Sự Tích và Hạnh Nguyện Đức Quán Thế Âm Bồ Tát

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<CENTER>PHẦN HAI
<B>CÁC SỰ THỊ HIỆN ĐẦU TIÊN CỦA QUÁN THẾ ÂM BỒ TÁT
TẠI THẾ GIỚI TA BÀ</B>
<BR>Chương I
<B>A. THỜI TIỀN SỬ</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lòng từ bi cứu độ các khổ nạn chúng sanh của đức Quán Thế Âm Bồ tát, những người xưa trong lịch sử, từ thời tiền sử, khi được biết đến Phật giáo, cũng đã có những sự tích nói đến rồi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng xưa nhất là câu chuyện của ông Bàn Cổ, mà có lẽ trước đây khi chưa có văn tự, những người xưa đã truyền khẩu với nhau cho đến nay thì được ghi lại theo đoạn văn trích ở sau<SUP><B>(1)</B></SUP>. Nhưng muốn hiểu đoạn văn này, ta phải nói qua về các điểm thời gian và không gian của nó thì mới quan niệm được rõ ràng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đời Lý, triều vua Lý Thánh Tông (1054-1072) có một vị tướng quân tên là Lê Uyên, em con chú của Ỷ Lan Phu nhân, là một vị Nguyên phi của vua. Tướng Lê Uyên này trước đây ra trận bị nạn có một vị đạo sĩ đến cứu. Vị này Lê Uyên gọi là "tiên sư" và truyền thuyết nói rằng vị này là một Hồ tinh tu lâu năm đã hóa được thành người.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhân một buổi đón tiếp vua Xiêm tại kinh thành, ngự đệ Lý Trụ Thạch có kể chuyện cho Ỷ Lan Phu nhân, lúc bấy giờ đã được phong làm Thái hậu (vì con là Hoàng tử Kiền Đức đã lên ngôi vua: vua Lý Nhân Tông) có gặp quốc cửu Lê Uyên và đã đưa quốc cửu về cung. Thái hậu mừng rỡ khôn xiết và phàn nàn rằng bấy lâu không mời được tiên cửu về kinh chơi. Quốc cửu tâu: Tiên đệ (Lê Uyên tự xưng) việc gì cũng biết trước nên có nói: cơ duyên chưa hết sau lại gặp nhau, và lúc Thái hậu phải nạn thì tiên đệ cũng biết, có nói với tiên sư đến cứu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tiên sư bảo: "Mình là Hồ tinh tu chưa được ba nghìn năm, thần giữ cửa tất không cho vào, nhưng nạn ấy có Đại Điên cứu, không lo nữa".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tiên đệ lại hỏi: "Đại Điên<SUP><B>(2)</B></SUP> là người thế nào?" Tiên sư nói: "Đại Điên là Phật Quan Âm Đại Sĩ từ đời hỗn mang trời đất lẫn lộn nhau, Phật cho kết một quả bàn đào ở chính giữa, ông ấy ở trong, vươn cao lên không biết mấy vạn trượng, lại nằm xuống đạp tứ tung rồi thu hình lại, mở xác bàn đào mà thành ông Bàn Cổ<SUP><B>(3)</B></SUP> một tay cầm cưa, một tay cầm búa, chỗ nào trời đất còn lẫn lộn, lấy búa chặt ra, lấy cưa cưa đứt, những chỗ các ông sao sáng là trời thì mang đất lên đấy, làm hơn hai vạn năm, xong việc lại về chầu Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến đời Đường, giáng sinh sang nước ta tu hành đắc đạo. Nghe nói ông Hàn Dũ<SUP><B>(4)</B></SUP> dâng sớ nói xương Phật (xá lợi của Phật) là chuyện giả dối, ngã nón vượt bể sang Triều Châu (tức Quảng Đông bây giờ) để khuyến hóa ông Hàn Dũ. Hàn Dũ biết là người liễu ngộ thiên lý, lại đi chơi bời năm bảy lượt. Khi tiễn biệt để lại một chiếc áo làm kỷ niệm, Đại Điên bèn vân du khắp nước Tàu. Đến triều Lý lại quanh về nước Nam ta, nghiệp quả bây giờ cũng sắp mãn".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại nói thêm về sự thị hiện từ đời tiền sử huyền thoại thì trong sách Hội Đồ Khai Tịch Diễn Nghĩa của Ngũ Nhạc Sơn nhân và Tĩnh Túc Cư sĩ Vương Hầu Tử kể lại theo <I>"Chu Du Ngưỡng Chỉ Tập"</I> có sự tích Bàn Cổ như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><U>Hồi 1</U>: <B>Bàn Cổ thị mở trời đất</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">.... Hồ Ngũ Phong nói: Đời hỗn độn, Trời Đất mới chia, có Bàn Cổ thị, sinh ra ở đời Thái Hoang, không biết lúc ban đầu tự đâu, tỏ rõ đạo trời đất, thấy suốt lẽ biến hóa của âm dương, là ông vua đầu tiên, tên Tam Tài, ở thời hỗn độn mở ra vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hãy nói về thời bấy giờ có đức Thế Tôn ở phương Tây là Thích Ca Mâu Ni, ngài phóng ra ánh quang minh soi thấy thiên hạ, vạn quốc, bốn đại bộ châu, mù mịt dấu kín đã lâu mà không được lên xuống. Trời đất tối tăm, quỷ thần thảm sầu, người như ở trong nước lửa, có vẻ chìm đắm, thật đáng thương xót. Đức Thế Tôn phát lòng đại từ bi, bèn ở trên núi Linh Thứu, từ trong búi tóc nảy ra ngàn lá sen báu, phóng ra mười đạo hào quang trăm báu chiếu xuống, nhất nhất đều sáng suốt, đều hiện khắp cả mười Hằng Hà. Kính sơn đem chày gõ khắp ở hư không thế giới, tất cả đại chúng ngửa lên xem, vừa yêu vừa sợ, kêu gào thương xót, cầu Phật lân mẫn khai thị.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật nói: "Tốt lắm! Tốt lắm!" Bèn gọi các vị đệ tử hỏi rằng: "Các ngươi có thấy thiên hạ đại bộ châu không? Các vị đệ tử bạch Phật rằng: "Chúng con ngu tối, chẳng biết tứ đại bộ châu là gì?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật lại hỏi đại chúng rằng: "Các người ở đây có ai biết gì không?" Đại chúng đều nói: "Chúng con chưa biết".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật nói: "Thiên hạ tứ đại bộ châu là: Ta ở phương này là Tây Ngưu hóa châu, phương Đông là Đông thắng thần châu, phương Bắc là Bắc câu lư châu, duy có phương Nam - Nam thiệm bộ châu là trời đất mù mờ".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc ấy có vị Quan Âm Đại Sĩ bước ra chắp tay đảnh lễ Phật rằng: "Bạch đức Thế Tôn! Nam thiệm bộ châu, trải kiếp đã mãn, nay xin đức Thế Tôn cứu độ phổ tế, chẳng phải là dựng giáo khai hóa lại mở trời đất ấy ư?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật bảo: "Tốt lắm! Chính là như vậy. Nay muốn cử một người khai thiên tịch địa, làm vua đầu tiên cho muôn đời noi theo, việc ấy không phải nhỏ, ta sợ không tìm được người!"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bấy giờ, thấy trước có một vị Bồ tát chắp tay mỉm cười, Thế Tôn nhìn xem là Tỳ Đa Băng Bà Na, bèn bảo đến gần hỏi, thì vị ấy chắp tay quỳ xuống, cúi đầu trước Phật và bạch Phật rằng: "Phương Nam thiệm bộ châu nếu được khai thiên tịch địa thì tốt, chỉ sợ đệ tử gặp phải ác nghiệp, lấy gì giải thoát?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật nói: "Ta chỉ sai một mình ngươi đi khai thiên tịch địa thành công bất hủ muôn đời, có ác nghiệp gì, bất tất phải lo ngại. Vậy ngươi nên đi nhanh lên. Khi trời đất dã chia thì muôn vật mới thành. Sau khi có trời đất thì trời mới sinh ra nước, đất sinh ra cây, nước đất nuôi cây, và cây sinh ra lửa, đất sinh ra loài kim. Trời và đất hai khí ấy đã phân chia ra, lúc ấy Ta sẽ lập tức cứu ngươi về lại phương này".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tỳ Đa Băng Bà Na chịu mệnh lệnh Phật rồi, đảnh lễ từ biệt đức Thế Tôn, chào các vị Bồ tát, rồi cỡi một đám mây lành, rời Tây phương cõi Phật, thẳng đến Nam thiệm bộ châu xứ đại hồng quang, quát to lên một tiếng, rơi xuống giữa đất, hóa thành một vật tròn trịa, hình dáng như quả đào, lăn đi lăn lại ước chừng bốn mươi chín vòng, dần dần hóa thành người, mình dài ba trượng sáu thước, đầu sừng dữ tợn, lông mày thần mắt dữ dằn, răng nhọn miệng lớn, khắp mình đều có lông, vươn mình một cái, trời cao dần lên, đất bèn rơi xuống, mà trời đất còn có chỗ liền nhau, tay trái cầm cái mai, tay phải cầm cái búa, hoặc dùng búa chặt, hoặc dùng mai khai ra, đó là thần lực; lâu rồi trời đất bèn chia hai khí lên xuống, trong thì lên trời, đục thì xuống làm đất.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ đó hỗn mang mở ra, tức là có khí Thái Cực sinh ra Lưỡng nghi, Lưỡng nghi sinh ra Tứ tượng (Thái dương, thiếu dương, thái âm, thiếu âm), Tứ tượng biến hóa mà mọi loài sinh sản ra càng ngày càng nhiều.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tương truyền rằng vị vua đầu tiên đó trị đời là Tỳ Đa Băng Bà Na. Vị đó dựng một bia đá dài ba trượng rộng chín thước, tự khắc hai mươi chữ ở trên bia rằng: "Ta là Bàn Cổ thị, khai thiên tịch địa ky, Hội tý trùng giao cấu, y cứ như kim thì".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói về lúc bấy giờ, đức Thế Tôn tuệ nhãn nhìn xa, thấy Tỳ Đa Băng Bà Na công đã thành tựu, việc làm đã đầy đủ, ở đời đã lâu, bèn bảo Quan Âm Đại Sĩ rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Ngươi khá biến ra một vị thiên thần cầm bình nước Cam lồ trong mát này rót xuống, khiến cho Tỳ Đa Băng Bà Na được tắm gội, vì Ta sợ y vấy ô uế trần tục, khó lìa cõi đời để được thoát ra hình hài mà về phương Tây. Nhờ tắm được nước Cam lồ nên y được cứu độ mà chuyển về đây".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm Đài Sĩ lãnh pháp chỉ Phật, lập tức từ biệt đức Thế Tôn, cỡi đám mây lành đến chỗ đại hoang vận mình biến thành thiên thần cao bốn trượng, tay cầm bình nước Cam lồ, đứng ở trước bia. Bàn Cổ thị hỏi rằng: "Ngươi là người nào? Cớ gì cầm bình nước đến đây?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đại Sĩ nói: "Bình nước Cam lồ của ta trong mát, vì thân ngươi tiếp xúc phải ô uế, đức Như Lai khiến ta lại tắm cho ngươi!"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bàn Cổ thị vốn là đại thánh phương Tây, lòng bèn tỉnh ngộ, lập tức đảnh lễ quy y, cầu xin cứu độ. Đại Sĩ thấy lòng đã chuyển, bèn đem nước Cam lồ trong bình dội lên đầu Bàn Cổ thị, rồi đọc câu kệ rằng: "Chỉ nhân xưa kia chắp tay mỉm cười, đến nay đã hơn hai vạn năm rồi, công hoàn hành mãn về Tây, khỏi rơi cõi khổ trầm luân".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bàn Cổ thị nghe xong, quát lên một tiếng nằm lăn ra đất, một lúc sau hóa thành một quả đào như cũ. Đại Sĩ thấy thế bèn đến trước dùng một mảnh y gói vào trong, đi về Tây thiên, yết kiến đức Thế Tôn, đảnh lễ và nói: "Đệ tử đã cứu được Tỳ Đa Băng Bà Na về đây, trông nhờ đức Như Lai từ bi cứu độ!" Bèn đem quả đào dâng lên. Đức Thế Tôn thấy thế bèn thuyết bài kệ rằng: "Khi đi hình hài này, nay công việc hoàn mãn, trở về nơi Tây phương, hiện ra ngay thụ giới".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thế Tôn thuyết kệ xong, Tỳ Đa Băng Bà Na lập tức hiện nguyên hình, tới trước Phật cúi đầu đảnh lễ. Thế Tôn cả mừng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm Đại Sĩ lại bạch Phật rằng: "Dẫu đội ơn từ bi, trời đất nay đã phân, đệ tử không biết sau khi thiên khai địa tịch, thì sẽ như thế nào?" Thế Tôn nói: "Sau khi trời đất đã chia, khí trong nhẹ là khí dương lên trên, khí đục nặng là khí âm xuống dưới. Hai khi tương giao biến hóa mà sinh ra loài người, âm dương giao hòa với nhau, tự có thể sinh ra vạn vật<SUP><B>(5)</B></SUP>".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Xét hai câu truyện truyền thuyết trên đây, tương tợ giống nhau ta thấy rằng do đức Quán Thế Âm Bồ tát có nhiều nhân duyên rất lớn với thế giới Ta Bà, nên có thể trong thời kỳ khuyết sử vào thượng cổ thời đại (từ hơn 5.000 năm trước Thiên chúa), các vị tổ tiên của người Trung Hoa, khi biết được điều này đã đưa câu chuyện khai thiên lập địa vào liên hệ với đức Quán Thế Âm Bồ tát để tán thán công đức về sự lập thế giới tạo quốc độ Ta Bà này, và họ đã tin tưởng rằng đó là do đức Quán Thế Âm Bồ tát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1): <I>Theo cuốn Lan Sử Dị Hương của ông Hoàng Thường soạn, Cử nhân khoa Giáp Ngọ 1894 vào đời vua Thành Thái (1889-1907), ông Lương Vị Thủy giảo chánh - Nhà xuất bản Nhật Nam Thư quán (117, Hàng Gia - Hà Nội) in lần thứ nhất, năm 1927.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) Pháp sư Đại Điên: <I>Về sư Đại Điên (có nơi viết là Đại Điền) thì có nhiều sách và tài liệu nói đến (Việt Nam Phật giáo Sư lược của Thượng tọa Mật Thể, Nam Phương Phật Tích, soạn giả Huyền Mặc Đạo Nhơn, xuất bản năm 1949, nhà in Việt Hương, 86, Colonel Boudonnet. Lan Sử Dị Hương, đã dẫn nơi chú thích trên - Tạp chí Đuốc Tuệ, số 20, Bộ mới phát hành ngày 18-021966, nhà in Hợp Thịnh, số 16 đường Nguyễn An Ninh Saigon).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Pháp sư Đại Điên, tức là Lê Đại Điên, có pháp thuật huyền diệu đã làm nhiều sự lạ mà nhiều truyện tích đã nói đến. Đây chỉ nói đến việc Sư đã giúp cho Ỷ Lan Phu nhân mà thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nguyên trong truyện Tấm Cám, thì có Cám là chị, nhân ngày hội làng Gióng, vua Lý Thánh Tôn đi cầu tự, mới gặp Cám đứng dựa vào đám cỏ lau nhìn ra. Trước đó quân nhà vua có bắt được đôi hài, vua mới cho ướm thử thì thấy vừa vặn như in. Vua liền cho rước về cung, phong làm Ỷ Lan Phu nhân.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chính vị sư Đại Điên này đã giúp cho Cám từ lúc còn hàn vi, bị mẹ kế là Chu thị hành hạ. Sư Đại Điên mới cứu độ cho Cám (như trong truyền thuyết về sự tích Tấm Cám) và làm cho Cám được đi dự hội, xem đám rước vua và gặp may mắn ướm hài và được vua cho đưa về cung làm Phu nhân, sau lên Nguyên Phi rồi Hoàng Thái Phi. Lúc còn là Nguyên Phi, bị Thái Phi Dương Hậu ám hại cũng nhờ có sư Đại Điên cứu mới qua khỏi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về sau Hoàng tử Kiền Đức, con của Ỷ Lan Nguyên Phi lên ngôi vua, và Dương Hậu đã chết, nên Nguyên Phi được phong làm Thánh Linh Hoàng Thái Hậu.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(3) Về chuyện ông Bàn Cổ trong thần thoại Trung Hoa: <I>Gốc tích truyện này bắt nguồn từ một thần thoại của Man tộc. Man tộc tự nhận tiên tổ của mình là một con chó năm sắc gọi là Bàn Hồ. Đời Tam Quốc (213-280) sự tích này được Trung Hoa hóa và biến thành một thần thoại khai thiên lập địa. Bàn Cổ sinh trong thời kỳ hỗn độn, đất tròn và kín như quả trứng gà, rồi bỗng nhiên trời đất mở toang, khí dương trong làm trời, khí âm đục làm đất, rồi trời cao dần mỗi ngày thêm một trượng, đất dày mỗi ngày thêm một trượng, với sự cao dày của trời đất, Bàn Cổ cũng mỗi ngày lớn thêm một trượng. Thời gian 18 ngàn năm qua, trời cao thăm thẳm, đất dày vô cùng, thân của ông Bàn Cổ cũng rất dài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bàn Cổ của thời Tam Quốc không phải cứ nguyên như vậy, ông đã bị biến tướng bởi các đạo sĩ: ông xuất hiện trong lúc hỗn mang lấy hiệu là Nguyên Thỉ Thiên Vương, ngao du trong trời đất. Đến khi trời đất phân hai, Bàn Cổ đi đến cung điện Ngọc Kinh hít ít sương trời, uống nước suối ở đất. Sau một thời gian dài ở khe đá dưới núi tại nơi chứa máu, không rõ máu nào ở đâu mà có, và máu sinh ra một người đàn bà thật đẹp, gọi là Thái Nguyên Ngọc Nữ. Bàn Cổ gặp Ngọc Nữ, đôi bên cùng nhau phối ngẫu, rồi đưa Ngọc Nữ về cung điện của mình. Hai người sinh ra hai con: anh là Thiên Hoàng, em gái là Cửu Giang Huyền Nữ (trích trong tài liệu về Thần Thoại của Ban Học Tập Xã Hội IV, Phân Khoa Khoa Học Xã Hội của viện Đại học Vạn Hạnh (1070-1971) trích lại trong sách tu chỉnh Tam Ngũ Lịch Kỷ của Nguyễn Đổng Chi).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong Hán Việt Từ điển của Đào Duy Anh thì ông Bàn Cổ, theo cổ truyện của Trung Hoa là thủy tổ của loại người, cũng như A Đam trong thần thoại của Cơ Đốc.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(4) Ông Hàn Dũ: <I>Trong cuốn Thành Ngữ Điển Tích của Trịnh Văn Thanh ghi như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhân vua Hiến Tông nhà Đường (618)-907) rước ngọc Xá lợi của Phật về thờ trong cung ba ngày, rồi đưa ra thờ ở một ngôi chùa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Những vương tôn, công hầu, sĩ dân đua nhau đến lễ bái tấp nập. Hàn Dũ vốn không ưa, liền dâng biểu can ngăn nhà vua. Tiếp được tờ biểu của Hàn Dũ, vua Đường Hiến Tông (804-819) nổi cơn thịnh nộ, vì nhà vua sùng đạo Phật mà Dũ lại dám ngang nhiên chống đối bài xích, muốn đem Dũ ra xử chém, nhưng nhờ có quần thần can gián, vua mới đày Dũ ra làm thứ sử ở đất Triều Châu thuộc tỉnh Quảng Đông hiện nay. Trong Tầm Nguyên Từ điển của Bửu Kế (Nhà xuất bản Nam Cường, 1955), có nói như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hàn Dũ, đời Đường, người Nam Dương, tự là Thối Chi, đỗ tiến sĩ làm quan chức đến Lại Bộ thị lang, tánh cương trực, không sợ bọn quyền thần. Vua Đường Hiến Tông quá đam mê đạo Phật, ông dâng sớ can ngăn việc rước xương Phật. Vua không nghe, đày đi làm thứ sử Triều Châu. Ra ngoài làm quan, dân chúng được nhờ rất nhiều.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hàn Dũ tinh thông Chư Tử Bách Gia và văn chương rất đặc sắc.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(5): <I>Sách Hội Đồ Khai Tịch Diễn Nghĩa Toàn Truyện là một tác phẩm Trung Hoa viết bằng chữ Hán (do Hoa Châu Đinh Hữu Giảng diễn dịch một phần). Cuốn sách này do Ngũ Nhã Sơn Nhân và Tĩnh Túc cư sĩ Vương Hấu Tử soạn theo "Chu Du Ngưỡng Chỉ Tập.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì đã từ xưa nên không biết in ra từ thời nào và ở đâu? Chỉ thấy đề là nhà in Phiên Đồng Thái Việt Cổ Đính Tàng in ra bằng bản khắc đồng (Đồng bản tinh ấn).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cuốn này được kèm theo một tập "Ấu Học Cố Sự Quỳnh Lâm" nữa để dạy cho các thiếu nhi Trung Hoa về sự khai thiên lập địa, gồm 36 hình vẽ các vị thiên tử đứng đầu của các triều đại Trung Hoa, kể từ đời Bàn Cổ trở về sau. Cuốn trên gồm 80 hội, kể chuyện lập quốc của Trung Hoa (cũng giống như tài liệu sáng thế ký của Âu châu). Hội thứ nhất trong sách có đầu đề là "Bàn Cổ thị mở trời đất". Các họ đều được gọi là "thị", ta chớ nên nhầm với chữ "thị", thường được lót trong tên phụ nữ nước ta.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<CENTER><B>B. THỜI CỔ SỬ</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. <B>Chuẩn Đề Vương Bồ tát, hiện thân của Quán Thế Âm Bồ tát</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tích truyện xa xưa nhất nói về Chuẩn Đề Vương Bồ tát thị hiện ra để đón nhận các vị có công tu hành đưa về Tây phương Cực Lạc được kể lại trong truyện Phong Thần<SUP><B>(6)</B></SUP> của Trung Hoa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hồi đó là cuối đời nhà Thương (1783-1135 trước Thiên chúa), sắp qua đến đời nhà Chu (Tây Chu 1134-770 trước Thiên chúa) gặp hồi vua Trụ tức là Ân Thọ (1167-1135 trước Thiên chúa) tàn bạo, ác độc làm những điều vô luân, bất nghĩa, tổn đức nên vua Võ Vương tức là Tây Bá Hầu Cơ Phát (1134-1127 trước Thiên chúa) nhà Chu dấy quân tiến đánh chinh phục.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cơ Phát hội 800 nước chư hầu, có ông Khương Tử Nha (Lã Vọng) làm nguyên soái, hội họp quân chư hầu tại Mạnh Tân để tiến đánh Trụ Vương.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các sự thị hiện của đức Chuẩn Đề Vương rất nhiều lần, tuy nhiên những lần có ý nghĩa nhất sẽ được nêu ra dưới đây:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Đức Chuẩn Đề (trong truyện thường được gọi là Chuẩn Đề đại sư) đã thị hiện tại trận đánh của hai đạo quân nhà Thương và nhà Chu tại núi Kim Kê: tướng nhà Thương là Khổng Tuyên rất tài giỏi có nhiều pháp thuật cao siêu, làm cho quân của Tử Nha khiếp đảm<SUP><B>(7)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng khi đánh nhau với Nhiên Đăng đạo sư thì có Chuẩn Đề hiện ra thành một vị tiên dáng người cao ốm, mặt vàng, đầu chừa hai vá, có dắt hai cành bông, tay cầm nhành cây.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chuẩn Đề nói với Nhiên Đăng: "Tôi là Chuẩn Đề ở Tây phương, qua Đông Độ, Nam Độ, nhân đi qua đây thấy Khổng Tuyên là người phước đức, tu luyện lâu năm nên muốn rước về nước Cực Lạc".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhiên Đăng liền nói: "Nếu đạo huynh bắt Khổng Tuyên về Tây phương thì cuộc chinh Đông của tôi chẳng trễ".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chuẩn Đề bèn ra trận, đến chân núi Kim Kê kêu lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Mời Khổng Tuyên ra đây nói chuyện.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khổng Tuyên ra trận, và Chuẩn Đề đại sư đọc bài kệ sau đây khuyên bảo để giúp Khổng Tuyên trọn kiếp tu hành:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Tây phương vui vẻ gọi thiên đường
Tích đức, tu nhân mới được nương
Giới cấm năm điều nên sáng tỏ
Từ bi hai chữ giữ hiền lương.
Khá theo thanh tịnh nơi am tự
Chớ mến công danh giữa chiến trường
Đổi cánh rụng lông thành chánh quả
Múa men chi lắm chốn biên cương.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khổng Tuyên nghe bài kệ nổi giận vung đao chém Chuẩn Đề. Chuẩn Đề cầm nhánh cây gạt đao rơi xuống đất. Khổng Tuyên lấy roi vàng đánh tiếp cũng bị Chuân Đề dùng nhánh cây thất bửu gạt phăng đi. Khổng Tuyên còn hai tay không, tức giận vận hào quang chụp Chuẩn Đề. Chuẩn Đề đứng trơ trơ không tránh né, ai nấy đều thất kinh, vì hào quang trùm cả Chuẩn Đề. Mọi người tưởng Chuẩn Đề bị Khổng Tuyên bắt rồi, nào ngờ xem lại thấy Chuẩn Đề đứng giữa hào quang, hiện ra mười tám tay, cầm cung, tên, gươm, kích cờ, phướn, lọng, lục lạc, cành cây thất bửu v.v... Rồi lại nghe trong hào quang nổ lên một tiếng chẳng biết Chuẩn Đề làm phép thế nào mà áo mão Khổng Tuyên rã rời, rớt đầy lưng ngựa, còn Khổng Tuyên thì đứng sững như trời tròng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chuẩn Đề hiện lại hình thường, tới đứng trước trước mặt Khổng Tuyên nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Xin đạo hữu hãy hiện nguyên hình cùng nhau về Tây phương cho tiêu diêu cảnh lạc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tức thì thấy Khổng Tuyên hiện hình ra con công một mắt, mình mẩy đỏ tươi, cao lớn vô cùng. Đó là con Châu Khổng Tước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chuẩn Đề liền cỡi Châu Khổng Tước đi đến cửa dinh Châu chào mọi người ra về. Chuẩn Đề từ giã, vỗ lên đầu con công một cái, tức thì chim ấy xòe hai cánh bay lên, chiếu hào quang chói sáng cả một góc trời.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hiện nay, một đôi khi ta cũng thấy hình tướng đức Chuẩn Đề là Quan Âm Đại Sĩ hiện thân, hoặc là <B>Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn cỡi công xè cánh</B> là do nơi tích này.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) Trong trận Vạn Tiên, đức Chuẩn Đề sai đệ tử là Thủy Hỏa đồng tử cầm cần câu phép (tức là Lục căn thanh tịnh trúc) thòng xuống, chiếu ra muôn đạo hào quang chụp Ô Vân Tiên lại, Ô Vân Tiên không thoát ra được. Đức Chuẩn Đề mới kêu lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ô Vân Tiên chưa hiện nguyên hình còn đợi chừng nào?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ô Vân Tiên rùng mình một cái hiện ra con cá ngao vàng. Thủy Hỏa đồng tử thấy cá ngao mắc câu vùng vẫy mạnh lắm, bèn buông cần câu nhảy lại, đè đầu cá ngao gỡ lưỡi câu ra, rồi cỡi cá ngao bay về ao Bát đức.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cá ngao này là con cá đã tu lâu năm, rất to, khỏe nên có thể hiện ra hình một vị tiên râu dài, mặt đen là Ô Vân Tiên để đi đánh nhau, nhưng bị Chuẩn Đề Vương bắt lại cho Thủy Hỏa đồng tử đem về ao Bát đức (tức là ao "bát công đức thủy" tại Tây phương). Vì thế người ta mới thỉnh thoảng thấy có hình <B>đức Quan Thế Âm cỡi đầu cá ngao</B>, là do tích này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngoài ra trong truyện Phong Thần các vị có liên hệ đến Phật giáo và cũng ngang hàng với Chuẩn Đề Vương là các vị sau đây<SUP><B>(8)</B></SUP>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đức Văn Thù Sư Lợi, đức Phổ Hiền, đức Từ Hàng v.v... và sau cùng là một vị Phật trong Hiền kiếp thị hiện ra thành tiên.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(3) Đức Văn Thù mà trong truyện tích thường gọi là Văn Thù Quảng Pháp Thiên Tôn. Vị này đã dự trận Thái Cực và đấu với Cù Thủ Tiên.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chuẩn Đề nói với Văn Thù rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Văn Thù, đạo sĩ này có phần với người đây, hãy đi phá trận mà thâu về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chuẩn Đề chỉ lên đầu Văn Thù một cái hiện ra ba đạo hào quang. Đánh nhau được một lúc thì Văn Thù sai Huỳnh Cân lực sĩ trói Cù Thủ Tiên đem về bỏ dưới Lư bồng rồi thâu phép trở lại thuật chuyện với Nguyên Thỉ Thiên Tôn. Nguyên Thỉ sai Nam Cực tiên ông xuống Lư bồng bắt Cù Thủ Tiên phải hiện nguyên hình. Nam Cực tiên ông vâng lệnh xuống, liền niệm thần chú và hét lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sao chẳng hiện nguyên hình còn đợi chừng nào?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cù Thủ Tiên lắc đầu vài cái nhào xuống đất hiện nguyên hình là con sư tử lông xanh, vác mặt ngoắc đuôi, coi bộ rất dữ tợn. Nam Cực tiên ông lên Lư bồng thưa lại với Nguyên Thỉ. Nguyên Thỉ treo đính bài trên cổ sư tử, trên đính bài đề ba chữ "Cù Thủ Tiên". Rồi cho Văn Thu cỡi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cho nên bây giờ ta thường thấy <B>đức Văn Thù Sư Lợi cỡi sư tử lông xanh</B> là do nơi tích này.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(4) Còn trong trận Lưỡng Nghi, đức Phổ Hiền (trong truyện thường gọi là Phổ Hiền đạo nhân) đi phá trận đánh nhau với Linh Nha Tiên.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phổ Hiền hiện pháp thân, mặt đỏ tợ son, răng trắng như bạc, bông sen đỡ dưới chân, hào quang chiếu trên đầu, sáu tay đều giơ lên, ba đầu đều ngó tới, cầm cây Gián ma xử đánh với Linh Nha Tiên, rồi lấy dây trường hồng và phù thái cực sai Huỳnh Cân lực sĩ trói Linh Nha bỏ dưới Lư bồng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phổ Hiền bước vào nói với Lão Tử đưa Tam bảo ngọc Như ý sai Nam Cực tiên ông xuống đánh Linh Nha. Nam Cực tiên ông vâng lời lướt tới đánh vài hiệp, Linh Nha nhào xuống, hiện ra con Bạch tượng sáu ngà. Lão Tử cho Phổ Hiền cỡi, và cũng truyền đem đính bài treo vào cổ, đề ba chữ "Linh Nha Tiên".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì vậy mà hiện nay ta thấy tượng <B>đức Phổ Hiền cỡi con voi sáu ngà</B> là do nơi tích truyện này.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(5) Còn một vị nữa là Từ Hàng đạo nhân<SUP><B>(9)</B></SUP>. Nguyên Thỉ thấy Kim Hoa Tiên ở trong trận Tứ tượng xông ra có vẻ mạnh bạo lắm, liền bảo Từ Hàng đạo nhân vào phá trận và dặn nhỏ:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi lãnh ngọc Như Ý vào làm phép như ta dặn thì mới phá được. Từ Hàng đạo nhân vỗ đầu một cái hóa ra một vầng mây che thân, rồi hiện ra pháp thân, môi tợ thoa son, mặt như dồi phấn, hai con mắt chiếu hào quang như hai ngọn đèn, hai trái tai xâu chuyền bông sen như chuỗi, một tay cầm Bửu xử, một tay cầm Tam bửu Như ý.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kim Hoa Tiên liệu bề khó cự, muốn lui trước cho xong, Từ Hàng biết trước quăng Tam bửu Như ý lên cao, sai Huỳnh Cân lực sĩ bắt Kim Hoa Tiên dắt về Lư bồng. Bấy giờ Nam Cực tiên ông đã vâng lệnh Lão Tử đứng đợi dưới Lư bồng, thấy Kim Hoa Tiên từ trên cao nhào xuống liền vỗ đầu mấy cái và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chưa hiện nguyên hình còn đợi ngày nào nữa?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kim Hoa Tiên không dám cự, nhào một cái hiện nguyên hình. Coi là là con Hẫu lông vàng (con báo?). Lão Tử và Nguyên Thỉ về Lư Bồng truyền giao Kim Mao Hẫu cho Từ Hàng cỡi, và cũng đeo đính bài vào cổ nó, đề ba chữ "Kim Hoa Tiên".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vậy nên khi thấy có hình tượng <B>vị Bồ tát cỡi con Hẫu lông vàng là Từ Hàng đạo nhân</B>, do trong tích này truyền lại vậy (về bổn tích của Từ Hàng đạo nhân, xin xem chú thích số (9) ở phần chú thích).
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(6) Còn một vị tiên nữa mà sau này chúng ta mới biết là do vị Phật thứ nhất trong Hiền kiếp thị hiện ra. Đó là Cù Lưu Tôn (Câu Lưu Tôn Phật)<SUP><B>(10)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vị này muốn đến các trận để rước các người có tu hành phước đức về Tây phương, gặp lúc Qui Linh Thánh Mẫu định đuổi theo đánh. Bất ngờ gặp một vị đón đường Qui Linh Thánh Mẫu lại, và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đừng đuổi theo đạo hữu ta nữa! Ngươi đã tu hành đáng lẽ thủ phận mới phải, sao lại làm việc trái ngược. Nếu cãi lời ta, thì sau ăn năn không kịp. Thôi ngươi trở lại cho mau, đặng ta cùng Cù Lưu Tôn trở về Tây phương. Qui linh Thánh Mẫu còn tánh háo thắng, bèn quăng trái bầu Nhựt Nguyệt lên đánh. Nào ngờ người ấy là Tiếp Dẫn Đạo Nhơn<SUP><B>(11)</B></SUP>, có rất nhiều phép tắc thần thông. Tiếp Dẫn Đạo Nhơn đưa tay chỉ một cái, ngón tay hiện ra hào quang, trong hào quang hiện ra bông sen xanh, đỡ trái châu Nhựt Nguyệt rồi nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bông sen đỡ bửu bối, chúng sanh có biết không?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Qui Linh Thánh Mẫu ngỡ rằng Tiếp Dẫn Đạo Nhơn chỉ biết đỡ gạt chớ không có phép gì hại mình được, liền thâu trái châu về, rồi liệng nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tiếp Dẫn Đạo Nhơn than rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Xem thế thì dung tha không được. Chẳng phải quên lòng từ bi, nhưng chỉ vì số mạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi lấy xâu chuỗi quăng lên, xâu chuỗi đè nhằm lưng Qui Linh hiện nguyên hình con rùa rất lớn, nằm sải bốn giò và ngay cổ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cù Lưu Tôn xách gươm đến nói lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con rùa quạ này, hãy coi bửu kiếm của ta<SUP><B>(12)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tiếp Dẫn Đạo Nhơn nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đạo hữu đừng phạm sát sanh nữa. Nếu còn như vậy thì oan báo nối hoài làm sao thành chánh quả?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi quay lại hỏi lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đồng tử ta đâu?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vừa dứt tiếng đã thấy Bạch Liên đồng tử đến trước mặt. Tiếp Dẫn Đạo Nhơn liền nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta mắc bận đi với đạo hữu này đến rước người phước đức về Tây phương. Ngươi đem con rùa ấy về trước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Do tích truyện này mà ta thấy hiện nay, các ảnh tượng các vị Bồ tát ở Tây phương nhất là <B>tượng đức Quán Thế Âm Bồ tát thường được đắp, vẽ đứng trên lưng một con rùa lớn</B>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(6) Truyện Phong Thần: <I>Là một chuyện nửa thần thoại, nửa lịch sử, nói về thời đại nhà Chu (Tây Chu -1134-770 trước TL.) chinh phạt nhà Thương (1783-1125 trước TL.). Truyện này lại được viết thời kỳ về sau, thời nhà Minh (1368-1660) do nhà văn nổi tiếng thời đó là Hứa Trọng Lâm (dịch ra Việt văn do ông Mộng Bình Sơn- Hương Hoa xuất bản, năm 1970). Hứa Trọng Lâm sống trong thời kỳ nhà Minh, chịu ảnh hưởng của thuyết "Tam giáo đồng nguyên" Thích, Nho, Lão, mà trong ba tôn giáo này lại chia ra hai phe: phe quang minh chính trực thì gọi là Xiển giáo, hay là chính đạo, còn phe kia tung hoành loạn động thì gọi là Triệt giáo, hay là tà đạo. Thường thường phe Xiển giao là tiêu biểu cho Phật giáo, còn phe Triệt giáo là các giáo phái khác. Hai phe đều có những kẻ tu hành lên đến bậc tiên, thánh, nên có những cạnh tranh, mâu thuẫn nhau và dùng bùa, phép, chú thuật mà tranh chấp, chiến đấu với nhau. Đó là ảnh hưởng do sự tranh chấp của nhiều hệ phái trong các tôn giáo thường xảy ra thời kỳ đó.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(7): <I>Trong cuốn "Le Bouddhisme et cultes d'Annam" của Linh mục Lucien Escalère M.E.P. - nhà in T'ou-Sè-Wè, Zi-Ka-Wei Shanghai, 1937 - cũng có nói đến sự tích Chuẩn Đề Vương (trang 174-175) mà Linh mục đã nhìn thấy pho tượng khi Linh mục đi thăm chùa Bửu Tháp ở An Nhơn - tỉnh Bình Định và đã có nhờ vị sư trụ trì ở chùa ấy viết lại sự tích của Chuẩn Đề Vương để biết rõ, và Linh mục cũng đã nêu lên truyện Phong Thần (cf. Fong-Chen-Yen-I, Phong Thần truyện ký).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(8): <I>Do một sự liên hệ mật thiết giữa ngài Quán Thế Âm Bồ tát với các vị Bồ tát này mà ta cần hiểu thêm:
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">a. Hai vị Bồ tát Văn Thù và Phổ Hiền, theo truyền thuyết trong tích truyên Quan Âm Diệu Thiện (mà ta sẽ biết trong đoạn sau) là hai người chị của Quan Âm Diệu Thiện. Văn Thù trước kia là Diệu Âm, và Phổ Hiền là Diệu Thanh, cả hai là chị của Diệu Thiện.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">b. Còn Bồ tát Di Lặc là vị Phật tương lai, và Cù Lưu Tôn là vị Phật thứ nhất trong một ngàn vị Phật của Hiền Kiếp này (Câu Lưu Tôn là vị Phật thứ nhất, Phật Thích Ca Mâu Ni là vị Phật thứ tư).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(9) Từ Hàng Đạo Nhơn: <I>Trong cuốn A Di Đà Sớ Sao (quyển I) do Tổ Chu Hoàng thuật, ở đất Cổ Hàng (Tỉnh lỵ của Chiết Giang, Trung Hoa), chùa Vân Thê (trang 318) có đoạn nói: Di Lặc, Tàu dịch là Từ Thị (là họ), A Dật Đa (là tên). Nói cho đủ thì phải nói là: Từ Vô Năng Thắng. Do vì khi ngài ở trong thai mẹ, đã có từ tâm, cho nên lấy đó mà đặt họ Từ. Lại về đời quá khứ, ngài gặp đức Đại Từ Như Lai, ngài nguyện đồng hiệu đó, liền được phép Từ Tâm Tam Muội.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại một đoạn sau (trang 324) nói rằng: Ngài Di Lặc là Từ Hạnh mà chữ Hạnh có thể đọc là Hàng, nên người dịch có thể viết là Hàng. Do vậy mà có danh từ Từ Hàng Đạo Nhơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vậy có thể đây chính là đức Di Lặc lúc đang tu mới thành tiên, do quan niệm của tác giả truyện Phong Thần.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về việc tu hành, nhiều người tìm hiểu về tôn giáo, cũng có một quan niệm là: trước hết là phàm phu, lên Hiền, rồi đến Thần, rồi đến Tiên, Thiên (trời), rồi mới đến Thánh, Bồ tát, Phật. Cho nên trong thời kỳ cổ sử mà tác giả Phong Thần kể lại, ta thấy dẫn ra tên các vị Bồ tát, Phật lúc bấy giờ vẫn còn được gọi là các vị tiên.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(10) Cù Lưu Tôn: <I>Có thể đọc là Câu Lưu Tôn (Phật). Mà trong truyện Phong Thần cũng có nói "Cù lưu Tôn thành Phật tại Tây phương (quyển sáu, trang 950). Vậy nên trong Hiền kiếp có một ngàn vị Phật ra đời thì đức Phật thứ nhất là Câu Lưu Tôn, đức Phật thứ nhì là Câu Na Hàm Mâu Ni, đức Phật thứ ba là Ca Diếp, đức Phật thứ tư là Thích Ca Mâu Ni.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức Phật thứ năm sẽ là ngài Di Lặc. Lần lượt như vậy, cho đến đức Phật sẽ ra đời sau rốt, thứ một ngàn là ngài Lâu Chí (trong Phật học Từ điển của ông Đoàn Trung Còn).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(11) Đức Tiếp Dẫn Đạo Nhơn: <I>Là đức Phật A Di Đà, Tiếp dẫn Đạo sư ở Tây phương Cực lạc thế giới.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(12) Qui Linh Thánh Mẫu: <I>Là con rùa quạ từ đời Phục Hy, do Thương Hiệt làm chủ, vì tu lâu năm nên mới thành người (trong truyện Phong Thần, quyển 5, trang 822).</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<CENTER>Chương II
<B>C. THỜI LỊCH SỬ</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. <B>DẪN NHẬP</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trước đây chúng ta đã có nói đến các sự ứng hiện của Quán Thế Âm Bồ tát thời tiền sử và thời cổ sử rồi, nay qua đến thời kỳ lịch sử.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì các truyện tích này có liên quan đến các nước Á Châu nhiều hơn, nhất là Ấn Độ và Trung Hoa, nên ta phải căn cứ và các tập tục, thói quen và nề nếp tư duy của những xã hội Ấn Độ và Trung Hoa mà xét suy nhận định:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) <B>Ghi chép về thời gian và không gian, tác giả v.v...</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhà sử học nổi danh thế giới Will Durant (William James Durant) đã từng viết nhiều pho sách lớn lao về lịch sử, có nói trong cuốn <I>"Lịch sử Văn Minh Ấn Độ"</I> rằng: "Ấn Độ ít chú trọng đến cá nhân, người viết không cần ký tên mà người đọc cũng chẳng muốn biết tác giả là ai, nên ngày nay bộ đó (Bộ Bhagavad-Gita)<SUP><B>(1)</B></SUP> không mang tên tác giả, cũng không ghi sáng tác năm nào, có thể là 400 trước công nguyên, mà cũng có thể là 200 sau công nguyên" (trang 381).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi ở một đoạn sau, ông lại viết: "Sử ký không vượt lên khỏi trình độ ký sự hoặc tiểu thuyết mạo hiểm. Phải chăng đó là hậu quả của một triết học coi thời gian và không gian chỉ là ảo tưởng? Hay là hậu quả của các tinh thần trọng sự truyền miệng hơn là sách vở.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các nhà chép ký sự của Ấn Độ rất cẩu thả về việc ghi năm tháng, nơi chốn, ngay cả khi họ chép đời các danh nhân, vì vậy mà các nhà bác học Ấn Độ đặt Kalidara<SUP><B>(2)</B></SUP> vào những thời đại cách nhau tới cả ngàn năm" (trang 409).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chúng ta cũng sẽ thấy rằng không riêng gì ở Ấn Độ mà cả ở Trung Hoa và Việt Nam v.v... người ta cũng ít khi để ý về thời gian và không gian (nhất là các câu chuyện về thời cổ sử) cho nên ta cũng không lấy làm lạ gì khi đọc nhiều chuyện tích thường có trong truyền thuyết mà về niên đại, nơi chốn, xứ sở và tác giả thì rất mơ hồ, tuy nhiên không phải là điều huyền hoặc<SUP><B>(3)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) <B>Các điều ứng mộng</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngoài ra vì vấn đề thị hiện hay ứng hiện là thuộc về điều huyền bí thiêng liêng, nên muốn cho người phàm nhận biết được thì các Bồ tát thường hay ứng mộng, và những điều ứng mộng trong các chiêm bao thường khi rõ ràng, mà cũng có khi có tính cách ẩn dụ, tuy nhiên ăn khớp lạ lùng với thực tại khi đối chiếu lại về sau.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">a. Chẳng hạn như khi đức Ca Diếp (vị Tổ thứ nhất bên Ấn Độ)<SUP><B>(4)</B></SUP> đến từ giã vua A Xà Thế để vào núi Kê Túc nhập định, mà không gặp được vua vì chưa đúng buổi lâm triều. Ngài có dặn lại với quan thủ môn tâu lại với vua.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng khi chưa được tâu lại thì vua A Xà Thế ban đêm nằm mơi thấy một cây đòn dông trên nóc Long điện thoát nhiên rơi xuống gãy nát. Vua giật mình tỉnh giấc, mới biết chiêm bao.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đó quan thủ môn vào tâu báo rằng: "Xin tâu Bệ hạ! Ngày hôm qua có đức Ca Diếp tôn giả đến bảo hạ thần chuyển tấu cho Bệ hạ hay rằng ngài vào Kê Túc Sơn mà nhập định.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">b. Lại một lần nữa, khi ông A Nan (vị Tổ thứ hai bên Ấn Độ) đến thời kỳ nhập diệt, đi tới đền vua để cáo biệt. Ngài đi đến Hoàng môn nói với người giữ cửa rằng: "Tôi là A Nan, gần nhập Niết Bàn, nên tới đây trình để vua biết".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan thủ môn bạch rằng: "Bây giờ lệnh Thánh thượng còn đang yên giấc, nên chưa dám khải tấu".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài liền đáp rằng: "Thôi để chờ khi nào lịnh Thánh Thượng thức dậy thì ngươi làm ơn chuyển tấu dùm".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi liền từ biệt nước Ma Kiệt Đà, ngồi thuyền ra sông Hằng mà qua xứ Phệ Xá Lỵ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi ấy, vua A Xà Thế ngủ trên long sàn, mơ màng giấc điệp, chiêm bao thấy có một bảo cái, trên treo đủ bảy món báu, xem rất trang nghiêm rực rỡ, còn ở dưới thì có hơn ngàn muôn người đều đứng xung quanh chiêm ngưỡng. Thình lình, có một trận mưa ào ào dữ dội, gió thổi gãy cán bảo cái, làm cho các món trân bảo anh lạc đều rơi rớt xuống đất cả. Vua thấy vậy thì trong lòng rất kinh sợ, liền giật mình thức dậy, mới hay là giấc chiêm bao. Vua còn đang ngồi suy nghĩ điềm ấy hung kiết thế nào, bỗng đâu có quan thủ môn vào tâu việc ngài A Nan đến cáo biệt (Tạp chí Từ Bi Âm - Tuyển tập).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngay như trong các kinh Phật dạy, ngài cũng đã nói về các giấc chiêm bao ứng nghiệm như thế.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">c. Như trong kinh <I>Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt Tội Trang Nghiêm Thành Phật</I>, đức Phật đã dạy như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>"... Do sự chí tâm, người đó sám hối chấn động mười phương. Ta khi bấy giờ cùng với vô lượng vô biên hằng hà sa Phật, vô lượng vô biên hằng ha sa Bồ tát, tùy theo âm thanh, vào trong thất nội, đồng tác chứng minh như thế trong bảy ngày, quyết định được diệt tội. Sở dĩ biết ấy: kẻ phàm phu chưa hợp chân đế, phải lấy tướng trong mộng, nếu mộng thấy một tướng, tức là diệt được một tội, thấy năm mộng tức là diệt được tội ngũ nghịch, người đó đêm mộng thấy mình qua sông lớn, đi trên một cây cầu lớn, nên biết người đó quyết định được độ thoát, người đó hoặc khi mộng thấy mình cùng người tắm gội, trời mưa xuống mình, nên biết người đó quyết định được thanh tịnh, người đó hoặc khi mộng thấy mình vào trong đại hội với các vị Sa môn, ngồi theo thứ tự, nên biết người đó là chơn Phật tử, người đó hoặc khi mộng, thấy mình vào trong tháp tự, nhìn thấy tượng Phật và Bồ tát to lớn, nên biết người đó được quả chánh môn, người đó hoặc khi mộng thấy mình được quả rồi tự ăn, nên biết người đó lại được quả báo</I><SUP><B>(5)</B></SUP>". (Kinh dẫn trên, trang 147, 148, 149).
