Sự Tích và Hạnh Nguyện Đức Quán Thế Âm Bồ Tát

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">f. <B>Hòa thượng y tăng chữa bệnh cho Trang vương</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trang vương vì trải qua cơn nội biến bất ngờ, nên trong lòng phiền não, bịnh tình càng thêm trầm trọng, ngày đêm trông mong thánh dược ở Hương Sơn đem về, may có cải tử hoàn sanh được chăng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thừa tướng Triệu Chấn vâng chỉ mang quốc thư ngày đêm đi gấp đến Hương Sơn. Lúc đến nơi, quan quân tùy tùng liền khải tấu với Tự viện, và sửa soạn lễ nghi để Thừa tướng dâng quốc thư lên cho Phật Bà Quan Âm tường lãm và liệu định.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật Bà, sau khi xem quốc thư liền nói rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sứ thần! Ta cho ngươi rõ: Mấy năm qua, ta tu luyện tại nơi Hương Sơn thánh cảnh này, hằng phát lời nguyện xả thân cứu độ thế gian. Nay chúa thượng của ngươi bị bịnh kỳ quái, cầu có thần thủ, thần nhãn để điều trị. Vị y tăng đó là cứu tinh của nhà vua đấy! Nếu có lợi ích cho quốc gia xã tắc, thì dù hao tổn thân xác của ta, ta cũng chẳng tiếc gì!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vừa nói dứt lời! Ngài liền lấy ra một con dao thật bén sắc, lẹ tay khoét một con mắt và cắt một cánh tay tả, máu chảy ra dầm dề, màu đỏ tươi như sắc trầm hương, để trên chiếc khay vàng, rồi sai đồ đệ bưng ra trao cho sứ giả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Triệu tướng cúi đầu lạy năm lạy, lãnh lấy đựng vào trong một chiếc chậu vàng, sau đó khấu tạ từ ân, và bái biệt thánh đức đại sĩ, vội vàng lên đường trở về nước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thời gian không bao lâu, Triệu tướng về đến quốc đo, quan báo in về triều, vương hậu cùng bá quan ra thành nghinh tiếp, mở chậu vàng ra thấy thần thủ thần nhãn còn y nguyên như sống, ai nấy đều vừa cảm động, vừa kinh dị, mà sa nước mắt.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vị hòa thượng già thì lãnh lấy hai món thần dược ấy đem vào trai phòng điêu luyện thuốc thang, xong lại đem vào hậu cung, đến gần đức vua mà tấu rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Cúi xin bệ hạ trấn tĩnh thân tâm, nhắm mắt lại, đừng nhìn ngó, đừng kinh hoàng, để mặc cho bần tăng dùng phép điều tễ, sau đó liền thấy hiệu quả tức thời.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trang vương làm y theo lời dặn, rồi vị sãi già, một mặt niệm chú Lăng Nghiêm<SUP><B>(33)</B></SUP>, một mặt xúc một miếng linh đơn để vô đầu lưỡi mớm vào miệng đức vua, làm cho ngài mê mang như say, chẳng còn biết gì cả. Kế đó, vị sãi già cầm con dao cắt cánh tay tả của vua rồi thế chắp tay thần vô; lại khoét con mắt tả của vua lắp mắt thần vô. Xong đâu đó rồi, vị sãi lại mớm vào miệng vua một chút linh đơn nữa, làm cho ngài tỉnh lại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi đó, ngài cảm thấy nửa người phía tả lành mạnh như không có bịnh gì, nhưng còn nửa mình phía hữu thì vẫn đau nhức như trước. Ngài nói với vị hòa thượng rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Xin tôn sư làm mọi cách chữa cho trẫm đặng lành toàn thân thì quả nhơn cảm ơn ngàn năm không quên!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vị lão tăng tâu lại:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cái đó là lẽ tất nhiên. Nhưng muốn vậy phải đi cầu xin thêm mắt hữu và tay hữu của đức Thánh Hương Sơn nữa mới được. Chẳng phải bần tăng bày vẽ mấy lần nhiêu khê đâu, nhưng nghĩ rằng thánh thể của Tiên Phật chẳng phải là vật thường, nên không dám cầu xin một lần cả hai bên tả hữu. Tuy nhiên, bần tăng nghĩ rằng đức Thánh đã phát tâm từ bi cao cả bố thí tay, mắt để độ cho đức vua thì ngài cũng có thể làm hoàn toàn luôn cho trọn vẹn, vậy đức vua nên sai phái quan tướng đi khẩn cầu lần nữa, chắc ngài cũng lại chuẩn y, ban cho liền vậy!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">g. <B>Sứ thần vua Diệu Trang đi cầu thuốc lần thứ hai</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lần này, một viên quan cận vệ tên là Liệt Khâm đứng hầu bên long sàn, nhân nghe vị hòa thượng y sư Quang minh nói như trên, thì tình nguyện qua Hương Sơn lần thứ nhì để cầu thuốc cho vua.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua khen là trung thành, rồi tức thời truyền chỉ cho cung giám chỉnh đốn sắp đặt lễ vật nhang trầm, và sắc chỉ khâm sai Liệt Khâm phụng sư qua Hương sơn thánh cảnh, cầu xin thánh được lần nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phần vì quan tướng tùy tùng đã quen đường, phần nhờ có thần tiên hộ vệ nên chuyến đi lần này đến nơi rất sớm. Lúc đến nơi, ngựa xe quan quân vừa đậu ngoài am động Phổ Đà, đã thấy một chú đồng tử chực sẵn ở cửa, nghinh tiếp vào trong động.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Liệt Khâm vội cúi đầu bái yết, trình quốc thư lên. Phật Bà mở ra coi, biết rằng quốc vương Diệu Trang đã lanh bịnh được nửa mình phía tả, còn nửa mình phía hữu vẫn đau nhức như cũ, nên lại sai sứ qua đây cầu khẩn thần thù thàn nhãn lần nữa, trong mong Thánh đức từ mẫn cho được trọn vẹn
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật Bà mở lòng từ bi, lại hoan hỷ khoétt con mắt và cắt cánh tay hữu trao cho sứ giả, và ngài ân cần phán dụ gởi lời cung chúc đại vương vạn thọ vô cương.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Liệt Khâm khấn tạ từ ân và bái biệt về triều phục mạng, trình tấu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhận được hai vật thánh dược kỳ này là được Phật Tiên hoàn toàn phù trợ, vị hòa thượng liền dùng phép như cũ điều tễ, chẳng bao lâu vua Diệu Trang Vương được bình phục như thường.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua rất đổi vui mừng, các quan văn võ đều dâng biểu chúc thọ vua, rồi vua bèn ra lệnh mở yến tiệc khao thưởng khắp triều đình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trước tiên, vua truyền chỉ tuyên triệu hòa thượng Quang minh lên đền, trân trọng ban lời bái tạ thâm ân cứu tử hoàn sinh, và hứa lời chọn ngày làm lễ thiên địa và thái miếu, truyền ngôi đại bửu lại cho hòa thượng, khâm tặng tôn hiệu là Pháp vương Trấn quốc, để trị vì giang sơn kể từ nay.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hòa thượng mỉm cười mà tâu lại rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Kẻ xuất gia tiêu dao ngoại trần, miễn đặng vô câu thúc, vô tư lự, lòng giữ chay tịnh, tam thường bất túc<SUP><B>(34)</B></SUP>, chỉ mong cầu lâyswj giải thoát khỏi trần lụy thế gian là đủ, chớ kẻ bần tăng này đâu có cầu danh lợi, phú quý cao sang mà làm chi cho mang lấy sự phiền não chướng ngại cho việc tu hành đạt đạo? Nay chỉ nguyện cho bệ hạ phát lòng chân chánh nhân đức, tôn hiền đãi sĩ, trọng Phật kính Tăng, ban ân phước cho dân chúng, khiến muôn nơi được an lạc sung túc, hiền hòa nhân nghĩa với nhau là tốt lắm, bần tăng không còn ham muốn gì hơn nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói xong, vị y tăng liền tung hô vạn tuế mà từ giã đức vua. Bỗng lúc đó, tự nhiên có đám mây hồng hiện ra dưới chân, hòa thượng liền cỡi lên mà bay bỗng lên trên trời cao, giây lát khuất bóng. Vua quan triều thần đều vừa kinh hoàng, vừa kính mộ, cúi đầu bái tạ vị thánh tăng. Rồi lại thấy một bức thư bằng giấy hồng rơi xuống từ trên không, một vị quan lượm được, đem trình đức vua ngự lãm. Vua đọc bức thư thấy một bài thơ tứ tuyệt như sau:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Ta nguyên là vị Phật phương Tây
Cứu bịnh cho người nên tới đây
Lỗi trước khuyên người mau sám hối
Tu dày quả phước kiếp sau nầy.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trang vương duyệt lãm lời thơ, nét mặt vui vẻ thơ thới, liền suy nghĩ: "Chẳng biết tiền thân ta đã có công đức gì, làm được thiên tử kiếp này, mà nay lại được vị Phật sống giáng lâm ủng hộ mình như vậy?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi lại nghĩ: "Cảm tạ ơn đức đại thánh Hương Sơn đã ban cho thần thủ thần nhãn chữa lành được bịnh hiểm nghèo. Đó là một việc ly kỳ hiếm có ở thế gian, ơn ấy dù vật đổi sao dời cũng chẳng dám quên, vậy có lẽ tự mình nên thân giá đến nơi bái tạ".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nghĩ vậy rồi, một mặt sai quan thị vệ sửa soạn long xa, tàn lọng, cờ phướn, chỉnh tề phụng liễn loan nghi, một mặt sắc cho cung giám sắp sẵn lễ vật châu báu, vàng bạc, cà sa gấm tía thêu vàng, bình bát vàng ròng cẩn ngọc; vua cùng hoàng hậu trai giới cho đến ngày ngự giá vãng cảnh Hương Sơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi đến hạn kỳ dự định, đoàn ngự giá xuất hành, long xa tuấn mã, chiêng trống khua vang, tàn lọng cờ phướn phất phới, muôn quân ngự lâm cận vệ theo hầu, các quan văn võ, phẩm phục trang trọng, ra ngoài ngọ môn tiễn đưa đức vua và vương hậu, đoàn quân tướng hộ giá oai nghi dõng dạc theo sau vị khâm sai Liệt Khâm đi tiền đạo hướng dẫn, nghiêm trang tấn chỉ hướng về nẻo Hương Sơn tiến bước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">h. <B>Yêu quái hãm hại cung nga</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi Trang vương và hậu đăng trình ngự giá đến Hương Sơn, thì trong nội cung xảy ra nhiều náo loạn, hãm dâm quái đản bất ngờ,
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nguyên do vì hai con linh vật canh cửa tại chùa Linh Sơn ở phương Tây: đó là con Thanh sư và con Bạch tượng<SUP><B>(35)</B></SUP>, nhằm lúc Như Lai đi phó yến tại hội Bàn đào, chúng bèn thừa dịp trốn khỏi cửa động, hóa hình làm hai chàng thanh niên, dáng vẻ phong nguyệt huê tình, nhởn nhơ dạo chơi trong đô thị nước Hưng Lâm tìm kiếm những con gái xinh đẹp ở nhân gian để trêu hoa ghẹo nguyệt.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhân bất ngờ đi qua lãnh cung - chỗ giam hai công chúa Diệu Thanh và Diệu Âm bị đức vua cầm tù trong ấy - rồi nghe tiếng hai người này lanh lảnh tụng kinh niệm Phật, giọng tiếng trong trẻo như thỏ thẻ oanh vàng, nên chúng động lòng dục nhiễm, sanh dạ bất lương. Chúng bèn dò hỏi sự tình với hai Thổ thần trong cung, xem sự việc trước nay ra thế nào; biết được rõ ràng mọi tình tiết, chúng bèn biến thành hình công chúa Diệu Thiện, gõ cửa nơi ấy giả tiếng Diệu Thiện kêu hai chị mà bảo rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Mấy năm xa cách, hai chị có được mạnh chăng? Từ khi em mang tội với phụ vương, bị phạt thắt cổ, hồn về âm phủ, nhờ được một vị pháp sư cho thuốc trường sanh, nên mặc ý du hành khắp nơi, thiên đàng địa ngục, đâu đâu cũng đến được. Nay thấy hai chị bị giam cầm nơi lãnh cung cực khổ, nên lại đây rước hai chị lên trời. Vậy xin hai chị nhắm mắt nín lặng, rồi sau đó mặc ý tiêu dao tự tại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai vị công chúa tưởng tình thiệt, y theo lời dặn mặc cho chúng thi hành. Rồi hai con yêu lại biến hình làm hai gã thanh niên mạo xưng là cháu của Ngọc hoàng, dẫn hồn hai công chúa lên đỉnh non cao, ép phải kết duyên loan phượng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bấy giờ hai công chúa mới rõ là bị yêu quái dối gạt, bèn lớn tiếng mắng rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bọn bây là giống dã thú tại phương nào? Mà giữa ban ngày dám mê hoặc hãi hại người ta, tội trời không dung! Huống chi hai chị em ta đây là những vị thiên kim công chúa mà bọn bây cũng dám xâm phạm tiết hạnh hay sao? Nếu phụ vương ta biết được thì sẽ tâu với trời, làm tội lột da róc xương tụi bây đó!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai con yêu nghe mắng thì kinh hoàng, chẳng dám phạm thượng con của Thiên tử, trái với mạng trời, nên phải chịu thả linh hồn hai công chúa về cung.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi đó, chúng nó lại lẻn vào cung sau, kiếm đặng hai tên thế nữ, biến thành hai viên đội thị vệ, giả vờ truyền sắc chỉ vua đòi đi theo hộ giá qua Hương Sơn. Hai tên thế nữ chẳng biết thực hư ra sao, bèn sửa soạn theo chúng đi liền. Chúng nó dắt vào hang Vạn Hoa, hai thế nữ bèn mở bừng mắt ra, mới thấy hai yêu quái thanh sư bạch tượng, liền thất đảm kinh hồn chết giấc đi, hai con yêu quái mới xâm phạm tiết trinh hai thế nữ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đó một hai hôm, tại lãnh cung, các quan quân trong triều nghe tin thất lạc hai thế nữ, do yêu tinh tác quái bắt đi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc bấy giờ, đoàn xa giá của Trang vương và hậu đang đến tại huyện Trừng Tâm, xảy nghe quân triều phi báo tin ấy, liền vội vã lên đường đi gấp cho mau đến Hương Sơn, đem chuyện này bạch với đức Thánh, hầu xin ngài tâu lên Thượng đế cho phép trừ yêu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">i. <B>Trang Vương gặp khốn giữa đường</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai con yêu có phép thần thông nên đoán biết việc sắp xảy ra, chúng liền bàn kế với nhau rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Việc này nếu tiết lộ đến tai Thượng đế, ngài hay thì bọn mình chắc bị tội nặng. Chi bằng chúng ta tìm kế cản trở xa giá, rồi bắt cả vua và hoàng hậu nước Hưng Lâm cầm lại để làm bặt tin tức, thì họ không còn biết danh tánh bọn mình là ai để mà điều tra nữa!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ý định như vậy rồi, bọn chúng bèn làm ra một cơn dông tố ầm ầm, mây đen kéo tới mù mịt trời đất, rồi đón đường xa giá, bắt vua và hoàng hậu cầm giữ lại trong hang núi sâu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc bấy giờ, tại nước Hưng Lâm, Thừa tướng Triệu Chấn bận đi kiếm cách trừ yêu, Vượng thượng lại bặt tin tức, triều đình trở thành vô chủ rối loạn lung tung.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Con trai của Triệu Khôi là Triệu Dương thừa dịp chiếm cứ kinh thành, thay đổi hết các văn võ bá quan, tiến ngôi đại bửu, không có ai đối kháng, nước Hưng Lâm bị thay ngôi đổi chủ bất ngờ, như sau một cuộc cách mạng vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tại Hương Sơn thì Phật Bà Quan Âm vâng mạng Phật Tổ Như Lai và Thượng đến đi kinh lược khắp mười tám động, chỉ để lại hai đồ đệ là Thiện Tài và Long Nữ coi sóc tự viện mà thôi. Một hôm kia, nhân lúc nhàn rỗi, Thiện Tài mới bảo với Long Nữ:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chúng mình hãy đi lên núi chơi, ngó nhìn khắp bốn bề xem có cảnh gì vui đẹp chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai người mới dắt nhau lên đỉnh núi cao chót vót, để tầm mắt ra xa xem suốt bốn phía, thấy về hướng nước Hưng Lâm, trên thì yêu khí bốc lên ngất trời, dưới thì bóng xe ngựa lăng xăng đầy đất, bèn lấy làm lạ mà nói với nhau rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hưng Lâm là nước cha mẹ của sư phụ mình, chẳng hiểu tại sao trong nước vô chủ để đến nỗi lộn xộn như vậy?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong lòng sinh nghi, hai người bèn xuống núi kêu vị thần Thổ địa, căn dặn bảo coi giữ việc trong am, rồi hai vị đằng vân đi tới tận nước Hưng Lâm để dò xem tin tức. Lúc đến nơi, họ liền kêu vị Thổ thần trong thành hỏi xem duyên cớ, vị thần này mới đem câu chuyện yêu tinh tác quái, quốc biến loạn thân soán ngôi đoạt vị, tất cả các chuyện trước kia ra kể lại hết, rồi bàn với hai vị thiên tiên đừng nên tiết lộ làm kinh động, chỉ mau mau thỉnh các thiên binh xuống trừ yêu quái thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">j. <B>Thiện Tài, Long Nữ cùng với thiên binh xuống trừ yêu</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi biết được mọi chuyện, Thiện Tài, Long Nữ liền đằng vân giá võ lên trời tâu với Thượng đế xin ngài sai binh xuống diệt trừ yêu quái.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức Ngọc Hoàng chuyển tấu, tức tời truyền ngọc chỉ cho mười hai vị Thiên Can<SUP><B>(36)</B></SUP> đem thiên tướng đốc xuất ngàn vạn thiên binh,tài phép oai lực thần thông biến hóa, đem theo các món binh khí thần diệu trên thiên giới xuống ngay tại nước Hưng Lâm, do Thiện Tài và Long Nữ điều khiển quân binh, tiễu trừ hai con yêu Thanh Sư, Bạch Tượng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc này, hai con quái đang ở trong hang Vạn Hoa đùa cợt giỡn cười với hai thể nữ, bỗng nghe thủ hạ cấp báo tin động, ngước đầu ra xa coi thấy thiên binh từ trên không sa xuống đầy khắp núi non, chúng nó liền hoảng hốt mang binh giáp vào: Bạch tượng mang giáp sài lang, Thanh sư đội mão giải trại, đem mười vạn yêu chúng ra đối địch với thiên binh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai bên giao phong với nhau một trận oanh liệt, quân Thanh sư bị Thiện Tài phóng hỏa đốt cháy, quân Bạch tượng bị Long Nữ làm nước ngập tràn, hai con yêu quái thua liền chạy biến mất dạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong lúc ấy, Phật Bà Quan Âm sau khi vâng chỉ Phật Tổ Như Lai và Thượng đế đi thâu yêu mười tám động về thành công tâu lại, Phật Tổ và Thượng đế ban yến đãi đằng xong, bèn bái tạ thâm ân, cáo từ trở về Hương Sơn thánh cảnh. Khi ở trên mây nhìn xuống, thấy phận giới nước Hưng Lâm rối loạn, và đem trí thần thông quán xét biết hết tình hình, ngài liền trở lại phương Tây, bạch với Phật Tổ Như Lai về chuyện hai súc sinh Thanh Sư và bạch Tượng tác quái quấy rối nước Hưng Lâm làm hại cả cha mẹ cùng hai chị mình và bá quan văn võ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức Phật Tổ Như Lai liền cho phép ngài điểm Phật binh đi thâu phục yêu quái. Khi đến nơi thì thấy hai đồ đệ Thiện Tài, Long Nữ đã đánh đuổi được Thanh sư và Bạch tượng rồi, ngài bèn tới nơi hang núi cao, cứu giá Vương và Hậu ra khỏi chỗ nguy hiểm, ngài hiện thân làm Quang Minh Hòa thượng từ giã về động Hương Sơn, còn đoàn ngự giá thì rước vua và vương hậu về triều.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đoàn hộ giá đi giữa đường, gặp tiên phong tướng quân Hốt Tất Liệt<SUP><B>(37)</B></SUP>, đón rước xe loan, tấu bày về chuyện tặc tử Triệu Dương phản quốc soán ngôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trang vương giáng chỉ sai Hốt Tất Liệt cùng đại tướng Chu Kiệt hồi binh đánh bọn loạn tặc, bắt được Triệu Dương đem ra hành hình. Dẹp yên bọn ấy xong rồi, hai tướng mới đem binh ra đón xa giá Trang vương và hậu về triều phục vị.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(32): <I>Trang vương tưởng Diệu Thiện bị cọp tha ăn rồi.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(33) Chú Lăng Nghiêm: <I>Chú này Phật nói trong kinh Thủ Lăng Nghiêm để cứu ông A Nan thoát nạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong bản dịch Kinh Lăng Nghiêm của Trí Độ và Tuệ Quang (trang 414) có đoạn văn: "Ai trì chú tâm này, có thể được mười phương Phật xoa đầu và thọ ký. Nếu tự quả chưa thành, cũng được nhờ Phật thọ ký. Mười phương Như Lai nương theo chú tâm này, có thể nơi mười phương cứu vớt chúng sanh bị khổ như là địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh, cái khổ đui, điếc, câm ngọng, cái khổ oán ghét gặp nhau, cái khổ thương yêu lìa nhau, cái khổ mong cầu không được, năm ấm quá mạnh, cho đến các tai nạn lớn nhỏ đồng thời thoát khỏi, các nạn tật bịnh, vua, ngục, gió, lửa, nước, đói khát bần cùng đều tiêu tan".</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(34) Tam thường bất túc: <I>Người tu sĩ Phật giáo phải giữ hạnh tam thường bất túc, nghĩa là ba cái nhu cầu thường nhật là ăn, mặc, ở đừng quá sung túc, đầy đủ, sang trọng:
<p style="padding-left: 30px;">- Ăn: không nên ăn quá nhiều, quá ngon.
- Mặc: không nên sang trọng, thừa thải.
- Ở: không nên ở quá rộng rãi, lộng lẫy.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(35): <I>Lại con Thanh sư, bạch tượng ở truyện Phong thần và truyện Tây Du ký (chú thích số (39) chương IV và chương I mục B - Thời Cổ Sử, tiểu mục (3) và (4).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(36) Thiên Can: <I>Các vị thần trong khoa bói toán, Thiên can hợp với Địa chi (Thành ngữ điển tích, Trịnh Văn Thanh). Đây là các vị thần của Ngọc Hoàng Thượng đế sai phái lãnh đạo thiên binh.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(37) Hốt Tất Liệt: <I>Theo danh hiệu các vị vua chúa Mông Cổ thì Hốt Tất Liệt là Kublai Khan (còn dịch là Đại hãn Kublai) cháu của Gengis Khan (Thành Cát Tư hãn), vị vua lập ra đời Nguyên.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong cuốn "Le Bouddhisme, Son Essence et Son Développement" của Edouard Conze (ông Chân Pháp Nguyễn Hữu Hiệu dịch ra Việt văn - "Tinh Hoa và Sự Phát Triển của Phật giáo" - Tu Thư Đại Học Vạn Hạnh, 1069), có đoạn nói rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Trong một bia ký Uigur vào năm 1326, Thành cát Tư Hãn (Gengis Khan) được gọi là một vị Bồ tát trong kiếp tái sinh cuối cùng. Đại Hãn Kublai đã trở thành một Cakravartin (Chuyển luân vương), một nhà hiền triết và một vị thánh (Hutuku) trong truyền thống Mông Cổ. Những du khách thường nói về các vua chúa của Mông Cổ và Tây Tạng như những "Phật sống". Có lẽ trong thời kỳ này, các xứ Ấn Độ, Miến Điện và Trung Á bị Mông Cổ đánh chiếm nên người ta cũng nhân đó mà nhắc đến vị tướng Hốt Tất Liệt (Kublai Khan).</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">k. <B>Quan Âm Diệu Thiện gặp cha mẹ</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua Diệu Trang về đến kinh đô, nghĩ lại trải qua bao nhiêu biến cố, rồi nhớ lại việc nhờ ơn đức Thánh Hương Sơn mà được lành bệnh nguy nan. Rồi cũng nhờ ngài cứu giải tai ách bị yêu quái tác hại mà về được triều đô bảo vệ ngôi báu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua muốn báo đáp ơn sâu ấy, nên ra lệnh cho triều thần sắp đặt xa giá lễ nghi để vương cùng hậu và hai công chúa ngự giá đến Hương Sơn, thân hành bái tại thánh ân.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài bèn giao phó việc triều ca cho Thừa tướng Triệu Chấn, để ngài được rảnh rang mà đi hành hương chiêm bái.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một ngày kia, Phật Bà Quan Âm buông mắt tuệ nhãn ra ngoài bốn phương, thấy xa giá Trang vương ruổi nhanh về phía động Hương Sơn, ngài bèn vội vàng sai Thiện Tài bày hương án nghinh tiếp thánh giá, còn mình thì hóa thân làm một vị thần Vô Quang ngồi nép phía sau rèm châu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi xa giá tới nơi cửa am, quan quân gởi lời đồng tử thông báo, rồi vương và hậu bày ra lễ nghi các vật dâng cúng, ngọc ngà châu báu, gấm vóc trầm hương, dâng lên vị Thánh đức, một dạ kiền thành bái tạ thâm ân.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi Quan Âm Diệu Thiện lên am để tiếp kiến cha me. Trong khi bái yết tiên nhan, Vương hậu thấy tướng mạo tiên cô phi phàm, dung quang y hệt như Diệu Thiện công chúa. Hậu mới rơi lệ hai hàng tỏ ý ngậm ngùi. Tiên cô ngồi trên tòa sen mỉm miệng cười, rồi bước xuống tòa, cúi đầu lạy cha mẹ và dâng lời tạ tội.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con bất hiếu trái mạng cha mẹ, trốn tránh tại đây, từ lâu chối lễ kết hôn, mang tội nhiều lắm! Cha mẹ cũng coi con như vật máu rơi vậy, nay cha mẹ lại dong ruổi tới đây, con thấy cha mẹ vất vả nhọc nhằn mà con lấy làm não ruột trong lòng!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vương và hậu mới hỏi đến diễn tiến các sự việc xảy ra từ khi ly biệt đến nay. Quan Âm Diệu Thiện mới nói rõ hết mọi việc đầu đuôi tự sự, cả việc sau khi cọp mang đi rồi chết giấc, hồn đi thăm các địa ngục dưới cõi âm, sau tỉnh dậy, qua các thử thách thế nào, mới đến lúc về tới Hương Sơn tu hành được thành chánh quả, được thọ ký phong cho danh hiệu Phật Bà Quan Âm, chưởng giáo tại vùng Hương Sơn thánh cảnh này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi hóa phép bay đi các nơi tế độ chúng sanh, thâu phục yêu quái. Kế đó lại nói tiếp:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đức Thượng Đế giận phụ vương thuở nay làm nhiều chuyện oan nghiệt, gây nhiều ác nghiệp sâu dày, ngài sai ôn thần giáng phạt cho mắc một chứng bịnh hiểm ác, đặng chịu quả báo! Con mới xả thân cắt tay khoét mắt cứu phụ vương khỏi bịnh. Rồi lúc phụ vương và mẫu hậu bị hai con quái thanh sư và bạch tượng hãm hại trong hang núi cao, con cũng phải xin phép đức Phật Tổ Như Lai, mà hóa thân cứu giá để phụ vương và mẫu hậu về đến được thành đô. Còn hòa Thượng Quang Minh là do con sai đệ tử của con hóa thân để cứu phụ vương đấy, con cũng nghĩ làm sao để báo hiếu cha mẹ, ơn đức chín chữ cao dầy<SUP><B>(38)</B></SUP>, để trọn bổn phận làm con trong muôn một! Dầu cho có thịt nát xương tan cũng không dám kể công. Có một điều là từ đây phụ vương đừng nài ép con lấy chồng và rộng dung cho con ở đây tu hành để được tròn công quả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trang vương nghe Quan Âm Diệu Thiện thuật lại mọi chuyện, trong lòng cảm động vô cùng! Lại thấy ngài vì cha mẹ mà trở nên không mắt, không tay, thì càng lấy làm đau lòng như bị cắt ra từng khúc ruột.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai công chúa Diệu Thanh và Diệu Âm mới hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Như em đã xả thân để cứu bịnh cho cha, lòng hiếu thảo ấy ít ai bì kịp! Song ngày nay em đã thành chánh quả, thần thông oai lực có thừa, cứu khổ cứu nạn cho đời còn được thay, huống chi là tật bịnh của mình! Vậy em có phép gì để sửa cho mình lành mắt, lành tay được không?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Ânm Diệu Thiện đáp:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Có thể sửa được, nhưng cái đó là Phật, Trời để dành phầm sám hối cho cha mình. Nếu ngày nay cha mình phát tâm sám hối, một lòng thành khẩn cầu nguyện Phật trời thì mắt và tay em sẽ lành lại tức thời.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo lời Quan Âm Diệu Thiện nói, Trang vương liền truyền chỉ lập đàn chay tại đảnh núi Hương Sơn, triệu thỉnh tăng đạo tuyên kệ tụng kinh, Vương và hậu cùng hai công chúa trai giới bảy ngày, kiền thánh lễ bái, cầu Phật trời phù hộ cho Quan Âm Diệu Thiện được tay mắt nguyên lành.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cuộc lễ vừa tan, thì quả nhiên Phật Bà Quan Âm liền nảy sanh ra hai tay, hai mắt như xưa, dung nghi tốt đẹp, lại còn thấy tinh thân uy dũng hoạt động hơn trước nữa!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bấy giờ Trang vương mới cảm thấy sự nhiệm mầu của Phật đạo, phép thần thông diệu dụng của Phật Thánh, ngài thấy trong lòng hoan hỷ mười phần, rồi ngán cho mùi đời phú quý vinh hoa, chẳng khác gì như đám mây nổi, mà lại còn gây tội ác, chịu nhiều điều phiền não tục lụy cõi trần ai!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi về triều, ngài triệu hội văn võ bá quan vào tại hành cung hiệp bàn, rồi sai quan Hàn lâm thảo tờ chiếu trao ngôi cho Thừa tướng Triệu Chấn, còn ngài thì qua đến Hương Sơn tu hành, Vương hậu và hai công chúa cũng biểu đồng tình, cả nhà cũng theo tâm đạo, trông mong tu luyện cho tròn phước quả về sau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">l. <B>Đoàn viên phước quả cho gia đình Trang Vương</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kể từ khi bị Thiện Tài, Long Nữ phối hợp cùng thiên binh đánh cho chạy dài, hai con quái Thanh Sư và Bạch Tượng kéo nhau chạy trốn. Nhưng đức Phật Tổ Như Lai dùng phép bắt về rồi quở mắng rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bọn bây đã gởi thân nơi cửa Phật mà chẳng giữ thanh quy cương kỹ, lại đi phóng túng phạm giới tham dâm, thật là tội đại gian ác! Huống chi Hưng Lâm là nước của cha mẹ vị Hương Sơn giáo chủ, bọn bây há chẳng biết hay sao? Mà lại dám cả gan làm càn, chúng bây thật là những đứa coi Phật, Thánh, Trời, Đất chẳng ra gì! Tội ấy đáng giáng xuống địa ngục A Tỳ vô gián <SUP><B>(39)</B></SUP>, dùng hình phạt đá ván ép nát thân thể, không kiếp nào được tái sanh, đặng răn dạy kẻ khác.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi, Phật Tổ Như Lai định trao cho Minh Vương vâng phép thì hành. May sao nhằm lúc Phật Bà Quan Âm yết kiến thỉnh giáo Thế Tôn, ngài mới đem lòng đại bi đại từ mà bạch với Phật rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Cẩn bạch Như Lai Thế Tôn! Bọn súc sanh này phạm tội nặng, dầu trăm lần đã ván ép dẹp thân xác cũng chưa đền hết tội! Song đệ tử trộm nghĩ: Phật giáo lấy từ bi làm gốc, vậy xin Thế Tôn rộng dung cho chúng, mở đường sám hối cho chúng hữu tình. Vả chăng kẻ đệ tử đang muốn khuyến hóa ch amẹ và hai chị, hầu mở rộng đạo pháp trong chốn Hương Sơn, nên đệ tử chẳng muốn vì chuyện nhà của mình mà hai con súc sanh này phải bị phạt nặng. Vậy cúi xin đức Thế Tôn mở lượng từ bi, khoan dung cho chúng nó một lần, và đệ tử muốn lãnh chúng đem về Hương Sơn, vâng phép Phật điểm hóa thân tâm chúng nó, khiến cho chúng cũng theo về chánh quả sau này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức Thế Tôn khen đức độ của Phật bà Quan Âm là hợp với đạo từ bi quảng đại, và chuẩn y như lời. Phật Bà bái từ đức Như Lai, lãnh Thanh sư và Bạch tượng đem về núi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi về tới cửa động, hai công chúa Diệu Thanh và Diệu Âm trông thấy hai con súc sanh đã toan hãm hại mình trước đây, bèn nổi tâm sân hận, hỏa khí bốc lên trong lòng, tưởng chừng như muốn róc xương xé thịt chúng nó ra mới hả cơn giận.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật Bà Quan Âm mới khuyên giải:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thôi hai chị ạ! Đạo Phật lấy từ bi tịnh hạnh làm gốc, hễ là người quân tử thì những điều ác đã qua chẳng nghĩ đến làm gì! Nay cả gia đình ta đều cùng nhau theo đạo vô thượng, tu hành giới hạnh, thì ta cũng nên hỷ xả, lấy ơn trả oán, cho lòng ta được thanh lương trong sáng, tự nhiên ta thấy hỷ lạc vô cùng!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ đây cửa Phật bao la, dung nhận một nhóm nhơn hiền có hòa khí, vương và hậu cùng hai công chúa đều nhất tâm tinh tấn tu trì, đạo đức thanh cao, lại nhờ có Phật Bà Quan Âm hộ trì điểm hóa, chẳng bao lâu đã thành được phước quả đoàn viên.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một ngày kia, trời trong gió nhẹ, minh nhật quang huy, mây vàng chói sáng, vị Thái bạch Kim Tinh liền phụng chỉ của Phật Tổ Như Lai và Ngọc Hoàng Thượng đế, giáng hạ tới cõi Hương Sơn thánh cảnh. Toàn gia Trang vương đồng thiết trí hương án nghinh tiếp. Khi khói trầm tỏa lên nghi ngút, bỗng trên mây có tiếng vọng xuống, đọc lớn tiếng vào trong động, sắc phong cho liệt vị chân tu như vầy:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sắc phong cho Diệu Thiện danh hiệu Quan Âm Phật, ban cho kim liên pháp tọa, chưởng chấn tại Hương Sơn, làm vị Cảm Ứng linh thần, thực hiện đại nguyện từ bi, phổ độ chúng sanh cõi Nam Hải.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sắc phong cho Diệu Âm danh hiệu Văn Thù Bồ tát, cỡi Thanh sư tọa trấn càn khôn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sắc phong cho Diệu Thanh, danh hiệu Phổ Hiền Bồ tát, cỡi Bạch tượng du hành thế giới.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sắc phong cho Diệu Trang Vương làm Thiện Thánh Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sắc Phong cho Bá Nha hậu làm Huệ Thánh phu nhơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn các đệ tử của Quan Âm Phật là con Đại Bằng, và Thiện Tài, Long Nữ có công phù trợ Phật pháp, đều được phong hiệu Hộ Pháp thần linh, thấm nhuần ơn đức cao dầy của Phật Tổ Như Lai và Ngọc Hoàng Thượng đế.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như vậy trải qua bao nhiêu gian truân khổ nạn, thập tử nhất sanh, tai ách triền phược, mà Diệu Thiện công chúa vẫn kiên gan bền chí, vững tâm tu hành, giới hạnh tinh nghiêm, xả thân cứu độ chúng sanh mọi loài, vẹn toàn trung hiếu cả hai, cho nên sau cùng được đắc thành nghiệp quả, đạo pháp cao thâm, phương danh cùng thánh tích được lưu truyền với hậu thế muôn đời, vững bền với non sông muôn thuở, rạng danh Hương Sơn Phật Tích, linh địa thiền lâm, rất xứng đáng với tên Đệ Nhất Động ở cõi trời Nam (Việt Nam)<SUP><B>(40)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>NHẬN ĐỊNH</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. Về sự tích Quan Âm Diệu Thiện, như đã dẫn ở trên, có nhiều tài liệu nói đến (ba tài liệu, đó là chỉ kể các tài liệu chúng tôi có). Như vậy ta cũng có thể ước đoán rằng còn có nhiều tài liệu khác nữa, chẳng hạn như tác phẩm bằng thơ (không rõ tác giả), kể chuyện "Bà Chúa Ba" mà nhiều người Việt Nam, nhất là các phụ nữ đã đọc một cách say mê.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong cuốn "Thung Mơ Hương Tích" của Trần Lê Văn (nhà xuất bản Văn Hóa CHXH.VN.VN, 1906 - in lần thứ hai) cũng có nói tóm lược như sau (trang 71):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Cũng là Phật thoại nhưng Việt hóa, thì các cụ kể:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bà Chúa Ba (công chúa thứ ba) con của Diệu Trang Vương quyết chí tu hành. Vua cha nhiều phen ngăn cản không được, đến một lúc tức giận cùng cực, ông ra lệnh đem con gái ra pháp trường xử trảm. Chém không được thì xử giảo. Bỗng hùm thiêng đến cứu chúa Ba:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Quan quân áp đến xôn xao
Bỗng đâu mãnh hổ rẽ vào tha đi.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mãnh hổ cõng công chúa Ba về núi này. Trên mình hổ bước xuống bà đẻ lại một vết chân. Chỗ vết chân bà, người ta lập cái am Phật Tích. Am Phật Tích còn gọi là động Thanh U. Chỗ bà tắm gội để rửa oan thành chùa Giải Oan. Gần chùa Giải Oan còn có động Tuyết Quỳnh (quen gọi là Tuyết Kinh)". Rồi có những đoạn như sau (trang 141):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Vào nước ta, Quán Thế Âm Bồ tát thành ra Nam Hải Quán Thế Âm mà sự tĩch được sáng tác thành một tác phẩm văn học tôn giáo dân gian. Nhân vật chính là bà Chúa Ba như đã nói ở một đoạn trên.......
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Câu chuyện ấy, viết theo tinh thần của đạo Phật lại có màu sắc địa phương, thể lục bát nôm na dễ nhớ, dễ thuộc, được các bà đi chùa xưa, dù là không biết chữ, cứ nghe truyền khẩu mà nhớ nhập tâm. Nay các cụ bà còn kể hạnh bằng lời ca lục bát ấy".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại một đoạn nữa (trang 142):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"... Khi lớn lên, nhiều lần bị vua cha bắt buộc phải lấy chồng, chúa Ba ngõ ý nếu bắt đắc dĩ phải như vậy thì chỉ xin lấy một người thầy thuốc:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Cha thương dù có ép lòng
Thì con xin lấy kẻ dòng lương y
Cha rằng: Văn vũ thiếu gì!
Mình châu, vóc ngọc sánh chi kẻ thường.
Tâu rằng: "Kẻ ấy tuy thường
Có bề cứu thế, có đường độ dân".</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về sau, đến cái đoạn vua giận quá sai lực sĩ đem chém thì Ngọc Hoàng lại sai các thần đến cứu:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Canh năm vừa mới sáng trời
Lực sĩ áp điệu ra nơi pháp trường
Chúa Ba nhan sắc như thường
Nghĩ lòng lên được Thiên đường từ đây
Quan quân gươm giáo sắp đầy
Bỗng đâu cơn gió thổi ngay đùng đùng
Tối tăm trời đất mịt mùng
Hào quang sáng khắp cả trong trường hình."</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đại khái tất cả mọi giai đoạn trong tập thơ trường thiên lục bát kể sự tích Quan Âm Diệu Thiện đều được kể lại tương tự như trong cuốn Nam Phương Phật Tích.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Riêng về nơi chốn Hương Sơn thì cũng đúng với vùng chùa Hương Tích, nhưng còn có nhiều chi tiết hơn như sau (trang 37):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Hương sơn có một trăm ngọn núi thì chín mươi chín ngọn nghiêng chầu về phía động Hương Tích để tỏ lòng ngưỡng mộ:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Núi xô về cửa động</I>
(Vạn sơn tranh phó động) - trong bài thơ của Bùi Dị bằng chữ Hán, do Đào Văn Bình dịch ra Việt văn<SUP><B>(41)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chỉ riêng một tên Voi bướng bỉnh và vô lễ quay đầu ra, quay mông vào. Đức Phật giận quá, lấy gươm phạt một mảng mông tên Voi. Bây giờ tên Voi vẫn mất một mảng mông (núi Voi)".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về lược sử vùng Hương Sơn, nói về phần tôn giáo, thì trong Nam Phương Phật Tích có đoạn như sau (trang 67-68):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Xét ra thuở Diệu Thiện công chúa vâng lời đức Như Lai Văn Phật qua tu hành nơi Hương Sơn thánh cảnh này nhằm buổi đời nước Việt Nam ta mội thuộc Đường Thái Tông Trung Quốc, vào lối cuối thể kỷ thứ bảy. Khi ấy kêu là động Phổ Đà, đó chỉ là một cảnh núi hoang hiu quạnh, gần nơi rừng tía, xa hẳn với chốn bụi hồng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài là phong cốt Phật sanh, độc tu ở cõi Già lam thiên tạo mà thôi, chứ không có chùa chiền chi hết. Cho tới chừng ngài đắc đạo thành chánh giác, nơi đó cũng vẫn nguyên là một cảnh thiền tịch, người trần không ai dạo gót tục mà tìm đến được tới chốn thanh u đó bao giờ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trải qua trên một ngàn năm tới đời Hậu Lê, nhằm triều Chánh Hòa (1680-1705) vua Hy Tông, mới có một vị lão tăng, đạo hiệu là Huyền Quang hòa thượng, đi vân du tới cảnh Hương Sơn này, thấy là nơi sơn thủy hữu tình, bèn lập một thảo am, đặt hiệu là Thiên Trù Tự (tục kêu là Chùa Chò) mà trụ trì ở đó. Ngày thường thì hòa thượng rẽ cây vạch cỏ, lội suối qua đèo, hành cước lần mò được tới động Non Hương, tức là động Phổ Đà của Phật Bà Quan Âm trụ trì thuở xưa, tức là tòa chánh điện Hương Tích (tục kêu là Chùa Trong) ngày nay vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Huyền Quang hòa thượng viên tịch, hai chục năm sau lại có Hòa Khê thiền sư nối nghiệp tổ đăng, truyền qua Thông Lâm thiền sư, Thanh Quyết thiền sư, lần lầm mở mang phạm vũ, và hiệp đồng với công dân hai làng Yến Vĩ, Hội Xá, kiến trúc ra các chùa, các đền, lại do các quan địa phương hai triều Lê, Nguyễn trong hai trăm năm, lần lần tô điểm thêm ra, nên mới có những cảnh: đền Trình, chùa Thiên Trù, chùa Tiên Sơn, chùa Giải Oan, đền Chấn Song, chùa Hương Tích..., non sông rạng vẻ mà thành cảnh danh thắng thứ nhất trong cõi trời Nam ngày nay (lược thuật theo cuốn Hương Sơn Thiền Phổ)".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn trong cuốn "Thung Mơ Hương Tích", lại có đoạn như sau (trang 57 đến 59):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Chùa Thiên Trù bắt đầu được xây dựng từ bao giờ? Có vài ba thuyết khác nhau. Nhưng hiện nay sử liệu cũ nhấtcủa nhà chùa chỉ còn lại một bài văn bia đề niên hiệu Chánh Hòa (Lê Hy Tông) năm thứ bảy (1686), văn bia ghi vắn tắt về việc nhà sư Viên Quang bắt đầu xây nền phúc, trong thì sửa sang động báu Hương Tích, ngoài thì mở mang cõi Phật Thiên Trù. Viên Quang là đạo hiệu của nhà sư. Ông còn được tôn xưng là Viên Giác tôn giả, và được vua phong là hòa thượng thuộc Tăng Lục Ty, Thượng Lâm Viện - một tổ chức tôn giáo đời Lê. Sau đoạn nói về nhà sư Viên Quang, văn bia nêu tên những người cúng tiền vào việc xây chùa. Trước hết là tên hai người phi tần quê ở Thông Thượng, xã Đường Hào, huyện Đường Hào là Mai Thị Cự (sau đổi thành Đào Thị Cự) và Mai Thị Nhiên (sau đổi là Đào Thị Nhiên). Hai người phi tần này đều là vợ Trịnh Căn, chúa thứ năm trong các đời chúa Trịnh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tấm bia này có ít nhiều giá trị nghệ thuật. Đáng chú ý là những hình chạm khắc trên bệ bia. Từ giống to như con voi đến giống nhỏ như con cua. Có cả trâu đang đầm và vịt đang lội. Trong mỗi hõm có một vài con vật chạm nổi khá sinh động, chứng tỏ bàn tay người thợ điêu khắc đồ đá này, chỉ mới làm một số chi tiết trang trí đã tỏ ra có tay nghề. Biết đâu bàn tay ấy chẳng phải là một bậc thầy đã để lại những công trình điêu khắc đồ đá mẫu mực mà chúng ta đã được xem trong một cuộc triển lãm mới đây của Bảo Tàng Mỹ Thuật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dựa vào văn bia Chánh Hòa năm thứ bảy, người đời sau viết một quyển Thiền phả chùa Thiên Trù, có nói về ông Viên Quang:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Họ tên, quê quán chưa tường
Đã từn độ điệp giấy vàng vua cho
Bỗng tình cờ vân du tới đó
Thấy nước non thanh tú mà yêu
Liền cùng người xã dặt dìu
Lơ thơ mới dựng một lều thảo am
Ngồi tụng niệm "ni nam" sớm tối
