Thanh Từ Tạp Lục !

Tình trạng
Không mở trả lời sau này.

Ba Tuần

Moderator
Staff member
Tham gia
28 Thg 7 2016
Bài viết
1,536
Điểm tương tác
493
Điểm
83
Hoa sen nở, giữa đêm lạnh;
Hoài nghi vỡ òa, ngỡ trong tranh.
Tỉnh cơn mộng, nhắn lời mộng;
Muôn ngàn Thánh tự hiện nguyên hình !

Hành trang Thiền sư Thanh Từ: (Bản đầy đủ)

...Tháng 04 năm 1966, Hòa thượng dựng Pháp Lạc thất trên núi Tương Kỳ, Vũng Tàu. Ngôi thất lá vuông vức bốn thước đơn sơ với bộ Đại Tạng Kinh, nhưng đã ấp ủ một Thiền tăng nghèo quyết nhận lại cho kỳ được hạt châu vô giá của chính mình.

Đến rằm tháng tư năm Mậu Thân, Hòa thượng tuyên bố nhập thất vô hạn định với lời kiên quyết: “Nếu đạo không sáng, thệ không ra thất.” Thế là cửa sài đôi cánh khép. Toàn thể môn nhân qui ngưỡng lên non một lòng mong đợi.

Tháng 07 năm 1968, Hòa thượng liễu đạt lý sắc không, thấu suốt thật tướng Bát-nhã. Từ con mắt Bát-nhã trông qua Tạng kinh, lời Phật, ý Tổ hoác toang thông thống. Giáo lý Đại thừa và thâm ý nhà Thiền đã được Hòa thượng khám phá từ công phu thiền định của Người.

Ngày 08 tháng 12 năm ấy, Hòa thượng tuyên bố ra thất giữa bao niềm hân hoan của Tăng Ni, Phật tử. Nước cam lồ từ đây rưới khắp, suối từ bi từ đây tuôn chảy. Pháp Lạc thất thật xứng đáng là linh hồn của dòng thiền Chân Không. Nơi đây, đánh dấu một giai đoạn chuyển mình, một bước ngoặc lớn trong cuộc đời tu của Hòa thượng. Hoài bão tu Thiền đã thai nghén bao năm trong thầm lặng đơn độc của Người, đến đây mới thật sự có điểm khởi phát và lớn dậy, để sau này Phật giáo Việt Nam vinh dự có một ngôi sao sáng mở ra trang Thiền sử Việt Nam rực rỡ huy hoàng vào cuối thế kỷ 20.

Hòa thượng đã từng nói: “Tôi là kẻ nợ của Tăng Ni và Phật tử. Ai biết đòi thì tôi trả trước, ai chưa biết đòi thì trả sau.” Suốt đời Ngài đều dốc hết sức mình lo cho Phật pháp, đặc biệt là làm sống lại Thiền tông đời Trần, tạo điều kiện cho Tăng Ni tu hành tiến bộ. Tăng Ni tu hành có tiến bộ thì Phật pháp mới còn và lớn mạnh được. Sự tu hành tiến bộ của Tăng Ni là niềm vui của Ngài. Ngài nói: “Hoài bão của Thầy đều gởi gắm hết vào sự nỗ lực tu tập của tụi con. Tăng Ni tu có niềm vui, sáng được việc lớn, đó là biết thương tưởng đến Thầy. Bằng ngược lại thì thật là Thầy chưa đủ phước để được vui trước khi nhắm mắt. Bởi vì nguyện vọng khôi phục Thiền tông Việt Nam, đặc biệt là Thiền phái Trúc Lâm Yên Tử đời Trần của Thầy chưa thành tựu...
Các tác phẩm: (Ở đây.)
 

Ba Tuần

Moderator
Staff member
Tham gia
28 Thg 7 2016
Bài viết
1,536
Điểm tương tác
493
Điểm
83
Thiền Tông Việt Nam cuối thế kỷ 20: (Ở đây)
Thiền viện Thường Chiếu, cuối đông, 1991.

Tham vấn, nghiên cứu công án là trọng tâm của Phật giáo:

Tham vấn là thưa hỏi những điều mình đang hoài nghi. Do một hai vấn đề mình xem là trọng đại mà không quyết trạch được, nên đem ra thưa hỏi. Thiền sư không phải là người quyết nghi, mà vun bồi mối nghi thêm to, thêm mạnh hơn. Mối nghi đã lớn mạnh, khiến người học thao thức khắc khoải, cho đến quên cả mọi vật chung quanh, một hôm nào đó đã chín muồi, bỗng nhiên vỡ tung là giác ngộ, là phát minh, giải quyết được vấn đề lâu nay mình ôm ấp. Đây là chỗ ngộ đạo của thiền giả.

...

Giới là phương tiện đầu gỡ bớt những điều phiền nhiễu chung quanh, để dễ bề chuyên tâm vào một việc. Định là chuyên tâm an trụ, không bị gió ngũ dục thổi lung lay, không bị nước lục tình lôi cuốn, vững vàng như quả núi không lay động. Đến đây mới đủ sức mạnh phá tung được bức tường vô minh che mờ từ muôn kiếp, thấy tường tận vấn đề chúng ta cần thấy là trí tuệ. Nên nói giới định tuệ là như thế.

Song Thiền gia không nói giới định tuệ theo thứ tự như vậy, mà khi chuyên tâm vào vấn đề mình đặt ra thì lơ là với mọi việc bên ngoài là giới; chính lúc chuyên tâm không bị ngoại duyên làm xao động là định; ngay trong lúc an định là sống với trí tuệ vô sanh là tuệ.

Tuệ đây là nhận được lý vô sanh ngay trong an định (kiến tánh). Cái vô sanh ấy là ông chủ của chính mình, sống thẳng với ông chủ này mà nhìn mọi vật, thì mọi vật đều chân.

