

+ Nhân duyên: Phật Tánh là Chánh nhân sanh Niết Bàn.

+Tăng thượng duyên: Tín căn là nước để tưới tẩm

+ Sở duyên duyên: Ở đây là tu học, tìm tòi, tư duy để phát huy Phật Tánh

+Đẳng vô gián duyên Hay còn gọi là thứ đệ duyên: Là sự chăm sóc giữ gìn hạt gióng Phật, là điều kiện tiếp nối liên tục, không gián đoạn của vạn pháp. Trong dòng sống của vạn pháp cần có sự liên tục, nếu gián đoạn thì sẽ không có gì được hình thành cả.

Ở đây Đẳng vô giáng duyên tương đương với Tấn Căn.- Đây là căn lành thứ 2.

III. Niệm Căn: Là ghi nhớ. Hành giả luôn ghi nhớ trong lòng.- Mình là Người đệ tử Phật, phải luôn sống Thiện Lương, theo đúng lời Phật dạy.

Có 8 điều mà người Hành giả cần niệm tưởng:

8 Niệm là: Niệm Phật, Niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Xả, niệm Thiên, niệm hơi thở vào ra, niệm chết.

- Đây là căn lành thứ 3.

IV. Định Căn: Là tu tập Thiền Định.- Đây là căn lành thứ 4

V. Huệ Căn: Là tu học Trí Huệ Bát Nhã. tức là học biết các Pháp Tánh không.- Đây là căn lành thứ 5.

5 Căn này ví như 5 cái "Rể Cái", khi bám được vào mãnh "đất Tâm", thì cây "Bồ Đề" (giác ngộ) lớn mạnh, hoa "Bát Nhã" trổ thơm, trái "Niết Bàn" được hưởng dụng.

* Ngũ Căn khi được tu trì thành thục thì biến thành NGŨ LỰC.- Đó là 5 năng lực Thành Đạo.

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,373
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Bát Chánh Đạo:

Còn có tên là Bát Thánh Đạo, là 8 con đường chân chánh dẫn đến 4 quả Thánh: Tư Đà Hoàn, Tu Đà Hàm, A na hàm, A la hán.

1/. Chánh Kiến: Sự thấy chơn chánh.

*. Thấy ở đây không giới hạn trong cái "thấy" bằng con mắt. Mà bằng mắt thấy, nghe thấy, ngửi thấy, niếm thấy, xúc chạm thấy và suy nghĩ thấy. Nghĩa là "thấy" bằng toàn thân, toàn tâm ý 8 vạn 4 ngàn lỗ chân lông đều là mắt, là thấy.- Sự thấy có tư duy, có chiêm nghiệm và có chứng đắc.

*. Loại trừ tà kiến.

Do Chánh Kiến là cái thấy của Bậc Thánh, nên thoát khỏi các "Tà kiến". Thế nào là Tà kiến ?

Đó là:

+a. Thân kiến:

Là kiết sử đầu tiên, là sự hiểu sai lạc về cái gọi là Tự ngã, hay cái Tôi, đồng hóa nó với một trong năm uẩn (sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Trong bài kinh số 44, thuộc Trung Bộ, Ni sư Dhammadina giảng rằng một người đã đoạn trừ thân kiến là một người "không xem sắc là tự ngã, không xem tự ngã là có sắc, không xem sắc là trong tự ngã, không xem tự ngã là trong sắc", tương tự như thế đối với bốn uẩn còn lại.

Người thoát khỏi Thân kiến, là người nhẹ đi sự "Chấp Ngã".- Có được CHÁNH KIẾN.

+b. Biên kiến:

Là chấp 2 bên.

Hữu kiến: cho tất cả là có thật;

Vô kiến: tà kiến thiên về không, hư vô.

Trong khi thật tế các pháp tuy là Bản thể Tánh không nhưng hiện tượng là Huyễn có.

Người thoát khỏi Biên kiến, là người nhẹ đi sự "Chấp sai lệch".- Có được CHÁNH KIẾN.

+c. Tà Kiến.

“Tà kiến là gì ? Là thấy sai, hiểu sai ”

Trong kinh Phạm Võng. Phật nói có 62 loại tà kiến. Chủ yếu là chấp không nhân quả, chấp có linh hồn trường tại (thường kiến), chấp chết rồi là hết (đoạn kiến), chấp con người do đấng thần linh tạo dựng nên v.v...

Người thấy được các pháp trong đó có con người là do nhân duyên- nghiệp báo mà huyễn có.- Đó là người thoát khỏi tà kiến, là người thoát khỏi sự "Chấp Tà kiến".- Có được CHÁNH KIẾN.

+d. Kiến thủ kiến.

Kiến thủ là bám chắc vào một lý thuyết sai, hoặc nắm giữ một quan điểm sai.

Kiến thủ nói gọn là: bám chắc vào quan điểm “thường hằng (sassata)” hay bám chắc vào quan điểm “đoạn diệt (uccheda)”.

“Dvīhi, bhikkhave, diṭṭhigatehi pariyuṭṭhitā devamanussā olīyanti eke, atidhāvanti eke...