Chùa Thiên Trù mới gọi là tên.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như vậy là sắc vua, chùa làng. Ông Viên Quang dựng được chùa để có danh lam trong thắng cảnh, không phải chỉ nhờ vào tiền bạc của mấy người phi tần, mà còn nhờ vào công sức của dân xã. Và nếu cái tên Thiên Trù, tên Hương Tích từ đó mới có, thì lịch sử xây dựng chùa chiền ở Hương Sơn, và những câu chuyện Phật thoại có liên quan tới cảnh này cũng mới chỉ có trong vòng ngót ba trăm năm nay.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong chùa Thiên Trù, về hiện vật lịch sử, phải kể đến quả chuông đúc vào thời Tây Sơn - Cảnh Thịnh năm thứ hai (1793) - mà bài minh có nói đến chiếc trống đồng<SUP><B>(42)</B></SUP>. Quả chuông này từ trước được treo trong động Hương Tích, sau mới đưa ra Thiên Trù. bài minh không những nói về chiếc trống đồng Hương Tích mà còn nói về một nhà sư khác tên chữ là Hải Viên có công sửa lại chùa, đúc lại chuông sau những năm chùa bị hoang phế vào lúc hỗn loạn nhất của thời Lê Trịnh. Ông sư Hải Viên tên chính là Phạm Trần Đoàn, có cơ sở ở chùa Tào Khê thuộc Yến Vĩ".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">2. Như ta đã biết trong ba tài liệu trước đây thì tài liệu do Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm, khi nói về Quan Âm Diệu Thiện - mà trong tài liệu gọi là Diệu Chân, có đoạn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Sự tích của bà Diệu Chân như sau đây: Công chúa là con thứ ba của một ông vua tãiứ Miến Điện<SUP><B>(43)</B></SUP>. Hai chị công chúa, Diệu Thanh lấy một nho sinh, Diệu Âm lấy một tế tướng. Còn công chúa Diệu Chân quyết chí đi tu, xin phép cha quy y Phật. Khởi đầu vua không cho, sau muốn cho công chúa chán cảnh chùa, vua bắt công chúa phải hầu hạ năm trăm vị sư. Phật phái các muông thú xuống giúp việc cho công chúa. Vua giận lắm, sai người đốt chùa, bắt công chúa đem chém. Nhưng một mãnh hổ cõng công chúa vào rừng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thiếp đi ở giữa rừng, công chúa được quỷ sứ dẫn xuống âm phủ và đưa công chúa đi xem các hình phạt tại mười hai điện Diêm La. Công chúa được kinh điển cho bao nhiêu hình phạt đều thành vô hiệu. Diêm Vương giận lắm, đuổi công chúa lên trần thế.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Gặp Phật và được Phật cho một quả bàn đào tiên, công chúa theo Phật đến đảo Phổ Đà (Pouto) tại bờ biển Trung Hoa<SUP><B>(44)</B></SUP>. Sau chín năm tu luyện tại đây, Địa Tạng ban cho công chúa chức Bồ tát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau công chúa lại được Ngọc Hoàng Thượng đế ban cho chức "Đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sự tích công chúa Diệu Trân tại Trung Hoa hay tại Việt Nam cũng na ná giống nhau, chỉ khác nói nơi ngài sanh ra và nơi ngài thành Bồ tát (tại Việt Nam công chúa thành Bồ tát tại Hương Tích Sơn).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai chị công chúa sau cũng đi tu, rồi thành Bồ tát cả. Diệu Thanh thành đức Văn Thù Sư Lợi Bồ tát (Manjuçri), Diệu Âm thành đức Phổ Hiền Bồ tát (Samantabladra). Nói đúng ra, hai bà chị của đức Quán Thế Âm là hiện thân của Manjuçri và Samantabladra cũng như Diệu Chân công chúa là hiện thân của đức Quán Thế Âm (Avalokitesvara)
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">3. Qua bốn tài liệu trên đây (ba tài liệu trước và một tác phẩm khác bằng thơ lục bát dẫn sau), ta có thể ước đoán rằng sự chân xác về lịch sử của sự tích Quan Âm Diệu Thiện có một phần nào đúng sự thật, tuy nhiên vì trước đây do sự truyền bá không chính xác, phần nhiều là truyền thuyết bằng kể chuyện từ người này qua người khác, nên các tên người và địa danh, cùng vài chi tiết nữa có sai khác lẫn nhau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn về phần Quán Thế Âm Bồ tát thị hiện ra nhiều nơi, thì ta có thể dựa vào kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Phổ Môn mà lý giải vì rằng điều này đã thường nhắc đến trước đây ở phần đầu của cuốn truyện tích này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo nhiều người nghiên cứu về huyền bí học thì có nguyên lý siêu hình tổng quát rằng một vị đạt đến ngôi chánh đẳng chánh giác rồi, hoặc gọi là Phật, Bồ tát hoặc Thượng đế, Chúa hay gì đi nữa, thì có năm điều đáng lưu ý như sau:
<p style="padding-left: 30px;">- Không có thời gian tuổi tác, tức nhiên là có đời sống thường ngày.
- Không có nơi chốn nhất định, tức nhiên là có thể ứng hiện khắp mọi nơi, và cùng một lúc.
- Khả năng thần lực và trí tuệ vô song.
- Đạo đức và từ bi hỷ xả vô biên
- Không có quốc tịch, nam nữ tính phái, mà tùy ý thị hiện dưới nhiều hình tướng khác nhau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(38) Ơn đức chín chữ cao dầy: <I>Cũng nói là "chín chữ cù lao". Cù là siêng năng, lao là khó nhọc. Chín chữ cù lao là do câu "cửu tự cù lao" tức là cha mẹ nuôi ta có chín điều khổ cực là:
<p style="padding-left: 56px;">a. Sinh = đẻ.
b. Cúc = nâng đỡ.
c. Phủ = vuốt ve.
e. Xúc = cho bú.
f. Trưởng = nuôi cho lớn.
g. Dục = dạy dỗ.
h. Cố = trông nom.
i. Phục = săn sóc.
k. Phúc = bảo vệ. (Thành ngữ điển tích, tập I, Trịnh Văn Thanh).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(39) A tỳ vô gián: <I> Là cảnh trừng trị trong địa ngục, tội nhơn bị hành hạ mãi mãi không lúc nào ngừng, từ năm này kiếp kia, họ chịu khổ mãi mãi, muốn ra không được.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(40) Đệ nhất động ở cõi trời Nam: <I>Xin xem chú thích số (20): Nam Thiên Đệ Nhất Động.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(41): <I>Trong cuốn "Chùa Hương Tích" của Dương Tự Giáp (không đề năm in và nơi xuất bản) có những bài văn thơ của Bùi Dị, của Dương Vân Hổ (do Đào Văn Bình dịch), và những bài thơ của Chu Mạnh Trinh, Đoàn Như Khuê, cụ Tiểu Đăng tử, mười bài "Thập Khúc" của Cao Chu Thuần, và các bài hát của Chu Mạnh Trinh, Dương Văn Trì, Vũ Phạm Hàm v.v...</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(42) Chiếc trống đồng: <I>Trong cuốn "Thung Mơ Hương Tích" có đoạn nói về chiếc trống đồng ấy như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"...Trong động Hương Tích, trước đây không có chiếc trống đồng cổ, hòa thượng Thanh Chân nói rằng: Chiếc trống ấy trông giống như chiếc trống đồng bày ở Bảo tàng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chùa Thiên Trù hiện nay có quả chuông đúc vào thời Tây Sơn - Cảnh Thịnh năm thứ hai (1793) - Bài minh khắc trên chuông có câu nói về động Hương Tích: "... trống đồng, nhũ đá, lạ trong cái lạ..." Thơ cũ có nhiều bài nói đến trống đồng chùa Hương.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(43) Vua tại xứ Miến Điện: <I>Xem chú thích số (3) của chương này.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(44) Đảo Phổ Đà: <I>Tại bờ biển Trung Hoa, xem chú thích số (18) của chương này và chú thích số (2) của chương IV.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<CENTER><B>SỰ TÍCH QUAN ÂM THỊ KÍNH</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. <B>DẪN NHẬP</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sự tích Quan Âm Thị Kính cũng được kể lại bằng thơ do Thiều Chửu dưới đầu đề:
<CENTER><B>GIẢI THÍCH TRUYỆN
QUAN ÂM THỊ KÍNH</B>
Hội Việt Nam Phật Giáo
1962
(Không đề nhà xuất bản nào và phát hành tại đâu).</CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thiên trường thi này cũng được viết lại bằng thơ lục bát gồm 798 câu và một đoạn văn xuôi gồm 253 chữ được chia ra từng đoạn<SUP><B>(*)</B></SUP>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngoài tập thơ này, chúng tôi còn có hai tài liệu nữa, một là sự tích Quan Âm Thị Kính, viết bằng văn xuôi trong cuốn <I>"Sơ Lược Sử Quán Thế Âm Bồ tát"</I> hay Quan Âm Thị Kính của Minh Tâm sưu tầm, in năm 1968 (Trưởng Ban biên tập Minh Hạnh giới thiệu).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong cuốn này còn nói thêm cuối bài tóm lược đầu tiên rằng Quán Thế Âm:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Hiện nay đời còn truyềtụng hai kiếp giáng trần làm phụ nhân của ngài là: kiếp thứ mười làm bà Thị Kính, kiếp chót làm bà Diệu Thiện, sau khi thoát kiếp chót này ngài được chứng quả Phật Tổ tại Phổ Đà Sơn (Nam Hải)".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn một tài liệu thứ ba là bản tóm lược in trong bộ Thành Ngữ Điển Tích (Quyển II, từ trang 1294 đến 1295) của Trịnh Văn Thanh (xuất bản năm 1966 do nhà in Trương Ngọc ấn quán, 106 đường Trịnh Minh Thế, Khánh Hội- Saigon).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bản này là tóm tắt một cuốn thơ cũng viết theo thể lục bát (không rõ tác giả) gồi 788 câu chia làm sáu hồi, và được Trịnh Văn Thanh phân tích, tóm lược ghi vào trong mục giải thích danh từ <U>Thị Kính</U>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tóm lại chúng tôi có ba tài liệu tương tự giống nhau, một bằng thơ lục bát của Thiều Chửu, tài liệu thứ hai bằng văn xuôi của Minh Tâm, và tài liệu thứ ba là bản tóm tắt bằng văn xuôi một cuốn truyện Quan Âm Thị Kính bằng thơ lục bát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bản sau đây là tóm lược của chúng tôi dựa theo phần chính là cuốn "Giải Thích Truyện Quan Âm Thị Kính" của Thiều Chửu.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) <B>CUỘC ĐỜI TẠI GIA CỦA THỊ KÍNH</B>
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">a. <B>Thị Kính ở nhà với cha mẹ</B> (Từ câu 1 đến câu 98):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo truyền thuyết thì quan Âm Thị Kính xưa kia vốn là đấng nam nhi đã xuất gia tu trong chín kiếp<SUP><B>(1)</B></SUP> rồi, nhưng vì bụi trần chưa rũ sạch nên khi đức Thích Ca Mâu Ni muốn thử lòng, ngài mới hiện ra thành một tiểu thư rất là xinh đẹp, thường đến chọc ghẹo và tỏ ý muốn ép duyên vị thầy tu này gá nghĩa vợ chồng với mình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ai dè vị tu sĩ này lại nói ra một câu rằng: "Nếu nàng muốn cùng ta trở thành vợ chồng, thì họa chăng phải đợi kiếp khác, còn kiếp này ta đã trót tu rồi".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nào ngờ tác ý<SUP><B>(2)</B></SUP> nói ra như vậy cũng thành nghiệp, nên trở sang kiếp sau, vị tu sĩ này phải đầu thai thành mọt người phụ nữ duyên dáng, sanh vào nhà Mãng ông ở Hồ Nam, huyện Bắc Thành đại bang nước Cao Ly<SUP><B>(3)</B></SUP> (không rõ vào thời kỳ nào?).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người con gái này lúc sanh ra được dặt tên là Thị Kính, lớn lên dung nhan rất là đẹp đẽ, đoan trang có đủ tứ đức: công, dung, ngôn, hạnh<SUP><B>(4)</B></SUP>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi đến tuổi cập kê phải lập gia đình thì có một chàng trai ở trong quận, họ Sùng, tên là Thiện Sĩ, khôi ngô tuấn tú, tướng mạo thanh nhã nho phong, lại thêm hay chữ, học hành thông minh tài trí, so với nàng Thị Kính thì một bên tài ba lỗi lạc, phong độ trang nghi, một bên thì sắc nước hương trời, dung nhan mỹ lệ, thật là xứng đôi đẹp lứa, trai tài gái sắc, không bên nào có thể chê bên nào được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bên cha mẹ chàng trai nghe đồn nhà họ Mãng có một con gái nhan sắc trác tuyệt, tư cách đoan trang, thật đáng là thiên kim tiểu thư, cành vàng lá ngọc, được cả nết lẫn người, nên mới mượn mai mối danh tiếng để xin cầu hôn cho con trai mình là Thiện Sĩ. Gia đình Thiện Sĩ mới gởi mọt lá thư cho ông bà họ Mãng nói rõ việc ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vợ chồng Mãng ông bắt được thư mới bàn nhau rằng họ Sùng xưa nay vốn dòng công hầu, lại người con trai của họ cũng là con nhà thi thư, phong cách gia giáo lễ nghĩa đủ điều, nên cảm thấy rằng nếu hai trẻ mà làm bạn đôi lứa với nhau thì thật là "vừa đôi vừa lứa Quan thư<SUP><B>(5)</B></SUP>". Thôi thì hai bên cũng là con nhà thế phiệt trâm anh<SUP><B>(6)</B></SUP>, chứ bây giờ mà lọc lừa kén chọn thì phải nay đợi mai chờ rất là phiền phức dây dưa. Vậy có lẽ đây là sợi tơ hồng<SUP><B>(7)</B></SUP> khéo xe duyên nên mới khiến định ra việc này. Hai ông bà họ Mãng mới viết thư trả lời cho nhà họ Sùng biết họ đồng ý cuộc nhân duyên này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi nghe tin Thiện Sĩ được cha mẹ cho người đến cầu hôn với mình và song thân đã bằng lòng, nàng Thị Kính mới nghĩ thương cho cha mẹ, tuổi đã già, sức đã yếu mà chỉ có một mình là con gái, chưa có con trai, nên lúc ra vào, trong nhà ngoài ngõ, chỉ có một mình mình là an ủi làm khuây mà thôi. Nàng mới nghĩ phận ta là con gái, cha mẹ nuôi nấng khôn lớn, chưa đền đáp được công ơn cha mẹ gì cả, nay lại phải xuất giá tòng phu thì cha mẹ ắt phải chịu sầu buồn sự cách ly này lắm!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai vợ chồng Mãng ông biết ý con gái nên mới gọi Thị Kính ra bảo rằng: "Phàm làm cha mẹ xưa nay sinh ra con gái, khi nó lớn lên vừa đúng tuổi đôi lứa, thì ai cũng mong nó chóng thành bề gia thất. nay nhờ phúc trạch nhà ta mà có người tốt đến hỏi làm vợ thì nên nhận lời kẻo mai mốt quá lứa lỡ thì, e sanh con muộn màng vất vả! Vậy con chớ nên âu sầu, vì cha mẹ cũng chưa đến nỗi già yếu lắm, vả lại nhà trai cũng gần đây, con đi lấy chồng rồi thì sau qua lại thăm viếng cha mẹ cũng dễ thôi!"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thị Kính mới nguôi lòng gạt lệ mà vâng theo.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">b. <B>Thị Kính về làm vợ Thiện Sĩ</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi nhận được tin ông bà Mãng ông đã chấp thuận gả Thị Kính và nàng Thị Kính cũng đã thuận lấy Thiện Sĩ làm chồng rồi, thì hai ông bà họ Sùng liền tuần tự sắm sửa năm lễ<SUP><B>(8)</B></SUP> cho đủ nghi thức để lo làm lễ cưới Thị Kính về cho Thiện Sĩ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thắm thoát đã đến ngày vu qui, bên nhà trai dẫn đủ lễ rồi mới đến rước cô dâu về nhà chồng. Đám cưới này mọi người đều tấm tắc khen Thiện Sĩ và Thị Kính thật là đẹp đôi:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Một đôi tài sắc vừa xinh
Đố Tăng Do vẽ bức tranh nào bằng</I><SUP><B>(9)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ lúc về làm vợ Thiện Sĩ và làm dâu gia đình họ Sùng. Thị Kính đã tỏ ra nết na trung hiếu đủ điều, lại ra vẻ đoan trang, hiếu thuận hầu hạ song đường rất mực cung kính, lại khéo tay có đủ nhiều nghề nữ công nữa. Nàng lại khuyên Thiện Sĩ nên chăm lo học hành kinh sử để may ra đến kỳ thi đỗ thì được nhẹ bước thang mây<SUP><B>(10)</B></SUP>, phú quý vinh hoa thỏa thích một đời, mà cha mẹ vợ con cũng được thừa hưởng mùi phong lưu vinh hiển.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngày ngày hai vợ chồng sống trong khung cảnh êm đềm, chồng thì bút nghiên đèn sách, sớm hôm kinh sử, vợ thì đường kim mũi chỉ, nội trợ tề gia. Thật là một đời sống gia đình đầy đủ hạnh phúc êm ấm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một đêm nọ, canh khuya dưới ngọn đèn tỏ rạng, chàng nằm đọc sách mỏi mệt mới tựa cạnh nàng và ngủ thiêm thiếp. Bỗng nàng Thị Kính liếc mắt trông thấy một bên cằm của Thiện Sĩ có một sơi râu mọc ngược, nàng cho là tướng xấu nên sẵn con dao gần đấy nàng mới cầm lên để cắt sợi râu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nào dè khi vừa đưa con dao lên gần cằm thì Thiện Sĩ thức giấc dậy, thấy vậy hoảnng hốt la lên là nàng định giết mình. Thế rồi cơ sự xảy ra rất là oan nghiệt, nàng Thị Kính bị nghi là toan giết chồng. Cho nên trong bài thơ kể sự tích có mấy câu:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Ngán thay chữa dép vườn dưa</I><SUP><B>(11)</B></SUP>
<I>Dẫu ngay đến chết cũng ngờ rằng oan
Thất thần chưa kịp hỏi han
Một lời la lối rằng "toan giết người".</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cha mẹ Thiện Sĩ nghe tiếng kêu mới vộ vàng thức dậy, chạy qua phòng của hai người, thấy vậy mới buộc cho Thị kính tội mưu toan giết chồng vì muốn ngoại tình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thị Kính thưa lại mọi chi tiết về việc này, nhưng hai ông bà họ Sùng vẫn không tin, chỉ một mực khăng khăng buộc tội, chàng Thiện Sĩ thì im lặng không nói một lời có vẻ cũng nghi ngờ như thế.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc ấy, nàng Thị Kính mới thốt ra những lời thật là chua xót:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Há rằng có phụ tình đâu
Muôn trông xét đến tình đầu kẻo oan
Thác đi phỏng lại sinh hoàn
Thời đem lá phổi, buồng gan giải bày</I><SUP><B>(12)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói thế nào cũng không được, nàng đành chịu hàm oan, rồi hai ông bà họ Sùng mới tức khắc sai người qua mời Mãng ông và trách rằng sao không dạy con gái để nó tư tình với người khác và mưu toan giết chồng, rồi liền bảo với Mãng ông rằng:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Sự này mười mắt đều trông
Thôi đừng tra hỏi gạn gùng nữa chi
Nghe anh nào có bụng gì
Đem về dạy lấy sao thì mặc anh.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mãng ông thấy sư tình vậy, chẳng biết nói ra làm sao, đành nghẹn ngào nhận lãnh con về với một tâm trạng thật là ngao ngán:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Nước trong bát đã rời tay
Có còn bốc lại cho đầy được chăng?
Mưa tan mây cuốn nửa chừng</I><SUP><B>(13)</B></SUP>
<I>Rộng dung dạy thế xin vâng lãnh về
Lờn bơn chịu trót một bề</I><SUP><B>(14)</B></SUP>
<I>Quản làm sao được kẻ chê người cười.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thế rồi Mãng ông bảo Thị Kính ra lạy cha mẹ chồng rồi lạy chồng để trở về nhà mình.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">c. <B>Thị Kính trở về nhà mình và có ý định đi tu</B> (Từ câu 195 đến câu 292):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cái phút chia tay với nhà chồng và người bạn đời - tưởng có thể là bạn trăm năm - thật là xót xa áo não, chẳng biết nói sao cho xiết sự buồn bã âu sầu của người vợ vẫn một mực thương yêu kính nể người chồng, mà chỉ vì một chuyện rất nhỏ bị mang tiếng hàm oan, phải rứt áo ra đi trở về nhà mình:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Như tuôn giọt lệ dòng dòng
Ngậm hơi thổn thức giải lòng sau xưa:
Kể từ kim cải duyên ưa</I><SUP><B>(15)</B></SUP>
<I>Dây leo cây bách mong nhờ về sau</I><SUP><B>(16)</B></SUP>
<I>Dầu ai phụ bạc cùng nhau
Dã thần ba thước trên đầu chứng tri</I><SUP><B>(17)</B></SUP>
<I>Vì đâu phút hợp, phút ly
Kiếp này đã lỡ mong gì kiếp sau.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi trở về gia đình, nàng Thị Kính nghĩ lại sự việc đã qua thấy thân phận của mình duyên kiếp lỡ làng như vậy, lấy làm chán ngán cho kiếp nhân sinh, mặc dầu còn tiếc phận tủi duyên; còn chàng Thiện Sĩ thì nghĩ cũng hối hận, nhưng chuyện đã lỡ rồi không biết làm sao, cho nên:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Lòng chàng nghĩ lại bồi hồi
Trước tuy còn giận sau rồi lại thương.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn nàng Thị Kính thì tuy vẫn thấy tình cảnh ly biệt chia loan rẽ phượng cũng là một điều đau xót thương tâm, nhưng đó là đối với tư tưởng thường tình của người đời, chứ đối với người đã liễu ngộ cái lý thuận duyên, nghịch duyên của nhà Phật rồi thì nghịch với trần ai, tức là thuận với chánh pháp. Cái mùi đời cay đắng điên đảo như thế, nếu người có đủ căn cơ, gặp hoàn cảnh ấy, thì cũng là một duyên may cho họ để ngược dòng sanh tử mà quay trở về với dòng thánh đạo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nàng Thị Kính lâm vào hoàn cảnh như vậy cũng muốn xuất gia tu hành cho xong, nhưng vẫncòn đắn đo vì còn thương tình cha mẹ già yếu mà chỉ có một mình nàng là con gái thôi, cho nên:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Tủi vì phận liễu một cành</I><SUP><B>(18)</B></SUP>
<I>Liều đi thì bỏ mối tình cậy ai?
Phòng riêng vò võ hôm mai
Trông ngày đằng đẵng lại dài hơn năm.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng rồi ở nhà thì khi ra lúc vào thấy cha mẹ luôn luôn phiền muộn âu sầu, nàng cũng không nguôi hận an tâm được, mối phiền não lại dày vò tâm trí của nàng, ngày đêm làm cho nàng thao thức chẳng biết giải quyết ra làm sao! Còn nếu thưa với cha mẹ để xin đi tu thì sợ cha mẹ thương con chẳng nỡ chấp thuận.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quanh quẩn mãi trong đầu óc ý nghĩ xuất gia lìa tục, nàng mới nghĩ:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Có khi dốc chí tu hành
Lánh miền trần tục nương mình thiền môn
Độ trì nhờ đức Thế Tôn
Nhỡ nhàng thuở trước vuông tròn mai sau.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thế rồi một đêm kia, nàng cải dạng nam trang trốn nhà ra đi:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Quần chân, áo chít dịu dàng
Giả hình nam tử ai tường căn nguyên.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi Thị Kính trốn nhà ra đi rồi thì hai ông bà Mãng ông rất âu sầu áo não, không biết hỏi ai, không được biết tin tức gì về con, lại cứ nghi ngờ không biết con còn sống hay không nữa!
<p style="padding-left: 30px;"><I>Bây giờ đôi ngã Bắc Nam
Biết còn quanh quẩn cõi phàm hay không?
Nghìn năm nghiêng lỡ non đồng
Biết còn ứng tiếng lạc chung đó là</I><SUP><B>(19)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Chín kiếp: <I>Người ta cho rằng nàng Thị Kính đã tu đạo Bồ tát từ ngôi sơ địa đến ngôi thập địa, tất cả là mười ngôi; đến ngôi Thập địa mới sạch hết vô minh, sang ngôi đẳng giác, diệu giác mà lên ngôi Phật. Nay đến kiếp thứ chín, còn phải tu một kiếp nữa mới lên ngôi thứ mười (Thập địa Bồ tát).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) Tác ý: <I>Tạo nên nghiệp bằng ý. Có ba cách tạo nghiệp: một là bằng ý, hai là bằng lời, ba là bằng thân, tức là bằng hành động.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đối với người tu hành đã lên bậc cao thì tác ý cũng là thành nghiệp, tức là mong khởi ý xấu, tốt gì ra cũng gây nên nghiệp quả rồi, xấu thì ra quả xấu, tốt thì ra quả tốt. Cho nên người tu hành phải luôn luôn giữ cho thân, khẩu, ý thanh tịnh, tức là tam nghiệp thanh tịnh vậy.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(3) Nước Cao Ly: <I>Tức là nước Triều Tiên, Cao ly ngày xưa chỉ là một bộ phận của Triều Tiên, cuối đời Đường (618-907). Đời vua Cao Tôn (650-684), bình tây Đột Quyết, lấy nước Bách Tế (tức là bán đảo Triều Tiên lúc ấy gồm ba nước là Cao Câu Ly, Bách Tế và Tân La - nay là đạo Trung Thành, nước Triều Tiên) đánh phục thuộc được Tân La (nay là đạo Tân La, nước Triều Tiên) - (Trung Quốc Lược Sử, Phan Khoang, nhà in Mai Lĩnh, Hà Nội, 1943). Cao Ly thống nhất được nước Triều Tiên nên nay thường gọi Triều Tiên là nước Cao Ly (Corée), (Hán Việt Từ Điển, Đào Duy Anh, 1957).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(4) Công, dung, ngôn, hạnh: <I>Đó là tứ đức (bốnđức) của người con gái theo quan niệm Nho học: công là nữ công, dung là dáng dấp, ngôn là nói năng, hạnh là nết na.</I> <P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(5) Quan thư: <I>Trong Kinh Thi - một bộ kinh trong Ngũ Kinh của Nho giáo (Kinh Dịch, Kinh Thi, Kinh Thư, Kinh Lễ, Kinh Xuân Thu)- Trung Hoa, chép những bài cao dao, thi văn đời xưa của Tàu, có bài:
<p style="padding-left: 30px;">Quan quan thư cưu
Tại hà chi châu
Yểu điệu thục nữ
Quân tử hảo cầu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bài thơ này ca tụng quân tử thục nữ lấy nhau nhân duyên tốt đẹp.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(6) Thế phiệt trâm anh: <I><U>Thế phiệt</U>: con nhà dòng giống, tổ tiên cha ông, đời đời có công lao, hoặc đời trước có chức tước, mà đời sau được thừa tập, (Hán Việt Từ Điển, Đào Duy Anh).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><U>Trâm anh</U>: Trâm: cái trâm cài đầu; anh: giải mũ. Do câu thơ của Lý bạch: "Kinh quốc hội trâm anh", nghĩa là: kinh đô chỗ các quan hội, nghĩa bóng nói nhà sang trọng quan tước (Thành ngữ điển tích, Trịnh Văn Thanh, Tập II).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(7) Sợi tơ hồng: <I>Do tích ngày xưa Trương Gia Trinh bảo năm người con gái, mỗi người cầm một sợi tơ đỏ ngồi sau màn để cho Đặng Nguyên Chấn đứng ngoài rút, hễ trúng sợi tơ hồng của cô nào thì gả cho cô ấy (ghi chú dưới trang 16 của cuốn Quan Âm Thị Kính - Thiều Chửu).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(8) Năm lễ: <I>Lễ cưới xin ngày xưa có năm lễ:
<p style="padding-left: 30px;">1. Dạm ngõ.
2. Chạ mặt.
3. Ăn hỏi.
4. Dẫn cưới.
5. Rước dâu. (Ghi chú dưới trang 20. Quan Âm Thị Kính, Thiều Chửu).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(9) Tăng Do: <I>Một người thợ vẽ có tiếng đời xưa bên Trung Hoa. (Ghi chú trang 21, Quan Âm Thị Kính, Thiều Chửu)</I>.<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(10) Thang mây: <I>Do chữ Vân thê (vân: mây, thê: thang). Một cái thang rất cao. Công du Bang làm cái thang rất cao để quan nước Sở dùng leo vào thành nước Tống. Cái thang ấy tên gọi là Vân thê, Về sau chữ vân thê dùng để nói về việc leo cao, hoặc dùng theo nghĩa bóng, để nói về thi đậu (Thành ngữ điển tích, Trịnh Văn Thanh).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(11) Chữa dép vườn dưa: <I>Đi qua ruộng dưa, dép hỏng cúi xuống chữa dép. Sự thực như thế mà người canh dưa lại buộc tội là lấy trộm dưa. Đây ý nói Thị Kính không có ý giết chồng, chỉ muốn cắt râu mọc ngược cho chồng mà lại bị ngờ là giết chồng (Ghi chú trang 21, Quan Âm Thị kính, Thiều Chửu).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(12): <I>Ý nói là dù cho có chết đi sống lại thì cũng nói sự thực như phơi gan, vạch phổi cho xem vậy (Ghi chú trang 25, Quan Âm Thị kính, Thiều Chửu).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(13) Mây tan mưa cuốn: <I>Nói vợ chồng ly dị nhau, như mây đang mù bỗng tan, mưa đang dồn bỗng cuốn lại (Ghi chú trang 227, Quan Âm Thị kính, Thiều Chửu).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(14) Lờn bơn: <I>Con cá mình dẹp, chỉ nằm một bề. Đây ý nói gặp sự đuối lý thì đành phải chịu vậy (Ghi chú trang 28, Quan Âm Thị kính, Thiều Chửu).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(15) Kim cải duyên ưa: <I>Đá nam châm bắt kim, hổ phách hút hạt cải, đây mượn ý nói tình nghĩa vợ chồng quấn quít nhau (Ghi chú trang 29, Quan Âm Thị kính, Thiều Chửu).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(16) Dây leo cây bách: <I>Cây bách là một thứ cây mùa đông không tàn. Đây nói nhờ chồng che chở cho cũng như dây leo nhờ có cây bách (Ghi chú trang 29, Quan Âm Thị kính, Thiều Chửu).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(17) Dã thần chứng tri: <I>Ý nói quỉ thần trị tội gian dối, ở gần ta như cách trên đầu ba thước vậy.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(18) Phận liễu một cành: <I>Do chữ liễu bồ. Cây liễu và cây bồ, hai loại cây này rất yếu ớt và mảnh mai, nên người ta thường ví đàn bà con gái như liễu bồ. Đây ý nói chỉ có một mình là con gái.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(19) Lạc chung: <I>Chuông Lạc Dương. Sách có câu nói: Non Đồng lở thì chuông Lạc Dương kêu. Ý nói những người giống tính tình nhau thường tìm gặp nhau, cảm ứng với nhau, hoặc là cha mẹ mất thì con ở xa cũng động lòng thương tiếc, hay ngược lại. (Thành ngữ điển tích, Trịnh Văn Thanh).</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) <B>CUỘC ĐỜI XUẤT GIA CỦA THỊ KÍNH</B>
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">a. <B>Thị Kính tìm đến chùa Vân Tự xin xuất gia</B> (Từ câu 293 đến 382):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi rời nhà ra đi vào lúc đêm khuya, Thị Kính cứ miệt mài đi mãi, đến sáng ra lang thang chỗ này chỗ khác, cứ hỏi thăm đường để đến một cảnh chùa nào đó. Giữa đường lòng vẫn nhớ tưởng đến cha mẹ, đến bổn phận của mình phải làm sao đền đáp công ơn sanh thành dưỡng dục của song thân, vì trong giáo lý nhà Phật, chữ hiếu là hạnh cao nhất trong hàng tại gia cũng như xuất gia<SUP><B>(20)</B></SUP>. Cho nên tâm tư của Thị Kính cứ luôn luôn hướng về cha mẹ mà nghĩ rằng:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Tưởng ân trời bể mông mênh
Dễ mà đền được ân tình ấy đâu
Tà tà bóng ngã cành dâu
Sớm khuya dưới gối ai hầu hạ thay
Vắng lời khuất mặt lúc này
Lòng người hiếu thảo biết ngày nào nguôi.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi trên đường đi, Thị Kính cứ hỏi thăm lần lần đến được chùa Vân Tự. Cảnh chùa thanh vắng tịch liêu, quang cảnh trang nghiêm thanh tú, xung quanh chùa các cây cối sum suê, cành lá đủ màu sắc, xin tươi tốt như cảnh thần tiên:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Bốn bề phong cảnh lạ thay
Bồng lai kia cũng thế này mà thôi</I><SUP><B>(21)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thị Kính vào chùa thấy trong chánh điện Sư cụ đang ngồi tụng kinh mới đứng đợi cho hết thời kinh rồi mới lên trình diện sư cụ xin xuất gia đầu Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sư cụ mới hỏi sự tình cớ sao thấy dáng người cũng là con nhà phong thể nho gia, mà sao sớm xa lánh nơi đài các phong lưu lại đem thân vào chốn lâm tuyền như vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thị Kính mới thưa lại rằng vì chán cảnh đời éo le, đen tối, chốn trần ai tục lụy, tranh danh đoạt lợi, vọng chấp mê mờ, nên mới tìm đến đây để xin tu hành, hầu diệt trừ phiền não, mong tìm đạo giải thoát cao siêu:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Đoái trông sự thế nực cười
Như đem trò rối mà chơi khác gì
Phù vân một đóa bay đi
Khi thì áo trắng lúc thì muông đen</I><SUP><B>(22)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi tha thiết xin sư cụ từ bi chấp thuận cho nhập vào chùa học đạo, sớm hôm công phu tu tập cho được mãn nguyện tu hành.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sư cụ khen là có chí cao, vì là kẻ nho gia phong thế, mà không nghĩ đến công hầu khanh tướng, lại biết đến hai chữ sắc không mà tìm nơi thoát tục. Sư cụ mới nói thêm về sự vô thường của đời người:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Lấy ai làm nhục, làm vinh
Trăm năm là áng cỏ xanh rì rì
Sao bằng vui thú Liên trì
Rứt không tứ tướng, sá gì nhị biên</I><SUP><B>(23)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sư cụ nhận cho Thị Kính vào tu và đặt tên cho Thị Kính là chú tiểu "Kính Tâm".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ khi được sư cụ chùa Vân Tự cho quy y và tu học tại chùa. Kính Tâm vẫn đều đặn sống một cuộc đời trong sáng cao quý của kẻ tu hành, sớm hôm chăm lo đèn nhang kinh kệ, tham thiền, tĩnh lự, chỉ mong sao quên được nỗi buồn nhớ mẹ thương cha, già nua tuổi tác nơi chốn quê nhà vò võ, không ai săn sóc phụng dưỡng, nhưng vì mong cho đạt đạo thì phải theo con đường đạo, vậy nên:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Này gươm trí huệ mài đây
Bao nhiêu khổ não cắt ngay cho rồi</I><SUP><B>(24)</B></SUP>
<I>Hương xông pháp giới ngùi ngùi
Thông rung tiếng kệ, trúc hồi mõ kinh</I><SUP><B>(25)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng vì Kính Tâm là một phụ nữ nên dáng dấp dung nhan có phần khác với mọi người, nước da trắng hồng, bộ mặt xinh đẹp, dáng vẽ thanh tú cao sang, vì vậy mấy cô thiếu nữ vào chùa thấy chú tiểu Kính Tâm, tưởng rằng con trai nên đều đem lòng yêu mến, rồi:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Ngỡ chàng Phan Nhạc đấy ru</I><SUP><B>(26)</B></SUP>
Ra đâu cũng ném quả cho tiếc gì
Trời sinh tư sắc làm chi
Hơm thơm bước cũng có khi bận lòng.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">b. <B>Thị Mầu gặp Kính Tâm đem lòng yêu mến tương tư và chửa hoang</B> (Từ câu 383 đến câu 490):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong một làng kia, ở gàn chùa Vân Tự, có một gia đình phú ông giàu có lớn không kém gì Thạch Sùng<SUP><B>(27)</B></SUP>, nhà có một người con gái vừa mới đôi tám xuân xanh, tên là Thị Mầu, có nhiều nơi muốn hỏi làm vợ mà chưa chịu lấy ai. Thị Mầu nhân những ngày rằm, mùng một và ngày lễ lớn cũng thường hay lên chùa cúng Phật, thấy chú tiểu Kính Tâm, phong độ tao nhã, dáng người cốt cách thanh tú, mặt mũi trắng trẻo khôi ngô, nên mới đem lòng yêu mến.
<p style="padding-left: 30px;"><I>Liếc trông thấy tiểu dịu dàng
Sóng thu xui khiến cho nàng khát khao</I><SUP><B>(28)</B></SUP>
<I>Người đâu có dáng thanh tao
Bóng hoa dưới nước, vẻ sao trên trời</I><SUP><B>(29)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thị Mầu quá thương yêu Kính Tâm đâm ra say đắm tương tư, lúc nào cũng mơ tưởng được sánh đôi giao tình với Kính Tâm:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Ví không phải kiếp Châu trần</I><SUP><B>(30)</B></SUP>
<I>Thì xin một trận phong vân cũng nhờ</I><SUP><B>(31)</B></SUP>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một hôm kia, vì quá mơ tưởng nguyệt hoa, Thị Mầu mới thất thân với đứa tớ trai trong nhà, sau đó bị mang thai:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Nào ngờ gió thổi mưa bay
Hạt kia gieo đấy đủ ngày thời sinh</I><SUP><B>(32)</B></SUP>
<I>Ba trăng coi đã khác hình
Cơm ăn thì biếng, mùi chanh lại thèm.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cha mẹ Thị Mầu thấy con gái có vẻ khác thường, sinh nghi mới gạn hỏi xem Thị Mầu đã tư tình với ai đến nỗi phải mang thai, và nghĩ rằng sự việc đã như thế này chắc không thể nào dấu được hàng xóm láng giềng và các chức sắc trong làng. Nhưng Thị Mầu vẫn khăng khăng cải chính không có việc gì.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một hôm các chức sắc trong làng rõ biết sự việc mới sai đánh mõ nhóm họp, cho đòi con gái phú ông ngoại tình ra tra hỏi:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Phú ông thấy sự xấu xa
Trở vào tắc lưỡi, trở ra vật mình
Rằng: "Con sinh sự, sự sinh
Há rằng vạ ở trời xanh gieo vào".</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Làng tra hỏi mãi, dọa dẫn đánh đòn và bắt vạ nếu không khai thực, rốt cùng Thị Mầu đành phải vu oan cho Kính Tâm là người tình đã cùng mình trao đổi ái ân vụng trộm nên mới xảy ra sự việc:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Xưa nay ở chốn thâm khuê
Dù ong hay bướm chưa hề biết ai
Phải khi lên chốn thuyền trai</I><SUP><B>(33)</B></SUP>
<I>Kính Tâm tiểu ấy gặp ngoài sau bia
Quá yêu trót đã nguyện thề
Nhụy hoa phó mặc bướm kia ra vào
Dù nên cầu bắc gởi trao
Nhờ làng ơn ấy đời nào dám quên.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">c. <B>Thị Mầu vu oan cho Kính Tâm và Kính Tâm chịu tiếng oan tư sinh, bị phạm giới tà dâm</B> (Từ câu 491 đến câu 586):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thị Mầu tưởng rằng khai ra như vậy thì làng sẽ bắt chú tiểu Kính Tâm phải hoàn tục để kết duyên cùng Thị Mầu, nhưng sự việc lại xảy ra theo lối khác.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Làng liền cho đòi Sư cụ và chú tiểu Kính Tâm ra để hỏi han sự tình. Sư cụ đi ra trình làng, lòng những phân vân, không biết sự thể ra sao, đến khi nghe làng bảo Thị Mầu khai cho Kính Tâm tư tình với nàng để đến nỗi nàng phải mang thai thì Sư sụ mới giật mình sững sờ, không rõ đâu là thực, đâu là hư.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về phần Kính Tâm thấy nỗi oan ức của mình thì lòng ngao ngán, nghĩ thầm: "Ta đã quyết chí tu hành nên mới cải dạng nam trang cho dễ trốn nhà và cũng dễ xin vào chùa để tu hành, nhưng không ngờ ngày nay vì cái dạng nam nhi này mà phải mắc họa. Nếu nay khai thực ra rằng ta là con gái thì làng lại bắt phạt vạ ta đánh lừa thiên hạ, mà Sư cụ lại không nhận cho tu học nữa. Vậy thì ta cứ một mực cải chính đi, nhưng không đi đến việc chứng tỏ rõ ràng minh bạch rằng điều này là vô lý (vì ta là phụ nữ)".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thôi thì:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Trước sau nông nổi gót đầu
Rằng: "Câu không sắc dễ hầu dám sai
Như còn bận dạ trần ai
Thời xin có đức Như Lai trên đầu.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng cải chính chối bỏ tội lệ mấy cũng không được vì làng bảo rằng Thị Mầu đã thưa một mực trước sau rành rành, vậy thì không có oan tình gì đâu, nếu cứ sự thực mà trình thưa thì làng sẽ xin Sư cụ cho hoàn tục rồi kếp hợp với Thị Mầu mà lập nên đường gia thất, vì Phật kia là tại tâm chứ Phật đâu có cấm đường tình duyên ân ái nam nữ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng Kính Tâm vẫn một mực cải chính chối tội, làm cho làng phải đưa ra hình phạt đánh đòn:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Nói sao cũng cứ chi chi
Thằng roi, đứa nọc tức thì truyền mau
Làm cho chín khúc cũng đau</I><SUP><B>(34)</B></SUP>
<I>Đào nhăn nhó mặt, liễu cau cớn mày
Hải đường gặp trận gió tây
Lá rung lay láng, hoa bay tơi bời</I><SUP><B>(35)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sư cụ thấy Kính Tâm bị đòn đau quá, mà để lâu chắc Kính Tâm sẽ bị nguy khốn hơn nữa, nên Sư cụ mới cất lời van xin với làng xin tha cho Kính Tâm, để Sư cụ đem về dạy dỗ lại:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Thưa rằng: "Làm phúc còn hơn
Mở lòng Bồ tát dẹp cơn lôi đình
Khoán làng xin nộp phân minh
Dại khôn xin hãy thứ tình một phen".</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Làng mới nể lòng Sư cụ, và nghe những lời đạo đức nói ra nên tha cho Kính Tâm, nhưng chú tiểu bị oan ức vẫn hoàn toàn chịu tiếng hàm oan, rồi Kính Tâm bèn lủi thủi đi theo Sư cụ về chùa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về đến chùa, Sư cụ mới lân la nói rõ rằng: "Bây giờ con đã mắc tiếng chê bai dè bỉu của miệng thế, vậy tốt hơn là con không nên ở trong chùa, mà phải ra ngoài tam quan ở, để thầy khỏi phải chịu tiếng thị phi. Nếu thực mà con bị oan thì cũng nên làm ngơ, kẻo buồn mãi thì phiền não nó làm chướng ngại cho đường tu!"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kính Tâm vâng lời Sư cụ bèn ra ngoài tam quan ở, thật là oan nghiệt đắng cay, nỗi oan tình dày vò đáo để, chú tiểu Kính Tâm lấy làm xót xa tủi hổ cho thân phận mình vô cùng:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Nương mình bên cụm cúc hoa
Một hai cội cúc, năm ba khóm tùng
Gương bạch nguyệt, quạt thanh phong
Cười cùng thiếu nữ, bạn cùng thuyền quyên</I><SUP><B>(36)</B></SUP>
<I>Lấy chi làm chuyện giải phiền
Quyển kinh trăm lá, ngọn đèn một hoa</I><SUP><B>(37)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong cơn khổ đau phiền muộn. Thị Kính (Kính Tâm) mới nghĩ đến quê nhà, nhớ tưởng thương cho cha mẹ mình, chỉ có một mình mình là con gái, rồi nghĩ tủi cho thân phận long đong của mình, chưa đền đáp được công ơn gì cho cha mẹ, mà lại mắc phải những oan nghiệt cay đắng trăm phần tủi nhục cho lao đao, lại phải chịu hai lần tiếng hàm oan, miệng đời chê bai, nguyền rủa, thị phi, làm mang tiếng cho cha mẹ, xấu hổ cho tông môn, quyến thuộc, nàng nghĩ rằng nghiệp báo của mình chắc là sâu nặng lắm:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Tiền sinh nghiệp chướng có dầy
Cho nên trời bắt đem đày nhân gian
Mắt phàm khôn tỏ ngay gian
Hai phen đem buộc tiếng oan tày trời.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng rồi lại nghĩ sâu xa thêm nữa thì đã là người tu hành phải nên nhẫn nhục, cam chị những điều khổ ải đau thương, vì trong các hạnh lục độ của Phật dạy thì nhẫn nhục là một trong sáu hạnh lớn của Bồ tát, cho nên đối với Thị Mầu đã là người vu oan cho mình, Thị Kính cũng nén lòng mà tha thứ, xóa bỏ hận thù:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Sá thù chi đứa dâm ô
Nước tùy duyên rửa đi cho kẻo mà</I><SUP><B>(38)</B></SUP>
<I>Chữ rằng nhẫn nhục nhiệm hòa</I><SUP><B>(39)</B></SUP>
<I>Nhẫn điều khó nhẫn mới là chân tu.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">d. <B>Thị Kính (Kính Tâm) nuôi con của Thị Mầu</B> (Từ câu 587 đến câu 648):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mấy tháng sau, Thị Mầu đến ngày sanh, sinh được một đứa con trai, phú ông mới tính chuyện không muốn giữ đứa con Thị Mầu trong gia đình (vì con gái mình làm bêu xấu cho họ hàng, tông môn), lại muốn tránh tiếng thị phi nên bảo Thị Mầu: "Con ai thì trả lại cho người ấy".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mặc dầu thương con. Thị Mầu cũng không dám giữ con lại để nuôi nấng, bèn lén đem ra trả con lại cho Kính Tâm. Thị Mầu bế con ra gần cổng tam quan, bỏ con xuống mái hiên, nơi Kính Tâm đang tụng niệm và nói với Kính Tâm rằng: "Trả con đấy", rồi nguây nguẩy vội vã quay gót trở về nhà một mạch. Kính Tâm chẳng kịp nói lời nào.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sự kiện thật mau chóng đến nỗi Kính Tâm phải ngỡ ngàng, ngơ ngác, nghĩ rằng Thị Mầu thật là một người đàn bà mặt dạn mày dầy, chẳng biết xấu hổ, dám đem con ra làm cách trao trả để bêu xấu mình, nhưng Kinh Tâm sẵn có lòng từ bi không nỡ để đứa trẻ còn măng sữa bị bơ vơ lạc lõng, không ai nuôi nấng, nên đành chịu tiếng xấu mà chăm sóc đứa bé:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Nhưng thời trong dạ hiếu sinh
Phúc thời làm phúc, dơ đành chịu dơ
Cá trong vại nước sởn sơ</I><SUP><B>(40)</B></SUP>
<I>Thời nay chẳng cứu còn chờ khi nao
Chẳng sinh cũng chịu cù lao
Xót tình măng sữa, nưng vào trong tay.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Không ngờ cách xử sự như vậy lại làm cho Sư cụ cũng hiểu lầm mà nghi cho Kính Tâm đã làm điều bất chính, vì nếu con người khác, tại sao Kính Tâm lại nhận nuôi con cho Thị Mầu:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Nếu như khác máu du thì
Con ai mặc nấy can gì đa mang.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kính Tâm biết vậy mới bạch lại với Sư cụ rằng:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Bạch rằng: "Muôn đội thầy thương
Xưa nay thầy dạy mọi đường nhỏ to
Dẫu xây chín đợt phù đồ</I><SUP><B>(41)</B></SUP>
<I>Sao bằng làm phúc cứu cho một người
Vậy nên con phải vâng lời
Mệnh người không lấy làm chơi mà liều</I></I><SUP><B>(42)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sư cụ nghe Kính Tâm phân trần như vậy cũng cho rằng Kính Tâm rất có từ tâm nên mới hy sinh danh dự, thân thế mình để chịu nuôi con của Thị Mầu vất vả khó nhọc:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Nâng niu xiết nỗi truân chuyên
Nhai cơm mớm sữa để nên con người
Đến đâu ai cũng chê cười
Tiểu kia tu có trót đời được đâu.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thật là mỉa mai cay đắng cho thế sự, chú tiểu Kính Tâm nghĩ rằng đời mình thật là khổ cực truân chuyên, cái thân đã vất vả, mà cái tâm cũng không được thanh thản, thoải mái vì cũng phải mang tiếng tu mà còn làm chuyện tà dâm bất chính với con gái người ta, điều đó thật vô cùng xót xa tủi hổ cho một người xuất gia tu hành, đã bao lâu cố giữ gìn giới hạnh tinh nghiêm. Nhưng đã là người tu sĩ xuất gia, là trưởng tử của Như Lai thì phải nhẫn điều khó nhẫn, hy sinh điều khó hy sinh để thực hành vạn hạnh, nên Kính Tâm cam chịu lấy khổ làm vui:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Ra công nuôi hộ thực là