Cho nên, một hôm Tổ Huệ Khả thưa với Tổ Bồ-đề-đạt-ma: "Tâm con bặt hết các duyên." Tổ Đạt-ma bảo: "Coi chừng rơi vào không!" Huệ Khả thưa: "Rõ ràng thường biết, làm sao không được!" Tổ Đạt-ma liền ấn chứng cho.

Trong lúc đối duyên xúc cảnh hằng ngày, tâm ta không chạy theo, không dính mắc là định, cái định này không thuộc ngồi, không có nhập xuất, nên nói đại định. Chính cái tâm không sanh không diệt mà hằng giác hằng tri ấy là tuệ.

Cái tuệ này là tính giác sẵn có muôn đời của mình, không phải từ đâu đến, nên gọi là trí vô sanh. Sau khi nhận được ông chủ thì vấn đề đã phá vỡ, ngang đây nhìn mọi vật bằng cách "đối cảnh vô tâm", là nếp sống của Thiền sư...
Thiền là phát minh, là sáng tạo:

...Thiền là tự thắc mắc một vấn đề quan trọng, tìm tòi theo dõi luôn đến khi sáng được vấn đề đó mới thôi. Khi sáng được vấn đề là phát minh một kỳ bí mà trước kia mình không hiểu không biết. Bởi thế nên chủ yếu của thiền là phát minh, cũng gọi là giác ngộ. Chỗ trước kia mình không biết mà nay được biết là giác ngộ. Sự giác ngộ này tùy vấn đề lớn nhỏ mình đang theo đuổi, nên kết quả có sai biệt. Như những nhà khoa học, tùy chỗ nghiên cứu tìm tòi mà sự phát minh có lớn nhỏ.

...Sự phát minh của các nhà khoa học là do dồn hết tâm lực vào một vấn đề, đến khi chín muồi bỗng dưng phát sáng. Người tu thiền cũng thế, khi nhận thấy một vấn đề quan trọng mà không giải quyết được, chú tâm nghiền ngẫm mãi đến một phút giây nào đó liền phát ngộ. Sự ngộ này là thực tế khoa học, chớ không phải là tưởng tượng huyền bí. Bởi vậy mục đích người tu thiền là phải ngộ đạo. Ngộ đạo là phát minh là sáng tạo, chớ không phải ù lì chai cứng, chờ chết mới biết kết quả tu hành. Vì thế, nói đến tu thiền là phải quyết tâm, gan dạ và bền bỉ, có dám chết mới được sống. Thiền đào tạo những con người hùng dũng, phát minh và sáng tạo, chính là cốt lõi của đạo Giác Ngộ Giải Thoát.
 

Ba Tuần

Moderator
Staff member
Tham gia
28 Thg 7 2016
Bài viết
1,536
Điểm tương tác
493
Điểm
83
Bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền:
Đặt một nghi vấn, theo dõi lâu ngày cho đến chín muồi, tự phá vỡ liền phát minh, việc tu này không nằm trong kinh sách phật giảng dạy, nên nói "bất lập văn tự". Khi ứng dụng tu, không thuộc về quán tứ niệm xứ, quán nhân duyên, quán các pháp tự tánh không… mà chỉ tâm không chạy theo cảnh, đối cảnh tâm không khởi niệm, nên gọi là "giáo ngoại biệt truyền". Tuy nhiên có nghi vấn là có văn tự, ở đây nói "bất lập văn tự" để giản trạch lối đọc tụng kinh sách làm sở tu. Tâm không chạy theo cảnh hay đối cảnh tâm không khởi niệm, nói là "giáo ngoại biệt truyền", kỳ thật đây là trọng tâm giáo lý.

Bao nhiêu kinh điển chủ yếu dạy người tu, tâm không dính với cảnh, tâm đừng chấp cảnh, đối cảnh tâm được an định. Song muốn được như vậy là nhờ các pháp quán để gỡ tâm nhiễm trước, quán vô thường, quán bất tịnh… là để gỡ tâm dính với sắc… chỗ cuối cùng của giáo lý dạy là chỗ thiền tông đang thực hành. Nhưng chỗ thực hành của thiền tông không đi theo cái khuôn sẵn của giáo lý, mà là một đường lối sáng tạo.

Tuy đường lối sáng tạo mà chung quy lại trở về mục đích chung cuộc của giáo lý. Cho nên nói "giáo
ngoại biệt truyền", mà tổ đạt-ma truyền bốn quyển kinh lăng-già cho tổ huệ khả, ngũ tổ hoằng nhẫn giảng kinh kim cang cho lục tổ nghe. Vì nhằm thẳng con đường của phật thực hành ngày xưa, từ khởi nghi vấn "tại sao nhân loại bao kiếp chấp nhận sanh già bệnh chết là qui luật bất khả kháng?", "có phương cách gì giải thoát sanh già bệnh chết không?" ngài ôm ấp dõi theo nghi vấn này mãi cho đến ngày giác ngộ được nó.

Hiện nay chúng ta có thể nghi vấn về câu "tất cả chúng sanh đều có phật tánh" trong kinh, cái gì là phật tánh? Và dõi theo mãi cho đến ngày giác ngộ thì có khác gì với phật ngày xưa. Bởi vậy nên lối tu này gọi là "phật tâm tông". Tuy nói "bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền" mà lại là trọng tâm của phật giáo, là truyền phật tâm tông, là kế thừa chánh pháp, là truyền đăng tục diệm của phật pháp.
 

Ba Tuần

Moderator
Staff member
Tham gia
28 Thg 7 2016
Bài viết
1,536
Điểm tương tác
493
Điểm
83
Thiền Tông Việt Nam cuối thế kỷ 20

Đại nghi đại ngộ, tiểu nghi tiểu ngộ:
Tùy vấn đề mình thắc mắc lớn hay nhỏ, chỗ ngộ cũng thành lớn hay nhỏ. Chúng ta thắc mắc "trước khi cha mẹ chưa sanh, ta là gì"? đó là một thắc mắc lớn.