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">d. Trong kinh <I>Phạm Võng Bồ Tát Giới</I>, đức Thế Tôn cũng có dạy rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>"Nếu có phàm phu trong mười giới trọng<SUP><B>(6)</B></SUP>, phải bảo người ấy sám hối đối trước tượng Phật và Bồ tát. Ngày đêm sáu thời, tụng giới Bồ tát tha thiết đảnh lễ tam thế chư Phật, cho được thấy hảo tướng. Sám hối như thế trong bảy ngày, mười bốn ngày, nhẫn đến trọn năm, mãi đến chừng nào thấy được hảo tướng. Đây là hảo tướng: thấy Phật đến xoa đầu, thấy quang minh, thấy hoa báu v.v..."</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như vậy là những điều ứng hiện trong chiêm bao cũng là những sự linh ứng hiển nhiên nếu có các vị Phật, các vị Bồ tát hóa hiện cho các chúng sanh phàm phu thấy biết rõ để cảm hóa, dạy dỗ, dìu dắt và cứu độ họ v.v...
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(3) <B>Những điềm lạ</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong những truyện tích, khi có những sự kiện quan trọng sắp sửa xảy ra, ta thường thấy nói đến các điềm lạ xuất hiện. Các sự kiện quan trọng đó là: sự giáng sinh hay diệt độ của các vị Thánh, Bồ tát, Phật, hoặc các sự thị hiện của các vị Tổ sư, Bồ tát dưới hình thức tái sanh, các cuộc thánh lễ vui mừng hay cuộc lễ trà tỳ châu thân của các vị thánh sư v.v...
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">a. Như trong sự tích của vị Tổ thứ ba bên Ấn Độ là ngài Thương Na Hòa Tu, có những điềm lạ như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thuở ấy bên xứ Tây Vức (Ấn Độ) có một thứ cỏ chín tượng (?) rất tốt kêu là "thương nặc ca", hễ khi nào mọc lên thì có một vị thánh nhơn giáng thế. Nên trong khi ngài Thương Na Hòa Tu xuất thai, cỏ ấy cũng sanh ra một lượt.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nguyên ngài kiếp trước làm một chủ buôn, nhơn gặp lúc Phật Thích Chi đau nặng, người buôn ấy thấy cảm xúc trong lương tâm, bèn hiệp với mấy người bạn lo việc thuốc thang điều trị, và hết lòng cung cấp các thức ăn uống.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi Phật Thích Chi lành bệnh, thì trong mình đã đắp sẵn cái áo thương na y. Người buôn ấy lại dâng cho ngài một cáo áo rất tốt nữa và thưa rằng: "Bạch đức Đại thánh, xin từ bi hoan hỷ mà thọ cái y của tôi đây".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật Thích Chi bèn nói rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi phải biết rằng, ta dùng cái thương na y này mà xuất gia thành đạo, rồi sau ta cũng đắp cái y này mà nhập Niết Bàn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi Phật Thích Chi nhập diệt, người buôn không xiết nỗi thương xót buồn rầu, bèn xuất của tạo tháp cho ngài mà cúng dường chiêm ngưỡng, rồi đứng trước tháp mà thề rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tôi nguyện đời sau cho tôi được gặp một vị thánh sư nào hơn ngài nữa, đặng khiến cho tôi có đủ oai nghi phép tắc và đồ y phục cũng như ngài vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì cái nguyện lực ấy, nên từ khi ở trong thai mẹ đến lúc sanh ra, rồi tu thành đạo và sau nhập Niết bàn, ngài không rời cái áo thương na y ra khỏi thân thể. Nhơn đó người ta mới gọi tên ngài là Thương Na Hòa Tu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi Phật Thích Ca còn tại thế đi truyền giáo đến xứ Ma Đột La, xem thấy một khu rừng xanh, cây là sum sê tốt đẹp, bèn kêu ông A Nan mà nói rằng: "Khu rừng này gọi là Ưu Lưu Đồ, sau khi ta nhập diệt một trăm năm, thì có một người Tỳ khưu tên là Thương Na Hòa Tu thuyết pháp độ sanh ở nơi đó".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến sau quả nhiên ngài Thương Na Hòa Tu sanh ra tại xứ này, xuất gia chứng đạo, rồi đắc pháp với đức A Nan (theo Tạp Chí Từ Bi Âm - Tuyển tập).
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">b. Lại trong sự tích của ngài Bà Tu Mật (vị Tổ thứ bảy bên Ấn Độ) lúc gặp được ngài Di Dá Ca (vị Tổ thứ sau) và ứng đối với ngài thì trước lúc đó, có xuất hiện một điềm lạ sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nguyên sau khi đức Di Dá Ca đắc pháp với đức Đề Dà Ca (vị Tổ thứ năm) thì bắt đầu đi vân du trong bốn phương giáo hóa chúng sanh; ngài vừa qua phía Bắc nước Thiên Trúc, chợt ngó lên hư không, thấy có một cụm mây lành sắc vàng rực rỡ, ánh sáng tỏa ra ngay trên hoàng thành. Ngài bèn chép miệng mà tự nói rằng: "Cụm mây tường vân ấy, chính là vượng khí của kẻ đạo nhơn phát lộ ra, nếu theo tư tưởng của ta thì thế nào trong thành này chắc cũng có người Đại sĩ đảm đương lấy chánh pháp mà kế tự cho ta ngày sau".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đoạn ngài vào thành đi dọc theo một dãy phố nọ, xảy thấy có người tay cầm bầu rượu đón ngài mà hỏi rằng: "Chẳng hay đại sư ở phương nào mới lại và tính sẽ qua xứ nào?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài đáp rằng: "Ta do nơi tự tâm mà đến đây, và ta định qua chỗ vô trụ".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người ấy hỏi tiếp rằng: "Vậy Sư có biết vật chi tôi đang cầm trong tay không?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài đáp rằng: "Vật ấy chính là vật xúc nhiễm, cũng vì nó mà làm cho mọi người trót phải phủ phàng với tấm lòng bổn lai thanh tịnh".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người ấy hỏi nữa rằng: "Sư có biết ta chăng?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài đáp rằng: "Đã kêu là ta, tức là chẳng biết; đã gọi là biết, tức chẳng phải ta".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài lại nói tiếp rằng: "Này! Ngươi thử xưng tên họ cho ta nghe, rồi ta sẽ bày tỏ chỗ bản nhơn của ngươi cho ngươi biết".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người ấy liền đọc bài kệ rằng:
<p style="padding-left: 30px;"><I>"Tôi từ vô lượng kiếp
Đến khi sanh ra đây
Họ là Phả La Đọa
Tên thiệt Bà Tu Mật".</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức Di Dá Ca nghe bài kệ của người ấy kể rõ tên họ và lai lịch rồi, thì ngài liền nói rằng: "Này Bà Tu Mật! Thầy ta là đức Đề Dà Cá, có thuật chuyện cho ta nghe rõ ràng như vầy: "Xưa kia đức Như Lai Thế Tôn còn tại thế, khi ngài đi hóa độ chúng sanh, vừa sang đến phía Bắc nước Ấn Độ này, có kêu đức A Nan mà nói rằng: Từ ta diệt độ về sau đủ ba trăm năm, thì có vị thánh nhơn họ là Phả La Đọa, tên là Bà Tu Mật, giáng sanh tại xứ này, sẽ nối truyền chánh pháp mà làm vị Tổ thứ bảy". Thế là đức Như Lai đã thọ ký cho ngươi rồi, vậy thì ngày nay ngươi nên phát nguyện xuất gia mới hợp với lời di chúc của Phật!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bà Tu Mật bèn sực nhớ lại chuyện kiếp trước, liền để bầu rượu xuống đất và đảnh lễ ngài, rồi vòng tay đứng nép một bên mà thưa rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bạch Tôn sư: tôi nhớ hồi đời quá khứ, tôi làm người đàn na có cúng dường cho đức Như Lai một cái bảo tọa. Thuở ấy, ngài thọ ký cho tôi rằng: trải qua đến Hiền kiếp, thì tôi sẽ truyền bá chánh giáo. Như thế thì quả đúng y như lời của Tôn sư dạy bảo đó, chẳng có chút nào sai, vậy xin nhờ Tôn sư từ bị độ thoát cho tôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức Di Dá Ca bèn thế phát cho Bà Tu Mật và truyền đủ giới tướng, rồi ngài lại phó chúc rằng: "Vả chăng trong thời kỳ này chính là công hạnh của ta đã gần viên mãn; vậy thì chánh pháp nhãn tạng này, ta sẽ truyền lại cho nhà ngươi phải ân cần hộ niệm, chớ để cho tiêu điều đoạn diệt" (Trích trong Tạp chí Từ Bi Âm - Tuyển tập).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sở dĩ phải bàn rộng ra trong các điểm (1), (2), (3) trên đây là để trình bày trước các dẫn chứng cho những điều sẽ gặp sau này trong các truyện tích như: các sự thiếu sót về thời gian, không gian, tác giả v.v... và các dẫn chứng cho những điều ứng mộng, các điềm lạ mà ta sẽ thấy rất nhiều trong các tích truyện về Quán Thế Âm Bồ tát ứng hóa xuất hiện v.v...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Những thí dụ giải bày trên đây sẽ làm cho những độc giả hơi xa lạ với các điều này khỏi phải ngỡ ngàng, lạc lõng khi đọc đến các câu chuyện về sau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Bhagavad-Gita: <I>Là một thiên trường thi triết lý vĩ đại của nhân loại (Bạc già phạm khúc), nó là bộ Tân Ước của Ấn Độ, được trọng ngang với kinh Veda. Guillaume de Humboldt bảo nó là "thiên trường thi đẹp nhất, có lẽ duy nhất trong lịch sử các nền văn học, tác phẩm thâm thúy nhất, cao thượng nhất mà nhân loại có thể sáng tác được". (Lịch sử Văn Minh Ấn Độ, do tác giả Will Durant soạn, Nguyễn Hiến Lê dịch, Lá Bối xuất bản, in lần thứ nhất 1971 - Saigon).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) Kalidasa: <I>Là nhà viết kịch nổi tiếng của Ấn Độ. Ông ta đã viết các vở kịch như Malakiva, Shakuntala v.v.... mà vở kịch sau này được nổi danh nhất của Ấn Độ từ khi William Jones dịch rồi Goethe khen vở kịch này.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(3): <I>Về sau này khi ta xem đến các nguồn tác phẩm khác nhau nói về đức Quan Âm Diệu Thiện, ta sẽ thấy những niên đại, nơi chốn và danh từ khác nhau tuy rằng cốt truyện vẫn tương tự:
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">a. Một nguồn tài liệu từ cuốn Nam Phương Phật Tích của Huyền Mặc đạo nhân (nhà in Việt hương, 86, Colonel Boudonnet, Saigon 1949).
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">b. Một nguồn tài liệu về Quan Âm Nam Hải từ cuốn "Sơ lược Sử Quán Thế Âm Bồ tát" của Thích Thiện Duyên và Minh Hạnh (do Minh Tâm sưu tầm 1968).
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">c. Một nguồn tài liệu do các tăng sinh viên viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm sưu tầm theo tài liệu của sách khảo cứu Vũ Điền Trương Cam Vinh (không ghi ngày tháng và tác giả).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(4): <I>Sau khi Phật Thích Ca nhập diệt thì giáo pháp truyền lại cho các vị Tổ sư - 28 vị Tổ tại Ấn Độ, mà vị thứ nhất là đức Ma Ha Ca Diếp, và vị thứ 28 là đức Bồ Đề Đạt Ma, lại là vị Tổ thứ nhất bên Trung Hoa, và sau Tổ Bồ Đề Đạt Ma còn có năm vị nữa, đến đời Lục Tổ Huệ Năng là Tổ thứ sáu, và sau ngài thì không còn truyền y bát nữa. Tất cả là 33 vị Tổ sư của Phật giáo.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(5) Kinh Đại Thông Phương Quảng Sám Hối Diệt tội Trang Nghiêm Thành Phật: <I>(Trích trong bộ Đại Tạng số 85), dịch giả Thích Trung Quán (chùa Bàn Long Thủ đô Vientane- AiLao, mùa hạ năm Đinh Mùi - 1967).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(6) Bồ tát giới có mười giới trọng và bốn mươi tám giới khinh: <I>Phạm vào mười giới trọng thì phải sám hối cho đến khi thấy được hảo tướng thì mới được thọ giới Bồ tát trở lại (tức là được dự các cuộc Bố tát hàng tháng). Ngoài ra khi mới bắt đầu thọ giới thì đối với những người tự thọ giới mà không có các giới sư cũng phải sám hối như vậy cho đến khi thấy được hảo tướng. Còn đã có giới sư thì khỏi điều kiện này.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">2. <B>CÁC VỊ TĂNG SĨ TRUNG HOA SANG NGHIÊN CỨU PHẬT GIÁO VÀ THỈNH KINH TẠI ẤN ĐỘ</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đạo Phật truyền bá sang Á Châu qua hai ngã đường, một ngã đường bộ đi qua Trung Á, rồi sang Tây Tạng, Tân Cương, Trung Hoa, Cao Ly và các nước miền Nam Á Châu; một ngã đường biển ra Ấn Độ Dương rồi đi về phía Đông Nam Á, tới bờ biển Mã Lai, Phù Nam (Fu Nan, hiện nay là Campuchia)<SUP><B>(7)</B></SUP> và Giao Chỉ (Việt Nam), rồi lại lên Trung Hoa, cho nên Trung Hoa là nơi giáp mối của hai ngã đường truyền bá ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai ngã đường này đều có sự di chuyển theo hai chiều của các tăng sĩ: các tăng sĩ Ấn Độ qua Viễn Đông, hoặc ngược lại các tăng sĩ Á Châu (lúc khởi đầu phần nhiều là Trung Hoa) sang Ấn Độ chiêm bái, nghiên cứu và thỉnh kinh. Sự truyền bá ấy bắt đầu rất sớm trong lịch sử, vào khoảng đầu thế kỷ thứ nhất của kỷ nguyên Tây lịch (Thế kỷ thứ nhất và thế kỷ thứ hai)<SUP><B>(8)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Giáo sư Nguyễn Lang trong cuốn <I>Việt Nam Phật Giáo Sử Luận</I> đã viết:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"... Nhưng trước khi các vị tăng sĩ Ấn Độ tới Việt Nam, các thương gia Ấn Độ cũng đã tới Việt Nam rồi và cũng đã mang theo sinh hoạt Phật giáo tới xứ ta.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hồi bấy giờ (đầu kỷ nguyên) Ấn Độ đã có liên hệ thượng mãi trực tiếp với Trung Hoa và gián tiếp với các vùng Địa Trung hải, đế quốc La Mã tiêu thụ rất nhiều vàng, lụa, hương liệu, trầm, quế, tiêu, ngà voi, châu ngọc... Để có đủ hàng cung cấp cho thị trường ấy, các thương gia Ấn Độ đã dong thuyền đi mãi về Viễn Đông. Những thương thuyền này theo gió mùa Tây Nam đi về Đông Nam Á, tới bờ biển Mã Lai, Phù Nam, Giao Chỉ, thương gia Ấn Độ phải ở lại đây cho đến khi năm tới, chờ gió mùa Đông Bắc để trở về Ấn Độ".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Và trong một đoạn sau, ông đã viết: "Trong các chuyến đi xa hàng năm với nhiều tháng lênh đênh trên biển cả như thế, các thương gia Ấn Độ cũng thờ cúng và cầu nguyện các đức Phật và các vị Bồ tát hộ trì cho trời yên biển lặng và mọi sự an lành. Các thương thuyền này thường thờ đức Quán Thế Âm (Avalokitesvara) và đức Nhiên Đăng (Dispankara)<SUP><B>(9)</B></SUP> được nổi tiếng là những vị che chở cho thủy thủ được an lành ngoài biển khơi". (VNPGSL, trang 15-16)
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ta suy ra rằng đức Quán Thế Âm Bồ tát đã được sùng kính lễ bái do đại nguyện của ngài đã thị hiện cứu độ chúng sanh rất nhiều nên mới được nổi tiếng như vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thật ra, những chuyến đi từ Trung Hoa sang Ấn Độ được diễn tiến vào nhiều thời kỳ và do nhiều vị tăng sĩ thực hiện.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo các tài liệu của hai vị học giả Phật học Paul Lévy và K. A. Nilakanta Sastri M. A. <I>"Các nhà chiêm bái Trung Hoa"</I><SUP><B>(10)</B></SUP> thì có rất nhiều nhà chiêm bái Trung Hoa sáng Ấn Độ, kể cả tăng lẫn tục, nhưng chỉ có ba vị là nổi tiếng nhất: đó là nhà sư <B>Pháp Hiển</B> (chuyến đi vào cuối thế kỷ thứ tư 399-414), nhà sư <B>Huyền Trang</B> (chuyến đi vào thế kỷ thứ bảy 629-695), và nhà sư <B>Nghĩa Tịnh</B> (chuyến đi từ năm 671-695).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong ba vị tăng sĩ đó thì nhà sư Huyền Trang là được người đời sau nói đến nhiều hơn cả, vì ngài đã để lại cho chúng ta một gương kiên nhẫn vô song, một tư cách cao quý thật đáng kính phục, và một công trình vĩ đại về dịch thuật kinh điển và hoằng dương Phật pháp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong cuốn <I>"Huyền Trang, Nhà Chiêm Bái Và Học Giả"</I> (có dịch ra Anh ngữ do Thích nữ Trí Hải), Thượng tọa Thích Minh Châu đã nói về vị Pháp sư này như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"... Thực vậy, đời ngài và sự nghiệp của ngài không bao giờ không có ảnh hưởng mạnh mẽ đến những ai có dịp biết đến chúng. Tác phong sáng ngời và đức tánh siêu việt của ngài, sự nhiệt thành hăng hái của ngài để tìm hiểu và truyền bá chánh pháp bao giờ cũng khiến chúng ta kính phục, và khuyên khích chúng ta theo gương ngài để phụng sự chánh pháp"<SUP><B>(11)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về mặt khác, sự tích chuyến đi sang Tây Vức thỉnh kinh của thầy Huyền Trang cũng được khai thác nhiều nhất về mặt truyền thuyết và huyền thoại, trong đó có nhiều lần nhắc đến sự cứu độ diệu kỳ của đức Quán Thế Âm Bồ tát đối với vị thánh tăng này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tuy nhiên muốn cho đầy đủ và sắp xếp có mạch lạc, ta có thể nói trước chuyến đi của ngài Pháp Hiển, và cũng vì chuyện của ngài Huyền Trang dài hơn và có nhiều mặt ly kỳ hơn, nên ta cũng nói trước đến chuyến đi của nhà sư Nghĩa Tịnh (mặc dầu ngài Nghĩa Tịnh đi Ấn Độ sau ngài Huyền Trang) vì hai câu chuyện đi chiêm bái và nghiên cứu Phật giáo của hai vi tăng sĩ này tương đối dễ kể lại và các tình tiết về những linh nghiệm được Quán Thế Âm Bồ tát cứu độ cũng được truyền lại ít hơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ta dành phần lớn câu chuyện thỉnh kinh cho sự tích Tây Du Ký của ngài Huyền Trang về sau.
<CENTER><B>NGÀI PHÁP HIỂN</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài Pháp Hiển - theo ngài Nghĩa Tịnh là người đầu tiên mở một con đường phiêu lưu hoang dã để đi qua Ấn Độ. Một vị học giả Tây phương - ông Chavannes - đã tìm hiểu tại sao ngài Nghĩa Tịnh lại nói là con đường phiêu lưu hoang dã? Và Chavannes đã giải thích rằng vì lộ trình mà ngài Pháp Hiển đã tự ý vạch ra để đi là một con đường tùy thuộc vào hoàn cảnh và thường là có tính cách phiêu lưu, khác với con đường mà sau hai thế kỷ, ngài Huyền Trang đã theo - như ngài Nghĩa Tịnh đã nói - là con đường đúng phù hợp với chuyến đi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tuy nhiên, đó là một điều có phần vượt quá sự thật, vì nếu ta theo dõi lộ trình xa xôi diệu vợi mà ngài Huyền Trang đã đi lúc khởi sự phát xuất từ Trung Hoa, và những lúc đi lạc đường trong chuyến về khi muốn rút ngắn đường đi, thì ta thấy sự kiên nhẫn và công phu tìm tòi của ngài Huyền Trang cũng rất là khó nhọc vất vả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong cuốn <I>"Phật Quốc Ký"</I> (Fo-Kouo-Ki) mà ngài Pháp Hiển đã để lại sau chuyến đi du hành của ngài tại Trung Á và Ấn Độ, vị pháp sư này kể lại tình hình về Phật giáo đương thời và thường chỉ nhấn mạnh nhiều về Luật tạng, vì giới luật hồi đó thường ít chú trọng giữ gìn tại Trung Hoa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cuộc du hành tại Ấn Độ của ngài Pháp Hiển trải qua mười lăm năm, từ năm 399 đến năm 414. Chủ ý của ngài là sưu tập những kinh tạng về Giới luật tại Tây Thiên (Ấn Độ) để bổ túc cho những thiếu sót của các sách về Luật tạng tại Trung hoa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong chuyến về, sau khi vượt qua Ấn Độ Dương trong vòng chín mươi ngày, thuyền đến Java, tại đây ngài Pháp Hiển ở lại năm tháng để đợi gió mùa đi về Trung Hoa. Rồi ngài lên một chiếc ghe buôn khác có hai trăm người hành khách. Sau năm mươi ngày đi biển, thuyền này về đến Quảng Châu (Kouang-Tcheou - Quảng Đông hiện nay).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài Pháp Hiển kể lại chuyến đi tám mươi hai ngày này, trong lúc ngài phải nhập hạ trên thuyền. Sau một tháng, trong một đêm kia vào canh hai, trên thuyền người ta đánh trống để báo động sắp có một cơn bão lớn ghê gớm đi theo một cơn mưa to làm cho những người trên thuyền rất lo sợ hoảng hốt. Ngài Pháp Hiển lại hướng lên đức Quán Thế Am Bồ tát để cầu xin ngài cứu cho đoàn người trên thuyền được qua khỏi tai nạn và do sự cảm ứng linh thiêng vi diệu mà tất cả thuyền đoàn được bình an đến sáng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng khi trời sáng, các người Bà la môn trên thuyền bàn dịnh với nhau và nói rằng: "Do vì có vị tăng này - chỉ ngài Pháp Hiển - trên thuyền mà chúng ta bị khổ sở mắc nạn như thế này, vậy ta phải bỏ vị sư này lại trên một hòn đảo. Chúng ta không nên vì một người mà làm cho cả thuyền mắc nạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người chủ thuyền - đỡ đầu cho ngài Pháp Hiển - bảo rằng: "Nếu các người để vị sư này lại trên đảo, khi về đến xứ Hán (Trung Hoa) tôi sẽ đến yết kiến nhà vua và vua sẽ hỏi han các người về vị sư này. Nhà vua cũng rất tôn kính và sùng bái Phật giáo và rất nể trọng các vị sư".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi nghe nói như thế, các người trong thuyền phân vân e ngại và không dám bỏ ngài ở lại trên đảo. (Trích và phỏng theo tài liệu <I>"Các nhà chiêm bái Trung Hoa tại Ấn Độ"</I> - Les Pèlerins Chinois en Indes của Paul Lévy - trong tạp chí France- Asie, số 153-157, Février-Juin 1959).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cuộc hành trình, chiêm bái, học đạo và thỉnh kinh của ngài Pháp Hiển là một cuộc hành trình tiêu biểu<SUP><B>(12)</B></SUP> cho các chuyến đi khác của các vị tăng Trung Hoa và nó cũng nói lên được một phần nào sự gian lao vất vả và nguy hiểm của những chuyến đi chiêm bái vào thời xưa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì có những hiểm nạn trên đường mà các vị pháp sư đi chiêm bái đã cầu xin sự cứu độ của đức Quán Thế Âm Bồ tát và được tai qua nạn khỏi để đến được nơi những mục tiêu dự định.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mặc dầu các lần cứu nạn của Quán Thế Âm Bồ tát trong chuyến đi của ngài Pháp Hiển không được kể lại đích xác và nhiều<SUP><B>(13)</B></SUP> như trường hợp của ngài Huyền Trang, nhưng người ta cũng hiểu là rất nhiều lần, vì mỗi lần gặp khó khăn thì trong truyện kể nhắc rằng: Ngài Pháp Hiển "lại"<SUP><B>(14)</B></SUP> nhất tâm cầu nguyện xin đức Quán Thế Âm Bồ tát tế độ cho mình qua khỏi nguy cơ hiểm nạn.
<CENTER><B>NGÀI NGHĨA TỊNH</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài Nghĩa Tịnh sống vào khoảng giữa thế kỷ thứ VII đầu thế kỷ thứ VIII (634-713).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài được tu học rất sớm, hồi bảy tuổi và đến mười lăm tuổi ngài đã lập chí nguyện du hành qua Ấn Độ, bắt chước ngài Huyền Trang mà ngài đã biết chuyến đi chiêm bái trước đấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng từ khi lập chí nguyện cho đến ba mươi bảy tuổi, ngài mới được một vị cư sĩ, Phật tử thuần thành có chức phận trong triều đình giúp đỡ để thực hiện chuyến đi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc ra đi ngài chỉ đem theo một đệ tử tùy tùng và khởi hành bằng đường biển trên một chiếc thuyền Ba Tư từ Giang Châu (gần bán đảo Sơn Đông) năm 671, đi qua ngã Srivijaya (tại Sumatra) và đến vịnh Bengale, thành phố Tamralipti tại Ấn Độ năm 673<SUP><B>(15)</B></SUP>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trên chuyến về, ngài lên một chiếc thuyền và đến Kietcha<SUP><B>(16)</B></SUP>. Tất cả những kinh sách ngài đem theo chứa hơn 500.000 câu kệ, dịch lại tiếng Trung Hoa gồm thành một trăm cuốn, rồi ngài ở lại Fo-che (Srivijaya)<SUP><B>(17)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài Nghĩa Tịnh đã ghi lại rất nhiều những chi tiết về tình hình Phật giáo tại Nam Dương quần đảo hồi thế kỷ thư VIII. Ngài cho biết là có nhiều vị vua chúa tại các nước ở đây rất sùng bái Phật giáo và sự tín ngưỡng tôn sùng đạo Phật đã làm cho các vị vua chúa khuyến khích nhau thực hiện những công việc phước đức.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong thành Fo-che có hơn một ngàn vị sư sức học và hạnh kiểm rất cao thâm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Có một lần, tại cửa sông Fo-che (hiện nay là Musi) ngài đã lên một chiếc thuyền để nhờ một người khách buôn cầm một bức thư giới thiệu để người này tìm gặp những bạn của ngài tại Quảng Châu (Quảng Đông) và nhờ họ gửi cho ngài các thoi mực tàu và giấy để chép lại các bộ kinh theo tiếng Phạn, và một số tiền để trả công cho những người chép kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng trong thời gian ngài ở trên thuyền thì người khách buôn thấy có gió thuận chiều nổi lên và họ trương buồm lên để ra khơi, tiến về phía Trung hoa. Lúc ấy nếu ngài có buộc họ ngừng lại cũng không được nữa. Vì vậy mà ngài phải về quê hương một cách bất ngờ, và ngày 20 tháng Bảy năm 689, họ đến Quảng Châu phủ (Quảng Đông).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài cho việc ấy là do nghiệp báo đưa đến và chúng ta, con người, không thể làm gì được khi nhân quả đã thành thục và xuất hiện.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tại Quảng Châu, ngài giải thích trường hợp của ngài cho Hội Phật giáo địa phương rõ là ngài phải để lại Fo-che một số sách chép Tam Tạng kinh điển, mà vì ngài tuổi đã cao (55 tuổi, lúc bấy giờ) mỏi mệt, nên ngài xin cho đi theo ngài một người giúp vịec. Các vị tăng già ở đấy mới cho một vị sư trẻ là Chấn Cự (Cheng-Ku?) đi theo ngài, sau khi đã được công nhận có đủ khả năng. Ngài Nghĩa Tịnh và vị sư tùy tùng ấy, được các vị tăng già và cư sĩ tại Quang Đông giúp cho tất cả những phương tiện cần thiết để vào ngày mồng một tháng mười một năm 689, họ khởi sự đi về Fo-che trên một chiếc thuyền buôn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài Nghĩa Tịnh trở về Trung Hoa năm 695, vào mùa hè. Ngài đến Lạc Dương, kinh đô thứ hai, cho Hoàng Thái Hậu và Vũ Hậu và vua Cao Tôn ngự trị, Thái Hậu đích thân đến đón ngài ở cửa Đông thành với tất các các vị sư tăng làm thành một đoàn rước với nghi lễ rất long trọng huy hoàng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong chuyến du hành này, ngoài các bộ kinh sách đã dịch ra, ngài Nghĩa Tịnh đã viết hai cuốn truyện ký mà hai vị học giả là J. Takakusu và Edouard Chavannes đã dịch ra và chú giải dưới đầu đề:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <I>Truyện ký về Phật giáo</I> thực hành tại Ấn Độ và Quần đảo Mã Lai (671-695 T.L.) - A Record of Buddhist Religion as practised in India and the Malay Archipelago by I-Tsing - Oxford 1896 - và cuốn thứ hai là:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">-<I>Đại Đường Tây Du Cầu Pháp Cao Tăng Truyện</I>, do Nghĩa Tịnh Tam Tạng Pháp sư vâng thánh chỉ vua Đường thuật lại - Mémorie sur les Religieux Eminents qui allèrent chercher la Lois dans les pays d'Occident, au temps des T'Ang, écrit par Yi-Tsing Maître de la Loi des Trois Recueils pour obéir à un Décret Impérial.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Năm 713, ngài Nghĩa Tịnh viên tịch thọ 79 tuổi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cuộc đời và công lao của ngài được vua Trung Tôn (Tchong-Tsong), đồng thời với ngài, ca ngợi tán thán và nhà vua này đã viết đề tựa cho cuốn Tổng Lược (Catalogue) của Bộ Tam Tạng Kinh Điển. (Trích và phỏng theo tài liệu của Paul Lévy như trên).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(7) Phù Nam (Fu-Nan): <I>Hiện nay là nước Campuchia, theo "Buddhism in China" (Phật giáo tại Trung Hoa) của Chao-Pu-Chu, Phó Chủ tịch và Tổng thư ký Hội Phật giáo Trung Hoa (tạp chí Pháp-Á - France-Asie - Tuyển tập: Présence du Bouddhisme - Février-Juin - 1959 - Imprimerie nouvelle d'Extrême-Orient).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(8): <I>Theo Việt Nam Phật Giáo Sử Luân do giáo sư Nguyễn Lang biên soạn, Lá Bối xuất bản lần thứ nhất 1974 - Saigon Việt Nam, chương I, trang 13, 14, 15, 16.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(9) Phật Nhiên Đăng (Dipankara): <I>Là một đức Phật thời quá khứ, có nghĩa là cây đèn đốt sáng, cũng gọi là Tích Đính Quang, Đính Quang.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong Diệu Pháp Liên Hoa kinh (Phẩm Tự) có tích này: Phật Nhật Nguyên Đăng Minh, khi còn ở hoàng cung, có sinh ra tám vị vương tử: Hữu ý, Thiện Ý, Vô Lượng Ý, Tăng Ý, Trừ Nghi Ý, Hướng Ý, Pháp Ý. Khi ngài xuất gia, tu thành Phật, thì tám vị vương tử ấy đều theo cha mà tu trì Phạm hạnh. Tám vị ấy đều lần lượt thành Phật. Và vị sau rốt thành Phật, hiệu là Nhiên Đăng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật Nhiên Đăng có thọ ký cho Thiện Huệ Bồ tát, phán rằng về sau ngài Thiện Huệ sẽ thành Phật, hiệu là Thích Ca Mâu Ni.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong Vô Lượng Thọ kinh, Phật phán với A Nan rằng: Về đời quá khứ, thuở xưa cách nay lâu xa vô lượng, chẳng có thể suy nghĩ bàn bạc được là bao nhiêu kiếp, đức Đính Quang (Nhiên Đăng) Như Lai xuất hiện ở thế gian, giáo hóa độ thoát vô lượng chúng sanh, đều cho đắc đạo, rồi ngài mới vào diệt độ (Niết bàn), (theo Phật Học Từ điển của Đoàn Trung Còn).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ta cũng nhớ lại rằng, trong truyện Phong Thần, có nói đến Nhiên Đăng đạo nhơn, xuất hiện nhiều lần tại nhiều nơi. Nhưng đặc biệt là lúc Khổng Tuyên đánh nhau với Nhiên Đăng thì gặp Chuẩn Đề hiện ra, và hai vị này đã nói với nhau việc đưa Khổng Tuyên về Tây phương Cực Lạc (Trong đoạn thời Cổ Sử 1, (1) Khổng Tuyên hiện nguyên hình con công một mắt, mình đỏ gọi là Châu Khổng Tước).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(10) Các nhà chiêm bái Trung Hoa: <I>(Theo Chinese Pilgrims) và: Các nhà chiêm bái Trung hoa tại Ấn Độ" (Les Pèlerins Chinois en Inde) là tài liệu của K.A. Nilakanta Sastri M.A. và của Paul Lévy, đăng trong tạp chí France-Asie - Tuyển tập Présence du Bouddhisme - Février-Juin, 1959 - Xem chú thích số (7) ở trên.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(11): <I>Cuốn "Huyền Trang, Nhà Chiêm Bái và Học Giả: của Thích Minh Châu, được Ni cô Trí Hải dịch ra Anh văn, do Ban Tư thư viện Đại học Vạn Hạnh xuất bản - 1988 - nhà in Hy Mã Lạp Sơn in (Hsuan Tsang, the Pilgrim and Scholar).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(12) Tiêu biểu: <I>Là vì chuyến đi đầu tiên, mà thời gian của cuộc hành trình ở lại, lâu đến 15 năm.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(13): <I>Vì trong hoàn cảnh thiếu thốn các tài liệu sưu khảo, tham cứu nên chuyện du hành qua Ấn Độ của ngài Pháp Hiển chỉ được kể lại trong một mức độ rất giới hạn.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(14): <I>Trong tài liệu "Les Pèlerins Chinois en Inde" của Paul Lévy, ông ta dùng chữ "à nouveau" để nói rằng cứ lúc nào gặp nguy hiểm thì ngài Pháp Hiển "lại" kêu cầu sự cứu độ của đức Quán Thế Âm Bồ tát, như vậy chứng tỏ là sự kêu cầu này đã được xảy ra nhiều lần, mặc dù không được kể rõ những trường hợp như thế (trang 382) trong tạp chí France-Asie, số đặc biệt 153-157 như trong chú thích số (7) trên đây.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(15) Bengale (Băng gan): <I>Là vùng miền Đông Ấn Độ trước kia là một nước. Hiện nay đã chia ra một phần sát nhập vào lãnh thổ Ấn Độ, một phần thuộc nước Pakistan (nửa phía Đông).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(16)Kietcha: <I>Theo trong một tài liệu nói về ngài Pháp Hiển, người ta có cho biết rằng thành phố Kie-Tcha này còn có thể gọi là Kasghar hay Skardo.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(17) Fo-che (Srivijaya): <I>Hiện nay là Palembang, ở đảo Sumatra.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<CENTER><B>NGÀI HUYỀN TRANG</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài Huyền Trang thật đã là một vị pháp sư có thiên tài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài có đủ những đức tánh và khả năng của một vĩ nhân siêu phàm, vì ngài vừa là vị tăng sĩ đạo đức cao thâm, một học giả uyên bác, một nhà du thám gan dạ, kiên nhẫn, một nhà sử địa học trứ danh, và một vị ngôn ngữ học kỳ tài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi đi du lịch chiêm bái ở Thiên Trúc trong mười bảy năm trời (629-645) và trở về Trung Hoa, ngài ở lại Tràng An, và ngoài công việc dịch kinh, ngài đã hợp tác với ngài Biện Cơ để ghi lại những điều đã chứng kiến và học hỏi thành một cuốn <I>"Đại Đường Tây Vức ký"</I> gồm mười hai quyển nói rõ địa lý, tập quán và lối sinh hoạt của 138 nước ngài đã đi qua, đã ở lại vài nơi để chiêm bái các thánh tích, và học hỏi, sưu tầm, ghi chép các kinh điển.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chính nhờ tập "Đại Đường Tây Vức ký" ấy mà các học giả khảo cổ Ấn Độ và Đông-Tây phương nói chúng có đủ tài liệu để sưu tầm chỉnh lý lại những điểm còn mơ hồ trong lịch sử và địa lý của xứ Ấn Độ vào thế kỷ thứ VII.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong cuốn <I>"Huyền Trang, nhà chiêm bái và học giả"</I>, Thượng tọa Thích Minh Châu có ghi rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Cuốn Tây Vức ký ngày nay thật là quan trọng vì đó là một cuốn sách độc nhất miêu tả một cách chính xác và linh động xứ Ấn Độ vào thế kỷ thứ VII, với quang cảnh, địa lý, khí hậu, thảo mộc nông nghiệp, với bản sắc dân tộc, những nơi Phật tích. Cunningham viết sách về Cổ Ấn với cuốn Tây Vức ký bên canh, ông ta định xứ các nước ngày xưa và dò tên của chúng theo những chi tiết mà pháp sư đã viết trong sách ngài".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như vậy, chuyện ngài Huyền Trang chiêm bái thỉnh kinh tại Ấn Độ, ghi chép lại trong cuốn "Đại Đường Tây Vức Ký" là chuyện có thật trong lịch sử, cũng như chuyện hai ngài Pháp Hiển và Nghĩa Tịnh vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thế nhưng, cuốn chuyện kể từng hồi "Tây Du Ký Diễn Nghĩa", cũng kể lại việc ngài Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh kèm theo Tề Thiên, Bát Giới, Sa Tăng với những câu chuyện quỷ quái, ma vương là một loại chuyện thần thoại hóa dựa theo lịch sử để làm cho câu chuyện vừa lạ kỳ, vừa hấp dẫn và thỏa mãn óc tưởng tượng hiếu kỳ của dân chúng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nếu nói về những tài liệu sử ký thì có hai cuốn chính:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. Cuốn "Đại Đường Tây Vức Ký" hay là "Tây Vức Ký" của ngài Biện Cơ (do ngài Huyền Trang cung cấp tài liệu, còn lời văn chọn chữ do ngài Biện Cơ đảm nhiệm).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">2. Cuốn "Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện" của ngài Huệ Lập, một môn đệ của ngài Huyền Trang viết ra.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng sau khi ngài Huyền Trang viên tịch (vào ngày 5 tháng hai năm 664, hưởng thọ 69 tuổi, nhằm năm Lân Đức nguyên niên), thì vào đời Nguyên, người ta mới thấy lưu hành thêm một cuốn "Tạp Kịch Đường Tam Tạng Tây Thiên Thụ Kinh" của Ngô Xương Linh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dịch giả Phan Quân biên soạn cuốn "Tây Du Ký Bình Khảo" có viết như sau (trong bài tựa sách này):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Theo Lỗ Tấn thì có lẽ Tây Du Ký được thần thoại hóa bắt đầu từ đó".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi bắt đầu đến đời Minh, Dương Chí Hòa lại dựa theo các cuốn truyện cũ về ngài Huyền Trang để đúc kết lại, viết thành một bộ truyền kỳ, gọi là "Tây Du Ký Truyện" gồm tới 41 hồi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đó, nhà viết truyện Ngô Thừa Ân lấy tài liệu trong cuốn này mà sắp xếp lại cho có mạch lạc, rồi biên soạn ra cuốn "Tây Du Diễn Nghĩa", gồm có 100 hồi với giọng văn lưu loát, có nội dung sâu sắc, ý nghĩa thâm trầm nên cuốn "Tây Du Ký Diễn Nghĩa" này được phổ biến rộng rãi và chiếm một địa vị quan trọng trên văn đàn. Sau này, các dịch giả khác đều dựa theo cuốn "Tây Du Ký Diễn Nghĩa" của Ngô Thừa Ân mà viết lại<SUP><B>(18)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Trước hết, ta cần biết sơ lược về nội dung của truyện này theo các tài liệu chân xác mà Thượng tọa Thích Minh Châu đã kể lại rất rõ ràng trong cuốn "Huyền Trang, Nhà Chiêm Bái và Học Giả"<SUP><B>(19)</B></SUP>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì muốn hạn định mục tiêu của tập truyện này, nên ta chỉ nói đến những khi ngài Huyền Trang gặp nạn và được các vị Bồ tát cứu độ mà thôi (như Quán Thế Âm Bồ tát và Di Lặc Bồ tát. v.v...)
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">a. <B>Những lúc ngài Huyền Trang mắc nạn và được các vị Bồ tát cứu độ</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo tài liệu chân thực trong các cuốn "Đại Đường Tây Vức Ký" và "Đại Từ Ân Tự Tam Tạng Pháp Sư Truyện" (mà Thượng tọa Thích Minh Châu đã tham khảo để viết lại) thì có những lúc ngài Huyền Trang kể chuyện mắc nạn và được cứu độ như sau<SUP><B>(20)</B></SUP>:
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(a) Từ lúc ra đi lén lút vào tháng tám niên hiệu Trinh Quán thứ ba (năm 629 T.L., lúc bấy giờ ngài được 26 tuổi) cho đến khi ngài đến Tần Châu, rồi Lan Châu, Lương Châu thì ngài lưu lại ở đây hơn một tháng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Có một tỳ kheo là Huệ Oai cho hai đệ tử theo hộ vệ ngài là Đạo Lâm và Đạo Chánh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi ngài đến Qua Châu thì có trát từ Lương Châu đến sai bắt ngài. Nhưng Lý Sương, quan sở tại vốn là một Phật tử thuần thành đã đưa cho ngài xem tờ trát rồi xé đi, ca ngợi chí khí cao thượng của ngài và dục ngài lên đường ngay, đừng trì hoãn. Hai người hầu cận lúc bấy giờ bỏ trốn ngài vì không chịu nổi cuộc hành trình gian khổ. Vì ngài không còn hướng đạo để đưa ngài qua cửa ải, nên ngài cầu nguyện thì bỗng có một người lạ mặt tên là Bàn Đà liền xuất hiện, xin ngài truyền cho ngũ giới, cúng dường ngài bánh trái và tình nguyện làm hướng đạo đưa ngài qua Ngũ Phong (năm chòi canh lớn).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngày hôm sau, anh ta đưa một người già lạ mặt khác đến, người này cỡi một con ngựa già gầy màu hung đỏ. Theo lời khuyên của ông già, ứng với lời tiên đoán ở Tràng An trước khi ra đi, Pháp sư bằng lòng đổi ngựa cho ông ta<SUP><B>(21)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài khởi hành về ban đêm cùng với người hướng đạo trẻ tuổi để đi qua sông Hồ Lư.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Họ đến bờ sông vào canh ba. Người hướng đạo đốn một vài cành cây ngô đồng, làm một chiếc cầu, rải cát lên trên và dắt ngựa đi qua. Hai người nằm ngủ trên những chiếu cỏ trải trên mặt đất. Ngài Huyền Trang liền ngủ thiếp đi, nhưng khi ngài giật mình thức dậy thì thấy người hướng đạo ngủ cách xa ngài đứng dậy, rút kiếm ra và tiến lại phía ngài. Người ấy có vẻ hơi e ngại ngập ngừng, trở lại chỗ của anh ta vì biết ngài Huyền Trang đã thấy. Ngài đứng dậy và niệm Quán Thế Âm Bồ tát. Người hướng đạo nằm ngủ lại cho đến sáng thì ngài Huyền Trang bảo anh ta đi lấy nước. Người này viện lý do sợ bị trông thấy và có thể bị người gác ở chòi canh thứ năm bắn tên vào mình, - vì chỉ có ở đấy mới có nước sạch. Anh ta bảo ngài tốt hơn là nên trở lại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài Huyền Trang cương quyết từ chối, hai người tiếp tục đi, cong mình và cúi đầu xuống để tránh không cho các người gác chòi thấy. Thình lình, người hướng đạo rút kiếm ra, và bảo ngài Huyền Trang đi trước. Ngài cương quyết từ chối, và hai người cùng đi. Sau vài dặm thì người hướng đạo viện lý do không dám trái lệnh nhà vua và bỏ chạy trốn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài Huyền Trang đành phải một mình đi qua Ngọc Môn Quan, tiến bước trên sa mạc tìm đường đi giữa những đống xương người, phân ngựa. Trong lúc đi qua các chòi canh, ngài suýt bị trúng tên. Nhưng dến chòi canh thứ tư, viên cai gác chòi canh này thông cảm với ý định của ngài nên để ngài ngủ lại đêm ấy, và hôm sau còn biếu ngài một bầu nước và một ít lương khô, và khuyên ngài đến suối Bạch Mã thì sẽ có nước ngọt.