Những buồn, có trẻ hóa ra đỡ buồn
Khi trống dục, lúc chuông dồn
Tiếng chuông lẫn tiếng ru con tối ngày.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(20): <I>Xưa có một đệ tử hỏi Phật rằng: "Sau khi Phật tịch rồi, ngài Di Lặc chưa ra đời, thì ai là Phật hiện tại?" Phạt dạy: "Cha mẹ là Phật hiện tại". Lại khi Phật mới thành Phật, chế giới luật Địa thừa Bồ tát, điều cốt yếu nhất là: "Phải hiếu thuận cha mẹ, sư tăng Tam Bảo! Hiếu là cái pháp thứ nhất tới đạo chí thiện, cho nên gọi hiếu là giới". Cứ xem kinh và luật của Phật, thì biết chữ hiếu đối với nhà Phật được tôn trọng thứ nhất vậy (Trang 49, Quan Âm Thị Kính, Thiều Chửu).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(21) Bồng Lai: <I>Tên một hòn đảo trong Bột Hải, tương truyền có tiên ở. Trong Bột Hải có ba non thần: Bồng Lai, Phương Trượng và Doanh Châu. Xung quanh ba đảo này bao bọc một biển nước rất yếu gọi là nước Nhược (Nhược thủy). Cho nên người ta thường chỉ non tiên ở bằng chữ Non Bông Nước Nhược. Cảnh Bồng lai là một cảnh đẹp, tương truyền nhà cửa toàn bằng vàng bạc (Tầm Nguyên Từ Điển - Bửu Kế).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(22) Phù vân áo trắng muông đen: <I>Ý nói sự đởi thay đổi bất thường như đám mây nổi trên trời, lúc thì hình như tấm áo trắng, lúc thì hình như con muông đen.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(23) Tứ tướng nhị biên:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <I>Tứ tướng có ba phương diện:
1. Sanh, lão, bệnh, tử: bốn tướng khổ của loài người.
2. Sanh, trụ, dị, diệt: bốn tướng chuyển biến của muôn sự muôn vật.
3. Ngã, nhân, chúng sanh, thọ giả: bốn tướng của kẻ chấp hư giả mà không rõ chân như thật tướng.<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nhị biên cũng có ba phương diện:
<p style="padding-left: 30px;">1. Hữu, vô: có và không.
2. Thường, đoạn: còn và mất.
3. Sanh, tử: sanh ra và chết đi.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(24) Gươm trí tuệ: <I>Người ta ngu mê, bị cái dây thương yêu, ân ái trói chằng nên sinh ra lắm nỗi khổ não, nếu có cái trí huệ sáng suốt, soi tỏ được đó là giả dối vô thường thì không vướng mắc nữa, cũng như thanh gươm bén chém đứt dây xiềng vậy.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(25): <I>Đây là ý nói cái cảnh thiên nhiên trong chùa, tiếng tụng kinh, đọc kệ xen lẫn với tiếng thông reo, trúc động, như nhịp nhàng với tiếng trống và mõ vậy.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(26): <I>Ý nói Kính Tâm đẹp như chàng Phan Nhạc - một chàng thư sinh học giỏi và đẹp trai đời Tấn (tên thật là Phan An, cũng gọi là Phan Lang). Anh chàng này đẹp trai nổi tiếng, khi ra đường con gái tranh nhau ném hoa quả đầy xe (Thành ngữ điển tích, Trịnh Văn Thanh).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(27) Thạch Sùng: <I>Tự Quý Luân, người Nam Bì đời Tấn. Làm Thứ sử Kinh Châu, sau đổi làm Vệ Úy, nhờ sai khiến khách hàng hải mà làm giàu lớn. Cất "Kim Cốc Biệt Thự, cùng với bọn Vương Khải kết bạn, chuộng sự xa xỉ. Nhà có người thiếp đẹp tên Lục Châu. Tứ muốn được Lục Châu nên đến cầu với Sùng. Song Lục Châu không chịu, nhảy lần tự vận. Tứ giận, dèm pha với Triệu Vương Luân, nên Thạch Sùng bị giết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tương truyền, Thạch Sùng sau khi bị hại, chết hóa ra con thằn lằn. Vì tiếc của nên chắt lưỡi mãi. Có bản chép rằng Thạch Sùng đấu giàu với Vương Khải, vì thua trí mà chết. Nay người ta cũng thường gọi con thằn lằn là con Thạch Sùng.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(28) Sóng thu: <I>Ý nói mắt đa tình, nhìn như có nước lóng lánh trong guồng mắt, như sóng gợn mùa thu.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(29): <I>Tả cái vẻ đẹp như hoa hồng bóng nước, như sao lấp lánh trên trời - Tục ngữ thường nói: "Đẹp như sao băng" là thế.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(30) Châu Trần: <I>Họ Châu, họ Trần đời đời dâu gia với nhau.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(31): <I>Ý nói dù chẳng được lấy nhau làm vợ chồng thì cũng muốn giao tình ái ân với nhau một phen.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(32): <I>Đây là ý nói Thị Mầu đã lỡ ăn nằm với đứa ở thành chửa hoang, như hạt đã gieo thì cây mọc.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(33) Thuyền trai: <I>Cũng gọi là thiền trai, là cái phòng thanh tịnh trong chùa.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(34) Chín khúc: <I>Do chữ "cữu hồi tràng", ý nói sự đau đớn đến nỗi một quặn làm chín khúc. Người ta cũng thường nói: "Ruột đau chín chìu".</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(35): <I>Ý nói Kính Tâm bị đòn đau quá, như cây bị đạp rung lá, hoa bị đánh bay lả tả.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(36): <I>Ý nói cười với trăng trong, bạn cùng gió mát như làm bạn và chơi với thiếu nữ.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(37): <I>Trước kia, các kinh đều viết trên lá bối; và ngọn đèn leo lét như một nén hương.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(38): <I>Ý nói phải tùy theo nghiệp duyên chẳng hề oán trách, vì đã không chấp trước thì còn đâu là ác nghiệp.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(39) Nhẫn nhục nhiệm hòa: <I>Nhịn nhục cho được vui hòa. Nhẫn đến không thấy có sự kia là nhục, có mình là người chịu nhẫn nữa, thì mới đạt được vô sinh nhẫn, mới là chân tu (ghi chú trang 70, Quan Âm Thị Kính, Thiều Chửu).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(40) Sởn sơ: <I>Vui vẻ, ý nói trẻ con có người săn sóc như cá có nước, mất người săn sóc như cá mất nước.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(41) Phù đồ: <I>Tên một cái tháp trog nhà chùa để thờ Phật hay chùa tháp. Tháp này có bảy hay chín tầng. Ở bên Trung Hoa, tại Nam Kinh ngày trước có xây một cái tháp gọi là phù đồ, cao đến bảy tầng kiến túc bằng sứ. Di tích đó ngày nay vẫn còn. Trung Hoa dùng làm đài vô tuyến điện (Thành ngữ điển tích của Trịnh Văn thanh).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(42): <I>Với mệnh người, thì không thể bỏ liều không đoái hoài đến.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<CENTER>CHƯƠNG VII
<B>NHỮNG SỰ THỊ HIỆN KHÁC CỦA QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. <B>NHẬN ĐỊNH</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như trước đây đã nói, Quán Thế Âm Bồ tát còn có những danh hiệu khác như Bạch Y Đại Sĩ, Quang Minh Quán Thế Âm, Cao Vương Quán Thế Âm v.v..., cho nên bây giờ, ta hãy tìm hiểu thêm những danh hiệu ấy do đâu mà có?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Có thể là do một sự tích nhỏ mà truyền thuyết lúc xưa để lại, hoặc do hình tướng thị hiện trong một trường hợp nào đó có ghi trong lịch sử, hoặc do một sự trông thấy nhờ thiên nhãn thông của một vị thánh tăng, hay là do một Phật tử nào cảm ứng nằm mộng thấy những hình tướng tương tự mà được những linh nghiệm diệu kỳ mong muốn v.v...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Riêng trong các trường hợp kể lại sau đây thì đã có tài liệu nghiên cứu trong sách để lại do các vị học giả đã có nghiên cứu qua rồi.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">a. <B>Quan Âm áo trắng và Quan Âm áo xanh</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(a) Trong cuốn Tibet Secret (Tây Tạng Huyền Bí - đã có dẫn ở trước), trang 147, có đoạn viết như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Nước Tây Tạng xuất hiện lần đầu tiên trong lịch sử như một vương quốc (vào thế kỷ thứ VII và thứ VIII của kỷ nguyên chúng ta). Những vị vua đầu tiên đều là những người phàm (Bon), sau đó theo truyền thuyết, vị vua Srong-Gampo lấy một công chúa xứ Népal, rồi lấy một vị thục nữ dòng giống vua Trung Hoa: hai vị công chúa ấy đều là Phật tử, và đã cảm hóa người chồng (tức vị vua Tây Tạng) theo đạo của mình. Dù thực hay hư, điều này đã truyền tụng qua nhiều thế kỷ, chứng tỏ cho ta thấy rằng bằng cách này hay cách khác, sự thâm nhập lần lần của đạo Phật qua xứ Tây Tạng trong thời kỳ ấy, và cũng tượng trưng cho hai nguồn văn minh của Tây Tạng: một bên là Ấn Độ, và một bên là Trung Hoa".
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(b) Lại trong cuốn Le Bouddhisme, Son Essence et Son Développement của Edouard Conze (đã có dẫn ở trước), trang 149 có đoạn cũng nói tương tự như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Tara là một tên kết hợp cho một vị công chúa Trung Hoa. Ông vua Tây Tạng Song-Tsen Gampo (chết năm 650) có hai người vương hậu, một là Trung Hoa và một là Népal, hai vị này được người ta đồng hóa với hai vị tiên thánh: đó là Tara Trắng và Tara Xanh (Bạch Y Tara và Thanh Y Tara). Đối với ý thức của người Ấn Độ, đấy là một trường hợp hiện thân thường có do một năng lực tinh thần đã có từ trước. Một vài người Trung Hoa đảo ngược quy trình sự kiện này, trong bản tính duy linh của họ, họ cho rằng hai vị công chúa đó đã được thiên thần hóa ra hai vị Tara, và vị thiên thần Tara là một ngôi cao được suy tôn của những nhân vật lịch sử, không phải là hiện thân của một ý tưởng, mà là một điểm phát xuất thực tại. Trong cái vũ trụ quan của Đại thừa xưa kia, điều nhấn mạnh này trên những điểm nhỏ nhặt của lịch sử nhân loại, dường như hoàn toàn khó hiểu".
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(c) Lại trong tài liệu Le Bouddhisme Au Tibet (Phật giáo tại Tây Tạng - Tạp chí France Asie Présence Du Bouddhisme, số Février-Juin 1959), của Alexandre David Neel, cũng có đoạn như sau (trang 761-762):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Lịch sử Phật giáo Tây Tạng không có trước thế kỷ thứ VIII. Một vài cố gắng để nói về thời kỳ trước đều không thành công. Từ thế kỷ thứ VII, sự kết hôn của vua Srong-Tsan Gampo với công chúa xứ Népal Bhrikuti, và với công chúa xứ Trung Hoa Wang Chen, cả hai người đều là Phật tử thuần thành, đã dánh dấu một sự truyền bá tín ngưỡng mới. Vị vua này đã phái qua Ấn Độ, dưới quyền dẫn đạo của một học giả văn phạm Thon-Mi Sam-Bho-Ta, một phái đoàn có nhiệm vụ tìm cách sách thủ bút (viết tay) và lập ra một thứ chữ viết để dịch những sách này. Một thứ chữ viết đã có hay không trước khi tạo ra, theo hệ thống, thứ lợi khí phiên dịch tiếng Phạn này? Có thể là có? Xứ Tây Tạng trước kia đã có những kiều dân đến từ Vân Nam và từ xứ Miến Điện hiện nay, và chắc là đã biết một loại chữ hợp với thứ chữ của họ".
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(d) Còn trong tài liệu của Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm (đã có dẫn ở trước) thì có đoạn như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Hai vẻ nữ nhi của Avalokitesvara là vẻ dịu dàng gọi là Tara Trắng (Tara Pandavasini) và vẻ dữ tợn gọi là Tara Xanh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai vị vương phi của vua Sronget-san-Po bên Tây Tạng được coi như hiện thân của hai Tara Trắng, Xanh đó.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thuyết khác lại nói Tara Xanh là một công chúa con vua xứ Népal, còn Tara Trắng là một hoàng phi dưới triều vua Đường Thái Tôn bên Trung Quốc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người ta gọi Avalokitesvara là Bạch Y Bồ tát, Tống Tử Nương Nương, hay là Tống Tử Quan Âm "Nương nương" tức là đàn bà, vậy Quan Âm không phải chính là Avalokitesvarra, tức là Tara. Hai chữ Bạch Y địch đúng chữ Phạn "Pandavasini" tức là Áo trắng, vậy Quan Âm là Tara Trắng. Còn hai chữ "Tống Tử" là hình như do sự giảng theo nghĩa đen của chữ Phạn Garblacokahatu ra là "kho tàng của tử cung" (Trésor de la matrice) tức là thế giới của Avalokitesvara. Từ nơi Cực lạc thế giới của đức A Di Đà, Avalokitesvara đã xuống làm một vị vương phi của một vị vua bên Tây Tạng và theo một thuyết khác thì lại làm một hoàng phi đời vua Đường Thái Tôn bên Trung Quốc".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>Nhận định</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Qua bốn tài liệu trên đây, ta có thể nói rằng sự chân xác về hiện hữu trong lịch sử của hai vị vương phi của vua Tây Tạng Srong-Tsan-Gampo là có thực. Còn về việc nói rằng hai vị này là hiện thân của Quán Thế Âm Bồ tát là do nhiều yếu tố sau đây:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">* Nước Tây Tạng được quy về Phật giáo bắt đầu từ khi có hai vị vương phi đó, họ đã làm cho nhà vua quay về với đạo Phật, và có lẽ trong thời kỳ nước đó theo đạo Phật thì do sự hoằng dương Phật pháp, mà dân tình trong nước được tốt đẹp hơn sự cải thiện sinh hoạt chung trong nước về mặt vật chất và tinh thần được phát triển đúng với các đức từ, bi, hỷ, xả. Như vậy là hai vị này xứng đáng là những vị Bồ tát đã cứu độ dân chúng Tây Tạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">* Vẻ đẹp và đạo đức, cách ăn ở cư xử của hai vị vương phi này có thể đã làm cho dân chúng mọi nơi, từ trong nước Tây Tạng cho đến cả ở Ấn Độ, lẫn Trung Hoa, mọi người đều khâm phục, kính nể, sùng bái; và theo tập tục tinh thần của Ấn Độ và Á Châu, những nhân vật nào trong giới vương giả mà có phong độ và những đức tính cao cả, từ bi độ lượng, như hạnh nguyện của đức Quán Thế Âm Bồ tát vậy, thường được xem như là hiện thân của vị Bồ tát ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cho nên hiện nay, ta thường thấy có những kinh sách và hình tượng thường hay mô tả và tạo dựng, đắp vẽ hình tượng Bồ tát Quán Thế Âm có dáng nữ nhân mặc áo trắng hay áo xanh là vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">b. <B>Các vị Đại Lạt Ma bên Tây Tạng</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Xứ Tây Tạng là một xứ mà việc chọn lựa người kế vị người lãnh đạo quốc gia (và cả giáo hội nữa) là một điều kỳ lạ độc nhất trên thế giới.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong cuốn "Tibet Secret" tác giả Fosco Maraini đã cho biết rằng (trang 150):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Đây không phải là một sự kế vị theo tộc họ mà cũng không phải là do bầu cử. Mỗi một lần, sau khi băng hà thì đức Đạt Lai Lật Ma lại tái sanh vào một thân xác khác. Nếu nói rõ ràng hơn, thì không phải có mười bốn vị Đạt Lai cai trị hệ phái Mũ Vàng<SUP><B>(1)</B></SUP>, rồi nước Tây Tạng mà đó chỉ là mười bốn lần thị hiện liên tiếp ở những con người hiện thân cho một vị thánh thần linh thiêng. Đó là đức Quán Thế Âm Bồ tát (Bodhisattva Avalokitesvara, tiếng Tây Tạng là Chen-Re-Zi), hiện thân của sự từ bi nhân ái. Cái thân xác trong căn bản, chỉ là những quần áo người ta mặc vào, cởi ra và vứt đi khi chúng không còn dùng được nữa".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi trong một đoạn sau, tác giả nêu ra sự xuất hiện tái thế của Quán Thế Âm Bồ tát như sau (trang 151):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Người ta thường tưởng rằng, như chúng ta thường hiểu, là khi một vị Đạt Lai Lạt Ma chết (theo lối nói của người Tây Tạng là: "Lên thiên đàng một cách vinh quang với thân xác riêng của ông ta"), tinh thần của đức Quán Thế Âm Bồ tát hiện ra ngay trên thế gian này trong thân xác của một đứa trẻ không thật dúng như vậy. Sự tái sanh của những người thường, thì người ta dự đoán tối đa là trong bốn mươi chín ngày, nhưng trong trường hợp các vị Bồ tát thời gian ấy có thể dài hơn rất nhiều, có khi phải đến hai năm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dù sau thì đến một lúc nào đó, người ta thấy nảy sanh ra một vấn đề khó khăn: tìm ra đứa trẻ mà thân xác là sự tái sanh của vị Bồ tát, người "mà tinh hoa là sự giác ngộ".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi ở một đoạn sau nữa (trang 152) tác giả ghi lại (do ông Charles Bell kể)<SUP><B>(2)</B></SUP>, câu chuyện một người Tây Tạng nói cho ông ta biết:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Trong miền Nam xứ Tây Tạng, có một cái hồ gọi là hồ Cho-Kov-Gye trong đó, theo truyền thuyết, người ta có thể nhìn ra những sự kiện tương lai.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nước trong hồ màu xanh: ông nhìn mặt hồ từ sườn núi, một ngọn gió nổi lên làn nước hồ đổi ra màu trắng. Rồi một làn gió xoáy lốc nổi lên trên mặt nước màu trắng ấy; những cụm mây trắng tụ lại trên làn xoáy lốc ấy; dưới những cụm mây này, ông nhìn thấy các hình ảnh nêu rõ các sự kiện tương lai.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ấy là cách mà vị Lạt Ma quan trọng tại Gyu (một trong những tu viện lại Lhassa - kinh đô xứ Tây Tạng) được phái đi để quan sát mặt hồ với những vị tiến sĩ thần học khác. Hình như đầu tiên, nhóm người này thất vọng, mặt hồ đóng băng, và người ta không thấy gì hết. May thay, gió nổi lên quét sạch tuyết trên mặt băng, và mặt băng trở nên sáng lóng lánh như một tấm gương cho thấy một ngôi nhà gần một cây đào đang nở hoa. Ban đêm, vị Lat Ma Gyu thấy trong mộng một người mẹ đang bồng một đứa con trên tay chừng hai tuổi. Sau đó vài ngày, ông ta đi dọc theo bờ hồ, vị Lạt Ma Gyu nhận thấy gần một ngôi nhà nọ có một cây đào nở hoa (một sự kiện rất lạ kỳ trong mùa ấy): trong nhà ông ta thấy có người mẹ và đứa con mà ông ta đã thấy trong mộng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người ta có thể nói là đã tìm ra được vị Đạt Lai Lạt Ma mới. Nhưng cần phải quan sát cho kỹ hơn: Điều kiện thứ nhất: đứa trẻ phải có trên thân mình nó một vài dấu hiệu đặc biệt, đức Quán Thế Âm Bồ tát thường được biểu hiện với bốn tay; nếu là một sự hiện thân của vị thánh đó, thì đứa trẻ phải có những cục u nổi lên ở xương đòn gánh hay xương bả vai (đứa trẻ này có mang các dấu hiệu đó); chưa hết đâu: hai tai của nó phải dài hơn tai người thường, đó là một dấu hiệu của sự minh triết (hai tai đứa trẻ có đặc tính ấy), sau cùng lòng bàn tay phải có những dấu vằn xoáy ốc (các đầu ngón tay của đứa trẻ có vằn xoáy ốc).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau lại đến lần quan sát thứ hai. Trong nhiều loại cặp đồ vật giống nhau, đứa trẻ phải nhận ra những đồ vật riêng của nó "đã thuộc về nó từ kiếp trước": xâu chuỗi (nga-chung), cái chuông (tril-bre), chiếc lưỡi tầm sét bằng đồng đỏ (Dor-gè), một chiếc khăn tay, một chén uống trà v.v.... Chỉ khi nào đứa trẻ đạt kết quả tốt do những sự thí nghiệm ấy, và sau lần bói quẻ tai Nechung (một tu viện cách Lhassa sáu cây số) mà được công nhận điều này, thì người ta mới công bố sự tìm ra vị Lạt Ma mới, rồi người ta sửa soạn làm lể cho ông này lên ngôi vị".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ở một đoạn sau, tác giả lại kể:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Sự tìm kiếm và phát hiện ra vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 lại diễn tiến một cách khác hẳn. Vào năm 1935, nghĩa là hai năm sau khi vị Đạt Lai Lạt Ma chết<SUP><B>(3)</B></SUP>, sau khi người ta tìm kiếm một thời gian dài mà vô hiệu, thì vị Phụ chánh đại thần cũng đến tại hồ Cho-Kor-Gye để xem xét coi có những hình ảnh gì gợi ý cho ông ta chọn người không, kết quả rất lạ lùng: trong hồ ông ta đọc được ba chữ: A-Ka-Ma. Nhưng sau đó, ông ta nhận ra một tu viện có ba tầng lầu trên có một mái ngói màu vàng chói; ông ta thấy một con đường về phía đông của tu viện, dẫn lên một ngọn đồi trọc có hình một ngôi chùa, trước mặt ngọn đồi, ông ta để ý có một ngôi nhà có những máng xối làm theo một hình thể rất lạ. Ý nghĩa của sự thị nhận này được bàn cãi rất lâu do những bị học giả thần học có tiếng tăm ở Tây Tạng. Người ta kết luận rằng - nhưng còn mơ hồ - sự tái sanh mới được xảy ra ở phía đông Lhassa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong lúc đó, xảy ra một điều kỳ lạ mà những người Tây Tạng cho là rất quan trọng. Ta nên biết rằng, bình thường những người Tây Tạng, sau khi chết thì thân xác được phân ra từng mảnh rồi vất lên trên các ngọn đồi dùng làm bãi tha ma để cho chim chóc và muông thú ăn thịt, nhưng trái lại, đối với những vị Đạt Lai Lạt Ma và những nhân vật đứng hàng đầu, thì người ta ướp xác. Trong khi chờ đợi xây một cái tháp thờ yên vị, thì xác của vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 được đặt vào trong một chiếc ngai tại một phòng ở Potala (một cung điện thờ các vị vua chúa và lãnh đạo tôn giáo cao cấp<SUP><B>(4)</B></SUP>) để cho những người chiêm bái đến Lhassa lễ lạy trong năm mươi chín năm cái thân xác trần tục của Quán Thế Âm Bồ tát. Nhưng trong lúc đó có nhiều vị tu sĩ gác nơi ấy nhận thấy nhiều lần rằng, vào sáng sớm, thân hình và đầu của đức Đạt Lai, trong vị thế bình thường, quay về phía Nam, thì nay lại quay về phía Đông. Người ta mới đưa ra ước thuyết rằng vị Đạt Lai mới sẽ xuất hiện về phía Đông thành Lhassa, và thuyết này được rất nhiều người tin. Sau đó ông Kyi-Tsang, vị trưởng phái đoàn chọn người đi tìm ra được ngôi nhà của đứa trẻ chọn lựa, giống như "ngôi tu viện ba tầng" mà vị Phụ chánh đại thần đã thấy, sau đó ông ta thấy một con đường nhỏ quanh co và ngôi nhà có cái mái kỳ lạ, rồi lại người ta bảo rằng ngôi tu viện này đã dành cho vị hiền triết Kamapa, ông ta mới hiểu rõ ý nghĩa của hai chữ KA và MA mà vị Phụ chánh đại thần đã đọc được ở hồ Cho-Kor-Gye.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trước khi vào ngôi nhà của vị Đạt Lai được cho là đã tìm ra, ông Kyi-Tsang ăn mặc cải trang làm người tôi tớ, khi xuất hiện trước cửa nhà, ông ta thấy một đứa trẻ đang chơi. Đứa trẻ này liền đứng dậy và chạy ra đón ông ta rồi kêu lên: "Lama! Lama!" Rồi việc đầu tiên là đứa trẻ cầm lấy chiếc vòng đeo cổ mà vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 đã dùng. Người ta thấy đó là dấu hiệu điều ước đoán đã gần đúng. Nhưng ông Kyi-Tsang không nói với ai điều đó cả vì ông ta còn muốn có những nghiệm chứng xác đúng tuyệt đối. Vì vậy, trước sự hiện diện của những vị trong phái đoàn tìm kiếm, ông ta đưa cho đứa trẻ - nó chừng ba tuổi - những đồ dùng của vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 và những đồ dùng giả y hệt các đồ thật. Đứa trẻ đã chọn đúng các thứ thật, chỉ còn một chiếc gậy và cây gậy giả giống như thế. Mọi người đều thất kinh khi thấy đứa trẻ lấy cây gậy giả, nhưng nó liền lắc đầu rồi buông ra để nắm lấy chiếc gậy thật rồi cầm chặt luôn không cho ai lấy ra nữa. Lẽ tất nhiên, trên thân mình đứa trẻ người ta đã nhận ra được những dấu hiệu tốt. Thế là vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 đã được tìm ra<SUP><B>(5)</B></SUP>".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>Nhận định</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về sự tin tưởng rằng vị Đạt Lai Lạt Ma của họ (dân Tây Tạng) là Quán Thế Âm Bồ tát hiện thân, không riêng gì trong cuốn "Tibet Secret" (Tây Tạng Huyền Bí) là nói về việc ấy, mà trong các tài liệu khác cũng có nói đến. Trong cuốn Le Bouddhisme, Son Essence et Son Développement (đã dẫn ở trước, trang 73) có nói như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Các du khách thường hay nói rằng các vị hoàng tử ở xứ Mông Cổ hay ở Tây Tạng là những "vị Phật sống" (Bouddha vivants). Đấy là một sự gọi tên sai và nó không diễn tả rõ được tinh thần theo đó thì đức Đạt Lai Lạt Ma được xem như là hiện thân của đức Quán Thế Âm Bồ tát (Bodhisattva Avalokitesvara)"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">* Rồi trong tài liệu "Le Adlai-Lama, Ses Fonction, Ses Associes, Ses Renaissances" số Février-Juin, 1950, từ trang 783-793) - (Đức Đạt Lai lạt Ma, những chức năng, các cận sự viên, những sự tái sanh của ông), có đoạn nói như sau (trang 784):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Sự thật, những chức năng thiết yếu của đức Đạt Lai Lạt Ma không nằm trong sự cầm quyền thế gian, ngay cả về uy tín tinh thần, mặc dù hai điều đó thuộc về ông ta ở mức độ cao nhất, mà những chức năng trước hết của ông ta là đại diện trên thế gian này cho một vị thánh linh trên trời, mà Karunā - sự từ bi hay sự ai mẫn - là đức tính chính yếu vị linh thiêng này, dưới hình thức cá thể, được biết theo tên gọi là Bodhisattva Chenrezig (tên Tây Tạng của Quán Thế Âm Bồ tát) "Vị có một sự quán xét sâu xa", mà thông thường ở Tây phương người ta gọi theo tiếng Phạn là Avalokitesvara; Cherezig là một tên dịch có phần phóng khoáng. Tàu gọi là Kouan-Yin, Nhật là Kwannon và Việt Nam gọi là Kouan-am, biểu thị cái vẻ tương ứng trong truyền thống Viễn đông".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">* Cũng trong tài liệu ở trên trong phần chú thích (từ trang 793-794) tác giả có nêu lên rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Vừa mới đây, sự chú ý này (về đức Đạt Lai Lạt Ma bên Tây Tạng) lại càng tăng lên, sau khi xuất bản cuốn sách hiện nay trở thành nổi tiếng của H. Harrer: Bảy Năm Ở Tây Tạng (Sept années au Tibet). Các hình ảnh mà người ta thấy tả trong ấy về đức Đạt Lai Lạt Ma, người mà tác giả đã quen biết rất thân tình, và cái tư cách của vị ấy mà tác giả đã ca tụng, kính nể, cũng như những hình ảnh bi đát đánh dấu phần sử liệu cuối cùng đã không khỏi gợi lên cho ta một cảm tình nồng hậu".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi trong một đoạn sau, về phần chọn một vi Lạt Ma, tác giả nêu lên:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Một sự minh chứng tương tự, dẫu rằng có khác nhiều, là cách chọn một đứa trẻ ứng viên cho chức vị Lạt Ma, đứa trẻ này phải nhận ra được những đồ ứng khí lễ nghi trước kia đã thuộc về vị Lạt Ma đã qua đời, chẳng hạn như cái chuỗi tràng, cái chuông làm lễ v.v... của ông ta. Những đồ vật này được đặt chung với các vật khác, giống y hệt cái thứ nhất, mà giữa tất cả các đồ vật ấy, đứa trẻ phải chọn lựa".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Và tác giả bảo rằng, trong cuốn sách nói trên của H. Harrer có một đoạn tả sự khám phá ra đức Đạt Lai Lạt Ma hiện nay: "Trong tất cả việc chọn đồ vật như trên, cá nhân của đứa trẻ hoàn toàn bị sai khiến bởi ảnh hưởng tinh thần của vị Lạt Ma quá cố, không những chỉ một cách tượng trưng, mà còn rõ ràng trong sự thực của mỗi hành động".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói tóm lại sự thị hiện của Quán Thế Âm Bồ tát dưới hình tướng các vị Đạt Lai Lạt Ma bên Tây Tạng, mặc dù từ trước đến nay, chúng ta ít biết đến, nhưng theo những tài liệu nghiên cứu về tôn giáo và khảo cổ học của các học giả có tiếng tăm trên thế giới, thì không phải là một việc quá hoang đường như người ta thường nghĩ. Có những sự huyền bí mà cho đến bây giờ người ta mới khám phá ra, và trên cơ sở những chứng nghiệm, minh chứng, và các lập luận về huyền bí học, cổ sử học; đó là các sự kiện mà nhiều nhà khảo cứu trên thế giới hiện đang tìm tòi. Một điều các vị hiền triết thường hay nhắc đến là sự việc nào chúng ta chưa biết, chưa tìm hiểu, chưa hiểu rõ thì một người có trí huệ nên dè dặt trong sự phán đoán của mình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Hệ phái Mũ Vàng: <P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>* Trong cuốn Le Bouddhisme, son Essence et son Développemnt của Edward Conze (đã dân, trang 198), có đoạn nói về các vị sư Mũ Vàng như sau:<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Sau năm 1400 của kỷ nguyên chúng ta, hệ phái ít dùng phù chú nhất, gọi là giáo hội Vàng (Mũ Vàng), vượt lên trên hết nhờ những sự cải tổ của Tsong-Kha-Pa, một số hệ phái Mũ Đỏ thiên về phù chú nhiều hơn - vẫn còn tồn tại và nhóm Knyin-Ma-Pa,tiêu biểu cho Phù chú giáo (Tantra) Tây Tạng, nhớm này đã nhường bước nhiều nhất cho ảnh hưởng của nhóm Bonisme (Tôn giáo cổ truyền của xứ Tây Tạng)".<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">* Trong cuốn Tibet Secret (trang 148), có đoạn nói về sự cải tổ của Giáo đoàn Phật giáo như sau:<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Một thế kỷ trôi qua, và xứ này (Tây Tạng) lại phải trải qua một sự xáo trộn nữa: loạn lạc trong dân gian, sự buông lung phóng túng nói chung trong các tập quán của những tu viện. Chínhdo sự nỗ lực làm việc không mệt mỏi của Tsong-Kha-Pa (1357-1419) làm cho xứ Tây Tạng hưng khởi trở lên và có những đặc tính mà chúng ta thấy như ngày nay; một mặt ông ta cải tổ lại giới luật của các vị sư (bằng cách bắt buộc đời sống độc thân, cử uống rượu và phải ăn chay), và một mặt, ông ta chỉnh đốn lại ngôn ngữ cổ học xưa và giải thích kinh điển. Ông ta cho xây lại một vài tu viện lớn tại Tây Tạng như: Garden, Dere Depung (gần Lhassa) và Tashihumpo (ở Shigatsé), sau cùng ông ta đem lại cho những vị trong giáo hệ Gelug-pa một đường lối chính trực để tiến bước về một tương lai hưng khởi".<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi cũng trong cuốn này, ở những trang 197-198, có đoạn nói như sau:<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Người ta lưu ý rằng những chữ Vạn (Svastikas) chữ thập gấp khúc thông thường hoặc ngược lại là một dấu hiệu xưa mà người Đức đã mượn của Đông phương, và dấu hiện này luôn luôn quay về bên phải là dấu do hệ phái Vàng (Mũ vàng) dùng (nhóm Gelug-pa), còn các hệ phái không cải tổ lại thường dùng chữ Vạn hướng qua bên trái".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">* Còn trong cuốn Les Troisième Oeil (Con mắt thứ ba) của T. Lobsang Ramapa (tên mật của một vị sư Tây Tạng đã qua tị nạn tại Anh quốc sau khi Trung Hoa chiếm Tây Tạng vào năm 1950), có đoạn như sau (trang 183):<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tất cả mọi nhà sư không phải ai cũng độc thân. Những ai cho rằng "ơn lành của sự độc thân" không làm cho tinh thần thuận lợi để mở huệ nhãn tốt hơn thì tựdo gia nhập vào hệ phái "Mũ Đỏ", họ được lấy vợ. Những người này chỉ là một số nhỏ. Trong đời sống tu hành, những vị lãnh đạo thường được chọn lựa trong hệ phái có lời nguyện sống độc thân, những vị sư "Mũ Vàng".</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) Ông Charles Bell (C. A. Bell) : <I>Trong cuốn Les Troisième Oeil (Con mắt thứ ba, đã dẫn ở trên) có đoạn nói như sau (trang 209-310):<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Tôi thấy đã đến lúc thuận tiện để tiếp tục nói đến Chiêm tinh học bằng cách kể ra đại khái tên của ba người Anh Quốc nổi tiếng, họ đã có thể kiểm tra sự chân xác của một lời tiên tri.<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ 1027, tất cả mọi quyết định quan trọng đều được thực hiện tại Tây Tạng nhờ dựa vào khoa Chiêm tinh học, sự xâm lăng của người Anh vào năm 1904 đã được tiên đoán với sự chính xác. Sau đó người ta tìm ra, đối chiếu với một bản sao, lời tiên tri ấy bằng tiếng Tây Tạng. Đây là bản dich của lời tiên tri này:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đến năm con Rồng Gỗ<SUP><B>(*)</B></SUP>. Phần đầu trong năm đức Đạt Lai Lạt Ma được che chở, sau đó những kẻ đạo tặc và hiếu chiến sẽ tiến đến. Kẻ thù rất nhiều, những vũ khí gây nên các thống khổ và dân chúng gặp phải nạn chiến tranh. Vào cuối năm, một vị giảng hòa sẽ đưa đến những kết thúc cuộc chiến.<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lời tiên tri này được đưa ra trước năm 1850 nói đến năm 1904, năm con Rồng Gỗ và Đại tá Younghusband, chỉ huy trưởng lực lượng Anh quốc có thấy bản văn này tại Lhassa.<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm 1902, có một vị tên là M. L. A. Waddell cũng ở trong quân đội Anh quốc đã được thấy lời tiên tri này in ra, cũng như ông M. Charles Bell sau này có nhiệm vụ đến Lhassa. Đây là một vài sự kiện trong nhiều sự kiện khác đã được tiên đoán rất chính xác:<p style="padding-left: 30px;">- 1910, Trung Hoa xâm lăng.
- 1911, Cách mạng Trung Hoa và thành lập chính phu Quốc gia; cuối năm 1911, người Trung Hoa bị đuổi ra khỏi Tây Tạng.
- 1914, Chiến tranh giữa nước Anh và nước Đức.
- 1933, đức Đạt Lai Lạt Ma qua đời.
- 1935, Đức Đạt Lai Lạt ma tái sinh với hiện thân khác.
- 1950, Những lực lượng bất thiện xâm chiếm Tây Tạng (ám chỉ Trung Quốc chiếm Tây Tạng vào tháng 10 năm 1950).<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông M. Bell về sau là tiên sinh Charles Bell, đã được thấy tất cả những lời tiên tri ấy tại Lhassa.</I><P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><SUP><B>(*)</B></SUP> <I>Một lối đặt tên các năm trong lịch Tây Tạng</I>.<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>* Rồi cũng trong cuốn này, ở một đoạn sau (trang 301), sau khi nói về việc đức Đạt Lai Lạt ma tiếp đón ông Charles Bell:<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Chúng tôi được biết trước về ông Charles Bell rất nhiều. Chúng tôi có trong tay những dữ liệu cần thiết, ngày sinh của ông ta, những thành dạt cao nhất trong sự nghiệp của ông, nói tóm lại tất cả những gì cho phép dự đoán tương lai của ông ta. Những vị chiêm tinh gia đã khám phá ra rằng ông ta đã sống ở Tây Tạng trong một kiếp trước, và ông ta đã ước muốn được tái sinh tại Tây phương, trong niềm hy vọng đóng góp vào việc bang giao xích lại gần nhau giữa Đông và Tây. Người ta nói cho tôi biết mới đây rằng chính ông đã nói như vậy ở trong một cuốn sách của ông ta. Chúng tôi tin chắc rằng nếu ông ta có thể ảnh hưởng đến chính phủ của ông (chính phủ Anh quốc) như ông ta muốn thì sẽ không có sự xâm lăng của người Trung Hoa. Nhưng sự xâm lăng này đã được tiên đoán và những lời tiên tri bao giờ cũng được thực hiện"</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(3) Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13: <I>Trong cuốn "Tibet Secret" (Tây Tạng Huyền Bí đã dẫn ở trên) có đoạn nói như sau(trang 149-150):<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Trong suốt thế kỷ thứ XVII và thế kỷ thứ XIX, nước Tây Tạng phụ thuộc chặt chẻ vào Thiên quốc (Trung Hoa) và chức Amban (đại diện) Trung quốc kiểm soát sự thụ phong của mỗi vị Đạt Lai Lạt La. Từ 1805 đến 1874, một loạt bốn vị Đạt Lai Lạt Ma qua đời một cách bí mật trước khi trưởng thành và thực sự nắm quyền cai trị trong chánh phủ. Vị Đạt LaiLạt Ma thứ 13, Tub-Tau-Gyatso (1876-1933) đã may mắn được sống sót và đã trở thành một nhân vật nổi tiếng khác nữa trong lịch sử của Tây Tạng: thật vậy, ông ta đã khéo léo xử sự đối với người Trung Hoa, người Nga và người Anh, và đã biết đem lại cho nước ông một sự độc lập hoàn toàn. Vị Đạt Lai Đạt Ma hiện tại (thứ 14) sinh ngày 6-7-1935, ở miền Đông Tây Tạng; vậy ông ta còn rất trẻ".</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(4) Potala: <I>Trong cuốn "Les Troisième Oeil", có đoạn tả khu Potala như sau (trang 152-153):<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Potala là một quận độc lập xây dựng trên một ngọn núi nhỏ. Chính ở đấy là nơi mà các sự kiện tôn giáo cũng như thế tục của xứ Tây Tạng đều được bàn luận.<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngôi nhà ấy hay đúng hơn là tập thể kiến tạo ấy là trung tâm của xứ sở, là đối tượng của mọi tư tưởng, là nguồn gốc của mọi hy vọng. Trong khu vực vòng thành của nó, trong các ngôi nhà của vị Bảo Tạng (Kho báu) được lưu trữ những thoi vàng, nhiều bọc túi đựng các đá quý và những vật kỳ lạ của thời cổ xưa. Các ngôi nhà xây dựng nên không quá ba trăm năm mươi năm, nhưng chúng đều được làm trên nền của một cung điện thời xưa.<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Xưa kia, có một đài kiểm soát dựng cao trên núi. Núi nay có nguồn gốc của hỏa diệm sơn, đã để lại vết tích trên các sườn của nó, một động đá lớn, từ đó tỏa ra các đường thông thương. Một trong những con đường đó dẫn đến một cái hồ. Chỉ một vài người có đặc ân mới đến được đó ở, hay mới biết có cái hồ ấy".</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(5) Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14: <I>Trong cuốn "Tibet Secret" (trang 155) có nói như sau:<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Vị Đạt Lai Lạt Ma thứ 14, tên thật là Lhamo Dhondup; cái tên khiêm nhường này đã được thay thế bắng một loạt hình dung từ đẹp đẽ: Vị Thiêng Liêng, vị Từ Ái Quang Vinh, Ngôn từ của oai lực, Trí huệ tột mức, Hiền triết toàn mỹ, người nắm vững chủ thuyết, Đại dương (về Hiền đức) v.v...</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">c. <B>Tổ Bồ Đề Đạt Ma</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong cuốn "Sáu Cửa Vào Động Thiếu Thất" (nhà xuất bản An Tiêm - 1971, Saigon, trang 165-166) Chánh Trí ghi lại câu chuyện giữa vua Lương Võ Đế và Tổ Bồ Đề Đạt Ma<SUP><B>(6)</B></SUP> như sau (Bài căn bản pháp của Thiền Đạt Ma):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cử: Lương Võ Đế hỏi đại sư Đạt Ma:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Thế nào là thánh đế đệ nhất nghĩa?" Đạt Ma đáp: "Quách nhiên vô thánh" (Tuyệt nhiên rỗng rang không gì là thánh cả). Đế nói: "Đối mặt trẫm là ai?" Ma đáp: "Không biết".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Võ Đế không khế hợp được, Ma bèn băng sông qua đất Ngụy. Sau Võ Đế đem câu chuyện ấy hỏi Hòa thượng Chí Công <SUP><B>(7)</B></SUP>. Công nói: "Bây giờ bệ hạ biết người ấy là ai chưa?" Đế đáp: "Không biết". Công nói: "Đó là đại sĩ Quan Âm truyền tâm ấn Phật".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đế ăn năn, sai sứ đi thỉnh, nhưng Ma không trở lại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Câu chuyện này nhắc cho ta nhớ đến phẩm Phổ Môn, trong kinh Pháp Hoa nói rằng: Nếu có các chúng sanh ở trong các cõi nước phải dùng thân chư Phật mới độ được người ấy, Bồ tát Quán Thế Âm liền hiện ra thân Phật v.v... hoặc Bích Chi Phật, Thanh văn hoạc Phạm vương, Đế thích v.v... hoặc Tỳ sa môn. Tiểu vương, Tỳ kheo v.v... như vậy, đến 32 loại ứng thân để thuyết pháp cứu độ cho những người ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chẳng những Quán Thế Âm Bồ tát thường thị hiện ra 32 ứng thân mà thôi, mà có thể thị hiện ra nhiều thân khác nữa như trong bài Sám Ngũ Bách Danh, Quán Thế Âm Bồ tát lại có năm trăm danh hiệu và hình tướng để độ thoát chúng sanh nữa. Xem như vậy thì việc Hòa thượng Chí Công nói rằng Tổ Bồ Đề Đạt Ma là hiện thân của Quan Âm Đại sĩ cũng là hợp với lời dạy trong kinh Pháp Hoa.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">d. <B>Những danh hiệu khác của Quán Thế Âm Bồ tát</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như đã nói trong phần Dẫn Nhập của chương VII này, ta biết rằng Quán Thế Âm Bồ tát cón có thêm nhiều danh hiệu nữa, ngoài những danh hiệu thường đọc tụng (như Quan Âm Nam Hải, Quan Âm Đại Sĩ, Quán Tự Tại Bồ tát v.v...), chẳng hạn như Bạch Y Đại Sĩ, Quang Minh Quán Thế Âm, Cao Vương Quán Thế Âm v.v...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nguyên do của các danh hiệu đó là từ những sự tích này:
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(a) <B>Quan Âm Cao Vương</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong Kinh Cao Vương (một bài kinh ngắn nói về sự linh ứng cứu độ của Quán Thế Âm Bồ tát), nơi phần đầu có sự tích như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Xưa ở đời Đông Ngụy, hồi Cao Hoan Quốc vương là đô chủ ở Tương Châu, có ông Tôn Kính Đức, làm quan coi giữ những vật quý của nhà vua. Một hôm ông bị giặc cướp bắt, rồi chúng nó tràn vào lấy các vật báu của nhà vua. Ông bị án, nhà vua sai đem nhốt trong tù để để mà hành hình. Ông ở trong ngục biết rằng thế nào mình cũng sẽ bị chém chết, nên ngày đêm chuyên trì kinh Phổ Môn để cầu cứu đức Quán Thế Âm Bồ tát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng nhiên một hôm nằm mộng thấy một vị Tăng nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Tôi khuyên ông nên trì tụng 1000 lần kinh Cao Vương Quán Thế Âm, thì ông sẽ thoát được sự hành hình". Ông Kinh Đức nói rằng: "Nay tôi ở trong ngục làm thế nào có được bản kinh Cao Vương ấy?" Vị Tăng ấy nói rằng: "Tôi sẽ đem đến cho ông".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngủ thiếp đi trong chốc lát, lúc tỉnh dậy thì thấy mình đã thuộc lòng bản kinh ấy, không sót một chữ. Rồi dốc lòng tụng niệm được 900 lần, thì bản án ra lệnh đem đi hành hình tại đô thị. Ông Kính Đức lấy làm sợ hãi, liền hỏi người dẫn đi rằng: "Từ đây về tới đô thị còn xa nữa không?: Người kia hỏi lại: "Hỏi như vậy để làm gì?" Ông Kính Đức nói: "Ban đêm tôi nằm mộng thấy một vị Tăng bảo tôi tụng 1000 lần kinh Cao Vương Quán Thế Âm thì được thoát nạn chết này. Nay tôi còn thiếu 100 lần nữa, xin ông cho tôi đi thong thả giữa đường, tôi vừa đi vừa trì niệm cho đủ 1000 lần".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vừa trì tụng xong đủ 1000 lần thì tới đô thị, quan Giám sứ truyền lệnh của nhà vua bắt hành hình chém ông Kính Đức. Nhưng khi dơ dao lên chém thì dao tự nhiên gãy thành ba đoạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Giám sứ về tâu vua, vua triệu ông Kính Đức vào hỏi: "Nhà ngươi có phép thuật gì mà được như vậy?" - "Tâu Quốc vương, thực tình tôi không có phép thuật gì cả, khi ở trong ngục vì sợ chết nên ngày đêm trì tụng kinh Phổ Môn Quán Thế Âm, và một hôm nằm mộng thấy một vi Tăng đến chỉ dạy cho tôi nên trì tụng 1000 lần kinh Cao Vương Quán Thế Ân thì được phúc như vậy!".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhà vua bảo ông Kinh Đức rằng: "Nhà ngươi đã thắng ta vậy có khác nào những vị thánh nhân!" Vua gọi quan tư pháp lại xét nếu tội nhân nào bị tội tử hình, thì dạy cho trì tụng 1000 lần bản kinh này xem có được thoát khỏi tử hình không? Quả nhiên, những tội nhân sau khi trì tụng 1000 lần thì ai nấy đều được hưởng phúc như ông Kính Đức cả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhà vua liền ban sắc cho nhân dân ai nấy đều tụng 1000 lần bản kinh này, nên trong nhà không gặp phải những sự ngang trái, ai nấy đều sống lâu trăm tuổi, không gặp nạn thủy hỏa, và khi chết đều được háa sanh làm Phạm thiên, không phải thọ báo luân hồi nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong bản kinh Cao Vương này, có nói thêm vào đoạn cuối như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Trung ương nhất thiết chúng sanh, tại Phật thế giới trung giả, hành trụ ư địa thượng, cập tại hư không trung, từ ưu ư nhất thiết chúng sanh, các linh an ổn hữu tức, trú dạ tu trì, tâm thường cầu tụng thử kinh, năng diệt sinh tử khổ, tiêu phục ư độc hại:
<p style="padding-left: 30px;">- Na Ma Đại Minh Quán Thế Âm.
- Quang Minh Quán Thế Âm.
- Cao Minh Quán Thế Âm.
- Khai Minh Quán Thế Âm
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dược Vương Bồ tát, Dược Thượng Bồ tát, Văn Thù Sư Lợi Bồ tát, Phổ Hiền Bồ tát, Hư không Tạng Bồ tát, Địa Tạng Bồ tát, Thanh Lương Bảo Sở Nhất Vạn Bồ tát, Phổ Quang Vương Như Lai, Hóa Thắng Bồ tát, niệm niệm tụng thử kinh. Thất Phật Thế Tôn tức thuyết chú viết:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ly bà, ly bà đế, cầu ha cầu ha đế, đà ra ni đế, ny ha ra đế, từ lê nể lế, ma ha dà đế, chơn lăng càn đế, ta bà ha".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi ở một đoạn sau nữa, chỗ chí tâm quy mạng lễ, lại nói như vầy:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Lâm trung Phổ Đà - Lạc già sơn, tăng già đại thánh, hải nguyệt huệ chúng ý công đức, phúc hải quảng khánh, hành nguyện ngũ thập tam sám, thiện tài tri thức, tam thập nhị ứng Đại sĩ Viên Thông, thiện tướng hảo trang nghiêm, thập cửu phùng minh thị hiện. Thế Tôn diệu tướng, chính Pháp Minh Vương, quảng nguyệt tuynh cung trung thiên thủ thiên nhãn, Thanh Lương Bảo Sở, Bạch Y tự tại, đại hùng tinh giác, vô thượng Bồ đề, ứng vật tùy hình, hiện hằng hà sa hóa thân, nguy nguy sinh hải, hao hạo từ môn, nan nghĩa nan ân, vô lượng vô biên, đại bi đại nguyện, đại thánh đại từ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nam Mô tầm thanh cứu khổ cứu nạn Linh Cảm Quán Thế Âm Bồ tát..."
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(b) <B>Bạch Y Đại Sĩ</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về Bạch Y Đại sĩ (có chỗ ghi là Bạch Y Đạo sĩ), ta thấy nơi mục a. của phần đầu chương VII này sự tích của hai vị Quan Âm áo trắng và Quan Âm áo xanh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nay thêm vào đấy có các chuyện linh ứng về vị Quan Âm áo trắng thường hay ứng mộng để cứu độ các chúng sanh đau khổ. Sau đây là một vài câu chuyện trích trong cuốn "Bạch Y thần chú" thường truyền tụng trong giới Phật tử, nhất là trong số các phụ nữ có tuổi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">* Người Vương Thiện ở kinh đô đi thi bao phen chẳng đỗ mà nợ bút nghiên chưa hề trả được, chợt mộng thấy Bạch Y Đại Sĩ bảo rằng: "Nhà ngươi không có số đỗ, nay muốn đỗ thì ngươi nên chăm trù tụng niệm Bạch Y chú mới khá mong được".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người ấy tỉnh dậy in 1200 quyển kinh để cúng, quả nhiên kỳ thi sau được chiếm bảng vàng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">* Phủ Hoài An, huyện Sơn Dương có Trần Quốc Khanh, anh em được ba người nhưng chi duy có Quốc Khanh lòng tin niệm chú bạch Y, chợt gặp cơn tai biến lúc cháy nhà, Khanh trông thấy được Vach Y Đạo Sĩ đến cứu thoát, còn hai em thấy quỉ thần thiêu đốt trong đám tro tàn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">* Có đàn bà họ Vương năm hai mươi tuổi bị bệnh nguy kịch, người ấy niệm chú Bạch Y chợt nằm mộng thấy đức Bach Y Đạo Sĩ bảo rằng: "Nhà ngươi thành tâm niệm chú nhưng tụng thiếu 19 chữ, cho nên chưa được báo ứng. Người đàn bà thưa không biết thiếu chữ gì. Đạo Sĩ bào cho 19 chữ là (Thiên la thần đẳng), người đàn bà vâng lời tụng nốt. Đến sau quả nhiên khỏi bệnh và sống được 93 tuổi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">* Tôi ngày còn nhỏ đi học (không ghi tên tác giả câu chuyện này là ai?), hay bị đau mắt, thuốc đâu chẳng khỏi, nhân biết chuyện linh nghiệm mới theo niệm chú Bạch Y.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến đêm thứ năm, mộng thấy con chim trắng mổ vào mắt một cái đau lắm, tỉnh dậy cả sợ và ngày hôm sau nói chuyện lại với anh em, có người bảo đấy là chim Anh võ trắng của Đạo Sĩ, người cho xuống chữa, chắc từ nay anh không bị bệnh đau mắt nữa. Tôi bèn in 1200 cuốn kinh đẻ cúng và lúc nào cũng niệm chú ấy. Năm tôi 40 tuổi cũng chưa có con, lại chăm tụng niệm hơn. Mấy năm sau, tôi sinh hạ được hai trai một gái, đứa nào cũng thông minh mẫn tiệp. Cách sinh nhai của chúng thảy đều dễ dàng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến năm Nhâm Tý, tôi thôi học đi buôn, vì lẽ nơi ăn chốn ở chẳng được tinh khiết nên không dám trì tụng nữa, chỉ riêng trai giới giữ như thường.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Qua các câu chuyện trên đây, ta thấy Bạch Y Đại Sĩ cũng là Quán Thế Âm Bồ tát hiện thân, vì trước khi đọc câu thần chú thì ở đầu bài kinh ngắn này, ta cũng thấy ghi câu xưng tụng danh hiệu: "Nam mô đại từ, đại bi cứu khổ cứu nạn quảng đại linh cảm Bạch Y Quán Thế Âm Bồ Tát".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(6) Tổ Bồ Đề Đạt Ma: <I>Xem chú thích số (4) ở cuối Chương II, Phần II.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(7) Hòa thượng Chí Công: <I>Là vị hòa thượng đã soạn ra cuốn Lương Hoàng Sám hay là Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp. Sơ lược sự tích này như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua Lương Võ Đế có một bà hoàng hậu rất yêu quý tên là Hy Thị. Bà hoàng hậu này rất độc ác, sau khi chết tái sinh làm rắn mãng xà.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một ngày kia, vào lúc đêm khuya, vua Lương Võ Đế nghe tiếng khóc than, giựt mình và có vẻ sợ sệt, nhưng không chạy trốn vào đâu được vì bất thình lình, đang ở một mình trong hậu cung.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhà vua mới hỏi ai đấy? Tiếng người đáp lại tự xưng là Hy Thị, vì trước kia quá độc ác nên chết đi phải đọa làm kiếp rắn mãng xà rất khổ sở. Mong nhờ hoàng đế tìm phương cứu giúp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sáng ra khi lâm triều, vua kể lại truyện cho bá quan nghe. Có người đề nghị nên cung thỉnh hòa thượng Chí Công, một vị cao tăng đắc đạo đương thời lo dùm việc này. Theo lời thỉnh cầu của nhà vua, hòa thượng Chí Công soạn ra cuốn Từ Bi Đạo Tràng Sám Pháp và lập đàn tràng làm lễ sám hối cho hoàng hậu Hy Thị. Nhà vua chí thành lễ bái.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lễ tụng đến cuốn thứ năm, ngay tại chỗ trên không trung, vua Lương Võ Đế nghe có tiếng của Hy Thị. Bà hiện thân Thiên nữ đẹp đẽ, nói tiếng người, cho biết đã thoát nạn và đã sanh lên Đao Lợi thiên cung, và nay tỏ lòng cám ơn hòa thượng và hoàng đế.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(8): <I>Trong cuốn kinh Phổ Môn Giảng Nghĩa của Thích Thanh Cát dịch cũng có sự tích ông Tôn Kính Đức này (Phổ Môn Giảng Nghĩa, trang 26, in tại nhà in Hòa Chánh, 16-18, đường Cống Quỳnh, Saigon 1962, Phật lịch 2506).</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<CENTER><B>NHỮNG SỰ LINH ỨNG VỀ QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>DẪN NHẬP</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kể lại những sự linh ứng về Quán Thế Âm Bồ tát thì thật ra phải viết một pho sách lớn mới kể hết được, - nhưng cũng không thể hết - vì biết bao nhiêu những sự huyền vi kỳ diệu hoặc đã được viết ra, hoặc chưa được viết ra mà chỉ được truyền đạt lại bằng những truyện kể khác, thật là vô số.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tuy nhiên để hạn định cuốn truyện tích này, tôi chỉ chọn những chuyện đã được ghi lại trong tạp chí, tài liệu, đặc san, và những sách được viết ra, rồi mạn phép tu chỉnh câu văn lại cho được khúc chiết ngắn gọn mà thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong những tài liệu chúng tôi có được thì có hai cuốn chính là:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. Cuốn "Phổ Môn Giảng Lục" của Bảo Tịnh pháp sư giảng và Thích Trí Nghiêm dịch (do nhà in Sen Vàng, chùa Ấn Quang, 243, Sư Vạn Hạnh, Chợ Lớn ấn hành năm 1972 - Phật lịch 2516).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thiên giảng lục này do Bảo Tịnh pháp sư giảng tại Nam Thông Đường Áp Cư Sĩ Lâm, năm 1937 (Trung Hoa) và do Thôi Chú Bình và Tôn Tử Á kính lục; năm 1969, Thích Trí Nghiêm dịch tại Nha Trang (Phật lịch 2513), nhân ngày Phật Đản.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">2. Cuốn "Phẩm Phổ Môn" (Âm và nghĩa) do Thích Viên Giác dịch và viết thêm các bài phụ, năm 1959 để tưởng niệm giác linh cố Hòa thượng Thích Bích Không (do nhà in Hòa Chánh, 16 Cống Quỳnh in năm 1968). Thích Viên Giác là đệ tử của cố Hòa thượng Thích Bích Không(*), viết cuốn này tại Phổ Đà Sơn, chùa Giác Hải, Nha Trang. Ngoài ra, chúng tôi biết rằng còn có rất nhiều những chuyện chưa được ghi chép lại, mà chỉ được kể lại cho nhau nghe mà thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mong rằng sau này sẽ có những vị thức giả có thể ghi lại các mẩu chuyện tương tự có đủ cả thời gian, không gian, xứ sở, nơi chốn, và các nhân vật đích thân được cảm nhận, thọ dụng và ân hưởng oai đức thần lực diệu huyền của Quán Thế Âm Bồ tát, hoặc những vị đã được nghe kể lại với sự tin tưởng có kiểm chứng cụ thể về những câu chuyện này, để làm một bộ sưu tập về sự từ bi cứu khổ độ sanh của Quán Thế Âm Bồ tát cho mọi loài hữu tình trên thế gian này, thì thật là một công đức vô lượng, bởi vì do nhận định chân thực này mà lòng tin tưởng nơi Quán Thế Âm Bồ tát sẽ được gia tăng kiên cố, và có tin tưởng như vậy thì việc noi theo hạnh nguyện từ bi của ngài mới được vững bền lớn mạnh, rồi lòng từ bi của nhiều người sẽ đem lại nhiều lợi lộc cho tất cả chúng sanh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cũng xin nói qua rằng những chuyện sau này, chúng tôi không thể sắp xếp theo thứ tự thời gian được vì thiếu những chi tiết cần thiết, chỉ có thể chia ra các chuyện tại Việt Nam và tại các nơi khác (Trung Hoa, Nhật Bổn, Ấn Độ v.v...)
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>GHI CHÚ</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">(*) Hòa thượng Thích Bích Không: <I>Quê ở làng Bích Khê, tổng Bích La, phủ Triệu Phong, tỉnh Quảng Trị. Đầu tiên, thầy khai sơn chùa Giác Phong ở Quảng Trị. Do đó, thầy mới có biệt hiệu là Đại đức Giác Phong. Mãi đến năm Bảo Đại thứ mười, thầy thọ đại giới ở Trường Kỳ chùa Sắc Tứ Tịnh Quang ở Quảng Trị và đắc pháp với Hòa thượng Hải Đức, do đó mới có pháp hiệu là Bích Không đại sư (do Thích Viên Giác kể lại).</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<CENTER>CHƯƠNG I
<B>NHỮNG SỰ LINH ỨNG TẠI VIỆT NAM</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. <B>Bức thư của ông Frank-M. Baze</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trước khi ghi lại các chuyện khác nói về sự linh ứng của Quán Thế Âm Bồ tát, tôi xin trích lại đây một bài tựa cuốn sách về triết lý đạo Phật, dày 600 trang đã xuất bản ở Mỹ, nhan đề là: "The Conquest Of Mind" tạm dịch là "Sự Chinh Phục Tinh Thần". Tác giả cuốn sách này là một người Mỹ tên là Frank M. Baze, biết bảy thứ tiếng, rất thâm hiểu đạo Phật, đã quy y với Hòa thượng Hải Đức ở Nha Trang, và đã đến viếng điện Quán Âm Nam Hải(*), đã ủng hộ các vị sư trong công việc xây dựng thắng cảnh này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bài tựa này được Thích Viên Giác ghi lại bằng tiếng Pháp trong cuốn Phẩm Phổ Môn (đã dẫn ở trên) và đã được dịch ra tiếng Việt do Sa môn Thích Tịch Tràng, tọa chủ chùa Linh Sơn, quận Vạn Ninh, Nha Trang, bản dịch như sau (trang 220):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>Thực nghiệm sau đây là hoàn toàn đúng với sự thực không sai. Hôm qua, ở Nha Trang tôi mộng thấy đức Quán Thế Âm. Và sáng nay, không được báo trước, ngài bảo tôi đến chùa ngài ở Xuân Tự, cách Ninh Hòa 22 cây số, ở đó suốt ngày.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quyển sách này đã được các thánh nhơn khuyến khích tôi viết ra và cũng chính các ngài biếu cho Sa môn Viên Giác, ngài là một vị tu hành chân thực, can đảm và sáng suốt. Đại đức là một đệ tử nhiệt thành và trung tín của Bồ tát Quán Thế Âm. Những đức tánh ấy chứng tỏ việc làm của Đại đức hết sức khó khăn và kiên cố để tạo nên một ngôi chùa trên đồi núi giữa cảnh đẹp hùng vĩ, tráng lệ và nguy nga đầy hứng thú của Xuân Tự.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chính tôi, tôi cũng thờ kính đức Quán Thế Âm, ngài đã phù hộ tôi suốt đời. Nhất là trong những lúc đi máy bay trên bể Đại Tây Dương và Thái Bình Dương. Và sau hết cũng chính ngài khai thị cho tôi được biết ngài, mặc dù ngài luôn luôn ẩn thân đối với tôi. Ngài hành động như một bà Mẹ hiền khả ái tuyệt bậc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kính lạy Quán Thế Âm Bồ Tát</I><p style="padding-left: 30px;">Tác giả quyển: The Conquest Of Mind.
Nhũ danh: Frank M. Baze.
Pháp danh: Thích Chơn Trí.
<BR>Dịch giả: Sa môn Thích Tịch Tràng.
Tọa chủ chùa Linh Sơn.
Quận Vạn Ninh (Nha Trang)
(Bài tựa này trong cuốn Phổ Môn Phẩm của Thích Viên Giác, không thấy đề ngày).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đây bài ghi bằng tiếng Pháp:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>Nam Mo Quan The Am Bo Tat</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cette expérience est parfaitement vrai et sans faute. Hier soir à Nha Trang, j'ai rêvé de la Déesse Quan The Am. Et ce matin, sans prévenu d'avance, je suis invité par Elle de venir passer la journée dans sa Pagode à Xuan Tu, 22km de Ninh Hoa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ce livre a été écrit par l'inspiration des Dieux et c'est Eux qui l'offrent au Bon Moine Vien Giac, qui est un moine sincère, courageux et illuminé. Il est un serviteur ardent et fidèle de la Déesse Quan The Am, comme il a prouvé son amour et sa fidélité par son travail dur et constant pour créer la Pagode sur la colline au milieu de la beauté superbe et inspirante de Xuan Tu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Moi, ausi, j'adore la Déesse qui m'a protégé pendant toute la vie, surtout au cours des voyages aériens sur l'Atlantique et le Pacifique et c'est Elle qui a finalement ouvert mes yeux pour la connaître, quoiqu'Elle s'est toujours cachée de moi. Elle agit comme une Belle Mère parfaite et charmante.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>Adoration à la Déesse Quan The Am</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">L'auteur: Frank M. Baze.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">(*) Đại điện Quán Âm Nam Hải: <I>Là một ngôi bửu điện thờ Quán Thế Âm Bồ tát, được xây cất vào năm 1958 trên Hòn Hèo là một hòn núi nhỏ ở gần bờ biển Nam Hải, thuộc làng Xuân Tự, quận Vạn Ninh - Nha Trang (sau người ta thường gọi là núi Phổ Đà). Điện này xây mặt về phía biển Nam Hải, cửa bể Đầm Môn (port Doyot), xe lửa, xe hơi, tàu bè, ghe thuyền qua lại đều trông thấy. Mỗi khi gặp phải tai nạn, sóng gió bất thường mọi người đều hướng về đại điện thờ Ngài để kêu cầu xưng niệm. Ở gần điện có một cái giếng nước sâu 10m, gọi là "giếng nước Cam Lồ", nhiều người thường đến xin nước về uống để trừ bệnh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Điện thờ Quan Âm này cũng nằm gần chùa Giác Hải, chùa này được xây cất vào năm 1956, cũng tại làng Xuân Tự nói trên.</I><P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">2. <B>Ma Kha thiền sư được cứu độ</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sách "Đại Nam Thiền Uyển Truyền Đăng Tập Lục", kể lại sự tích các thiền sư Việt Nam đời Đinh-Lý, có chuyện sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ma Kha thiền sư, tên trước là Ma Kha Ma Da ở chùa Quan Ái, làng Cổ Miết Đào Gia, tổ tiên là dòng giống Chiêm Thành mạo tên là họ Dương, cha là Hối Dà, giỏi về Bối thư (Kinh Phật xưa chép vào lá cây Bối Đa) làm quan triều Lê Đại Hành, giữ chức Bối Trưởng, thời cổ gọi là Dà Phan.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sư là người có kiến thức sáng suốt thông đạt, học rộng lối chữ Phạn (Sanscrit). Năm hai mươi bốn tuổi, theo nghề nghiệp cha về ở chùa này thường trong khi diễn giảng Bối Kinh (Kinh chữ Phạn), thấy tượng thiên thần Hộ Pháp, chê rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Cái học ngoại đạo này dùng làm gì? Ắt là không có thể hiểu được nghĩa lý!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ đấy Sư bị mù lòa, biết ăn năn tha thiết hối lỗi, sắp gieo mình xuống vực chết. Nhân gặp Viên Tắc ở Đông Lâm ngăn lại bảo: "Chớ! Chớ!" Sư nghe xong tỉnh ngộ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về sau Sư theo học thầy Đỗ Pháp Thuận ở chùa Cổ Sơn, chuyện việc Sám hối và tụng kinh Đại Bi tâm chú, ba năm chưa hề trễ nải chút nào. Cảm được Quan Âm Đại sĩ lấy nước tịnh thủy cành dương vẩy từ đỉnh đầu xuống mặt, bỗng nhiên sáng ra, tâm càng thanh tịnh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm thứ 5, niên hiệu Thuận Thiên, đời Lý Thái Tổ (1015) mới di cư đến núi Đại Vân ở Trường An, hàng ngày chuyên tu tập Tổng Trì Tam Muội (Samashi) cùng các ảo thuật người thường không lường biết được. Vua Lê Đại Hành ba lần triệu vào cung hỏi han, ông chỉ chắp tay cúi đầu mà thôi. Hỏi đến lần thứ ba ông mới thưa rằng: "Kẻ tăng điên chùa Quan Ái!"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua giận lắm, sai giữ lại trong chùa Vạn Tuế, cắt người đóng cửa canh giữ. Đến sáng thấy Sư đã ở ngoài phòng, cửa khóa như cũ. Vua lấy làm lạ mới cho tùy ý sở thích.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại một đoạn sau chép như vầy:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trên đây tư tưởng của Ma Kha thiền sư, đi từ Phật giáo Nguyên Thủy, chống đối tục thờ ngẫu tượng, chỉ tin vào tự lực giải thoát, ấy là khuynh hướng Tiểu thừa, hay gần với giáo lý đầu tiên của Phật Thích Ca.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vậy mà chỉ thóa mạ tượng Hộ Pháp đến phải mù mắt, điều ấy phải chăng là một sự kiện đáng tin, hay là chỉ nên hiểu với ý nghĩa bóng bẩy là tinh thần Tiểu thừa quí phái quá, chỉ để cho một thiểu số trí thức theo được mà thôi, còn như đại chúng thì ngành Đại thừa mới phù hợp, vì chúng mong vao sự tế độ và ân điển thiêng liêng của một thế lực tối cao để chúng tin sùng. Ngành này chính là khuynh hướng tín ngưỡng của nhân dân Việt Nam ở Giao Châu lúc ấy, cho nên Ma Kha đem khuynh hướng tín ngưỡng Tiểu thừa ở dân Chiêm Thành đến truyền bá mà bị thất bại. Rồi nhờ "Đại bi tâm" của đức Quán Thế Âm Bồ tát mà Ma Kha mở được mắt ra. Như thế là Ma Kha sau ba năm sám hối chuyên tụng "Đại bi tâm chú" mà được giác ngộ về tôn chỉ tha lực của giáo lý Đại thừa vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ cái tâm sùng tín ấy Ma Kha đã đạt được trong thời theo học với Đỗ Pháp Thuận (816-992) ở chùa Cổ Sơn, ông lại đạt đến cái tâm trí tuệ Tam muội thần thông, đây là kết quả công phu tối cao của thiền định. Song đến đây không phải để mãn nguyện với mục đích giải thoát của mình như chủ trương của Tiểu thừa. Trái lại Phật giáo Đại thừa thì nhà sư phải dùng cái "Tâm Bi Trí" ấy để cứu khổ cứu nạn cho nhân dân, tế độ chúng sanh, "chuyển mê khai ngộ".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chính đấy là tôn chỉ Phật Bà Quan Âm, với cái tâm Từ, Bi, Hỷ, Xả hợp nhất cả lý lẫn tình, trí lẫn hành trong cái "ý thức tự do vô lượng, ngắm nhìn thân thể trong tinh thần và tinh thần trong thân thể", cho nên biến hóa thần thông như nói trong kinh Phật:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Tinh thông ngàn mắt, ngàn tay
Cũng trong một điểm linh đài hóa ra
Xem trong bể nước Nam ta
Phổ Môn có đức Phật Bà Quan Âm.
(Phật Bà Quan Âm diễn ca)</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bởi thế mà Ma Kha đã không tỏ ra sợ hãi trước uy quyền nhà vua, chứng minh phép thuật nhiệm mầu rồi đi trở về quê cũ miền Nam để giáo hóa, cải tà qui chánh các dân ở Ái Châu và Sa Đăng giáp giới Chiêm Thành hay trên chính đất Chiêm Thành, chỉ bằng một niệm thành khẩn: "Nam Mô Phật, Nam mô Pháp, Nam mô Tăng!" Rồi ông biến mất vào Châu Hoan không để lại di tích.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">(Trích trong tạp chí Vạn Hạnh số 13-14, Kỷ niệm Phật Đản 2510 (1966) - Bài "Lão Học với Thiền Học" hay là những tích lạ trong Phật Giáo Việt Nam thuở xưa của Nguyễn Đăng Thục, trang 63-64-65).</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">3. <B>Vua Lý Thái Tông và vua Lý Thánh Tông cầu tự</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Vua Lý Thái Tông sau khi bình định giặc giả ở Hóa Châu, Nhệ An, sắc lập 95 ngôi chùa năm 1031.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm đầu Sùng Hưng Đại Bảo (1049) nhà vua sắc dựng chùa Diên Hựu (tục gọi là chùa Một Cột), nguyên do vì vua đến cầu tự nằm mơ thấy Phật Quan Âm dắt đến một tòa sen mà trao cho một hài nhi, kiểu chùa vì thế phỏng theo tòa sen trong giấc mộng. Chùa được sửa nhiều lần mọi thành phần(*), chi tiết không còn là vật liệu nguyên thủy trừ cột đá. Chùa này nổi tiếng độc đáo là một kiểu tượng trưng công trình kiến trúc Việt Nam.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">(Trích bài: "Kiến trúc Phật giáo Việt Nam" của Nguyễn Bá Lăng, trong tạp chí Tư Tưởng số 3 (tháng 5/1973). Số đặc biệt kỷ niệm Phật đản 2571 trang 109).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong quyển "Việt Nam Phật Giáo Sử Lược" của Thượng Tọa Mật Thể, cũng có đoạn như sau (trang 123):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Qua niên hiệu Sùng Hưng Đại Bảo năm đầu (1049), Thái Tôn sắc dựng chùa Diên Hựu. Nguyên năm trước ngài nằm mơ thấy đức Phật Quan Âm dẫn ngài vào Liên Hoa điện. Tỉnh dậy, ngài ban hỏi đình thần thì một vị Tăng Thống xin lập chùa. Vua nghe lời, sắc dựng một cục đá, ở trên xây điện Liên Hoa (hình hoa sen nổi trên mặt nước) thờ Phật Quan Âm và hội các tăng sĩ lại tụng kinh cầu trường thọ (Chùa ấy hiện còn ở gần Hà Nội, người ta thường gọi là "Chùa Một Cột".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn trong tạp chí Hải Triều Âm số đặc biệt 9-10 (tháng 12/1974) "Đúc kết Đại hội Văn hóa Phật giáo", ông Nguyễn Đăng Thục có đoạn ghi như sau (trang 39):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm Kỷ Sửu thứ VI, mùa xuân tháng 2 đổi niên hiệu là Sùng Hưng Đại Bảo năm thứ nhất. Mùa Đông tháng 10 xây chùa Diên Hựu (1049). Trước đấy vua nằm mộng thấy đức Quan Âm ngồi trên đài Hoa Sen, vẫy vua lên đài. Đến khi tỉnh mộng, nói lại với triều thần. Có người cho là điềm gở chết yểu. Nhà sư Thiền Tuệ khuyên vua cất chùa, dựng cột đá ở giữa hồ, xây đài Hoa Sen có tượng Phật Quan Ân bên trên, đúng như hình ảnh đã thấy trong mộng. Các nhà sư chạy đàn chung quanh tụng kinh cầu sống lâu, cho nên có tên là chùa Diên Hựu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Về việc vua Lý Thánh Tông cầu tự có đoạn nói như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhà vua Lý Thánh Tông 40 tuổi chưa có Hoàng nam để nối nghiệp, thường đi các đền chùa để cầu tự, ngự giá đến đâu người xem chật đường. Khi đến làng Thổ Lổi, có người con gái quê cắt cỏ lau, nhà vua lấy làm lạ, cho vào cung lập làm Ỷ Lan cung phi. Đến khi có mang sinh Hoàng tử Kiền Đức (là Lý Nhân Tông sau này), nhà vua mừng lắm. Ngay hôm sau lập làm Thái tử, đổi niên hiệu, đại xá trong nước, phong Ỷ Lan làm Thần Phi gọi là Nguyên Phi, đổi làng Thổ Lổi làm làng Siêu Loại, vì là sinh quán của Nguyên Phi (Cương Mục C.H. 3-26).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chính Ỷ Lan Thần Phi về sau trong khi vua đi đánh Chiêm Thành, ở nhà nhiếp chính khôn khéo được lòng nhân dân, nên quốc dân đã suy tôn là Quan Âm Nữ (Cũng trong tạp chí Hải Triều Âm số dẫn trên, trang 39).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đoạn này nhắc ta nhớ lại chuyện sư Đại Điện, tướng Lê Uyên và Ỷ Lan phu nhân trong chương I, phần II của cuốn truyện tích này và mục (2) ở phần chú thích, cuối chương I ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về tích này, cũng có một đoạn do ông Nguyễn Đăng Thục trích trong "Truyền Đăng Tập Lục" như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chính con đường sùng tín của ngành Tỉnh Thổ (Tịnh Độ) thờ Phật Bà Quan Âm mà tôn chỉ đã được toát yếu vào đoạn mở đầu quyển kinh phổ thông: "Nam Hải Quan Âm". Lý Thánh Tông từ thế kỷ XI sau khi đã đi đánh Chiêm Thành, mang cái ấn tượng Quan Âm về. Nhận thấy quốc dân suy tôn Nguyên Phi Ỷ Lan là Quan Âm Nữ cho nên đã tìm dung hòa ngành Tịnh Độ nhân dân đang đòi hỏi với hai ngành Thiền của Tổ Tỳ Ni và Vô Ngôn Thông vốn có từ trước vào ngành Thiền thứ III là phái Thiền Thuần Túy Việt Nam tức phái Thảo Đường vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">(Trích trong tạp chí Vạn Hạnh số 1. Kỷ niệm đại lễ Phật đản 2509 năm 1965, trang 59).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>GHI CHÚ</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">(*) Chùa Một Cột: <I>Hay chùa Diên Hựu, tại kinh đô Thăng Long (Hà Nội) được vua Lý Thái Tổ sắc xây dựng năm Sùng Hưng Đại Bảo nguyên niên (1049).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm 1101, nhằm niên hiệu Long Phù nguyên niên, vua Lý Nhân Tông cho trùng tu lại. Đến tháng 9, niên hiệu Long Phù thứ 5 (1105), chùa Diên Hựu lại được tái tu lần nữa. Trước chùa người ta cho xây một ngôi bửu tháp và cho đào những hồ thả sen, chung quanh xây nhà và bắc cầu để đi qua hồ mỗi tháng, ngày 1 và 15, vua đến ngự chùa này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong lời sớ có nói thêm rằng, vua Nhân Tông muốn có một người con: vua cầu đảo Phật và cho tổ chức nhiều lễ trai tăng cúng dường. Đồng thời Thái Hậu (tức là Ỷ Lan Nguyên Phi trước kia) cũng cho xây hơn trăm chùa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lần thứ ba, chùa Diên Hựu lại được trùng tu do vua Trần Thái Tông sắc lệnh, nhằm niên hiệu Thiên Ứng Chính Bình thứ 18 (năm 1249).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhân đây, ta thấy mấy đời vua nhà Lý đều rất sùng tín Quán Thế Âm Bồ tát, vì vua Lý Thánh Tông là con cầu tự của vua Lý Thái Tông, và Thái tử Kiền Đức (vua Lý Nhân Tông sau này) cũng là con cầu tự của vua Lý Thánh Tông. Và theo sớ nói việc trùng tu chùa Diên Hựu lần thứ 2, niên hiệu Long Phù thứ 5, thì đến lượt vua Lý Nhân Tông cũng đi cầu tự.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">(Theo tài liệu Le Bouddhisme En Annam của Trần Văn Giáp, Tuệ Sĩ dịch - Ban Tu Thư Viện Đại Học Vạn Hạnh - 1968).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ta nhận thấy việc tôn sùng Ỷ Lan Nguyên Phi, thời vua Lý Thánh Tông, là Quan Âm Nữ cũng tương tự như dân Tây Tạng sùng kính hai vị công chúa xứ Trung Hoa Wang Chen và công chúa xứ Népal Bhrikuti, kết hôn với vua Srong-Tsan-Gampo của họ là: Quan Âm áo trắng và Quan Âm áo xanh (đã nói trước đây mục a.- Chương VII).</I><P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">4. <B>Một Công chúa nhà Lê được cứu khỏi bệnh</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tích này được kể sơ lược trong một bài nói về chùa Đại Sơn ở Hà Nam, tục gọi là chùa Đọi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chùa Đọi là ngôi chùa cổ dựng trên một quả núi cao trong ba quả núi chạy dài giữa một cánh đồng Chiêm, cạnh con sông Châu Giang dài dằng dặc nối liền sông Nhị Hà và con sông Đáy, cách tỉnh lỵ Hà Nam chừng 15 cây số, do đó vị trí của chùa rất đẹp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ai đã có dịp lên núi Đọi thăm chùa, đứng trên cao nhìn xuống, chắc cũng phải nhận ra rằng núi Đọi có một phong thủy kỳ lạ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Giữa một cánh đồng Chiêm bát ngát, về mùa nước, bốn bề mênh mông như biển cả, xa xa những làng mạc nổi lên như những cù lao lô nhô trên mặt biển. Dẫn tới chân núi là những con đường đá đỏ ngoằn ngoèo, uốn lượn như những cuống sen vàng lấp loáng mà mỗi đầu hoa là một làng, một xã, phía xa hàng trăm gò đống hình thù như những quái vật đều châu đầu về chân núi, tạo thành một cảnh dị hình khó tả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">... Thực ra, không ai biết rõ chùa Đọi được cất lên từ đời nào và do ai tạo tác. Từ trước đời nhà Lý đã có ngôi chùa này, ở phía núi bên kia, tục gọi là núi "Rồng".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến đời vua Lý Anh Tông (1138-1175) vào khoảng 1170, chùa mới được nhà vua đứng hưng công dời sang ngọn núi bên này, cho tới ngày nay. Qua bao đời vua chúa, ngôi chùa Đọi vẫn là nơi danh lam thắng cảnh để cho các khách thập phương về chiêm bái.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chùa Đọi là một cơ sở Phật giáo nổi tiếng nơi đào tạo nhiều bậc tăng tài, có nền kinh tế tự túc vững chắc. Trong chùa lúc nào cũng có hàng trăm vị Sư tu học, đứng đầu là một vị cao tăng, dưới có một hội đồng tăng sĩ, mặc dầu sự tổ chức của Giáo hội thời đó chưa được hoàn bị.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì là nơi cung cấp cho Giáo hội một số lớn tăng sĩ, trong đó có nhiều vị lỗi lạc, đi trụ trì các ngôi chùa nhỏ tại khắp nơi, trên toàn lãnh thổ Bắc Việt nên chùa Đọi còn nổi danh là "Chốn Tổ Đọi".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngoài số ruộng đất hàng trăm mẫu nằm rải rác quanh chùa, chùa Đọi còn có một số cơ sở ruộng đất khác rất lớn gồm chừng ngàn mẫu, do một công chúa dòng dõi nhà Lê cung tiến, thuộc huyện Cẩm Giang tỉnh Hải Dương.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Truyền thuyết về việc này như sau, đến nay còn nhiều người kể lại:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một hôm công chúa theo vua cha vào rừng săn bắn. Lúc trở về cung, nàng mắc một bệnh hiểm nghèo, chạy chữa hàng bao năm không khỏi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một hôm, công chúa nằm mơ thấy Phật Bà hiện trên núi Đọi. Sáng hôm sau, nàng ngự giá đến chùa khấn vái xin đức Quan Âm cho nàng được khỏi bệnh. Mấy hôm sau, bệnh công chúa tự nhiên thuyên giảm rồi dứt hẳn. Tạ ơn Phật Bà gia hộ, công chúa bỏ tiền ra tậu số ruộng đất chừng ngàn mẫu, cung tiến vào chùa để làm hương đăng cúng Phật. Tại chùa Đọi hiện giờ, khách vãng cảnh còn thấy một pho tượng tạc hình dung công chúa để thờ và một tấm bia trong đó ghi rõ sự tích như vừa kể.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">... Từ ngày làm xong ngôi chùa Đọi, vua Lý Anh Tông hạ chiếu chỉ giao cho sáu làng (lục đình)(*) (xin xem bài sau này), từ đó ngôi chùa thuộc về sáu làng, mỗi khi có công việc gì đều do lục đình quyết định.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hằng năm cứ đến ngày hai mươi mốt tháng ba âm lịch (21-3, âl) là ngày giỗ tổ, và cứ ba năm lại có một ngày đại hội kéo dài hàng nửa tháng rước khách linh đình, khách thập phương về lễ bái rất đông. Mỗi ngày hội như thế là các vị tăng ni thuộc chốn Tổ Đọi ở khắp nơi, có hàng dăm trăm vị, lại phải về chùa tụng kinh lễ Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rất tiếc là vì thời cuộc nên ngôi chùa Đọi đã bị đốt từ năm 1950.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>GHI CHÚ</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">(*) <I>Thực ra, theo suy luận thì ngôi chùa Đọi đã được dựng nên từ lâu, trước cả thời nhà Lê (Tiền Lê), vì những suy diễn sau đây:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">a. Đời Lý, vua Lý Nhân Tôn (1072-1127) đã cho xây một cái tháp khánh thành vào năm 1122, gọi là tháp Sùng Thiện Diên Linh ở núi Đọi Sơn (Theo Việt Nam Phật Giáo Sử Luận của giáo sư Nguyễn lang - trang 207-208), vậy trước cả vua Lý Anh Tôn (1138-1175) dời chùa sang núi bên này.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">b. Một công chúa nhà Lê đi lễ bái thì công chúa này chỉ có thể là một vị vua đời Tiền Lê (980-1009). Vậy chùa Đọi này được xây dựng nên trước cả đời Tiền Lê.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng công chúa này là con vị vua nào?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đời Tiền Lê chỉ có ba vị vua:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Lê Đại Hành, tức Lê Hoàn (980-1005)
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Lê Trung Tông, tức là Long Việt (1005) vừa mới lên ngôi được ba ngày thì bị em là Long Đĩnh sai người vào cung giết đi thọ 23 tuổi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Lê Long Đĩnh tức là Lê Ngọa Triều (1005-1009). Vì quá đam mê sắc dục nên mắc bệnh, và lúc qua đời chỉ để lại một người con còn nhỏ (căn cứ vào bài khảo cứu của ông Lê Văn Liêu "Sự nghiệp cứu quốc của Sư Vạn Hạnh", trang 100 đăng vào tạp chí Vạn Hạnh số 1, Tập Thượng, kỷ niệm ngày đại lễ Phật đản 2509 năm 1965). Vậy thì vị công chúa đi lễ trên chùa Đọi trong tích này chỉ có thể là con vua Lê Đại Hành, mà theo Việt Nam Sử Lược của ông Trần Trọng Kim thì Lê Hoàn, quê ở làng Bảo Thái, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam, đúng vào tỉnh có chùa Đọi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại trong bài khảo cứu lịch sử của ông Lê Văn Liêu đã dẫn trên, có ghi chú rằng vua Lê Đại Hành có 12 người con, tên là Thân, Ngân, Tích, Việt, Đĩnh, Đinh, Cân, Tung, Tương, Kinh, Mang Để (Việt Sử Tiêu Án của Ngô Thời Sĩ).
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">c. Về ngôi chùa Đọi này, có nhiều chuyện lạ kỳ huyền bí rất hấp dẫn mà phạm vi bài kể chuyện linh ứng này không cho phép ghi ra đây, nếu muốn biết rõ, xin xem bài sưu khảo về chùa Đọi của Hoàng Sơn, Phạm Chí Tha - Tạp chí "Đuốc Tuệ" (bộ mới, số 5, số 6 phát hành ngày 13-11-1965, từ trang 13.</I><P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Những tích sau đây, chúng tôi ghi lại từ quyển Phẩm Phổ Môn của Thích Viên Giác (đã dẫn trên).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">5. <B>Đặt Lại Đài Sen</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm 1958, vào khoảng tháng 9 âm lịch, sau khi xây cất điện Nam hải Quan Âm, bên cạnh núi Phổ Đà xong, chúng tôi xây bệ để Đài Sen, trước khi hầu tượng Ngài lên. Lúc ấy đạo hữu Nguyên Đạo phụ trách coi công việc ấy. Xây bệ xong, đạo hữu đặt đài sen lên, đạo hữu để lộn, nghĩa là xây mặt đài sen phía núi ra bể và xây mặt bể vào núi. Hai mặt đài sen ấy nhìn kỹ mới biết có khác nhau. Nhưng chúng tôi không để ý.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đêm hôm ấy, đạo hữu Nguyên Đạo ngủ trong trại tranh trước sân chùa cùng với các anh lao công người Bình Định. Có anh Nguyễn Thông cũng đồng ngủ ở đó. Anh Thông một thấy một vị đạo sĩ đến gọi anh mà bảo rằng: "Cái đài sen trên Điện để sai rồi. Nếu không biết thì lên xem lại đài sen trong điện Phật Tổ, sẽ biết".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc ấy đúng một giờ sáng. Anh Thông gọi Nguyên Đạo dậy, nói rõ câu chuyện ấy cho đạo hữu nghe. Đạo hữu này đang buồn ngủ, cằn nhằn anh Thông.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến năm giờ sáng, tất cả cai và thợ đều lên xem lại đài sen trong điện Phật, rồi lên xem xét lại đài sen trên điện Quán Âm thì mọi người đều trông thấy để sai. Điềm mộng hồi hôm đã đúng sự thật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lòng ngưỡng mộ của các anh em lên cao. Chúng tôi ghi lại đây vài nét để kỷ niệm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">6. <B>Cứu Người Mắc Xương Cá</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm 1959, vào khoảng tháng tám âm lịch. Cô Năm Thái ở Ninh Hòa, bị mắc xương cá đã bảy ngày. Cô không ăn uống gì được, cổ họng sưng to, thân thể tiều tụy. Người nhà chạy đủ thầy thuốc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cô là bạn của người Trung Hoa ở tại chợ Ninh Hòa, nên các ông Hoa kiều chạy chữa hết sức. Nào là thuốc Nam, thuốc Bắc, thuốc Tây, vào chùa Tổ, ra đền Ông, coi xâm bói quẻ, có người chỉ (bày) mượn chân con rái cá mà cào, người thì bày mượn đứa con trai bị đẻ ngược đến vuốt xuống. Tất cả phương cứu chữa xua nay ở Ninh Hòa đều vô hiệu. Các ông Hoa kiều mướn xe chở cô vào Nha Trang, mà cũng không thế cứu cô được. Các ông lại chở cô về Ninh Hòa để chuẩn bị chở cô đi nhà thương Đồn Đất ở Sàigòn. Cô Năm Thái tánh không muốn phiền ai mà cũng không muốn xài tiền lớn. Cô mới nhờ ông Phù Trọng Văn tiên sinh ra Xuân Tự đến điện Nam Hải Quan Âm xin nước Cam lồ ở giếng chùa Giác Hải về cho cô uống thử, may ra khỏi bệnh. Phù Trọng Văn tiên sinh nghĩ rằng, bấy lâu nay chạy chữa đã đủ điều, nay còn chút hy vọng nữa là đến điện Nam Hải Quan Âm, nên ông cũng không ngại gì, vội vàng sực nhớ lại và chạy ra chùa tìm tôi, thuật chuyện cô Năm Thái bệnh cho tôi nghe.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi và Phù tiên sinh cũng đã quen thân nhiều. Vả lại, lúc làm điện Quán Âm, tiên sinh đã tận tâm giúp tôi trong công việc xây cất.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cô Năm Thái cũng là một tín nữ thuần thành, cho nên nghe nói đến là tôi rất lấy làm thương xót và vội vàng lên điện Quán Âm làm lễ cầu nguyện xin nước Cam lồ ngay. Lúc ấy vừa đúng bốn giờ chiều, chúng tôi đem hết tín thành, vận hết năng lực, gia tâm chú nguyện vào nước Cam lồ. Sau đó một tiếng đồng hồ, chúng tôi đem nước ra trao cho Phù tiên sinh, dặn ông đem về cho cô dùng. Không hiểu làm sao, lúc ấy tôi dám quả quyết nói với tiên sinh rằng, đêm nay cái xương cá ấy xuống và sáng mai lúc bảy giờ, tôi vào thăm thì cô sẽ lành.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thật vậy, đúng như lời tôi nói không sai. Cô Năm Thái thuật lại, đêm ấy trong cổ cô đau nhức nhiều hơn, như ai cào cấu và sáng ra thì hết đau. Cô nuốt nước miếng nghe hơi nghẹt nghẹt tí thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đúng bảy giờ sáng, tôi vào thăm, thấy cô đứng dậy nói chuyện như thường, sắc mặt tươi tỉnh. Tôi nói: cô này hết bệnh rồi cô cười. Nhưng Phù tiên sinh không tin cho rằng cô Năm Thái nghe nói đưa cô đi Sàigòn chữa bệnh ở nhà thương Đồn Đất, cô không muốn đi nên cô giả đò lành bệnh. Tôi bèn bảo con gái cô ra trước nhà mua bánh ướt (cuốn) cho cô dùng thử, nếu lành thì không thấy đau. Cô Năm Thái dùng bánh ướt như thường không thấy đau gì nữa. Tôi bảo mua rau sống vào cô dùng và nấu cơm cô ăn. Tôi vẫn ngồi đó chờ xem kết quả. Cô Năm Thái ăn cơn ngỏn ngoẻn, ngon miệng lắm, vì một tuần nay cô không ăn gì được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc ấy, cả nhà và Phù tiên sinh mới hoan hỷ vui mừng, quả quyết tin cô Năm hết bệnh. Cô Mười, con gái cô Năm nói rằng: lúc cô có thấy người đàn bà mặc áo trắng ở trong nhà cô Năm đi ra, cô Mười kêu cô Năm hỏi: "Má có thấy ai đi ra đó không?" Nhưng cô Năm ngủ mê không biết gì, đến sáng nghe con kể lại, mới biết đó là Bạch Y Nam Hải Quán Âm đến cứu mình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ đó lòng tin tưởng Quán Âm Bồ Tát của Phù tiên sinh và các Hoa kiều ở Ninh Hòa lên rất cao.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hàng ngày thường có người Ninh Hòa về chùa Giác Hải xin nước Cam lồ, và cô Năm Thái cũng như gia đình con cái cô, đều quy mạng đức Quán Thế Âm Bồ tát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Việc này hiển nhiên là một sự thật ai cũng biết, nên chúng tôi xin ghi lại đây.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">7. <B>Sửa Chữ Viết Sai</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cũng như câu chuyện thứ hai dưới đây, do một đạo hữu khác kể lại, trong lúc viết hai câu đối ở trước điện.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Anh Đạm làm thợ hồ, giỏi việc đắp chữ nổi. Anh cũng biết tiêm thuốc cho đồng bào đau ốm. Lúc ấy vào khoảng tháng chín âm lịch, anh đang viết hai câu dối chữ Nho đã đến năm giờ tối mà chưa rồi. Anh xin tôi về Ninh Hòa tiêm thuốc cho con bệnh. Đêm ấy ngủ ở Ninh Hòa anh thấy một cô vải trùm khăn nâu đến bảo anh: "Ngày mai phải ra sửa lại câu đối, anh viết sai một chữ".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thật vậy, sáng mai anh ra xem thì thấy hai chữ "điên đảo" anh viết sai nét. Anh đem câu chuyện ấy thuật lại với tôi, nên tôi cũng ghi lại đây để kỷ niệm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">8. <B>Cứu Thoát Khỏi Ngục Tù</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ở thôn Xuân Tự, có đạo hữu Võ Đa thường gọi là ông thợ Bảy vì bác làm nghề thợ mộc. Nay đã trên 50 tuổi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm 1956 chúng tôi đến cất chùa tại thôn này thì Bác là người thợ mộc đốc công về việc mộc, nhưng chưa có một chút lòng tin đạo đức nào. Trái lại, bà vợ là cô Cam lại tin Phật. Cô thường theo các bà con về chùa lễ Phật, nhưng không dám đi luôn, và có cúng vái gì thì dấu chồng. Bởi bác trai chưa tin và khó tánh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm 1957, hai vợ chồng bác mới làm nhà lại ở gần bờ biển Xuân Tự. Nhà làm rồi nhưng cửa chưa làm xong. Thình lình bác trai có lệnh công an quận Vạn Ninh mời ra vì lý do gì đó. Tôi nghe tin ấy, chiều lại, sau giờ công phu chiều, tôi tới nhà thăm và hỏi bác gái. Bác trả lời cách buồn bã lắm. Tôi mới nói rằng: "Bác trai không tin Phật chứ cô cũng không tin nữa hay sao? Bây giờ tối rồi, cô không nên bày biện gì nhiều, ra vườn hái hoa quả, chốc nữa đi cùng các đạo hữu lên chùa tôi cầu an cho". Bác gái nghe lời, tới bảy giờ tối bác lên chùa, tôitụng kinh Phổ Môn, niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngày hôm sau, đến bốn giờ chiều thấy bác trai về thình lình. Ai cũng ngạc nhiên. Hôm sau tôi hỏi lại bác gái câu chuyện ấy ra sao? Bác gái đáp:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thình lình nhà tôi về, vẻ mặt hớn hở khác thường, hỏi tôi một cách vội vã: "Ở nhà có cầu nguyện gì không? Thôi, từ nay rằm và mùng một cho tôi ăn chay với".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cô Cam nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Cầu nguyện gì? Ai dám cầu. Cầu rồi ông về ông nói đem Phật vào nhà mới của ông, ai chịu nổi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thôi mà, tôi biết rồi, từ nay cho tôi ăn chay với, tôi tin có Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ăn chay gì mấy ông, tin gì, khéo nói qua chuyện - Cô Cam được trớn, nói cách lên nước...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bác thợ Bảy dịu giọng và thổ lộ tâm tình:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thật hú vía, nếu không có Phật cứu, thì chưa biết ngày nào ra. Hồi hôm tôi ngủ, mộng thấy đức Phật Quán Thế Âm bảo rằng: "Ba giờ chiều ngày mai cho ngươi về".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thật không sai đúng ba giờ chiều ông Chi trưởng cho gọi tôi vào bảo: "Cho anh về, không hỏi gì nữa". Mừng quá như chết đi sống lại, tôi ôm áo chạy thẳng về đây một mạch, có biết cha chú gì đâu. Từ nay, tôi phải đi chùa lo tu". Bà vợ nở gan nở ruột, ngồi làm thinh rồi đi làm việc. Bà thật thà lắm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bữa nay, bác là viên thơ ký đắc lực nhất của ban Hộ niệm chùa Giác Hải. Bác là một đạo hữu thuần thành, ham học giáo lý.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">9. <B>Anh Hồ Ân được trả tự do</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Anh Hồ Ân là con ông và bà Hồ Thanh Kiểm làm ở sở căn cước Đà Nẳng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Anh Ân đi theo kháng chiến từ năm mười bốn tuổi. Bà Kiểm ở nhà nhớ con, buồn rầu đau khổ mười mấy năm. Bà cầu khẩn Phật thánh, cúng dường Tam Bảo, ấn tống kinh sách, phóng sanh, phóng đăng, làm tất cả mọi việc nghĩa thiện. Bao nhiêu công đức ấy, đều quy về một mục đích duy nhất là cầu cho mình được gặp con. Nhưng cũng chưa có kết quả gì.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm 1958, anh Hồ Ân được chánh phủ đem về cải hồi ở Nha Trang. Bà Kiểm nghe tin ấy liền vào thăm con và nhờ người quen giúp đỡ tin tức, cháo cơm cho anh Ân. Khi về Đà Nẳng, bà có ghé lại chùa tôi, vì bà thường vào cầu nguyện trước đức Quán Âm thờ ở điện Nam Hải. Bà thường ca ngợi thắng cảnh này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ khi con bà về Nha Trang, bà vào đây đã ba phen. Phen thứ ba vào khoảng bốn giờ chiều. Bà ghé lại chùa trong lúc thợ đang làm điện Quán Thế Âm. Đến nơi, bà quăng hành lý vào xó nhà tranh của tịnh nhơn nằm dài xuống thở, vì đi đường mệt ngất.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bà thuật lại: Trong lúc ấy, bà thiêm thiếp nghe bên tai có tiếng người kêu văng vẳng, nhưng mà không biết ai kêu. Bà mở mắt ra chẳng thấy ai hết. Bà nhắm mắt nằm nghỉ lại. Bỗng có một ánh hào quang sáng chóa vào mặt bà như điện chớp. Bà giật mình ngồi dậy, lạnh cả người run như thằn lằn. Bà chắp hai tay lại, vừa đi vừa niệm: "Nam mô cứu khổ cứu nạn Quán Thế Âm Bồ tát". Bà đi thẳng một mạch lên thấy đỉnh núi, quên cả mệt nhọc không biết mình đang lên dốc, vừa run vừa lạy vừa vái.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi ấy đạo hữu Nguyên Đạo trông thấy rất lấy làm lạ, bèn khuyên bà bình tĩnh, và kể lại câu chuyện cho đạo hữu và anh em thợ hồ nghe.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đêm ấy bà ở lại tại chùa tôi và sáng mai bà vào Nha Trang thăm con sớm. Bà vừa đến nhà người quen, câu chuyện hàn huyên với cốc nước chưa cạn, thì anh Ân được ân xá, thình lình anh ôm áo chạy về kêu: "Mẹ!" Hai mẹ con chẳng ai nói được một lời, nghẹn ngào ra nước mắt!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mười mấy năm xa cách, mấy tháng lao tù, giờ phút này bỗng nhiên mẹ con gặp gỡ, mừng ra nước mắt, khóc cười xen nhau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mai lại bà Kiểm đem con về Đà Nẳng, bà thuật lại câu chuyện cầu nguyện linh ứng, điềm lành Phật phóng quang cho các đạo hữu quen biết nghe. Bà và các đạo hữu có đạo tâm làm một cái bảo cái bằng đồng giá 8.000 đồng tự thân hành đem vào chùa cúng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bảo cái ấy nay vẫn còn. Bà Kiểm và anh Ân vẫn mạnh. Lòng tin đức Quán Âm càng lên cao. Ông bà Kiểm và gia quyến bà có đến chùa lễ Phật, và phát nguyện ủng hộ cho ông Điệu của chùa đi học. Việc này dân chúng làng Xuân Tự ai cũng biết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">10. <B>Tụng Kinh Cảm Mộng</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dưới đây là nguyên văn một lá thư của một đạo hữu ở Xuân Tự, cảm mộng sau giờ tụng kinh, gởi đến cho tôi tại chùa Giác Hải.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bạch điều mộng ứng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kính bạch trụ trì chùa Giác Hải,