Nếu ngộ được vấn đề này là thấy được con người sẵn có từ muôn kiếp của mình, hay nói khác hơn là thấy được "bản lai diện mục", hay gọi là "kiến tánh"… hoặc thắc mắc tại sao chúng ta tu phải ăn chay?

Tại sao chúng ta tu phải ngồi thiền? đây là những nghi vấn nhỏ, nếu ngộ cũng là ngộ nhỏ. Song cái nghi và ngộ này không giống những người tu theo thoại đầu hiện giờ ứng dụng.

Người tu thoại đầu hiện giờ thường dùng câu thoại đầu rồi đề khởi mãi đến độ căng thẳng thần kinh khiến thác loạn. Thế mà họ tự hào rằng đây là chánh
truyền thiền tông, là tổ sư thiền v.v…

Đức phật không có đề thoại đầu. Tổ đạt-ma không có đề thoại đầu, lục tổ huệ năng không có đề thoại đầu. đây chẳng qua là phương tiện do các thiền sư ở trung hoa đời tống chế ra. chúng ta học phật, phải thấy thâm ý sâu xa của pháp tu, đừng mắc kẹt hình thức máy móc.
---------------------------------------------------------
Phụ lục của Bốn Tuần:

Kinh Thánh Cầu - Trung Bộ Kinh:
Này các Tỷ-kheo, Ta cũng vậy, trước khi Giác Ngộ, khi chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già, lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu"... tự mình bị ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm. Này các Tỷ-kheo, rồi Ta suy nghĩ như sau: "Tại sao Ta, tự mình bị sanh lại tìm cầu cái bị sanh, tự mình bị già... (như trên)... tự mình bi ô nhiễm lại tìm cầu cái bị ô nhiễm?
Kinh Lăng Nghiêm - Quyển 1:
Anan, các ngươi nên biết, tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay, sanh tử liên tục, chỉ vì chẳng biết chân tâm thường trụ, thể tánh trong sạch sáng tỏ, lại nương theo vọng tưởng, vọng tưởng chẳng chân nên có luân hồi.

Mười phương chư Phật cùng một đạo lìa khỏi sanh tử đều do trực tâm...

Nay ngươi muốn tham cứu vô thượng bồ đề, phát minh chân tánh, hãy thực tâm mà trở lời câu hỏi của ta:

...Khiến ngươi bị luân chuyển ấy là lỗi tại tâm và mắt. Ta hỏi ngươi: Tâm và mắt của ngươi hiện đang ở đâu ?
Tổ Đạt Ma:
Đưa tâm ra đây, ta an cho !
Kinh Pháp Bảo Đàn:
Lúc ấy có vị khách mua củi nhờ mang đến nhà, Huệ Năng được tiền đi ra, gặp một vị khách đang tụng Kinh, Huệ Năng nghe được lời Kinh tâm liền khai ngộ.
Thiền Thất Khai Thị Lục:
Nhưng người đại ngộ trước khi chưa ngộ, hạnh dụng công thì hành như thế nào?

Họ đề lên câu thoại đầu cũng có nghi tình mà không đề lên câu thoại đầu cũng có nghi tình.

Đương nhiên trên nghi tình mà dụng công; không dụng công, thôi dụng công cũng ở trong nghi tình.

Cái tri thức của họ hiểu được cái đại nghi thuần nhất bất tạp này, từ cái đại nghi này cứ thẳng một đường mà nghi, thời gian lâu thì sẽ đạt đến “trần tận quang sinh!”.

Đến khi ấy hoặc không ngộ, nhưng hễ ngộ thì quán triệt khắp cùng trời đất.
 

Ba Tuần

Moderator
Staff member
Tham gia
28 Thg 7 2016
Bài viết
1,536
Điểm tương tác
493
Điểm
83
Trí vô sư và trí hữu sư:
Trong giáo lý nhà Phật có chia làm hai loại trí. Do học hỏi giáo lý, hoặc tự xem kinh sách, có những hiểu biết gọi là trí hữu sư. Trí này nhờ học hỏi từ nơi thầy, bạn, hoặc tự huân tập thành. Nó từ bên ngoài vào, bởi những tác động gây thành ấn tượng ghi nhớ, nên thuộc sanh diệt, không thật của mình.

Do tâm an định phát ra, như nói định sanh tuệ, bởi mọi phiền não lóng lặng, phát sanh trí tuệ, nên gọi là trí vô sư.

Trí này tiềm ẩn sẵn nơi mọi người chúng ta, một khi mây mù phiền não tan thì nó hiện. Như nói "Đất tâm nếu không, mặt trời trí tuệ tự sáng" (Tâm địa nhược không, tuệ nhật tự chiếu - Bá Trượng).

Chính ngày xưa đức Thế Tôn phát minh được việc lớn cũng từ trí này. Sau bao năm thiền định, tâm Ngài lóng lặng, cuối cùng ngồi thiền định dưới cội bồ-đề bốn mươi chín ngày đêm, đêm thứ bốn mươi chín liền sáng lên phát minh đại sự. Bởi vậy trong nhà thiền chủ tâm phát khởi trí này, nó mới thật là trí của mình, ngay nơi mình phát ra, là không sanh không diệt.
 

Ba Tuần

Moderator
Staff member
Tham gia
28 Thg 7 2016
Bài viết
1,536
Điểm tương tác
493
Điểm
83
Thiền Tông cuối thế kỷ 20

Thiền giác ngộ có cơ sở không phải thiên khải:

Thiền đặt thẳng vấn đề để tham vấn, nghiên cứu bằng quyết tâm, nên trăn trở thao thức khi vấn đề chưa được phát minh. Qua thời gian hoặc dài hoặc ngắn, có khi vấn đề chìm lặng trong tiềm thức, lúc gặp duyên trỗi dậy liền phát ngộ.