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(b) Ngài tiếp tục đi và khi đến sa mạc Mạc Hạ Diên rộng 133 dặm, trên trời không có chim, dưới đất không có muông thú, cả nước cũng không.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài đi một mình không ai hướng đạo ngoài hình bóng của ngài chiếu trên cát, vừa đi ngài vừa niệm Quán Thế Âm Bồ tát và Bát Nhã Tâm Kinh<SUP><B>(22)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đi được hơn mười sáu dặm thì ngài bị lạc đường, không tìm ra được suối Bạch Mã, lại khốn thay ngài bị trượt chân té ngã, trong khi đang mở bầu nước uống, làm đổ tất cả bầu nước quý báu. Chán nản, mất nhuệ khí, ngài muốn trở lại chòi canh thứ tư. Nhưng sau khi đi được hai dặm, ngài hổ thẹn vì đã có thệ nguyện ban đầu là không trở lại phương Đông nếu chưa đến đất Ấn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài bèn tiếp tục đi theo hướng Tây Bắc và thành khẩn cầu nguyện đức Quán Thế Âm Bồ tát trong bốn, năm ngày đên liền vượt sa mạc. Trong đêm tối, ngài trông thấynhững hiện tượng ghê rợn như lửa trên các ngọn đuốc chập chờn trước mặt; ban ngày thì gió thổi mạnh tấp cát nóng vào mặt làm ngài đang khát nước lại càng khát nước thêm. Lâm vào cảnh tuyệt vọng, ngài ngã quỵ trên cát, kiệt sức. Mạc dầu vậy, ngài vẫn không ngớt niệm Quán Thế Âm Bồ tát, xin Bồ tát từ bi cứu độ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vào nửa đêm ngày thứ năm, một ngọn gió mát thổi đến làm ngài lai tỉnh, nhờ đó ngài có thể tiếp tục lên ngựa và đi đến một đồng cỏ xanh tốt bên cạnh có một ao nước tốt lành. Thế là ngài thoát chết. Ngài ở lại một ngày bên bờ ao, và sau khi đã lấy nước ngọt và cho ngựa ăn, lấy cỏ cho ngựa, ngài lại tiếp tục khởi hành đến Y Ngô sau hai ngày đường.
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(c) Sau khi đi dọc theo phía Nam của dãy núi Thiên Sơn và vượt qua ngọn núi Ngân Sơn, ngài đến xứ A Kỳ Ni (Agnidesa/Karashar) và đến kinh đô Khuất Chi (Kucha) vào giữa mùa Đông.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi ngài lên đường vua Cao Xương biếu ngài nhiều xe, ngựa, lạc đà và tiễn ra tận ngoài cổng thành.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng sau hai ngày đi về hướng Tây, Pháp sư gặp gần hai ngàn tên cướp Thổ Nhỉ Kỳ cỡi ngựa
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc ấy ngài đang đi qua xứ Tạp Mạt Kiến Quốc (Sarmakand) là thành phố xưa cũ của Marakanda ngày nay, đã có từ thế kỷ thư IV trước T. T., (A lếc dăng đại đế - Alexandre le Grand<SUP><B>(23)</B></SUP>, đã chiếm và ngự trị tại xứ này).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong thời ngài Huyền Trang đi qua thì dân chúng xứ này, đang thờ cúng Thần Lửa, giốn gnhư dân chúng xứ Ba Tư cổ xưa và giống dân Passis ngày nay tại Ấn Độ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bọn này rất cuồng tín nên đối với ngài chúng hung hăng, chúng chửi bới nguyền rủa ngài cầm đuốc trên tay chạy đuổi theo ngài để thiêu sống ngài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng ngài thuyết giáo rất hay về giáo lý Phật đạo cho vị vua nghe nên vị vua này thông hiểu đạo pháp và cho đánh đuổi bọn cướp cuồng tín, và ngài Huyền Trang đã thu phục nhân tâm dân chúng nước ấy bằng thái độ bình tĩnh và sự biện tài thuyết pháp của ngài, cho đến nỗi những kẻ ngoại đạo tà giáo phải từ bỏ đường lối cũ của chúng và đến trú ngụ tại những tu viện của kinh đô<SUP><B>(24)</B></SUP>
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(d) Một hôm nọ, ngài đi đến viếng thành phố Nhiên Đăng (Dipankara) để được nhìn thấy bóng Phật chiếu lên trên một vách động cách thành phố ba dặm, ngài bị một bọn cướp năm tên đón lại, và dùng dao găm đe dọa ngài. Ngài bình tĩnh trả lời:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Kẻ cướp là người. Muốn đi chiêm bái đất Phật, dù cho thú dữ đầy đường ta cũng không sợ huống nữa các ngươi chỉ là người, hỡi các môn đệ!". Bọn cướp tỏ lòng kính phục sự bình tĩnh của ngài nên muốn đi theo ngài để cùng chiêm ngưỡng bóng Phật<SUP><B>(25)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(e) Một lần khác, khi ngài rời đô thị Na La Tằng Ha (Narasimha), đến một khu rừng lớn ở phía Đông, ngài gặp một toán cướp chừng năm mươi tên. Bọn chúng lột hết quần áo, và lấy hết tiền bạc của mọi người rồi đây tất cả xuống một cái ao để giết hại. Nhưng nhờ có một lỗ hang gần bờ ao do nước trong ao xói mòn và có những bụi bờ bao quanh lỗ hang ấy nên mọi người đều thoát được. Ngài Huyền Trang trốn thoát được cùng một chú tiểu và tìm cách báo tin cho dân làng đến cứu và đuổi bọn cướp đi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mọi người cùng đi với ngài đều lo lắng khóc lóc, chỉ có ngài là bình tĩnh mỉm cười, không tỏ một vẻ gì là sợ hãi đau khổ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi người ta hỏi ngài tại sao thì ngài bảo rằng: "Đời sống là quý giá nhất, mà khi đời sống chúng ta được an toàn thì tại sao ta lại buồn rầu. Nước chúng tôi có một câu cách ngôn: <I>Cái kho tàng quý nhất giữa trời đất là sự sống</I>. Khi mà chúng ta còn được sống, nghĩa là không mất cái kho tàng quý giá nhất thì tại sao chúng ta lại buồn rầu về sự mất mát nhỏ mọn như quần áo và tiền bạc". Mọi người cùng đi với ngài đều khâm phục đức điềm tĩnh và lòng vô tư của ngài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Và sau đó, có hơn hai trăm người đến quy y và cúng dường ngài, mỗi người một tấm vải nỉ dạ và đồ ăn. Pháp sư phân phát các tấm nỉ ấy cho các bạn đồng hành để làm vài bộ áo. Số vải còn lại, ngài cúng năm tấm cho vị Pháp sư già tại đấy.
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(f) Trong chuyến đi bằng thuyền xuống sông Hằng trên đường đi đến xứ Thiết Khẩu (Ayamukha), nhớm của ngài bị bọn cướp Thug (trong bộ lạc Kali)<SUP><B>(21)</B></SUP> vây quanh và lột hết quần áo, và đồ vật có giá trị, Vì có một thân thể khỏe mạnh và diện mạo khôi ngô nên chúng chọn ngài để hy sinh làm lễ tế thần Durga.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài nói với bọn chúng tha cho ngài vì ngài đến từ một nước rất xa để chiêm bái cây Bồ đề, núi Linh Thứu và tìm kinh điển. Nếu giết ngài thì chúng sẽ gặp nhiều vận xấu vì mục đích của ngài chưa đạt được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mọi người đều xin đừng giết ngài, có một vài người muốn chết thay cho ngài, nhưng bọn cướp vẫn nhất quyết với ý định giết ngài, vì chúng đã chọn ngài là vật hy sinh. Tuy nhiên, ngài vẫn không đổi sắc mặt và không tỏ ra lo sợ bối rối: lòng can đảm của ngài làm cho bọn cướp ngạc nhiên và kinh sợ. Ngài bảo chúng đừng dục ngài quá để ngài được chết với lòng thanh thản và yên vui. Và ngài quan tưởng đức Di Lặc Bồ tát ở cõi trời Đâu Xuất, ước nguyện sẽ được tái sanh ở đó để chiêm ngưỡng đức Phật tương lai và được học du Già Sư Địa Luận với đức Phật DiLặc. Ngài cũng mong được tái sanh để truyền bá thiện pháp và sự an lạc cho mọi người. Rồi ngài đảnh lễ mười phương chư Phật và ngồi tham thiền. Sức thiền định của ngài rất mãnh liệt làm cho ngài cảm thấy lên đến chóp núi Tu Di (Sumeru), tới miền Đâu Xuất và gặp Di Lặc Bồ tát. Ngài quá phấn khởi đến nỗi ngài không biết đến cái chết đang kề bên. Các người cùng đi với ngài thì than khóc áo não.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng nhiên, một trận bão nổi lên làm tung cát đầy trời mù mịt, bật gốc cây, thuyền bè bị lật. Trước sự phản ứng bất ngờ của thiên nhiên ấy, bọn cướp kinh hoàng, thấy hiện tượng này là sự phản đối của thánh thần về việc giết người của chúng. Chúng bèn thả ngài ra và cầu xin ngài tha tội cho chúng. Ngài khuyên chúng đứng nên dại dột mê mờ làm những điều ác đức, tội lỗi mà phải chịu quả báo đau khổ trong tương lai.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bọn cướp nghe theo lời ngài, quăng khí giới xuống sông, nhận lời giảng huấn của ngài rồi bỏ đi. Việc này đã tỏ rõ cho ta biết là đức điềm tĩnh và an nhiên trước cái chết gần kề đã cải hóa được những kẻ hung dữ và làm cho chúng trở nên những người lương thiện.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(g) Một dạo nọ, từ thung lũng Pamir, ngài Huyền Trang đi qua một vùng tuyết phủ rộng chừng 83 dặm và đến xứ Kabhanda (Kapanto - Vùng Tach Lourgan), dân chúng rất thô kệch, ngạo nghễ, tướng dạng xấu xí và mặc quần áo nghèo nàn, tuy nhiên chân thành theo Phật giáo. Vị vua của họ lại rất thông minh, hiểu biết nhiều, dòng dõi của một vị vua Ba Tư kết hôn với một thục nữ Trung Hoa, sau khi vị vua này chết, người ta còn giữ lại xác thân ướp khô trong một hang động.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài Huyền Trang ở đấy trong hai mươi ngày, rồi lại tiếp tục đi về hướng Đông Bắc cùng với một nhóm khách buôn, rồi xuống sườn phía Đông của dãy núi Thống Lĩnh; sau năm ngày gặp một bọn cướp đuổi mọi người cùng đi với ngài đều chạy trốn vào núi, nhưng con voi của ngài bị chết đuối. Khi bọn cướp đi rồi, ngài cùng với nhóm thương gia này vượt qua 134 dặm, ra khỏi thung lũng Pamir và đến xứ U-Sha (Chihil-Gumbaz). Thế là ngài thoát nạn.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">b. Trên đây là những lần thoát nạn do con người gây nên cho ngài, nhờ sự tin tưởng vào các vị Bồ tát Quán Thế Âm và Di Lặc, nhờ sự điềm tĩnh, sự can đảm và lòng thiết tha mong muốn đi đến các nơi ngài định chiêm bái mà ngài đã vượt qua khỏi mọi hiểm nạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngoài ra, còn những sự nguy hiểm gian lao do thiên nhiên gây nên như bão tuyết, thời tiết khắc nghiệt, đường đi trèo đèo lội suối cam go, vượt sông sâu qua núi cao hiểm trở, qua sa mạc mênh mông không một bóng người, không chim thú, chỉ thấy toàn các bộ xương người dọc theo đường đi, qua các vùng cát nằm trên vũng lầy di động; ban ngày có những lớp khói tỏa lên lung linh huyền ảo như ma quái, ban đêm lập lòe các ánh sáng như yêu tinh ẩn hiện đâu đây, thật không biết bao nhiêu là gian nan khổ cực, vô vàn khó khăn trở ngại tưởng chừng như sức người không thể vượt qua nổi. Thế mà ngài Huyền Trang đã bền chí kiên gan chịu đựng đeo đuổi mục đích cho đến kết quả cuối cùng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như vậy, ta thấy rằng ngài Huyền Trang là một vị Pháp sư có lòng nhiệt tâm tha thiết cầu pháp và đã biết kết hợp tài trí và sự khéo léo để xử dụng tự lực của chính mình và nương vào tha lực của các vị Phật, Bồ tát linh thiêng để được cứu độ trong những tình huống nguy nan khổ nạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì thế sau này, ngài mới nổi tiếng và người ta mới viết truyện tích của ngài với sự sùng bái kính phục; mà hiện nay các học giả nổi tiếng trên thế giới cũng rất khâm phục nể trọng vị Pháp sư tài đức, nghị lực, trí huệ vô song này.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">c. <B>Sự trở về Trung Hoa của ngài Huyền Trang</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mặc dầu khi xuất phát ra đi chiêm bái tại Ấn Độ, ngài Huyền Trang đã hai, ba lần tâu vua xin phép mà không được vua chuẩn y, song vì lòng mộ đạo quá cao sâu nên ngài mới trốn đi. Vì thế khi sắp về ngài phải viết thư hai lần cho Hoàng đế Trung Quốc để báo tin và xin phép được trở về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi tiếp được các tờ biểu của ngài Huyền Trang và biết ngài đã trở về Trung hoa, vua Đường Thái Tôn rất mừng rỡ và đã ra lệnh đón tiếp ngài trọng thể.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngày 24 tháng giêng năm 645 (vào năm Trinh Quán thứ 19, đời Đường). Thủ tướng Phòng Huyền Linh cử Hầu Mạc Trần Thật, Đại tướng xứ Hữu Võ Hầu, Lý Thúc Thông, Tư mã ở Ung Châu, và Lý Càn Hựu huyện lệnh ở Tràng An đi đón ngài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài Huyền Trang đến Tào Thượng định sang sông, nhưng dân chúng đứng đông dặc ở các đường phố, lối đi nghẽn hết, nên khi thuyền đã sang sông rồi mà không thể nào lên bờ để vào thành được, ngài đã nghỉ lại trên sông một đêm. Sáng hôm sau, cuộc tiếp rước ngài được tổ chức vô cùng trọng thể, uy nghi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tất cả các vị Tăng, Ni tại các chùa ở Tràng An đều lũ lượt tề tựu rất đông tại đường phố Chu Tước để dự đám rước ngài về chùa Hồng Phúc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau mười bảy năm xa cách, ngài lại được trở về Tràng An, kinh đô nước Trung Hoa lúc bấy giờ, với một tư cách cao trọng, khả kính, được mọi người khâm phục, cảm mến và sùng bái.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dân chúng vô cùng hân hoan, tranh nhau đến bái yết Pháp sư. Hàng trăm hương án được bày ra cùng với cờ lọng và lễ khí để cung nghinh các kinh, tượng và xá lợi Phật do ngài thỉnh về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các nhân sĩ, quan khách và dân chúng đứng chật ních nhìn đám rước đi qua; các xe cộ và người ngựa nhiều đến nỗi các người có nhiệm vụ giữ gìn trật tự buộc ai cũng phải đứng yên tại chỗ mà đốt hương hay tung hoa chớ không được di chuyển qua lại theo đám rước, chỉ dành riêng cho các vị Tăng, Ni.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khói hương trầm bay lên nghi ngút và các lời chúc tụng vang rền khắp nơi không ngớt.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về Tràng An được mấy hôm, nghe tin vua Đường Thái Tôn sắp đi đánh Liêu Đông, ngài Huyền Trang liền vội vàng đến Lạc Dương, kinh đô thứ hai của vua Đường, để kịp yết kiến Hoàng đế. Đây là lần thứ nhất, ngài Huyền Trang được yết kiến Đường Thái Tôn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi nghe kể lại chuyện đi Tây Vức một cách thông suốt rõ ràng, Đường Thái Tôn cảm phục sự uyên bác, lịch thiệp của Pháp sư nên muốn đề nghị ngài hoàn tục để ra tham chính giúp vua, nhưng ngài nhất quyết từ tạ, nhưng sau đó vua lại mời Pháp sư đi theo dự cuộc chinh phạt Liêu Đông để sớm hôm trò chuyện, ngài Huyền Trang cũng từ chối khéo léo, viện lẽ rằng nếu ngài đi theo chẳng những không hỗ trợ được gì cho nhà vua, mà chỉ làm hao tốn thêm lộ phí mà thôi. Vả lại, trong các giới cấm của Phật, các tỳ kheo thọ giới Bồ tát không được tham dự, xem coi việc chiến trận đó là thuộc trong giới cấm sát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đường Thái Tôn đã hoan hỷ nhượng bộ và để ngài Huyền Trang trở về Trang An lo việc phiên dịch kinh điển đem từ Ấn Độ về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi yết kiến vua Đường Thái Tôn, ngài Huyền Trang về Tràng An, ở chùa Hồng Phúc, vào ngày mồng một tháng ba năm 645, và chuyên chú vào việc tổ chức phiên dịch kinh điển mà ngài đã công phu mang từ Ấn Độ về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tháng 5 năm 648, ngài Huyền Trang đã dịch xong chín bộ kinh, lấy đề chung là <I>"Tân Phiên Kinh Luận"</I> và vua Đường Thái Tôn muốn kỷ niệm cuộc Tây Du của ngài Huyền Trang và ghi công đức ngài, nên đã đích thân viết bài tựa cho tập phiên dịch ấy. Bài tựa nhan đề <I>"Đại Đường Tam Tạng Thánh Giáo"</I> gồm 781 chữ. Ấy là một đặc ân quý giá mà vua Đường Thái Tôn đã dành cho ngài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tháng Mười năm ấy, Hoàng Thái tử Lý Trị (tức là vua Đương Cao Tôn sau này), vì muốn kỷ niệm báo ân thân mẫu mình, nên có xây dựng tại Tràng An một cảnh chùa đồ sộ lấy tên là Từ Ân tự, và có dành một cơ sở đặc biệt trong chùa cho việc phiên dịch kinh điển, gọi là "Phiên Kinh Viện". Vua triệu ngài Huyền Trang đến đấy để tiếp tục việc phiên dịch cho đủ tiện nghi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ đó, ngài Huyền Trang ít khi ra khỏi chùa Từ Ân, mà chỉ chuyên tâm vào việc phiên dịch.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đại đức Huệ Lập, một vị đệ tử thường túc từng theo ngài hai mươi năm, đã thuật lại sự tinh tấn của ngài như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Ngài ở Từ Ân, chuyên lo việc phiên dịch, ngày nào gặp việc dịch chưa xong, thì đêm đến dịch thế lại, dịch cho đến chỗ làm dấu trong nguyên bản mới dừng bút. Khi dịch xong, ngài xếp sách đi lễ Phật, kinh hành đến canh ba mới tạm nghỉ. Sáng canh năm, ngài đã trở dậy, đọc to bản kinh chữ Phạn lấy điểm son làm dấu thứ tự, định trước những đoạn sẽ dịch trong ngày. Mỗi ngày, sau giờ ngọ trai, và lúc hoàng hôn, ngài giảng kinh luận mới dịch, và giải đáp những nghi nghĩa mà các học tăng khắp nơi thường đến thỉnh giáo. Ngoài ra, vì chức vị trụ trì tại chùa của ngài, nên mọi tăng sự, mọi công quả trong chùa ngài đều phải để mắt tới và giải quyết. Tối lại, hằng trăm đệ tử trong chùa đến cầu ngài dạy bảo. Đầy nhà, đầy hiên đều là nơi thù đáp, không bỏ sót ai. Tuy phải nhiều việc bận rộn như thế, mà lúc nào thần khí của ngài cũng vẫn thư thái, chẳng chút ủ trệ (Đại Từ Ân Tam Tạng Pháp Sư Truyện), ("Huyền Trang", tập II của Võ Đình Cương, trang 81-82).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài Huyền Trang viên tịch vào ngày mông 5 tháng hai năm 664, tại Tràng An, ở Ngọc Hoa Cung, hưởng thọ 69 tuổi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lễ an táng ngài cử hành vào ngày mười bốn tháng tư tại Bạch Lộc Nguyên với sự tham dự của hơn một trăm vạn người (1.000.000) ở Tràng An và các miền phụ cận; trong số ấy có ba vạn (30.000) làm lều cạnh mộ ngài nơi nghĩa địa mà ở.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thật không nói hết được sự thương tiếc, cảm mến và kính phục của mọi người đối với vị Pháp sư cao cả này.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">d. <B>Nhận định</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nếu so sánh cuộc du hành của ba vị Pháp sư là: Ngài Pháp Hiển, ngài Huyền Trang và ngài Nghĩa Tịnh, ta thấy có những điều khác biệt như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(a) Như ta đã thấy ngài Pháp Hiển đi bằng đường bộ và về bằng đường biển, ngài Huyền Trang thì đi bằng đường bộ và về cũng bằng đường bộ, còn ngài Nghĩa Tịnh thì đi bằng đường biển và về cũng bằng đường biển.
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(b) Ngài Nghĩa Tịnh đi du hành lâu hơn hai vị kia (671-695), trong thời gian 24 năm, nhưng cuộc du hành của ngài không được liên tục, vì ngài phải trở về Quảng Đông một cách bất ngờ ngoài ý muốn của ngài (trong năm 689).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài Pháp Hiển đi trong 15 năm (399-414 T.L) và ngài Huyền Trang đi trong 17 năm (629-645 T.L).
<P style="TEXT-INDENT: 84pt; TEXT-ALIGN: justify">(c) Một điểm nhận xét của các học giả Tây phương là ngài Nghĩa Tịnh (cũng như ngài Pháp Hiển) khác với ngài Huyền Trang là hai vị thường lưu ý đến những điều thiếu sót trong cách hành đạo của các vị sư Trung Hoa, và muốn bổ túc vào đấy, cho nên hai ngài rất chú trọng quan sát, nhận định những sự kiện thuộc về hoạt động của các người đồng hành, đồng đạo; còn ngài Huyền Trang thì ngoài việc khảo sát quang cảnh và sinh hoạt của các nước lúc bấy giờ tại xứ Ấn Độ, ngài lưu ý phần nhiều đến sự thực hiện lòng sùng kính, lễ bái tự cá nhân mình nhiều hơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Có thể nói quan điểm của ngài Huyền Trang thì hướng nội, còn quan điểm của ngài Pháp Hiển và ngài Nghĩa Tịnh là quan điển nhiều phần hướng ngoại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Có lẽ do quan điểm hướng nội mà ngài Huyền Trang thường nhắc đến việc cầu xin sự cứu độ của Quán Thế Âm Bồ tát, còn hai ngài Pháp Hiển và Nghĩa Tịnh thì ít nhắc đến điều này. Trong những lúc gặp gian nguy hiểm nạn, người ta không thấy nói đến việc ngài Nghĩa Tịnh cầu xin sự cứu độ của đức Quán Thế Âm Bồ tát có thể là một sự bỏ sót chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng suy các sự kiện như thường lệ ra, thì không một Phật tử nào, nhất là các vị tu sĩ mà lại không cầu xin một sự cứu độ của vị Bồ tát có lòng từ bi rộng lớn "tầm thinh cứu khổ", khi gặp hoạn nạn tai ương.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vậy có lẽ đây là một sự bỏ sót trong các ký sự của ngài Nghĩa Tịnh (vì lý do hướng ngoại như đã nói trên đây.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong hoàn cảnh thiếu các tài liệu, sách vở để sưu tầm hiện nay, chúng ta hy vọng rằng có một ngày nào đó, sẽ có những vị học giả uyên thâm, có công phu tìm tòi sâu rộng để đem đến cho chúng ta những sự hiểu biết chi tiết rõ ràng hơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(18): <I>Sau này, cuốn "Tây Du Diễn Nghĩa" của Ngô Thừa Ân có nhiều ấn bản:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bản tương đối tốt hơn hết là bản "Tân khắc xuất tượng quan bản đại tự tây du ký" của Kim Lăng Thế Đức, Đường Thư quán ấn hành vào đời Minh, năm thứ 20 Vạn Lịch (vào năm 1566 TL.) vào triều vua Thần Tôn. Về đời Thanh cũng có nhiều ấn bản như:
<p style="padding-left: 30px;">- Tây du ký châu toàn (in năm Bính Tý, đời Khang Hy).
- Tân thuyết Tây du ký (in năm thứ 14, đời Càn Long).
- Tây du ký nguyên chỉ (in năm thứ 15, đời Gia Khánh).
- Thông dịch Tây du ký chánh chỉ (in năm Kỷ Hợi, đời Đạo Quang).
- Tây du ký bình chú (do Hàm Tinh Tử bình chú).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mấy bản sau này đều có chỗ không giống với bản của Thế Đức Đường Thư quán (Theo cuốn "Tây Du ký bình khảo" của Phan Quân, nhà sách Khai Trí xuất bản, 1962 - Saigon).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(19) Huyền Trang, Nhà Chiêm Bái và Học Giả: <I>Ngoài cuốn "Huyền Trang, nhà chiêm bái và học giả" của Thượng tọa Thích Minh Châu ra, chúng tôi còn tham khảo bổ túc thêm ở các tài liệu khác như:
<p style="padding-left: 30px;">- Cuốn Huyền Trang (tập II) của Võ Đình Cường.
- Les Pèlerins Chinois en Inde của Paul Lévy.
- The Chinese Pilgrims của K.A. Nalikanta Sastri.
- Le Bouddhisme en Chine của André Migot.
- Buddhism in China của Chao-Pu-Chu Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hội Phật giáo Trung Hoa v.v...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các tài liệu bằng tiếng Anh và Pháp văn trên đây đều có trong Tạp chí France-Asie như đã ghi trong chú thích (7) ở trên.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(20): <I>Chúng tôi chỉ kể lại những lần mắc nạn của ngài Huyền Trang mà thôi, còn muốn biết thêm các chi tiết khác của sự tích ngài Huyền Trang, xin xem cuốn "Huyền Trang, nhà chiêm bái và học giả", của Thích Minh Châu đã viết như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Khi Pháp sư sắp sửa cuộc Tây du chiêm bái, ngài hỏi một phù thủy tên là Hà Hoằng Đạt, thường nổi tiếng là có tài tiên đoán chính xác, để biết về cuộc hành trình sắp đến của ngài. Vị phù thủy bảo Pháp sư có thể tiến hành cuộc hành trình sắp đến của ngài, bảo ngài phải cỡi một con ngựa gầy, già, màu đỏ, và sẽ có một mảnh sắt nhỏ hơi đỏ ở trước yên".</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(21): <I>Khi Pháp sư sắp đi qua ải Ngọc môn có người xin đổi con ngựa của ngài bằng một con ngựa gầy già. Ban đầu Pháp sư không chịu vì ngựa của ngài trẻ mạnh hơn. Nhưng ngài sực nhớ đến lời tiên đoán của người Phù thủy, con ngựa già mang những dấu hiệu như ông ta đã tr, vì vậy Pháp sư đổi con ngựa của ngài lấy con ngựa già. Và con ngựa gầy màu hung đỏ ấy không những đã đưa Pháp sư qua sa mạc Mạc Hạ Diên, mà còn cứu sống ngài bằng cách tìm ra, nhờ bản năng của nó, một đồng cỏ xanh tốt và một hồ nước ngọt".</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(22): <I>Trong cuốn Nhị Khóa Hiệp Giải, trang 105, ngài Hòa thượng Thích Khánh Anh dịch, có chú thích về cuộc du hành của ngài Pháp sư Huyền Trang như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Đến nước Kế Tân (nay là Khắc Thập Mễ Nhĩ - Carmesnie), gặp khoảng đường rất nhiều hổ báo, hiểm trở không thể qua đặng. Sư chẳng biết làm sao đi! Sư đóng cửa ngồi nghỉ. Đến tối, mở cửa, Sư thấy một ông già, đầu mặt lở lói, mình vóc tươm máu mủ, ngồi cao nghệu một mình, chẳng biết sư già từ đâu đến.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Pháp sư liền lạy cầu khẩn. Lão bệnh tăng liền truyền miệng cho bổn Tâm kinh, bảo tụng; Sư vâng lời thường đọc, nên sự băng qua sông núi dễ dàng và tránh khỏi độc trùng ác thú".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bát Nhã Tâm Kinh nói cho đủ là "Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm kinh" là một bộ kinh ngắn nhất của Đại thừa Phật giáo, gồm có 260 chữ Hán, kể luôn cả câu chú ở sau cùng. Nhưng bài kinh này là tinh yếu, là cốt tủy tóm lược của bộ kinh Đại Bát Nhã gồm 600 quyển. Nguyên văn bằng chữ Phạn (Sanskrit) sau này được dịch ra Hán văn. Tuy có nhiều bản dịch (sáu bản) nhưng chỉ có bản của ngài Huyền Trang dịch là được lưu hành rộng và truyền bá xa nhất ở Trung Hoa, Triều Tiên, Nhật Bản và Việt Nam, và hiện nay chúng ta đang đọc tụng vào lúc kết thúc các bài kinh khác (Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh Việt giải, Chánh Trí Mai Thọ Truyền, nhà in Hòa Chánh 16-18 Cống Quỳnh - Saigon - 1962).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(23) A lếc dăng dại đế - Alexandre le Grand: <I>Là vua xứ Macédoine (356-323 trước TL.), học trò của nhà hiền triết Aristote. Lên ngôi của năm 336, ông ta chinh phục xứ Hy Lạp, đánh xứ Ba Tư, thắng vua Darios tại Granique, lấy thành phố Tyr, Sidon v.v... Vị vua này lại tiến qua lấy xứ Ai Cập, lập thành phố cảng Alexandrie tại đây (năm 331 trước TL.), rồi vượt qua sông Euphrate, sông Tigre tràn qua đánh thắng Ba Tư trận cuối cùng tại Arbètes (331 trước TL.), lấy luôn thành phố Babylone, Suse, đốt cháy thành Parsa (Persépolis), tiến đến sông Indu (Tín Độ) tại Ấn Độ, đánh thắng Poros, ông này đầu hàng và trở thành đồng minh với Alexandre.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vương quốc của Alexandre le Grand mở ra rất nhiều, và một thời gian vị vua này được nổi tiếng là hùng mạnh vào thế kỷ thứ IV (Tự điển Larousse - 1955).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(24): <I>Theo tài liệu của Paul Lévy trong Tạp chí France-Asie "Les Pèlerins Chinois en Inde" đã dẫn ở trên.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(25): <I>Về sự chiêm bái bóng Phật trong động đá tại thành phố Dipankara. Thích Minh Châu có viết như sau (Huyền Trang, nhà chiêm bái và học giả, trang 154-155):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Pháp sư tự đi một mình đến thành phố Dipankara để đến thăm động đá; tại đây đức Như Lai đã điều phục được con rắn thần và để lại hình bóng của ngài. Trên con đường đi, Pháp sư gặp năm tên tướng cướp. Những tên này bị nhiếp phục bởi tín tâm và tánh vô úy của ngài nên cũng đi theo để được chiêm bái bóng của đức Phật. Pháp sư đi vào động đá một mình, mò đường khoảng năm chục bước và chạm vào bức tường phía Đông. Ngài đứng lại và với một lòng chí thành, ngài lễ hơn một trăm lạy. Khi không thấy gì hiện ra, ngài tự trách những bất tịnh nghiệp trong quá khứ và khóc than sầu não.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đoạn ngài thành khẩn tụng những bài kệ tán Phật trong kinh Srimāla-devi-Simhanada (Thắng Mạn) và những kinh khác. Trong khi tụng những bài kệ ấy, ngài quỳ lạy và lạy đến lần thứ một trăm thì có một ánh sáng lớn bằng bát ăn hiện ra trên tường rồi biến mất. Hình ảnh ấy khuyến khích Pháp sư, và ngài lễ thêm hai trăm lạy. Khi ấy cả động bừng sáng và bóng Như Lai hiện rõ rệt, nhưng tòa sen không rõ lắm. Bóng của các vị Bồ tát hầu quanh Phật cũng thấy rõ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong số sáu người ngài gọi vào xem bóng Phật, chỉ có năm người thấy được. Bóng hiện ra rõ ràng chừng nửa thời gian một bữa ăn, và biến mất sau khi Pháp sư và những người khác đã chiêm bái và dâng hương hoa. Người Bà la môn dẫn đường vô cùng hân hoan bảo rằng bóng ấy chỉ hiện bởi vì lòng tận tụy và ý định kiên trì của Pháp sư".</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(26) Thug: <I>Về bọn Thug, trong bộ lạc Kali, tài liệu của Paul Lévy có nói rằng bọn này rất hung ác và hiếu chiến, người Anh đàn áp đánh phá mãi để chinh phục Ấn Độ trong thế kỷ trước mà cũng rất gian nan khó khăn (Tạp chí France-Asie, số đặc biệt 153-157 đã dẫn, trang 418).</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<CENTER>Chương III
<BR><B>TRUYỆN "TÂY DU KÝ" THẦN THOẠI HÓA</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>ĐẠI CƯƠNG</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Truyện "Tây Du Ký" thần thoại hóa là một loại truyện căn cứ chút ít vào lịch sử rồi phát triển hư cấu thêm cho nó có vẻ thần kỳ, quái đản, với những trận đấu chiến giữa ma vương, quỷ tặc, yêu tinh và những vị thần, tiên, thánh và Bồ tát linh thiêng thường ra tay cứu vớt chúng sanh hiền lành, những thiện nhân trong những cơn họa hiểm gian nguy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đặc biệt trong truyện Tây Du ký này, ngoài những vị thánh, tiên khác thì vị Bồ tát thường hay xuất hiện nhất là Quán Thế Âm Bồ tát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì muốn hạn chế mục tiêu vấn đề, nên trong các đoạn trích ra sau này, chúng tôi chỉ nêu ra những trường hợp mà ngài Huyền Trang gặp nạn và được Quán Thế Âm Bồ tát cứu độ mà thôi. Lẽ tất nhiên, trong các chuyện tích nhỏ này có những đặc điểm sẽ được nhận định sau mỗi tiết đoạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tuy vậy, trước khi nói đến những đoạn trích dẫn này, ta cũng nên biết qua tóm lược của bộ truyện "Tây Du ký" thần thoại này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong "Lời giới thiệu" của Lương Duy Thứ, trước tập "Tây Du ký" do nhà xuất bản Văn học (CHXHCNVN) in năm 1981, ông Thứ có viết như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Nói đến văn học cổ điển Trung Hoa, người ta thường kể: Tản văn bách gia, thơ Đường, từ Tống, kịch Nguyên, tiểu thuyết Minh Thanh (thế kỷ 14-19) là thời phồn vinh của tiểu thuyết, nói cho chính xác là chuyện kể chương hồi<SUP><B>(1)</B></SUP>".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi trong một đoạn sau ông Thứ nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"... Trong kho tàng hơn 300 bộ trường thiên tiểu thuyết đó, Tây Du ký có một vị trí đặc biệt. Đó là tác phẩm lãng mạn mang sắc thái thần thoại hiếm có trong lịch sử văn học Trung Quốc".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi ông Thứ cũng nói qua về quan điểm của những nhà văn học khác như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong bài Tây Du ký khảo chứng, Hồ Thích coi Tây Du ký là "hàng nhập khẩu", Tôn Ngộ Không là hình bóng của hoàng tử Hanuman trong trường ca Ramayana của Ấn Độ, giá trị văn học của Tây Du ký chỉ là "đùa cợt với đời". Lỗ Tấn đã bác bỏ quan điểm này, coi Tây Du ký là tác phẩm lãng mạn kiệt xuất, cho rằng hình tượng Tôn Ngộ Không bắt nguồn từ Lý Thang truyện đời Đường<SUP><B>(2)</B></SUP>".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn theo V.I. Xê Ma Nốp, Tây Du ký đánh dấu bước chuyển biến từ khuynh hướng "tiểu thuyết anh hùng mà Tam Quốc, Thủy Hử là tiêu biểu, sang khuynh hướng "tiểu thuyết sinh hoạt" mà Kim Bình Mai, Hồng Lâu Mộng là tiêu biểu (trong "Lời giới thiệu" của Lương Duy Thứ).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bây giờ, để tóm lược truyện Tây Du ký của Ngô Thừa Ân (bản dịch của Phan Quân - Tây Du ký Bình khảo), ta thấy nội dung của truyện này gồm có 100 hồi, được sắp đặt như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. <B>Từ hồi thứ 1 đến hồi thứ 7</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tác giả giới thiệu nhân vật hoạt động nhất của truyện, mặc dù không phải là nhân vật chánh, đó là <B>Tề Thiên Đại Thánh</B>, "tên" này chỉ sau khi lên Thiên đình xuống mới được phong như vậy (Hồi thứ 4), còn trước nguyên là một Hầu vương (vua khỉ) do trong một tảng đá trên núi Hoa Quả Sơn mà sinh ra.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hầu vương này tự xưng là Mỹ Hầu Vương và phong cho Vượn và Khỉ đột làm tả hữu thừa tướng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mỹ Hầu Vương lại muốn đi tìm thuốc trường sanh để sống mãi. Có con vượn già nói rằng: trên đời không ai tránh khỏi chết, trừ ba bậc: Thánh thần, Tiên, Phật là có phép trường sanh bất tử thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mỹ Hầu Vương mới nảy ra ý nghĩ đi tìm nơi có một vị tiên để dạy phép trương sanh bất tử. Sau gặp vị tiên ông biệt danh là "Cu Bồ Đề Tổ Sư" có rất nhiều môn đệ đến học các phép thần thông biến hoa trong động đá gọi là "Linh Đài Phương Thốn Sơn Tà Nguyệt Tam Tinh Động". Mỹ Hầu Vương mới xin học.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi Mỹ Hầu Vương thọ giáo xong được Tổ sư đặt tên cho là Tôn Ngộ Không (sau này còn được gọi là Tôn Hành Giả). Ngộ Không tập luyện được 72 phép biến hóa thần thông rồi, liền trở về động Thủy Liêm là nơi ở trước kia. Rồi tung hoành khắp nơi, đánh nhau với Hổn Thế Ma Vương, xuống biển phá phách và tìm Long Vương xin trao cho thiết bảng nặng 13.500 cân, gọi là "Như Ý Kim Cô Bảng, trọng nhất vạn tam thiên ngũ bá cân", mà Ngộ Không có thể biến ra nhỏ hay to tùy ý muốn. Ngộ Không xuống địa ngục xóa tên loài khỉ trong sổ "tử" để Diêm Vương không còn bắt được và từ đó không sợ chết nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngộ Không lại lên Thiên giới, ăn trộm đào, uống rượu tiên, và đánh nhau với những vị tiên thần trên ấy, bị Quan Âm và Thái Thượng đạo tổ bắt nhốt vào lò bát quái. Nhưng sau 49 ngày đêm, Tề Thiên không chết mà lại thoát khỏi khi vị Đạo sĩ mở nắp lò ra xem, làm cho đá lò rơi xuống trung giới<SUP><B>(3)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cuối cùng đức Thích Ca phải dùng bàn tay lật xuống đất hóa ra năm ngọn núi gọi là Ngũ Hành Sơn đè Tề Thiên xuống đó.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức Thích Ca lấy giấy họa phù sai Ác Nan đến dán nơi chóp núi. Tức thì năm hòn núi khép chặt lại với nhau nhốt Tề Thiên Đại Thánh vào trong đó.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">2. <B>Từ hồi thứ 8 đến hồi thứ 12</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tác giả nêu lên nguyên do đi thỉnh kinh và giới thiệu lai lịch ngài Huyền Trang cùng các đệ tử tùy tùng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhơn một buổi họp của các vị Phật, Bồ tát, La Hán tại Lôi Âm Bửu Các, đức Như Lai cho biết có ba tạng kinh gồm có năm mươi bốn ngàn một trăm bốn mươi bốn quyển (54.144) là phép chơn tu (trang 88 - Tây Du ký Bình khảo, Phan Quân).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nay Phật muốn đưa các bộ kinh đó về Đông độ, nhưng còn e ngại chưa có ai khuyên dạy. Đức Quán Thế Âm Bồ tát mới thưa rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Tôi tuy bất tài, song trước bổn phận trọng đại, xin qua đó tìm một người đi thỉnh kinh (qua Đông độ)". Đức Như Lai chấp thuận.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi Quán Thế Âm Bồ tát bái tạ Phật tổ lui ra, gọi Huệ Ngạn là đệ tử (nguyên là Mộc Tra thái tử, con của lý Thiên Vương) cùng xuống núi Linh Sơn, rồi đi sang Đông độ tìm người thỉnh kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Trước tiên, Quan Âm và Huệ Ngạn gặp một yêu quái, trước là Quyện Liêm đại tướng vì lỡ tay làm bể đèn lưu ly tại đại hội bàn đào nên bị Thượng đế đày xuống hạ giới. Quan Âm khuyên bảo nên chịu phép quy y và được đặt tên là <B>Sa Ngộ Tịnh</B>, ở lại đợi người đi thỉnh kinh thì sẽ đi theo.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) Rồi lần sau gặp một yêu tinh, nguyên trước kia là Thiên Bồng Nguyên Soái ở sông Ngân, rủi bị say đi lạc vào cung Nguyệt, chọc ghẹo Hằng Nga, bị Thượng đế đày xuống hạ giới, đầu thai vào heo nái rừng, Quan Âm thí phát cho tinh, bảo phải ăn chay cử mặn, mới được ngài cứu độ, và đặt tên là <B>Trư Ngộ Năng</B>, ở lại đấy chờ đi cùng với người thỉnh kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(3) Lần thứ ba gặp một con rồng bạch treo lơ lửng giữa lưng trời, trước là thái tử con Long vương Ngao Thuận ở biển Tây, vì quá ham chơi, đốt quả châu trước đền, bị Thượng đế phạt treo nơi này, chờ ngày hành quyết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quán Âm liền gọi Huệ Ngạn cùng đằng vân lên Thiên cung xin xóa tội cho rồng, và bảo ở lại tại khe dưới núi đợi người thỉnh kinh đến thì biến thành <B>ngựa kim</B> chở người đi qua vạn dặm.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(4) Lần sau cùng, hai thầy trò Quan Âm đến núi Ngũ Hành Sơn thấy hào quang chói lọi, đó là lá bùa của Phật Tổ ếm lên chóp núi, đè Tề Thiên dưới chân núi. Quan Âm biết là Ngộ Không và bảo cho Ngộ Không biết rõ ngài vâng sắc Phật Tổ Như Lai đến Đông độ tìm thầy thỉnh kinh. Ngộ Không xin Quan Am cứu thoát và nguyện một lòng quy y phụng Phật, tu hành chơn chánh, đợi người đi thỉnh kinh sẽ xin theo phò tá. Vì đã có tên là <B>Tôn Ngộ Không</B> rồi nên Quan Âm không đặt tên nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(5) Đoạn Quan Âm và Huệ Ngạn đi thẳng đến Tràng An, kinh đô của Đại Đường, dùng kế hiện ra hai vị thầy chùa ghẻ lác, dạo gót khắp kinh đô, dò la tin tức.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thuở ấy, nhân triều đại vua Đường Thái Tôn, vị vua thứ hai trong thế hệ nhà Đường, thầy Huyền Trang, đệ tử của Pháp Minh Hòa thượng đang ở tại chùa Kim Sơn<SUP><B>(4)</B></SUP>, liền gặp cha mẹ đến xin cho về chùa Hồng Phúc cho gần nhà để tiếp tục đường tu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhân một hôm, vua nằm mơ thấy một giấc chiêm bao xấu, nên bị đau nặng mới lo sợ ra lệnh cho các quan trong triều tìm một vị tăng sĩ chơn tu để đứng đầu một cuộc đàn chay chẩn tế cho các oan hồn được siêu rỗi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau một thời gian tìm kiếm, ba ông Ngụy Trưng, Tiểu Võ và Trương Đào Nguyên mới đưa ngài Huyền Trang đến giới thiệu và được yết kiến vua. Sau đó Huyền Trang về nghỉ ngơi tại chùa Hóa Sanh đợi đến ngày mồng 3 tháng chín năm Kỷ Tỵ (niên hiệu Trịnh Quang thứ 13) thì vào đám 49 ngày tụng kinh và thí thực cho các cô hồn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc này, Quan Âm ở núi Thổ Địa, nghe Đường Thái Tôn chọn Huyền Trang làm thầy cả của đám cúng chay. Ngài rất mừng đem tích trượng và áo cà sa (do Phật Tổ ban) giả vờ đi bán, để tìm cách chuyển cho Huyền Trang. Ngài cũng khuyên Huyền Trang nên qua nước Thiên Trúc, chùa Lôi Âm, thỉnh kinh cao về mới độ nổi vong.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi Quan Âm cho vua một lá điệp khuyên Đường Thái Tôn nên cho người đi thỉnh kinh. Vua bèn ban áo cà sa và tích trượng (do Quan Âm tặng cho vua) cho Huyền Trang và ủy thác cho ngài đi thỉnh kinh tại Tây Trúc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">3. <B>Từ hồi thứ 13 đến hồi thứ 98</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đoạn này, tác giả kể lại quá trình đi thỉnh kinh qua bao nhiêu gian nan nguy hiểm, thứ thách cam go, tai ương hoạn nạn, tưởng chừng không thể qua khỏi, có khi chết đi rồi được cứu sống lại nhờ các phép biến hóa của những vị thánh thần, Bồ tát, nhất là Quán Thế Âm Bồ tát, và cũng nhờ tài năng kiệt xuất của Tề Thiên Đại Thánh là vị đệ tử bậc nhất có nhiệm vụ bảo vệ thầy Huyền Trang, còn hai vị đệ tử Trư Ngộ Năng và Sa Ngộ Tịnh (Bát Giới và Sa Tăng) chỉ đóng vai phụ thuộc giúp sức mà thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tất cả qua 80 khổ nạn dọc đường, còn một nạn cuối cùng là do đức Quán Thế Âm Bồ tát thử thách cho đủ 81 nạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì "nơi cảnh Phật, có chín thứ tòa sen, mỗi chín thứ sắc, cộng tất cả là 81 cái tòa sen, Thánh Tăng chịu 80 nạn, còn thiếu một nạn nữa mới đủ" (trang 991, Tây Du ký Bình khảo - Phan Quân).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn mỗi lần đi qua một nước là phải trình điệp thông quan để lấy ấn cho phép của vua nước ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các nước đi qua được kể điển hình là: nước Bửu Trượng, nước Ô Kê, nước Xà Trì, nước Tây Lương Nữ quốc, nước Tế Thại, nước Châu Tử, nước Tỳ Khưu, nước Diệt Pháp v.v... (Theo cuốn Đại Đường Tây Vức Ký" thì ngài Huyền Trang đi qua 138 nước).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cuối cùng, đi qua sông Thông Thiên vào ngủ lại một đêm tại chùa Cứu Sanh rồi lại ra đi nữa. Nhưng mới đi được một đoạn đường thì Phật đã cho tám vị Kim Cang thần nổi gió, đưa bốn thầy trò đằng vân thẳng đến Tràng An.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">4. <B> Hồi thứ 99 và thứ 100</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đoạn này kết thúc cuộc du hành đi thỉnh kinh của mấy thầy trò ngài Huyền Trang, lúc về đến kinh đô Tràng An.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua Thái Tôn tiếp thầy Huyền Trang và các đệ tử tại Đông Các và truyền làm yến tiệc thết đãi. Tiệc xong, Tam Tạng tạ ơn vua rồi dẫn ba đệ tử về chùa Hồng Phúc, ở lại đợi ngày mai vua Thái Tôn lâm triều mới trình công việc thỉnh kinh và đem kinh đến chùa Nhạn Tháp, là nơi vua truyền các quan dọn dẹp sạch sẽ để ngài Huyền Trang giảng kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong lúc ngài Huyền Trang đang giảng kinh thì các vị Bát đại Kim Cang hiện ra lơ lửng giữa trời và gọi mấy thầy trò ngài Huyền Trang đưa lên mây rước về Tây phương ra mắt Phật Tổ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật Tổ nói Huyền Trang có công đi thỉnh kinh nên phong cho làm <B>Chiên Đàn Công Đức Phật</B>, Tôn Ngộ Không có công bảo vệ cuộc thỉnh kinh nên phong cho là <B>Đấu Chiến Thắng Phật</B>, Trư Ngộ Năng được làm <B>Tịnh Đàng Sứ Giả</B>, Sa Ngộ Tịnh làm <B>Kim Hân La Hán</B>, còn Bạch Mã có công chở thánh tăng và chở kinh về Đông độ nên được phong chức <B>Bát Bộ Thiên Long</B>.