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi tên là: Phạm Văn Trọng, 28 tuổi, sanh, chánh, trú quán tại thôn Xuân Tự xã Vạn Hưng, quận Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Xin thành tâm bạch điều ứng mộng như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi là người trong ban hộ niệm và là người con thứ bảy của cha mẹ tôi, hiện là đệ tử của thầy. Đã từ lâu tôi cũng có lòng ngưỡng mộ đạo Phật, nhưng tôi chưa được quy y chánh thức. Tôi thường xem kinh sách nói về đạo Phật để tìm hiểu ý nghĩa của đạo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nguyên tối hôm 11 tháng 3 âm lịch (1959), tôi bắt đầu tụng kinh, thực hành lời Phật dạy. Tôi tắm rửa sạch sẽ vào ngồi nơi bàn uống nước đặt ở căn giữa trước bàn thờ ông bà tổ tiên.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi thắp đèn dầu lên rồi lấy kinh Di Đà ra tụng một cách đơn giản lắm, không chuông mõ hương hoa gì..., cứ miệng đọc ngón tay trỏ tôi nhịp xuống bàn. Tụng một thời kinh ấy xong rồi tôi đi ngủ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đêm thứ hai, tôi cũng tụng một thời kinh Phổ Môn. Đêm thứ ba tôi tụng kinh Địa Tạng, nhưng chỉ có một chương đầu thôi, vì tôi chỉ thuộc có một bài kệ: "Khể thủ đại từ bi giáo chủ, Địa ngôn kiến hậu quảng hàm tàng" v.v..., rồi tôi tụng kinh Báo Ân trong tập Hồi Dương Nhân Quả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến mười giờ khuya, tôi ra sân chơi mát, mười một giờ tôi mới vào nhà ngủ
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng nhiên tôi mơ màng mộng thấy bà Nội tôi về. Tôi xin kể chuyện lại thầy nghe:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ban đầu tôi thấy tôi và người anh thứ năm tôi định khai cái mộ bà tôi lên để thay cái "rương" (cái hòm) khác. Lúc vừa muốn lấy rương lên, anh tôi nói cái rương này tuy cũ nhưng còn tốt, thôi đừng thay nữa. Anh tôi lại bảo tôi: "Em có phương gì làm cho bà Nội về nhà được không?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi đáp: "Chỉ có pháp niệm Phật thì họa may được chăng?" Nói xong anh tôi mới cạy cái nắp rương ấy ra. Tôi trông thấy người bà tôi chỉ nằm co một góc, còn trong rương ấy để đồ gì tôi thấy kỳ cục lắm!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi cảm động quá, bèn vái Phật cho bà nội tôi được sống lại. Tôi liền xây mặt qua hướng Tây, niệm danh hiệu Phật A Di Đà, Quán Thế Am Bồ tát và Địa Tạng Bồ tát ba lần.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi thấy bà Nội tôi ở trong cái rương ấy bước ra. Cái rương kia bỗng nhiên biến mất. Bà nói: "Con hãy vào nhà ông cư sĩ kia xin cho bà chén nước, bà uống rồi bà sẽ nói cho mà nghe". Khi ấy tôi lấy cái bát chạy vào nhà ông cư sĩ kia mà xin nước. Ông lấy cái bình thủy ra nhỏ vào bát chỉ có ba giọt. Tôi thưa ông sao ít quá. Ông nói: đủ rồi! Tôi ngó mặt ông này thì quen mà không biết ông tên gì? Tôi lật đật bưng nước chạy về cho Nội tôi uống. Uống xong bà dẫn tôi vào trong một cái nhà nào đó rất nhỏ và hẹp lắm. Tôi chỉ thấy có một bộ ván và một cái bàn nhỏ với hai cái ghế đẩu để ngồi. Trên bàn có thắp một ngọn đèn xanh nhỏ, ánh sáng lờ mờ. Bà ngồi xuông ghế đẩu, tôi đứng chắp tay. Bà cất tiếng nói: "Này con, bà đây chính là bà Nội của con chứ không ai đâu. Con cứ nhìn kỹ mặt Nội đi".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi tôi nhìn lên mặt bà, tôi thấy má bên phải có một cái bớt đen, còn hình dáng bà thì người thon, cao, nước da trắng mịn. "Từ khi cách biệt gia đình đến nay, Nội phải chịu nhiều hình phạt khổ sở lắm con ạ! Nội không thể về thăm gia đình được. Hôm nay, Nội nhờ con và mẹ con thường hay niệm Phật tụng kinh, Nội được nghe lời Phật, Nội mới về đây con ạ!" Tôi hỏi: "Vì sao vậy, hở Nội?" Bà đáp: "Con ơi! Hễ con người khi còn sống trên đời làm điều mất đức, thì khi chết rồi, phải chịu nhiều quả báo đau khổ, con ạ! Con nên nhớ điều ấy đừng quên". Bà tiếp: "Thôi bây giờ con hãy lấy kinh Phổ Môn ra đọc cho bà nghe. Bà muốn nghe kinh đó lắm. Nếu từ nay trở đi, con thường đọc tụng thì bà thường về thăm con. Con hãy nhìn kỹ mặt bà một lần nữa cho nhớ, để thưa lại với cha mẹ con".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nghe bà nói như vậy, tôi cảm động quá tôi khóa òa. Bà bảo: "Con đừng khóc, cứ đọc kinh để cho bà nghe, cho bà được thảnh thơi đặng về thăm con".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi vội vã lấy kinh Phổ Môn ra đọc mới hai hàng trên, bỗng nhiên có hai người lính chạy đến hối tôi đi ra mau cho Quan lớn biểu, Quan rất cần gặp ông ngay bây giờ, mau lên. Tôi vụt đi theo hai người ấy. Đi được nửa đường thì hai người kia đâu mất. Tôi chạy về chỗ cũ, Nội tôi cũng không có. Tôi la lên, liền giật mình thức dậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi biết đây là một điềm ứng mộng rõ ràng. Tôi suy nghĩ thật kỹ: Chắc là tôi không quy y với Phật, nên tôi bị yêu ma nó gạt tôi như vậy. Còn bà Nội tôi chết lúc tôi chưa có. Năm năm sau mẹ tôi mới sanh tôi. Tôi làm gì biết mặt mà tưởng tượng và thường ngày tôi đâu có tưởng nhớ bà?...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông cư sĩ kia là ai? Phải đức Quán Thế Âm không? Nước sao chỉ có ba giọt mà gọi là đủ? Nước Cam lồ chăng? Bà chết đã năm năm sao còn trông như người sống? Chưa đi đầu thai ư? Trong kinh tôi nghe Phật dạy, một ngày đêm ở địa ngục bằng năm trăm năm ở nhơn gian, thì năm năm đối với âm phủ đâu chừng giờ giấc gì chăng? Khó hiểu, ăn cơm nhơn gian mà nói chuyện âm phủ thì khó quá. Phải có thần thông như ngài Mục Liên hay có mắt huệ, thiên nhãn mới hiểu được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thôi, tôi quả quyết đây là sự thật, không mơ mộng gì cả. Để đó mai sáng sẽ kể lại cho cha mẹ nghe rồi sẽ hay.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sáng dậy, tôi thuật lại đầu đuôi câu chuyện ấy cho ba mẹ tôi nghe. Tôi lại tả hình dáng Nội tôi in hệt như vậy. Cha mẹ tôi cho là đúng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hôm nay, chúng tôi sắp đặt làm lễ cầu siêu cho bà để bà được sớm giải thoát. Đồng thời, tôi cũng xin thành thật bạch lại với Thầy, nó chắc chắn rõ ràng như vậy, không sai chút nào.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đây, tôi xin Thầy hoan hỷ cho tôi quy y Tam Bảo để tôi được học hỏi phần nào về pháp lý (giáo lý), tập làm việc đạo đức, để đời tôi được sáng suốt và hiểu biết thêm. Mong Thầy từ bi hoan hỷ chấp thuận, tôi rất lấy làm cảm tạ ơn Thầy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bạch Thầy, đáng lẽ tôi xin quy y vào dịp lễ vía đức Quán Thế Âm Bồ tát. Nhưng vì tôi đã hứa nguyện trước tượng ngài Địa Tạng rằng: "Đến rằm tháng Bảy tôi mới quy y cùng ngôi Tam Bảo, để nương nhờ thập phương chư Phật cùng ngài gia hộ cho con".
<p style="padding-left: 30px;">Xuân Tự ngày 30 tháng 3 Kỷ Hợi
Nay kính bạch
Phạm Van Trọng
Ban viên ban Hộ niệm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">11. <B>Hào Quang Sáng Trời</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm ấy (1958), sau khi làm điện Quán Âm xong, nhân dân ai cũng hoan hỷ, trông thấy sự hưng thạnh của đạo Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngày vía Phật A Di Đà, các đạo hữu yêu cầu tôi thuyết pháp. Dân trong làng lên nghe rất đông.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tối đêm 16 tháng 11 âm lịch, pháp tòa dọn ở trước sân chùa cao. Thính chúng ngồi dưới chân tháp ngó lên. Hai sân cao thấp khác nhau đến ba thước Tây. Trời hôm ấy tôi, trăng chưa lên. Bảy giờ tôi tôi bắt đầu thăng tòa, thì câu chuyện lạ lùng kể ra dưới đây cũng xảy ra trong giờ phút ấy. Chuyện này do các thân nhân trong làng chứng kiến và kể lại cho tôi, sau ngày vía năm hôm, vì tôi ngồi ngó xuống trước mặt đèn chói, tôi không thấy gì cả. Họ kể:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chúng tôi thấy thầy vừa vỗ "thủ xích" (cái án gỗ) một cái độp trên mặt bàn, thì hào quang ở đâu chớp lên một cái. Một tia lửa xanh nhỏ bằng cây nhang từ cái "thủ xích" ấy bay lên cao, rồi tỏa ra sáng lừng trời ngang nóc chùa, trên đầu chúng tôi. Tất cả mọi người đều khiếp sợ, run như thằn lằn. Họ chạy tán loạn ra vườn, núp dưới gốc cây, kẻ thì chạy xuống nhà bếp, người thì vào nhà khách. Ông Bàn già thường được gọi là kẻ to gan nhất cũng run, vào núp dưới chân bàn. Có người bảo với cô Hường con bác Mận rằng: Đó là ma. Cô Hường lại nói đó là Phật. Có người xưa nay chưa biết việc thuyết pháp như thế nào, vỗ thủ xích để làm chi. Họ cũng chưa tin Phật, họ nói: "Ông thầy sao lại sân si quá, mời người ta đến nghe pháp sao lại vỗ thủ xích, vỗ ghế văng lửa tứ tung". Những người nói như thế là những người tráng kiện ở trong làng. Có người đã giác ngộ, Có người lại phân vân.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hào quang sáng như vậy rồi bay đi đâu? Càng lên cao càng to lớn, rồi bay về phương Nam, ngã Hòn Hèo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sáng ngày mai lại, ai cũng còn bận rộn lo cúng vía. Cúng rồi, mỗi người lo đi làm ăn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cách đó năm hôm, bà Kiều Thị Hẹ tức là bà Hải, tối lại về chùa đi Tịnh độ mới kể lại cho các đồng đạo nghe. Họ trầm trồ với nhau, tôi không biết họ nói gì, bèn lại gần hỏi ra thì các bà con xúm nhau lại, vừa kể vừa cười. Bà Hải nói cà chớt, nghe ú ớ rất vui.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong lúc đang kể chuyện ấy, em Thương, bà nhạc mẫu của cụ Hồ Đắc Ứng và Điệu Huệ lại kể thêm một chuyện nữa. Cũng trong đêm ấy, sau giờ thuyết pháp, bà nhạc mẫu của Hồ Đắc Ứng, em Thương (nay đi quân dịch rồi) và Điệu Huệ (tức Diệu Trí, nay tòng học ở Phật Học Viện Bảo Quốc, Huế), ba người ấy vào chánh điện xướng kinh Hồng Danh, lạy sám hối. Trong lúc đang lạy thì ba người đồng thấy ánh hào quang nhỏ như viên ngọc, chói sáng cách lạ thường, không có ánh sáng thế gian nào giống như vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hào quang ấy rọi vào tượng Phật A Di Đà lồng kính, thờ ở bàn tụng kinh đó. Ba người đồng nhìn sửng, không tụng, không lạy. Không phải ánh sao chiếu, không có một ánh đèn nào, không có ngọc ma ni châu chói, sao lại có ánh sáng. Ba người sợ hãi mà ngạc nhiên. Xướng lạy hết thời kinh rồi ra, hào quang kia đi đâu bao giờ không ai để ý. Mãi đến hôm nay mới nhớ, nói chuyện luôn thể.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trên đây là những điều linh ứng tôi chưa từng thấy, chỉ từng nghe, tôi chỉ xin thuật lại đây, chờ có đại đức cao minh nào đã gặp hay đã xem trong kinh, chỉ giáo lại cho. Còn tin hay không là quyền của độc giả. Cũng như ở tại sân chùa đây, từ khi mới phát cây, làm nền cho đến bây giờ, thỉnh thoảng phần nhiều dân chúng, hoặc từng cá nhân, hoặc nhiều người đồng thấy hào quang giáng xuống chùa hay xuống điện Quán Âm. Nhiều lần lắm, thường thường từ bảy giờ tối đến sáng, những người đi sớm về tối, làm ăn trên núi, dưới biển đều trông thấy, mà tôi tuyệt nhiên ở chùa chẳng thấy gì cả. Những việc như thế, đến làng Xuân Tự hỏi thăm ai cũng biết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi thuật ra đây không có ý gì riêng khác, chỉ mong sao mọi người ai cũng nhận thấy, ngoài vũ trụ hình thức (duy vật) còn có vũ trụ huyền bí (duy tâm). Con mắt người trần khó nhận thấy. Những nhà khoa học chân chánh, gặp phải các vấn đề nan giải này họ có một thái độ khiêm tốn dè dặt lắm. Họ hết sức nghiên cứu không thể ngỏ một lời nào vì họ chưa đến kịp mức cao siêu của đạo Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vào cuối năm 1961, những trái đu đủ trồng ở chùa, phần nhiều trong lòng có mộng hột màu vàng, hình giống như tượng Phật ngồi (có hình chụp kèm theo in trong sách). Việc này ở quận Vạn Ninh nhiều người biết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">12. <B>Quán Âm Bồ Tát Xuất Hiện Ở Huế</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vừa rồi, ngày 13 tháng 9 năm 1957, tờ báo Dân Nguyện số 353, xuất bản tại Saigon, đã đăng tin Quán Thế Âm Bồ tát xuất hiện trong một bóng đèn dầu lửa. Dịch giả xin lược trích nguyên văn sau đây:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Huế, hôm vừa rồi, tại phường Phú Nhơn, thuộc khu vực canh nông, thành nội Huế đã xảy ra một việc, dư luận rất xôn xao: Đức Phật Quán Âm hiện hình trong một bóng đèn dầu lửa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nguyên hôm ấy, 4-9-57, ông Nguyễn Trạch có đứa con gái sáu tuổi tên Tâm bị cảm nặng. Lúc hai giờ rưỡi chiều, ông Trạch đem con đến nhờ bác sĩ khám bệnh. Bác sĩ chích cho Tâm hai ống thuốc. Xong xuôi, Trạch chở con về nhà. Sau đó một chặp thì em bé tắt thở.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong lúc tẩn liệm có một vài nhà Sư tụng kinh cầu siêu. Thình lình có một người nhìn thấy hình Phật quán Âm trong một bóng đèn dầu lửa thắp trên bàn thờ. Người này chỉ cho người khác xem. Ai cũng trông thấy như vậy. Tin ấy đồn ra, những người hiếu kỳ đến xem rất đông, nhất là tín đồ nhà Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Qua đêm 6-9, cây đèn ấy được đem từ nhà ông Trạch đến khuôn Tịnh Độ, Tịnh Bình ở gần đó để người đến xem cho tiện. Nhưng về sau, đèn để lại khuôn Tịnh Độ không ai săn sóc nên đèn lại được đem về nhà ông Trạch.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cũng vào đêm ấy, 6-9, trước giờ thỉnh để lên khuôn, bóng đèn đã bị một người say rượu (vô tình hay cố ý) đến xem rồi đập bể.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông Trạch liền cho đi mua một cái bóng khác thay thế cái bể và cho thắp đèn lên, cũng vẫn thấy hình Phật Quán Âm như trước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo dư luận của những người đến xem, một số quả quyết rằng: "Đây là hình Phật Bà Quán Âm hiện lên để rước hương hồn em Tâm chết cách quá đột ngột".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">... Hình trên báo đây là một khoảng màu vàng lợt lờ mờ và đôi chỗ hơi xám (có ảnh ông Trạch và cây đèn in trên mặt báo)".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lời bàn: Nếu cho hình này do sự phản chiếu của ngọn đèn lửa, tim đèn dọi vào bóng thủy tinh thì sao các ngọn đèn khác cũng đồng kiểu với đèn này, đồng thắp đèn dầu lửa, đồng bóng thủy tinh, khi thắp lên sao lại không thấy hình hiện. Bóng củ đập bể, bóng mới thay vào, thắp đèn lên vẫn có hình và hình chỉ hiện trong mấy ngày thì hết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tin này xảy ra ở giữa Đô thành. Các báo Âu Mỹ cũng có đăng, người ở Saigon cũng có ra xem.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">13. <B>Người Dân Chày Xóm Tấn (Qui Nhơn)</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chuyện này xảy ra tại xóm Tấn, cửa biển Qui Nhơn, năm 1955 tháng ba năm ấy, trời im lặng nên có mười chiếc ghe ra đánh cá ngoài biển khơi. Thình lình giông tố nổi lên. Bao nhiêu ghe đều theo sóng gió không về. Trong xóm nhà nào cũng để tang cả. Thình lình mười ngày sau, hai anh Trần Tố và Lê Bá Cảnh cùng tất cả trai bạn trong ghe anh trở về. Nhà anh hết sức vui mừng. Xóm làng đến thăm đông và nghe anh kể chuyện sống sót:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Khi trời nổi gió, tất cả ghe đều không kịp trở tay. Ngó chung quanh thì những ghe kia đều đã mất dạng cả rồi, phần anh em chúng tôi rất khó thoát. Chúng tôi sực nhớ lại và đồng thanh niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm. Ghe càng trôi đi xa, hai anh em chúng tôi càng niệm. Những người trong ghe đều mê man. Lúc tỉnh đậy, tất cả đều thấy mình nằm trên bãi biển Nha Trang. Người trong làng địa phương chạy ra dìu dắt vào làng, hơ lửa và nấu cháo cho chúng tôi ăn. Xong rồi họ lại giúp tiền cho về đây".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hồi đó tôi là một hội viên Hội Phật Học Qui Nhơn, ở gần xóm Tấn nên tôi thấy nghe được rõ ràng. Các người kể trên hiện còn sống, có thể làm chứng cho chuyện này.
<p style="padding-left: 30px;">Nguyễn Văn Đạo
Hiện ở Khuôn Hội Thuận Lập - Đà Nẳng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">14. <B>Thoát Sản Nạn</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bà Lê Thị Nậy, vợ ông Lê Bá Lang có thai gần chín tháng. Hai ông bà này ở nhà số 48 gần nhà tôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngày 12 tháng 3 năm Bính Thân, tôi không hiểu bà Nậy đau bệnh gì bà đi mời thầy về uống thuốc. Bà phạm thuốc rên la, nằm quay như điên...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chúng tôi đến thăm và khuyên ông chở và đi nhà thương gấp. Chúng tôi ở nhà cùng các đạo hữu khác, đốt hương đèn cầu nguyện đức Quán Thế Âm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bốn giờ chiều, người ở nhà thương về cho hay thai đã tử phúc trung (chết trong bụng mẹ). Đợi đến sáng mai, bác sĩ mới giải phẩu đem thai ra, nhưng rất nguy hiểm cho người mẹ. Bà này đã mê, bất tỉnh. Chúng tôi không nản chí, vẫn thay nhau tụng kinh cầu nguyện. Sáng hôm sau, người nhà ông Lang ở nhà thương về cho hay cái thai đã tự thoát ra vào lúc bốn giờ sáng. Chúng tôi rất lấy làm mừng. Bác sĩ phụ trách bà Nậy cũng lấy làm lạ, cho là việc chưa từng có.
<p style="padding-left: 30px;">Lê Văn Niệm thuật.
26 đường Nguyễn Hiệu - Huế.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">15. <B>Dẹp Lửa Dữ</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cách đây trên hai mươi lăm năm, hồi ấy tôi làm thuốc tại "Hàng Gòn" thuộc Công ty Hợp danh Cao su Xuân Lộc, cách ga Xuân Lộc bảy cây số thuộc tỉnh Biên Hòa. Năm ấy tháng ba trời mưa luôn, thế mà các nhà trong Sở bị cháy giữa ban ngày. Một thứ lửa đặc biệt màu xanh bắt đầu phát ra từ trên nóc nhà. Hễ chữa nhà này thì luồng khói xanh xẹt qua cháy nhà khác.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhân dân trong Sở hoang mang lo sợ. Tất cả tài sản trong nhà đều đem ra ngoài. Ngày làm ăn không yên, đêm nằm xuống không ngủ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các ngành sanh hoạt trong Sở đều bị đình trệ, Chánh phó chủ sử ấy là người Pháp hết sức lo lắng, nghi ngờ có người đốt phá, hoặc chất lân tinh hay hóa học ở đâu bay đến mới cháy cách kỳ quái như vậy. Họ cho lính gác, mật thám điều tra, canh phòng nghiêm mật lắm. Nhưng lửa vẫn hoành hành cách hiên ngang.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông chủ mời vị Linh mục đến làm lễ, đọc kinh cầu nguyện và thổi kèn Tây cả ngày đêm, thi hành các biện pháp phòng lửa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng tất cả đều vô hiệu. Lửa càng cháy mạnh thêm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thời tiết đổi thay hết mưa lại nắng, lửa càng cháy nhiều.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Có một anh lao công đi cạo mủ cao su về, gánh qua cửa ông gác dan, thình lình anh quăng gánh mủ xuống, mặt mày đỏ tươi ứng khẩu nói: "Mười hai giờ lửa cháy nhà ông gác dan". Nhà chức trách bắt ngay anh ấy và lập tức báo cho ông chủ sở hay. Ông chủ hỏa tốc ra lệnh giới nghiêm (lúc ấy mười giờ trưa), canh gác hết sức cẩn thận. Người trong nhà buộc phải ra ngoài hết. Ngoài nhà người gác không có chỗ chen chân. Có mấy thầy cầm ống dòm quan sát. Mọi người chờ lửa bí mật từ đâu đưa đến. Quả thật, mười hai đúng lửa xanh cũng bắt đầu trên nóc nhà anh gác dan cháy xuống với một màu xanh đặc biệt...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lần này ông chủ, các thầy và dân trong Sở đều kinh ngạc, đều tin có lửa huyền bí mà trí khôn kẻ tầm thường không thể thuyết minh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chiều ngày ấy, các người dân trong làng, ông Cố già, ông Cả Sáu và anh Bản đến nhà nhờ tôi tụng kinh cầu an, nhờ sức từ bi của Phật cứu độ họa may có hết họa hỏa hoạn chăng! Quý ngài nói rất khẩn thiết. Tôi nghĩ rằng việc lửa cháy trong Sở có tính cách quan trọng, thế lực đều trong tay người Pháp, công việc đương còn phức tạp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kẻ nghi dân Sở đốt, người thì đổ thừa cho ma quỷ thần linh...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn phần mình là một thường dân, sanh trong mê lầm, sống trong hồi hộp. Ngày nghiên cứu sách thuốc, tối niệm Phật tụng kinh, đức độ gì mà dám đương đầu với việc ấy. Nếu may lửa hết cháy thì nhà chức trách có nghi ngờ gì không? Bằng như không hết cháy thì mình mất uy tín.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì thế nên tôi do dự không dám chịu nhận lời tụng kinh cầu an.
Nhưng cũng khó nghĩ trước sự đau khổ của dân chúng, người ta đã... đến khẩn thiết yêu cầu, mình không hộ niệm thì bổn phận lợi tha đâu còn nữa? Vì vậy tôi xin hẹn lại, ngày mai tôi ăn chay mới dám tụng kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngày ấy là 6 tháng 4 âm lịch, tối lại tôi quỳ trước bàn Phật phát đại thiện nguyện, cầu xin chư Phật và Bồ tát từ bi gia hộ cho chúng sanh. Tôi xin hết lòng kiên cố Bồ đề tụng kinh trì chú cho khỏi cơn hoạn nạn. Như chư Phật và Bồ tát linh cảm thì cho tôi biết trước trong điềm mộng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mười giờ khuya tôi đi ngủ. Mắt bên trái máy luôn. Tôi cố tỉnh tâm ngủ mà không ngủ được. Tôi phải ngồi dậy, dùng phép "hàng ma tọa", cầm chuỗi thập bát niệm chú Bát Nhã và chú "Án Ma Ni Bát Di Hồng" một hồi lâu mới ngủ được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong giấc ngủ, tôi thấy hào quang chiếu diệu, có đức Phật ngồi trên tòa sen trắng, tay trái kiết ấn "tam muội", tay mặt cầm nhành dương liễu ngự trước lễ đài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi giật mình tỉnh giấc, thấy đèn trên bàn Phật đã tắt hồi nào. Tôi đốt đèn lên thì đã một giờ sáng rồi. Tôi tịnh tâm suy nghĩ: "Mình thấy Phật chắc tối mai tụng kinh có cảm ứng, chắc có đức Quán Thế Âm đến cứu khổ nạn cho chúng sanh. Còn đèn tắt là điềm lửa hết cháy".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi tỉnh trí lại, thấy thần thức của tôi không có gì xao lãng nên bắt đầu quyết đoán: Chiều ngày 7 tháng 4, quý vị đến thỉnh tôi, tôi sẽ thưa: "Tôi người thiểu đức, chỉ biết tụng kinh, còn hết cháy hay không là do nơi huyền bí, xin quý ngài hiểu cho".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi lên bàn Phật đốt hương, thỉnh tượng đức Thế Tôn và bộ kinh Tam Bảo đi theo quý vị, khi họ đến mời tôi...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến nơi, tôi thiết bàn thờ Phật ở một cái miếu thờ Bà. Tôi thành kính niệm đức Bổn Sư và đức Quán Thế Âm, cầu mong hồng ân Tam Bảo cứu hộ dân sở tại qua khỏi tai nạn. Đến mười một giờ khuya, tôi tụng kinh Phổ Môn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sáng này 8 tháng 4, trọn ngày lửa hết cháy. Mọi người đều vui mừng. Riêng tôi còn lo lửa sẽ cháy lại!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhân dịp gặp ngày Phật Đản, tôi cầu nguyện quốc thái dân an. Từ đó ngọn lửa dữ đã hóa theo khói hương huyền bí của Phật. Tôi trở thành thầy tụng chuyên môn. Hằng tháng chủ sở cấp lương tôi bằng lương thầy Cai trong sở.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngày lại tháng qua, trong sở đề nghị trả lễ cúng chay ba ngọ. Gần đến ngày 19 tháng 9 vía đức Quán Thế Âm, tôi đề nghị lấy ngày ấy cúng cho tiện. Tôi phải về Phan Thiết rước thầy Phước Nhân, chùa Trà Cú đến chứng trai đàn. Nhân dân mừng quá, cúng chay rồi kêu bạn hát Bầu Bòn Saigon lên hát mừng. Tôi đề nghị không sát sanh. Mọi người đều hoan hỷ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công việc hỏa hoạn không còn. Dân sở hết lòng tin tưởng đạo Phật, phát tâm ăn chay niệm Phật làm lành rất đông.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nguyễn Văn Đào (Bồng Sơn) thuật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">16. <B>Cải Tử Hoàn Sanh</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm 1955, tôi làm Hiệu trưởng trường Trung học Tuệ Quang thế thầy Thiện Tấn tại chùa Linh Quang và thầy Nhất Hạnh ở Đà Lạt.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bác thư ký của trường có người con trai lớn trên ba mươi tuổi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một hôm nọ vì giận việc gia đình sao đó, tự ra phố mua hai ống thuốc ngủ bốn mươi viên về uống hết. Cả nhà chẳng ai biết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sáng ngày mai, thầy Từ Mẫn tự nhiên đến nhà anh chơi. Nhà vắng người, chỉ có bà vợ anh ta ở sau bếp. Còn anh thì nằm mê man bất tỉnh không ai để ý. Thầy Từ Mẫn đến dở chăn xem, tưởng anh ngủ chưa dậy. Không ngờ thấy anh nằm trơ như lẻ gỗ (khúc gỗ) mắt sưng vù, miệng trào nước miếng bọt, mũi chảy máu. Thầy la to cầu cứu. Bà vợ ở bếp chạy lên, thấy anh cứng rồi. Chị nói chiều qua, thấy anh có đi mua hai ống thuốc ngủ, tưởng là anh đi mua chữa bệnh cho đồng bào. Anh biết làm y tá. Tìm xét thấy thì hai ống thuốc bỏ đó. Biết anh phạm thuốc tự tử, bèn chở anh vào bệnh viện Đà Lạt ngay.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc ấy bác sĩ phụ trách bệnh viện là người Pháp. Bác sĩ bảo nếu đủ 24 tiếng đồng hồ mà bệnh nhân không nhúc nhích, cục cựa thì phải chết và trả lại cho gia đình. Thật vậy, chiều lại bác thư ký đến trường cho tôi và thầy Minh Châu, trụ trì chùa Linh Quang hay. Bác mời tôi xuống tụng kinh cầu siêu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc chúng tôi đến nhà bác thì đã thấy đồng bào vây quanh để thăm con bác chết. Đồng bào ấy là thân chủ bệnh nhân thường ngày được anh săn sóc khi bệnh hoạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhà bác thư ký có thờ Phật. Chúng tôi lên lầu tụng kinh Phổ Môn và trì chú vào chén nước lạnh cúng trên bàn Phật. Trong lúc ấy thì cả gia đình và bà con bác đang xúm xít quanh giường bệnh để xem xác chết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chúng tôi tụng kinh xong thì bưng chén nước từ trên lầu xuống. Vừa đi vừa niệm câu: "Nam Mô Quán Thế Âm Bồ Tát". Mọi người ai cũng niệm theo, âm thanh vang dội một khoảng xa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi ngồi trên đầu giường, bác thư ký ngồi khóc bên mình con. Muỗng nước đầu tiên chúng tôi vừa đổ vào môi anh con bác thì anh liền phun ra. Mọi người đều kinh ngạc. Kế muỗng thứ hai, thứ ba là anh cựa mình. Thế là sống được rồi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nước vẫn đổ thêm. Tiếng niệm càng lớn. Người đến thăm càng đông. Sau đó nửa tiếng đồng hồ, có người đàn bà đến bảo lấy nước xả đổ cho anh mau tỉnh. Tiếng niệm vẫn còn vang dội vì thấy bệnh tình quá trầm trọng, mặc dù theo lời bác sĩ nói rằng hễ anh cựa mình được là sống. Nhưng khi chở anh về nhà đó đã quá 24 tiếng đồng hồ rồi, anh không nhúc nhích, nên bác sĩ trả lại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trời nhá nhem tối, chúng tôi về chùa, để lại hai ông Điệu tiếp tục tụng kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sáng ngày bác thư ký lên cho chúng tôi biết anh tỉnh, nhưng còn mệt. Bác sĩ nghe tin ấy rất lấy làm lạ, và nếu chữa lành anh ta cũng phải điên cuồng một thời gian. Nhưng đây trái lại, vài ngày sau anh lên trường thăm chúng tôi, bình tĩnh như thường và tiếp tục đi tiêm thuốc cho đồng bào như cũ. Hiện nay, anh vẫn còn mạnh và thường về chùa Linh Quang hầu thăm thầy Minh Cảnh luôn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chúng tôi kết luận rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phép Phật rất nhiệm mầu, sâu xa không thể tưởng tượng. Chỉ vì chúng ta không tin, không áp dụng và đời sống hằng ngày nên chúng ta phải khổ lụy mãi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nếu ai cũng tin, cũng niệm Phật, cùng làm lành thì đâu đến nỗi đắm chìm trong biển khổ.
<p style="padding-left: 30px;">Thuật giả: Thích Viên Giác.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">17. <B>Nhiệm Mầu Thay Đức Tin</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cũng trong thời kháng chiến, một ông quận trưởng ở tỉnh Thừa Thiên, một Phật tử thuần thành, am tường Phật lý, nhân một hôm vì phận sự phải đi bố ráp với quân đội Pháp. Ông ta bị thương sau mông vì địch liệng lựu đạn, nên ông được đưa vào cứu cấp tại bệnh viện Huế. Mặc dù sự săn sóc tận tụy của bác sĩ, nhưng máu vết thương cứ rỉ rả chảy mãi không dứt (Có loại máu không thuốc gì cầm được. Một khi bị thương tích gặp loại máu này thì phải chịu chết).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Biết sức người không sao cứu nổi, ông chỉ mong ở hạnh từ bi của đức Quán Thế Âm, một là cứu khỏi bệnh, hai là nếu đã tận số thì xin ngài tiếp dẫn cho về Lạc quốc. Ông thành tâm tinh tấn niệm danh hiệu ngài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một đêm ông mơ màng thấy dạng một người đàn bà mặc toàn đồ trắng, mở cửa phòng bước vào và nhẹ nhàng đi ra, sau khi đưa tay thoa vết thương cho ông.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Giựt mình tỉnh dậy, ông hỏi bà vợ nằm cạnh giường, bà có thấy bóng người nào không? Bà nói có thấy thoang thoáng một bóng nười đàn bà vào, và tưởng là y tá đến trông nom bệnh nhân.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngạc nhiên và sung sướng thay, đưa tay rờ vết thương, ông thấy máu ướm khô và từ đó vết thương lành dần dần rồi khỏi hẳn.
<p style="padding-left: 30px;">Bửu Cúc (Nha Trang) thuật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">18. <B>Thoát Nạn Nước lụt</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Anh Đào, người làng An Truyền, quận Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên, năm 1953 được lệnh động viên, anh phải nhập ngũ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm ấy ở Huế lụt to nhất, xưa nay chưa từng có. Anh Đào và bạn đồng đội tám người, gác lại lô cốt gần biển, cửa Thuận An.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đêm 24, sáng này 25, gió to sóng lớn, nước dâng lên cao, mau không thể trở tay.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Anh em đồng đội đều là những người khác đạo, kêu gào cầu cứu giáo chủ của họ, nhưng đều vô hiệu giữa biến cố ấy, không thấy tâm dạng một bóng người, một ghe thuyền nào cả. Lại thêm trời tối như mực, mưa đổ như xối. Cả đội đều khoanh tay chờ chết vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Riêng anh Đào, bình tĩnh chí thành niện danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ tát, chết sống phó mặc ba đào. Nước mỗi lúc một cao, gió mỗi lúc một lớn. Lô cốt đổ nhào, trôi theo dòng nước cuốn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tự nhiên, Đào thấy mình tấp vào gành đã cao, gió rét thấm xương, tưởng chết rồi, nhưng anh không dứt tiếng niệm Phật, thế rồi ngủ thiếp đi bao giờ không hay.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng anh mộng thấy có người đánh vào vai, bảo dậy mà về. Bừng mắt dậy, anh thấy trời về chiều, xa xa có chiếc đò đi vớt củi, anh liền kêu cứu, đò ấy đến chở anh về. Còn bạn đồng đội của anh chẳng biết trôi dạt vào đâu!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thoát nạn rồi, anh lên chùa Báo Quốc lạy Phật, và kể chuyện lại cho Bổn sư anh nghe và chép theo lời anh đã thuật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>(Trích ở quyển Mẹ Hiền Quán Âm)</I>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">19. <B>Học Trò Thi</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trước đây có hai cậu học trò, một người thật thà chất phác, một người thông minh lanh lợi. Người thật thà ngày đêm lễ bái cầu đảo đức Quán Thế Âm, xin cho biết trước đề thi. Người thông minh muốn gạt chơi, liền lén viết bảy đề thì bỏ vào lư hương, làm như Bồ tát ban cho.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người thật thà lượm được, tin tưởng là ngài ban cho thật, đêm ngày lo học thuộc lòng bảy đề và được trúng tuyển. Còn người thông minh làm xong quyển bị lửa đốt cháy, hỏng thi. Lão Tử nói: "Xảo giả chuyết chi nô" (Khéo làm tôi vụng - Khéo mà thiếu phước không bằng vụng mà có đức). Hễ có lòng tin thì được (nhưng về sự học cũng cần mình phải có thực tài một ít mới được).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">20. <B>Chiếc Phi Thoàn Lênh Đênh Giữa Biển Cả</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông Brillant, người Việt vào quốc tịch Pháp lúc còn nhỏ, thường hay theo mẹ lên chùa và thường nghe mẹ kể chuyện linh cảm của Quán Thế Âm Bồ tát. Nhờ đó, ông thường niệm danh hiệu ngài, cầu ngài cứu hộ trong những lúc tai nạn. Lớn lên, ông đi lính Pháp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm 1940, ông được đóng lon Thiếu Úy. Một hôm cùng với Đại úy Touffant và Trung úy Letournard cỡi phi thoàn ra đảo Côn Lôn. Lúc trở về phi thoàn hỏng máy rơi xuống nước, trôi bập bềnh mấy tiếng đồng hồ. Hai ông kia rối trí, hốt hoảng, loạn tâm, kêu la inh ỏi. Riêng mình Thiếu úy Brillant bình tĩnh, im lặng, niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ tát. Chiếc phi toàn vẫn bập bềnh trôi giữa sóng gió. Bỗng có chiếc tàu đánh cá của người Nhật đến thả dây kéo ba người lên xong, chiếc phi thoàn mới chìm. Tất cả mọi người, khách lẫn chủ đều lấy làm lạ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trung úy Letournard và Đại úy Touffant hỏi Thiếu úy Brillant: "Tại sao trong lúc chúng tôi hốt hoảng bối rối mà ông lại bình tĩnh thản nhiên như thế?" Ông Brillant đáp: "Lúc ấy tôi thấy không thể thoát chết nên tôi một lòng cầu nguyện đức Quán Thế Âm Bồ tát cứu. Vì tôi thường được nghe mẹ tôi dạy tôi niệm danh hiệu ngài trong khi bị tai nạn. Tôi đã nhiều lần thoát chết trong đời binh sĩ, vì tôi đã thành tâm cầu nguyện".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nghe nói hai ông kia mới tin; vì đáng lẽ ra chiếc phi thoàn phải chìm lâu, trong khi còn người ở trong, nhưng lại không chìm. Khi người được cứu lên rồi, phi thoàn nhẹ lại chìm. Thật là một việc khó suy nghĩ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ đó Đại úy Touffant hết lòng kính tin mộ đức Quán Thế Âm. Đại úy về Cai Lậy, làng Tân Mỹ, tỉnh Gia Định cất ngôi chùa thờ ngài. Hằng ngày đích thân đến làm lễ để tỏ lòng biết ơn ngài đã cải tử hoàn sanh cho ba anh em đồng nghiệp trên phi thoàn kia.
<p style="padding-left: 30px;">(Đại đức Thích Trí Tịnh, thuật).
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<CENTER>CHƯƠNG II
<B>NHỮNG CHUYỆN LINH ỨNG TẠI CÁC NƠI</B>