Cái ngộ này là ngộ vấn đề mình thao thức trước kia. Như đức phật giác ngộ là ngộ vấn đề sanh tử của con người do ngài đặt ra từ buổi ban đầu. Giác ngộ là kết quả của bao nhiêu năm nghiên tầm, tu tập.

Sự tu tập không ngoài mục đích nhắm buổi ban đầu. Nhưng từ bỗng nhiên giác ngộ hay chợt ngộ… là nói sự đột khởi bất ngờ, song cũng là công phu hằng ngày theo dõi hay tu tập, mới có sự xảy ra đột ngột vào phút chót. Sự giác ngộ không phải do một đấng thần linh nào đem lại, hay ban cho. Chính công phu tu tập của mình mà đưa đến kết quả ấy.

Như những nhà bác học chợt phát minh được vấn đề gì, cũng là công phu nghiên cứu nhiều năm đưa đến. Sự bộc phát bất ngờ phát minh một điều mới lạ, điều ấy đã ôm ấp nuôi dưỡng từ lâu. Cho nên người biết tu thiền không ôm tâm chờ ngộ, mà phải kiên tâm tỉnh giác, khi thời tiết nhân duyên đến, bỗng nhiên ngộ đạo.
 

Ba Tuần

Moderator
Staff member
Tham gia
28 Thg 7 2016
Bài viết
1,536
Điểm tương tác
493
Điểm
83
Thiền Tông Việt Nam cuối thế kỷ 20:
Nói đến Thiền tông Việt Nam cuối thế kỷ 20 là nói đường hướng tu thiền của Tu viện Chân Không (1970-1986) ngày trước, hay của Thiền viện Thường Chiếu… hiện nay (1974-1991…) do chúng tôi (Thích Thanh Từ) chủ trương hướng dẫn.

Chúng tôi không theo các tông phái chi nhánh Thiền tông Trung Hoa sau này, như tông Tào Động, Lâm Tế, Qui Ngưỡng, Vân Môn, Pháp Nhãn. Chúng tôi chỉ kết hợp ba cái mốc quan trọng trong dòng lịch sử truyền thừa Thiền tông từ Trung Hoa đến Việt Nam.

- Mốc thứ nhất là Nhị Tổ Huệ Khả,
- Mốc thứ hai là Lục Tổ Huệ Năng,
- Mốc thứ ba là Sơ Tổ Trúc Lâm.

Hòa hội chỗ thấy, chỗ ngộ và sự ứng dụng tu hành của ba vị Tổ này thành phương pháp tu thiền trong các Thiền viện chúng tôi.
TỔ HUỆ KHẢ (494 - 601):

Sau khi ngài Huệ Khả được Tổ Bồ-đề-đạt-ma (Bodhidharma) nhận làm đệ tử mà lòng vẫn còn thao thức, tại sao tâm mãi lăng xăng trong lúc ngồi thiền. Một hôm đến trước Tổ, Ngài bạch: "Bạch Hoà thượng tâm con chẳng an, xin Hòa thượng dạy con pháp an tâm". Tổ Đạt-ma nhìn thẳng bảo: "Đem tâm ra ta an cho." Ngài sửng sốt quay lại tìm tâm, không thấy bóng dáng, bạch Tổ: "Con tìm tâm không được." Tổ bảo: "Ta an tâm cho ngươi rồi." Ngay đây ngài Huệ Khả biết được đường vào.

Chỗ biết được đường vào của ngài Huệ Khả là một pháp tu mà không có pháp. Bởi vì từ xưa đến nay, tất cả chúng ta đều nhận cái suy nghĩ phân biệt lăng xăng là tâm của mình, ngài Huệ Khả cũng chung một thông lệ ấy. Cho nên ngồi lại tu, muốn cho tâm an mà nó không chịu an, khiến chúng ta rất khổ sở về vấn đề này. Cầu pháp an tâm là điều cấp thiết của người quyết chí tu hành. Ở đây Tổ Đạt-ma không dạy phương pháp gì, Ngài chỉ bảo "Đem tâm ra ta an cho". Câu này là một tiếng sấm dẹp tan mê lầm muôn thuở của ngài Huệ Khả.

Bình thường chúng ta nhận cái hay suy nghĩ là tâm của mình, chịu sự sai sử lôi kéo của nó. Bất thần chúng ta tìm lại nó thì nó mất tăm mất dạng. Khi nó không còn tăm dạng thì không an là gì? Cho nên Tổ nói "Ta an tâm cho ngươi rồi". Ngài Huệ Khả sáng ý nhận ra được lẽ này nên biết đường vào. Như vậy, Tổ Đạt-ma có dạy phương pháp gì an tâm không? Nếu không, tại sao ngài Huệ Khả biết đường vào? Rõ ràng pháp an tâm mà không có pháp, chỉ xoay ánh sáng trí tuệ soi rọi xem cái tâm bất an ấy thế nào thì nó biến mất. Thuật ngữ nhà Thiền gọi là "Hồi quang phản chiếu".

Chúng tôi gọi "Biết vọng không theo". Chính đây là "Biết được đường vào" của ngài Huệ Khả.

Tại sao nhà Thiền không chấp nhận cái tâm suy nghĩ so tính ấy? Bởi vì, nếu chấp nhận nó làm tâm mình sẽ mắc phải những lầm lỗi như sau:

1. Cái tâm suy nghĩ ấy khi có khi không, còn chúng ta thì lúc nào cũng hằng hữu. Nếu chấp nhận nó là mình thì khi không suy nghĩ là không có mình sao?

2. Bình thường nó suy nghĩ lăng xăng, khi nhìn lại tìm kiếm nó thì mất tăm mất dạng. Nếu nó là thật mình thì lúc nào cũng phải có. Trái lại khi tìm thì mất, chẳng qua nó chỉ là bóng dáng mà thôi. Chấp nhận cái bóng làm mình thì thật là đau khổ cho con người.

3. Chúng ta ai cũng thừa nhận mình trước sau vẫn là mình, mình là một từ bé đến già. Thế mà, tâm suy nghĩ ấy lại trăm ngàn thứ, có khi nghĩ lành như hiền thánh, có khi nghĩ dữ như cọp sói…, thì cái nào là mình?