<CENTER>
</CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1): <I>Nhà Hán học V.I. Xê Ma Nốp coi Tam Quốc, Thủy Hử, Tây Du ký là trung gian giữa anh hùng sử ca và tiểu thuyết. Xem bài: Tiểu thuyết anh hùng Trung Hoa và vai trò của nó trong việc thành hình nền văn học mới, in trong cuốn "Chủ nghĩa hiện thực và tương quan giữa nó với các phương pháp sáng tác khác" - Viện Hàn Lâm Khoa Học Liên Xô xuất bản - Matxcơva 1962. (Ghi chú trong "Lời Giới Thiệu của Lương Duy Thứ).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) Lý Thang: <I>Là một nhân vật đời xưa, tại xứ Bắc Vệ (một trong 12 nước nhỏ Chư hầu của nhà Chu bên Tàu: Tề, Sở, Tấn, Tần, Lỗ, Vệ, Tống, Yên, Trịnh, Tào, Trần, Sái. - Nước Vệ thuộc huyện Kỳ, tỉnh Hà Nam ngày nay) - (Trung Quốc Sử Lược - của Phan Khoang - Mai Lĩnh xuất bản, Hà Nội 1943).<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo cuốn La Chine à Travers Les Âges của Linh Mục Léon Wieger S.J. (Imprimerie Hien Hien - 1924) thì Lý Thang có thể là một là một kiện tướng đã từng giảng thuyết đối thoại với Hoàng hậu họ Hồ, năm 506 TL. Trong bảng Nhân danh Mục lục (Index Biographique - trang 333) đoạn nói về Lý Thang, L. Wieger dùng chữ "sermonne la Reine Hou", mà ý nghĩa của chữ "sermonne: là vừa khuyên giải, vừa cảnh cáo.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(3) Lò Bát quái: <I>Theo Đạo học là lò để luyện linh đơn, gồm có tám cung: "Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài". Linh đan là loại thuốc trường sinh. Theo trong truyện thì Tề Thiên lúc bị bỏ vào lò đó, tìm cung Tốn mà núp. Vì cung Tốn ở trên đầu gió nên Tề Thiên nép tránh được lửa, nhưng vẫn bị khói xông lên hai mắt như nâu, Tề Thiên trở thành mắt lửa tròng vàng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tục truyền lò bát quái rơi xuống thành hỏa diệm sơn, làm cho đạo sĩ phải đọa (Tây Du ký Bình khảo - Phan Quân, trang 81).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(4): <I>Theo "Tây Du Bình khảo", lai lịch thầy Huyền Trang như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cha là Trần Quang Nhụy, thi đậu Trạng Nguyên, đời vua Đường Thái Tôn, hiệu Trịnh Ngươn năm thứ 13 (Ất Tỵ). Lúc bấy giờ, quan Thừa tướng Ân Khai Sơn có con gái là Ân Kiều muốn bói duyên, gieo cầu trúng nhằm mão của Quang Nhụy, nên vợ chồng Ân Khai Sơn mới gả tiểu thơ cho Quang Nhụy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trần Quang Nhụy được vua Thái Tôn bổ Tri châu tại Giang Châu; lúc này Quang Nhụy đã là chồng của con gái quan Thừa tướng, nên hai vợ chồng sửa soạn ra đi phó nhậm, và rước mẹ của Quang Nhụy là Trương Thị cùng đi. Giữa đường Trương Thị lâm bệnh phải tạm trú lại, còn hai vợ chồng Quang Nhụy tiếp tục lên đường. Khi đến bến đò Hồng Giang, gặp bọn Lưu Hồng và Lý Bưu là bọn bất lương sống về nghề đưa đò. Lưu Hồng mới giết Quang Nhụy ném xuống sông, rồi chiếm doạt vợ. Lúc ấy vợ Quang Nhụy đang có thai. Về sau, Ân Kiều tiểu thơ sanh ra một đứa con trai, nhưng vì Lưu Hồng biết là con của Quang Nhụy, nên muốn giết đi. Nàng mới giả vờ nói là ngày mai sẽ đem nó liệng xuống sông.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi nàng tính kế đem dứa bé thả trôi sông. Nàng viết một phong thư bằng máu buộc lên trên bụng đứa bé, cắn nửa ngón chân bên trái làm dấu, xong buộc đứa bé lên trên một tấm ván thả trôi sông. Tấm ván tấp vào bến sông trước cửa chùa Kim Sơn và được Hòa thượng Pháp Minh vớt lên nuôi, đặt tên là Giang Lưu. Khi Giang Lưu lên đến mười tám tuổi, Pháp Minh liền thế phát cho Giang Lưu quy y, và đặt tên thánh là Huyền Trang.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhờ phong thư, dấu cắn ở chân nên về sau hai mẹ con Huyền Trang mới nhận ra nhau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Theo truyền thuyết, trước khi Ân Kiều tiểu thư sanh ra đứa con, một hôm đang lúc ra vườn khóc vì nhớ chồng, rồi té xỉu, liền nghe tiếng nói bên tai rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Ta là Nam Cực tiên ông, vâng lệnh Quan Âm Bồ tát đem cho nàng đứa con, sau này nó lớn lên khôn ngoan lắm, danh tiếng lẫy lừng, nàng phải hết lòng bảo hộ kẻo Lưu Hồng giết nó! Long Vương đã cứu sống chồng nàng, ngày sau mẹ con, chồng vợ gặp nhau, nối lại duyên xưa, trả thù báo oán".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Còn Quang Nhụy trước kia có mua một con cá biết nháy mắt, và thả xuống sông phóng sinh. Con cá ấy chính là Long vương mắc nạn. Sau này, Quang Nhụy bị giết ném xuống sông thì Long vương cho đem thây Quang Nhụy, cạy miệng bỏ "hột châu định nhan" vào. Thây ấy tươi mãi không rã. Chờ đến lúc mãn tai nạn thì được cứu sống lại và đoàn tựu với vợ con (Tây Du Ký Bình khảo - Phan Quân, trang 97-98 và 103-104).</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<CENTER>Chương IV
<B>NHỮNG SỰ THỊ HIỆN CỦA BỒ TÁT QUÁN THẾ ÂM
(TRONG TÂY DU KÝ)</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như chúng ta dã biết khi nói đến truyện Tây Du Ký thì ai ai cũng nghĩ đến sự cứu độ của Qán Thế Âm Bồ tát đối với Pháp sư Huyền Trang.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mặc dầu trong các hồi kể truyện cũng có những trường hợp ngài Huyền Trang được các vị như: Thái Bạch Kim Tinh, Địa Tạng Vương Bồ tát, các vị thần Lục Đinh, Lục Giáp, Yết Đế, Công Tào, Quảng Mục Thiên Vương, Linh Kiết Bồ Tát, Quốc Sư Bồ tát v.v... giúp đỡ, nhưng phần lớn là đức Quán Thế Âm Bồ tát đã ứng hiện để giải cứu các tai ách hoạn nạn cho Pháp sư nhiều hơn các vị khác.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cho nên trong các đoạn chuyện trích ra sau này, chúng ta chỉ lưu ý đến những trường hợp có sự thị hiện của Quán Thế Âm Bồ tát, không những để cứu độ mà thôi, mà có khi để khuyên giải, chỉ dạy và hướng dẫn những hành động có lợi cho đoàn thỉnh kinh của ngài Huyền Trang.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. Lần đầu tiên trong truyện Tây Du Ký mà Quan Âm thị hiện là lúc phó hội Bàn đào<SUP><B>(1)</B></SUP> do Vương Mẫu nương nương là vị tiên cai quản cung Diên Trì cũng là chúa các vị tiên mở ra đển mời các vị Phật Tổ Tây phương, Quan Âm bên Nam Hải, Sùng Ân bên Đông Khê, Huỳnh Linh bên Bắc địa, Huỳnh Giác ở Trung ương, Ngọc Hoàng Thượng đế v.v... đến dự.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đoạn đầu hồi thứ sáu trong truyện viết như sau: "Giữa lúc hỗn loạn ở Trung giới thì nơi thiên đình Quan Âm Bồ tát ở núi Phổ Đà, thuộc Nam Hải<SUP><B>(2)</B></SUP> được tin Vương Mẫu nương nương mời phó hội. Quan Âm cùng đệ tử là Lý Mộc Tra, pháp danh Huệ Ngạn đến cung Diên Trì, thấy cỗ bàn đã lỡ hết, còn mấy vị tiên không ngồi vào bàn tiệc, cứ bàn luận việc Tề Thiên.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc này là sau khi Ngộ Không phá quấy: ăn vụng hết đào, uống trộm và đánh cắp rươu tiên, ăn hết cỗ bàn, uống hết thuốc linh đơn, rồi chạy trốn về động Thủy Liêm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm mới sai Huệ Ngạn, rồi đến Nhị Lang Hiển Thánh (tên là Dương Tiễn) xuống dùng pháp thuật để bắt Tề Thiên không được, bèn định quăng tịnh bình<SUP><B>(3)</B></SUP> xuống đập đầu Ngộ Không, nhưng Thái Thượng Lão Quân can không nên làm thế vì sợ vỡ bình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thái Thượng bèn cởi chiếc vòng gọi là Kim Cang trát (hoặc Kim cang sào) quăng xuống xẹt ngay đầu Tề Thiên té nhào xuống đất. Nhị Lang Hiển Thánh cùng sáu người xúm lại bắt Tề Thiên trói lại đem giao chư thần Lục Đinh, lục Giáp dẫn lên Thiên tào để Thượng đế trị tội.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">2. Đến lúc Phật Thích Ca muốn cử một vị Bồ tát qua Đông Độ (Trung hoa) tìm người thỉnh kinh thì Quan Âm xin lãnh nhiệm vụ tìm người ấy. Một đoạn trích ở hồi thứ tám nói như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Quan Âm Bồ tát bước tới thưa:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tôi tuy bất tài, song trước bổn phận trọng đại, xin qua đó tìm một người đi thỉnh kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như Lai đẹp dạ nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi có phép thần thông, song cũng phải cẩn thận. Ta sẽ cho ngươi năm phép báu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đoạn Phật Tổ sai Ác Nan, Ca Diếp lấy áo cà sa và cửu hườn tích trượng giao cho Quan Âm và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Người đi thỉnh kinh phải cho mặc áo cà sa để khỏi đọa luân hồi, cầm tích trượng để khỏi bị lụy thân<SUP><B>(4)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm lạy tạ và nhận lãnh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như Lai lấy ra ba cái cô nhi<SUP><B>(5)</B></SUP> và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ba cái cô nhi này, khi cần thì đọc chú ba lần, nó biến hóa trừ yêu. Nhưng gặp yêu phải dùng lời khuyên răn làm căn bản, cốt thu phục chúng làm đệ tử theo phò kẻ thỉnh kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm bái tạ nhận phép lui ra, gọi Huệ Ngạn cùng đi".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đó ta đã biết hai thầy trò Quan Âm gặp Sa Ngộ Tịnh (Sa Tăng) tại sông Lưu Sa và độ cho, rồi khuyên ở đấy đợi người thỉnh kinh đến thì đi theo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi gặp Trư Ngộ Năng (Bát Giới) tại một hòn núi cao, cũng độ cho Trư Ngộ Năng và bảo ăn chay cữ mặn, ở đó đợi người thỉnh kinh đến thì đi theo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lần thứ ba cứu cho rồng bạch là con của Long Vương Ngao Thuận khỏi bị phạt treo lơ lửng (đợi hành quyết xử tội) và bảo ở lại tại khe dưới núi đợi người đi thỉnh kinh đến sẽ biến hóa ra ngựa kim chở người đó đi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau cùng đến cứu Tề Thiên bị đè dưới núi Ngũ Hành thì trường hợp này đặc biệt hơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong "Tây Du Ký Bình Khảo" của Phan Quân, đoạn nói về việc ấy như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Thầy trò Quan Âm đến đỉnh núi thấy có bùa đề sáu chữ "Am, Ma, Ni, Bát, Mê, Hồng"<SUP><B>(6)</B></SUP>. Quan Âm xem xong động lòng ngồi than thở. Tề Thiên nằm dưới chân núi, nghe tiếng than thở bèn kêu lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hình như có ai nói gì ta đó?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm bước xuống dưới chân núi, thấy Sơn thần Thổ địa canh giữ. Còn Tề Thiên bị núi đè, chỉ ló một cái đầu, đôi mắt láo liên như muốn tìm người cầu xin cứu nạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm cảm động hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngộ Không có biết ta chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tề Thiên quay lại nhìn Bồ tát, gật đầu:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tôi biết Bồ tát từ ngày ở Nam Hải, núi Phổ Đà. Hiệu là Quán Thế Âm. Chẳng hay Bồ tát có việc chi, lạc đến núi này?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta vâng sắc Phật Tổ Như Lai đến Đông Độ tìm thầy thỉnh kinh, nên đi ngang qua đây.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi Ngộ Không buồn bã, nói với Quan Âm rằng đã ăn năn biết lỗi, xin sửa mình theo Phật, nguyện quy y phục thiện.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm bảo Ngộ Không đợi ngài xuống Đông Độ nước Đại Đường tìm người thỉnh kinh, người ấy sẽ qua đây và cứu độ cho, rồi thu làm đệ tử.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm từ giã và cùng với Huệ Ngạn tiếp tục lên đường đi về Kinh đô Tràng An.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">3. Đến hồi thứ 14, khi ngài Huyền Trang nhờ tên thợ săn Lưu Bá Khâm cứu thoát khỏi tai nạn bị vây giữa hai con hổ đói, hai con rắn và chó sói, heo rừng định ăn thịt, thì sau đó ngài tiếp tục đi qua, có Lưu Bá Khâm tiễn lên đường đến núi Ngũ Hành. Núi này đã do Đường Thái Tôn đi đánh Tây Liêu qua đó, đổi tên khác là núi Lưỡng Giác.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc Pháp sư Tam Tạng<SUP><B>(7)</B></SUP> gặp Tề Thiên bị đè dưới núi thì Tề Thiên hỏi Tam Tạng rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thầy có phải là Hòa thượng thỉnh kinh chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi trong lúc Tam Tạng chưa làm cách gì cứu, đang ngẫm nghĩ thì Tề Thiên nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Muốn cứu tôi, thầy chỉ gỡ lá bùa có sáu chữ dán trên chóp núi thì tôi vùng dậy được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong truyện, đoạn này nói như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Lưu Bá khâm cùng đi với Tam Tạng, trèo qua những gộp đá cheo leo, hồi lâu mới tới chóp núi, thấy hào quang muôn trượng, hơi ấm ngàn trùng, trên tấm đá vuông có dánh bùa lục tự "Ám, Ma, Ni, Bát, Mê, Hồng". Chữ bằng màu vàng, Tam Tạng bước tới quỳ lạy, vái:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đệ tử là Trần Huyền Trang, vâng lệnh Đường Thiên Tử đi thỉnh kinh về Đông Độ. Nếu phải phần tôi gỡ bùa lục tự cứu Thần hầu, thì xin Phật Tổ y cho, để dùng người bảo hộ trên đường gian nan vạn dặm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vái xong đưa tay lên gỡ. Bỗng có trận gió thổi tới, lá bùa vàng bay lên vầng mây bạc. Trên không lại có tiếng nói vọng xuống:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta là La Châu giữ gìn Đại Thánh, nay mãn hạn đem bùa này dề dâng lại cho Như Lai.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đó, Tề Thiên bảo hai người chạy ra xa mấy dặm vì sợ khi Đại Thánh vùng dậy thì núi đá tung ra đè chết. Khi hai người đang chạy xa một quãng hơn bảy, tám dặm, bỗng nghe một tiếng "ầm" như long trời lỡ đất, Tề Thiên Đại Thánh hiện ra trước mắt ngài Huyền Trang, nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đệ tử đến đây xin lạy thầy bốn lại tạ ơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi sau khi Lưu Bá Khâm từ giã hai thầy trò Tam Tạng và Tề Thiên để trở về nhà thì hai người tiếp tục đi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng sau khi đi mấy tháng trời, ngày đi đêm nghỉ, Thu hết, Đông sang thì một hôm gặp sáu tên cướp ra đón đường, có trang bị vũ khí, cung tên, giáo mác và chúng bắt hai thầy trò Tam Tạng phải nộp tiền mãi lộ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì muốn cứu thầy, Tề Thiên đánh chết bọn cướp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng la rầy Tôn Hành Giả<SUP><B>(8)</B></SUP>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"> vì không muốn đệ tử mình phạm tội sát sanh, nhưng Tôn Hành Giả giận bỏ đi, vút nhảy lên mây biến mất về phía Đông.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng ngồi một mình bơ vơ, quạnh quẻ, buồn hiu; đoạn gác hành lý lên yên, chống gậy dắt ngựa đi tới, vừa đi vừa than thở trong bơ vơ hoang lạnh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về sau gặp một bà già cho một chiếc áo vải gấm, và một chiếc mão vàng, bà ta nói rằng của con bà lúc vừa lên Hòa thượng ba ngày thì lìa trần. Bà ta mới đem áo này về làm kỷ niệm; nếu Huyền Trang có đệ tử thì bà sẽ tặng hết vật này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng cảm ơn, rồi bà già dạy cho Tam Tạng học thuộc lòng mấy câu thần chú "Định tâm chơn ngôn" để khi Tề Thiên đội mão, mặc áo vào, nếu không nghe lời thì Pháp sư sẽ niệm chú "định tâm", viền vàng nơi mão sẽ xiết lại, khiến cho Tề Thiên nhức đầu phải chịu phép.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng liền tạ ơn và bà già hiện hào quang bay về hướng mặt trời mọc. Tam Tạng biết là Quan Âm hiện xuống truyền thần chú, vội vã quỳ lạy giữa thinh không, tạ ơn Bồ tát, rồi lấy áo mão cất vào gói.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về phần Tôn Ngộ Không sau khi giận thầy từ giã Tam Tạng, bay về Đông Hải, vào biển viếng Long Vương Ngao Quảng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhân lúc tiếp chuyện với Ngao Quảng, Tề Thiên thấy một bức tượng trên vách và hỏi Ngao Quảng. Ngao Quảng bèn kể lại tích của Trương Lương đời Hán lượm dép và mang vào cho Huỳnh Thạch Công ba lần, rồi nhân đó khuyên Tề Thiên nên có chí kiên nhẫn, vì Trương Lương nhờ có đức tính này mà được Huỳnh Thạch Công cho ba cuốn binh thư và lớn lên làm quân sư phò vua Hán Cao Tổ gồm thâu thiên hạ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau câu chuyện này, Tề Thiên liền nhảy lên mặt biển. Bỗng gặp Quan Âm, ngài bảo Tề Thiên phải về gấp để bảo vệ Tam Tạng và Tề Thiên vâng lời Quan Âm bay về đường cũ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Pháp sư Tam Tạng liền trao áo mão cho Tôn Hành Giả. Tôn Hành Giả mừng rỡ mặc áo và đội mão vào. Tam Tạng liền niệm chú "định tâm", Tôn Hành Giả la lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chao ôi! Nhức ran cả đầu chắc bể sọ chết mất.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả lấy kim nơi tai<SUP><B>(9)</B></SUP> ra cạy niềng vàng nơi mão. Tam Tạng sợ Tôn hành Giả làm hư mão lại niệm chú, làm cho Tôn Hành Giả nhức đầu quá, nhào lộn, mặt mày sưng húp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả biết Phật Bà Quan Âm truyền chú cho Tam Tạng, nên rùng mình sợ sệt quỳ xuống lạy, van xin theo phò hộ thầy cho đến Tây phương, luôn luôn theo lời thầy chỉ dạy, không còn oán hận nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Hội Bàn đào: <I>Theo tục lệ ở vườn đào cứ ba ngàn năm thì một vườn đào chín, hái được ba giỏ, kỳ đó là tiểu hội; rồi sáu ngàn năm vườn đào thứ nhì chín, hái đầy sáu giỏ, kỳ đó là trung hội. Đến giáp chín ngàn năm, vườn đào thứ ba chín, hái đầy chín giỏ. Kế đó là đại hội mới đủ mặt tiên thần đến dự (Chú thích của Tây Du Ký Bình Khảo - Phan Quân, trang 63).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) Núi Phổ Đà: <I>Thuộc Nam Hải. Tại Trung Hoa, có bốn ngọn núi cao có tiếng linh thiêng gọi là Tứ đại danh sơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đó là Ngũ Đài Sơn, trong tỉnh Sơn Tây, theo tục truyền trên đó có đức Văn Thù Sư Lợi Bồ tát ngự trị; Nga Mi Sơn trong tỉnh Tứ Xuyên, có đức Phổ Hiền Bồ tát; Cửu Hoa Sơn tại tỉnh An Vệ, có đức Địa Tạng Bồ tát; và Phổ Đà Sơn là một ngọn núi trên một hòn đảo ở bờ biển tỉnh Chiết Giang, gọi là Nam Hải Phổ Đà Sơn, cao hơn mặt biển 1000 bộ (300m) là nơi đức Quan Âm thường ngự trị (Theo tài liệu Le Bouddhisme en Chine của Dr. André Migot - Tạp chí France-Asie - Précence du Bouddhisme - Frévrier-Juin, 1959).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cho nên bây giờ ta có câu niệm: "Nam Mô Phổ Đà Sơn Đại Bi Quán Thế Âm Bồ tát", và trong mười hai điều nguyện của kinh Phổ Môn có điều nguyện thứ hai là: "Nam mô nhất niệm tâm vô quái ngại, Quan Âm Như Lai thường cư Nam Hải nguyện", là căn cứ nơi điểm này.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(3) Tịnh bình: <I>Tịnh bình hay thanh tịnh bình là bình đựng nước Cam lồ tịnh thủy, Quan Âm thường cầm trong tay. Nói về nước Cam lồ tịnh thủy thì phải nhắc đến Dương chi. Dương chi là cành dương liễu. Câu nguyện thứ năm trong kinh Phổ Môn là: "Nam mô thanh tịnh bình, thùy dương liễu, Quan Âm Như Lai cam lồ sái tâm nguyện".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo tài liệu "Ý nghĩa nước trong các Đạo" (của bác sĩ Nguyễn Xuân Chữ, đăng trong Tạp chí Đuốc Tuệ - Bộ mới - số Xuân Bính Ngọ - 1966), có đoạn như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dương chi tịnh bình sái tam thiên, Diệt tội tiêu khiên, hỏa diệm hóa hồng liên.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Và trong Quang minh Tư Kinh, có các câu:
<p style="padding-left: 30px;">Dương liễu chi đầu thùy pháp lực
Cam lồ tịnh thủy ứng linh đan
Tam thiên thế giới tiêu trần cấu
Vạn ức âm hồn thoát nghiệp oan.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đại ý đều nói: Nước "dương chi tịnh thủy" hay "cam lồ tịnh thủy" nhỏ khắp tam thiên, tiêu trừ các tội lỗi hóa hoa sen hồng. Nước "dương chi tịnh thủy" tiếng Phạn gọi là "Đan sa da sắt xá", dịch ra Hán văn là xỉ mộc (vì tục Ấn Độ dùng nước dương liễu đánh răng. Cũng dùng để tiếp khách chữa bệnh).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngày nay trong các buổi lễ: An vị Phật về nhà mới, cầu siêu cho người mới chết, ta thường thấy các vị tu hành chủ lễ rảy nước làm phép. Nước này thường là nước mưa, và gọi là nước Cam lồ. Cam lồ là nước ngọt.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong Thành ngữ Điển tích của Trịnh Văn Thanh, Tập I trang 188, có nói đến "Dương chi thủy" như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Đời nhà Tấn, nhà Thạch Lặc có người con trai đau nặng đến ngất xỉu đi, Phật Đồ Trừng là người xứ Thiên Trúc (xứ Phật) đến nhà Lặc thấy vậy liền dùng cành dương liễu nhúng vào nước rảy lên mình người bệnh, tức khắc tỉnh lại và sau đó được lành bệnh. Nguyên ngày trước, đức Quán Thế Âm Bồ tát đã dùng bình ngọc đựng phép của Phật và lấy cành dương liễn nhúng vào nước phép trị bệnh cho những người tật bệnh được tiêu trừ, nên tiếng "Dương tịnh thủy" dùng để nói nước phép của Phật trong cành dương liễu".</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(4) Áo cà sa và tích trượng: <I>Hai vật này sẽ được Bồ tát Quan Âm tặng cho vua Đường Thái Tôn để trao lại cho thầy Huyền Trang trong dịp lễ đàn tràng cầu siêu phổ độ cho các vong linh hoan hồn được siêu thoát (hồi thứ 12, Tây Du ký Bình khảo của Phan Quân).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(5) Cái cô nhi: <I>Là cái vòng tròn (gọi là vòng kim cô) có phép biến hóa thần thông. Sau này thầy Huyền Trang được Quan Âm trao và dùng gắn lên mão cho Tề Thiên đội. Khi nào Tề Thiên có nổi chướng phá quấy hoặc vô kỷ luật thì Pháp sư niệm chú xiết lại làm cho nhức đầu chịu không nổi phải phục tòng nghe theo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chú xiết vòng gọi "chú cẩn cô", còn chú nới vòng ra gọi là "chú tòng cô" (Tây Du Ký Bình khảo, Phan Quân , hồi thứ 17, trang 265).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(6) Úm Ma Ni Bát Mê Hồng: <I>Có chỗ ghi là "Án ma ni bát di hồng" hoặc là "Úm ma ni bát nạp minh hồng" là một câu thần chú gọi là Lục tự đại minh chơn ngôn, tiếng Phạn là "Ohm Mani Padme Hum" mà người Tây phương thường dịch ra như sau:
<p style="padding-left: 30px;">- Om = salut.
- Mani = au joyau
- Padme = dans la fleur de lotus.
- Hum = salut.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cả câu là: "Salut au joyau dans la fleur de lotus salut", nghĩa là "xin chào viên ngọc báu trong hoa sen, xin chào" Theo sự giảng giải của các vị sư bên Tây Tạng thì "viên ngọc báu trong hoa sen" này là Quán Thế Âm Bồ tát (Chen-sezi tiếng Tây Tạng), (Ghi theo cuốn Tibet Secret "Tây Tạng huyền bí" của Fosco Marani - B. Arthaud - Paris VI<SUP>èm</SUP>, - 6, Rue Mezières - 1952, trang 98).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương, quyển IV có đoạn như sau: "Khi bấy giờ đức Liên Hoa Thượng Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, bảo ngài Quán Tự Tại rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thiện nam tử! Hãy nói sáu chữ Đại Minh Đà La Ni này cho ta, ta vì vô số trăm ngàn vạn câu chi na khố đa hữu tình, khiến họ được xa lìa luân hồi khổ não, mau chứng Vô thượng Bồ đề Chánh đẳng chánh giác.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bấy giờ ngài Quán Tự Tại Bồ tát nói sáu chữ Đại Minh Đà La Ni cho Liên Hoa Thượng Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác rằng: "Úm Ma Ni Bát Nạp Minh Hồng".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi đang nói sáu chữ Đại Minh Đà La Ni này, bốn đại châu và các cung trời, thảy đều chấn động rung lay như tàu lá chuối. Nước bổn biển lớn sóng nổi cuồn cuộn, tất cả quỷ Tỳ Na Dạ Ca và Dược Xoa, La Sát, Cũng Bàn Noa, Ma Ha Cà La v.v... và các quyến thuộc của các Ma làm chướng ngại ấy, thảy đều sợ hãi chạy trốn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc bấy giờ ngài Liên Hoa Thượng Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác, duỗi tay ra như mũi tượng vàng, trao cho Quán Tự Tại Bồ tát chuỗi chơn ngọc anh lạc giá trị trăm ngàn để dùng cúng dường.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài Quán Tự Tại Bồ tát đã thọ nhận rồi, đem đâng lên đức Vô Lượng Thọ Như Lai Ứng Chánh Đẳng Giác" (Kinh Đại Thừa Trang Nghiêm Bảo Vương gồm bốn quyển thuộc Mật Tông do Sa môn Thích Viên Đức dịch. In tại nhà in Hạnh Phúc, số 69 đường Lê Văn Thạnh, Gò Vấp, Gia Định - 1973).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(7) Tam Tạng: <I>Tên này là do vua Đường Thái Tôn đặt cho pháp sư Huyền Trang khi giao cho ngài nhiệm vụ đi thỉnh kinh - Trong truyện thường dùng tên này cho dễ vì ngắn gọn hơn (Hồi thứ 12, trang 126, Tây Du Ký Bình Khảo - Phan Châu).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(8): Tôn Hành Giả <I>Do Pháp sư Huyền Trang đặt cho sau khi cứu Tề Thiên khỏi bị đè dưới núi Ngũ Hành (Hồi thứ 14, trang 139).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(9): <I>Cây kim này là cái Thiết bảng Như Ý Kim Cô mà Tề Thiên làm phép cho nó hóa nhỏ lại để dắt vào bên tai (Hồi thứ 3, trang 42).</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">4. Sau một thời gian lâu mấy tháng đi vất vả, hai thầy trò đến núi Xà Bàng, có con suối Ưng Sầu<SUP><B>(10)</B></SUP> chảy dựa theo mé núi, tiếng nước vang lên ồ ồ. Bỗng có một con rồng nhỏ hung hăng hiện lên bắt con ngựa kim của Tam Tạng nuốt sống luôn cả yên cương. Tôn Hành Giả thấy mất ngựa mà không biết đâu, liền muốn đi tìm, nhưng sợ không ai bảo vệ thầy nên than thở.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng có các thần Lục Đinh, Lục Giáp, năm phương Yết Đế, bốn vị Công Tào hiện ra nói: Quan Âm Bồ tát sai mấy vị đó xuống phò hộ kẻ thỉnh kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng nghe nói yên lòng và Tề Thiên đến suối kêu rồng ra đòi trả ngựa lại, rồi đánh nhau với rồng. Rồng xem chừng không địch nổi, biến thành con rắn nước chui vào bụi rậm. Tôn Hành Giả kiếm mãi không thấy mới định đi thỉnh Quan Âm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng có thần Yết Đế nói ở trên mây rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tôi là thần Yết Đế đầu vàng, tin cho Đại thánh biết: hãy ở lại bảo hộ thầy Tam Tạng để tôi đi thỉnh Bồ tát cho. Tôn Hành Giả mừng rỡ nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tốt lắm! Tốt lắm! Ta cảm ơn ngươi đấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thần Yết Đế mới bay thẳng đến núi Lạc Đà, đi vào rừng Tử Tước, ra mắt Quan Âm thuật chuyện. Quan Âm mới rời khỏi Nam Hải, đến núi Xà Bàng, và sau khi nghe Tôn Hành Giả tâu lại mới nói rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con rồng ấy phạm tội, nhờ ta cứu thoát và bảo nó ở đây chờ người thỉnh kinh, làm ngựa cho thầy ngươi cỡi, kẻo ngựa phàm tục biết bao giờ mới tới Tây phương.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi bảo thần Yết Đế:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi mau xuống mé suối, kêu lớn như vầy: "Rồng Ngọc thế tử Long vương! Mau lên ra mắt Quan Âm".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Yết Đế mới theo lời Quan Âm kêu Rồng Ngọc lên. Rồng Ngọc đến trước mặt Quan Âm quỳ lạy và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tôi là Rồng Ngọc nhờ ơn Bồ tát cứu mạng, tuân lời ở suối này, chờ mãi đến nay chưa thấy người thỉnh kinh đến.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nguyên vì Rồng Ngọc khi đánh nhau với Tôn Hành Giả có hỏi Tôn Hành Giả là ai, mà Đại thánh không nói. Cho nên Quan Âm trách Tôn Hành Giả làm phách lối, không mượn danh ai cả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm mới bảo Tôn Hành Giả:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Từ nay, ngươi theo Tam Tạng, đi dọc đường gặp ai, phải nói rõ là đi Tây phương thỉnh kinh, lỡ ra có gặp người của ta khỏi nhọc công đánh đập.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả cúi đầu vâng dạy. Quan Âm mới vội lấy trái châu nơi cổ Tiểu Long, rồi cầm cành dương liễu, nhúng nước cam lồ<SUP><B>(11)</B></SUP> rảy lên mình Tiểu Long, thổi một hơi, hít một tiếng, khiến Tiểu Long hóa thành con ngựa kim.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm vỗ đầu bảo:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi hết lòng đi tới Tây phương, đến đó sẽ được hóa mình vàng, sống lâu muôn thuở.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngựa kim ngậm hàm thiếc gật đầu. Quan Âm truyền Tôn Hành Giả dắt về cho Tam Tạng, rồi định trở lại Nam Hải
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng Tôn Hành Giả có ý nản chí sợ gặp nhiều nạn vì đường đi muôn ngàn dặm, núi non hiểm trở nên xin Bồ tát cho trở lui.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm Bồ tát mới ngắt ba lá dương liễu, để dưới ót Tôn Hành Giả, hết lên một tiếng, biến ra ba sợi lông dài, rồi bảo Tôn Hành Giả:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Lông này gọi là lông cứu mạng, gặp lúc biến có lông này che chở, không đến nổi bỏ mình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả mừng rỡ, cúi đầu từ tạ Bồ tát, dắt ngựa về thưa với thầy. Còn Quan Âm bay về Nam Hải. Rồi hai thầy trò Tam Tạng và Ngộ Không tiếp tục lên đường.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến một con suối, hai thầy trò nhờ một ông lão chài chống bè đưa qua sông, trả tiền đò, ông lão không nhận và chống bè xuôi theo dòng nước mất dạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại một lúc sau, hai thầy trò đến một ngôi miếu dựa bên sườn núi, Tam Tạng dừng ngựa thấy ba chữ trên tấm biển ở trước cửa: "Lý Xã Từ".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một chốc, có một ông lão đến mời tạm nghỉ trong miếu và dọn cơm chay cho hai thầy trò ăn. Tam Tạng xin tá túc một đêm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sáng ngày ông lão đem ra một bộ yên cương và một cây roi bằng gân cọp biếu Tam Tạng. Tôn Hành Giả thắng yên cương vào rồi hai người tạ ơn, từ giã lên đường.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đi một khoảng xa, Tam Tạng ngoái lại nhìn không thấy miếu đâu. Bỗng nghe trên mây có tiếng văng vẳng nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta là Sơn Thần Thổ Địa, vâng lệnh Quan Âm Bồ tát đem tặng yên cương và roi. Hòa thượng gắng bước lên đường kẻo ngày chầy tháng hết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng vội xuống ngựa quỳ lạy, vái:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kẻ mắt thịt xác phàm, xin cam thất lễ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi hai thầy trò tiếp tục đi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">5. Vào giai đoạn hai thầy trò Tam Tạng đến chùa "Quan Âm Thiền Viện". Sau khi lạy Phật Quan Âm, thì hai người gặp vị sư già trụ trì tại chùa cho hai người ở tạm trong chùa. Vị sư già này lại mời hai người uống trà trong chén ngọc để trên đĩa vàng, Tam Tạng mới khen là những vật báu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tề Thiên vì hiếu thắng mới đem áo cà sa của thầy ta khoe là vật báu cho các sãi trong chùa cùng xem. Sau khi thấy áo cà sa chiếu hào quang sáng lòa chói mắt, các sãi mới thất kinh le lưỡi lắc đầu, rồi vị sãi già như động đến lòng tham mới giả vờ mượn coi một đêm, sáng đem trả sớm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng thất kinh trách Tôn Hành Giả có tính khoe khoang, nhưng Tôn Hành Giả nói: "Chẳng hề chi, thầy cứ cho mượn nếu có điều gì bất trắc, đệ tử xin gánh chịu".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chẳng ngờ khi các sãi mưu tính đốt chùa cướp áo thì có con tinh Hắc Phong vào lấy cắp mất chiếc áo cà sa (hồi thứ 16).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn hai thầy trò Tam Tạng, nhờ Tề Thiên lên Nam Thiên Môn mượn lồng tịch hỏa của Quảng Mục Thiên Vương để bảo vệ thầy nên không việc gì.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi lửa tắt, Tề Thiên liền bay thẳng lên Nam Thiên Môn để trả lồng tịch hỏa, rồi quay về kêu thầy thức dậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng ngồi dậy, mặc áo mở cửa phòng ra thấy ngôi chùa cháy hết chỉ còn một đống lửa than, thất kinh mới hỏi Tôn Hành Giả, Tề Thiên mới kể lại tự sự, xong hai thầy trò mới vào phương trượng đòi áo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vị sãi già tìm không ra áo, sợ bị trị tội liền đập đầu chết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tề Thiên mới hỏi các sãi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Gần nơi đây có yêu quỷ nào ở chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các sãi nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Về phương Nam có núi Hắc Phong, chúa động ở đó thường chơi thân với thầy cả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi Tề Thiên dùng phép cân đẩu vân nhảy vọt lên mây đi đến núi Hắc Phong tìm áo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau dó, Tôn Hành Giả mới khám phá ra rằng chúa động Hắc Phong muốn mở hội Phật Y có mời nhiều bạn đến dự (hồi thứ 17).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi đánh nhau với Hắc Phong mấy lần mà con tinh này cứ chạy vào động đóng cửa, nên Thề Thiên mới qua Nam Hải cầu cứu với Quan Âm Bồ tát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm liền đằng vân đến núi Hắc Phong. Bỗng đi nửa chừng gặp một đạo sĩ đi dựa theo chân núi, tay bưng dĩa lưu ly đựng hai viên thuốc. Tôn Hành Giả lấy thiết bảng đập chết, xong giải thích cho Quan Âm rõ sự thật và kéo thây đạo sĩ ngồi dậy, coi ra là chó sói lông xanh, rồi xem đáy dĩa lưu ly có chạm bốn chữ: "Lăng Hư tử chế" (nghĩa là thuốc của thầy Lăng Hư làm ra).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả mới lập kế xin Quan Âm hóa làm đạo sĩ, còn Tôn Hành Giả nuốt hai viên thuốc, rồi thu hình hóa lại một hườn. Bồ tát bưng thuốc vào động, gạt yêu gấu uống cho Tôn Hành Giả vào được trong bụng nó phá phách cho nó đau đớn để nó chịu phép mà trả áo lại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quả nhiên, sau khi con yêu này uống thuốc xong thì nó đau đớn nhào lăn xuống đất xin tha.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm mới hiện nguyên hình nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nhà ngươi mau trả áo cà sa, ta sẽ tha cho khỏi chết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hắc Phong rên rỉ vội bảo tiểu yêu đem trả áo cà sa gấp. Hành Giả vọt chun ra, giựt lại áo cà sa giữ chặt.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm sợ Hắc Phong làm dữ, mới lấy kim quang quăng lên đầu Hắc Phong. Hắc Phong vừa định chồm dậy lấy giáo đâm Hành Giả thì Quan Âm niệm chú, Hắc Phong liền buông giáo, ôm đầu nhào lăn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi nên cải tà quy chánh, bỏ thói yêu tinh, quy y theo Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hành Giả định giết Hắc Phong, nhưng Quan Âm vì lòng từ bi nên muốn cho nó làm Thủ Sơn đại thần tại núi Lạc Đà. Quan Âm thí phát cho Hắc Phong rồi bảo cầm giáo theo hầu. Từ đó Hắc Phong ăn năn phục thiện, bỏ dử làm lành.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả lạy ta, Quan Âm dẫn Hắc Phong về Nam Hải.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">6. Đến lúc thu nhận Trư Ngộ Năng làm đệ tử, hai thầy trò Tam Tạng và Tề Thiên đi qua nước Ô Lư, xóm Cao Lão, tình cờ vào nơi cha mẹ vợ của Trư Ngộ Năng, gặp lúc Trư Ngộ Năng đang phá quấy nhạc gia, bắt vợ nhốt vào nhà sau, may có Tôn Hành Giả phá cửa vào cứu thoát. Rồi Tôn Hành Giả định bắt Trư Ngộ Năng, nhưng con yêu quái này đã bay về động Vân Sơn, núi Phước Lăng rồi. Tôn Hành Giả liền bay theo. Khi hai người đánh với nhau thì Tôn Hành Giả nói rõ việc theo thầy Huyền Trang đi thỉnh kinh ở Tây phương.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trư Ngộ Năng bèn nhớ lại lời Quan Âm khuyên tu niệm chờ người thỉnh kinh đi qua thì theo, bèn kể lại cho Tôn Hành Giả biết rằng trước kia y là Thiên Bồng Nguyên soái lỡ say ngự tửu đi lạc vào cung Nguyệt, trêu chọc Hằng Nga nên bị phạt đầu thai làm heo rừng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả liền kéo Trư Ngộ Năng về ra mắt Tam Tạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì bấy lâu Ngộ Năng đã chịu phép Quan Âm cữ ngũ huân tam yểm<SUP><B>(12)</B></SUP> là tám giới, chịu cực đợi thầy nên Tam Tạng mới đặt hiệu riêng là Bát Giới, gọi cả họ tên là Trư Bát Giới.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trư Bát Giới nhận Tam Tạng là sư phụ và Tôn Ngộ Không là sư huynh từ đó.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ba thầy trò đi đến nước Ô Lư Tạng tới núi Phù Lỡ, gặp Ô Sào thiền sư, Tam Tạng mới tỏ lời thân mật hỏi thăm đường đi Tây phương. Ô Sào thiền sư nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Còn xa lắm! Xa vời vợi mấy muôn dặm, song lòng thành đi lâu phải đến, dù rằng có nhiều yêu ma gây hoạn nạn. Tôi có Tâm kinh năm mươi bốn câu, cộng hai trăm bảy mươi chữ<SUP><B>(13)</B></SUP>. Nếu bị hoạn nạn thì niệm kinh, chuyện dữ cũng hóa lành.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng làm lễ xin truyền Tâm kinh. Ô Sào thiền sư vui vẻ, truyền đọc một hồi<SUP><B>(14)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng nghe qua, đọc thuộc lòng không hề sót một lời, rồi ba thầy trò tiếp tục đi (Hồi thứ 19).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi lúc đi đến sông Lưu Sa lại thu nhận Sa Ngộ Tịnh làm đệ tử (Hồi thứ 22). Sông rộng mênh mông, nước sâu thăm thẳm, sóng bủa gió gào, lại vắng bóng thuyền bè, không làm sao qua được<SUP><B>(15)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sa Ngộ Tịnh ở dưới sông hiện lên, hình thù dữ tợn, tóc đỏ rối chơm chởm, cổ đeo một xâu chuỗi bằng chín cái sọ người, chạy xốc lên bờ định làm dữ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trư Bát Giới ra đấu phép, đánh mãi mấy lần không bắt được, cả Tôn Hành Giả đánh cũng vậy, vì con quái này rất khôn, nó trốn dưới sông không chịu lên bờ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi hai bên giao đấu thì con yêu này cũng xưng lại lịch trước kia là Quyện Liêm tướng quân<SUP><B>(16)</B></SUP> lỡ đánh bể đèn lưu ly nên bị đày xuống làm quỷ tại sông Lưu Hà.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả mới bay đến núi Phổ Đà ở Nam Hải thỉnh Quan Âm xin chỉ dạy cách thu phục Ngộ Tịnh. Phật Bà đang xem sen nơi mé ao, nghe báo liền ngự về tòa sen, hỏi Tôn Hành Giả cớ sự.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả bạch:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Trên đường đi thỉnh kinh, thầy tôi đến xóm Cao Lão, thu được một ngườiđệ tử tên Ngộ Năng, đặt cho hiệu là Bát Giới. Nhưng nay đến sông Lưu Sa vì sông rộng quá mà không có thuyền bè, lại có con quái làm dữ không biết làm sao qua được. Ngộ Năng xuống đánh con thủy quái ba lần không thắng nổi. Tôi vâng lệnh sư phụ đến đây nhờ Bồ tát có cách nào đưa thầy tôi qua khỏi sông Lưu Sa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm mới sai Huệ Ngạn đi với Tôn Ngộ Không đến sông Lưu Sa kêu Ngộ Tịnh lên, dạy nó theo Tam Tạng đi thỉnh kinh, rồi bảo nó lấy chín cái đầu lâu kết vuông vức lại, để trái bầu vào giữa làm thuyền đưa Tam Tạng qua sông.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Huệ Ngạn cầm bầu bay đến sông Lưu Sa, kêu Ngộ Tịnh lên rồi làm y lời Quan Âm dặn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngộ Tịnh mới lên bờ quỳ lạy Tam Tạng được Tam Tạng thí phát cho, cạo sạch tóc đỏ, đặt tên là Sa Tăng<SUP><B>(17)</B></SUP>. Sa Tăng liền nhận Tam Tạng làm sư phụ, Tôn Hành Giả là đại ca và Ngộ Năng làm nhị ca.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi Sa Tăng cởi chuỗi Bồ đề, làm thuyền Bát nhã để bầu đỏ chính giữa, đưa Tam Tạng qua sông. Còn bốn người có phép đằng vân thì dắt ngựa thì dắt ngựa và quảy đồ bay theo bảo hộ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mọi người qua sông bình yên. Chín cái đầu lâu hóa ra chín làn khói bay tan theo gió.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thầy trò Tam Tạng quay về hướng Nam lạy tạ Quan Âm Bồ tát, rồi quay lại tạ ơn Huệ Ngạn. Huệ Ngạn thu bầu hồng trở về Nam Hải.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bốn thầy trò cùng nhau nhắm hướng Tây thẳng tới.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(10) Suối Ưng Sầu: <I>Suối này rộng và sâu, nước trong như mặt hồ gương, nên khi ó và quạ bay qua thấy bóng hình dưới nước, ngỡ là bầy của nó, đua nhau bay xuống suối bị nước chảy dốc cuốn chết rất nhiều. Vì vậy gọi là suối Ưng Sầu. Ưng Sầu là nơi chim ưng (ó) thường sầu thảm (Tây Du Ký Bình Khảo, Phan Quân, trang 154).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(11) Nước cam lồ: <I>Xem chú thích số (3) nơi chương này.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(12) Ngũ huân tam yểm: <I>Ngũ huân là năm món rau hôi nồng: hành, tỏi, hẹ, nén, hương vừ (có lẽ là cũ kiệu). Trong cuốn Dưỡng sanh Phật giáo của cô Diệu Minh (Võ Phụng Kiều) xuất bản năm 1932 - nhà in Bùi Văn Nhẫn, Bến Tre, có nói kiêng năm món rau cay nồng, nóng trược là: tỏi, hành, hẹ, nén, kiệu - trang 79.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam yểm là ba món thịt: thịt trâu, thịt bò và thịt nhạn. Vì cữ không ăn tám món đó nên gọi là Bát giới (Theo Tây Du Ký Bình Khảo, Phan Quân, trang 189).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng theo ông Lương Duy Thứ trong Tây Du Ký mới của nhà xuất bản Văn Học (CHXHCNVN- 1981) thì Bát giới là tám điều răn của nhà Phật. Trư là con lợn. Trư BátGiới có nghĩa là con lợn đã phá giới luật của nhà Phật (Tám điều ấy là: không sát sanh, không trộm cắp, không dâm dục, không nói bậy (nói dối), không uống rượu, không trang điểm, không nằm ngồi giường quá cao rộng, ăn chay (thật ra là <U>không ăn phi thời</U>), giống như <U>bát quan trai giới</U>. Những chữ có gạch dưới là chúng tôi bàn thêm).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(13) Tâm Kinh: <I>Ta nhớ lại việc truyền Tâm kinh (trong Phần II, chương II) thì câu chuyện khác hơn. Xem chú thích số (22) của chương II kể trên.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngoài ra so sánh số chữ ta thấy nói 260, nhưng vì ở đây người ta kể luôn cả đầu đề mười chữ nữa là 270 chữ (Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(14) Ô Sào thiền sư: <I>Chuyện này làm ta liên tưởng đến Điểu Sào thiền sư cũng ngồi tu thiền trên ổ chim, trong tích truyện Điểu Sào và Bạch Lạc Thiên (kèm theo tranh vẽ của Keishoki) kể như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">... Bạch Lạc Thiên là một nhà thơ đời Đường. Khi làm thái thú tại một vùng nọ, trong vùng quản hạt của ông có một thiền sư mà ai cũng gọi là Điểu Sào, vì sư thường tọa thiền trên một nhánh cây. Nhà thơ Thái thú một hôm đến viếng sư và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thiền sư ở chỗ gì trên cây nguy hiểm vậy?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sư vặn lại:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chỗ Thái thú càng nguy hiểm hơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Vị thế của đệ tử là trấn giang sơn, làm gì có nguy hiểm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thủy hỏa tương giao, thức tánh không dừng, vậy mà không nguy hiểm sao?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thái thú lại hỏi: "Phật pháp là đại ý gì?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sư đọc bài kệ này:
<p style="padding-left: 30px;">Chư ác mạc tác
Chúng thiện phụng hành
Tự tịnh kỳ ý
Thị chư Phật giáo.<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng Bạch phản đối: "Cái đó con nít lên ba tuổi cũng biết. Rồi sư ngồi trên cây mà kết luận: "Con nít ba tuổi tuy nói được, nhưng lão già tám mươi làm không được" (Thiền luận của D. T. suzuki - quyển hạ, trang 613).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(15) Sông Lưu Sa: <I>Rộng tám trăm dặm. Mặc dầu ta biết rằng các điều trong truyện phần nhiều là hư cấu, nhưng ta cũng nên suy qua về lối ấn dịnh giả tạo khoảng cách này xem sao:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong cuốn La Chine Entre En Scène, Timothy Richaud, một vị linh mục Hoa Kỳ, dòng Báp tít (Baptiste) đã đến tỉnh Chan Ai (Trung Hoa) từ năm 1878 cho biết rằng một lý = 600m (ghi chú dưới trang 127). Vậy một dặm - một lý - 600m.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như thế 800 dặm là: 800x600m = 480km. Vậy là quá lớn đối với bề rộng của một con sông trên hành tinh của quả đất này. Có lẽ đây là lúc con sông chảy theo một nhánh biển chăng? ("La Chine entre en Scène" của Roger Pélissier - Imprimerie Hérissey à Evreux - René Juillard - Editeur à Paris - 1964).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(16) Quyện Liêm tướng quân: <I>Chức vụ coi cuốn rèm cho vua. Vua ngự thì rủ rèm không cho quan thấy. Vua lui thì cuốn rèm (Tây Du Ký Bình Khảo, Phan Quân, trang 213).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(17) Sa Tăng: <I>Có nghĩa là thầy chùa ở sông Lưu Sa.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">7. Một ngày kia, bốn thầy trò Tam Tạng đi đến núi Vạn Thọ, có am Ngũ Trang, thấy trong am có một ông tiên. Ông tiên này tên là Trấn Ngươn Thỉ, hiệu là Dữ Thế Đồng Quân<SUP><B>(18)</B></SUP> (Hồi thứ 24).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong vườn của am có một cây báu. Tục truyền rằng khi mới có trời đất, đã sanh ra giống cây này gọi là thảo hườn đơn hay nhân sâm quả. Cứ ba ngàn năm mới nở bông, rồi ba ngàn năm nữa mới ra trái, đến ba ngàn năm sau trái mới chín. Tính gần tới muôn năm mới có ba mươi trái. Trái nó giống như đứa con nít mới sanh ba ngày, có đủ mặt mày, chân tay và ngũ tạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nếu người nào có phước được ngửi một trái, sống đặng ba trăm sáu mươi năm, còn ai ăn đặng một trái sẽ sống bốn muôn bảy ngàn năm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thầy trò Tam Tạng vừa bước vào cửa trong am, chợt thấy hai đạo đồng (tên là Thanh Phong và Minh Nguyệt) ra nghinh tiếp và thưa:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Xin mời quý khách vào trong nghỉ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Lịnh sư đi chu du nơi nào mà vắng mặt?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thanh Phong trả lời rằng thầy của y đi nghe Ngươn Thỉ giảng kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đoạn Thanh Phong dâng trà cho Tam Tạng. Minh Nguyệt bèn hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thầy có phải là Đường Tăng Tam Tạng đi Tây phương lạy Phật thỉnh kinh chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tam Tạng nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Phải! Sao tiên đồng biết rõ tên hiệu như vậy?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thanh Phong thưa:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Khi thầy tôi ra đi, có nói cho chúng tôi biết trước<SUP><B>(19)</B></SUP>. Xin mời sư phụ ngồi đây nghỉ ngơi để chúng tôi ra vườn hái quả dâng lên.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi hái xong, hai đồng tử đem vào dâng cho Tam Tạng và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nơi sơn dã không có của ngon vật lạ, xin dâng quả nhân sâm này, mời sư phụ tạm dùng xơi nước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng Tam Tạng thấy quả ấy giống hình đứa con nít sơ sanh nên không dám ăn, tưởng là thịt người.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai đồ đệ Trấn Ngươn tiên mời mãi mà Tam Tạng nhất định không ăn, cứ khư khư từ chối nên đành bưng vào phòng sau chia nhau ăn mỗi người một quả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nào ngờ Bát Giới và Tôn Hành Giả biết được có trái cây báu liền lập kế hai trộm để ăn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả lén lấy cây sào có móc vàng để hái quả nhân sâm, nhưng khi ra vườn hái quả đầu tiên nó rơi xuống đất thì biến mất. Tôn Hành Giả không biết lý do vì sao liền hỏi Thổ địa, vị này bảo cho Tôn Hành Giả biết rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Trái này gặp vật có chất vàng thì rụng, cây đụng đến thì khô, thân cây gần lửa thì cháy, trái rớt vừa tới đất thì biến mất. Bởi vậy hái nó phải dùng móc vàng, dưới hứng bằng đồ sành, có lót một ít hàng lụa cho êm mới hái được<SUP><B>(20)</B></SUP>. Nhưng để lâu ăn mất ngon, lại không còn chất trường sanh nữa. Đất này cấu tạo đã hơn bốn muôn bảy ngàn năm, tuy cứng như sắt mặc lòng, song trái cây này chun xuống dễ như chơi. Đó là một thứ quả rất quý.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả dứng ngẫm nghĩ hồi lâu, rồi nhảy vọt lên cây, một tay cầm móc vàng giựt quả, một tay lấy áo hứng, bọc được ba quả rồi đem về chia nhau ăn cùg với Bát Giới, Sa Tăng, mỗi người ăn một quả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong khi ăn, ba người nói chuyện với nhau chợt Thanh Phong, Minh Nguyệt nghe Bát Gới nó lảm nhảm:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ăn một trái nhân sâm, uổng miệng quá! Được một trái nữa ăn mới biết mùi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thanh Phong nghi ngờ liếc mắt nhìn không thấy cây sào kim bích đâu, giật mình mới cùng Minh Nguyệt ra vườn xem, thấy cửa vườn mở trống, rồi đến nơi gốc cây đếm lại chỉ còn hai mươi hai quả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai người nói với nhau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Có tất cả ba mươi trái, vừa rồi thầy hái hai trái chia nhau ăn, và chúng ta hái hai trái đãi Tam Tạng. Thế còn lại hai mươi sáu trái, cớ sao mất hết bốn trái. Chắc chúng nó hái trộm rồi!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Liền vào mách với Đường tăng và đổ cho mấy thầy trò ăn vụng quả nhân sâm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đường Tăng ngạc nhiên không biết việc gì mới khảo hỏi mấy đồ đệ và bảo nên khai thật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả liền thưa:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Việc này không phải đệ tử bày ra mà do Bát Giới thấy hai đạo đồng ngồi ăn quả nhân sâm, chạy đến mách: "Quả nhân sâm ăn được trường thọ, nhờ sư huynh hái cho một trái ăn thử, nên đệ tử vị tình huynh đệ, mới ra vườn hai ba trái chia ra ba người".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai đồng tử Thanh Phong và Minh Nguyệt sau khi đã biết rõ chánh phạm lại mắng chửi ầm lên, làm cho Tôn Hành Giả tức giận, nhổ một cái lông sau ót, biến hình Tề Thiên đứng cùng Sa Tăng, Bát Giới. Rồi hóa con ong bay ra vườn hiện nguyên hình, cầm thiết bảng nhảy vọt lên cây nhân sâm, đập mấy quả còn lại rớt hết. Rồi chuyển thần lực xô luôn gốc cây trốc rễ, các trái cây rớt xuống biến mất, còn cây nhân sâm nằm trơ ra đó, chỉ còn cành lá và gốc rễ (Hồi thứ 25).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Minh Nguyệt và Thanh Phong cùng nhau ra cửa vườn, thấy cây nhân sâm ngã nằm chổng gốc, cành gãy lá xàu, không còn một quả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai người thất kinh nói với nhau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Cây thuốc tiên này chết rồi, thầy về đây chúng ta biết liệu làm sao?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Minh Nguyệt biết rằng không còn ai lọt vào đây để phá phách như vậy, chắc chỉ có Tôn Hành Giả mà thôi, nhưng không biết làm sao để chống cự lại, bèn bàn với Thanh Phong chờ mấy người bên Tôn Hành Giả nấu cơm xong; hai đồng tử mới đem cho đồ ăn, rồi đóng cửa kóa kỹ lại, đợi Trấn Ngươn Tiên về định liệu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng Tôn Hành Giả làm phép mở cửa được, rồi mấy thầy trò Tam Tạng vội vã ra khỏi viện Ngũ Trang lên đường.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bấy giờ, Trấn Ngươn đại tiên nghe Ngươn Thỉ giảng kinh xong dắt đệ tử về am. Về đến am, sau khi biết rõ tự sự, bèn cùng với Thanh Phong, Minh Nguyệt đằng vân đi tìm thầy trò Tam Tạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi gặp bọn họ, Trấn Ngươn đại tiên đánh nhau với Tôn Hành Giả một hồi rồi dùng phép rũ tay áo một cái, thu cả bốn thầy trò lẫn ngựa và hành lý đem về am.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cả mấy thầy trò bị hành tội trói lại rồi đánh bằng roi, nhưng Tôn Hành Giả bị đánh trước, lại có phép thần thông liền biến hóa tự thu nhỏ mình để tuột khỏi dây, mở trói cho cả mấy thầy trò cùng trốn đi lúc ban đêm, trước khi đi lấy bốn gốc cây dương liễn làm phép phun máu lưỡi cho biến thành bốn thầy trò y như người thật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tuy nhiên, sáng ra Trấn Ngươn đại tiên vẫn cho đánh, Tôn Hành Giả liền bị đau nhức lưỡi nên thu phép lại, làm trơ ra bốn gốc dương liễu. Trấn Ngươn đại tiên biết mấy thầy trò đã trốn đi liền đằng vân đi tìm như lần trước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lần này, sau khi trói Tam Tạng, Bát Giới và Sa Tăng vào các gốc cây đại thọ, còn Tôn Hành Giả trói rút đầu tại cây cao, xong Trấn Ngươn truyền đệ tử lấy vải quấn bốn người lại, chỉ chừa từ cổ trở lên, lại truyền đem sơn sống, sơn chín tô ngoài dầy như mo, rồi sau nấu chảo dầu cho sôi để trụng Tôn Hành Giả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả biết sắp bị hành tội nên liếc mắt nhìn xung quanh, thấy bên mái phía Tây có con sư tử bằng đá liền lăn đến đó, cắn lưỡi phun máu biến thành Tôn Hành Giả thay vào, còn mình thỉ nhảy phóc lên mây nhìn xuống. Chẳng ngờ bọn tiên đồng không biết nên khiêng vất Tôn Hành Giả (sư tử đá) vào chảo dầu làm lũng chảo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các tiên đồng la lên:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sư tử sắt! Sư tử sắt! Không phải Tôn Hành Giả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trấn Ngươn đại tiên vội chạy ra nổi giận, rồi truyền lệnh thay chảo khác để bắt Tam Tạng vào luộc mà trả thù.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả ở trên mây nghe nói, liền hiện hình xuống trước mắt Trấn Ngươn đại tiên bái và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đừng nấu dầu thầy tôi, để tôi chịu thế.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trấn Ngươn đại tiên nắm đầu Tôn Hành Giả và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta biết ngươi là kẻ thần thông quảng đại, cũng có chút cảm thình. Song ngươi làm nhiều điều vô lễ, ta phải bắt ngươi đi với ta đến tại Tây phương ra mắt Phật Tổ, xem Phật Tổ phân xử lẽ nào? Có phải ngươi bồi thường cây nhân sâm cho ta chăng? (Hồi thứ 26).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nếu ông thả thầy tôi và hai em tôi ra, tôi sẽ tìm thuốc cứu cây nhân sâm sống lại đền cho ông.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trấn Ngươn đại tiên liền thả hết thầy trò Tam Tạng ra.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đó, Tôn Hành Giả bay qua các nơi để gặp các vị tiên tìm thuốc cứu chữa cho cây nhân sâm được sống lại. Đầu tiên qua Đông Dương Đại hải, đến núi Bồng Lai, động Bạch Vân để gặp Phước Tinh, Lộc Tinh và Thọ Tinh, sau lại đến núi Phương Trượng nhờ Đông Ba Đế Quân, rồi lần thứ ba lại đến núi Đinh Châu nhờ chín vị lão tiên giúp dùm. Nhưng cả ba nơi, các vị tiên đều không có phương cách gì để cải tử hoàn sinh cho cây nhân sâm được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc bấy giờ, Quan Âm đang ngồi giảng kinh nơi rừng Tử Tước, hai bên có Mộc Tra và Long Nữ hầu hạ. Ngài đoán biết Tôn Hành Giả sắp đến, liền gọi Thủ Sơn Đại Thần<SUP><B>(21)</B></SUP> ra đón rước, Tôn Hành Giả mừng rỡ liền theo Thủ Sơn Đại Thần đến làm lễ Bồ tát và lễ phép thuật hết tự sự.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nước cam lồ trong tịnh bình của ta trị cây khô cũng sống! Sao người không đến đây cho sớm để đi qua hải đảo làm gì cho tốn công?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả mừng rỡ hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thuở nay Bồ tát đã từng dùng nước ấy, cứu cây nào chưa?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Năm trước, Thái Thượng Lão Quân có tổ chức cuộc vui, lấy cành dương liễu trong tịnh bình của ta đốt vào lò cháy khô, rồi trả lại, ta để vào tịnh bình, nó hít nước cam lồ một ngày một đêm, cành dương liễu ấy tươi xanh lại như cũ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm bèn cầm tịnh bình đằng vân nhanh như chớp, chim Bạch Anh bay trước, Tôn Hành Giả theo sau, nhắm núi Vạn Thọ thẳng tới. Mấy vị tiên nghe nói có Quan Âm Bồ tát đến vội vã ra nghinh tiếp, đồng quỳ lạy Quan Âm và rước vào am.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trấn Ngươn đại tiên mừng rỡ truyền đặt bàn hương án tại vườn, thỉnh Quan Âm Bồ tát đi trước, các tiên và tiên đồng lần lượt theo sau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm đến vườn thấy cây nhân sâm trốc gốc, đứt rễ, rụng lá, khô cành, liền gọi Tôn Hành Giả bảo:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi hãy xòe bàn tay trái ra và đưa cao lên.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm lấy cành dương liễu nhúng nước am lồ, họa phù cải tử hoàn sinh trên bàn tay của Tôn Hành Giả. Đoạn ngài bảo Tôn Hành Giả cầm rễ cây nhân sâm, đợi lúc nào nước chảy ra thì lấy bầu ngọc hứng vào. Tôn Hành Giả làm y theo lời dạy. Giây phút nước vọt ra, Trấn Ngươn đại tiên truyền đạo đồng lấy chén ngọc hứng vào đầy hơn chục cái.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bởi nước ấy kỵ ngũ hành nên phải đựng bằng chén ngọc<SUP><B>(22)</B></SUP>. Các ngươi hãy dựng cho cây đứng lên rưới nước ấy vào, cây sẽ sống lại như xưa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả, Sa Tăng và Bát Giới đỡ cây dậy, nện gốc xong, lấy nước trong bầu ra dâng lên cho Quan Âm Bồ tát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm cầm cành dương liễu, nhúng nước trong chén ngọc, rảy lên cây nhân sâm, và còn lại đổ vào gốc. Giây lát cây nhân sâm tươi cành xanh lá, lủng lẳng hai mươi ba quả chín. Minh Nguyệt, Thanh Phong thấy thế lấy làm lạ thì thầm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hôm trước bị mất nhân sâm, ta đếm lại chỉ có hai mươi hai trái, sao nay hườn sanh, có tới hai mươi ba trái thì cũng ngộ thật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả liền nói đến việc hái trộm quả đầu tiên trước đây bị rơi xuống đất biến mất.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta biết cây này kỵ ngũ hành nên đã đề phòng trước, và dùng phép thâu lại mấy quả rơi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trấn Ngươn đại tiên mừng rỡ truyền lấy móc vàng hai mười quả, mời Quan Âm và các vị tiên vào trong bày tiệc thết đãi, gọi là hội Nhân sâm quả, Quan Âm ngồi giữa, Trấn Ngươn đại tiên, Tam Tinh ngồi bên tả, thầy trò Tam Tạng ngồi bên hữu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi ấy Tam Tạng mới biết nhân sâm là một vật báu, cùng ăn với các vị. Tiệc xong, Trấn Ngươn đại tiên và Tôn Hành Giả đều lạy tạ Quan Âm. Quan Âm Bồ tát từ giã về Nam Hải, còn Tam Tinh trở lại chốn Bồng Lai.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>NHẬN ĐỊNH</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trên đây là bảy trường hợp có Quan Âm Bồ tát thị hiện (tiết đoạn thứ nhất) khi mà Tôn Ngộ Không chưa bị Tam Tạng rầy la oán trách nhiều và làm giấy từ bỏ đuổi đi, không nhận là đệ tử nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trước đây cũng có lần Tam Tạng quở mắng Tôn Hành Giả vì đánh chết sáu tên cướp ra đón đường đòi thầy trò Tam Tạng nộp tiền mãi lộ. Nhưng vì đó là bọn cướp, nên Tam Tạng cũng không bực mình gì mấy, hơn nữa là do Tôn Hành Giả giận thầy bỏ đi chứ Tam Tạng không đuổi. Về sau Tôn Hành Giả gặp Quan Âm Bồ tát khuyên nên trở về gấp ủng hộ thầy đi thỉnh kinh (Hồi thứ 14).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng lần này Tôn Ngộ Không bị đuổi về có làm giấy từ (Hồi thứ 27) chỉ vì Tam Tạng cho rằng Tôn Hành Giả ác độc bất nhân đánh chết một cô gái chân yếu tay mềm, một bà lão già nua tuổi tác, và một ông lão hiền hậu tu hành, nhưng có biết đâu rằng ba người này chỉ là một.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đó là con yêu "Bạch Cốt Phu nhân" tại núi Bạch Hổ (nghĩa là con mà đàn bà có bộ xương không mục); sau khi hiện lên lần thứ ba làm một ông lão bị Tôn Hành Giả gọi Sơn thần Thổ địa nắm giữ lại mới đánh chết nó mà không xuất hồn ra được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi chết nó hiện nguyên hình một đống xương khô, trên xương sống có chữ "Bạch Cốt Phu nhân" (trang 267). Mặc dù biết được như vậy, nhưng do Bát Giới nói thêm vào nên Tam Tạng cũng nổi giận mắng mỏ Tôn Hành Giả và làm giấy từ đuổi về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trở lại với bảy trường hợp Quan Âm thị hiện trước đó, ta nhận xét như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. <B>Trường hợp thứ 1</B> là chuyện Quan Âm, nhân đến dự đại hội Bàn đào, nhận thấy Tôn Ngộ Không hành động vô kỷ luật, mới hợp cùng Thái Thượng Lão quân bắt Tôn Ngộ Không để trừng phạt vì sự phá phách tung hoành ngang ngược mất trật tự trên thiên giới.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">2. Trường hợp 2, 3, 4 và 6</B> là những sự thị hiện để sắp đặt thâu nhận đệ tử: Tôn Ngộ Không (bị phạt đè dưới núi Ngũ Hành), Bát Giới, Sa Tăng và Rồng Ngọc, làm tùy tùng ủng hộ cho Pháp sư Huyền Trang thực hiện cuộc du hành thỉnh kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">3. <B>Còn hai trường hợp 5 và 7</B> là Quan Âm thị hiện để vừa giải cứu vừa cải hoán chỉnh đốn lại những điều khó khăn trở ngại do nghịch duyên gây nên.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ta cũng phân biệt rằng khi có một nguy nan nào do sự chủ quan thiếu khôn ngoan dè dặt hoặc do sự chướng cái triền phược của bản thân mình phát khởi ra trước rồi mới kéo theo những sự rắc rối báo oán trả thù từ khách quan đem lại thì sự kiện ấy gọi là <B>báo chướng nạn</B>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn những trường hợp nguy nan hiểm họa do từ hoàn cảnh bên ngoài hoặc nhân vật khách quan đưa đến cho mình thì gọi là <B>khổ ách nạn</B>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vậy thì trên đây:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Trường hợp 5 là việc mất áo cà sa do những vị sư tăng tại chùa "Quan Âm thiền viện" và do con yêu Hắc Phong ăn trộm, nguyên nhân vì Tôn Hành Giả có tánh hiếu thắng, khoe khoang áo cà sa đẹp quý của thầy (thiếu khôn ngoan, dè dặt) mà gây nên, còn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Trường hợp 7 là do sự phá phách ngang tàng trả thù làm trốc gốc đổ cây nhân sâm để cho cây chết và bị bắt đền (chướng cái triền phược từ chủ quan của Tôn Hành Giả), mà làm cho thầy Tam Tạng phải bị đe dọa đánh đập và nấu dầu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai trường hợp này là báo chướng nạn do chủ quan của Tôn Hành Giả gây nên.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sở dĩ phải phân biệt như vậy để sau này trong phần kết thúc ta có thể nhận định về bản chất, tư cách, tác phong của mỗi nhân vật trong truyện và do đó mói thêm về ý nghĩa sâu xa thâm trầm của cốt truyện Tây Du Ký với những phản ảnh tinh thần của xã hội đương thời, và mục đích của tác giả, nhất là trong phần biểu hiện đức tính từ bi trí tuệ của Quán Thế Âm Bồ tát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi Tôn Ngộ Không từ giã thầy trò Tam Tạng về động Thủy Liêm (chỉ còn Tam Tạng và hai đồ đệ: Bát Giới, Sa Tăng và con ngựa kim) thì đoàn thỉnh kinh tiếp tục đi, nhưng phải trải qua ba khổ nạn nữa, rồi sau mới đến lúc Quan Âm xuất hiện giải cứu cho thoát khỏi tay của con yêu tên là Hồng Hài Nhi định bắt Tam Tạng về giam ở động Hỏa Vân để ăn thịt (Hồi thứ 40 đến 43).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tuy nhiên, khi tiếp tục đi và gặp nạn đầu tiên thì hai đồ đệ Bát Giới và Sa Tăng chống không lại với con yêu Huỳnh Bào (tại núi Hoản Tử, động Ba Nguyệt), nên Bát Giới mới nghe lời khuyên của con Tiểu Long (ngựa kim) phải đi đến động Thủy Liêm mời Tôn Hành Giả trở lại cứu thầy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng được Tôn Hành Giả cứu mới khen và nói công lao của Tôn Hành Giả thứ nhất. Tôn Hành Giả thương thầy mới tiếp tục lên đường đi Tây phương cùng với đoàn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn hai khổ nạn sau thì Tôn Hành Giả cũng cứu thầy thoát khỏi hai con yêu Kim Giác và Ngân Giác (tại Bình Đảnh Sơn, động Liên Hoa - Hồi 32 đến 35), và trừ được con yêu Toàn Chơn (nguyên là con sư tử lông xanh của Văn Thù Bồ tát trốn xuống hạ giới<SUP><B>(23)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Con yêu này nó hãm hại vua nước Ô Kê, xô xuống giếng trong ba năm, nay mới được Tôn Hành Giả lên thiên đình xin một viên thuốc cải tử hoàn sinh của Thái Thượng lão Quân để cứu sống cho (Hồi thứ 36 đến 39).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vậy mặc dù Tôn Ngộ Không từ giã thầy nhưng cũng còn thương thầy nên trong tất cả hoạn nạn lúc nào Tôn Hành Giả cũng ủng hộ thầy, hoặc tự lực hoặc đi nhờ các vị tiên khác để cứu thầy cho qua khỏi các ách nạn (nếu kể cả khổ nạn nhân đó mà Tam Tạng đuổi Tôn Ngộ Không là bốn nạn, trước khi gặp Quan Âm trở lại).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(18) Dữ thế đồng quân: <I>Nghĩa là sống mãi như các vua truyền đời (trang 233, Tây Du Ký Bình Khảo - Phan Quân).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(19): <I>Trước khi đi, Trấn Ngươn đại tiên có dặn là ít hôm nữa sẽ có người quen của ông ghé đến, người ấy là Tam Tạng, vâng lệnh vua Đường đi thỉnh kinh đem về Đông Độ. Phải hái nhân sâm đãi Tam Tạng. Người ấy nguyên là đệ tử thứ hai của Phật Tổ Như Lai ở phương Tây hiệu Kim Thiền Tử, đầu thai làm Tam Tạng. Nhưng chỉ hái nhân sâm đãi Tam Tạng thôi, đừng cho lũ đồ đệ của Đường Tăng hay, vì chúng nó không được lương thiện (trang 234, Tây Du Ký Bình Khảo).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(20) Ngũ hành: <I>Là Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ. Ở đây chỉ kỵ có Kim (vàng), Mộc (cây), Hỏa (lửa) và Thổ (đất) thôi, vì Thủy sinh Mộc nhân cây nhân sâm là mộc không kỵ Thủy.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(21) Thủ Sơn Đại thần: <I>Nguyên là con gấu tinh gọi là Hắc Phong đã được Quan Âm Bồ tát cứu độ cho về làm Thủ Sơn đại thần tại núi Lạc Đà (Hồi thứ 17, trang 176, Tây Du Ký Bình Khảo, Phan Quân).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(22): <I>Kỵ ngũ hành nhưng không kỵ Thủy (nước) như trong chú thích (20) ở trên.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(23): <I>Ta còn nhớ trong Phần II, chương I khi nói đến truyện Phong Thần, con sư tử lông xanh này trước là Cù Thủ Tiên.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">8. Sau một thời gian, đến lúc đi qua một khoảng núi cao chồng chất, Tôn Hành Giả thấy một đạo hồng quang trong hang đá chiếu sáng rực trời, biết là có yêu quái, liền ôm Tam Tạng xuống ngựa bảo Sa Tăng, Bát Giới giữ thầy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nơi đây có con yêu tên là Hồng Hài Nhi, xưng hiệu là Thánh Anh đại vương ở Hỏa Vân động, con trai của Ngưu Ma Vương và La Sát (Thiết Phiến công chúa).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nó cũng có ý nghĩ rằng: Tam Tạng là Kim Thiền Tử xuống thế đầu thai làm Đường Tăng đi thỉnh kinh, nếu ăn thịt được chắc là trường thọ lắm, liền nghĩ kế để bắt Tam Tạng<SUP><B>(24)</B></SUP>. Nó bèn hóa ra đứa trẻ bảy tuổi trần truồng bị trói trên cây, khóc la kêu cứu mạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng thấy đứa bé trần truồng bị treo nơi cây đại thọ, liền gò cương dừng lại và bảo Tôn Hành Giả mở trói cho đứa bé và cõng đi về nhà nó, gần suối Khô Tòng, tại núi Hiệu Sơn, động Hỏa Vân.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả biết là yêu quái hiện hình đứa bé, nên có ý hỏi sao mình nó nhẹ như giấy, nó liền hớp gió tây thổi lên lưng Tôn Hành Giả cho gió đè nặng tới ngàn cân. Tôn Hành Giả liền quật Hồng Hài Nhi xuống đá nát thây, nhưng nó biết trước nên đã xuất hồn bay lên mây rồi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi nó nổi gió bắt Tam Tạng đem về động. Khi gió giông làm đá chạy cát bay thì mọi người đều cúi đầu, đến khi hết gió ngẩng đầu lên thì không thấy Tam Tạng đâu cả, ba đồ đệ mới đi tìm. Ngộ Không tìm đến Hỏa Vân động.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hồng Hài Nhi ra đánh nhau với Tôn Hành Giả, hai bên chiến đấu với nhau mấy phen mà không phân thắng bại, vì Hồng Hài Nhi cũng có nhiều tài phép như Tôn Ngộ Không. Nó lại có tài phun lửa Tam muội làm cho Tôn Ngộ Không bị nóng. Ngộ Không mới đến thỉnh cầu Đông Hải Long vương Ngao Quảng để nhờ làm mưa trợ chiến bắt Hồng Hài Nhi. Nhưng Long vương cũng không thắng nổi vì mưa chừng nào, lửa cháy mạnh lên chừng nấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hồng Hài Nhi lại còn làm phép phun khói vào mặt Tôn Hành Giả, Tề Thiên mới bỏ chạy nhảy xuống sông cho mát, nào ngờ bị nước rút hơi lửa vào tim làm Tôn Hành Giả chết ngất đi một hồi lâu, may nhờ có Sa Tăng, Bát Giới chà sát tay nóng áp vào mặt và bụng cho Tôn Hành Giả mới sống lại được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Không làm sao chống lại với Hồng Hài Nhi, Tôn Ngộ Không mới sai Bát Giới bay qua Nam Hải thỉnh Quan Âm cứu nạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hồng Hài Nhi lại biến ra Quan Âm giả bắt Bát Giới đem về động Hỏa Vân bỏ vào túi như ý, rút miệng túi treo trên trính.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hồng Hài Nhi mới sai sáu đứa tiểu yêu đi mời lão Đại vương (tức là Ngưu Ma Vương) đến ăn thịt Đường Tăng cho được trường thọ. Tôn Hành Giả lại biến thành Ngưu Ma Vương giả đến động Hỏa Vân xem sao, nhưng bị Hồng Hài Nhi phát hiện ra, gọi bọn tiểu yêu vây bắt.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả liền hóa hào quang bay ra khỏi động rồi bay qua Nam Hải thuật hết tự sự với Quan Âm và thỉnh ngài đến trừ Tam muội hỏa của nó.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm nghe nói Hồng Hài Nhi hóa giả hình Bồ tát để gạt Bát Giới liền vụt tịnh bình xuống biển.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một lát sau, mặt biển nổi sóng, một con rùa quạ chở tịnh bình trên lưng lội vào bờ, rồi bò lên gành, gật đầu hai mươi bốn cái, như lạy ra mắt Quan Âm<SUP><B>(25)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm bảo Tôn Hành Giả xuống xách tịnh bình lên, nhưng Tôn Hành Giả ráng hết sức xách lên mà không nổi, và nói bình này nặng hơn quả núi Thái Sơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bởi trước nó là ve không, nay ta thu một biển nước vào đó, nên ngươi xách không nổi cũng phải.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi, bước xuống tòa sen, xách tịnh bình để lên bàn tay tả. Còn rùa quạ nhìn Quan Âm gật đầu mấy cái rồi bò thẳng xuống biển.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con rùa ấy có phải là vật giữ tịnh bình để chở nước biển lên cho Bồ tát chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tịnh bình ấy chứa nước cam lồ của ta, không phải nước biển của Long vương<SUP><B>(26)</B></SUP>. Nước này nó trừ đặng Tam muội chơn hỏa. Nay ta muốn đưa tịnh bình này cho ngươi, nhưng sợ ngươi xách không nổi!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm lại định cho Long Nữ cầm tịnh bình theo trợ chiến nhưng sợ Tôn Hành Giả thấy tịnh bình là vật quý, Long Nữ là gái xinh, Tôn Hành Giả đoạt luôn người và vật trốn đi không biết nơi nào tìm được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">quan Âm mới truyền Long Nữ ra hồ hái một bông sen thả xuống biển, bảo Tôn Hành Giả ngồi lên. Tôn Hành Giả tưởng bèo sen nhỏ không chở nổi, nào ngờ nhảy xuống thấy nó đứng vững như một chiếc xuồng lớn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm thổi một hơi, gió đưa bèo sen chở Tôn Hành Giả cập bến bên kia bờ, còn Quan Âm hiện hào quang bay ra khỏi núi Phổ Đà, Long Nữ và Huệ Ngạn theo hầu tả hữu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm lại bảo Huệ Ngạn đi mượn ba mươi sáu ngọn đao của Lý Tịnh (tức Lý Thiên Vương, cha của Huệ Ngạn) đến, rồi làm phép niệm chú quăng ba mươi sáu ngọn đao lên hiện thành một tòa sen tươi tốt. Quan Âm ngồi trên tòa sen, chim Anh Võ bay trước, Quan Âm bay sau với Huệ ngạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi đến núi Hiệu Sơn, Quan Âm niệm chú án tự, thâu Sơn thần Thổ địa tới bảo:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta đến đây trừ yêu bắt Hồng Hài Nhi vấn tội, không có điều chi lạ. Vậy các ngươi chọn một khoảng đất rộng, cách nơi này chừng ba dặm, dồn cầm thú đến đó, đừng cho ở gần mang họa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sơn thần Thổ địa lo xong việc, trở lại bạch cùng Bồ tát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm cầm tịnh bình trút xuống, nước tuôn ra ầm ầm như sấm nổ. Quan Âm bảo Tôn Hành Giả xòe bàn tay tả, rồi lấy cành dương liễu chấm nước cam lồ trong tịnh bình đề chữ "mê" vào bàn tay rồi dạy Tôn Hành Giả nắm tay lại đi khiêu chiến, trá bại dụ Hồng Hài Nhi đến, Tôn Hành Giả tuân lệnh làm y lời theo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hồng Hài Nhi lúc đánh nhau với Tôn Hành Giả, nhìn thấy bàn tay tả của Tôn Hành Giả xòe chiếu trước mặt, mê mẩn đuổi theo mãi, lần lần đến chỗ Quan Âm. Hồng Hài Nhi hỏi Quan Âm đến trợ chiến chăng? Quan Âm không hề trả lời, Hồng Hài Nhi liền định đâm Quan Âm một giáo, nhưng Quan Ân hiện hào quang bay vụt lên mây. Huệ Ngạn và Tôn Hành Giả đều bay theo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hồng Hài Nhi lên ngồi trên tòa sen, chắp tay chế nhạo Bồ tát. Khi ấy Quan Âm đứng trên mây, cầm cành liễu chỉ xuống phất qua một cái, khiến cho những tòa sen hiện lên ba mươi sáu ngọn đao như cũ. Quan Âm sai Huệ Ngạn cầm cây bàng đè đầu Hồng Hài Nhi xuống máu chảy ướt đầm, Hồng Hài Nhi liều lĩnh nhổ đao không sợ đứt tay. Quan Âm liền cầm cành dương liễu phất qua mấy cái và niệm chú, ba mươi sáu ngọn đao liền hiện lên dính cứng như hàm răng, Hồng Hài Nhi nhổ không nổi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hồng Hài Nhi thất kinh năn nỉ:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đệ tử có mắt không ngươi, nên mới xúc phạm đến Bồ tát, cúi xin Phật Bà mở lượng từ bi, thương xót chúng sanh, tha tội khỏi chết, tôi nguyện bỏ dữ làm lành, quy y theo phép Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nếu ngươi nguyện như vậy, ta sẽ thí phát cho.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi, lấy dao cạo đầu Hồng hài Nhi chừa ba chởm như ba vá<SUP><B>(27)</B></SUP>, xong Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nay người đã theo phép Phật, ta không hề bạc đãi, đặt tên người là Thiện Tài đồng tử, có bằng lòng chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hồng Hài Nhi bạch:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tôi xin tuân lời Quan Âm chỉ dạy, xin tha cho tôi thoát chết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm chỉ một cái bảo lui, ba mươi sáu ngọn đao đều dang ra hết. Quan Âm sai Huệ Ngạn đem đao trả lại cho Lý Thiên Vương, còn Thiện Tài đồng tử sẽ định sau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi ấy Thiện Tài đồng tử thấy thân mình lành lẽ, không có vết tích gì, nổi giận nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi có thần thông chi mà trị ta, hãy coi giáo ta đây, đừng hòng dùng phép mà bắt ta nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dứt lời, đâm liền một giáo, Tôn Hành Giả sợ trúng nhằm Quan Âm, liền đưa thiết bẳng ra đỡ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi đừng đánh để ta dùng phép trị nó.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi lấy kim cô trong tay áo quăng lên, niệm chú hóa ra năm cái. Quan Âm lấy năm cái kim cô, quăng vào mình Hồng Hài Nhi nói lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tròng vào nó gấp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vừa dứt lời một cái kim cô chụp lên đầu Thiện tài riết lại, còn bốn cái tròng vào hai chân và hai tay. Quan Âm niệm chú cẩn cô khiến cho năm cái kim cô riết mạnh vào, Thiện Tài tê nhức cả hai chân hai tay, đau ran đầu chịu không thấu, hét lên một tiếng nhào lăn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thấy Thiện Tài ngã lăn, Quan Âm thôi niệm chú. Thiện Tài cố cởi năm cái vòng ra nhưng không được. Thiện Tài làm hung dữ, định đâm Tôn Hành Giả, Quan Âm liền cầm nhành liễu nhúng vào nước cam lồ rảy vào mặt Thiện Tài, miệng hô câu thần chú, tức thì cập kim cô dính lại, làm cho Thiện Tài phải quăng giáo chắp tay vùng vẫy không được nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bấy giờ, Thiện Tài mới phục mình bái lạy Quan Âm<SUP><B>(28)</B></SUP>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thấy vậy Quan Âm cầm tịnh bình trút xuống niệm chú, nước trong bình tuôn ra chảy về biển, chỉ còn bình không. Đoạn bảo Tôn Hành Giả:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tuy Thiện Tài đã quy y, song tánh còn man rợ, phải bắt nó nhất bộ nhất bái cho đến Phổ Đà Sơn. Còn ngươi mau về cứu thầy cho kịp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả từ tạ lui về, Thiện Tài nhất bộ nhất bái mãi đến gành Lạc Đà, quỳ lạy Quan Âm năm mươi ba lạy nữa mới được thành chánh quả<SUP><B>(29)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả về đến động Hỏa Vân mở túi da thả Bát Giới và dắt Tam Tạng ra, đoạn kể lại ơn Bồ tát Quan Âm đã cứu độ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng quỳ gối, quay mặt về hướng Nam lạy tạ, rồi thầy trò cùng nhau ra khỏi động nhằm Tây phương thẳng đến.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi thầy trò Tam Tạng thoát khỏi động Hỏa Vân tiếp tục hành trình, thì còn phải trải qua hai hiểm nạn nữa mới đến lúc Quan Âm thị hiện để bắt con Kim Ngư hóa hình là Linh Cảm đại vương bắt Đường Tăng nhốt vào gộp đá trong động Thủy Nguyên để ăn thịt.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai khổ nạn này cũng do Tôn Hành Giả cứu thoát:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <B>Lần thứ nhất</B>: Tam Tạng bị con quái Đà Khiết làm sóng gió nhận chìm thuyền để bắt vào động Hoành Dương cốc, sông Hắc Thủy (nước đen đục) nhốt vào củi sắt để ăn thịt. Con quán này gọi Long Vương Ngao Thuận bằng cậu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhờ Tôn Ngộ Không có quen với Tây hải Long vương Ngao Thuận, nên Long vương này mới sai Thái tử Ma Ngang đến bắt con quái Đà Khiết (trước kia là con cừu lớn?) mà giải cứu cho Tam Tạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <B>Lần thứ hai</B>: Mấy thầy trò Tam Tạng đi qua nước Xa Trì, gặp ba vị đạo sĩ là Hổ Lực đại tiên, Lộc Lực đại tiên và Dương Lực đại tiên. Ba người này được vua Xa Trì tôn làm quốc sư vì đã thắng các vị sư sãi, đảo võ cầu mưa. Ba vị này nói với vua phá hết chùa chiền và hành hạ các tăng sĩ. Tôn Ngộ Không mới ra tay cứu các vị tăng, nên đã nhận đấu phép với ba vị đạo sĩ quốc sư. Ngộ Không mới nhờ các vị Phong Bà (dì gió) Tôn Nhị Lang (thần giông) Vân Đồng (thần mây), Lôi Công, Điền Mẫu (thần sấm chớp) và Tứ Hải Long vương (bốn con rồng) giúp sức nên đã thắng được ba quốc sư này, làm cho các quốc sư lại chọn những phép nguy hiểm như chém đầu rồi hoàn lại, mổ ruột rồi ráp lại, tắm trong vạc dầu không bỏng để đấu với Tôn Ngộ Không. Nào ngờ đâu Tôn Ngộ Không cũng thắng mà ba vị quốc sư kia lại tử nạn, hiện nguyên hình ra ba con thú: con cọp (Hổ Lực), con nai (Lộc Lực), và con dê núi (Dương Lực).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(24): <I>Trong truyện Tây Du Ký, phần nhiều các yêu quái thường gây khổ nạn cho đoàn thỉnh kinh vì muốn bắt Tam Tạng để ăn thịt. Không biết điều này có phải do ảnh hưởng của quan niệm luyện linh đơn trường sinh bất tử bằng cách dùng thịt những người sống trinh tiết và điều độ chăng? (vì những người đó còn đầy đủ tinh, khí, thần do các quan điểm tu tiên của đạo Lão).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(25): <I>Do điểm này mà hiện nay ta thấy trong các chùa có trang hoàng các bức hình có rùa mang tịnh bình buộc trên lưng.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(26): <I>Ta đã thấy nước mưa của Long vương cũng không làm tắt nổi lửa tam muội do Hồng Hài Nhi biến hóa ra (đoạn Tôn Ngộ Không mời Long vương Ngao Quảng trợ chiến bắt Hồng Hài Nhi).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(27): <I>Cho nên bây giờ trong chùa các chú tiểu nhỏ mới vào tu, thường cạo đầu để ba chỏm tóc như ba cái vá là dựa theo tích này.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(28): <I>Do chuyện đó nên ngày nay trong bức tượng Quan Âm có vẽ Thiện Tài đồng tử đeo năm vòng kim cô chắp tay lạy Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ta lại liên tưởng đến Thiện tài đồng tử trong kinh Hoa Nghiêm, phẩm Nhập pháp giới (Bộ kinh Hoa Nghiêm tám quyển, do Thích Trí Tịnh dịch), có đoạn đức Văn Thù Sư Lợi Bồ tát nhận định về Thiện Tài đồng tử như sau (quyển 7 trang 160):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"... Lúc đó, ngài lại quán sát Thiện Tài đồng tử do cớ gì có tên như vậy. Ngài biết đồng tử này lúc mới nhập thai, trong nhà có bảy phục tạng. Trên phục tạng, đất tự nứt ra, mọc lên nanh thất bảo: vàng, bạc, lưu ly, pha lê, chơn châu, xa cừ, mã não. Sau mười tháng, Thiện Tài đản sanh, thân hình tay chân đoan chánh đầy đủ. Lúc đó bảy phục tạng từ đất trồi lên ánh sáng chói rực. Mỗi tạng báu ngang dọc cao thấp đều vuông vức bảy thước tay".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại có đoạn, đức Di Lặc Bồ tát tuyên bố với đại chúng rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"... Trước đây, Đồng tử này thọ giới nơi đức Văn Thù, rồi lần lượt đi qua phương Nam cầu thiện tri thức, nay mới đến đây gặp tôi. Đồng tử này chưa từng có một niệm lười mỏi", (trang 412, Kinh Hoa Nghiêm, quyển 8)