“Này các Tỳ khưu, chư thiên và loài người bị xâm chiếm (pariyuṭṭhitā) bởi hai tà kiến”, một số chấp chặt (olīyanti), một số đi quá trớn (atidhāvanti).... .

Và Đức Thế Tôn có giải thích: “Người chấp chặt là chấp có (thường kiến)”, “người đi quá trớn là chấp không (đoạn kiến)”.

Người thoát khỏi Kiến thủ kiến, là người nhẹ đi sự "Chấp thủ".- Có được CHÁNH KIẾN.


+e. Giới cấm thủ kiến:

Nghĩa là chấp thủ vào giới điều, lễ nghi. Đây là một trong mười sợi dây trói buộc (kiết sử, thằng thúc - samjoyana) trói buộc con người trong vòng sinh tử luân hồi.

Khư khư giữ chặt một giới cấm không đưa đến giải thoát, tự trói buộc mình. Giới luật Phật chế là để giúp ta giải thoát ngay hiện tại.

giới cấm thủ là những kỷ luật phi lý không do một đấng giác ngộ lập ra, mà do những bậc thầy ngu si muốn lôi cuốn đệ tử bằng những điều luật khó theo, quái gở, lập dị, không vì mục đích giải thoát mà chỉ để lòe thiên hạ. (– Ni sư Trí Hải, Từ nguồn Diệu pháp, 2003)

Người thoát khỏi Giới cấm thủ kiến, là người hết sự "Mê tín dị đoan".- Có được CHÁNH KIẾN.


(còn tiếp)
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,373
Reaction score
1,699
Điểm
113
* Bát Chánh Đạo (tt).

Chánh kiến là gì ?

Không "tà kiến" tức là Chánh kiến.

Ví dụ như:

+ Đối với một người đã chết đi. Chúng ta tưởng tượng rằng có vị Diêm Vương Quỷ sứ nào đó đã bắt cái "hồn" của người đó đem về "cõi Âm cung" để trị tội, hay có một vị "Trời hay Phật" nào đó "rước hồn" về cảnh giới "Vĩnh hằng" nào đó ! để hưởng hạnh phúc đời đời !

Thấy như vậy là TÀ KIẾN. Vì đây là quan điểm Thường kiến ngoại đạo. chấp rằng có một cái "linh hồn" thường còn, để mãi mãi là "TA" từ kiếp này đến kiếp khác ! Có một Quốc độ "Vĩnh hằng" không bị vô thường chi phối (Đức Phật dạy: Chư Hành vô thường, không có một cảnh giới nào mà thường hằng cả).

- Không lầm lạc trong Tà kiến này là có Chánh kiến.

+ Lại đối với một người đã chết đi. Chúng ta không cho rằng Chết là hết, không còn gì nữa !Chấp như vậy là sai lầm. Vì khi sanh ra, họ từ đâu mà đến, khi chết họ phải trở về đó, Vì tuy chết đi nhưng người đó vẫn để lại rất nhiều hệ quả.- Đó là Nghiệp của họ. Do Nghiệp mà từ chỗ phát xuất ban đầu, họ lại phải Tái sanh.

- Không lầm lạc trong lối đoạn kiến này là có Chánh kiến.

+ Ví như người có lòng muốn tu đạo giải thoát, đến Niết Bàn, thế mà do vô minh họ không lo tu tập Giới, định, huệ, để giải trừ tham, sân, si. Suốt năm, mãn tháng họ cứ lo đi đình này, miễu nọ cầu cúng, lạy lục, van xin để trời Phật rũ lòng thương xót mà rước cả hồn lẫn xác của họ về kề bên Phật. Đây là tà kiến không tin nhân quả. Vì muốn được quả Diệt Đế Niết Bàn, thì phải tu Nhân Đạo Đế là 37 phẩm trợ Đạo .

- Không lầm lạc trong Nhân- quả là có Chánh kiến.

v.v... và v.v...

Tóm lại.- Tà kiến rất đa dạng. Chúng ta nên căn cứ theo Chân lý đức Phật đã dạy mà phân biệt. Đó là các Chân lý:

* Nhân - Quả.

* Nhân Duyên:

* Vô thường.

* Vô Ngã

* Tánh không

* Chân Như

mà Trạch pháp, chọn lựa Tà- Chánh.

Chánh kiến rất quan trọng trên đường học Phật tu chứng. Phật là Đấng giác Ngộ, Pháp của Phật là Chân lý Giác Ngộ hiển bày, đệ tử Phật là người thực hành sự giác ngộ mà Phật đã chỉ dạy.

Kinh Bát Đại nhân giác rằng:

Là đệ tử Phật thì phải thường cả ngày lẫn đêm hết lòng thành kính đọc và nghĩ nhớ tám điều giác ngộ này:

Điều giác ngộ thứ nhứt: Phải biết thế gian là vô thường; quốc độ thì mong manh không bền chắc; bốn đại là khổ, là không; năm ấm là vô ngã, hay sinh diệt đổi dời, nó giả dối không thật cũng không chủ; tâm là nguồn gốc của mọi điều ác; thân là chỗ tu tập nhiều điều tội lỗi. Nếu đúng như vậy mà quán xét thì xa dần sinh tử.
 
Top