4. Lúc đang suy nghĩ, chúng ta biết mình đang suy nghĩ, lúc không suy nghĩ biết không suy nghĩ. Cái suy nghĩ ấy là đối tượng bị biết của chúng ta. Đã là đối tượng tức là khách, là cái bên ngoài không phải mình. Nếu cái suy nghĩ là thật mình, lúc không suy nghĩ, ai biết không suy nghĩ? Đã có cái biết lúc không suy nghĩ thì làm sao nhận cái suy nghĩ làm mình được?

Cái không phải mình mà lầm nhận là mình, trong kinh Phật gọi là "Nhận giặc làm con", tai họa không thể lường được. Cho nên bao nhiêu kinh điển, bao nhiêu pháp tu, đức Phật đều dạy xoay quanh cái trục "Chận đứng tâm suy nghĩ lăng xăng này". Tụng kinh phải nhiếp tâm, niệm Phật phải nhất tâm, tọa thiền phải định… Song đặc biệt là Thiền tông, chư Tổ không dùng phương tiện để đè bẹp, để ngăn chặn nó, mà dùng trí biết rõ bản chất không thật của nó thì nó hết tác quái. Chính câu "Đem tâm ra ta an cho" của Tổ Đạt Ma đủ thể hiện ý nghĩa này.

"Biết đường vào" chưa phải là kẻ đến nhà, phải trải thời gian lâu xa, ngài Huệ Khả mới bạch với Tổ Đạt-ma: "Từ đây trở đi con dứt hết các duyên."

Tổ Đạt-ma bảo: "Chớ rơi vào đoạn diệt."

Huệ Khả thưa: "Không rơi."

Tổ Đạt-ma hỏi: "Con làm thế nào?"

Huệ Khả thưa: "Con thường biết rõ ràng, nói không thể đến."

Tổ Đạt-ma dạy: "Đây là chỗ truyền của chư Phật, chớ nên hoài nghi."

Đến đây mới thật là người về tới nhà, không còn nghi ngờ gì nữa. Khi Tổ Đạt-ma sắp tịch, hỏi lại chỗ sở ngộ của các đồ đệ, đến lượt Huệ Khả, Ngài chỉ bước ra đảnh lễ ba lạy rồi lui.

Tổ Đạt-ma nói: "Ông được phần tủy của ta." Đến chỗ cứu kính không còn ngôn ngữ để trình bày, vì ngôn ngữ là phương tiện tương đối, không thể diễn tả được cái chân thật tuyệt đối.

Từ đó ngài Huệ Khả được truyền y bát làm Tổ thứ hai ở Trung Hoa.
-----------------------------------------------
Phụ lục của Bốn Tuần:

Kinh Lăng Nghiêm - Quyển 1
Lúc Ta mới thành đạo nơi Lộc Viên, có nói với năm vị Tỳ Kheo và tứ chúng rằng: Tất cả chúng sanh chẳng thành Bồ Đề và chứng quả A La Hán, đều tại lầm theo phiền não khách trần. Lúc đó, các ngươi do đâu được khai ngộ, nay chứng Thánh quả ?

Khi ấy, Kiều Trần Như đứng dậy bạch Phật:

- Con là bậc Trưởng Lão trong chúng được gọi là hiểu rộng biết nhiều, vì ngộ hai chữ Khách Trần nên được chứng quả.

- Thế Tôn, ví như người đi đường vào nghỉ ở khách sạn, ăn ngủ xong rồi lên đường đi tiếp, chẳng thể ở lại, còn người chủ thì cư trú tại đó, chẳng cần đi đâu. Vậy chẳng trụ là khách, trụ gọi là chủ, nên lấy sự "chẳng trụ" làm nghĩa chứ Khách.

- Cũng như mưa mới tạnh, ánh sáng mặt trời rọi qua kẽ hở, thấy rõ tướng bụi trần lăng xăng nơi hư không. Trần thì lay động, Hư không thì tịch nhiên. Vậy tịch lặng gọi là không, lay động gọi là trần, nên lấy sự "lay động" làm nghĩa chữ Trần.

Phật nói: Đúng thế !
Tổ Đạt Ma:
Khi Đạt Ma Sư Tổ có ý muốn hồi hương, trước khi về, gọi đệ tử trình bày sở đắc: "Giờ ta ra đi sắp tới, vậy mỗi đệ tử hãy nói cho ta nghe sở đắc của mình".

Đạo Phó bạch: "Theo chỗ thấy của tôi, muốn thấy đạo phải chẳng chấp văn tự, mà cũng chẳng lìa văn tự."

Sư đáp: "Ông được lớp da của tôi rồi."

Ni Tổng Trì nói: "Chỗ giải của tôi như cái mừng vui thấy nước Phật (tâm) bất động, thấy được một lần, sau không thấy lại nữa."

Sư nói: "Bà được phần thịt của tôi rồi."

Đạo Dục, một đệ tử khác, bạch: "Bốn đại vốn không, năm uẩn chẳng phải thật có, vậy chỗ thấy của tôi là không một pháp nào khả được."

Sư đáp: "Ông được bộ xương của tôi rồi."

Cuối cùng, đến phiên Huệ Khả. Huệ Khả lễ bái Sư rồi đứng ngay một chỗ, không bạch không nói gì cả. Sư bảo: "Ngươi đã được phần tuỷ của ta
(Do chỗ "Không bạch không nói gì cả" nên Ngài Huệ Khả, mới được truyền trao y bát làm Nhị Tổ, chứ chẳng phải là chỗ: "Con thường biết rõ ràng, nói không thể đến".

Cũng giống như sau này: Ngài Thần Tú nói "Tâm như đài gương sáng" thì chẳng được truyền trao y bát; còn Ngài Huệ Năng đáp: "Gương sáng chẳng phải đài" thì lại được truyền trao y bát vậy !