(Ấn Độ, Trung Hoa, Nhật Bản v.v...)</CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. <B>Giới Hiền Luận sư mơ thấy Quán Thế Âm Bồ tát dạy bảo</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thuở xưa, ở Tây Vức (Ấn Độ), Giới Hiền Luận sư là một bậc đạo đức cao tăng trng một thời, tiếng đồn vang khắp bốn xứ Thiên Trúc (Ấn Độ).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì túc nghiệp. Luận sư mang một chứng bệnh dữ, đau đớn vô cùng, chịu không kham nên sắp muốn tự vận. Vừa trong đêm ấy nằm mơ thất ba vị Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền, Quán Âm giáng lâm và bảo:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nhà ngươi, trong những kiếp về trước, nhiều đời làm vua, bởi não hại sanh linh, đáng lẽ sẽ phải lâu dài bị đọa vào ác đạo; nhưng bởi vì đời nay, nhà ngươi có công hoằng dương Phật pháp nên chuyển lại thành sự khổ nhỏ ở nhân gian để tiêu trừ sự khổ lớn ở địa ngục qua nhiều kiếp. Vậy nay nhà ngươi gắng nhẫn chịu, chớ nên buồn rầu mà tính việc chi khác. Trong ba năm nữa, ở xứ Đại Đường, có một vị Tăng tên là Huyền Trang sẽ đến đây thọ pháp với nhà ngươi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Giới Hiền Luận sư nghe rồi, liền ráng chịu khổ, sám hối tội lỗi, lâu ngày bệnh lần lần thuyên giảm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Qua ba năm sau, quả thật Trần Huyền Trang (tức là Tam Tạng trong quyển Tây Du Ký) đến chùa Na Lan Đà.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Giới công bảo đệ tử nói lại trạng thái bệnh khổ của mình; khi nói, chính người thuật lại cũng nghẹn ngào rơi lệ; bao nhiêu đó cũng đủ biết sự khổ ấy là dường nào rồi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nêu ba vị Bồ tát không nói rõ nhân duyên kiếp trước, người đời sẽ cho rằng ngài Giới Hiền chẳng phải là đạo đức cao tăng, hoặc giả có kẻ bảo rằng một vị đại tu hành mà còn bị chứng bệnh thảm khốc như thế thì Phật pháp có chi là linh nghiệm?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tóm lại, chỗ hiểu biết của các người còn nông cạn, nên chỉ vừa thấy việc gì có hơi khác liền sanh lòng nghi nan. Hành vi ấy có thể khiến cho kẻ ít căn lành thối thất đạo tâm, và nếu thấy người đương thời làm ác mà hiện đời được hưởng phước, chắc các người cũng khởi ra quan niệm sai lầm như thế sao?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nên biết rằng đó chẳng qua là sự gây nhân trả quả rất phức tạp, và đó chẳng qua là sự chuyển biến phức tạp của những lớp tiền nhân hâu quả không đồng đều, đổi quả nặng đời sau thành quả nhẹ đời nay, quả nặng đời nay đợi đến đời sau mới trả v.v...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>(Trích trong <B>"Lá Thư Tịnh Độ"</B> của Ấn Quang Pháp sư. Ghi lại từ cuốn <B>"Lý Bát Nhã và Tịnh Độ"</B> của Bổn Nguyên cư sĩ soạn - in tại nhà in Hạnh Phúc, 69 Lê Văn Thanh, Gò Vấp, Gia Định, 3/1975).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">2. <B>Thích Huệ Nhật thấy đức Quán Thế Âm hiện ra phán dạy</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khoảng đầu thế kỷ thứ VIII (Tây lịch), sau ngài Tam Tạng Pháp sư Trần Huyền Trang, có một vị cao tăng người Trung Hoa, ngài Thích Huệ Nhật (ngài có soạn bộ Vãng sanh Tịnh Độ tập) sang Thiên Trúc bằng đường biển.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc trở về nước theo đường bộ. Ngài đi ngang xứ Kiên Đà Ra (Càn Đà La), một nước miền Tây Bắc xứ Ấn Độ, ngài có đến chiêm bái đài tượng đức Quán Thế Âm Bồ tát trên một ngọn núi hướng về phía Đông Bắc thành vua nước ấy. Ngài Huệ Nhật đảnh lễ và tuyệt thực luôn mấy ngày liền; đến ngày thứ bảy, lúc bình minh, ngài thấy đức Quán Thế Âm Bồ tát hiện ra giữa không trung, thân sắc như vàng ròng, ngồi trên tòa sen, buông tay hữu xuống xoa đầu ngài và phán dạy ngài nên đem pháp môn niệm Phật truyền bá rộng rãi trong dân gian, khuyên thiên hạ nên niệm đức A Di Đà Phật và cầu sanh Cực Lạc quốc. Đức Quán Âm bảo rằng tu pháp môn niệm Phật hơn là tu các pháp môn khác. Trong Đại Tập kinh: "Mạt thế ức ức người tu hành, không có được một người giải thoát; chỉ có nương pháp môn niệm Phật mới ra khỏi vòng luân hồi mà thôi... Nếu người chuyên niệm Phật, hoặc ngồi mà niệm, hoặc đi mà niệm, ròng rặc trong bốn mươi chín ngày thì hiện đời thấy Phật và liền được vãng sanh sau khi lâm chung".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>(Trích trong <B>"Lý Bát Nhã và Tịnh Độ"</B> đã dẫn trên).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">3. <B>Bà mẹ ông Lưu</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ mùa Đông năm Nhâm Thìn (?), tôi bắt đầu quy nghiệm về bốn lời dạy của ông Viên Liễu Phàm và bài du công Tịnh Ý (?). Tôi thấy việc đời do nhân duyên tạo thành, và tự chúng ta gây nghiệp tốt và nghiệp xấu cho chúng ta.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến mùa Đông năm Quý Tỵ, tôi hết lòng ăn năn tội lỗi. Tối sốt sắng giúp đỡ bà con xóm giềng nghèo khổ. Hằng ngày tôi quý tụng kinh đức Quán Thế Âm để cầu cho mẹ tôi sống lâu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhân một hôm, bệnh hỏa đàm trước kia của mẹ tôi tái phát nặng hơn mấy lần trước. Mẹ tôi cũng tin Phật lắm, bèn gọi tôi đến bảo: "Bệnh mẹ trở đi trở lại đã ba mươi mốt năm rồi, thuốc thang mấy cũng không lành, nay con chuyên chú trì tụng kinh mà bệnh mẹ lại càng nặng hơn; thế là mẹ già bạc phước, nghiệp chướng nặng nề, không cảm được Phật, con ạ!"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi cảm động quá. Tôi nghĩ rằng tất cả sự cầu nguyện đều do tôi chưa thành tâm nên vọng niệm chưa trừ. Tôi an ủi mẹ tôi, rồi tôi đốt hương ra giữa trời quỳ niệm với tất cả chí thành. Tôi phát tâm làm tất cả mọi việc lành.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi hết sức cầu nguyện đức Quán Thế Âm Bồ tát cứu mẹ tôi mau lành. Khi tôi đứng dậy thì đầu gối tôi rươm rướm máu mà tôi cũng chẳng biết đau tí nào.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai ngày sau, mẹ tôi đã khỏe và đòi ăn cháo. Tôi mừng lắm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đêm ấy tôi nằm mộng thấy một vị đạo sĩ vào nhà bảo mẹ tôi ngồi dậy và cho mẹ tôi uống một chén nước màu xanh. Mẹ tôi uống hết chén nước rồi thì thấy tươi tỉnh hẳn, cám ơn đạo sĩ vô cùng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sáng hôm ấy bệnh mẹ tôi giảm đi phân nửa. Ba hôm sau thì lành hẳn. Cái cố tật hơn ba mươi năm về trước không còn thấy trở lại. Điều cảm ứng trên làm cho tôi càng thêm tin đạo nhiệm mầu. Tôi càng thành tâm tiếp tục tụng niệm, ăn ở theo điều lành.
<p style="padding-left: 30px;">Lưu Anh Sơn (Trung Hoa).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>(Trích trong quyển Phẩm Phổ Môn của Thích Viên Giác đã dẫn trên, từ trang 152 đến 154).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">4. <B>Thoát khỏi gươm đao</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đầu triều đại nhà Thanh bên Tàu, có ông Trình Bá Lân là một nhà buôn ở các tỉnh Giang Tô, Dương Châu v.v... thành kính thờ đức Quán Thế Âm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến năm Ất Dậu, bị giặc đánh phá Dương Châu, Trình Bá Lân cầu đảo, xin ngài cứu độ. Đêm ông ta nằm mộng thấy đức Quán Thế Âm dạy rằng: "Nhà ngươi có mười bảy người, mười sáu người khỏi chết chỉ có một mình ngươi là không thể nào trốn được; vì kiếp trước nhà ngươi đã giết chết tướng giặc của Vương Ma Tử hai mươi sáu lát dao, nay người phải đền trả mạng kiếp trước, mười sáu người nhà đi tránh chỗ khác ắt khỏi bị hại, còn ngươi thì sắm sửa đồ ăn sẵn đợi đó. Tối nay đúng canh hai, có người đến kêu cửa, chính là Vương Ma Tử vậy". Họ Trình rất tin nên làm in lời Bồ tát dạy. Quả như vậy đến canh hai, có người đến la to kêu cửa. Họ Trình ung dung mở cửa, bình tĩnh hỏi rằng: "Ông là Vương Ma Tử phải không? Tôi đã sắm sẵn đồ ăn uống, đợi ông đã lâu. Vậy xin mời ông vào". Vương Ma Tử trong nhà đèn sáng như ban ngày, đồ ăn uống linh đình đang đợi, cho là lạ, bèn hỏi rằng: "Vì sao anh biết tôi là họ Vương?" Họ Trình thuật lại đầu đuôi câu chuyện đức Quán Thế Âm chỉ giáo trong mộng. Vương nói: "Nếu quả như vậy, kiếp trước anh giết tôi, kiếp này tôi giết anh, kiếp sau anh lại giết tôi, thế thì oan oan tương báo không biết lúc nào đình chỉ. Chi bằng hai ta hòa hảo với nhau, may ra thoát được oan trái. Thôi, anh đưa lưng lại đây, tôi làm phép giả chặt anh hai mươi sáu lát dao, gọi là huề nợ xưa, và xin bảo hộ toàn gia vô sự; nguyện suốt đời ăn ở tốt với nhau".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đấy cũng chỉ là nhờ lòng thành thờ kính và xưng niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ tát vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>(Trích ở quyển "Mẹ Hiền Quán Âm", ghi lại từ quyển Phẩm Phổ Môn của Thích Viên Giác đã dẫn ở trên, trang 157-158).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">5. <B>Thoát khỏi lao tù</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đời nhà Đường có ông Đổng Hùng làm chức Đại lý quan về triều Đường Thái Tôn, lúc nhỏ ông ta đã ăn chay thờ Phật rất thành kính. Nhơn vì có hiềm khích với bạn đồng liêu, ông bị vu cáo phải tống giam vào ngục.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Không biết kêu cứu vào đâu, chỉ nhất tâm tụng Phẩm kinh Phổ Môn này và niệm danh hiệu ngài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rất lạ là gông xiềng tự mở khóa mà khóa xiềng vẫn y nguyên. Giám ngục bẩm lên Ngự sử Trương Thủ Nhất, thân hành đến khám nghiệm cho là kỳ quái, rồi cho xiềng khóa lại rất kỹ lưỡng. Đổng Hùng y như thường lệ, cứ chí thành tụng kinh, khóa xiềng lại tự nhiên rớt xuống đất mà niêm phong vẫn tự nhiên như cũ. Nhờ thế ông được quan trên cứu xét lại là oan, liền tha ngay.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>(Trích ở quyển "Mẹ Hiền Quán Âm" của Thích Viên Giác đã dẫn trên).</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">6. <B>Thoát khỏi nhà giảng đường sụp đổ</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài Châu Tăng Thật, tròng mắt có hai con ngươi, dưới hai nách như hai trứng phụng, đạo cao đức trọng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một hôm ngài leo lên gác để đánh chuông, liền vội vã bảo tăng chúng thắp hương và nói: "Giờ này ở Giang Nam có một ngôi chùa lớn, giảng đường sẽ bị sụp đổ đến nơi, thỉnh đại chúng đồng niệm Quán Thế Âm Bồ tát cầu ngài cứu hộ may ra khỏi đè chết trên ngàn người". Giây lát tiếng niệm Phật vang dội cả vùng chùa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về sau có người ở Giang Nam về tin: Ngày ấy ở Dương Châu, giảng đường có trên một ngàn người đến nghe giảng kinh, bỗng nhiên có mùi hương thơm ngào ngạt. Tiếng tụng kinh vang dội từ cửa Bắc giảng đường luồng vào, rồi theo cửa Nam bay ra. Đại chúng lấy làm lạ liền theo tiếng tụng kinh đi ra tất cả. Liền đó nhà giảng đường sụp đổ, không một ai bị thiệt mạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>(Trích ở Cao Tăng Truyện, tập II)</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">7. <B>Dân Nhật Bổn thoát hỏa tai</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm Dân Quốc thứ 11 (Trung Hoa), nạn động đất ở Nhật Bổn, các đại biểu Phật giáo Phổ Tế là ông Bao Thừa Chí, Đường Thức Các v.v.. đi qua Nhật Bổn điếu ủy về, báo cáo tình hình như thế này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dân số Nhật chết trong nạn động đất này ước chừng trê ba chục vạn người, thi hài chất cao như núi. Cứ riêng một địa phương mà nói thì khu vực "Thiển Thảo ở Đông Kinh là trở thành hoàn toàn tiêu thổ, ở trong khu vực ấy có một công viên. Trong công viên có một hồ nước và một tòa Quán Âm Các ba gian, kiến trúc theo lối Nhật Bổn cũ. Khi nhân dân bị hỏa tai, lửa cháy bao bọc, không biết trốn tránh vào đâu, nhân dân dua nhau chạy vào công viên. Tất cả đều tụ tập ở tòa Quán Âm Các ước chừng hơn ba vạn người. Trong tình cảnh bức thúc, mọi người đều niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm với lòng chí thành, may thoát khỏi. Từ trong ra ngoài, dị khẩu đồng âm vang dội tiếng niệm: Nam Mô Đại từ Đại bi cứu khổ cứu nạn Linh cảm Quán Thế Âm Bồ tát. Lửa lan đến hồ, đốt cháy khô cả hồ nước rồi dừng lại. Thật là một việc chưa từng thấy!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Không những đám dân không ai bị nạn, mà luôn cả ba gian nhà kia hiện nay vẫn còn. Chính phủ Nhật Bổn hiện bảo tồn để làm nơi Thánh tích kỷ niệm. Ai là người đã đến Nhật Bổn chắc không khỏi đến tham bái Thánh địa ấy. Đức Từ bi cứu khổ của Bồ tát Quán Thế Âm cùng khắp mọi nơi, thật không sai với ý nghĩa hai chữ Phổ Môn vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>(Trích trong quyển "Mẹ Hiền Quán Âm" - ghi lại từ cuốn Phẩm Phổ Môn của Thích Viên Giác đã dẫn trên.)</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ câu chuyện thứ 8 này trở về sau là những chuyện tôi trích sao lại từ quyển Phổ Môn Giảng Lục của ngài Bảo Tịnh Pháp sư giảng (như đã dẫn trước kia), tuy nhiên tôi cũng sửa lại một vài danh từ hoặc sắp xếp lại cho có mạch lạc để quý vị độc giả đễ hiểu và nhận định.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">8. <B>Người buôn gạo xứ Thượng Ngu được Quán Âm Bồ tát cứu độ</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trước kia có người buôn gạo xứ Thượng Ngu, tỉnh Chiết Giang, trong nhà phụng thờ đức Quán Thế Âm rất thành kính. Nhà chỉ có hai vợ chồng mà thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một đêm chủ nhà nằm mộng thấy Quán Thế Âm Bồ tát đến mách rằng: "Ngươi sắp bị đại nạn, nên ta đến đây để cứu ngươi". Sau đó liền nói bài kệ bốn câu và dặn dò người chủ nhà cần nhớ cho đầy đủ, rõ ràng chắc chắn từng chữ, từng câu một. Bài kệ bốn câu, nguyên văn:
<p style="padding-left: 30px;">Phùng kiều mạc đình châu
Ngộ du tức mạc đầu
Đẩu cốc tam thăng mể
Thương thằng bỗng bút đầu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nghĩa:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Gặp cầu đừng đậu ghe
Gặp dầu lấy xoa đầu
Đấu lúa ba thưng gạo
Lằng xanh bu đầu bút.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi tỉnh giấc, ông ta nhớ được rõ ràng và đầy đủ bốn câu công tật cả hai mươi chữ và cho là quái lạ! Bởi thế nên nhớ chắc chắn không quên tí nào.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Qua ngày sau, nhân ông mướn ghe để đi chở lúa gạo. Ghe đi giữa đường chẳng may gặp phải gió mưa dữ dội. Người bạn ghe có ý muốn đậu ghe dưới mạn cầu để tạm tránh mưa gió.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người chủ ghe liền sực nhớ lại việc trong mộng, nhớ câu <I>"Gặp cầu chớ đậu ghe"</I>. Ông liền đốc xuất bạn ghe cho ghe lướt nhanh tới đừng nên đậu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc chiếc ghe vừa thoát qua khỏi cầu, thì cầu liền sập ngay, đè sát mặt nước. Hú vía thoát chết một lần! Nhân đấy ông ta cảm nghiệm được sự linh ứng của Bồ tát Quán Thế Âm; và từ đấy trở đi càng tụng niệm, càng lễ bái nhiều hơn nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại một đêm hôm, lúc ông đang quỳ tụng chưa đứng dậy, bỗng nhiên chiếc đèn huyền đăng treo trước bàn Phật, từ trên rơi xuống, dầu trong đèn đổ ra lai láng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Do câu đầu của bài kệ đã có ứng nghiệm, mà giờ đây lại gặp dầu đổ: câu thứ hai trong bài kệ chính là nói chuyện dầu, cho nên ông liền lấy tay hốt dầu dưới đất mà xoa lên đầu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Xong ông bái Phật, đứng dậy thản nhiên đi ngủ. Ngủ quá nửa đêm, ông thức dậy, nghe có mùi máu tanh tanh, ông liền lấy đèn soi thấy người vợ bị đứt cổ họng chết ngay chẳng biết ai giết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông ta tức tốc chạy băng qua báo cho nhạc gia biết liền lúc đó. Khi ông bà nhạc gia đến gạn hỏi cớ sự thì ông rễ không trả lời được ai là kẻ giết vợ mình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cuối cùng nhạc gia nghi, vì là nguyên nhân này: Nhà này vốn có tin Phật, thờ Phật mà con mình là vợ nó chẳng tin, chắc do đó nên đã có việc gì xích mích bất thường, đến nỗi chồng mưu giết vợ, đích vậy rồi đó. Bởi không tìm ra dấu vết gì là kẻ nào khác giết người.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tội cho ông rễ hiền lành này chẳng biết làm cách nào minh oan cho mình được. Thảm trạng vợ chồng mưu sát lẫn nhau đã có từ xưa chứ chẳng phải không. Nhưng trường hợp hiện nay đây không thể do trong nhà có thắp nhang này mà xảy ra. Vậy thì cái án mạng bị giết nằm đó do ai? Cũng chỉ trở lại nghi vấn là do bất đồng tín ngưỡng. Cho nên nhạc gia phát đơn tố lên Huyện quan để nhờ phán quyết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Huyện sai hai tên lính đến, một tên cầm chiếc hỏa bài và có đề hai chữ "Hỏa tốc", một tên cầm chiếc roi, cả hai hầm hầm tiến thẳng nhà người buôn gạo để bắt người này lên cho quan Huyện xét xử. Vừa trông thấy dáng hai tên lính, ông liền cung kính bước đến trước bàn Phật, thắp ba cây nhang cắm lên lư bát, rồi nhanh nhẹn lạy ba lạy, và vái mấy cái xong đi theo hai người lính.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ba người cùng bước ra khỏi nhà: đi trước là người cầm hỏa bài, giữa là đương sự và sau là người cầm chiếc roi, vừa đi vừa lúc lắc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Và họ lên giọng nhà cầm quyền bảo người buôn gạo: Tại sao anh lại giết vợ anh? Ác gì mà ác quá vậy? Nghĩa vợ chồng, nó có dại điều gì thì ta làm hùng hổ đánh đá năm ba cú cho nó biết sợ mà thôi, chứ ai lại nhẫm tâm chém chết vợ? Anh không học câu Thánh hiền đã dạy sao: "Tào khang chi thê bất khả hạ đường", mà anh lại chém vợ chết, thật anh là thằng quá ác, có phải không?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chuyến này quan lớn sẽ phạt tội cho ở tù đến mọt gông mới đáng kiếp! Cứ thế, hai ông lính thay phiên nhau mà mắng rủa, nhất là họ cứ đọc đi đọc lại câu Thánh hiền đã dạy. Mặc cho họ nói gì thì nói, ông buôn gạo vẫn lặng thinh, cứ luôn luôn niệm Phật, niệm Quán Thế Âm Bồ tát để cầu cứu mà thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc hai người lính dẫn đương sự lên huyện thì quan huyện bắt đầu làm việc. Đương sự dứng thẳng người dưới bậc thêm, quan huyện ngồi trên, hai bên có các viên Lục sự, Thẩm phán, trên bàn có ấn son, giấy bút đầy đủ để làm việc như một phiên tòa đại hình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau một hồi lấy khẩu cung thẩm vấn đương sự, quan huyện mới ngắm nhìn kỹ gương mặt đương sự và thầm nghĩ: Tướng dạng thằng này chẳng chút gì giống những đứa sát nhân mà mình đã từng gặp. Tuy nhiên căn cứ theo lời cung khai của nó thì của cải trong nhà, đêm đó chẳng mất mát chút nào. Mà cửa ngõ trong nhà vẫn kín đáo y nguyên, vách không bị đục thủng, tất cả không có dấu vết gì khả nghi. Vậy hung thủ tức chẳng phải kẻ trộm cướp chắc chắn rồi vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng quan còn ngờ nên hỏi thêm: "Bình nhật gia đình mày đối với láng giềng xung quanh có gây gổ điều gì không? Và có hòa vui tốt lành không?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đương sự bẩm: "Cả gia đình tôi từ xưa đến nay đối với lân lý đều hòa thuận tốt đẹp, chứ không có oán thù gì hết. Bẩm lại quan lớn soi xét!"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau hai lần thẩm vấn của tòa, căn cứ theo lời cung khai của đương sự thì sự việc đã rõ ràng như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hung thủ chẳng phải kẻ trộm cướp, chẳng phải kẻ oán thù. Hơn nữa, sự việc xảy ra vào lúc quá nửa đêm, cửa lớn cửa nhỏ trong nhà vẫn đóng chặt y nguyên. Trong nhà chỉ có hai người là mày và vợ mày. Mà vợ mày bị đứt họng chết, chẳng phải mày chém nó là ai? Đó là những nguyên nhân tạo thành án. Tòa tiếp: Cứ sự trạng như trên, tòa chiếu theo luật lệ tuyên bố: quả đương sự phạm tội cố sát nhân. Mạng phải đền mạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi đọc bản án, quan Chánh án cầm bút sắp phê xuống bản án, bỗng nhiên một bầy lằng xanh từ đâu bay tới bu vào đầu bút. Quan Chánh án ngạc nhiên cho là quái lạ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc đó, ông buôn gạo đứng bên xem thấy lằng xanh rõ ràng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Chính hợp với câu kệ thứ tư mà mình đã mộng thấy Bồ tát nói cho khi trước", và nhân đấy ông liền tự thốt lên rằng: "Lạ thay, quái lạ thay! <I>Thương thằng bỗng đầu bút.</I> Thật ứng nghiệm rõ ràng".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan án lòng càng ngạc nhiên hơn, tay thì xua đuổi những con lằng, mà nó cứ nhào vô bu nơi đầu bút, miệng thời hỏi; "Chứ cái thằng này, mày nói gì lảm nhảm vậy mày?" và hai mắt ông nhìn tròng trọc vào ông buôn gạo. Đương sự mới thuật lại đầu đuôi câu chuyện mà mình đã mộng thấy và sự việc đã ứng nghiệm cho quan huyện kiêm chánh án nghe.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan nghe xong phán rằng: "Ta định phê năm ba phết và mày ký vào bản án cho xong. Mà giờ đây sự việc lại đổi qua chiều hướng khác, e ta phải nghiên cứu mấy câu kệ câu tụng gì đây coi đã. Rắc rối thật!"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi quan cho mời các thầy Nha lại đến để làm cái việc bí hiểm này. Khi mấy thầy trò xúm lại, bảo ông buôn gạo đọc đủ bốn câu kệ và biên vào giấy cho rõ ràng và kiểm lại từng chữ một cho dích xác rồi mới bắt đầu nghiên cứu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo họ xét thì câu thứ nhất, câu thứ nhì và câu thứ tu, ba câu này đã rõ ràng sự việc. Chỉ còn nghiên cứu câu thứ ba: <I>Đẩu cốc tam thăng mễ</I> là ý muốn nói nghĩa gì đây?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thầy trò quan huyện nghiền ngẫm mãi, mất thì giờ rất nhiều, mới hiểu được rằng: À! Các thầy ạ! Phải thêm một chữ nữa ở đầu câu mới cắt nghĩa được: <B>Nhất đẩu cốc tam thăng mễ</B> , nghĩa là một đấu lúa ba thưng gạo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nghĩa ẩn một đấu là mười thưng, trừ ba còn bảy, tức là được ba thưng gạo, bảy thưng trấu. Bảy trấu là chữ Thất và chữ Khang (Bảy là thất, Khang là trấu).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan huyện mới bảo quả quyết rằng: Hung phạm nếu chẳng phải tên Khang Thất, thời là tên Thất Khang, nhất định tên này rồi. Liền phái Nha lại đi mật thám, quả thật có người tên Khang Thất. Thế là tên này tức tốc bị bắt và tống giam. Khi thẩm vấn, y nhìn nhận như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Tôi có gian díu với bà bán gạo từ trước. Đến đêm đó, tôi lén vào nhà tình nhân nấp chờ đến đêm khya định giết ông bán gạo. Bởi trong lúc tối tăm, tôi mò gặp một cái đầu có dầu, tôi tưởng là đầu đàn bà liền bỏ đi chỗ khác giết đầu không dầu. Không ngờ đã giết lầm".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đó tên Khang Thất bị ra tòa, nhận lãnh tội trạng. Đương nhiên ông buôn gạo được phóng thích ngay.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan huyện và các nha lại nhân vụ này mới biết thêm sự cảm ứng và linh nghiệm của Bồ tát Quán Thế Âm và càng tin tưởng Phật pháp hơn nữa. Ông buôn gạo cũng nhân tai nạn khủng khiếp này mà thấy rõ nỗi thống khổ của kiếp nhân sinh, nên càng phát tâm dũng mãnh xuất gia tu đạo, cầu mong có ngày trọn thành đạo quả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhà buôn gạo được sự cảm ứng giải trừ tai nạn khủng khiếp có một không hai của một đời người này, là nhờ bình nhật ông ta hay nhất tâm xưng danh, đến khi gặp nạn xảy ra, thì Quán Thế Âm trong tự tánh chúng sanh hiện ra cứu chúng sanh trong tâm Quán Thế Âm, tức thì được giải thoát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cho nên thường ngày, chúng ta nên tụng niệm Quán Thế Âm Bồ tát phải quan trọng và cấp bách như trạng thái lúc ta sắp chết, hay giống như khi gặp tai nạn nước lửa, la kêu người ta đến cứu cấp cho mình, vậy mới có hiệu quả!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">9. <B>Pháp Trí hòa thượng được cứu khỏi bị lửa cháy</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thời đại nhà Dao Tần, có ngài Pháp Trí hòa thượng. Một hôm có việc cần ngài phải đi xa. Khi đi qua giữa đường truông, hoang vắng mênh mông có nhiều lùm cây lau lách, lắm cỏ rậm rạp lại nhằm mùa nắng khô.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc đó vừa có người đốt cỏ, lửa cháy mạnh. Chẳng may lại gặp trận cuồng phong dữ dội, lửa càng cháy lan khắp nơi. Ngài Pháp Trí không còn nơi nào tránh né được nữa. Ngài liền ngồi xuống, xếp bằng lại và chí thành khẩn thiết cung kính nhất tâm xưng niệm: Nam mô Quán Thế Âm Bồ tát. Giây lát lửa cháy đến gần sát bên ngài. Ngài cảm giác nơi thân phát ra nóng, nhân đấy nên ngài bị ngất xỉu, giây lâu mới tỉnh dậy. Ngài xem thấy những lùm cây lau lách cách khỏi ngài chừng ngoài ba thước đều bị cháy rụi hóa thành tro, mà trong ba thước thời không hề cháy tới. Nhờ đây ngài được khỏi nạn chết thui.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đấy chính là nhờ oai đức thần thông đại lực của Quán Thế Âm Bồ tát mới khiến được như vậy. Nếu chẳng biết xưng niệm Quán Thế Âm Bồ tát, chắc là đã bị chết thui rồi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">10. <B>Trúc Thường Thư thoát khỏi cháy nhà</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngày trước có người tên Trúc Thường Thư. Một hôm nhà láng giềng phát hỏa, nhà ông ở dưới gió, cực kỳ nguy hiểm, ông không còn cách nào để cứu nguy cho gia tài. Ông liền nhất tâm xưng niệm danh hiệu Quán Thế Âm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhà láng giềng bốn phía đều bị cháy, duy nhà ông tồn tại y nguyên. Mọi người đều cho là lạ lùng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc ấy có vài ác thiếu nên hoang nghịch, chúng cố ý khi ban đêm, đến đốt nhà ông lần nữa, nhưng vẫn không cháy được. Đấy chính là chơn thật niệm Quán Âm mà có cảm ứng đạo giao.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">11. <B>Nhà họ Vương khỏi cháy</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại có họ Vương, người xứ Côn Sơn, ông muốn một lòng đi đến chiêm bái núi Phổ Đà, với mục đích là lễ bái đức Quán Thế Âm Bồ tát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trước khi đi, ông thọ chay trường ba năm. Mãn kỳ phát nguyện, ông mới khởi hành. Thuyền ông sắp mở neo, bỗng nhiên nhà láng giềng phát hỏa. Người nhà chạy theo gấp báo cho ông hay. Ông khiến người nhà trở về và bảo nó rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta đã ăn chay trường ba năm. Nay ta phát tâm đi Nam Hải cho được để chiêm ngưỡng và chiêm bái đức Quán Thế Âm Bồ tát cho mãn nguyện. Còn nhà cửa, nếu chẳng may bị cháy thì mặc nó thôi, ta chẳng cần trở lại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi ông một lòng xưng danh hiệu, niệm Quán Thế Âm Bồ tát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi ông đi hành hương xong trở về, thấy nhà bốn phía láng giềng đều bị cháy cả, mà nhà ông không bị gì hết. Cho biết rằng niệm Quán Âm có cảm ứng thật bất khả tư nghì.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">12. <B>Nhà họ Lưu thoát khỏi thủy tai</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Xưa có một người con nhà họ Lưu. Chàng thường tín ngưỡng đức Quán Thế Âm. Anh phát tâm đi triều bái núi Phổ Đà.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thuyền anh đi đến giữa dòng Liên Hoa dương hải. Anh tự thấy có ba đóa hoa sen vượt lên giữa mặt nước biển, lớn bằng bánh xe. Một đóa có Thiện Tài đứng trên, một đóa có Long Nữ đứng trên, mà riêng một đóa sen lớn đặc biệt thì đức Quán Thế Âm ngự tọa thanh tịnh phi thường, trang nghiêm diệu tướng, tịnh đức tôn nghiêm. Nhân đấy chàng họ Lưu khi phát hiện, liền nhất tâm cung kính lễ bái đức Quán Âm. Tức thì, bỗng nhiên một trận cuồng phong nổi lên dữ dội, thuyền bị úp chìm. Mọi người trong thuyền đều bị chết chìm cả. Duy có anh chàng họ Lưu cảm giác được, trước mặt anh mơ màng in tuồng có một người cõng anh chạy đi, đi đến chỗ nào đó liền thả anh xuống.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi anh mở mắt ra thì thấy là trước cửa nhà anh. Núi Phổ Đà cách xa nhà anh có đến hơn hai ngàn dặm đường, mà nay chỉ trong tức khắc liền đến. Khi mẫu thân anh mở cửa, anh chạy vào nhà và thuật lại việc mới xảy ra cho mẹ anh nghe. Hai mẹ con rất đổi vui mừng, nhờ sức oai thần của Bồ tát gia hộ nên anh mới được tái sanh một lần này nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">13. <B>Một tân phụ được khỏi chết chìm</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại có một gia đình đang lo việc song hỷ, cưới rước tân phụ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong nhà ngoài cửa rộn ràng đông đảo, kẻ ra người vào náo nhiệt phi thường. Thủy tai bỗng nhiên bộc phát, nước lớn tràn nhanh đến, bao nhiêu thân hữu gia đình đều bị cuốn trôi đi hết. Toàn thôn xóm cũng đều bị chìm ngập. Tang điền tức khắc biến thành thương hải. Người chết kể cả hàng vạn. Duy còn chị tân phu ngồi bình yên trên một chiếc ghế chẳng chìm chẳng úp, xuôi dòng trôi đi. Phúc nàng may mắn gặp được người cứu sống. Họ nhà chồng cho là quái lạ, hỏi nàng vì sao chẳng bị chìm chết? Nàng thưa: "Nhà má tín ngưỡng dức Quán Thế Âm Bồ tát. Khi tôi thấy nước tràn đến, tôi ngồi yên trên ghế, nhắm hai mắt nhất tâm xưng danh hiệu Bồ tát, cho nên nhờ ngài cứu sống".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cho biết Phật pháp là bất khả tư nghì, chứ chẳng phải mê tín đâu?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">14. <B>Ngài Hòa thượng được quan Thừa tướng tha cho về chùa</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngày xưa có ngài hòa thượng ở trong chùa mỗi ngày đi một thời Phổ Môn. Ban mai, một hôm có quan Thừa tướng nọ đến chùa lễ Phật. Lễ xong đứng tránh một bên nghe kinh. Hòa thượng tụng đến câu "Hắc phong thổi ghe bị trôi vào nước quỷ La Sát", Thừa tướng chận ngang đấy hỏi ngài rằng: "Câu này giải thích cách nào? Vì sao trôi vào trong nước quỷ La Sát?" Hòa thượng phát nộ nói: "Chính khi ta tụng kinh tâm định, sao lại hỏi làm ta rối loạn, thật là đáng xung ghét". Cụ lớn cho là thầy tu dám cả gan coi thường khinh rẽ mình, tức thì nổi sân giận dữ, liền cho lệnh những kẻ tùy tùng bắt ngay ông hòa thượng dẫn đi về dinh. Rồi mắng nhiếc đánh đập.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi mà chúng đang hành hung thì ngài bèn cả cười mà rằng: "Chính đây là bị Hắc phong thổi ghe trôi vào trong cõi nước La Sát chờ gì?" Tiếp: "Nghĩa là cụ lớn ngươi không hiểu nổi, nên bèn động vô minh hỏa tức là hắc phong; cụ lớn ngươi động sát hại tâm, tức là La sát quỷ. Và chẳng may cho lão tăng này gặp phải gió dữ đen tối ấy, nó thổi mạnh quá nên lão mới bị trôi dạt vào trong nước quỷ La sát đây! Ta giải nghĩa như thế có dễ hiểu cho cụ lớn không?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thừa tướng hết mê mờ, tỉnh ngộ ngay: "Nguyên lai là như thế đấy".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Liền cho xe đưa ngài hòa thượng về chùa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">15. <B>Ông Nam Cung Tử Ngao thoát chết</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thời nhà Tấn, ông Nam Cung Tử Ngao bị đày đi đến tỉnh Vân Nam, vừa gặp lúc Trường Lạc Công làm loạn. Thành bị vây, Nam Cung biết mình chẳng còn tránh được, bèn nhất tâm xưng niệm Quán Thế Âm. Khi loạn quan đến chém Nam Cung mấy đao, lưỡi đao cong gãy, chém chẳng được nữa. Sau lại Trường Lạc Công tự cầm đao đến chém. Nhưng chém cách nào, Nam Cung cũng chẳng bị tổn hại mảy lông gì. Trường Lạc Công lấy làm lạ hỏi: "Ngươi có bản lãnh gì mà được như thế?" Nam Cung bèn thuật việc mình niệm Quán Thế Âm Bồ tát cho Lạc Công nghe, rồi Công phóng thích. Nam Cung Tử Ngao được thoát chết mà lại được tự do nữa là khác.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">16. <B>Thoát khỏi tử hình</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Có một người trong búi tóc trên đầu thường bao để một tượng đức Quán Âm bằng vàng chừng cỡ bằng ngón tay. Về sau bị người ta vu không là trộm cắp. Tội bị đến tử hình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi đem ông ra pháp trường để hành quyết, đến khi lâm sự họ chém ông ba dao liên tiếp chẳng những da cổ chẳng trầy, mà lại phát ra tiếng kêu leng keng của chất vàng nữa. Quan pháp trường cho là điềm lạ, giải ông trở về nhà lao, mới xổ búi tóc ông ra thấy có tượng Quán Âm. Trên cổ của tượng có ba lằn dao rõ ràng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">17. <B>Thờ kính, niệm Quán Thế Âm, thoát khỏi chồng sát hại</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thuở trước có một phụ nhân, từ nhỏ đến lớn rất tin đức Quán Thế Âm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chồng bà thường đi xa để buôn bán sanh nhai. Ông ta thường khi cùng bạn đồng sự hay tán mỹ người vợ trước mặt họ: nào là nhà tôi nó có đức hạnh, nhà tôi nó giỏi mọi việc và nhất là nhà tôi nó thật trinh tiết với tôi. Nhân có một bạn đồng sự nghĩ muốn giỡn chọc anh chàng hay tán vợ này chơi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một hôm anh lén về vào nhà bạn. Người vợ thấy kẻ khách trượng phu là bạn đồng sự với chồng mình, nên mới niềm nở ưu đãi rất lễ độ chớ chẳng dám coi thường. Đang lúc bà ta loay hoay pha trà chế nước, cung tay vái mời thì nút ruồi trên cánh tay lộ ra vì tay áo rộng, tức thì bị ông khách quý lén nhòm được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thế là khách ta lưu ý nhớ cái "lén thấy", để sau này làm đề tài chọc tức chơi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một hôm hai người gặp nhau như thường lệ. Anh chàng ngộ nghĩnh ấy nói: "Bữa nọ tôi có đến nhà anh chơi, anh thường khoe vợ anh trinh tiết. Nhưng tôi đã biết trên cánh tay chị có một nút ruồi. Vậy thì vợ anh trinh tiết ở chỗ nào? Cứ thế mà suy thì biết vợ anh là...."
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Anh chồng hiểu lầm cho là sự thật. Tức thì anh nổi đỏ mày, cay mắt giận dữ, tim đập thình thình. Nửa đêm ngày đó, anh vác dao về nhà định chém vợ. Khi anh về đến nhà kêu cửa, có người ra mở cửa, anh chém một dao vào người ấy, anh định chắc nó chết rồi, vì nhà chỉ có hai vợ chồng. Rồi anh liền bỏ chay xa mất.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng vẫn biết vợ mình là người trinh lương, phen này bị người ta chơi gạt làm mờ trí khôn, nên anh rất đổi ăn năn hối trách.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đang lúc âm thầm lóng nghe tin tức sau vài ngày, nhưng không nghe hung tin gì quan trọng mà sự tình vẫn điềm nhiên. Anh mới mò về nhà. Về lúc ban đêm, nên anh thấy vợ anh vẫn ở trên Phật đường niệm Quan Âm. Rồi anh hỏi đêm đó có người nào ra mở cửa không? Người vợ đáp: "Đêm ấy không ai ra mở cửa cả, chính lúc đó tôi đang ở trên Phật đường niệm Quán Âm". Anh chồng mới dám thuật lại đầu đuôi sự việc xảy ra bởi mình và cho là rất quái lạ. Bèn thấy trên đầu vị tượng Quán Âm có một lằn dao rõ ràng, mới biết là đức Quán Thế Âm đi mở cửa cứu nạn vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ đấy trở đi, đôi vợ chồng lại cung kính lễ tụng Quán Thế Âm Bồ tát gấp bội ngày thường.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">18. <B>Quỷ La Sát không ăn thịt được do niệm Quán Thế Âm</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thuở xưa có một quốc gia ở gần bên nước quỷ La Sát. Đương nhiên đôi bên phải có tình bang giao. Nhưng quỷ La Sát cứ thường đến bắt người ăn thịt. Quốc vương không còn biện pháp nào hơn là phải thương thuyết với quỷ La Sát và hứa mỗi ngày phải tống một mạng dân ra đến đồng nội gọi là cung cấp lương thực. Từ nay trở về sau, cứ mỗi gia đình phải nạp một mạng đứa trẻ nít mỗi ngày, theo một phương pháp chu nhi nhục thủy<SUP><B>(*)</B></SUP>, chẳng một gia đình nào tránh khỏi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một hôm đến lượt gia đình chỉ có một đứa con. Gia chủ nghĩ rằng nhà mình hiếm hoi, mà nay công bình thi hành theo ác lệ này chắc phải tuyệt tự. Nghĩ vậy rồi lén chạy đến Quốc vương để điều đình may ra nhờ ơn Thánh lượng hải hà chăng? Quốc vương bảo rằng: "Nhân dân ai chẳng tham sống sợ chết, đâu thể thiên vị một ai".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Gia chủ vạn bất đắc dĩ, nát gan đứt ruột, dắt "viên ngọc quý" mà đem tống ra ngoài gò xa, vào lúc ban đêm. Nhà ông này vốn bình nhật rất tin Quán Thế Âm Bồ tát, nên chính khi dắt con đi ông có bảo rằng: "Con gắng xưng niệm danh hiệu Nam Mô Quán Thế Âm Bồ tát cho nhiều, cho thật nhiều, may ra phúc nhà mình chưa đến nỗi, thời nhờ ngài cứu thoát được nạn quỷ quái này!" Tuy nhỏ mà cậu biết nghe nên cậu làm theo lời cha dạy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi tống người con yêu quý ra gò rồi, về nhà ông ta tụng Phổ Môn, niệm Bồ tát suốt đêm ấy. Nhờ đấy nên quỷ chẳng làm hại cậu được. Sáng sớm ông mò ra thám thính thăm dò tin tức, thời Phật Tổ tái sanh con ông một lần nữa: Cậu con bình yên vô sự. Cha con dắt nhau, vừa mừng vừa chạy nhanh, và chạy thẳng đến chỗ quốc vương. Sau khi quốc vương nghe cha con ông đại phúc thuật lại đầu đuôi vụ thoát nạn, thời nhà vua truyền lệnh cho toàn quốc nhất luật trì niệm danh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát và kinh Phổ Môn. Từ đấy về sau được thoát nạn quỷ La Sát, cả nước được thái bình vô sự.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(*) Chu nhi nhục thủy: <I>Cứ theo thứ tự xoay vòng mà chỉ định.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>Nhận định</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Câu chuyện trên đây (Trong Phổ Môn Giảng Lục của Bảo Tịnh Pháp sư, trang 92-93) làm ta nhớ đến của chuyện thần thoại trong Tây Du Ký về hai đắ con của Trần Thanh và Trần Trừng, một trai một gái phải hy sinh nộp mạng cho vị ác thần Linh Cảm đại vương ăn thịt, nhưng về sau được Phật Bà Quan Ân, Tôn Hành Giả và Bát Giới cứu sống (Phần II, chương VI của cuốn truyện tích này).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Những loại chuyện này thuộc chuyện cổ thần thoại có tính cách tượng trưng, nhưng cũng nhằm khuyên ta nên nhất tâm niệm Quán Thế Âm Bồ tát để thoát mọi khổ nạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">19. <B>Được thoát nạn gông cùm</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thuở trước có đôi vợ chồng đã có quy y Tam Bảo, nhà thờ phụng đức Quán Âm. Chồng bị người ta vu khống là ăn trộm. Khi nghe có tiếng động, anh lanh chân tránh thoát. Chị vợ bị lính nhà quan bắt hạ ngục, gông cùm đủ thứ vào thân và đánh đập tra tấn tàn nhẫn. Một hôm nhà ngục bị phát hỏa, họ di chuyển phạm nhân ra đường lộ để tránh hỏa hoạn. Vừa may gặp một vị Tăng đi ngang qua, bà ta nhìn thấy van lạy cầu cứu. Vị Tăng nhìn thấy người đàn bà ấy chính là đệ tử đã quy y với mình ngày trước. Ngài nói: "Không có phương pháp nào khác cứu cho nhau được, nay con nên thâm tín đức Quán Âm, chỉ cần nhất tâm trì niệm Nam Mô Quán Thế Âm Bồ tát, sẽ có cảm ứng bất khả tư nghì"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bà ta tuân lời dạy của thầy, niệm suốt đến ba ngày đêm, xiềng cùm bỗng nhiên đứt rời. Nhưng người canh giữ còn tại đấy nên bà ta không dám tẩu thoát. Bỗng nhiên trên không trung có tiếng người kêu: "Ngươi mau chạy thoát đi!" Bà ta nghe và mở đôi mắt, nhìn ngay ra thấy cửa mở trống. Bà tức tốc nhanh chân từ trong ngục phóng ra và chạy bán sống bán chết. Chạy đến hai ba mươi dặm đường, mới gặp được một người chính là người chồng. Hú vía hoàng hồn! Hai người gặp nhau mừng rỡ khôn xiết. Thế là họ đã được đoàn tụ. Đấy là nhờ xưng niệm Quán Thế Âm Bồ tát mới được sự thật linh ứng, giải thoát nạn gông cùm lao ngục vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">20. <B>Được khỏi khổ xiềng gông</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại ngày xưa, khi Hoàng Sào gây phản loạn, đời gọi là giặc chít khăn vàng. Tại Hàng Châu có hơn mươi người bị bắt, gán là Hoàng Sào dư đảng. Khi bắt xong, nhân vì trời vừa tối, nên chưa kịp giải về Nha, bèn cho tạm trú tại một ngôi chùa. Họ đem các phạm nhân nhốt tù trong một cái lồng rất chặt kín.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong bọn có một người bị oan. Trong chùa ấy có một vị hòa thượng, đêm trăng sáng mát mẻ, ngài rảo bước tản bộ dưới bóng nguyệt tà, miệng niệm Quán Âm. Người bị oan uổng ấy, tuy ở trong lồng kín, nhưng thoáng thấy bóng hòa thượng, liền chìa miệng ra kêu cầu cứu với ngài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hòa thượng dạy: "Các ngươi nên nhất tâm xưng niệm Quán Thế Âm Bồ tát tức có thể giải thoát được". Khi nghe, bọn chúng đa số là ác tâm nên họ bảo: "Anh em ta hè nhau phá phách cái lồng gỗ này đi có hơn không? Chứ niệm Quán Âm là thứ gì mà được khỏi?" Chỉ có người bị oan tin theo lời hòa thượng. Nhân đấy chăm lòng thành kính mà xưng niệm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sáng ngày trao xiềng gông cho mọi người thì thiếu mất một bộ, vô hình trung người niệm Quán Âm được khỏi khổ xiềng gông ở tay và cổ. Khi dẫn về nha thẩm vấn xong, Pháp quan biết người ấy bị oan uổng, bèn phóng thích cho về nhà.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">21. <B>Ông Thái Nhân Sơ được thoát khỏi nạn bọn cướp</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm Dân Quốc thứ 17 (1928) ông Thái Nhân Sơ, người đất Ninh Ba đến Thượng Hải, mở tiệm bán đồ thủy tinh và đồ sắt, nơi đại lộ Thiên Đồng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông là người rất thuần hậu bạn thân với ông Nhiếp Văn Đài. Vì là một thương gia rất giàu có, nên bọn lưu manh đạo phỉ dòm ngó muốn bắt đông để tống tiền.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một bữa nọ, ông sắp đi xe hơi, xe đậu ngoài cửa. Một tên cướp vừa mới dùng súng lục uy hiếp tài xế của ông và dẫn đi xa. Ông Nhân Sơ khi đi ra xe không để ý gì, cứ lên xe như thường lệ; xe mở máy chạy, ông liền nhìn lại thì mới hay rằng mình bị bắt cóc. Ông liền niệm thần Quán Thế Âm Bồ tát; mong cầu cho xe hư để thoát nạn chứ không dám la lên. Thế rồi quả nhiên xe chạy được một đổi, bánh xe bỗng nổ tung lên, xẹ chạy chậm lại rồi tự nhiên phựt cháy tại thùng xăng. Tướng cướp ngừng xe, quay lại bắn ông ba phát. Ông này cũng nhanh chân phóng ra ngoài, né tránh và chạy thoát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tháng sáu năm đó, ông cùng bà vợ đi lên Phổ Đà Sơn, quy y Tam Bảo. Vụ này cũng đã chép vào trong tập Quan Âm linh cảm lục.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>(Ngài Ấn Quang trụ trì chùa Phổ Đà Sơn. Chuyện này có ghi trong cuốn Lý Bát Nhã và Tịnh Độ do Bổn Nguyên cư sĩ soạn đã có dẫn trước)</I>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">22. <B>Một tiểu Tăng được trí huệ nhờ niệm Quán Âm</B>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"Thuở trước có một vị tiểu tăng. Thầy truyên dạy y tụng kinh, Khuôn phép mỗi khi tụng kinh rất là nghiêm chỉnh. Nhưng tiểu tăng lại ngu si, tuy suốt ngày cặm cụi khổ tụng mà chẳng am thuộc gì cả. Vị Bổn sư liền dạy cho tiểu tăng ngày nào cũng phải lễ bái và xưng niệm danh hiệu đức Quán Thế Âm Bồ tát để cho tiêu nghiệp chướng và cầu trí tuệ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cứ mỗi ngày lấy một cây hương để làm hạn định thời gian khi lễ niệm, đợi đến khi nào Bổn sư báo hiệu bằng mấy tiếng khánh, thời tiểu tăng mới được nghĩ lễ niệm và đi vào phòng ngủ được. Tiểu tăng thi hành như thế đã được ba năm liền.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một hôm vị Bổn sư quên báo hiệu bằng mấy tiếng khánh, mà chiếc khánh tự nhiên có kêu, tiểu tăng bèn nghỉ lễ niệm và đi ngủ. Bị thầy quở trách chẳng nghe hiệu khánh mà tự tiện đi ngủ. Tiểu tăng lạy khóc và thưa: "Có thật có nghe tiếng khánh, con mới dám thôi lễ niệm và đi ngủ!"