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi trong một đoạn sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"... Thiện Tài đi lần đến núi Phổ Đà tìm Bồ tát Quán Tự Tại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong gành đá phía Tây, suối chảy lóng lánh, rừng cây rậm rợp, cỏ thơm mềm nhuyễn trải mặt đất. Đức Quán Thư Tại Bồ tát ngồi kiết già trên tảng đá Kim Cang bửu. Xung quanh có Vô Lượng Bồ tát cũng ngồi trên bửu thạch, Bồ tát Quán Tự Tại vì chúng Bồ tát mà tuyên nói pháp đại từ bi, khiến nhiếp thọ tất cả chúng sanh".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Có lẽ do gợi ý trong đoạn này mà tác giả truyện Tây Du Ký mới nêu ra nhân vật thần thoại Hồng Hài Nhi về sau trở thành Thiện Tài đồng tử.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(29): <I>Có lẽ đây là tượng trưng cho việc Thiện Tài đồng tử phải đi cầu học đạo nơi 53 vị Bồ tát trước khi được vào hầu bên cạnh Quán Thế Âm Bồ tát.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">9. Một đêm kia, trời sáng trăng, mấy thầy trò Tam Tạng đang đi trên một quãng đường vắng vẻ, bốn bề không nhà cửa, liền ráng đi một đoạn nữa xem có nhà cửa gì không, nhưng được chừng hai ba dặm đường thì gặp một vùng nước mênh mông trắng xóa, bốn bề bao la như biển.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng thấy một cái bia dựng nơi mé sông có đề ba chữ "Thông Thiên Hà", phía dưới lại có hàng chữ "Kinh quá bát bá lý, kim cổ thiểu nhân hành"<SUP><B>(30)</B></SUP> (Hồi 47 đến 49).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi Bát Giới lắng tai nghe có tiếng chuông mõ gần đấy. Tam Tạng mới rẽ qua bãi cát; đi một lúc, thấy xa xa có một xóm nhà chừng năm trăm túp lều. Tam Tạng đến trước một ngôi nhà, bên trong đèn hương thắp sáng, bên ngoài có treo một lá phướn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một ông lão ra đón mời vào nhà khách. Một lúc sâu, các đệ tử Bát Giới, Sa Tăng và Tôn Ngộ Không mới đến, ông lão thất kinh tưởng là yêu quái, nhưng Tam Tạng trấn an bảo đó là các đồ đệ của mình phò hộ đi Tây phương thỉnh kinh, tuy chúng nó hình hài xấu xí, song lòng dạ chân thật, xin chớ sợ. Ông lão yên lòng đoạn ngài thắp đèn, dọn cơm chay thết đãi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cơm xong, Tam Tạng mới lân la trò chuyện với gia chủ. Ông lão mới buồn rầu nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Mỗi năm xóm này phải đem tế vị thần Linh Cảm đại vương tại cái miếu gần mé sông một đồng nam và một đồng nữ, không thì bị thần làm hại lụt bão, chết chóc. Chính đó là mối lo lắng, u buồn khắp thôn xóm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Gia chủ lại nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tôi chỉ có một con trai mới lên ba, tên là Trần Quang Bảo. Cha già con muộn, những tưởng rằng ráng nuôi con để nối dòng thừa hưởng sự nghiệp. Nào ngờ kỳ này thần linh lại chọn nó.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói đến đây ông lão ôm mặt khóc. Ông lão hàng xóm cũng khóc theo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng cảm động hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chẳng hay hai vị lão trượng có bà con thân tình chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông gia chủ đáp:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tôi là Trần Thanh, còn người này là em ruột tôi, tên là Trần Trừng. Em tôi cũng chỉ sanh được một gái lên ba tên Nhứt Xứng Kim, và kỳ này cũng cùng chung số phận với tôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn hành Giả mới hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Có lẽ vừa rồi gia chủ cầu siêu cho hai đồng nam, đồng nữ đó.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông lão mếu máo đáp:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bởi thương con nên làm siêu độ trước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả hỏi tại sao gia chủ giàu có như thế này mà không bỏ tiền ra mua đồng nam, đồng nữ khác về dâng cho thần, lại phải chịu hy sinh con mình?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông lão nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bởi thầy chưa rõ nên nghĩ vậy, chứ chúng tôi phải lấy thân che của. Vị Linh Cảm đại vương hay đến xóm tôi lắm, đã lựa rồi thì không thể dối trá được. Linh Cảm đại vương biết rõ cả hình dạng và ngày sanh tháng đẻ của hai đứa bé này rồi!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả bảo gia chủ nếu không có cách gì để cứu mạng thì cho thấy đứa bé, để biến ra một đứa nữa giống hệt như Trần Quang Bảo xin thế nó đem đi tế thần, còn Trần Quang Bảo được sống nối nghiệp Trần gia.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại Thấy Trần Trừng khóc nói ông ta chỉ có một gái, nay Thánh Tăng đã cứu được Trần Quang Bảo, còn con ông phải chịu số phận hẩm hiu, nghĩ thế mà buồn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả suy nghĩ một hồi, lại bảo Bát Giới biếnt hành Nhứt Xứng Kim để cứu con gái Trần Trừng, Bát Giới sợ không làm được như Tôn Ngộ Không nên từ chối. Tôn Hành Giả nói với Bát Giới:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sư đệ biến hóa được ba mươi sáu cách kia mà?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng khuyên Bát Giới nên làm vì cứu một mạng sống hơn lập một ngôi chùa. Hãy chịu cực một chút, trước là trả ơn, sau là làm phước, Bát Giới mới chịu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trần Trừng mừng rỡ về nhà bồng Nhứt Xứng Kim đến cho Bát Giới thấy và lạy xin cứu làm phước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn hành Giả dặn gia chủ đem hai người con trai, con gái ấy dấu chỗ khác, đừng cho hung thần biết được, lậu chuyện.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trần Thanh và Trần Trừng làm y theo. Tôn Hành Giả bảo hai ông lão sửa soạn tế lễ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trần Trừng y lời truyền tám gia nhân khiêng một cái bàn độc bên trên có để mâm son đựng hai vật hy sinh đồng nam, đồng nữ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc đó, có tiếng thanh la trước cửa, đèn đuốc sáng lòa và có tiếng gọi: "Khiêng đồng nam, đồng nữ ra đây đi tế cho mau".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trần Thanh, Trần Trừng giả vờ cất tiếng khóc vang, rồi bảo gia đinh khiên đồng trinh ra cửa, người trong xóm đem heo, dê đến phụ vào lễ tế.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến miếu, đặt bàn sắp lễ xong, một người ra vái, rồi họ đốt vàng bạc, giấy tiền và trở về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả và Bát Giới ở lại, nhìn thấy trên bài vị có khắc sáu chữ: "Linh Cảm đại vương chi thần".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đó một lúc, Linh Cảm đại vương nổi gió đến miếu rồi nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Lễ tế đồng nam, đồng nữ là chuyện thường. Nay ta ăn thịt chúng bây, nói cho mà biết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi đưa tay chụp đồng nữ. Bát Giới hải kinh, nhảy xuống bàn hiện nguyên hình, vác đinh ba đánh tới.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Linh Cảm đại vương không ngờ, bị đinh ba cào trúng vai, thất kinh bỏ chạy. Tôn Hành Giả cũng hiện nguyên hình, thấy Bát Giới đập con yêu vừa rồi rớt ra hai cái vảy cá, lấy làm lạ vội vã đằng vân đuổi theo, Bát Giới cũng bay theo, nhưng Linh Cảm đại vương bay bổng lên mây rồi nhảy xuống sông lặn mất.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả và Bát Giới trở lại miếu, khiêng heo dê đem về nhà Trần gia.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả thuật lại chuyện vừa rồi. Gia chủ vui mừng không kể xiết, dọn phòng đưa thầy trò Đường Tăng vào nghỉ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Linh Cảm đại vương bị Bát Giới đánh một đinh ba tróc hai cái vảy, đau đớn về thủy động, ngồi buồn rũ rượi, lại biết Tôn Hành Giả và Bát Giới là học trò Đường tăng, rồi ngẫm nghĩ một hồi lại nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Không ngờ Đường tăng lại có đệ tử tài giỏi như vậy. Bấy lâu ta nghe rằng Đường tăng Tam Tạng là kẻ tu hành đã mười đời, nếu ăn được một miếng thịt của hắn sẽ sống ngàn năm. Nay làm thế nào bắt được hắn?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong bọn thủy tộc hầu hạ có nàng mặc áo rằn tên Khuyết Bà (con cá rô cái) mới bày mưu, nói Linh Cảm đại vương làm tuyết sa xuống cho nước đặc cả sông, thầy trò Đương tăng nóng lòng đi thỉnh kinh, tất phải vội vã qua sông, đại vượng chờ cho chúng đến giữa sông, hóa phép làm cho tuyết tan mất một vùng, cả lũ sụt chân xuống thì mặc sức mà bắt.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Linh Cảm đại vương liền làm y theo. Đêm hôm đó vào canh năm, khí lạnh buốt, thày trò Tam Tạng lồm cồm ngồi dậy mặc áo thêm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Giữa lúc đó, bỗng có tiếng người đi đường nói chuyện với nhau trước cửa:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chà thời tiết ngược quá, ai đời tháng bảy là lại có tuyết đóng thành băng, sông Thông Thiên cứng như đường bộ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng thấy sông Thông Thiên đặc cứng từ mé này sang bên kia bèn nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nếu lợi dụng cơ hội này sang sông thì tiện lắm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trần Thanh liền đem sáu con ngựa cùng đi với thầy trò Tam Tạng. Tam Tạng bèn cùng với các đệ tử sang sông.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đang đi, bỗng nghe một tiếng nổ vang như sấm, băng tuyết đều tan ra nước. Tam Tạng chìm xuống, Linh Cảm đại vương chực sẵn nắm cổ đem về thủy động, còn Sa Tăng, Bát Giới thì để mặc. Tôn Hành Giả thì nhảy vọt lên mây rồi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khuyết Bà nói với Linh Cảm đại vương, nên đem giam Tam Tạng lại, đợi vài bữa xem đệ tử của ông có đi tìm đến không rồi hẵng hay, Linh Cảm đại vương liền bỏ Tam Tạng vào một cái thùng bằng đá nhốt vào trong.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sáng hôm sau, ba đồ đệ của Đường Tăng đã đến mé sông bàn kế đi giết yêu quái cứu thầy. Tôn Hành Giả bảo Sa Tăng và Bát Giới:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hai người chuyến này trổ tài một phen thử xem.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sa Tăng nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hai đứa tôi tuy quen thủy tánh song chưa biết yêu quái chỗ nào. Liền bảo Bát Giới cõng Tôn Hành Giả xuống tìm yêu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả tìm được đến chỗ gộp đá phía sau thủy động, mới vào tận nơi nói với Tam Tạng rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Xin thầy chịu phiền nằm đó đợi ít lâu, tôi lo trừ yêu quái xong đến cứu thầy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả nói với Bát Giới, Sa Tăng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta ở dưới nước lâu không được. Nếu hai người đánh không lại thì dụ nó lên mé sông, ta sẽ bắt nó.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bát Giới, Sa Tăng liền đến khiêu chiến, một hồi lâu mà chưa phân thắng bại. hai đồ đệ của Tam Tạng mới giả vờ thua bỏ chạy lên mé sông. Linh Cảm đại vương đuổi theo, nhảy phóc lên bờ bị Tôn hành Giả đứng chờ sẵn đến đón đánh. Linh Cảm đại vương nhằm yếu sức, nhảy phóc xuống nước bỏ chạy về động.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bát Giới, Sa Tăng lại đến trước động khiêu chiến nữa. Tôn Hành Giả bảo với Sa Tăng, Bát Giới cứ đến trước động mắng chửi làm rộn ràng để nó khỏi hại mạng thầy, còn Tôn Hành Giả sẽ đến trình Quan Âm vấn kế.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Giây phút, Tôn Hành Giả đến núi Phổ Đà, các thần ra nghênh tiếp và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Khi sáng Bồ tát có dặn Đại thánh có đến thì ở đây mà chờ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả tuân lệnh, ngồi mãi nhưng lâu không thấy Quan Âm đến, nóng lòng chạy vội vào vườn tre để tìm<SUP><B>(31)</B></SUP>. Tôn Hành Giả đến nơi, thấy Quan Âm mặc áo ngắn, không đi giày, ngồi chẻ tre vót nam đan giỏ. Tôn Hành Giả kể tự sự, và xin Bồ tát ra ơn cứu nạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm bảo Tôn Hành Giả ra ngoài ngồi chờ giây phút. Tôn Hành Giả ra ngoài hỏi chư thần:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sao hôm nay Bồ tát không ngự tòa sen, cũng không chải gỡ điểm trang, lại ngồi chẻ tre đan giỏ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chư thần đáp:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chúng tôi không rõ! Sáng sơm, Bồ tát cầm dao ra vườn vót tre và dặn nếu Đại thánh có đến thì bảo ngồi chờ. Chắc Bồ tát cũng muốn giúp Đại thánh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Giây phút, Quan Âm xách giỏ tre bước ra kêu lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngộ Không, hãy theo ta đi cứu Đường tăng!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm nói rồi hóa hào quang bay đến mé sông. Tôn Hành Giả cũng bay theo bén gót.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm mở quai giỏ, đưa xuống nước và niệm chú: "Tử đích khứ hượt đích trụ" (nghĩa là con nào chết thì ở ngoài, con nào sống thì vào giỏ). Niệm xong bảy lần như vậy, Quan Âm mới đưa giỏ lên, thấy trong giỏ có một con Kim ngư, đôi mắt sáng lòa, vẩy vi vàng chói.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm bảo Yôn Hành Giả:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hãy mau xuống thủy phủ cứu Đường tăng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả nói chưa bắt được yêu, làm sao cứu Tam Tạng được. Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con yêu ấy ta đã bắt nhốt vào giỏ đây rồi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sa Tăng, Bát Giới nghe nói, quỳ thưa:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con cá đó vì đâu lại thần thông phép tắc như vậy?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm bảo:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nó là Kim ngư trong hồ sen của ta, thường ngày nó nổi lên nghe kinh, đã lâu năm lắm. Sau nó tu nhiều đời nên có phép luyện búp sen không nở thành ra trái đấm, thừa nước lớn thoát ra hồ, lội xuống đây. Sáng mai nay ta không thấy nó, đánh tay xem biết việc này, vội đan giỏ đi bắt!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả thưa:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Xin Bồ tát nán lại đây giây lát, tôi vào xóm Trần gia gọi dân chúng ra lạy mừng, biết ơn Bồ tát đã thâu yêu cứu đời.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Được, người đi cho mau kẻo trễ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bát Giới, Sa Tăng nghe nói chạy vào xóm la lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ai muốn xem Quan Âm giáng thế thì ra đây gấp!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong xóm, trai gái, già trẻ đều chen nhau chạy đến, quỳ lạy Bồ tát. Có người vẽ giỏi đã họa hình Quan Âm ngay lúc đó gọi là <B>"Quan Âm ngư lam</B> (Quan Âm xách giỏ cá)<SUP><B>(32)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm từ biệt anh em Tôn Hành Giả trở về Nam Hải. Còn ba anh em Tôn Hành Giả xuống thủy cung cứu Đường Tăng. Thoát nạn, Tam Tạng quay mặt về hướng Nam, quỳ lạy Bồ tát, rồi bốn thầy trò cùng nhau trở về nhà Trần lão.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Giây phút trên mặt nước, có một con rùa to phi thường, vì sống đã lâu năm nên lưng mốc xếch, người ta thường gọi là thần qui.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả sợ là yêu quái, liền đe dọa đánh chết. Con rùa vội vã nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nguyên ông bà tôi ở sống này tu lâu năm có công, sau lập dinh Thủy Nguyên mà ở. Chẳng ngờ chách đây chín năm, nước sông dâng cao, có con quái kia từ đâu đến chiếm Thủy Nguyên động, đuổi gia quyến tôi đi. Nay nhờ Đại thánh thỉnh Bồ tát bắt con quái ấy, gia quyến tôi được trở về đoàn tụ như cũ, vì vậy tôi mang ơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả nói: "Ngươi có thật tình chăng?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thủy Nguyên đáp:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nếu tôi dối trá sanh tâm phản trắc, không đưa Đường tăng qua khỏi sông thì thân hình tôi tan ra như huyết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nghe nói thật tình, Tôn Hành Giả bảo Thủy Nguyên bò lên mé bờ, rồi bốn thầy trò đứng lên lưng, bái biệt dân chúng xóm Trần lão. Thủy Nguyên bò xuống nước, vươn mình lội như bay, chẳng mấy chốc đến bên kia mất dạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng bước lên bờ, tạ ơn Thủy Nguyên, rồi nói chưa biết lấy gì đền đáp, đợi ngày về sẽ tính.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thủy Nguyên nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tôi chẳng mong muốn việc đền đáp, song nghe đồn Phật Tổ bên Tây phương biết việc vị lai quá khứ, vậy xin nhờ sư phụ đến đó hỏi xem tôi tu hơn một ngàn ba trăm năm, cớ sao không hóa được hình người, mặc dù biết nói và sống lâu<SUP><B>(33)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng hứa sẽ hỏi giúp. Rồi Thủy Nguyên từ giã, Bốn thầy trò Tang Tạng nhằm hướng Tây thẳng tiến.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(30) Kinh quá bát bá lý, Kim cổ thiểu nhân hành: <I>Nghĩa là rộng hơn tám trăm dặm, xưa nay ít người qua". Lại bề rộng quá lớn của con sông giống như sông Lưu Sa (xem chú thích số (15) trong chương này).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(31): <I>Do điểm này mà hiện nay thấy các ảnh tượng Quán Thế Âm Bồ tát đằng sau rừng tre.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(32) Quan Âm ngư lam: <I>Trong cuốn Thiền Luận của D.T. Suzuki (có kèm tranh vẽ "Quan Âm xách giỏ cá: của một nghệ sĩ Nhật Bản khuyết danh) cũng có chuyện Quan Âm ngư lam như sau (tập hạ, trang 527):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Quan Âm trong hình dáng này thường là đề tài vẽ cho các nghệ sĩ Nhật Bản và Trung Hoa. Cũng gọi là Quan Âm Mã Lang Phụ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Truyện kể như sau: Đời Đường, trong niên hiệu Nguyên Hòa (806-820), vì muốn hóa độ dân chúng vùng Thiểm Hữu, đức Quan Âm hiện thân làm một thiếu nữ đẹp. Có nhiều thanh niên rắp ranh bắn sẻ. Nàng ra điều kiện: Nếu các anh ai học thuộc lòng kinh Quan Âm nội trong một buổi chiều, tôi sẽ làm vợ người đó. Sáng hôm sau, có hai mươi ứng cử viên đã học thuộc lòng kinh đó. Nhưng nàng lại nói không thể làm vợ nhiều người cùng một lúc như thế, vậy bây giờ ai có thể học thuộc lòng kinh Kim Cang nội trong một đêm? Mười người trúng tuyển. Phải thi nữa. Lần này họ được ra điều kiện học thuộc bộ kinh Pháp Hoa gồm bảy quyển trong ba ngày. Chàng họ Mã là người duy nhất trúng tuyển. Nàng hứa làm vợ chàng. Khi hôn lễ đã được sửa soạn chu đáo, tất cả bằng hữu và quyến thuộc nhà trai đều được mời dự, thiếu nữ bỗng ngã bệnh, dung nhan tàn tạ hư hoại, rồi chết ngay trước mặt các khách khứa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đó, một thầy Tăng đến gõ cửa nhà họ Mã, và khi dự lễ táng, ông lấy cây gậy bới đống đất chôn thi thể người nữ Phật tử đó. lạ lùng thay, xương nàng trở thành vàng ròng. Sư mới nói với họ: nàng không phải là người phàm. Do phương tiện của Bồ tát mà nàng hiện thân cho họ thấy. Đó là muốn họ nghĩ đến chánh pháp để đừng làm tội ác. Nói xong, sư bay bổng lên không.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong câu chuyện này, chúng ta thấy Bồ tát hành động chen lẫn giữa mọi người. và cùng tham gia các việc mưu sinh như đi chợ mua cá".</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(33): <I>Sau này, qua sông Thông Thiên một lần nữa, con Bạch Ngưu (Thủy Nguyên) cũng lại chở sang sông, nhưng Bạch Ngưu hỏi lại thì Tam Tạng không biết trả lời ra sao, vì mãi lo việc thỉnh kinh nên quên mất lời dặn dò của nó. Nó bèn lặn xuống nước làm cho bốn thầy trò Tam Tạng chìm xuống sông và ướt hết kinh (Xem nạn này ở đoạn sau, trang 992, Tây Du Ký Bình Khảo, Phan Quân).</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Giai đoạn này (tiết đoạn thứ hai<SUP><B>(*)</B></SUP> được đánh dấu bằng ba sự kiện đặc biệt:</B></SUP>)
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. Việc Tam Tạng đuổi Tôn Hành Giả lần thứ ba (Tôn Hành Giả từ biệt thầy lần thứ nhất là vì giận thầy bỏ ra đi, lần thứ hai bị Tam Tạng đuổi vì đánh chết một cô gái - yêu quái - mà Tam Tạng tưởng là người hiền lành). Rồi sau đó sự xuất hiện hai Tôn Hành Giả: một giả, một thật làm cho các vị Thượng đế, Thánh thần, kể cả Quán Thế Âm Bồ tát cũng không nhận định ai là thật, ai là giả, về sau chỉ có đức Thích Ca Như Lai mới phân biệt được (và dùng bình bát thâu yêu quái giả làm Tôn Hành Giả để giải cứu).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">2. Sự xuất hiện ba lần của Quán Thế Âm Bồ tát: lần thứ nhất để hướng dẫn chỉ bày cho Tôn Hành Giả đi cầu cứu Mão Nhật Kê ở cung Quang Minh xuống giải nạn cho Tam Tạng, còn hai lần sau là dự vào việc nhận định giả chơn của hai hình Tôn Hành Giả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sự can thiệp của đức Thích Ca Như Lai, lần thứ nhất để phái mười tám vị La Hán xuống giúp Tôn Hành Giả, lần thứ hai là để phân biệt hai hình Tôn Hành Giả, ai thật, ai giả (và dùng bình bát thâu yêu quái giả dạng Tôn Hành Giả).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trước khi Quan Âm thị hiện mách cho Tôn Hành Giả cách giải cứu thì thầy trò Tam Tạng đã phải trải qua hai hiểm nạn:
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">*a. Lúc thầy trò Tam Tạng đến một vùng núi cao, Tam Tạng đói bụng nên Tôn Hành Giả phải đi xin cơm cho thầy. Tôn Hành Giả vẽ một vòng tròn và bảo thầy ở trong vòng ấy không nên đi ra ngoài (vòng tròn đã được làm phép) vì sơ gặp yêu quái trong lúc Tôn Hành Giả đằng vân đi xin cơm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng vì Tam Tạng và hai đồ đệ Bát Giới và Sa Tăng không nghe lời nên đi ra, tìm đến một lâu đài sang trọng, trong nhà không có ai, chỉ có một bộ xương khô nằm trên giường thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bát Giới thấy ba bộ áo rất đẹp nên tham lam lấy đem về cho Sa Tăng cùng mặc, bất ngờ hai người bị phép yêu làm áo xiết chặt lại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chúa yêu là Độc Tỉ Giác xuất hiện liền bắt ba thầy trò Tam Tạng giữ lại, làm phép thâu áo và có ý định đem về động tại núi Kim Đâu để ăn thịt Đường tăng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn Tôn Hành Giả khi đem cơm về không thấy thầy đâu, lại thấy lầu đài biến mất, biết là thầy đã mắc nạn nên tìm đến núi Kim Đâu đánh nhau với chúa yêu là Độc Giác Tỉ, không ngờ Độc Giác Tỉ có chiếc vòng Kim Cang trát là bửu bối rất lợi hại, có phép lực cao hơn nên Tôn Hành Giả bị thâu mất thiết bảng (Hồi thứ 50).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả vừa giận vừa buồn liền lên Thiên cung để tra hỏi lai lịch của chúa yêu và xin Thượng đế cứu giúp. Thượng đế phái Lý Thiên Vương và Na Tra xuống trừ yêu, đánh cũng thua. Cả Hỏa Đức Thánh Quân và Thủy Đức Thánh Quân dùng lửa và nước đánh con yêu Độc Giác Tỉ cũng không lại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngay cả đức Thích Ca Như Lai phái mười tám vị La Hán<SUP><B>(34)</B></SUP> đem mười tám hột Kim đơn sa xuống trừ yêu quái giúp cho Tôn Hành Giả cũng bị chiếc vòng bửu bối của yêu Độc Giá Tỉ thâu luôn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng trước khi phái các vị La hán xuống, đức Phật Thích Ca đã "đưa mắt nhìn về phía núi Kim Đâu, biết rõ ngọn ngành" (Tây Du Ký Bình Khảo, trang 501), nhưng không nói cho Tôn Hành Giả biết, chỉ gọi hai vị La Hán lại (Giáng Long La hán và Phục Hổ La hán) mà dặn rằng khi nào có mất Kim đơn sa thì bảo Tôn Ngộ Không lên Thái Thượng Lão Quân mà truy nguyên. Khi Tôn Hành Giả lên gặp Thái Thượng Lão Quân để cầu cứu, thì nhìn ra nơi chuồng trâu không thấy con Kim Ngưu đâu cả, mà thằng chăn trâu thì nằm ngủ ngáy vo vo, mới báo cho Lão Quân biết con trâu đã sẩy chuồng rồi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thái Thượng Lão Quân đi ra chuồng trâu mới biết trước đó Lão Quân có đánh rơi một viên thuốc Thất phản hỏa đơn, thằng chăn trâu lấy uống nên nằm ngủ đã bảy hôm rồi, nên biết con Kim ngưu đã thoát ra bảy ngày rồi. Nó lại ăn cắp chiếc vòng Kim Cang trát có phép thuật cao cường nên đánh với các vị tiên thần đều dùng chiếc vòng này mà thâu hết vũ khí.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức Thái Thượng Lão Quân mới đem theo chiếc quạt Ba tiêu đi cùng với Tôn Hành Giả đến núi Kim Đâu, quạt mấy cái thâu chiếc vòng Kim Cang trát lại,còn con yêu Độc Tỉ Giác thì tay chân bủn rủn, hiện nguyên hình thành con trâu lớn lông vàng (Kim ngưu).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thái Thượng Lão Quân mới đưa Kim Cang trát ra thổi một hơi hóa ra câu móc, xỏ mũi Kim ngưu là dắt về cung Đâu Xuất.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả ra sau động mở trói cho thầy trò Tam Tạng, thuật lại mọi việc. Thầy trò mừng rỡ vội vã lên đường.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">*b. Hiểm nạn thứ hai (trước khi gặp Quan Âm) là lúc đi qua nước Tây Lương Nữ Quốc - một nước chỉ có toàn đàn bà, không có đàn ông - lúc vừa đến một con sông, nước chảy trong veo gọi là Mẫu Tử Hà, thì khi đi qua đó Tam Tạng khát nước, thấy nước sông trong veo muốn uống, mới bảo bát Giới múc một bát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bát Giới vì đang lúc khát nên múc một bát đầy tràn, Tam Tạng uống hết một phần, còn hai phần Bát Giới uống hết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Độ nửa giờ sau, hai thầy trò Tam Tạng và Bát Giới kêu đau bụng và sờ bụng thấy mỗi lúc một lớn thêm. Đi một lúc đến nhà một bà lão ở bên đường để nghỉ tạm thì bào lão nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đây là Tây Lương Nữ Quốc, trong nước không có đàn ông con trai. Bởi vậy có dòng sông Mẫu Tử Hà, ai uống đều phải có chữa. Trong nước tôi, con gái hai mươi tuổi sắp lên mới dám uống một hớp nước ấy. Uống xong tức thì đau bụng thọ thai. Cách ba ngày đến nhà quán Nghinh Dương mà ngó xuống suối chiếu thai, hễ thấy bóng sanh đôi tức là gần khai hoa nở nhụy. Nay hai thầy uống nhằm nước ấy tất có nghén, không mấy ngày nữa phải đẻ con<SUP><B>(35)</B></SUP>. Bà lão nói thêm:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bây giờ chỉ có một cách là qua phía Nam đến núi Giải Dương, động Phá Nhi, múc nước giếng Lạc Thai đem về mà uống thì mới tiêu thai đặng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả liền hỏi chỗ núi Giải Dương ở đâu, và đằng vân bay về phía Nam, tay cầm một cái chén để xin nước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng núi Giải Dương, hiện có một đạo sĩ tên là Như Ý Chơn Tiên đến chiếm động Phá Nhi rồi, nên ông này cản trở không cho múc nước tại giếng Lạc Thai. Tôn Hành Giả gặp Như Ý Chơn Tiên thì không ngờ ông này lại là anh của Ngưu Ma Vương, tức là bác của Hồng Hài Nhi, ông này lại biết Tôn Hành Giả là học trò của Tam Tạng đi xin nước để cứu thầy khỏi bị bệnh có thai.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông này bèn đánh nhau với Tôn Hành Giả để trả thù vì ông ta cho rằng Hồng Hài Nhi phải đi theo hầu Quan Âm là do Tôn Hành Giả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả mới giải thích cho Như Ý Chơn Tiên nghe:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngưu Ma Vương là bạn của tôi, Hồng Hài Nhi kêu tôi bằng chú. Nay Hồng Hài Nhi đã theo Quan Âm tu thành chánh quả làm Thiện Tài đồng tử rồi, sao Chpn tiên lại kết oán cho tôi như vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng Như Ý Chơn Tiên vẫn không thuận và quyết đánh nhau với Tôn Hành Giả, bị Tôn Hành Giả đập cho một thiết bảng đỡ không nổi, tay chân bủn rủn, ôm đầu chạy vào trong động.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả đi tìm giếng Lạc Thai để múc nước, lại bị Như Ý Chơn Tiên phá, lấy móc câu chân mấy lần, Tôn Hành Giả té nhào. Tôn Hành Giả mới nghĩ kế, về đem Sa Tăng theo để trong lúc Tôn Hành Giả vờ đánh nhau với Như Ý Chơn Tiên thì Sa Tăng múc nước giếng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi Sa Tăng múc đầy một thùng nước giếng Lạc Thai đem về, thì Tôn Hành Giả cũng không màng đánh nhau với Như Ý Chơn Tiên nữa, mà đằng vân bay về nhà luôn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai thầy trò Tam Tạng và Bát Giới được nước giếng Lạc Thai, uống vào mỗi người một hớp, tức thì một lúc sau, hai thầy trò thấy sôi bụng và đi đại tiểu tiện ra hết, mới lành bệnh có chữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bà lão bèn đem cháo ra mời thầy trò Tam Tạng. Ăn xong, mấy thầy trò nghỉ lại một đêm, sáng hôm sau mới từ giã lên đường (Hồi thứ 53)
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng mấy thầy trò vẫn còn đi trong địa phận nước Tây Lương Nữ Quốc, đi chừng ba mươi dặm thì đến thành Đại Lương, Nữ chúa cho nữ quan Dịch Thừa ra trạm Nghinh Dương đón và tiếp Đường Tăng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nữ chúa thấy Đường Tăng mặt mũi khôi ngô, nước da trắng trẻo nên muốn thành hôn cùng với ngài, nên bàn với các nữ quan ép Đường Tăng vầy duyên loan phượng với mình, còn chỉ đổi điệp thông quan cho ba đồ đệ mà thôi, rồi sai họ đi thỉnh kinh, còn Tam Tạng ở lại với Nữ chúa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả muốn cho êm việc rồi tính kế sau, nên khuyên Tam Tạng giả vờ nhận lời. Tôn Hành Giả nói riêng với Tam Tạng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thầy cứ việc tạm chiều lòng Nữ chúa. Khi đưa chúng tôi ra ngoài thành để đi thỉnh kinh, tôi sẽ làm phép định thân khiến cho quan quân chôn chân đứng sửng, không cử động được, chỉ đưa mắt nhìn theo, thầy trò ta đi thật xa, tôi mới thu phép lại thì dẫu chúng có cánh bay theo cũng không kịp. Đó là kế lưỡng toàn xin thầy chớ ngại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng nghe nói như vậy mới không lo lắng nữa, và khiến Tôn Hành Giả dâng điệp thông quan cho Nữ chúa xem.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì trong thông quan chưa có tên ba đồ đệ (không khởi hành tại nước Đại Đường, mới được thâu nạp dọc đường), nên Tam Tạng đọc pháp danh ba người cho Nữ chúa viết thêm vào. Nữ chúa đề xong ký tên, đóng dấu trao cho Tôn Hành Giả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đó, mấy thầy trò mới ra đi. Khi Nữ chúa ngồi trên long xa cùng với Tam Tạng ra đến cửa thành tiễn đưa ba đồ đệ lên đường thì Tam Tạng từ giã xuống xe theo luôn, Nữ chúa giữ lại không được, vì Bát Giới xốc tới táp xàm xạp làm dữ, làm cho Nữ chúa sợ hãi té trên loan giá.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sa Tăng đỡ Tam Tạng lên ngựa và cùng đi với đoàn luôn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng có một người con gái mặt tươi như hoa, hình dáng ủy mị, bước đến nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đường ngự đệ đi đâu đó? Hãy theo ta vầy cuộc gió trăng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi nổi gió cắp nách Tam Tạng bay lên không trung biến mất (Hồi thứ 54).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">10. Ba anh em Tôn Hành Giả bay theo luồng gió, tới một lúc gió tan thì chỉ thấy một hòn núi, mà không thấy con yêu và Tam Tạng đâu nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng bị con yêu đem về núi "Độc Dịch Sơn, động Tỳ Bà" giam vào phía sau động và định quyến rũ làm cho Tam Tạng xiêu lòng mà vầy duyên cùng với nó.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả bèn đi tìm ra động ấy và hóa ra con ong mật bay vào động thám thính, thấy một nữ quái ngồi giữa, xung quanh bọn a hoàn, thế nữ hầu hạ,
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một lúc sau, hai con a hoàn đem Tam Tạng ra, rồi nữ quái bảo dọn hai mâm bánh bao ra để mời Tam Tạng ăn. Một con a hoàn nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Phía này là bánh mặn, nhân thịt người, còn bên kia là bánh chay nhân đường.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng nghe nói vậy rởn óc, nghĩ thầm:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nó là yêu quái, tánh độc hung hăng, chẳng biết lễ nghĩa. Nếu ta không ăn, e nó hại mạng tức thì.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bèn hỏi chỗ bánh chay và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tôi ăn chay đã quen, ăn bánh mặn không được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nữ quái bèn cắt bánh chay cho Tam Tạng dùng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả thấy Tam Tạng ăn bánh và nói chuyện với yêu, sợ thầy bị nữ quái dùng sắc đẹp quyến rũ xiêu lòng, liện hiện nguyên hình cầm thiết bảng đánh nhau với yêu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đánh nhau một lúc, nữ quái nhảy vọt lên dùng một vật gì móc phớt qua đầu Tôn Hành Giả một cái, Tôn Hành Giả la lớn, ôm đầu chạy và kêu nhức đầu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nữ quái thấy Tôn Hành Giả thua chạy rồi, liền trở về động ngồi gần Tam Tạng vuốt ve nài ép Đường tăng ân ái cùng với nó, nhưng Tam Tạng vẫn ngồi xếp bằng làm thinh như người say rượu, cúi đầu niệm tâm kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nữ quái dỗ dành mãi đến nữa đêm thấy Tam Tạng lòng không lay chuyển, tức mình sai mấy con a hoàn đem dây ra trói Tam Tạng lại bỏ vào một góc phòng rồi đi ngủ một mình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến sáng, Tôn Hành Giả và Bát Giới lần đến cửa động, rồi Tôn Hành Giả hóa ra con ong mật bay vào động, thấy thầy bị trói bỏ một góc phòng đến hỏi han thầy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thà chết chứ không lúc nào ta lại chịu thuận tình theo nó, vì thế nên nó trói ta bỏ nơi xó nầy suốt đêm. Vậy hãy ráng cứu thầy đặng kịp lo việc thỉnh kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng nữ quái nghe Tam Tạng thì thầm, tức thì thức dậy áp đảo Tam Tạng nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nếu không thỏa mãn ta, đừng hòng thoát khỏi nơi nầy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả liền bay ra ngoài động, hiện hình lại thuật chuyện cho Bát Giới nghe. Bát Giới liền xách đinh ba đến phá cửa động, đánh nhau với nữ quái. Đánh được ít hiệp, cũng bị nữ quái dùng vật gì chích vào mỏ, Bát Giới hết hồn ôm mỏ chạy về cùng với Tôn Hành Giả, rên la đau nhức nơi chỗ bị chích.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng Quan Âm hiện ra từ phía Nam đi đến dưới hình tướng một người đàn bà, tay xách giỏ tre. Lúc đến gần ba anh em Tôn Hành Giả, hiện ra nguyên hình và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Cũng vì con yêu đó nên ta mới đến đây. Nó là một con bò cạp cái, lớn bằng cây đờn tỳ bà; nó có hai cái càng gọi là thiết xa, còn cái đuôi cong cong gọi là đảo mã độc (nghĩa là nọc độc chích ngựa cũng phải nhào), nên chích phải ai thì người ấy bị nhức nhối lắm. Bây giờ nếu muốn cứu Tam Tạng thì phải đi thỉnh Mão Nhật Kê từ cung Quang Minh về trị nó mới được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi, Quan Âm đằng vân bay về Nam Hải.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả mới lên cung Quang Minh thỉnh Mão Nhật Kê, bỗng gặp Mão Nhật Kê đi tuần cùng với bọn binh về. Mão Nhật Kê nghe Tôn Hành Giả bảo Quan Âm chỉ bày đến kiếm mình mới nói rằng vì có lời Bồ tát tiến cử, nên theo cùng Tôn hành Giả đi trừ yêu luôn, rồi trở về tâu lại cũng được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mão Nhật Kê đến Độc Dịch Sơn, hiện nguyên hình ra con gà trống mồng đôi, lông cánh như vàng, cất cổ cao hơn sáu bảy thước. Kim Kê ngó nữ quái, kêu lên một tiếng "cót", Nữ quái thất kinh té ngửa hiện nguyên hình là Yết Tử tinh (con bò cạp cái). Kim Kê gáy lên một tiếng, Yết Tử tinh chết cứng, Bát Giới xách đinh ba đến đập chết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả vào động mở trói cho Tam Tạng, và mấy thầy trò dọn cơm ăn, rồi cùng nhau nhắm Tây phương thẳng tiến (Hồi thứ 55).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(*): <I>Các tiết đoạn đều do soạn giả chia ra theo nhận định riêng cho dễ trình bày.</I><P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">(34) Mười tám vị La Hán: <I>Trong thành ngữ điển tích, quyển II trang 763 của Trịnh Văn Thanh, có ghi truyện của mười tám vị La Hán như sau: Ngày xưa ở một làng kia có ông phú hộ giàu có nhất vùng tánh tình rất mực nhân hậu. Người có nuôi một con ngựa thật đẹp và chạy thật hay.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một ngày kia con ngựa khôn ngoan bảo ông chủ rằng (ngựa nói được tiếng người và biết trước được những việc gì sẽ xảy ra trong tương lai):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Này ông, ngày mai sẽ có bọn cướp gồm mười tám tên đến đánh cướp nhà mình, nhưng ông đừng lo, tôi đã có cách xử sự với chúng. Ông bảo cho làm thịt sẵm mười tám con heo sữa đem quay vàng, và dọn ra để sẵn ở bàn với xôi và một vò rượu thật lớn. Ông đợi đúng giờ Tí và đi đón bọn cướp ở ngã tư, rồi ông mời họ về ăn uống, họ sẽ nhận lời và không làm hại ông đâu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rượu thịt lo xong, khuya hôm sau, đúng giờ Tí ông ra đến ngã tử, thấy đúng như lời ngựa nói. Ông liền mời tất cả bọn chúng về nhà dự tiệc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi ăn uống xong, tên chúa đảng mới hỏi tại sao ông phú hộ biết họ đến mà mời ăn và có tất cả mười tám người? Ông liền cho biết là nhờ con ngựa đã báo trước nên ông mời hay tự sự.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bọn cướp lấy làm ngạc nhiên, mới xin gặp con ngựa quí ấy. Ông liền dẫn bọn chúng đến chuồng ngựa, Tên đầu đảng liền hỏi con ngựa:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tại sao mầy biết bọn tao đến mà báo cho chủ mầy biết?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Con ngựa mới đáp rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tôi chính thật là người chứ không phải là ngựa như tất cả mọi người đều tưởng. Xưa kia tôi nợ chủ tôi đây rất nhiều tiền, lúc còn sống tôi không trả đủ, khi chết Diêm vương thấy tôi là người tử tế, nên định cho tôi đầu thai trở lại làm người, nhưng trước khi làm người, tôi phải hóa thành con ngựa để trả cho dứt nợ mà tôi còn thiếu. Tôi rất mến chủ tôi, vì người đã săn sóc tôi tử tế và chu đáo, nên tôi phải báo đền cho chủ tôi một cái gì xứng đáng. Tôi được biết các ông có ý dịnh đánh cướp gia đình chủ tôi trong đêm nay, nên tôi đã báo cho chủ tôi biết trước, chớ tôi thế nào ngậm miệng như tất cả loài vật khác, để cho chủ tôi phải bị khốn đốn với các ông.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Những lời của con ngựa làm cho bọn cướp hồi tâm và suy nghĩ, con ngựa ngay thật mà phải hóa thân làm ngựa để trả cho dứt món nợ trước kia, huống chi chúng mình là những tên cướp giết người, mai kia chúng ta chết xuống âm phủ chắc bị khổ hình ghê gớm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thế rồi bọn cướp từ giã chủ nhà và con ngựa cùng nhau rút lui. Về đến sào huyệt, tên đầu đảng mới gọi tất cả nội bọn lại và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Kể từ giờ phút này tôi dứt bỏ nghề cướp để trở về làm người lương thiện. Trong các anh em có người nào đồng ý với tôi không, xin đưa tay lên!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tất cả bọn cướp đều đồng loạt giơ tay lên cả. Tên chúa đảng lại nói tiếp:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Trước khi vào chùa để sám hối, chúng ta hãy thử xem chư Phật có bằng lòng cứu rỗi chúng ta không. Anh em hãy đem một nồi nước lớn và tất cả đồ nghề ăn cướp của chúng ta ra nơi đây. Chúng ta sẽ cùng cầu khẩn với Phật, nếu ngày hôm nay mà tất cả đồ nghề của chúng ta đun tan ra như nước thì ý nguyện chúng ta đã đạt thành.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tất cả bọn cướp đều làm y lời, đến tối, giở nắp nồi nước ra chỉ thấy toàn là nước lã, vì tất cả đồ nghề đều biến ra nước cả. Mười tám tên cướp đều mừng rỡ, cùng nhau cạo đầu đi tu, cho đến lúc chết, tất cả đều được Phật độ thành mười tám vị La Hán, mà người ta gọi là "Thập bát La Hán".</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(35): <I>Mới có thai mấy ngày đã đẻ con, như vậy là quá sớm đối với loài người, mặc dù vẫn biết đó là chuyện thần thoại.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">11. Khi ra khỏi động Tỳ Bà, thầy trò Tam Tạng đi một thời gian qua khỏi vùng núi cao, đến một khoảng đồng bằng mênh mông. Bát Giới thấy con ngựa của Tam Tạng đi chậm mới đuổi ngựa đi cho mau, nhưng nó vẫn thủng thỉnh đi không chịu chạy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả mới đưa thiết bảng lên hét, tức thì con ngựa vùng chạy như tên bắn. Tam Tạng thất kinh ôm cứng lấy cổ ngựa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngựa chạy chừng hai mươi dặm đường, mới ngừng lại. Xảy nghe tiếng thanh la, Tam Tạng ngoảng lại nhìn thấy một bọn lâu la chừng ba mươi tên, tay cầm khí giới đón đường bắt nộp tiền mãi lộ. Tam Tạng biết đó là bọn cướp, nên mới nói đỡ xin đợi cho học trò đến rồi đưa dâng nộp mấy lạng bạc. Chúng nó bèn trói Tam Tạng lên cây, đợi lúc học trò đến sẽ dưa tiền chuộc mạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả, Sa Tăng, Bát Giới vừa đi đến, thấy thầy bị treo lủng lẳng trên cây. Tôn Hành Giả liền hóa ra một sãi nhỏ mang cái gói đi tới. Ngộ Không để khăn gói xuống và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Trong gói tuy có nhiều tiền bạc, song trước hết hãy mở thầy tôi xuống đã, rồi sẽ lấy của sau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng được mở trói xong, Tôn Hành Giả liền nói với bọn cướp:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Các người bắt treo thầy ta, phạm lỗi nặng như vậy, ta chưa đánh đòn, còn đòi tiền bạc nữa sao?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai tên đầu đảng nổi giận giơ gậy đập vào đầu Tôn Hành Giả mấy cái. Tôn Hành Giả đứng yên, vừa cười vừa nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thứ gậy đuổi ruồi ấy đánh vào đầu ta mà thấm thía chi. Hãy đập chơi vài mươi gậy nữa xem sao!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bọn cướp tức giận đứa nào cũng đập lên đầu Tôn Hành Giả côm cốp mà Tôn Hành Giả vẫn trơ trơ. Khi chúng đánh chán rồi, Tôn Hành Giả liền đưa lên mép tai lấy cây kim đưa ra, nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta là người tu hành chẳng có tiền của chi cả, có cây kim này, các ngươi lấy chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bọn cướp chau mày, ngơ ngác muốn đuổi theo Tam Tạng. Tôn Hành Giả nhồi cây kim lên, hóa thành thiết bảng, dựng xuống đất, nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thôi! Đánh ta đã chán tay rồi, để lão Tôn đập cho một cái xem sao?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dứt lời, đập tên đầu đảng một thiết bảng nát sọ, nằm ngay dưới đất, tên phó đảng lớ quớ cũng bị Tôn Hành Giả đập một thiết bảng nữa chết tươi. Bọn lâu la ùa nhau bỏ chạy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng đi một quãng rồi, cỡi ngựa chạy trở lại, gặp Bát Giới và Sa Tăng đang lểnh mểnh đi tới. Tam Tạng bảo Bát Giới nói với Tôn Hành Giả đừng giết bọn cướp làm chi. Nhưng Bát Giới thấy hai tên đầu đảng và phó đảng bị Tôn Hành Gia đánh chết rồi, bèn báo với Tam Tạng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hai đứa bị sư huynh đánh chết nằm ngay giò rồi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng nghe nói mắng lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con khỉ ốm! Sao bất nhân đến thế!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi Tam Tạng nổi giận mắng Tôn Hành Giả một hồi. Tôn Hành Giả bị thầy mắng, nổi tức nhìn Bát Giới hét lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nếu ngươi không chôn, ta đập một thiết bảng cho chết luôn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bát Giới hoảng sợ lấy đinh ba đào đất chôn hai xác chết một hầm. Rồi Tôn Hành Giả mời Tam Tạng lên yên ngựa để cùng đi với đoàn. Hai thầy trò người nào cũng còn hậm hực giận hờn, tuy vẫn gượng gạo làm vui.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đi được vài dặm, thấy phía Bắc có xóm nhà, mấy thầy trò mới rẽ vào xóm, đến trước một ngôi nhà lớn xin tá túc một đêm. Một ông lão ở trong nhà chạy ra, thấy ba đồ đệ của Tam Tạng liền hoảng sợ tưởng là yêu tinh, vừa chạy vào trong nhà vừa run.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng trấn an ông lão nói là học trò của mình tuy xấu tướng nhưng hiền lành. Rồi Tam Tạng bước đến thuật hết sự tình, bắt ba đồ đệ của mình vào lạy ra mắt và ngồi cho tề chỉnh nết na.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc bấy giờ ông lão mới hết sợ, thắp đèn và bắt ghế mời Tam Tạng ngồi. Tam Tạng hỏi thăm. Ông lão nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tôi họ Dương, năm nay đã bảy mươi bốn tuổi, chỉ có một đứa con, xưa nay nhà tôi sống cuộc đời lương thiện hiền lành, mà sao đứa con trai tôi lớn lên thì hung hăng bạo ngược, kết bè đảng với bọn cướp, ngày ngày đi cướp giật đồ của người ta. Nó đi đã năm hôm nay chưa thấy trở về nhà.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng nghe nói như vậy, than rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sao lại bạc ác quá! Cha mẹ hiền lành sao trời khiến sanh con dữ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả bảo:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con bất hiếu như vậy, ông tiếc làm chi! Để tôi đi kiếm nó giết quách cho xong!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông lão nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con bất hiếu có chết cũng không tiếc, ngặt vì nhà tôi chỉ có một mình nó, giết đi sau này biết ai hương lửa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi ông lão đem chiếu ra cho thầy trò Tam Tạng trải ngoài nhà mát sau vườn mà ngủ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến canh tư, trong nhà có tiếng ồn ào. Đó là người con trai họ Dương dẫn bạn hữu về nhà gọi cửa. Nó mới ra sau vườn lấy củi đem vào nấu cơm ăn. Nó thấy con ngựa của Tam Tạng mới hỏi dò mẹ nó, rồi nó biết là thầy trò Tam Tạng ghé vào nhà nó ngủ nhờ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người con trai họ Dương vỗ tay cười nói với bạn hữu, nó sửa soạn mài dao bén, đợi ăn cơm xong rồi thì giết để báo thù cho hai đứa đầu đảng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ông lão nghe con trai mình bàn luận như vậy, liền lén ra sau vườn tin cho thầy trò Tam Tạng hay.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng nghe nói run lẩy bẩy, cúi đầu tạ ơn rồi thầy trò dắt ngựa, mang gói, mở cửa sau vườn đi thoát, còn ông lão trở vào nhà nằm yên chỗ cũ. Đến canh năm, bọn lâu la ăn cơm xong, mới cầm dao sáng quắc, ùa ra sau vườn, nhưng chúng không thấy thầy trò Tam Tạng đâu cả. Chúng xem xét khắp nơi, thấy cửa vườn mở, biết thầy trò Tam Tạng đã bỏ trốn, vội vã đuổi theo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trời tảng sáng, chúng nó theo kịp, Tam Tạng nhìn lại thấy bọn cướp, gươm giáo sáng lòa, thất kinh nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bọn chúng đuổi theo, cố làm dữ, chúng ta biết chạy đâu cho khỏi?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thầy chớ lo! để tôi liệu tính.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi, xách thiế tbảng chạy trở lại, đón bọn cướp đánh mấy đứa té sấp, còn bao nhiêu bỏ chạy ráo. Chưa hả giận, Tôn Hành Giả mới nắm đầu một đứa hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thằng nào là con ông già họ Dương, mi phải khai thực.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tên lâu la ấy, vừa run sợ vừa nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Kìa! Anh chàng mặc áo vàng đó!