Lai nữa, nếu nói "Con thường biết rõ ràng" thì thử hỏi: Sanh từ đâu đến, chết đi về đâu ? Còn rõ ràng thường biết được hay chăng ?)

Kinh Lăng Nghiêm - Quyển 4:
Xin Như Lai từ bi khai thị cho những kẻ mê muội trong hội này, lìa bỏ Tiểu Thừa, đều được bước lên con đường đã phát tâm từ xưa nay, thẳng đến Vô Dư Niết Bàn của Như Lai, khiến hàng hữu lậu biết cách uốn dẹp tâm phan duyên từ lâu đời, được pháp tổng trì, chứng nhập Tri Kiến Phật.
Kinh Lăng Nghiêm - Quyển 2:
Bạch Thế Tôn ! Đúng thế, con là chân Văn Thù, chẳng Thị Văn Thù. Tại sao ? Nếu có Thị tức là có hai Văn Thù, mà nay chẳng phải không có Văn Thù, trong đó thật chẳng có hai tướng Thị và Phi.
 

Ba Tuần

Moderator
Staff member
Tham gia
28 Thg 7 2016
Bài viết
1,536
Điểm tương tác
493
Điểm
83
TỔ HUỆ NĂNG (638-713):

Chỗ sở ngộ của Tổ Huệ Năng là do nghe kinh Kim Cang Bát-nhã. Sau khi được Ngũ Tổ Hoằng Nhẫn cho vào thất và nghe giảng kinh Kim Cang đến đoạn Tôn giả Tu-bồ-đề hỏi: "Khi phát tâm cầu vô thượng chánh giác, làm sao an trụ tâm?" Phật đáp: "Chẳng nên trụ sắc, chẳng nên trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp mà sanh tâm kia; nên không chỗ trụ mà sanh tâm ấy."

Ngài đại ngộ
kêu lên: "Đâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh! Đâu ngờ tánh mình vốn không sanh diệt! Đâu ngờ tánh mình vốn tự đầy đủ! Đâu ngờ tánh mình vốn không dao động! Đâu ngờ tánh mình hay sanh muôn pháp!"

Ngũ Tổ bảo: "Chẳng biết bản tâm học pháp vô ích, nếu nhận được bản tâm mình, gọi là Trượng phu, Thiên nhân sư, Phật…" Thế là Ngài được Ngũ Tổ truyền y bát làm Tổ thứ sáu.

Qua câu chuyện ngộ đạo của Lục Tổ, chúng ta thấy từ lý Bát-nhã không cho sáu căn dính mắc (trụ) với sáu trần là phát tâm Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.

Lục Tổ không dừng ở chỗ không dính mắc mà nhảy vọt vào thể tánh thanh tịnh, bất sanh bất diệt của chính mình. Chính thể tánh này gọi là Pháp thân hay Bản Lai Diện Mục, đã có sẵn từ
vô thủy nơi tất cả chúng ta. Thấy tột chỗ này và sống được với nó là Đốn ngộ, là Kiến tánh. Bản thân Lục Tổ được như vậy, song khi dạy người Ngài cũng có phương tiện. Lục Tổ vì phương tiện lập Tam vô: Vô Niệm làm Tông, Vô Tướng làm Thể, Vô Trụ làm Bổn.

Theo Lục Tổ giải: Đối trên các pháp mỗi niệm không trụ, tức là không phược, đây là lấy Vô trụ làm gốc. Ngoài lìa tất cả tướng gọi là Vô tướng, hay lìa tướng tức là pháp thể thanh tịnh, đây là lấy Vô tướng làm thể. Đối trên các cảnh tâm không nhiễm, gọi là Vô niệm (Kinh Pháp Bảo Đàn, phẩm Định Huệ).

Không nhiễm các pháp, không kẹt các tướng, không dính mắc các pháp, đây là chủ trương của Lục Tổ. Không nhiễm, không kẹt, không dính, ngay khi tiếp xúc với sáu trần là thiền định. Không phải chạy trốn cảnh trần, rồi sau tâm mới an định như các lối thiền định khác.
----------------------------------------------------
Phụ lục:

Kinh Pháp Bảo Đàn:
Tổ lấy gậy gõ trên cối ba cái rồi bỏ đi. Huệ Năng hiểu ý Tổ, nên canh ba vào thất. Tổ dùng Ca sa che lại không cho người thấy, rồi thuyết Kinh Kim Cang, đến câu: Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm thì Huệ Năng ngay đó đại ngộ tất cả vạn pháp chẳng lìa tự tánh, bèn bạch Tổ rằng:

Đâu ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh,

Đâu ngờ tự tánh vốn chẳng sanh diệt,

Đâu ngờ tự tánh vốn tự đầy đủ,

Đâu ngờ tự tánh vốn chẳng lay động,

Đâu ngờ tự tánh hay sanh vạn pháp!
Bát Nhã Tâm Kinh:
Xá Lợi Tử! Thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm. Thị cố không trung, vô sắc, vô thọ, tưởng, hành, thức; vô nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý; vô sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; vô nhãn giới, nãi chí vô ý thức giới; vô vô minh diệc vô vô minh tận; nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận; vô khổ, tập, diệt, đạo; vô trí diệc vô đắc.

Dĩ vô sở đắc cố...
Kinh Pháp Bảo Đàn:
Pháp môn này lấy ĐỊNH Huệ làm gốc. Các ngươi chớ lầm rằng ĐỊNH với Huệ có khác; ĐỊNH Huệ vốn nhất thể, chẳng phải là hai. Định là thể của Huệ, Huệ là dụng của Định, ngay trong lúc huệ có định, ngay trong lúc định có huệ, thấu được nghiã này tức là định huệ đồng nhau. Các ngươi học đạo chớ cho là trước phát định sau phát huệ, hay trước huệ sau định có khác, kiến giải như vậy thành ra pháp có nhị tướng.
 