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Qua ngày hôm sau, đến giờ thường lệ ấy, vị Bổn sư rảo đi thám thính, quả nhiên chẳng đánh chiếc khánh mà tự nó có tiếng kêu. Nhân đấy mới biết kẻ tiểu tăng đệ tử lễ bái khẩn cầu đã có linh ứng. Và tiểu tăng cũng chẳng dùng hiệu lệnh nữa mà tự nhiên thành được sự tụng niệm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nên biết rằng chân thật niệm bái, chắc được lợi ích bất khả tư nghì này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">23. <B>Chú Am được khai trí huệ</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại có vị tăng tên là Chú Am. Tánh chất ác liệt và phải thêm bệnh ngu si, tệ hơn nữa là thường chửi lộn với người ta. Y sắp bị nhà chùa trục xuất. Một đêm hôm, y tự suy nghĩ và liền sanh lòng xấu hổ, tự xét mình xấu xa, duy có đóng cửa mà tu hành mới may ra cải đổi được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sáng ngày rất sớm, sau khi tề chỉnh y phục, y đến vị trụ trì cầu xin ngài từ bi hỷ xả cho mình được nhập thất, đóng cửa để được thanh tịnh tu trì. Thế thì thầy tăng ta được vào trong tịnh thất đóng cửa, nhất tâm tu hành: cấm ngữ, chuyên trù chú Đại Bi và niệm Quán Âm, lễ bái Quán Âm, ba năm mới mở cửa, và đắc đại trí huệ, đã có thể giảng giải được diệu lý trong kinh điển, mà lại còn hiểu được các sách thế gian như Tứ Thư Ngũ Kinh, không thứ nào là chẳng thông hiểu. Ngày xưa là kẻ không biết chữ, mà nay xem lại xưa và nay như hai người khác lẫn nhau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nên biết rằng niệm thánh hiệu Quán Thế Âm Bồ tát khả dĩ phá được ngu si mà khai trí huệ vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">24. <B>Niệm Quán Thế Âm cầu xin được con trai</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thuở trước có ông Đàm Hiến Khanh, nhà giàu có. Đã năm mươi tuổi mà không có con trai gái gì cả. Các cháu trong tộc họ tranh nhau thừa kế và chia của. Lòng ông Đàm chẳng vui. Do đấy nên ông tận lực khẩn cầu đức Từ Bi Quán Thế Âm Bồ tát. Ông mới xuất ra năm ngàn đồng để thiết lập đàn Đại Bi Sám. Tu sám bốn mươi chín ngày.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quả nhiên bà tiểu thiếp sanh một cậu trai, nằm trong bọc trắng mà sanh ra. Mặt mày tuấn tú phượng mãn, thông minh lanh lợi. Thấy vậy bà vợ chánh lại xuất ra một ngàn đồng để kiến thiết lầu Bạch Y Các, phụng thờ đức Bạch Y Quán Âm. Rồi bà cũng sanh được một cậu trai nữa. Hai đứa con này đều sáng sủa thông minh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại như Nam Thông Trương Hiếu Nhược cũng là thân phụ của Trước Đắc Ông tiên sinh, cầu tự nơi Quán Âm Nam Hải, ở núi Lạng Sơn mà được sanh ra ông vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">25. <B>Cầu tự cần giới sát, phóng sanh</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại ngày xưa có một nữ nhân không con. Vợ chồng mới cầu tự trước tượng Quán Âm. Đêm mộng thấy đức Quán Âm lấy mâm đựng đứa con trai đem cho. Chính lúc nữ nhân sắp tiếp nhận, bỗng nhiên có một con bò chạy xốc đến, nên chưa kịp tiếp lấy thì giật mình thức giấc, liền có mang. Rồi bà sanh được đứa con trai, nhưng chưa được mấy ngày đã bị yểu vong. Bởi vì bình nhật, vợ chồng ưa ăn thịt bò vậy. Từ đấy về sau vợ chồng cùng nhau trai giới, nhất tâm ăn chay. Về sau quả thật sanh được một cậu con trai và nuôi được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vậy là biết muốn cầu con trai, vẫn phải thường niệm, cúng dường, lễ bái Quán Thế Âm Bồ tát, lại càng phải giới sát, phóng sanh, bố thí, hành thiện, trì trai thì cầu phước mới được sự cảm ứng như tiếng với vang, ứng niệm liền thành.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">26. <B>Niệm Quán Âm diệt quả báo ác</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thuở trước có người tên Cao Phiền, tư chất thông minh có thiên tài học giỏi, mới lên mười bốn tuổi đã đậu Tú Tài. Anh Tú lấy người vợ họ Phàn, tự là Giang Thành. Người vợ nhan sắc đẹp đẻ, nhưng phải tánh tình bạc ác bướng bỉnh. Thế là Cao tú tài gặp phải sự đau khổ thầm kín bên trong là cô vợ Hà Đông sư tử như con thú dữ ở xứ Hà Đông; gây đau khổ cho anh ta đến nổi thân thể gầy mòn ốm như khúc củi khô. Bà nhạc mẫu lại là người rất hiền lành, nhận thấy con mình đối đãi với chồng nó chẳng được tử tế lành đẹp lắn, nên bà lấy làm lo âu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi bà mới thiết lễ cầu nguyện đức Quán Thế Âm Bồ tát xin gia hộ. Đêm bà mộng thấy nói rằng: "Con gái của người kiếp trước là một con chuột trường sanh đã sống ở trong một ngôi chùa lâu năm, do vị hòa thượng chùa ấy nuôi dưỡng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kiếp trước Tú tài còn là tên học trò đã từng ở nhờ trong ngôi chùa ây để đọc sách; y đã làm chết chuột kia. Với hiện tại tức một quả báo trả lại đền một quả báo, cho đến khi nào chết mới xong. Nhưng nếu niệm Phẩm Phổ Môn có thể cứu được". Bà nhạc mẫu liền bảo con rễ và hai ông bà thân sinh ra Cao tú tài hay việc mình đã vừa thấy mộng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đó toàn gia trì niệm hơn vài tháng nhưng chưa thấy có hiệu quả gì. Họ mới bảo anh Tú, khiến anh phải cùng nhau phát tâm hằng thường đồng tâm trì niệm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng nhiên có một vị lão Tăng đến. Lão Tăng này lại kiêm chuyên môn tướng thuật rất tinh tường và minh đạt lẽ nhân quả nữa. Bấy giờ dân làng tranh nhau đến cầu hỏi những việc cát hung đủ thứ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phàn thị, vợ thầy Tú cũng cùng đi đến ông thầy lão Tăng như mọi người. Khi lão Tăng thấy cố, ngài liền trực thị lên mặt cô và đọc một kệ sáu câu: "Này, đừng nên giận, đừng nên giận nữa. Kiếp trước cũng chẳng giả, việc nay cũng chẳng thiệt. Khốn nạn. Chuột mi cắm đầu chạy, đừng cho mèo đuổi bắt". Rồi Tăng lại dùng một chén nước và ngậm phun lên cả mặt cô. Chính lúc ấy mọi người lấy làm ngạc nhiên, đều cho là "khốn rồi", lão Tăng này chắc sẽ bị cô Phàn thị nó hành hung cho mà biết, vì bình nhật tính nó nóng nảy, hễ trái ý nó thì phải biết. Nhưng trái lại, ai ngờ cô Tú vẫn điềm nhiên, mặc cho lão Tăng phun nước làm phép tắc gì thì làm, chẳng ai thấy cô có chút giận dữ gì hết. Cô Tú nghe sáu câu kệ xong, tức thì tỉnh ngộ, và cũng từ đấy về sau, cải đổi hoàn toàn tính khí. Cô gắng sức ăn năn, thay đổi những lỗi lầm ngày trước, và dĩ nhiên là trở thành một người vợ hiền lương, một người dâu hiếu thuận.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức từ bi Quán Thế Âm Bồ tát thật vô lượng vô biên, phước đức lohi ích thật bất khả tư nghì vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">27. <B>Đức Quán Âm hiện kế cứu nạn cho một làng</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thuở xa ở Quý Châu, thuộc huyện Tu Văn, nơi động Bạch Sơn, có một mỏ thủy ngân chảy ra. Người làng đến nhóm họp trong động để tranh nhau lấy nước thủy ngân. Về sau, họ bèn lập nhà cửa ở luôn tại đất, chừng hơn hai trăm gia đình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cách động hơn vài dặm, lại có một khe nước, nước cạn mà trong mát, rất tốt. Một hôm có một cô gái nhan mạo rất xinh đẹp, trần truồng lội tắm trong khe. Người làng sẵn tánh hiếu kỳ, khi hay biết thể, tất cả bà con, nam nữ, lão ấu, lớn nhỏ cả số đông hơn hai trăm gia đình đều ào ra tranh nhau lấn xem cho tận mặt cô tắm lạ kỳ mới chịu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một gộp đá vĩ đại ở trên đỉnh động, bỗng thình lình sập đổ xuống. Dân cư nhờ xem tắm mà tự nhiên đều thoát nạn đá đè.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Liền sau khi gộp đá sập xong, dân chúng chẳng còn thấy cô gái trần truồng tắm nữa. Mới đoán biết đức Quán Âm biến hiện mỹ nữ để làm kế cứu nạn cho họ. Dân chúng ở đấy thật nhờ thiện căn cảm động được như vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau ba năm có một người đến chỗ gộp đá sập ấy tìm cây cỏ thuốc. Từ trong kẽ đá có tiếng vọng ra "Cứu tôi với", kẻ tìm thuốc khi nhận ra tiếng người, mới dám hỏi y và được biết trước đây ba năm, khi đá sập y bị kẹt tại đây. Khi người làng hay được tin ấy, mới xúm nhau chạy đến cứu ra.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Họ mới biết được trước đây ba năm, khi dân chúng chạy đi tranh xem mỹ nữ trần truồng tắm, riêng một mình y ở lại nhà tại xóm động nên mới bị nạn này. Bởi nhờ những tảng đá to hòn, sập gác chồng chập lên nhau nên mới có kẽ trống, y ở trong kẽ trống ấy chẳng bị đè chết, nhưng cũng chẳng làm cách nào ra được. Đến lúc bụng đói, y chẳng biết làm sao? Nhân nhớ lại lần niệm đức Quán Thế Âm Bồ tát, chợt thấy một con chuột trắng, đôi mắt nó sáng như điện, soi sáng trên một tảng đá lớn có chữ, đủ toàn phẩm Phổ Môn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Con chuột bèn lấy lưỡi liếm ăn những chữ trên tảng đá ấy, y cũng bắt chước ngày ngày cũng liến ăn chữ như chuột, thời chẳng cảm thấy đói khát gì hết. Hãy còn thưa hai ba hàng chữ chưa liếm ăn tới.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi bà con nghe y thuật lại như thế, họ liền đến chô xy bị kẹt cạy đá ra, xem thấy quả thật chỉ còn thừa hai ba hàng chữ. Đó là từ bi phương tiện hiện các thứ thân mà thuyết các pháp môn đều là bất khả tư nghì vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">28. <B>Bào cư sĩ thoát hiểm</b>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trước đây ba năm, khi tôi giảng kinh (ngài Bảo Tịnh pháp sư tự thuật) Địa Tạng tại Tô Châu, có Bào Thánh Văn cư sĩ, ông rất nhiệt tâm giúp cho pháp hội giảng kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngày giảng hoàn mãn, Bào cư sĩ cùng tôi lên ghe máy về lại Thanh Đảo. Sau khi ghe ra khỏi cửa biển Ngô Công bị bọn cao bồi lưu manh nó uy hiếp ghe phải đổi hướng đi về phương Nam. Tôi xem thấy tình hình hơi bị hiểm nạn, lòng chẳng yên liền vì cả ghe khởi niệm Quán Âm, tiếp theo mọi người trong ghe đều gia trì niệm tụng thánh hiệu đức Quán Thế Âm. Nhờ đó mà được thoát trọn hiểm nạn. Sau khi hành trình một ngày một đêm mới về đến chùa Quán Tôn, tôi có soạn một bài ký, nhan đề là "Bào cư sĩ thoát hiểm", ghi rõ đủ sự việc vừa xảy ra từ đầu chí cuối.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">29. <B>Vị Tăng thoát khỏi tù</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Xưa có một vị Tăng đi vào trong núi sâu để tìm cây thuốc, bị giống người Mọi, Mán bắt trói nhốt tù. Khi chúng trói buộc cả hai tay chân sắp đem làm thịt ăn, vị Tăng nhất tâm kiền thành niệm Quán Thế Âm Bồ tát. Bỗng nhiên có con cọp chạy đến phá tan rọ chúng nhốt ngài, ngài được cứu thoát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">30. <B>Nữ nhi thoát khỏi ác nạn</B>"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ thuở trước đã có một ông thầy bói tên là Lai Tỉnh Cán, lối dụng tâm của ông bất chánh: Trong nhà có thờ một yêu quái vật để khiến nghề bói được thần linh ứng quẻ; cứ mỗi năm ông đến tỉnh Chiết Giang, đánh cắp một đứa đồng nam hay đồng nữ cũng được, về để cúng tế cho yêu quái.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một lần, có một em nữ nhi bị ông dụ dỗ về nhốt kín trong một nhà riêng. Sau mấy hôm ông khiến em tắm rửa sạch sẽ, thay quần áo để đợi yêu quái đến ăn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nguyên em bé này, ngày bình thường biết niệm Quan Âm Bồ tát, lúc ấy em nhất tâm xưng niệm danh hiệu Bồ Tát. Đến nửa đêm, cánh cửa song bỗng mở trống, đôi mắt của yêu quái từ ngoài cửa song chiếu vào sáng như đèn điện soi. Em bé tuy sợ hãi, nhưng vẫn nhất tâm xưng danh, thời từ trong miệng em bỗng nhiên bay ra một tia sáng bắn đến trên thân con yêu vật. Thình lình từ trên cửa song rơi xuống một vật, em bé cấp hô: "Cứu tôi chết!". Vừa chính lúc đó, bên ngoài vách nhà có mấy viên lính tuần đang đi qua, họ vừa nghe tiếng lập tức vào nhà, đưa đèn soi thấy bên em bé là một con rắn độc thật lớn, đã chết rồi nằm đó. Sau mấy lời gạn hỏi em bé, thời lính tuần liền bắt thầy bói Lai Tỉnh Cán đem về nạp quan nha, để biện phán về tội trạng của y.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đấy tức là cố hại người mà phản lại hại mình, trở hại nơi bản thân là vậy.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">31. <B>Lôi Pháp Chấn thoát khỏi cọp vồ</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tại tỉnh Phước Kiến có một người tên Lôi Pháp Chấn, sanh sống bằng nghề đốt than. Một hôm ông đi vào trong núi sâu để làm nghề. Vừa chẳng may gặp một con hổ già, nhe nanh ló móng, dựng gáy nghinh mặt, chạy sấn tới ông, hình thù rất dễ kinh sợ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chính đang lúc nguy cấp này, bỗng nhiên có một nàng mỹ nữ hiện đến và hét "cọp" một tiếng, hổ liền quỳ xuống cúi đầu mà bỏ đi. Ông Chấn may mắn được cứu sống. Và ông mừng quá vòng tay xin hỏi tánh danh nàng. Nàng nói: "Ta là khúc gỗ áp lan ở trong nhà ngươi" Nói xong ẩn mất, chẳng thấy nàng đâu nữa. Ông Chấn nhân đấy mới nhớ lại trong nhà mình có cây áp lan mộc, thớ thịt nó rắn chắc và mịn láng, ông đã có ý định chạm tượng đức Quán Âm để thờ, nhưng ngặt vì công việc làm ăn bận rộn, nên chưa chạm xong được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mới chỉ sanh một niệm nghĩ đến, mà đã được nhờ cảm ứng như thế. Cho nên chúng ta sanh một thiện niệm, thời hoa quý ở cung điện trên trời đã thành. Sanh manh một ác niệm là chảo nước sôi ở địa ngục dưới đất cũng đã bày ra. Cho nên tâm móng khởi, niệm máy động, rất cần loại trừ điều ác mà tòng theo điều thiện vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông Lôi Chấn Pháp sau khi thoát nạn, trở về nhà liền đem khúc gỗ áp lan ra chạm thành thánh tượng đức Quán Thế Âm Bồ tát, trọn năm suốt tháng phụng thờ hương khói rất trang nghiêm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">32. <B>Phí Phạm Cửu cư sĩ tránh được chiến nạn</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phí Phạm Cửu cư sĩ ở huyện Bình Hồ này; trước đây cuộc chiến đương diễn, chính lúc đo cư sĩ đang ở tại Thượng Hải phục vụ cho thương vụ ấn thư quán. Chiến cuộc dữ dội tại đây.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một sáng sớm ông phải bỏ sở ra đi. Sau năm ngày đến thôn Kiệm Đức Tân lại là trung tâm của pháo hỏa. Khi đó ông quyết chí định đi sang Tô giới công cộng để tránh chiến nạn. Nhưng ngặt nỗi vượt qua sông Tô Châu không đươc, vì chiến binh bố phòng quá nghiêm mật. Đang lúc Phí cư sĩ lưỡng lự chưa biết nên đi vào hướng nào, thời bỗng thấy một em bé đến nói với ông rằng: "Cứ đi tới đi, đàng sau có người đuổi bắt". Cư sĩ vội vàng dắt bà nhạc mẫu, phu nhân và một con tất cả bốn người sắp chạy, thời thấy hàng rào dây kẽm gai vừa mở trống chừng vừa người qua lọt. Cả gia đình vừa chạy qua xong liền gặp hai người lính ngoại quốc. Đến đây ông mới ngó lại thời chẳng thấy em bé khi nãy đâu cả. Mới dìu dắt nhau đến nương ở xóm Nguyên Nguyên Lý một thời gian, chiến sự mới kết thúc. Bốn phía xóm nhà ông đều biến thành gạch vụn, duy có căn nhà ông ở còn nguyên vẹn mà thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đấy là nhờ Phí cư sĩ và toàn gia đã hằng ngày thành kính tu niệm đức Quán Thế Âm Bồ tát mới được nhờ gia hộ bất khả tư nghì này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">33. <B>Ông Trương Hiếu Liêm thoát khỏi cướp</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông Trương Hiếu Liêm làm quản lý cho một hiệu buôn lớn, ông vốn là người chưa tin Phật cho lắm, mặc dù ông cũng có niệm Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một bữa nọ, ông ngồi xe hơi đi vào một thành phố vắng, bị hai tướng cướp dùng súng lục chận đường, đuổi tài xế xuống, ra lệnh cho ông lái xe đến chỗ chúng căn dặn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai tên cướp ngồi cạnh ông; trong lúc nguy cấp ông thầm niện Quán Thế Âm Bồ tát. Khi xe chạy đến đoạn đường đông đảo, nào hay có hai người đi đường bỗng đánh nhau túi bụi, lính cảnh sát gác đường thổi tu huýt để bắt đám đánh lộn, hai tên cướp nhảy vọt xuống xe chạy trốn mất dạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi thoát nạn, ông Liêm dốc lòng tin Phật và quy y Tam Bảo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">34. <B>Ông lý Cận Đang thoát khỏi nạn cướp và khỏi bệnh</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông lý Cận Đang ở Chấn Hải, làm mại bản cho một hãng buôn ngoại quốc, bị bệnh thổ huyết đã hai năm, lâu lâu lại thổ ra; ngay lúc không thổ nếu khạc đàm cũng có lộn huyết nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một bữa nọ, ông bị bon cướp bắt cóc, trọn cả gia đình đều niệm Quán Thế Âm Bồ tát, để cầu cứu cho ông và còn thỉnh nhà sư chùa Pháp Tạng đến trợ niệm nữa. Sau đó, bọn cướp nhắn tin về gia đình ông Đan, bắt phải chuộc mạng với số tiền hai trăm ngàn đồng; nhưng gia đình ông chỉ ưng chuộc với số hai mươi ngàn mà thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chúa đảng bảo nếu không chuộc đủ số thì nhất định không thể về. Mà lạ lùng thay! Hễ mỗi lần tên chúa cướp nói đến tiền nong là đầu của y bị nhức nhối hình như bi ai bửa ra; hai bên giằng co một thời gian, rốt cuộc tên cướp phải cho chuộc với số tiền hai mươi ngàn đồng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Và lạ lùng thay! Sau khi được thả ra, ông Đan không còn thổ huyết nữa, ngày cả khi khạc đàn cũng không có lộn huyết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>(Hai câu chuyện sau số 33 và 34 là trích trong Lý Bát Nhã và Tịnh Độ của soan giả Bổn Nguyên cư sĩ).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>Lời giải thích thêm của soạn giả cuốn Lý Bát Nhã và Tịnh Độ</B>: Trong những năm thành lập Dân Quốc đầu tiên, ở Thượng Hải thường xảy ra nạn bắt cóc nhà giàu để đòi tiền chuộc mạng.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<CENTER>PHẦN KẾT
<B>NHỮNG DANH THẮNG LỊCH SỬ THỜ PHƯỢNG QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT TẠI VIỆT NAM</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>ĐẠI CƯƠNG</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sự cung kính thờ phượng lễ bái đức Quán Thế Âm Bồ tát đã có từ xa xưa lâu đời như ta đã biết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Việc ấy như là một điều tất yếu vì đối với kiếp nhân sinh thì không có gì khẩn thiết, quan trọng và cấp bách bằng lòng từ bi cứu khổ, bởi vì ngay trong bản chất và trạng huống sinh hoạt của con người, bắt đầu trước hết là sự <B>Khổ</B>. Mà hễ vị Bồ tát nào thường cứu khổ được cho nhân loại là vị ấy được sùng kính, lễ bái, thờ phượng nhiều nhất.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các học giả Tây phương khi nghiên cứu đạo Phật đã phải ca tụng sự hợp lý trong thứ tự trình bày giáo lý <B>Tứ Diệu Đế</B> của bài thuyết pháp mà đức Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, vị từ phụ cao cả của thế giới Ta Bà chúng ta đã dạy lần đầu tiên cho năm vị đệ tử, anh em Kiều Trần như, tại vườn Lộc Uyển ở thành Ba La Nại: <B>Khổ, Tập, Diệt, Đạo</B> mà sự khổ là bản chất sâu xa nhất trong kiếp người, cho dù người đó có quyền thế sang trọng, vinh hoa, phú quý mấy đi nữa thì cũng là một chúng sinh trong tam giới lục đạo, trong kiếp làm người và phải chịu sự đau khổ của con người.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cho nên việc cứu khổ cho nhân loại và tất cả chúng sanh là quan trọng nhất trong mọi hạnh nguyện của một vị Bồ tát, mà tượng trưng nhất cho đại hạnh này là lòng từ bi vô lượng vô biên, bao la rộng lớn của Quán Thế Âm Bồ tát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong tất cả các nước có truyền bá của Phật giáo, thì dân chúng cũng như các giới cầm quyền vẫn luôn luôn sùng bái và xây dựng các nơi thờ phượng đức Quán Thế Âm Bồ tát như chùa, điện, tháp, miếu, động và các khu lâm viên, vườn đài có dựng tượng đức Quan Âm Phật Bà lộ thiên nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi người ta cũng lập Hội thờ, Ban Phụng sự v.v... để quy tụ những nhóm Phật tử có lòng ái mộ, tôn kính, sùng bái đặc biệt đức Quán Thế Âm Bồ tát để lo việc lễ lạc, trùng tu, sửa sang các nơi ấy.
<CENTER><B>I. KHU HƯƠNG SƠN</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhận tiện, chúng tôi muốn nhắc qua các nơi thờ phượng lịch sử có qui mô hiện nay - chưa nói đến các nước khác - thì ngay tại Việt Nam có trước hết là khu vực lâm sơn thạch động Hương Tích, tục gọi là chùa Hương. Khu này rất rộng bao gồm cả khu núi rừng, khe suối từ huyện Chương Đức trở xuống, giáp liền ven núi huyện Sơn Minh, huyện Hoài An, cả một dãy núi rừng trùng điệp, giáp giới với miền thượng du Thanh Hóa. Huyện Hoài An nay là huyện Mỹ Đức, ở phía Tây Nam Hà Tây (nay là Hà Sơn Bình).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phía trước có sông dài là sông Đáy, mà quãng từ sông Hồng trở vào gọi là sông Hát chỗ có đền thờ của hai Bà Trưng, hai vị anh thư của Việt Nam thời xưa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phía sáu là núi dài, là dãy núi Hương sơn có niên kỷ từ xa xưa cách nay khoảng 220 triệu năm. Dãy núi này có rất nhiều hang động, sau này dân chúng thường xây dựng nên các chùa chiền ở trong ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rừng núi Hương Sơn là một cảnh đẹp thiên nhiên của nước Việt Nam.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo như trong bản đồ thì tại đây có đến 13, 14 ngôi chùa, đền ở gần nhau trong cả một vùng núi rừng san sát bên cạnh nhau mà hai chùa chính là chùa Hương (chùa Trong) và chùa Thiên Trù (chùa Ngoài).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hiện nay nhà nước Việt Nam đang cho tu bổ lại để làm nơi thắng cảnh đón rước các du khách từ các nước phương Đông, phương Tây lại thăm viếng, du ngoạn và lễ bái.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong cuốn Thung Mơ Hương Tích của Trần Lê Văn, có nói đến các phái đoàn thăm viếng vùng Hương Sơn của rất nhiều nước như: Liên Xô, Trung Quốc, Tiệp Khắc, Ru-Ma-Ni, Pháp, Anh v.v...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một nhà du lịch Pháp đã viết được những dòng chữ sau: "... Trong cảnh thần tiên này, trong hang động này - hang động phối hợp với những vẻ đẹp lớn của thiên nhiên với sự cảm thông kỳ diệu về đạo lý cao xa - chúng tôi, bè bạn và bản thân tôi cảm nhận được tâm hồn và phong tục Việt Nam".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi một người Anh đã viết như sau: "... Chùa Hương thật là một cảnh có một không hai. Tôi hy vọng rằng càng ngày càng có nhiều người nước Anh - đồng bào của tôi - được hưởng cái may mắn như tôi (là thăm cảnh chùa Hương)".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn các bài ca vịnh, đề thi của văn, thi sĩ Việt Nam thì rất nhiều như các bài thơ, phú của các vị danh nhân như:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">... Bài thơ sáu mươi câu theo lối ngũ ngôn trường thiên của cụ Bùi Dị, một bậc đại thần về thời cận đại đã từng phụng chỉ đi sứ Tàu, mà nhà sư Thanh Tích đã có công dập đúng lối chữ, khắc ngay ra trước cửa chùa Thiên Trù.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">... Bài thơ tứ tuyệt của cụ Nghè Chu Mạnh Trinh v.v...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đây, xin trích một bài thơ điển hình của cụ Thái Tử Thiếu Bảo Hiệp biện đại học sĩ Dương Vân Hồ:
<p style="padding-left: 30px;">Vị ức mai lâm thiên thụ mai
Thanh sơn hựu hoán bạch đầu lai
Khả liên tuyệt động phi tiên cảnh
Cánh tác nhân gian cổ Phật đài.
Mãn mục ỷ la tùy địa bố
Liệt hàng đăng hỏa triệt minh khai
Phong trần tảo thức vi tăng hảo
Bất trước hoa quan, trước thảo hài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bài dịch của thời sĩ Tú tài Đào Văn Bình:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Vì nhớ rừng mơ với khóm mơ
Non xanh lại gặp khách đầu phơ!
Động tiên từ trước ôi là đấy
Tòa Bụt mà nay hóa đứng trơ.
Trăm vẻ gấm hồng bày đã khắp
Thâu đêm đèn tuệ tỏ không mờ!
Vòng trần sơm biết tu là phúc
Thì dận giày rơm, bỏ mũ tơ!</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại có nhiều bài thơ, phú của Hải Nam Đoàn Như Khuê, cụ Tiểu Đăng Tử, mười bài thơ "Thập Khúc" của cụ Cao Chu Thần, bài hát của cụ Chu Mạnh Trinh v.v...
<CENTER><B>II. NÚI NGŨ HÀNH</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn ở phía Nam thì tại Đà Nẳng (Quảng Nam) có vùng núi Ngũ hành Sơn, tục gọi là chùa Non Nước, thuộc về Châu Thuận Hóa, sau gọi là phủ Điện Bàn, rồi Diệu Phước và ngay nay là huyện Hòa Vang.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong bài diễn văn của hội Quan Âm tại đây (ngày 19-2 âm lịch - Canh Tý 1960) có viết như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Ngũ hành Sơn là một danh lam có từ lâu không biết đã mấy ngàn năm lịch sử. Tục truyền nơi đây là linh địa, nơi thị hiện của chư vị thánh hiền, nhất là Bồ tát Quán Thế Âm hay ứng hiện để cứu dân độ thế".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo tài liệu lịch sử thì vùng này trước kia thuộc đất người Chàm, trong các động có thờ tượng bà Lồi Phi và bà Ngọc Phi (động Huyền Không và Linh Ứng tự).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Những đền điện của người Chàm bị tàn phá vào đời Hồng Đức (vua Lê Thánh Tông) trong khoảng thời gian từ 1460-1497, là thời gian mà người Chàm bị quân ta đuổi đánh phải chạy vào phía Nam. Từ ngày đó Ngũ Hành Sơn trở thành thắng cảnh của Việt Nam.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ khi thuộc về phần đất của Việt Nam, Ngũ Hành Sơn đã được nhiều vị sư Việt Nam đến tu hành ở đấy, trong ấy có ngài Huệ Đạo Minh là người đã kiến tạo, sùng tu rất nhiều chùa, động ở Thủy Sơn như Vân Thông động, Hoa Nghiêm động. Chùa Phổ Đà Sơn do tiền quyên cúng của tín đồ Phật giáo trong vùng, của tín đồ Trung Hoa và Nhật cư ngụ ở Hội An lúc bấy giờ (1690-1760).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong thời gian nhà Nguyễn Tây Sơn nổi lên chống với chúa Nguyễn, những đền chùa này bị quân Tây Sơn tàn phá rất nhiều, vì họ nghe đồn các kho tàng của người Chàm còn chôn dấu ở đấy. Các vị sư phải bỏ chùa trốn vào trong hang đá để tiếp tục tu hành.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tương truyền rằng chúa Nguyễn Ánh đã có lần thất trận ở gần Ngũ Hành Sơn, và bị quân Tây Sơn đuổi đánh, phải chạy vào làng Dương Sơn. Đến đây, bỗng nhiên có một màn sương mù che khuất ngài và quân lính làm cho quân Tây Sơn lạc hướng không đuổi theo được nữa. Trong khi chúa Nguyễn Ánh và quân lính thiếu lương thực thì gặp một rừng cây "bòn bon", là một thứ cây có trái rất ngon ngọt đã cứu ngài và quân lính đỡ đói. Người ta bảo rằng ngài đã nhờ vị thần Núi phò hộ; vì thế sau khi lên ngôi Hoàng đế, vua Gia Long đã không quên phong tước cho trái núi ấy là "Ma Lu trinh tiết phu nhân".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ ngày vua Gia Long lên ngôi, Ngũ Hành Sơn và nhất là Thủy Sơn đã hưởng được một giai đoạn thái bình. Một bà công chúa con vua Gia Long đã đến tu ở đấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm Minh Mạng thứ sáu (tháng 6 năm 1825), ngài đã đi thuyền đến Hòa Quế viếng Ngũ Hành Sơn và các chùa Trang Nghiêm, Bửu Đại. Hai tháng sau, ngài truyền cho quan Thượng thư Bộ Công xây dựng chùa Tam Thai và điện Hoa Nghiêm, khắc hay sơn lại những bức hoàng phi mà ngài đặt tên.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm Minh Mạng thứ bảy (1826), ngài truyền đúc chín bức tượng Phật và ba cổ chuông lớn cho chùa Tam Thai. Cũng trong thời gian ấy, ngài truyền xây cất hành cung gần chùa Tam Thai để mỗi khi ngài ngự đến viếng Ngũ Hành Sơn, có chỗ nghỉ chân. Hành cung ấy ngài đặt tên là: Đông Thiên Phước Địa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm Minh Mạng thứ tám, ngài lại ngự vào Ngũ Hành Sơn và lần này truyền sửa chữa những ngôi chùa Bửu Quang và Di Lặc, mà quân Tây Sơn đã tàn phá khi đi qua đấy. Đến năm Minh Mạng thứ mười tám, ngài lại vào một lần nữa, và lần này hơn cả hai lần trước, ngài đã ân tứ rất nhiều cho các chùa ở đây và các vị sư trong các chùa này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mỗi lần đi như thế, ngài để lại trên các thắng cảnh rất nhiều bài thơ. Phải công nhận rằng trương các đời vua nhà Nguyễn, thì vua Minh Mạng là ông vua đã có công rất nhiều trong việc bồi đắp cho cảnh non Nước thành một danh thắng đặc biệt của Việt Nam".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <B>Thủy Sơn, cảnh chùa Non Nước</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Người ta bảo đi viếng Ngũ Hành Sơn, nhưng thật ra du khách thường chỉ đến ngoạn cảnh ở Thủy Sơn thôi, vì Thủy Sơn đã có cái may mắn dồn chứa tất cả những cảnh đẹp thiên nhiên lần nhân tạo. Riêng về chùa có đến bốn cảnh: chùa Tam Thai, chùa Từ Tâm, chùa Linh Ứng và chùa Linh Động chơn tiên.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về động chùa thì có rất nhiều: Động Huyền Không, động Hoa Nghiêm, động Linh Nham, động Thiên Phước Địa, động Vân Thông, động Tàng Nhơn, động Chiêm Thành, động Tam Thanh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngoài ra, còn bao nhiêu là hang sâu cùng cốc kỳ lạ như: Vân Nguyệt cốc, Thiên Long cốc, Giám Trai, Hang Đen, Hang Dơi, huyệt Âm Phủ v.v... Nếu du khách, trước khi đi sâu vào hang, động trong núi Thủy Sơn, muốn dừng chân đứng lại nhìn trời, non, nước thì người xưa đã sắp đặt sẵn cho chúng ta hai địa điểm tốt nhất để nhìn, muốn nhìn ra biển thì có Vọng Hải đài, muốn nhìn vào sông thì có Vọng Giang đài".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <B>Chùa linh Ứng</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Trước kia chùa này tên là Ứng Chơn do vua Minh Mạng đặt ra, nhưng sau vì nó trùng tên với một vị hoàng tộc triều Nguyễn, nên đến năm thứ ba niên hiệu Thành Thái mới đổi lại là Linh Ứng Tự. Chùa thờ Tam thế Phật ở giữa là đức Thích Ca, ở bên mặt ngài là đức Di Lặc, và bên trái là đức Di Đà.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ở đây có thờ các bài vị của những vị chân tu có tiếng tăm trong chùa. Đó là bài vị của ngài Bửu Đại và của hòa thượng Nguyễn Viết Lữ, đệ tử của ngài Mật Hạnh, vị hòa thượng này đã tu ở đây trên ba mươi năm và mất năm 1921".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <B>Tàng Chơn Động</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Phía Đông Nam ngọn núi Thủy Sơn, có một con đường tối om đi rất khó khăn, vì lởm chởm đá và gai gốc. Đi hết đường, chúng ta gặp một cái hang sâu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Xưa vua Minh Mạng muốn biết chiều sâu của hang được bao nhiêu, truyền cho mười hai người lính, thắp đuốc trèo xuống hang. Vua đợi một hồi lâu, thấy họ trèo lên và tâu với vua họ không thể đi xa hơn nữa, vì đèn đuốc đều tắt cả. Vua truyền thả xuống hang những trái bưởi có viết chữ để làm dấu. Sáng hôm sau, người ta tìm thấy những trái bưởi ấy ngoài bãi biển gần đấy. Do đó, người ta tin rằng cái hang này có những đường ăn thông ra biển. Và để thêm vẻ rùng rợn cho một cái hang mà đến bây giờ chưa ai khám phá được chiều sâu và hình tích của nó, người ta gọi là là Âm Phủ huyệt, hay đường xuống Âm phủ".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <B>Đường lên trời</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Nhưng nếu đã có đường xuông Âm phủ, tất nhiên phải có đường lên trời. Con đường này có nhiều đoạn và tất nhiên là phải đi lên hơi khó nhọc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trước tiên chúng ta đến Linh Nham động (động của chóp núi linh thiêng). Tục truyền rằng xưa kia, ở đây có một vị tên Tu Bồ Đề đã đến đây ở tu hành, nên bây giờ người ta cũng gọi động này là động Bồ Đề. Linh Nham động đã được một vị lãnh binh ở tỉnh Quảng Nam, cách đây trên bốn mươi năm, đến tu bổ và sửa sang để thờ đức Quán Thế Âm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ở phía Tây là động Thiên Phước Địa, ở phía Đông là động Vân Căn Nguyệt Quật (gốc mây gác nguyệt). Cũng ở trong động này, chúng ta sẽ thấy một cái hang sâu thẳm mà vua Minh Mạng đặt cho cái tên là Thiên Long cốc (hang rồng trời). Từ động này, chúng ta hãy đi lên về phía Nam, trèo lên lưng chừng vách đá của Vân Nguyệt cốc, ngay sau lưng pho tượng Di Đà phóng quang, chúng ta sẽ đi vào một cửa hang tối om, đó là cửa động Văn Thông (động thông với mây), hay nói một cách huênh hoang hơn, đường thông lên trời".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <B>Động Hoa Nghiêm và Động Huyền Không</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"... Chúng ta vào động Hoa Nghiêm trước, vì động này nằm ở phía ngoài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">So với động Huyền Không ở phía trong thì động Hoa Nghiêm nhỏ hơn nhiều, tuy thế nó vẫn có cái vẻ đặc biệt của nó, mà chúng ta khó tìm thấy ở một nơi khác: đó là vẻ trầm mặc, âm u mà ngay cái cổng và con đường đi vào đã tạo sẵn cho chúng ta.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">... Và khi chúng ta ngước mắt lên, kìa một pho tượng Phật Quan Âm cao lớn hiện ra, nhìn chúng ta với một đôi mắt hiền dịu, an ủi vô cùng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chúng ta hãy rời động Hoa Nghiêm để đi vào động Huyền Không. Thật là một cảnh không thẹn với cái tên...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">... "Cái Không" tự tại mầu nhiệm có sức mạnh quyến rũ lòng người kính cẩn đặt vào giữa lòng mình những niềm tin tưởng khác nhau của dân chúng: ở đây là điện Tam thế Phật, đằng kia là điện Quan Thánh, ở trên cao là điện thờ Ngọc Hoàng, ở bên nọ là miếu bà Chúa Ngọc...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nếu bạn có thì giờ, xin mời bạn sang hòn Kim Sơn để thăm động Quán Thế Âm, là một động do một vị sư mới tìm thấy vào năm 1956. Động này có một khối thạch nhũ giống hình đức Quán Thế Âm đứng cao lớn uy nghiêm, thanh tịnh. Ngoài ra giữa vô số những khối thạch nhũ khác còn có một khối từ nóc động thòng xuống gần sát đất như một cây cột, và phát ra những tiếng kêu rất thanh và ngân dài như tiếng chuông mỗi khi người ta gõ vào nó. Đã có chuông thì phải có mõ, sự thờ cúng mới được tôn nghiêm, cho nên thiên nhiên đã tạo ra một phiến đá, đánh lên nghe như tiếng mõ".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>(Trích bài "Lược Sử Ngũ hành Sơn" của Hùng Khanh, trong đặc san "Kỷ niệm ngày hội Quan Âm" 19-2-2504 của Giáo Hội Tăng Già Trung Phần, in tại nhà in Liên Hoa Huế, ngày 16-2-1960).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đây là bài thơ "Vọng Ngũ Hành Sơn" của Thượng Tọa Bích Phong:
<p style="padding-left: 30px;">Triêu triêu nam vọng Ngũ hành Sơn
Ức Phổ Đà nham tại thử gian
Bất đoạn triều âm tuyên phạm bái
Vô cùng thạch đắng ủng thuyền quan.
Trùng chiêm thảo thọ khai hương quốc
Phổ lợi nhơn thiên kiến đạo tràng
Thị xứ đăng lâm trầm niệm tịnh
Tiên đô hà sự thốn tâm nang.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dịch:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Lắm lúc trông qua núi Ngũ Hành
Phổ Đà đây hẳn kiếp ba sinh
Hôm mai sông biển hồn như gợi
Cao thấp rừng thuyền đá bọc quanh
Thảo thọ chào xuân chiều rực rỡ
Đàn tràng khắp độ kiếp mong manh
Bụi trần rũ sạch từ đây nhỉ
Mong mỏi mà chi chốn Ngọc kinh.</I>
<CENTER><B>III. ĐIỆN NAM HẢI QUÁN ÂM</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hướng về phía Nam, và xa hơn nữa là tại Nha Trang (nay là Phú Khánh, trước gọi là tỉnh Khánh Hòa), thì có điện Nam Hải Quán Âm, tại thôn Xuân Tự, huyện Vạn Ninh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bên kia bờ biển, về hướng Nam vọng lại mặt chùa có Hòn Hèo là núi chín cụm (Cửu Liên Phong), bên tả là Hòn Đòn ngó lại như lưỡng long triều nguyệt, bái yết Phật đài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cảnh thiên nhiên lịch lịch như bức tranh họa không sai. Ai trông thấy cũng tắm tắc khen thầm mãi không biết mỏi mắt.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">... Lại thêm tên riêng của làng Xuân Tự cũng thơ mộng (Làng chùa Xuân). Thắng tích danh lam này dường như có tánh cách dặc biệt của đức Quán Âm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Do đó tôi phát nguyện cất điện thờ ngài. Đồng thời tôi cũng lập thắng cảnh chùa Giác Hải.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dựng xong chùa, lễ khánh thành cử hành vào ngày 19 tháng 9 năm Bính Thân (1956). Tại đây, làng Xuân Tự có núi Phổ Đà, có biển Nam Hải, có núi Quán, núi Chùa, núi Ông Sư. Đó là những thắng cảnh nghìn xưa, danh lam đời trước, cổ thụ và san hô sẵn sàng. Thủy tú sơn minh này làm cho giang sơn gấm vóc Xuân Tự càng thêm đẹp đẽ riêng một bầu trời mới.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Điện ngài xây mặt về phía Nam Hải, cửa bể Đầm Môn (Port Doyot) thông suốt năm châu, xe lửa, xe hơi, tàu bè ghe thuyền qua lại đều trông thấy điện ngài. Mỗi khi găp phải tai nạn, sóng gió bất thường mọi người đều hướng về ngài kêu cầu xưng niệm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm 1956, chiến tranh Việt Nam vừa tạm gọi là chấm dứt, song nhân dân còn đau khổ vô cùng, do họa chiến tranh gây ra và để lại. Chúng tôi ở phương xa đến đây hành đạo, có bổn phận phổ biến đạo từ bi bằng cách nêu cao tinh thần đạo đức, hầu mong đem lại quốc hồn nơi núi xanh rừng rậm. làng mạc hoang vu bị tàn phá này. Trong đơn xin phép làm chùa, có mục xin lên pho tượng Quan Âm cao hai thước. Điện thờ ngài đặt tên là: Nam Hải Quán Âm Đại Điện".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi làm chùa xong một năm, tình cờ có hai bà tín nữ ở Phan Rang bà Hà Thị Như, và bà Nguyễn Thị Đĩa đến xin cúng tiền lên một pho tượng Quán Thế Âm. Chúng tôi hoan hỷ nhận lời để hai bà được mãn nguyện.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôi vào Chợ Lớn (Nam Việt) thuê thợ lên tượng. Sau thời gian chín tháng thì xong và phải vượt qua trên 500 cây số mới hầu tượng về đến chùa vào khoảng tháng 10 năm 1957.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trước hết chúng tôi tạm thờ ngài trước sân chùa trong một nhà dù tạm bằng tranh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về sau mới xây điện lại bằng xi măng cốt sắt, chi phí gần đến 100.000 đồng. Cai thợ và công nhân phải ăn chay trong ba tháng, để hoàn thành công việc kiến tạo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngày 19-9 Phật lịch 2502 (1958) lễ khánh thành cử hành rất trọng thể. Toàn thể Giáo hội Tăng già trong tỉnh Khánh Hòa và ông tỉnh trưởng đồng đến dự lễ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>(Trích các bài viết về "Lược Sử Điện Nam Hải Quán Âm" của Thích Viên Giác).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đây là một bài thơ cảm tác viếng cảnh Quán Âm Đại Điện tại thôn Xuân Tự của Mai Phong thi sĩ:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Viếng cảnh Xuân Sơn, yết Phật đài
Xa lìa bể khổ, sạch trần ai
Núi mây ba phía êm đềm nhỉ!
Thuyền viện mấy tòa đẹp đẽ thay!
Nói pháp, giảng kinh luôn sớm tối
Hồi chuông gầm sóng suốt đêm ngày
Khen ai khéo chọn nơi tu dưỡng
Độ được mình, thêm độ được người.</I>
<CENTER><B>IV. Ở CÁC NƠI KHÁC</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn trong các vùng ở Nam Việt và các nơi ở thành phố Hồ Chí Minh đã có dựng bảo tượng đức Quán Thế Âm Bồ tát lộ thiên, hoặc ở ngoài trời có bảo cái che thì hiện nay có thể chọn ba nơi làm điển hình. Đó là:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. <B>Quán Âm Phật Đài</B> tại Phú Lâm, số 419, đường Hùng Vương, quận 6. Đây là một khu vườn ở giữa có một pho tượng đức Quán Thế Âm Bồ tát dứng lộ thiên cao bảy mét đã được dựng lên từ 1950. Bên cạnh có ao sen, và đám đất bên phải có một ngôi Quan Âm Đại Điện.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Có một tổ chức hợp lệ là Hội Thờ Quan Âm Phật Bà, có giấy phép và nội quy điều lệ từ trước. Chỗ này thường có nhiều Phật tử đến viếng thăm và lễ bái.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">2. <B>Quan Âm tu viện</B>: Tại khu vực Biên Hòa là một ngôi chùa có thờ Quan Âm Phật Bà ngoài trời, cũng đứng và có bảo cái che phía trên. Tượng này cao chừng năm, sáu mét và dựng tại một sân tráng xi măng nằm sau ngôi chùa. Sau này, có tượng của Địa Tạng Bồ tát cũng được thỉnh về và dựng lên sau pho tượng của Quán Thế Âm Bồ tát. Nơi đây các Phật tử đến lễ bái rất đông, nhất là vào mấy ngày lễ lớn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">3. <B>Nam Thiên Nhất Trụ</B>: Là một ngôi chùa tọa lạc tại vùng Thủ Đức, được đặt tên na ná như Nam Thiên Đệ Nhất Động tại Hương Sơn, nhưng là một ngôi chùa một cột thờ tượng Quán Âm ngồi, dựng lên ở giữa sân chùa, trên một cái hồ xung quanh xây tường gạch và xi măng, cũng phỏng theo kiểu chùa Một Cột tại Hà Nội, còn tượng Quán Âm đứng thì dựng tại đám đất phía phải, cũng trên một cái hồ nhỏ có hòn non bộ ở giữa. Tượng này cao chừng ba bốn mét có bảo cái che ở trên. Chỗ này cũng là chỗ quy hướng của nhiều Phật tử hay đến vãng cảnh, xem tượng, thăm chùa và lễ bái.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì phương tiện giao thông chưa thuận tiện nên ở các nơi tỉnh xa hoặc các nơi xung quanh vùng ngoại ô thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi chưa có địp đi đến và chưa biết rõ nơi nào có dựng bảo tượng đức Quán Thế Âm và sự bố trí Phật đài có tính cách qui mô.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn nhiều nơi danh lam thắng cảnh ngoài vùng Bắc và vùng miền Trung, có thể có dựng tượng Quan Âm Phật Bà mà chúng tôi chưa được biết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mong rằng việc du ngoạn, khảo sát kỹ hơn sẽ được các vị du khách, thức giả, học giả và các nhà chiêm bái từ các nơi xa gần trong hay ngoài nước có thể thực hiện tốt đẹp và đầy đủ hơn về sau.
<CENTER>- HẾT -</CENTER></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
THẬP NHỊ ÐẠI NGUYỆN