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả chạy theo nắm đầu, giật gươm chém lấy thủ cấp. Rồi xách đầu chạy theo Tam Tạng kêu lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tôi đã lấy được đầu đứa nghịch tử nhà họ Dương rồi!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng trong thấy kinh hồn, té xuống ngựa. Sa Tăng vội đỡ thầy dậy, còn Bát Giới vâng lời thầy giật chiếc đầu trong tay Tôn Hành Giả, đá một cái văng thật xa, rồi xách đinh ba chạy theo đào đất chôn liền. Tam Tạng nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con khỉ ốm này tàn ác quá lắm! Người ta đã đem cơm nước đãi thầy trò mình, cho ngủ nhờ một đêm, lại sợ bọn cướp giết đi, tin cho biết để lánh nạn. Ơn ấy chưa đền, ngươi lại nỡ giết con trai người ta, thế thì còn gì là nhân đạo. Thôi! Ngươi đi đâu thì đi, nếu còn theo ta nữa, ta niệm chú cho bể đầu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thôi thôi! Thầy đừng niệm chú nữa, thầy đã không muốn tôi đi theo, tôi xin trở về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi đằng vân bay mất (Hồi thứ 56).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả sau khi bị thầy đuổi tức giận nhảy lên mây, nhưng nghĩ rằng nếu trở về núi Hoa Quả thì bọn tiểu yêu chế nhạo, trở lại với thầy năn nỉ thầy cho theo thì bị Tam Tạng từ chối mắng nữa:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con khỉ độc ác! Sao không tìm chỗ khác nương thân, theo ta làm gì nữa?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thấy Tam Tạng gắt gỏng và nhất quyết từ chối mình, Tôn Hành Giả bèn bay qua Nam hải, quỳ lạy Quan Âm, khóc nức nở, nói không ra tiếng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm bảo Thiện Tài đồng tử đỡ Tôn Hành Giả dậy và hỏi tự sự. Tôn Hành Giả liền thuật hết mọi chuyện đã xảy ra cho Quan Âm nghe. Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tam Tạng là kẻ chơn tu không chịu sát hại sanh mạng. Còn ngươi có nhiều phép thần thông, sau không dùng trí mà trị nó, lại giết làm gì? Tuy là ăn cướp song cũng là người, ngươi giết đi mang tội. Ta lấy lẽ công bình mà xử thì lỗi ấy về ngươi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả bèn nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Vậy xin Bồ tát thương tình, niệm chú cho cái kim cô rớt xuống, tôi trả lại cho Bồ tát đặng trở về Đông Thắng Thần Châu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm vừa cười vừa nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hồi trước Phật Tổ truyền chú cẩn cô, không truyền chú tòng cô, biết làm sao mở cho được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả mới nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vậy để tôi đi đến Phật Tổ nhờ niệm chú tòng cô để tôi cởi trả lại kim cô, tìm nơi sinh sống cho an thân.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi chớ nóng nảy! Để ta xem thử thầy ngươi có hồi tâm dung nạp ngươi không đã!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi làm phép xem khắp nơi. Giây phút kêu Tôn Hành Giả nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thầy ngươi gần mắc nạn, thế nào cũng tìm ngươi nhờ giải cứu. Vậy ngươi cứ ở đây chờ ta sẽ nói với Đường Tăng để cho ngươi theo thỉnh kinh đặng thành chánh quả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả cúi đầu không dám cãi lời.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về phần Tam Tạng, sau khi đuổi Tôn Hành Giả đi, vẫn cứ tiếp tục lên đường cùng với Sa Tăng và Bát Giới. Đi được năm mươi dặm đến một vùng vắng vẻ, Tam Tạng thấy cần nghỉ ngơi và ăn uống nên mới hỏi học trò ai tính đi hóa trai.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì vùng ấy vắng vẻ không có nhà cửa, nên Bát Giới liền đằng vân đi kiếm nước uống cho đỡ khát. Sa Tăng cũng nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Xin thầy ngồi đây đặng tôi đi múc nước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng ngồi một mình, đưa mắt nhìn bốn phía thấy quạnh vắng, cảm thấy cô đơn yếu hèn trên con đường vạn dặm gian nan.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng có một luồng gió lạnh thổi đến, Tam Tạng ngỡ là yêu quái, thất kinh muốn bỏ chạy thì trước mặt đã thấy Tôn Hành Giả hiện ra, bưng bát nước mời thầy uống.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng nhất quyết từ chối, nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta thà chết chứ không chịu uống bát nước của người, và nhất định không dùng ngươi nữa!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Không có tôi bảo hộ, làm sao thầy đi tới Tây phương, thầy là sãi độc hiểm, làm nhục tôi đủ điều!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dứt lời, đánh trên lưng Tam Tạng một đấm té nhào chết giấc và đoạt hai gói hành lý đằng vân đi mất.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sa Tăng và Bát Giới xin được cơm nước mừng rỡ trở về. Đến nơi thấy Tam Tạng nằm xỉu dưới đất, con ngựa đứng dậm hí bên đường, còn hai gói hành lý bị mất đâu không thấy. Bát Giới nghi rằng Tôn Hành Giả căm hờn mới kêu bọn cướp ban mai đến đánh thầy và giật đồ cho bỏ ghét. Bát Giới sờ vào ngực Tam Tạng thấy còn âm ấm, liền nói với Sa Tăng: "Thầy còn sống".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Giây phút Tam Tạng tỉnh dậy, vừa rên vừa kêu đau, vừa nói thều thào:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con khỉ độc thủ quá! Nó quyết đánh chết ta!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng uống vài hớp nước, dần dần tỉnh lại, thuật hết đầu đuôi câu chuyện. Rồi Bát Giới và Sa Tăng đỡ Tam Tạng dắt đến một ngôi nhà gần đây xin cho Tam Tạng nghỉ tạm, Sa Tăng đem cơm cho Tam Tạng ăn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc bấy giờ, hai anh em Bát Giới và Sa Tăng mới bàn nhau đi đòi hai gói hành lý lại, Tam Tạng mới sai Sa Tăng đi vì sợ Bát Giới hay gây gổ với Tôn Hành Giả thì nó không thuận.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sa Tăng đằng vân đi gần ba bữa mới đến Đông Thắng Thần Châu, tìm đến động Thủy Liêm vào, thấy trong động có Tôn Hành Giả ngồi giữa, đang đọc đi đọc lại bức điệp thông quan của Tam Tạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sa Tăng thấy Tôn Hành Giả làm mặt lạ với mình và ngạc nhiên thấy Tôn Hành Giả đọc bức điệp thông quan, mới hỏi chuyện. Tôn Hành Giả trả lời:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta cần bức điệp thông quan nên đánh cướp. Ta đọc cho thuộc bức điệp và đánh Đường Tăng, đoạt hành lý chính là muốn đi thỉnh kinh đem về Đông Độ, vua Đường sẽ tôn ta làm tổ, để tiếng muôn đời.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sa Tăng mỉm cười nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Anh lầm rồi! Phật Tổ đặt ra ba tạng kinh, truyền Quan Âm chọn một người đệ tử của ngài là Kim Thiền trưởng lão đi thỉnh mới được. Kim Thiền trưởng lão vì trước không nghe kinh nên phải đọa làm Tam Tạng để đi thỉnh kinh. Tam Tạng phải chịu nhiều tai nạn mới thành. Còn ba anh em chúng ta chỉ là theo bảo hộ mà thôi. Nếu anh đi một mình chắc Phật Tổ không cho thỉnh kinh đâu, chỉ uổng công mà thôi!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả mới đáp lại:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi tưởng ta không có Tam Tạng sao? Ta đã sắp dặt rồi. Ngày mai ta sẽ lên đường đi thỉnh kinh. Nếu ngươi không tin ta sẽ cho ngươi xem!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dứt lời, truyền bọn tiểu yêu thỉnh Tam Tạng giả ra, có Bát Giới, Sa Tăng cầm bửu trượng và dắt ngựa theo sau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sa Tăng trông thấy nổi giận, đánh Sa Tăng giả một bửu trượng chết tốt. Tôn Hành Giả liền xách thiết bảng đánh nhau với Sa Tăng. Sa Tăng chống cự không lại, đằng vân bay mất.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ra khỏi động Thủy Liêm được mấy trăm dặm, Sa Tăng liền bay đến núi Lạc Đà để trình với Quan Âm tự sự. Quan Âm đòi Sa Tăng vào. Vừa thấy Tôn hành Giả đứng dưới tòa sen vừa cười vừa nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chắc Đường Tăng mắc nạn nên ngươi đến đây thỉnh Bồ tát
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thấy Tôn Hành Giả, Sa Tăng liền vung bửu trượng dánh tới. Rồi nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi phạm tội bội sư, dám đến đây nói dối với Bồ tát để chữa lỗi sao?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm bảo Sa Tăng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngộ Tịnh! Có việc gì ngươi phải nói cho ta nghe rõ, cớ sao lại làm càn như vậy?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sa Tăng thuật lại việc Tôn Hành Giả đánh Tam Tạng, giật hành lý.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngộ Tịnh đừng vu oan cho Ngộ Không. Vì đã bốn hôm nay Ngộ Không ở đây, ta không cho rời đi nửa bước, lẽ nào lại có việc đến dâng nước rồi lại đánh Đường Tăng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sa Tăng nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bây giờ tại động Thủy Liêm cũng có Tôn Hành Giả rõ ràng, đệ tử không dám nói dối.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nếu quả thật như vậy thì ngươi đi với Ngộ Không đến đó mới rõ giả chơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai người vâng lệnh, đằng vân đến động Thủy Liêm (Hồi thứ 57).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai người đến núi Hoa Quả, vào động Thủy Liêm thấy Tôn hành Giả đang ngồi trên ghế đá và đang dùng một con khỉ khác biến ra Sa Tăng, cố ý chuẩn bị đi thỉnh kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả (thật) nổi giận xách thiết bảng xông vào mắng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mi là con yêu quái nào đó, sao dám giả hình ta, lại chiếm cứ thạch động, tội mi đáng chết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả (giả) ở trong động cũng cầm thiết bảng nhảy vọt ra. Hai bên đánh nhau một hồi, đánh ở dưới đất, rồi lại đằng vân lên mây đánh nữa. Sa Tăng muốn xông vào trợ chiến, nhưng không rõ ai là thật, ai là giả nên không dám. Rồi hai Tôn Hành Giả dẫn nhau đến Nam Hải, đến núi Phổ Đà, ra mắt Quan Âm, còn Sa Tăng đằng vân về thuật lại cho Tam Tạng rõ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cả hai Tôn Hành Giả về hình hài, ăn nói, cử chỉ đều lúc nào cũng giống nhau, nên Quan Am bèn nói nhỏ với Thiện Tài và Huệ Ngạn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta xem hai người sao giống nhau không phân định được giả chơn. Bây giờ phải lập kế như vầy mới biết được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bèn sai Thiện Tài và Huệ Ngạn, mỗi người giữ một Hành Giả, đoạn niệm chú cẩn cô, xem người nào bị nhức óc. Nhưng, cả hai Hành Giả đều ôm đầu lăn xuông một lượt. Quan Âm không biết tính sao, gọi lớn: "Ngộ Không".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cả hai đều dạ một tiếng như nhau. Không biết tính sao, Quan Âm bèn bảo hai người dắt lên Thiên Đình mà kiện.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thượng Đế bảo Lý Thiên Vương lấy kính chiếu yêu ra xem, cũng không phân biệt được, bèn truyền lệnh đuổi ra. Cả hai Tôn Hành Giả đều cười ngất và đem nhau đến trước mặt Tam Tạng để xét. Lúc đó Sa Tăng cũng đã về thuật chuyện cho Tam Tạng nghe rồi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thế mà ta cứ nghi Tôn Ngộ Không đánh ta, nay mới biết yêu tinh giả mạo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tuy vậy, khi Sa Tăng gợi ý cho Tam Tạng niệm chú cẩn cô thì hai người đều ôm đầu la lớn, kêu nhức đầu. Tam Tạng mới thôi niệm. Rồi cả hai lại đến Thập Điện Diêm Vương kiện.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phán Quan tâu lại với Địa Tạng Minh Vương. Địa Tạng Vương lại đem còn Đề Thính ra cho nó xem thử (con Đề Thính này, nếu nó mọp xuống đất một hồi thì coi rõ được các loài trong trời đất - Tây Du Ký Bình Khảo, trang 557 ghi ở cuối trang).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đề Thính vâng lệnh Minh Vương, mọp xuống đất đưa mắt nhìn, xong một lúc sau, đứng lên tâu:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con quái này có tên, song chẳng nên nói trước mặt nó vì sợ nó phá phách, cõi âm phủ này không an. Nó lại có tài phép không kém gì Tôn Ngộ Không nên bắt nó cũng khó lắm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Địa Tạng Vương bèn nói: "Vậy bây giờ làm thế nào?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đề Thính tâu: "Dẫu có thần thông đến đâu cũng không qua phép Phật".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi Địa Tạng Vương liền phán bảo hai Tôn hành Giả dẫn nhau đến Lôi Âm, ra mắt Phật Thích Ca, xin Phật xử đoán.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cả hai Tôn Hành Giả đều vừa đánh nhau vừa bay đến núi Linh Thứu. Ngay lúc đó có Quan Âm đến xin ra mắt. Quan Âm cúi đầu bạch với Thích ca Như Lai:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bởi đệ tử xem không ra chơn giả, nên mới đến đay thỉnh cầu Phật Tổ chỉ giáo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thích Ca Như Lai cười và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Trong thế giới có năm bực tiên là Thiên tiên, Địa tiên, Thần tiên, Nhân tiên, Quỷ tiên. Còn năm loài trùng là:
<p style="padding-left: 30px;">- lão trùng: loài người.
- Lân trùng: loài có vảy.
- Mao trùng: loài có lông, như các thú.
- Vũ trùng: loài có cánh, như chim, gà.
- Côn trùng: loài có vỏ như rùa, trạnh, sò, ốc, loài này cũng gọi là giới trùng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Song con yêu này không thuộc về năm loại trùng. Nó thuộc về loại "tứ hầu hỗn thế", bởi bốn giống khỉ ấy không nhập về mười loại trên, nên gọi là hỗn thế. Chúng gồm có:
<p style="padding-left: 30px;">1. Linh minh thạch hầu, biết cơ trời đất (khỉ linh).
2. Xích mao mã hầu, thông phép cao xa (khỉ đỏ xương cụt).
3. Thông tuy viên hầu, tài năng mạnh bạo (con vượn cán vá).
4. Lục nhĩ kiễn hầu, biến hóa vô cùng (con giộc sáu tai).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Con quái này thuộc loại Lục nhĩ kiễn hầu, đứng một chỗ mà biết việc ngàn dặm, ai nói hành nó cũng nghe, nên giả làm Tôn Ngộ Không coi như hệt.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc ấy, Lục nhĩ kiễn hầu nghe nói kinh hồn liền nhảy vọt ra khỏi điện. Tám vị Kim cang đuổi theo, và năm trăm vị La hán đồng vây phủ. Tôn hành Giả cũng trợ chiến, quyết bắt cho được Lục nhĩ hầu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thích Ca Như Lai nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngộ Không đừng hỗn chiến, để ta bắt nó cho.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lục nhĩ hầu biết mình chống cự không lại, liền hóa ra con ong mật bay lên. Thích Ca Như Lai lấy bình bát quăng theo, thâu con ong vào bình bát và đậy nắp sa xuống.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ai nấy không rõ, tưởng yêu tinh đã trốn mất, đứng ngơ ngác nhìn. Thích ca Như Lai cười và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nó chạy đâu cho khỏi! Đang bị nhốt trong bình đó.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một vị Kim Cang đến giở nắp bình, thấy một con khỉ sáu tai rõ ràng (Lục nhĩ hầu). Tôn hành Giả nổi giận nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Xưa mi phò ta, nay lại làm phản.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dứt lời lấy thiết bảng đập con khỉ chết tươi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thích Ca Như Lai than: "Tội nghiệp quá!"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn hành Giả thưa:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Phật Tổ thương nó làm gì! Bởi trước tôi làm chúa động, phong bốn đứa nó làm nguyên soái tướng quân, nay nó nghịch mạng, lại giả mạo đánh thầy tôi chết giấc mà đọat hành lý. Ấy là tội ăn cướp, sát nhân cứ theo luật phãi xử trảm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>(Bởi cớ ấy nên nay tuyệt giống khỉ sáu tai - Chú thích trong Tây Du Ký Bình Khảo, cuối trang 560).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật Thích Ca lại nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi hãy đi bảo hộ Tam Tạng đi thỉnh kinh chớ nên trì hoãn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả quỳ lạy nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thầy tôi đã dứt tình, không dùng tôi nữa, tôi có đi theo thầy tôi cũng đuổi về. Xin Phật Tổ làm ơn niệm chú tòng cô cho kim cô rớt xuống, trả lại cho Phật Tổ đặng tôi về trần tục an thân.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thích Ca Như Lai nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Người đừng tính chuyện lôi thôi. Để ta sai Quan Âm đem ngươi xuống giao cho Đường Tăng. Bề nào cũng phải dùng ngươi mới được. Sau này, thỉnh được kinh, ngươi cũng thành chánh quả. Hãy rèn lòng từ thiện mới được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm lạy tạ ơn, Tôn hành Giả cũng bái biệt Phật Tổ theo Quan Âm đi tìm Tam Tạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến nơi, Sa Tăng trông thấy, vội vã mời Tam Tạng ra nghênh tiếp. Quan Ân nói với Tam Tạng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Vừa rồi con Lục nhĩ hầu giả Hành Giả đánh ngươi, nhờ Phật Tổ bắt nó và Ngộ Không giết đi. Còn ngươi chưa dứt hậu hoạn, hết gặp yêu lại gặp tinh, phải cho Ngộ Không đi theo bảo vệ mới được, từ nay về sau ngươi đừng giận và quở la Ngộ Không nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng vâng mạng, quỳ lạy tạ ơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bát Giới từ động Thủy Liêm mang hai gói hành lý về, thấy Quan Âm liền cúi đầu thi lễ và thưa hỏi. Quan Âm thuật lại mọi việc, rồi trở gót bay về Nam Hải.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn bốn thầy trò Tam Tạng lạy tạ ơn Quan Âm, rồi trở vào từ giã chủ nhà, cùng nhau tiếp tục lên đường với niềm hòa khí như cũ (Hồi thứ 58).</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ đây cho đến khi kết thúc cuốn truyện Tây Du Ký, chỉ còn mấy trường hợp có sự can thiệp hay thị hiện của Quán Thế Âm Bồ tát, các chư Phật và các Bồ tát khác như đức Di Lặc, đức Nhiên Đăng Cổ Phật, Bồ tát Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng Vương v.v... Ngoài ra đức Quán Âm Bồ tát có thị hiện vào bốn trường hợp nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">12. Trường hợp này có sự can thiệp của Phật Tổ Như Lai<SUP><B>(36)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc thầy trò Tam Tạng đi qua nước Tư Hấp Lý vào vùng có hỏa diệm sơn quá nóng nên đi không nổi. Có một ông lão mách phải mượn quạt Ba Tiêu của một vị tiên quạt một cái thì mới tắt lửa, quạt ba cái thì mưa xuống. Đó là Thiết Phiến Công chúa tại núi Túy Vân. Tôn Hành Giả liền đến núi Túy Vân thì có một lão tiều phu nói Thiết Phiến Công chúa là bà La Sát<SUP><B>(36a)</B></SUP>, tức là vợ của Ngưu Ma Vương ở động Ba Tiêu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả mới nhớ lại là trước kia đã trình với Quan Âm Bồ tát để bắt Hồng Hài Nhi là con của Ngưu Ma Vương, nay lại gặp Ngưu Ma Vương chắc khó mượn được quạt, nhưng đã đến nơi thì phải tiến vào.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại một phen Tôn Hành Giả phải chiến đấu cùng với La Sát, bị La Sát lấy quạt Ba Tiêu quạt cho một cái bay đi biệt dạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mãi suốt một đêm mới sa xuống một chóp núi gặp Linh Kiết Bồ tát kể rõ tự sự. Linh Kiết Bồ tát mới cho mượn một hoàn thuốc định phong, để nó vào túi áo thì trừ được ảnh hưởng của quạt Ba Tiêu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi Tôn Hành Giả trở lại gặp La Sát mượn quạt lần nữa, nhưng La Sát gạt Tôn Hành Giả cho mượn quạt giả, đem về dùng không hiệu nghiệm mà lại còn làm cho lửa cháy thêm. Lúc bấy giờ Tôn Hành Giả mới biết và trở lại gặp Ngưu Ma Vương để mượn quạt thật. Nhưng Ngưu Ma Vương lại bận đi phó hội nên Tôn Hành Giả đi theo, thấy Ngưu Ma Vương cỡi con thú Bích Thủy, liền tìm cách đánh cắp con thú ấy cỡi về động Ba Tiêu, biến hình thành Ngưu Ma Vương giả, gạt La Sát để lấy quạt thật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc Ngưu Ma Vương tan hội trở ra không thấy con thú Bích Thủy, liền trở về động Ba Tiêu mới biết mất quạt, nên phải đuổi theo Tôn Hành Giả, biến thành Bát Giới giả gạt lấy lại cây quạt có phép thần ấy. Rồi hai bên đánh nhau bất phân thắng bại, sau có bốn vị thần Kim Cang giúp sức, cùng với Lý Thiên Vương, Na Tra thái tử và thần Cự Linh do Phật Tổ yêu cầu Thượng Đế sai xuống cùng trợ chiến, Ngưu Ma Vương mới chịu đầu hàng, quy y theo Phật và trở về động bảo vợ cho Tôn Hành Giả mượn quạt đem về, trừ tuyệt hỏa diệm sơn, sau đó trả quạt Ba Tiêu lại cho La Sát. La Sát cũng nói: "Tôi sẽ trở về hang tu hành mãn kiếp". Còn bốn thầy trò Tam Tạng tiếp tục lên đường (Hồi thứ 61).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">13. Một hôm kia, thầy trò Tam Tạng đi qua khỏi một cụm rừng, lại qua một khoảng đồng bằng, đến một hòn núi cao, trên núi có một ngôi chùa có hào quang chiếu sáng, nhưng Tôn Hành Giả nhảy lên mây xem không hiểu tại sao trong hào quang lại có yêu khí.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng thì cứ tưởng đây là núi Linh Sơn và chùa Lôi Âm. Khi đến nới Tam Tạng thấy có tấm bảng đề bốn chữ "Tiểu Lôi Âm Tự". Nhìn vào trong đại hùng bửu điện thấy Phật Tổ ngồi trên tòa sen nên Tam Tạng, Sa Tăng và Bát Giới sụp xuống lạy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng Tôn Hành Giả không lạy, nên có tiếng trên tòa sen vọng xuống:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sao Ngộ Không thấy ta chẳng chịu làm lễ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thật ra, Tôn Ngộ Không đã nhận biết đấy là yêu quái giả Phật, nên lập tức lấy thiết bảng ra lướt tới đánh nhào. Bỗng nghe một tiếng "rảng" vang cả bửu điện. Đó là tiếng chuông vàng rơi xuống úp Tôn Hành Giả vào trong. Các vị thần như Ngũ Phương Yết Đế, Nhị Thập Bát Tú đến cứu Tôn Hành Giả cũng không được. May sao có vị thần Càn Kim Long hóa ra con rồng vàng đưa sừng dùi một lỗ vào trong chuông rồi Tôn Hành Giả lấy thiết bảng khoan vào sừng một lỗ nhỏ, biến thành con bò hong chui nằm trong lỗ sừng và Càn Kim Long rút sừng ra, Tôn Hành Giả mới nhảy ra ngoai được, hiện lại nguyên hình đánh nhau với yêu quái.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chúa yêu tự xưng là Huỳnh Mi Phật lão tu ở núi Tiểu Tây Thiên nên có tài phép thần thông, lúc đánh nhau với Tôn Hành Giả và các vị thần, liền lấy túi vải quăng lên thâu Tôn Hành Giả và các thần vào trong đem về, rồi lấy dây trói hết mấy thầy trò Tam Tạng và các vị thần bỏ nằm dưới đất. Tôn Hành Giả thu nhỏ mình tuột ra khỏi dây trói, rồi ra sau chùa mở trói cho Tam Tạng, Sa Tăng, Bát Giới và các vị thần Nhị Thập Bát Tú và Ngũ Phương Yết Đế.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về sau trong nhiều trận đánh với nhiều vị thần khác đến giải cứu cho thầy trò Tam Tạng, Huỳnnh Mi cũng lấy cái túi vải ra thâu hết đối phương vào trong túi rồi lấy dây trói quăng xuống hầm đậy nắp lại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng có một vị đằng vân đi qua thấy vậy mới xuống xem việc gì và Tôn Hành Giả thấy một vị mập úc núc biết là Phật Di Lặc, liền cúi đầu thủ lễ và hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chẳng hay Phật Tổ đi đâu vậy?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Di Lặc cười: "Cũng vì chuyện Huỳnh Mi nên ta tính xuống bắt nó trừ hại", rồi lại bảo:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nó là Huỳnh Mi đồng tử ở giữ khánh tại đền ta. Nhân hôm mùng ba tháng ba, ta mắc đi phó hội tại đền Nguyên Thỉ, nó lén lấy bửu bối bỏ trốn xuống đây, giả làm Phật hại Đường Tăng như vậy. Cái túi đó là Hậu Thiên, tục gọi là Tố Nhân, còn đoản côn của nó đang dùng chính là cái dùi đánh khánh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cũng vì do Đường Tăng số còn chịu tai nạn nên khiến nhiều loài yêu xuống đón đường, chẳng phải riêng gì đưa gia đồng của ta. Nay nạn này đã mãn nên ta xuống bắt Huỳnh Mi về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi bảo Tôn Hành Giả vờ đánh nhau với Huỳnh Mi, dụ nó đến chỗ Di Lặc. Khi đến trước am. Tôn Hành Giả liền biến thành trái dưa chín; Huỳnh Mi bước vào am hỏi xin dưa, gặp một ông lão ra hái quả dưa chín cho Huỳnh Mi ăn. Nào ngờ qua dưa ấy chính là Tôn Hành Giả nên sau khi ăn vào bụng rồi, Tôn Hành Giả hóa phép phá phách, đạp đánh lung tung trong bụng Huỳnh Mi làm cho con quái này đau đớn ôm bụng nhào lăn khóc la.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngay lúc đó, ông lão là đức Di Lặc hiện nguyên hình cười ngất:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi còn nhớ ta không?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Huỳnh Mi trông thấy Di Lặc thất kinh vừa lạy vừa năn nỉ:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Xin ân chủ tha tội làm phước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Di Lặc thò tay vào lưng Huỳnh Mi lấy cái túi vải và cây đoản côn lại. Tôn Hành Giả chưa hết giận, đánh đá Huỳnh Mi thêm mấy cái nữa là cho nó chết điếng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Di Lặc bèn xin Tôn Hành Giả tha cho Huỳnh Mi, rồi vì sợ Tôn Hành Giả đánh chết nó nên thâu vào túi đem về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn Tôn Hành Giả ra phía sau am, giở nắp hầm lên, mở trói cho chư thần, rồi các chư thần đều bay về; còn thầy trò Tam Tạng dọn cơm ăn no nê, nghỉ ngơi nửa ngày, sau cùng nổi lửa đốt cả đền đài và dời bước (Hồi thứ 66).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">14. Trường hợp này có Quan Âm Bồ tát thị hiện nhưng không phải để cứu thầy trò Tam Tạng, mà giải cứu cho hẫu lông vàng của Quan Âm cỡi, nó đã lén trốn xuống biến thành con yêu Thại Thái Tuế để làm cho vua Châu Tử và Hoàng hậu mắc nạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi Đường Tăng cùng các đồ đệ ở nước Châu Tử và Tôn Hành Giả làm thuốc chữa bệnh cho vua nước Châu Tử xong rồi, nhưng Tôn Hành Giả lại thấy không có Hoàng hậu nên mới hỏi vua.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua Châu Tử mới nói rõ cho biết Hoàng hậu Chánh cung gọi là Kim Thánh cung của vua bị một con yêu tự xưng là Thại Thái Tuế ở núi Kỳ Lân, động giải Trại bắt về làm phu nhân đã ba năm rồi. Bởi cớ đó nên vua Châu Tử mới ngày đêm sầu thảm mà mang bệnh. May nhờ có thuốc của Tôn Hành Giả cho uống mới hoàn sức khỏe.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả nghe nói, rót một ly rượu uống cạn rồi nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Như vậy Bệ hạ bấy lâu vì phiền muộn mà sanh bệnh. Nay uống thuốc đã lành, Bệ hạ muôn đem Kim Thánh cung trở về chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua Châu Tử bảo rằng vì không có ai trừ được con yêu ấy nên không làm sao rước Kim Thánh cung về nước được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Để Lão Tôn bắt con yêu ấy cho.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua Châu Tử liền nhờ Tôn Hành Giả làm cách nào để giải thoát cho Kim Thánh cung. Rồi Tôi Hành Giả lại hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Từ khi đem Kim Thánh cung về động con yêu ấy có còn lui tới đây nữa không?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sau đó vài tháng nó lại đến đòi dâng thêm hai cung nữ, và cách năm tháng nó lại đến một lần, lần nào cũng bảo dâng cung nữ. Số cung nữ dâng cho nó đến nay độ tám người.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhà vua mỗi lần yêu đến quá sợ nên phải sai công bộ cất một cái lầu gọi là lầu tỵ yêu. Hễ mỗi lần nghe gió thổi thì biết nó tới, vua liền đem cả gia quyến lên lầu lánh nạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói chưa dứt lời, xảy có ngọn gió từ phía Nam thổi đến vo vo, bụi cát bay mù mịt. Mọi người đều tìm chỗ trốn. Bát Giới, Sa Tăng cũng dớn dác xem có xó nào thuận tiện thì chạy trốn luôn, nhưng Tôn hành Giả nắm tay lại bảo:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Các ngươi đừng sợ! Chúng ta đón nó lại xem con yêu gì lại bắt đàn bà con gái?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chẳng bao lâu, trên mây hiện xuống một con yêu. Tôn Hành Giả cầm thiết bảng nhảy lên mây hét lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi là ma quái ở chốn nào mà dám nổi gió nhát người?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng sau khi nghe con quái xưng lai lịch thì biết đó chỉ là tướng tiên phong của Thại Thái Tuế sai đến đòi thêm hai cũng nữ chứ không phải chúa yêu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả bèn đánh đuổi con quái ấy đi, và hỏi chỗ ở của chúa động để đến giao tranh trừ nó và đem Kim Thánh cung về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua Châu Tử nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Động nó ở về hướng Nam, cách thành ba ngàn dặm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả liền đằng vân đến nơi và lập mưu vào động để dò xem Kim Thánh cung ở đâu, và làm cách nào để cứu ra khỏi động được. Chợt gặp một tiểu yêu mang chiến thơ của Thại Thái Tuế đến cho vua Châu Tử biết là chúa động sẽ đánh nước ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả làm phép hóa ra một đạo đồng đón tiểu yêu lại hỏi han thì biết rằng từ khi chúa yêu bắt Kim Thánh cung về không thể gần gũi được vì có một ông tiên đem cho nàng một chiếc áo ngũ sắc, nàng mặc áo ấy vào, hễ đàn ông đụng vào mình thì kim mọc ra chích chảy máu. Do đó chúa yêu không dám mó tới.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả biết thế rồi nghĩ rằng nếu đánh được chúa yêu rồi thì chưa chắc Kim Thánh cung đã chịu theo Ngộ Không về triều, liền bay về nói với vua Châu Tử đưa một vật báu của Kim Thánh cung làm bằng. Vua Châu Tử mới đưa cho Tôn Hành Giả một xâu chuỗi ngọc là vật báu mà Kim Thánh cung thường đeo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả lấy bỏ vào túi áo rồi đằng vân đi đến động, tìm cách vào gặp Kim Thánh cung và tâu riêng với Kim Thánh cung về việc vua Châu Tử có nhờ Tôn Hành Giả giải cứu cho nàng, rồi đưa xâu chuỗi ngọc ra làm bằng cho Kim Thánh cung tin.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kim Thánh cung liền bảo rằng chúa yêu nó có ba cái lục lạc bằng vàng rất lợi hại. Khi nào lúc lắc một cái thì lửa khói đổ ra, khói độc bay ra và cát vàng bay vào lỗ mũi thì chết tức khắc. Tôn Hành Giả bèn mưu tính cùng với Kim Thánh cung để lấy cắp ba cái lục lạc ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi hai người lập kế và Tôn Hành Giả làm phép hóa ra một a hoàn là Xuân Kiều để lấy ba lục lạc thật rồi, thì Tôn Hành Giả biến ra ba lục lạc giả thay vào, sau đó bay ra khỏi động hiện nguyên hình khiêu chiếu với Thại Thái Tuế.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thại Thái Tuế trong khi giao đấu với Tôn Hành Giả, xử dụng bửu bối giả không linh nghiệm, lại bị Tôn Hành Giả dùng ba lục lạc thật làm cho lửa đỏ, khói xanh, cát vàng bay ra tới tấp, Thại Thái Tuế ngỡ mình bị chết thiêu không biết đằng nào chạy thoát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng từ trên mây có nước rưới xuông là lửa khói tắt lịm. Tôn Hành Giả kinh ngạc đưa măt nhìn lên, thấy Quan Âm tay hữu cầm nhành dương, tay tả cầm bình nước cam lồ đang rảy. Tôn Hành Giả liền hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Vì cớ gì Bồ tát lại độ mạng con quái ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm hiện xóng nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bởi ngươi chưa biết! Nguyên khi trước vua Châu Tử còn làm thái tử tánh ưa săn bắn. Một hôm, Thái tử đi săn nơi núi Lạc Phụng, thấy con công trống và con công mái đều còn nhỏ, đậu trên chóp núi. Cặp công đó là con của Khổng Tước Minh Vương. Mà Khổng Tước Minh Vương là con công chầu Phật Chuẩn Đề<SUP><B>(37)</B></SUP>. Cặp công con hiện về báo Phật Chuẩn Đề phạt Thái tử ấy phải phân vợ rẽ chồng ba năm, mình lại mang bệnh phiền não. Khi đó ta cỡi Kim Mao Hẫu<SUP><B>(38)</B></SUP> đến chơi, chẳng dè Kim Mao Hẫu biết việc ấy nên cố ý xuống cướp Hoàng hậu cho vua tiêu tội. Nay ba năm tai nạn đã hết, ta xuông đây thâu nó về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dứt lời, Quan Âm chỉ Thại Thái Tuế hét:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Loài yêu nghiệt! Sao chưa hiện nguyên hình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thại Thái Tuế nhào xuống hiện nguyên hình là con hẫu lông vàng. Quan Âm đòi Tôn Hành Giả trả đùm lục lạc rồi tròng vào cổ con hẫu, nạt một tiếng bảo chạy mau, tức thì bốn chân con hẫu hiện bông sen, bay về Nam Hải.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn Tôn Hành Giả xách thiết bảng xông vào động Giải Trại, giết hết tiểu yêu, và rước Kim Thánh cung về nước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua Châu Tử thấy mặt vợ thì mừng lắm, nhưng động đến thì bị kim chích té nhào. Bỗng trên mây có tiếng nói với Tôn Hành Giả:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đại thánh, ta đã đến đây!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả ngó lên thấy Trương Tử Dương chơn nhơn giáng hạ. Chơn nhơn nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ba năm trước, tiểu tiên đi phó hội bên Phật đài, đằng vân ngang qua đây, thấy Kim Thánh cung bị yêu bắt, e nó phạm đến ngày sau khó hòa hiệp với Quốc vương, nên tiểu yêu lấy cái áo lông hóa ra áo ngũ sắc đem dâng cho Thại Thái Tuế gọi là đi lễ tân hôn. Thại Thái Tuế ngỡ thiệt lền bảo nương nương mặc áo ấy. Áo lông đó có kim độc đầy mình, nếu người đàn ông nào mó vào mình thì bị kim chích té nhào. Nhờ đó mà nương nương giữ trọn trinh tiết với quốc vương. Nay biết Đại thánh đã cứu được Kim Thánh cung rồi nên đến đây thu áo lại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dứt lời, Trương Tử Dương chỉ Kim Thánh cung nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Áo lông hãy rớt xuống mau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tức thời áo lông rời khỏi mình Kim Thánh cung lập tức. Trương Tử Dương thu áo lại rồi từ giã đằng vân bay mất.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua Châu Tử và cả triều thần đồng mở tiệc ăn mừng, đãi đằng bốn thầy trò Tam Tạng rất hậu, rồi cầm ở lại mãi không được nên phải phê điệp, ra lệnh sửa soạn xe rồng cho bốn thầy trò Tam Tạng ngồi, và đưa ra đến ba mươi dặm mới trở lại (Từ hồi 68 đến hồi 71).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">16. Bốn thầy trò Tam Tạng tiếp tục cuộc hành trình, một một kia đi đến một vùng núi cao, gặp một ông lão râu tóc bạc tin cho biết đừng qua núi này vì có một bầy yêu rất dữ, chúng ăn thịt người một bữa năm sáu vạn xác.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng hoảng hồn, Tôn Hành Giả, Sa Tăng và Bát Giới mới đến hỏi ông lão thêm cho rõ. Ông lão bảo đây là núi Sư Đà, có động Sư Đà, ba vị chúa động thần thông pháp thuật rất cao. Còn bọn tiểu yêu thì có đến mấy chục ngàn đứa. Tôn Hành Giả bèn nhảy lên chóp núi nhìn khắp nơi không thấy một bóng người, liền nhảy phóc lên mây gặp Thái Bạch Kim Tinh hỏi thì Thái Bạch Kim Tinh bảo rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con yêu này tài phép cao cường, Đại thánh phải cẩn thận lắm, nếu sơ xẩy một chút khó toàn tánh mạng. Tôn hành Giả nhảy xuống thưa với Tam Tạng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ông già hồi nảy là sao Thái Bạch giả hình để báo tin dữ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả bảo Bát Giới, Sa Tăng ở lại bảo vệ Tam Tạng, rồi cầm thiết bảng lên chóp núi thám thính. Thấy có nhiều tiểu yêu đi tuần, bèn giả làm Tổng tuần phong cai trị cả đám rồi hỏi dò biết rằng trong động Sư Đà có ba chúa yêu, một con gọi là Đại vương, con thứ hai gọi là Nhị đại vương, còn Tam đại vương thì ở cách đó về phía Tây chừng bốn trăm dặm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả liền đánh lừa dọa dẫm cho bọn tiểu yêu đi tuần sợ chết mà đua nhau chạy ra rừng trốn hết, còn mình thì tìm đến động Sư Đà, giả cách làm tiểu tuần phong báo cáo lại cho ba chúa yêu rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tôi nghe Tôn hành Giả có nói trong lúc đang mài thiết bảng rằng: "Nếu bế động nó sẽ hóa ra con lằn xanh chun vào bắt Đại vương lột da, Nhị đại vượng bằm xương, bắt Tam đại vương rút gân".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi Tôn Hành Giả nhổ một sợi lông hóa ra lằn xanh bay đáp vào mặt chúa động. Chúa yêu và bọn tiểu yêu hoảng hồn, đứa thì cào cỏ, đứa thì quơ chổi ập tới đập con lằn xanh, Tôn Hành Giả nhịm cười không được phá lên cười xòa. Bởi phép giả hình chẳng nên cười lớn, hễ cười lớn thì hiện nguyên hình. Vì vậy Tôn Hành Giả hiện ra mặt khỉ nên bị bắt. Tuy nhiên sau đó lập mưu kế thoát ra được, rồi đánh nhau với ba chúa yêu. Sau Tôn Hành Giả làm phép thu nhỏ mình lại nhảy vào miệng chúa yêu cho nó nuốt vào bụng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả vào được trong bụng chúa yêu rồi, liền đấm đá phá phách làm cho chúa yêu phải chịu nhiều đau đớn ngã lăn ra. Chúa yêu bèn đầu hàng và hứa sẽ dùng kiệu để đưa Tam Tạng qua núi. Rồi Tôn hành Giả bay về tin cho Tam Tạng hay.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nào ngờ ba chúa yêu lại phản bội lời hứa, tìm cách đánh nhau với Tôn hành Giả nữa, sau đó lại bị thua nên lại hứa đem kiệu rước Đường Tăng qua núi. Lần này chúng nó lại lập mưu đánh úp thầy trò Tam Tạng. Ba đồ đệ của Đường Tăng phải một phen chiến đấu với chúng nữa. Bát Giới và Sa Tăng cự không lại bị bắt đem vào thành cùng với Tam Tạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chỉ còn Tôn Hành Giả đánh nhau nhưng lại cũng bị con yêu đại bàng bắt luôn đem về. Ba chúa yêu lần nầy sắp đặt định bỏ vào lồng hấp thịt người, hấp chín cả bốn thầy trò Tam Tạng để ăn thịt. Tôn Hành Giả liền tìm cách thoát ra, hóa phép cho bọn tiểu yêu canh chừng lò hấp buồn ngủ hết rồi cứu Tạm Tạng, Bát Giới và Sa Tăng ra khỏi lò hấp trốn đi, nhưng chẳng may trốn không thoát bị bắt lại lần thứ hai nhốt vào củi sắt, chỉ còn Tôn Hành Giả tàng hình được nên thoát ra. Sau khi trốn thoát, Tôn Hành Giả bèn chạy thẳng qua Động Sư Đà đánh chết hết bọn tiểu yêu rồi trở lại. Khi nghe bọn tiểu yêu và Sa Tăng, Bát Giới nói Tam Tạng bị bọn yêu quái ăn sống rồi, Tôn Hành Giả bèn bay lên chóp núi ngồi than khóc một hồi lâu. Rồi sau đó đằng vân qua Thiên Trúc xin ra mắt Phật Tổ Như Lai.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi đến nơi, Phật Tổ Như Lai hay được liền bảo ông A Nan đòi Tôn Hành Giả vào dưới tòa sen. Tôn Hành Giả liền bạch lại tất cả mọi sự, sau đó lại xin nhờ ơn Phật Tổ thâu kim cô lại đặng trở về núi Hoa Quả sống cho yên thân.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật Tổ Như Lai truyền rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi chớ buồn rầu! Bởi yêu tinh thần thông quảng đại, ngươi đánh không lại nên tức bực đó thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi Phật Tổ nói thêm:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bởi ngươi chưa rõ! Trước khi tạo thiên lập dịa, muôn vật sanh trong loài vật là cầm và thú, Kỳ Lân làm chúa loài thú, còn Phụng Hoàng làm chúa loài cầm. Phụng Hoàng sanh một con công mái là Khổng Tước, và một con Đại bàng trống nữa. Khi Khổng Tước ra đời ăn thịt người ta nhiều lắm. Hút một cái hết cả đám người đi đường bốn trăm dặm. Khi ấy ta ngồi trên chóp núi Tuyết Sơn cũng bị nó nuốt vào bụng nữa! Ta muốn chui ra, lại e bị nhơ uế nên xoi lũng lưng nó mà chui ra, rồi cỡi trên lưng dẫn nó về Linh Sơn. Ý ta muốn giết nó đi, nhưng các Phật can rằng: "Vì ở trong bụng nó chui ra thì nó cũng như là mẹ. Nếu giết Khổng Tước cũng như hại mẹ mình". Bởi cớ ấy, ta mới vị tình phong cho Khổng Tức là Phật Mẫu, hiệu là Khổng Tước Đại Minh Vương Bồ tát, ở tu hành tại Linh Sơn. Còn chim đại bàng này một mẹ với Khổng Tước, nên phải nhận bà con.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả hỏi trong ba con yêu, con nào là Đại bàng. Như Lai bèn nói: "Con yêu thứ ba là Đại bàng". Tôn Hành Giả hỏi thêm: "Còn hai con yêu kia, chủ nó là ai?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như Lai nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hai chủ nó là Văn Thù và Phổ Hiền.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dứt lời, Như Lai sai Ác Nan và Ca Diếp, một người qua núi Ngũ Đài, một người qua núi Nga Mi, đồi Văn Thù và Phổ Hiền đến ra mắt lập tức. Chẳng mấy chốc Văn Thù và Phổ Hiền đồng đến ra mắt Như Lai. Như Lai hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hai con thú của hai vị Bồ tát trốn xuống núi đã bao lâu?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai vị Bồ tát thưa: "Nó đi mất đã bảy ngày".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như Lai nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ở đây bảy bữa, dưới hạ giới gần một ngàn năm. Chẳng biết nó đã hại hết bao nhiêu nhân mạng. Hãy theo ta bắt nó về!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai vị Bồ tát đi theo đoàn tả hữu của Phật Tổ, đồng bay một lát đến thành Sư Đà. Như Lai nói với Tôn Hành Giả:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi xuống trước đánh với chúng nó rồi trá bại dẫn chúng ra đây ta sẽ bắt cho.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả tuân lệnh, đi thẳng đến cửa thành khiêu chiến, rồi ba con yêu cầm khí giới chay ra áp tới đánh Tôn Hành Giả. Được vài hiệp Tôn Hành Giả trá bại nhảy lên mây. Ba con yêu đằng vân đuổi theo. Tôn Hành Giả núp trong hào quang của Như Lai nên chúng không thấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ba con yêu đưa mắt nhìn quanh thấy ba vị Phật: Quá khứ, hiện tại, vị lai và năm trăm vị La hán, ba ngàn thần Yết đế đứng bao xung quanh. Chúa yêu hoảng hồn nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Không xong rồi! Con khỉ ốm đó đi thỉnh chủ nhà mình đến đó!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tuy vậy chúa yêu vẫn còn hung hăng, vác siêu đao xông tới, bị Văn Thù và Phổ Hiền niệm chú, nạt lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Súc sanh! Chưa chịu phép còn dám hung hăng!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai con yêu thứ nhất và thứ nhì đều kinh hãi, bỏ khí giới nhào xuống hiện nguyên hình là con sư tử xanh và con tượng bạch<SUP><B>(39)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai vị Bồ tát quăng tòa sen lên lưng, hai con thú xếp tai đứng yên. Hai vị Bồ tát nhảy lên lưng cỡi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn con yêu thứ ba thì quăng cây Phương thiên họa kích xòe cánh bay lên muốn chụp Tôn hành Giả. Như Lai lột mão Thước sào quăng lên hóa cục huyết. Con yêu giơ vấu chụp cục huyết. Như Lai đưa tay chỉ một cái, canh con yêu ấy bị dãn gân, bay không được nữa, liền hiện nguyên hình con Đại bàng. Đại bàng biết không chạy đâu thoát liền quy y Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả mừng rỡ, lạy tạ Như Lai nhảy xuống mặt thành. Còn chư Phật đều đằng vân trở lại. Tôn Hành Giả vào mở trói cho Sa Tăng, Bát Giới rồi cùng nhau vào cứu Tam Tạng đem ra. Tôn Hành Giả thuật lại việc đi cầu Như Lai. Tam Tạng vô cùng cảm động. Đoạn thầy trò dọn cơm nước ăn no nê rồi tiếp tục lên đường (Từ hồi thứ 74 đến hồi thứ 77).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(36) Phật Tổ Như Lai: <I>Như Lai là một trong mười danh hiệu của Phật:
  1. Như Lai.
  2. Ứng Cúng.