Ba Tuần

Moderator
Staff member
Tham gia
28 Thg 7 2016
Bài viết
1,536
Điểm tương tác
493
Điểm
83
Thiền Tông Việt Nam cuối thế kỷ 20

SƠ TỔ TRÚC LÂM (1258-1308):
Vua Trần Nhân Tông lúc còn làm Thái tử đã thông suốt Thiền tông do sự giáo dục
của Tuệ Trung Thượng sĩ. Sau khi bỏ ngôi đi xuất gia, lấy hiệu là Hương Vân Đại Đầu Đà. Ngài hòa hội các phái thiền Tỳ-ni-đa-lưu-chi, Vô Ngôn Thông, Thảo Đường đã truyền bá trên đất nước Việt Nam, lập thành phái thiền Trúc Lâm Yên Tử. Đây là phái thiền hoàn toàn Việt Nam. Ở đây chúng tôi chỉ chắt lọc một vài nét nổi bật trong sự chỉ dạy của Ngài để làm tiêu chuẩn...

Lại một bài kệ kết thúc bài phú "Cư Trần Lạc Đạo" của Sơ Tổ Trúc Lâm là cô đọng những gì Lục Tổ đã thấy và ứng dụng:

Cư trần lạc đạo thả tùy duyên
Cơ tắc xan hề khốn tắc miên
Gia trung hữu bảo hưu tầm mích
Đối cảnh vô tâm mạc vấn thiền.
Ở đời vui đạo hãy tùy duyên
Đói đến thì ăn, mệt ngủ liền
Trong nhà có báu, thôi tìm kiếm
Đối cảnh không tâm chớ hỏi thiền.

Chỉ hai câu chót trong bài kệ cũng đủ kết thúc chỗ sở ngộ và mục tiêu dạy tu hành của Lục Tổ một cách kỳ diệu. Thấy hòn ngọc sẵn có trong nhà, chính là chỗ Lục Tổ thốt lên "Đâu ngờ tánh mình vốn tự thanh tịnh!…" Thiền là đối cảnh không tâm thì làm gì có niệm nhiễm, là vô niệm; không tâm thì đâu kẹt cảnh bên ngoài, là lìa tướng tức vô tướng, không tâm thì lấy gì để dính mắc, là vô trụ.

Một câu kết này đã bao gồm cả Vô Niệm, Vô Tướng, Vô Trụ hay Tông, Thể, Bổn của Lục Tổ dạy.

Thiền là đối cảnh không nhiễm, không kẹt, không mắc, chính đây là chủ trương của Lục Tổ.

Ngài Trúc Lâm Đầu Đà đã ứng dụng tuyệt vời chỗ thấy của Nhị Tổ, chỗ ngộ và chỗ hành của Lục Tổ. Chúng ta là kẻ hậu học, tự hãnh diện ở Việt Nam xuất phát một phái thiền trọn vẹn mang dấu ấn của chư Tổ tiền bối và dung hội tài tình đường lối tu hành của người xưa làm kim chỉ nam cho hành giả Việt Nam chúng ta.
------------------------------------------
Phụ Lục:

Kinh Pháp Bảo Đàn - Phẩm Đốn Tiệm
Hãy nghe ta nói, xem có giống Thầy ngươi chăng!

Ta thuyết pháp chẳng lìa tự tánh, lìa tánh thuyết pháp, khiến cho tự tánh thường mê, ấy là tướng thuyết.

Nên biết tất cả pháp đều từ tự tánh khởi dụng, ấy là chân pháp của giới định huệ vậy. Hãy nghe kệ đây:

Tâm địa vô phi tự tánh giới,

Tâm địa vô si tự tánh huệ,

Tâm địa vô loạn tự tánh định.

Bất tăng bất giảm tự kim cang,

Thân khứ thân lai bổn tam muội.

Dịch nghĩa:

Tâm địa chẳng quấy tự tánh giới,

Tâm địa chẳng si tự tánh huệ,

Tâm địa chẳng loạn tự tánh định.

Chẳng thêm chẳng bớt tự như như,

Thân đến thân đi vốn tam muội.
(Nếu còn có cảnh để đối, có tâm chẳng loạn thì đây chính là "lìa tự tánh thuyết" vậy ! Là nơi Văn Thù, có Thị có Phi !

Trên là "Đối cảnh không tâm".
Dưới là "Tâm địa chẳng loạn"

Sao lại ngộ nhận cho rằng là đồng nhau chẳng khác ?

Nếu cho "không tâm" chính là đạo, thì sự dụng của tự tánh bị ngăn trệ, làm sao phát huy diệu trí quang minh ?!!

Cổ đức nói:

Mạc vị vô tâm vân thị đạo

Vô tâm du cách nhất trùng quan.

Dịch:

Chớ bảo vô tâm ấy là đạo

Vô tâm còn cách một lớp rào.
)
 

Ba Tuần

Moderator
Staff member
Tham gia
28 Thg 7 2016
Bài viết
1,536
Điểm tương tác
493
Điểm
83
Dung Hợp:
...Để thấy rõ nét lối dung hợp pháp tu qua ba vị Tổ trên, chúng tôi cô đọng lại bằng những lối tu:

1- Biết vọng không theo, vì vọng tưởng là những tâm niệm hư ảo.
2- Đối cảnh không tâm, vì nó là tướng duyên hợp giả dối tạm bợ.
3- Không kẹt hai bên, vì đối đãi là không thật.
4- Hằng sống với cái thật, không theo cái giả, vì giả là luân hồi, thật là giải thoát.

Đây là bốn phương tiện chúng tôi tạm lập để hướng dẫn người tu. Tùy theo căn cơ trình độ nhanh chậm, cao thấp của hành giả mà lối ứng dụng có khác. Cũng có thể bốn lối
tu này, hành giả linh động ứng dụng theo thứ tự từ pháp thứ nhất đến pháp thứ tư để tu hành cũng tốt. Những nét cô đọng trên là kết thúc bài này của chúng tôi...
 