- Kính lạy đức Từ bi:

Ðạo hiệu Viên Thông phép nhiệm mầu,
Danh xưng Tự Tại đức dầy sâu.
Quán Âm Linh Cảm Như Lai nguyện,
Lời nguyện hoằng thâm tợ biển sâu.

- Kính lạy đức Từ bi:

Một niệm xin dâng trước Phật đài,
Lòng không quái ngại, ý không sai.
Quán Âm Linh Cảm Như Lai nguyện,
Thường ở biển Nam tiếp độ đời.
Lời nguyện hoằng thâm tợ biển sâu. (Xin bỏ câu này)

- Kính lạy đức Từ bi:

Ðến cõi Ta bà chẳng quản thân,
U minh thế giới quyết năng gần.
Quán Âm Linh Cảm Như Lai nguyện,
Lóng tiếng xa xăm cứu độ trần.
Lời nguyện hoằng thâm tợ biển sâu. (Xin bỏ câu này)

- Kính lạy đức Từ bi:

Thâu phục tà ma rất hiển linh,
Diệt đoàn yêu quái phá dân lành.
Quán Âm Linh Cảm Như Lai nguyện,
Nguy hiểm năng trừ độ chúng sanh.
Lời nguyện hoằng thâm tợ biển sâu. (Xin bỏ câu này)

- Kính lạy đức Từ bi:

Thanh tịnh một bầu ngọc sáng trong,
Nhành dương tươi thắm lá buông thòng.
Quán Âm Linh Cảm Như Lai nguyện,
Cam lộ rưới cho khắp mát lòng.
Lời nguyện hoằng thâm tợ biển sâu. (Xin bỏ câu này)

- Kính lạy đức Từ bi:

Rộng lớn Từ Bi giữ trọn đường,
Lại cùng Hỷ Xả khắp mười phương.
Quán Âm Linh Cảm Như Lai nguyện,
Bình đẳng thường hành đạo hiển dương.
Lời nguyện hoằng thâm tợ biển sâu. (Xin bỏ câu này)

- Kính lạy đức Từ bi:

Chẳng quản ngày đêm sức nhọc nhằn,
Lại qua xem xét thảy không ngăn.
Quán Âm Linh Cảm Như Lai nguyện,
Thề diệt ba đường chốn chốn an.

- Kính lạy đức Từ bi:

Mắt hướng về Nam vọng núi cao,
Bền lòng lễ bái chí không nao.
Quán Âm Linh Cảm Như Lai nguyện,
Xiềng tỏa mở tung hết trói vào.
Lời nguyện hoằng thâm tợ biển sâu. (Xin bỏ câu này)

- Kính lạy đức Từ bi:

Bè phép quyết lòng lướt biển khơi,
Tay chèo tay lái dạo cùng nơi.
Quán Âm Linh Cảm Như Lai nguyện,
Vớt cả quần sanh khỏi khổ đời.
Lời nguyện hoằng thâm tợ biển sâu. (Xin bỏ câu này)

- Kính lạy đức Từ bi:

Rợp bóng tràng phan gió phất phơ,
Tiếp sau bửu cái tợ rừng cờ.
Quán Âm Linh Cảm Như Lai nguyện,
Dẫn đến Tây phương Phật sẵn chờ.
Lời nguyện hoằng thâm tợ biển sâu. (Xin bỏ câu này)

- Kính lạy đức Từ bi:

Không lượng không cùng sức sống lâu,
Trông về cảnh giới Phật nhiệm mầu.
Quán Âm Linh Cảm Như Lai nguyện,
Xin được Di Ðà thọ ký sau.
Lời nguyện hoằng thâm tợ biển sâu. (Xin bỏ câu này)

- Kính lạy đức Từ bi:

Trước cảnh trang nghiêm hiện pháp thân,
Dễ chi so sánh được cho cân.
Quán Âm Linh Cảm Như Lai nguyện,
Trọn nguyện mười hai chứng quả phần.

NAM MÔ ĐẠI TỪ, ĐẠI BI, QUẢNG ĐẠI LINH CẢM
QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT MA HA TÁT
Xin đính chính

Trong bài "Thập Nhị Đại Nguyện" của Bồ Tát Quán Thế Âm, ở trang 5, có chép dư mấy câu: Lời nguyện hoằng thâm tợ biển sâu. (Xin bỏ câu này)

Kính.
 
Last edited by a moderator:
Bên trên