Last edited:

Ba Tuần

Moderator
Staff member
Tham gia
28 Thg 7 2016
Bài viết
1,536
Điểm tương tác
493
Điểm
83
Xuân Trong Cửa Thiền
Tu viện Chân Không, cuối năm đầu xuân, 1974.

Muốn giải thoát sanh tử, chúng ta cần phải biết gốc của sanh tử là gì?

Theo pháp Mười hai nhân duyên, Phật dạy gốc của sanh tử là Vô minh.

Vô minh là không sáng, tức là tối tăm. Muốn phá tối tăm chúng ta phải thắp sáng ngọn đuốc trí tuệ. Ví dụ như có một căn nhà tối cả ngàn năm, muốn nhà sáng ra chỉ có cách đốt đèn thì cái tối ngàn năm liền mất. Cũng thế ấy vô minh chỉ mất khi có ánh sáng giác ngộ.

Thế nên trọng tâm tu Phật lấy giác ngộ làm bước tiến đến giải thoát.

Nếu không giác ngộ thì mười hai nhân duyên cứ quay cuồng, chúng ta bị đảo lộn trong sanh tử.
Do mê lầm nên chúng ta sống trong đau khổ. Phật nói thân này có sanh già bệnh và chết, nếu cho nó là mình thật, đến khi nó tan hoại tức là mất mình thì còn cái khổ nào bằng!

Sở dĩ các bậc Thánh nhân và các Thiền sư ngày trước coi cái chết như trò chơi vì các ngài thấy thân là giả dối không quan trọng, nên các ngài cười trước cái chết, dù chết bằng cách nào cũng vậy. Chúng ta thì khác, vì thấy thân mình là thật nên nghe nói chết là đã hốt hoảng rồi. Giả sử khi đau nhiều mình cũng tỏ ra can đảm chịu đựng, tỏ ra hiểu đạo không sợ chết, nhưng trong lòng cũng thấy nao nao.

Như vậy để thấy mình chưa thật thấy thân tứ đại là giả, mà thấy nó quả là thật nên khổ đau vì nó, và mấy ai thoát khỏi mê lầm này? Thế nên người tu chúng ta phải nhận định thật đúng để không còn mê lầm nữa. Hết mê lầm tức là giác ngộ, phá tan vô minh lầm chấp về thân và tâm.

Phá hai chấp này rồi chúng ta mới giải thoát khỏi sanh tử. Đó là mục tiêu cuối cùng của người tu.
------------------------------------------
Kinh Lăng Nghiêm - Quyển 5:
Anan cúi đầu bạch Phật:
- Tại sao khiến con bị sanh tử luân hồi và được tự tại giải thoát đều là lục căn, chẳng phải vật khác ?

Phật bảo Anan:
- Căn trần cùng gốc, thắt mở chẳng hai, tánh thức hư vọng như hoa đốm trên không. Anan, do trần phát tri, vì căn kiến tướng; kiến và tướng chẳng có tự tánh, như những cây sậy gác vào nhau.
- Cho nên, ngươi nay lập tri kiến thành tri, tức là căn bản của vô mình. Nếu đối với tri kiến chẳng chấp là tri kiến, ấy tức là Niết Bàn trong sạch vô lậu, làm sao trong đó còn có thể dung nạp vật khác !
Phật nói:
- Căn này vừa bắt đầu giải tỏa thì được Nhân ngã Không,
- Nếu tánh Không sáng tỏ, thì Pháp ngã giải thoát.
- Thành tựu pháp giải thoát xong, cả hai thứ Không đều chẳng sanh, ấy gọi là từ Tam Ma Địa, chứng Vô Sanh Pháp Nhẫn của Bồ Tát.
----------------------------------------
Vì ông còn có nghiệp thức !
 

Ba Tuần

Moderator
Staff member
Tham gia
28 Thg 7 2016
Bài viết
1,536
Điểm tương tác
493
Điểm
83
Trọn Một Đời Tôi (Bản đầy đủ)
Thiền viện Chân Không, xuân Canh Thìn, 2000.

Tất cả chúng ta khi đặt vấn đề gầy dựng đường lối tu thì phải có mục đích. Mục đích chánh của người tu Phật là giải thoát sanh tử. Cho nên nói tu để giải thoát sanh tử.

Nhưng cái gì đưa chúng ta đến giải thoát sanh tử ? Đó là vấn đề hết sức quan trọng.

Khi đặt tên Chân Không thì những người có cái nhìn cạn cợt không hiểu, không thấu triệt được. Chớ những người có nghiên cứu kinh điển sâu thì chắc không có ngại gì. Bởi vì từ chuyên môn trong nhà Phật nói rằng “Chân không diệu hữu”. Đứng về thể thì nó là chân không, đứng về dụng nó là diệu hữu. Nhưng cái diệu hữu không thể có nếu thiếu chân không. Vì vậy chân không là thể tánh của diệu hữu. Đó là tôi nói về danh từ. Tôi dụ chân không cũng như nước biển, diệu hữu cũng như sóng biển. Sóng có là từ nước, nhưng nước không phải sóng. Nước không có sóng nhưng vì duyên gió thổi mạnh, mặt nước dậy sóng. Như vậy dậy sóng là cái dụng ở bề ngoài, ở bên trên. Nhưng thể của nước không phải sóng và nó trùm khắp.

Đối với thể chân không là thể không sanh không diệt. Bởi không sanh không diệt cho nên khi chúng ta tu thể nhập được bản thể đó thì không còn bị sanh tử luân hồi nữa. Cho nên nói là giải thoát sanh tử. Ai tu muốn đạt được mục đích giải thoát thì đều phải đi sâu, nhận chân được lý chân không, sống được với cái thể chân không. Đó là giải thoát sanh tử.
------------------------------------
Gió gì làm cho biển dậy sóng ?
 
Tình trạng
Không mở trả lời sau này.
Bên trên