  3. Chánh Biến Tri.
  4. Minh Hạnh Túc.
  5. Thiện Thệ.
  6. Thế Gian Giải.
  7. Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu
  8. Thiên Nhân Sư
  9. Phật.
  10. Thế Tôn
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như Lai có nghĩa là: Đức Phật vốn không do đâu mà lại, cũng không đi đâu. Trong kinh Kim Cang có nói: Như Lai giả, vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ, cố danh Như Lai".</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(36a) La Sát (Râkchasas): <I>Loài hung thần ác quỷ. Loài này hình tướng và mặt mày rất ghê gớm, thích ăn thịt người. Cảnh giới của chúng ở giữa biển cả và cũng ở rải rác khắp nơi trên đất liền.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Giống đực kêu là La Sát Bà (Râkchasas), kêu tắt là La Sát. Giống cái kêu là La Sát Tư (Râchasis): La Sát nữ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hồi đức Phật ra đời, tại xứ Na-can-ha-la (Nagarahara), có năm con quỷ La Sát cái, thường biến ra loài rồng phá hại người, nhân dân đến thỉnh cầu Phật hàng phục. Đức Phật giáo độ, làm cho bọn La Sát nữ ấy quy y và trở nên hiền lành.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong Diệu Pháp Liên Hoa kinh, phẩm Phổ Môn có nói rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Giả như trong cõi Tam thiên đại thiên này, choán đầy bọn quỷ Dạ Xoa (Yakchas) và La Sát (Râchasas), có ai tới kêu tên Quán Thế Âm Bồ tát, liền được tránh khỏi bọn quỷ ấy; bọn hung ác tàn bạo chẳng thấy được mình".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng cũng có những quỷ La Sát có Bồ đề tâm, tuy mang lốt quỷ chứ không có lòng quỷ, thường che chở hộ trợ cho những bực tu hành. Như trong hội Pháp Hoa, có mấy bà La Sát đến trước Phật, nguyện ủng hộ những vị trì kinh Diệu Pháp Liên Hoa (Phẩm Đà la Ni, thứ 26). Mấy bà có truyền ra mấy câu thần chú, hễ nhà trì kinh đọc mấy câu thần chú ấy thì khỏi ai phá hại được, dù là người, thần, yêu, quỉ (Phật Học Từ Điển của Đoàn Trung Còn, tập II, trang 174).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(37) Con công chầu Phật Chuẩn Đề: <I>Xem nơi Chương I, Mục B. Thời Cổ Sử, tiểu mục (1) và chú thích số (9) của chương II, Phần II).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(38) Kim Mao Hẫu: <I> Xem nơi Chương I, Mục B. Thời Cổ Sử, tiểu mục (5) có nói đến Kim Hoa Tiên hiện nguyên hình là con Hẫu lông vàng.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(39) Con sư tử lông xanh và con tượng bạch: <I>Xem nơi Chương I, Mục B. Thời Cổ Sử, tiểu mục (3) và (4).</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">16. Nói qua trường hợp lúc thầy trò Tam Tạng bị con nữ yêu tự xưng là Địa Võng Phu nhân, tại núi Hãm Không, động Vô Đễ phá phách hãm hại, định bắt Tam Tạng phá giới hạnh thanh tịnh, làm chuyện ân ái cùng với nó.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nguyên con yêu này trước kia là con nuôi của Lý Thiên Vương, sau nó trốn xuống trần phá phách nhân gian mà Lý Thiên Vương không hay biết. Sau khi Tôn Hành Giả tìm ra lai lịch của nó rồi, liền lên kiện với Thượng đế. Thượng đế mới sai Thái Bạch Kim Tinh cùng đi với Tôn Hành Giả gọi Lý Thiên Vương ở cung Vân Lâu đến. Nhưng Lý Thiên Vương không nhớ ra. Na Tra thái tử mới nhắc lại, thưa với cha rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Phụ vương quên rồi! Con ấy thật là yêu tinh, ba trăm năm trước nó ở tại Linh Sơn, ăn đèn sáp và uống dầu nơi bàn Phật! Như Lai sai cha con ta bắt nó. Đáng lẽ đập chết nó rồi, nhưng Phật Tổ nói: "Phóng sanh là được phước". Do đó cha con ta không nỡ giết. Nó cảm ơn ấy xin làm nghĩa nữ của phụ vương, kêu phụ vương bằng cha, kêu con bằng anh, viết bài vị trường sanh mà thờ sống. Chẳng ngờ, nay nó lại thành tinh bắt Tam Tạng, tuy không phải ruột thịt, song cha con ta đã nhận là cha nuôi, anh nuôi làm sao tránh khỏi tội?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lý Thiên Vương nghe nói hỏi lại:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thật ta không nhớ việc ấy, chẳng biết nó tên gì?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Na Tra thưa:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Lúc nó ở Linh Sơn gọi là Kim Tỉ Bạch Mao thử tinh. Lúc nó uống dầu của Phật Tổ lại xưng là Bán Triệt Quan Âm. Bây giờ ở dưới động xưng là Địa Võng Phu nhân<SUP><B>(40)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lý Thiên Vương bèn nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nếu vậy Thái Bạch Kim Tinh đi với Đại thánh vào tâu Thượng đế, còn tôi đợi ngoài ngọ môn để tháp tùng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả vào tâu:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Kim Thử Bạch lấy tiếng Lý Thiên Vương làm bậy, nay Lý Thiên Vương hay tin đã đi bắt nó, xin Thượng đế tha tội cho Lý Thiên Vương.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói xong Tôn Hành Giả ra cửa Nam thiên thấy Lý Thiên Vương và Na Tra đang đứng đợi, liền cùng nhau đằng vân, giá võ bay đến núi Hãm Không. Tôn Hành Giả cùng với Na Tra xông vào động, giết hết nữ quái, rồi Tôn Hành Giả trông thấy Tam Tạng liền đỡ dậy, dắt ngựa và mang hành lý ra. Còn Na Tra thấy Địa Võng Phu nhân liền nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nay ta vâng chỉ đi bắt ngươi. Cha con ta vì cây hương<SUP><B>(41)</B></SUP> của ngươi suýt mang trọng tội.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi bắt Địa Võng phu nhân trói lại, đồng bay lên khỏi miệng hang. Tam Tạng bái lạy tạ ơn cha con Lý Thiên Vương. Cha con Lý Thiên Vương từ giã dắt nữ quái bay lên mây, giải về Thượng đế xử tội. Thầy trò Tam Tạng tiếp tục lên đường.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng một ngày nọ, gặp một bà lão, dắt một đứa con nít đứng dưới gốc dương liễu, kêu lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hòa thượng đừng đi nữa. Hãy trở lại hướng Đông nếu qua hướng Tây thì bỏ mạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng vội nhảy xuống ngưa, bái và hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tại sao đi về hướng Tây lại bỏ mạng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bà lão nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Cách đây năm sáu dặm, có nước Diệt Pháp. Vua nước này thất đức lắm, có lời nguyền giết cho đủ thầy chùa theo ý đã định. Hai năm nay, nước ấy đã giết đến chín ngàn chín trăm chín mươi sáu sãi vô danh. Vua Diệt Pháp lại truyền bắt bốn sãi có danh mà giết cho đủ số. Nếu bốn thầy trò đến đó ắt nạp mạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng nghe nói sợ hãi, và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bần tăng cảm ơn bà dã mách bảo, song không biết ngõ nào đi tránh nước ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bà lão nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Không ngõ nào tránh khỏi, trừ ra biết bay mới thoát được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bây giờ Tôn Hành Giả mới nhướng mắt lên xem, thấy người đàn bà ấy là Phật Quan Âm, còn đứa nhỏ dắt theo là Thiện Tài đồng tử, liền quỳ xuống thưa:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đệ tử không hay Bồ tát đến nên nghênh tiếp chậm trễ, xin Bồ tát tha tội.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bà lão hiện nguyên hình là Phật Quan Âm, còn đứa nhỏ hiện nguyên hình Thiện Tài đồng tử bay lên mây trở về Nam Hải
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng nói với Tôn Hành Giả:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bồ tát mách bảo như thế, chắc vua Diệt Pháp không hiền, biết làm sao thoát nạn?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tuy nhiên thầy trò Tam Tạng vẫn cứ đi qua nước Diệt Pháp, vì không còn đường đi nào khác.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi đi qua nước đó rồi, lúc vào trong một quán trọ ăn cơm, bà lão chủ quán mới soạn chỗ ngủ cho bốn thầy trò, nhưng Tôn Hành Giả biết rõ sự nguy hiểm nếu để lộ tông tích là nhà sư, nên xin ngủ tại chỗ kín không có ánh sáng. Bà lão bèn sắp cho bốn thầy trò nằm ngủ trong một cái tủ lớn. Không ngờ có bọn gia nhân của bà lão nghe tiếng Tôn Hành Giả (lập kế giả vờ) bán ngựa được tám ngàn lượng bạc nên động lòng tham, chúng bèn rủ một bọn cướp đến khiêng tủ và dắt ngựa ra ngoài thành, định đem về sào huyệt của bọn chúng để giết chết mấy thầy trò rồi đoạt của. Chẳng dè chúng bị quan quân trong thành truy nã nên quăng tủ xuống đất.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bốn thầy trò Tam Tạng lại bị quan quân khiêng vào dinh, rồi quan Tổng binh nói đợi sáng mai sẽ vào tâu cho vua hay.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong đêm ấy, Tôn Hành Giả lấy thiết bảng hóa ra cái khoan, xoi thủng một lỗ ở đáy tủ, rồi biến hình thành con kiến cánh leo ra ngoài, hiện nguyên hình, nhổ một nắm lông niệm chú hóa ra vô số bồ hong. Rồi lại thâu Thổ địa lại dặn đem vô số bồ hong ấy bỏ vào mũi vua Diệt Pháp và tất cả phi hậu, cung nga và triều thần cho họ ngủ say. Tôn Hành Giả liền làm phép biến ra một bầy Hành Giả nhỏ lấy dao cạo đầu hết tất cả mấy người ngủ mê.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến sáng ra, ai nấy thấy mình đầu trọc lấy làm kinh hãi. Vua Diệt Pháp thấy mọi người đầu trụi trơn, và hoàng hậu bảo vua cũng bị cạo hết tóc trên đầu. Vua trầm ngâm suy nghĩ, rồi bảo:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta biết rồi! Có lẽ ta giết nhiều thầy chùa nên trời phạt bị quả báo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói xong liền phán:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thôi từ nay về sau ta chẳng dám giết thầy chùa nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng quan Tổng binh vào yết kiến vua và tâu nói hôm qua đi tuần đuổi bọn cướp bắt được tủ khiêng về trình vua xét định.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi mở tủ ra rồi, Tam Tạng liền trình diện nhà vua, trình bày việc đi thỉnh kinh và kể rõ tự sự.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua Diệt Pháp nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sư phụ là Thánh tăng Trung Quốc, trẫm không hay để nghinh tiếp, thật cam lỗi mười phần. Bởi trước đây có nhiều thầy chùa ngạo nghễ nên trẫm giận, nguyện giết đến một muôn để rửa hờn. Chẳng ngờ nay trời khiến trẫm phải quy y, nên khi hôm cả triều thần và cung nga mỹ nữ đều bị thí phát. Vậy xin sư phụ truyền pháp tu hành cho trẫm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi, vua Diệt Pháp liền truyền dọn tiệc chay thết đãi. Chúa tôi đồng làm lễ, gọi Tam Tạng bằng thầy và ghi điệp thông quan cho thầy trò Tam Tạng lên đường (Hồi thứ 81 đến thứ 84).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">17. Giai đoạn này là gần đến lúc kết thúc truyện Tây Du Ký, có Quan Âm thị hiện để thử thách Tam Tạng một lần cuối cùng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thầy trò Tam Tạng lúc đi đến một lâu đài cao ngất như muốn tiếp đến mây xanh. Chợt thấy một vị đạo đồng diện mạo phương phi dứng dựa cửa lầu. Tôn Hành Giả bảo:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đạo đồng này là Kim Đăng Đại tiên ở tại chân núi Linh Sơn, quán Ngọc Chơn đón rước thầy đấy. Tam Tạng mừng rỡ bước tới thi lễ thì Kim Đăng Đại tiên bảo rằng mười bốn năm về trước Quan Âm Bồ tát đã tin cho ông ta biết rằng sắp có Thánh tăng đến và dặn ông ta tiếp đãi tử tế, và ngày nào ông cũng ngóng trông, mãi đến nay mới gặp,
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kim Đăng Đại tiên mời bốn thầy trò Tam Tạng vào đãi trà, rồi truyền cho đệ tử hâm nước cho bốn thầy trò tắm gội.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bốn thầy trò vừa tắm gội xong thì trời vừa tối, ở lại nghỉ ngơi, sáng ra dậy sớm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam tạng từ giã Đại tiên, nhưng Đại tiên cười nói: "Để tôi đưa quý ngài đi". Kim Đăng Đại tiên liền mời thầy trò Tam Tạng ra cửa sau, chỉ hào quang trên nửa lừng trời xanh rồi nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đi ngõ trước không tiện, phải theo đường này thẳng tới chỗ hào quang là núi Linh Sơn, chùa Lôi Âm ở tại đó.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kim Đăng Đại tiên nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Quý vị đều đã thấy cảnh Phật rồi. Đường đi tới đó không có yêu tinh ngăn chận nữa. Tôi xin bái biệt quý vị.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng đáp lễ tạ ơn. Bốn thầy trò lên đường, đi được sáu dặm, bỗng thấy trước mặt có con sông lớn rộng chừng chín dặm, mé sông không nhà cửa cũng chẳng thấy dấu người đi, mặt sông rộng mênh mông như biển cả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng thấy cây cầu, Tôn Hành Giả nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nơi kia có cây cầu, thầy trò ta qua được mới thành chánh quả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng dục ngựa đến, thấy bên cây cầu có dựng tấm biển lớn đề ba chữ "Lăng Vân Độ", xem kỹ câu ấy là độc mộc kiều, chỉ có một cầu vòng nhỏ, cong vòng lên cao rồi xuống dốc, đi không khéo dễ té ngã lắm. Tam Tạng nói cầu này trừ các vị Tiên, Phật ra, còn người phàm tục đi không được. Tôn Hành Giả bảo với mọi người:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Cầu này ai muốn thành Phật phải đi qua.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng thấy một chiếc đò chèo đến rao lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ai muốn qua sông, mời xuống đò.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng lòng mừng phấn khởi, nói lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Các đồ đệ đừng lo, có thuyền đến rước đấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ba anh em Tôn Hành Giả bước lại xem thấy chiếc thuyền không đáy. Tôn Hành Giả nhì kỹ thấy biết đò phu là ông Tiếp Dẫn Tổ sư, hiệu là Bửu Tràng Quang Vương Phật. Nhưng không dám nói lộ, điềm nhiên kêu đò cập bến! Tam Tạng tới mé sông, nhìn thấy con đò không đáy thất kinh nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thuyền này không đáy làm sao đưa đò.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đò phu cười:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thuyền tôi không phải thuyền thường, muốn biết rõ hãy nghe đây:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dứt lời, ngâm lên mấy vần thơ:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Thuyền này do bởi được trời sanh
Đưa rước xưa nay những kẻ lành
Tuy là không đáy nhưng mà vững
Sóng gió không xao chắc tợ thành</I>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả chắp tay nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Xin người làm ơn đưa thầy trò tôi sang sông.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dứt lời quay lại nói với Tam Tạng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sư phụ ơi! Thuyền này không đáy nhưng cũng hơn thuyền thường, dầu sóng to gió lớn cũng không chìm, xin thầy xuống thuyền cho sớm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bốn thầy trò xuống đò xong, đò rời khỏi bến. Tam Tạng nhìn thấy một thây ma trôi theo dòng nước, thất kinh lo sợ. Tôn Hành Giả cười nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Xác của thầy đấy, nào phải của ai mà sợ!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đò phu nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Phải đó! Mừng cho! Mừng cho!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ba người đệ tử mừng cho thầy thoát khỏi xác phàm. Đò phu đưa thuyền khỏi bến Lãnh Vân qua tới bên kia bờ sông. Khi ấy Tam Tạng mình nhẹ như bông, vội vàng bước lên cửa Phật. Bốn thấy trò bước lên bờ, nhìn lại thấy đò phu và chiếc đò biến mất. Vừa lên tới núi, ai nầy thấy phong cảnh tốt tươi, muôn ngàn hoa nở, gió thoảng mùi hương thơm ngát, khác với nơi trần tục.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bước tới cửa núi, chợt thấy hai vị Kim Cang bảo:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thánh Tăng chờ đây ít phút, để tôi vào bạch lại với Phật mới được ra mắt ngài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các vị Kim Cang vào đại hùng bửu điện bạch lên Phật Tổ:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Trần Huyền Trang là sãi của Đại Đường đã đến thỉnh kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật Tổ mừng rỡ, liền mới tám vị Bồ tát, bốn ông Kim Cang, năm trăm vị La hán, ba ngàn Yết đế, mười ông Đại Điện, mười tám vị Già lam đồng đứng hai hàng. Phật Tổ truyền đòi Tam Tạng vào chùa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thầy trò Tam Tạng vào đồng quỳ lạy Phật Tổ, rồi lạy hai bên tả hữu. Đoạn quỳ xuống dâng điệp thông quan cho Phật Tổ xem và bạch:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đệ tử là Trần Huyền Trang vâng chỉ Đại Đường Thiên Tử đến xin thỉnh kinh về cứu độ chúng sanh. Xin Phật Tổ ban ơn cho chúng con về nước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật Tổ nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nay ta có đặt ba tạng kinh, đã độ sanh còn độ tử: thứ nhất nói phép trời, thứ hai luận tạng, thứ ba kinh tạng độ cô hồn, mỗi tạng có "năm ngàn bốn mươi tám quyển", ba tạng hiệp cộng lại là "mười lăm ngàn một trăm mười bốn quyển", ấy là dạy việc hiền lành, mở đường siêu độ, những điều thiên văn, địa lý, nhơn vật, thảo mộc, cầm thú đều giảng đủ. Song, Đông Độ ít người tin đạo Phật, hay dèm xiểm chê bai, nên ta cho thỉnh một phần về cầu siêu độ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi sai Ác Nan và Ca Diếp dắt bốn thầy trò Tam Tạng xuống lầu thết đãi cơm nước, rồi chọn mỗi hiệu ít quyển cho đủ thứ giao về Đông Độ khuyên đời.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhận kinh xong, bốn thầy trò Tam Tạng ra lạy Phật Tổ Như Lai, và từ tạ chư Phật ra về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi ấy Nhiên Đăng Cổ Phật<SUP><B>(42)</B></SUP> biết Ác Na và Ca Diếp phát kinh vô tự (không có chữ, chỉ có mắt Phật mới coi đặng), cười thầm:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Người Đông Độ xem kinh vô tự đâu được, uổng công Thánh Tăng từ xa thỉnh về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi gọi Bạch Hùng Tôn Giả vào bảo theo Tam Tạng để lấy kinh lại và nói với Tam Tạng trở lại lấy kinh hữu tự. Bạch Hùng vâng lệnh đằng vân bay theo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bốn thầy trò Tam Tạng vừa ra khỏi cửa núi, bỗng thấy ánh hào quang chiếu sáng ngỡ là ánh hào quang Phật Tổ chiếu ra. Nào ngờ có ngọn gió thổi qua, mùi thơm ngát. Tam Tạng thấy một cánh tay ở trên mây thòng xuống, xách gói đồ trên lưng ngựa. Tam Tạng thất kinh gọi lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngộ Không! Ngộ Không ơi! Có cánh tay yêu thòng xuống lấy mất kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả liền nhảy vọt lên mây đuổi theo Bạch Hùng Tôn giả. Thấy Ngộ Không xách thiết bảng đuổi riết, sợ đánh nhau khó lòng, nên hốt hoảng buông gói kinh xuống đổ tung tóe.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sa Tăng, Bát Giới chạy tới lấy kinh cho thầy xem. Hai người đồ đệ lật ra thấy toàn giấy trắng, lật mấy quyển tiếp nữa, quyển nào cũng thấy giấy trắng y như quyển nấy. Tam Tạng bảo mở hết gói ra xem, không hề thấy một chữ buồn bã than:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nếu thỉnh kinh không chữ về đây, chắc là phạm tội khi quân.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đệ tử đã biết rõ! Sư phụ đừng than thở làm gì! Bởi thầy trò ta đi thỉnh kinh không có lễ gì với hai tôn giả nên họ phát kinh vô tự. Vậy sư phụ cùng với đệ tử vào bạch với Phật Tổ Như Lai đặng xin đổi kinh hữu tự.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng gật đầu rồi thầy trò trở lại cửa núi, rồi đi thẳng vào đền đại hùng lạy Phật kể lại việc phát kinh vô tự và xin đổi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật Tổ bảo:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Kinh giấy trắng là kinh vô tự, quí hơn kinh hữu tự, nhưng vì chúng sanh xem không được, nên ta phải đổi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi truyền Ác Nan và Ca Diếp đổi thành kinh hữu tự cho đủ hiệu. Tam Tạng bảo Sa Tăng mở gói lấy bình bát dâng lên làm lễ thỉnh kinh. Ác Nan mỉm cười thâu bình bát. Ca Diếp mở tủ phát kinh cho bốn thầy trò. Tôn Hành Giả lãnh kinh, tính đủ một tạng "năm ngàn bốn trăm quyển" rồi chia ra một phần để trên lưng ngựa và một phần trao cho Bát Giới gánh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi ấy Phật Tổ ngồi trên tòa sen, truyền cho Hàng Long La hán và Phục Hổ La hán dánh chuông gióng khánh làm lễ hội truyền kinh. Xong bốn thầy trò Tam Tạng đều bước ra lạy tạ ơn Thích Ca Như Lai rồi ra đi. Tam Tạng quên luôn bạch hỏi chuyện con rùa Bạch Ngươn dặn lúc trước. Bốn thầy trò vừa ra đi, Phật Tổ truyền bãi hội truyền kinh. Quan Âm Bồ tát bạch:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đệ tử vâng chỉ Như Lai xuống Đông Độ tìm kẻ thỉnh kinh, nay đã thành công rồi, là mười bốn năm cộng là năm ngàn ba mươi ngày, còn thiếu tám ngày thì đủ số một tạng. Xin Phật Tổ cho người đưa bốn thầy trò về kịp trong tám ngày.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thích Ca Như Lai bèn gọi tám vị Kim Cang đến bảo:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Các ngươi đưa Thánh tăng đem kinh về Đông Độ rồi trở lại cũng trong vòng tám ngày cho đủ số một tạng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tám vị Kim Cang vâng lệnh đằng vâng theo Tam Tạng kêu lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Các vị Thánh Tăng hãy theo ta.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi bay trước dẫn đường, Tam Tạng theo sau. Tam Tạng nhẹ mình bay thấm thoát, Tôn Hành Giả, Bát Giới, Sa Tăng và Long Mã cũng bay theo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi ấy Ngũ Phương Yết Đế, tứ vị Công tào, Lục đinh, Lục giáp, Hộ pháp Già lam đồng đến trước Quan Âm quỳ bạch:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Các đệ tử lâu nay vâng lệnh Bồ tát phò hộ người thỉnh kinh. Nay xong việc, chúng tôi xin về bạch lại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm mừng rỡ hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Trên đường đi Tây phương, tâm tánh bốn thầy trò Tam Tạng như thế nào?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các vị thần đều bái và bạch:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bốn thầy trò Tam Tạng lòng thành, nhưng bị rất nhiều hoạn nạn, chúng tôi đều ghi vào sổ. Vậy xin dâng Bồ tát xem.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan Âm xem sổ thấy qua tám mươi nạn, xong nói rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nơi cảnh Phật có chín thứ tòa sen, mỗi thứ chín sắc, cộng tất cả là tám mươi mốt cái tòa sen. Vậy Thánh tăng phải chịu một nạn nữa mới đủ số.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi truyền đòi các thần vào nói nhỏ..., rồi bảo chư thần đằng vâng theo các vị Kim Cang phải y theo kế mà gây thêm một nạn nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mấy vị Kim Cang vâng lời, liền ngưng gió, bốn thầy trò Tam Tạng và ngựa đều sa xuống đất. Tam Tạng nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Các đồ đệ hãy thử nhìn nơi này là xứ nào?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thầy trò lểnh mểnh đi một dọc, thấy trước mặt hiện ra một con sông lớn sóng bủa lao xao. Sa Tăng bảo:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đây là sông Thông Thiên, phía bên bờ kia là xóm Trần gia.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta nhớ lại rồi! Con sông này năm trước có Bạch Ngươn nổi lên, đưa chúng ta qua sông. Nay không có Bạch Ngươn biết làm sao trở về,
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sa Tăng nói với Tôn Hành Giả:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">-- Sư phụ đã hết xác phàm, sư huynh làm phép cõng thầy qua sông đi!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả biết Tam Tạng còn mắc một tai nạn nữa, nhưng không dám nói ra mỉm cười đáp:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sông đã rộng lại sâu, ta không đủ tài cõng thầy qua được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Giữa lúc ấy có tiếng kêu văng vẳng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đường Tam Tạng đã tới đó sao?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đó là tiếng kêu của con Bạch Ngươn năm xưa, nay lại một lần nữa hỏi đến thầy trò Tam Tạng. Bach Ngươn bò lên bờ, Tam Tạng và các đồ đệ đều mừng rỡ dắt ngựa và đem hành trang để trên lưng Bạch Ngươn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bạch Ngươn lội xuống sông êm ả như đứng trên đất liền. Khi đến gần mé bờ, bạch Ngươn hỏi Tam Tạng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Năm trước tôi cậy sư phụ đến Tây phương hỏi Phật Tổ xem thử bao giờ tôi mới hóa được hình người. Chẳng hay Phật Tổ dạy lẽ nào?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tam Tạng nhớ lại việc xưa, bỡ ngỡ không biết trả lời sao. Vì Tam Tạng mãi lo việc thỉnh kinh, quên mất lời dặn dò của Bạch Ngươn rồi. Bạch Ngươn biết Tam Tạng không có lòng giúp đỡ, tức giận lặn xuống nước. Bốn thầy trò chìm xuống sông, kinh kệ ướt hết. May mà Tam Tạng đã thành Phật, nếu không chắc chết đuối.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả ra sức đỡ Tam Tạng lên bờ. Sa Tăng, Bát Giới mò vớt kinh và hành lý lên, không mất một quyển nào rồi trải kinh ra phơi. Xảy có mấy ngư phủ đi đến hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sư phụ đi thỉnh kinh đã về sao?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi bọn họ nói tiếp:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chúng tôi là người xóm Trần gia, vì năm trước được Tam Tạng cứu, nên còn nhớ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng có Trần Trừng và một số gia nhân Trần gia trang chạy đến mời thầy trò Tam Tạng về nghỉ ngơi, phơi kinh cho khô rồi hãy lên đường.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dân chúng trong xóm hay tin ra đón rước vào nhà, dọn tiệc chay thết đãi. Lúc trà nước xong và kinh kinh cũng đã khô, Trần Trừng hỏi thăm việc thỉnh kinh. Tam Tạng thuật lại chuyện và cảm ơn rồi xin từ giã. Vừa đi một đoạn đường thì trên mây có tám vị Kim Cang nói vọng xuống:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hãy đi theo chúng tôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Xin chư vị mau đưa thầy tôi về Tràng An kẻo trễ ngày. Tám vị Kim Cang nổi gió đưa bốn thầy trò đi, thấm thoát không bao lâu đã đến tràng An.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi về đến Tràng An rồi, vua Đường Thái Tôn mừng rỡ truyền rước Tam Tạng vào thành, Bát Giới gánh kinh, Sa Tăng dắt ngựa, Tôn Hành Giả dương thiết bảng theo hầu. Dân chúng nghe tin Tam Tạng thỉnh kinh về theo xem rất đông. Riêng chùa Hồng Phước là nơi trước kia Tam Tạng ở, các sãi chưa hay tin thầy về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sáng hôm ấy, mấy cây tòng trước cửa chùa đều ngã ngọn về hướng Đông. Có một sãi già là đệ tử của Tam Tạng nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Mau lấy sắc phục mặc vào mà nghinh tiếp sư phụ thỉnh kinh về.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các sãi hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sao ông biết?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vị sãi già nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Khi thầy đi có dặn: "Ta đi không biết bao lâu trở lại, một vài năm hay mười năm không chừng. Khi nào thấy mấy cây tùng ngã ngọn về Đông là ta về tới". Vì thầy nói trước như vậy nên tôi mới biết<SUP><B>(43)</B></SUP>".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các sãi nghe nói mừng rỡ chạy đến ngọ môn. Khi ấy của Thái Tôn truyền cho Tam Tạng lên gần bệ ngọc mời ngồi. Tam Tạng tạ ơn bảo đệ tử đem dâng kinh lên. Vua mừng rỡ, truyền quan Lộc Tự bày yến tiệc đãi đằng tại Đông Các. Đến Đông Các, Thiên tử ngự giá, các quan văn võ và thầy trò Tam Tạng đồng vào tiệc. Tiệc xong, Tam Tạng tạ ơn Thiên tử, rồi dẫn ba đệ tử về chùa Hồng Phước. Còn Thiên tử về cung, các quan ai về phủ nấy. Sáng ngày vua Thái Tôn lâm triều, bá quan triều bái tung hô, vua Thái Tôn truyền các quan thỉnh kinh đến chùa Nhạn Tháp và thỉnh Thánh Tăng giảng kinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các quan vâng lệnh đem binh, theo vua vào chùa. Sa Tăng, Bát Giới dắt ngựa rồng và Tôn hành Giả đứng hầu hai bên sư phụ. Tam Tạng tâu:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bệ hạ muốn lưu truyền kinh trong dân chúng, nên cho chép bổn khác, còn bổn cái thì cất trong chùa, giữ gìn cho mới.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua Thái Tôn nói sẽ truyền cho Hàn Lâm viện và các trung thơ chép hết kinh lại và lập chùa Đồng Huynh nơi thành Đông để các vị ấy chép kinh. Rồi Tam Tạng cầm kinh lên giảng, chưa kịp tụng và giảng, bỗng đâu thoảng đến hương thơm bát ngát, bát đại Kim Cang hiện hình lơ lửng giữa trời kêu lớn:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Người tụng kinh hãy để kinh xuống theo ta về Tây phương.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả, Sa Tăng, bát Giới và Bạch mã từ dưới đất bay lần lên cao. Tam Tạng để kinh xuống, lạy vua Thái Tôn và tâu:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chúc bệ hạ ở lại bình an vạn tuế! Tôi về Tây phương ra mắt Phật Tổ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dứt lời bay thẳng lên mây. Vua Thái Tôn và các quan kinh hãi, đồng quỳ lạy thinh không. Khi mấy vị bay về Tây phương rồi, vua Thái Tôn chọn sãi nhất thay thế Tam Tạng, làm chay tại chùa Nhạn Tháp, tụng kinh đại tạng cho cô hồn siêu thoát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi về đến Tây phương, bát đại Kim Cang dẫn bốn thầy trò và con ngựa vào lạy Phật và bạch:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Đệ tử vâng chỉ Phật Tổ, đưa mấy thầy trò Thánh Tăng đến Đông Độ giao kinh xong, nay y hạn về chầu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật Tổ kêu Tam Tạng dạy:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Trước kia ngươi là Kim Thiền Tử, đệ tử thứ nhì của ta, bởi ngươi không nghe giảng kinh nên bị đọa, nay có công tu hành mười bốn năm khó nhọc thỉnh kinh, ta gia phong cho người chức Chiên Đàn Công Đức Phật. Còn Tôn Ngộ Không, vì loạn đả thiên cung, phạm tội bất xá nên ta đè dưới Ngũ hành sơn, năm trăm năm cực khổ mới thoát nạn. Nay ngươi lo tu hành, bắt yêu trừ quỉ, có công bảo hộ Đường Tăng thỉnh kinh, ta phong cho ngươi chức Đấu Chiến Thắng Phật. Trư Ngộ Năng nguyên trước là Thủy Thần Thiên Bồng nguyên soái, vì ngươi say rượu trêu ghẹo Hằng Nga nên phải đọa đầu thú mình người, nhưng còn háo sắc, làm quỉ tại Cao Lão trang. Nay tuy tu hành mà thói cũ vẫn còn, song có công gánh vác, bảo hộ thỉnh kinh, ta phong người là Tịnh Đàng Sứ Giả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn Sa Ngộ Tịnh là Quyện Liêm tướng quân, làm bể chén ngọc lưu ly nên mắc đọa, xuống sông Lưu Sa còn sát sanh hại mạng. Nay tu hành chơn chất, có công bảo hộ thỉnh kinh, ta phong cho người chức Kim Hân La Hán. Còn Bạch Mã là con Ngao Thuận Long vương phạm tội bất hiếu đáng xử tử. Nay tu hành có công chở Thánh Tăng và chở kinh về Đông Độ, ta phong cho người chức Bát Bộ Thiên Long.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ai nấy đều tạ ơn lãnh chức. Phật Tổ truyến Yết đế dẫn ngựa đến ao Hóa long xô xuống, hiện nguyện hình là rồng bạch, mấy vảy thành vàng, hàm râu thành bạc, bốn cẳng sanh mây, bay khỏi ao Hóa long vấn trên cây Long trụ<SUP><B>(44)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn Tam Tạng nói với Tôn Hành Giả:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ngươi khi trước hung hăng nên dùng mão kim cô mà trị. Nay ngươi đã thành Phật, tự nhiên nó rơi mất, không còn dính trên đầu nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả sờ đầu không có kim cô nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các thập phương chư Phật và Thần Tiên đến nghe Phật Tổ giảng kinh, sau đó đều về phương vị cũ (Từ hồi 98 đến hồi 100).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>NHẬN ĐỊNH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói về bản chất của truyện Tây Du Ký thì đó là một truyện thần thoại. Nhưng truyện thần thoại này cũng bắt nguồn từ một sự kiện lịch sử có thật: đó là việc pháp sư Trần Huyền Trang đi thỉnh kinh, và khi nói đến việc thỉnh kinh tất nhiên là có liên hệ đến Phật giáo. Thế cho nên mặc dù là có nhiều chuyện hoang đường, nhiều nhân vật bịa đặt, nhưng vai chính vẫn là con người thật của Trần Huyền Trang, mà các vai phụ là Tôn Hành Giả, Bát Giới, Sa tăng; rồi đứng về mặt thiên giới các vị thánh thần như: Ngọc Đế, Thái Bạch Kim Tinh, Lý Thiên Vương, Na Tra, Thiết Phiến công chúa v.v... cũng đều là những vai phụ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thêm nữa mặc dù là chuyện nói nhiều về Quan Âm Bồ tát, nhưng vẫn có các vị Phật và Bồ tát khác xuất hiện như: Thích Ca Như Lai, Nhiên Đăng Cổ Phật. Bửu Tràng Quang Vương phật, Văn Thù, Phổ Hiền, Địa Tạng v.v...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói chung về nội dung thì có nhiều quan niệm khác nhau nhưng vì cuốn truyện tích này nói về Quán Thế Âm Bồ tát, nên ta chỉ lọc ra những ý niệm có liên hệ đến vị Bồ tát đó mà thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thật ra thì trong căn bản vì pháp sư Trần Huyền Trang có một lòng tin thâm thiết và sùng kính rất cao đối với Quan Âm Bồ tát nên tất cả mọi hoạt động chuyển biến gì trong việc thỉnh kinh đều gần như là có bàn tay của Bồ tát Quan Âm sắp đặt cả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như trong đoạn cuối ta thấy rằng sau khi ngài Huyền Trang đã làm xong nhiệm vụ thỉnh kinh mà Qan Âm Bồ tát còn phải làm ra một hoạn nạn cuối cùng cho vị pháp sư này chịu cho đủ số, rồi các vị thần như Ngũ Phương Yết đế, các vị Hộ pháp, Già Lam, Kim Cang v.v... đều đến bạch lại với Quan Âm Bồ tát các sự việc, rồi sắp đặt thi hành sự thử thách lầm chót nữa thì đủ biết rằng căn bản của việc lựa chọn thầy Huyền Trang đi thỉnh kinh, và mọi sự kiện hoàn cảnh gì phải trải qua, lối thoát ra sao cũng đều do Quan Âm Bồ tát vâng chỉ của Phật Tổ sắp đặt, mưu tính, lo liệu cả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như vậy ta có thể nói rằng về mặt nhân gian, nhân vật chính là pháp sư Huyền Trang, còn đứng về mặt thiêng liêng huyền bí thì vai trò chính là Quan Thế Âm Bồ tát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Và các vai phụ của thầy Huyền Trang như Tôn Hành Giả, Bát Giới, Sa Tăng, mỗi người đều biểu lộ một cá tính riêng của con người nói chung.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tôn Hành Giả tượng trưng cho sự can đảm, mạnh dạn mặc dù có khi hung hăng, bướng bỉnh, và trong ấy cũng có bản chất của sự bất phục tòng, phản đối, bất mãn v.v... Bát Giới là biểu tượng của sự đam mê ăn uống, tham sắc dục và sự yếu đuối bị lôi cuốn bởi những điều vật chất ô trược trên thế gian này. Sa Tăng tượng trưng cho sự lười biếng, âm thầm thiên về sự bất thiện, chậm chạp, rụt rè.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói tóm lại, tất cả những tính tình của con người đều được biểu lộ qua ba nhân vật ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng cũng may thay cho loài người là nhân vật chính Trần Huyền Trang lại là biểu tượng cho sự thanh cao, lương thiện, đạo đức, mực thước, nhân nghĩa mà nhân vật này là nồng cốt cho việc hy sinh cao cả, chịu đựng bao nhiêu gian lao khổ nạn, quyết chí đi đến thành công.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn con ngựa Bạch Kim tượng trưng cho phương tiện. Nếu trên đường thỉnh kinh gian nan vạn dặm mà không có có ngựa thì việc thành công cũng khó mà có kết quả<SUP><B>(45)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngoài ra ta thấy rằng truyện Tây Du Ký cũng có những vai phụ thần thoại chịu ảnh hưởng của truyện Phong Thần, vì trong những trường hợp có sự xuất hiện của tiên thần, quỷ quái ta thấy có những tên nhân vật thần thoại như: Thái Bạch Kim Tinh, Thái Thượng Lão Quân, Lý Thiên Vương, Na Tra thái tử và các con vật như Khổng Tước, Kim Mao Hẫu, Bạch Tượng, Thanh Sư v.v... đều là những tên đã từng có trong truyện Phong Thần.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại có những trường hợp nói lên luật nhân quả rõ rệt như vua Châu Tử vị phân vợ rẽ chồng trong ba năm; công chúa nước Thiên Trúc bị con nữ yêu bắt bỏ tại đồng hoang v.v... Những trường hợp điển hình này chứng tỏ tác giả chịu ảnh hưởng một phần nào tư tưởng của Phật giáo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(40) Kim Tỷ Bạch Mao Thử Tinh: <I>Chuột mũi vàng lông trắng thành tinh
<p style="padding-left: 30px;">- Bán Triệt Quan Âm: Quan Âm có nửa mình.
- Địa Võng Phu nhân: Phu nhân dưới đất trồi lên (Chú thích của Tây Du Ký Bình Khảo - Phan Quân, tập III, trang 814).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(41): <I>Lúc Tôn Hành Giả đi kiếm Tam Tạng bị giam trong động Vô Để, có thấy một bàn thờ có lư hương và hai bài vị thờ sống của con yêu Kim Bạch Mao thờ Lý Thiên Vương và Na Tra, nên biết được lai lịch của nó.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(42) Nhiên Đăng Cổ Phật: <I>Xem chú thích số (9) của Chương II, Phần II.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(43): <I>Trong tài liệu Les Pèlerins Chinois En Inde (Những nhà chiêm bái Trung Hoa ở Ắn Độ), Paul Lévy cũng có ghi như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"Gốc tùng cổ thụ của nhà chiêm bái cũng cho các dấu hiệu nghiêng ngọn và uốn có như nói thầm sự vui mừng của nó. Cây đại thọ này mà Huyền Trang đã từ biệt trong lúc ra đi, đã tuân theo lời dặn của thầy, nghiêng ngọn về Tây và cứ giữ tình trạng đó trong lúc thầy đi qua hướng ấy. Nhưng khi thầy quay mặt về hướng Đông và bắt đầu trở lại thì gốc tùng cổ thụ này, trung thành với người chủ, cũng quay ngọn và các cành lá của nó qua hướng Đông. Đó cũng là dấu hiệu đầu tiên của sự trở về và việc báo hiệu rằng nhà chiêm bái đang trên đường về xứ" (Tạp chí France-Asie - số Février-Juin 1959 - Présence du Bouddhisme trang 430-431).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(44): <I>Vì thế bây giờ trong các chùa chiền, người ta đều chạm rồng cuộn vòng tròn quanh các cột.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(45): <I>Nếu nói về quan điểm triết lý con người thì trong cuốn Yoga - Thiền định (Raja Yoga, quyển II) của Nawami (nhà xuất bản Trí Thức, Saigon, 1969) cũng có nói và chú thích như sau:
<p style="padding-left: 30px;">Trong chính văn nói về Kriya-Yoga có giải thích như sau:
- Xác thân là cái xe.
- Ngũ quan và ý thức là sáu con ngựa.
- Tinh thần là dây cương.
- Trí thông minh là người đánh xe.
- Chơn ngã là người hành khách.
Rồi cuối trang có chú thích như sau:
- Xác thân là con ngựa Tam Tạng cỡi.
- Ngũ quan là Sa tăng
- Ý thức là Bát Giới
- Trí thông minh là Tề Thiên đại thánh.
- Chơn ngã là Tam Tạng.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<CENTER>CHƯƠNG V
<B>SỰ TÍCH QUAN ÂM DIỆU THIỆN</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. <B>DẪN NHẬP</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo tài liệu <I>Nam Phương Phật Tích</I> (cuốn này soạn giả là Huyền Mặc Đạo Nhân, xuất bản năm 1949, nhà in Việt Hương, 86 Colonel Boudonnet, Saigon), đầu đền của truyện là <I>Hương Sơn Đắc Đạo</I> lại có dẫn thêm (thuật theo sách Hương Sơn Ký hay là Quan Âm Xuất Thế).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Truyện Quan Âm Diệu Thiện này có ba tài liệu nói đến (đây là chỉ kể những tài liệu hiện tại chúng tôi có) như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nam Phương Phật Tích (Hương Sơn Đắc Đạo).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bà Diệu Thiện hay là... Quan Âm Nam Hải trong cuốn sơ Lược Sử Quán Thế Âm Bồ tát do Minh Tâm sưu tầm, Trưởng ban Biên tập Minh Hạnh đề tựa xuất bản năm 1968.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bồ tát Quán Thế Âm do Tăng sinh viên Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm thực hiện (tại An Dưỡng Địa Phú Lâm, xã An Lạc, TP. Hồ Chí Minh) trong tài liệu này nói Quán Âm Bồ tát tên là Diệu Chân, thay vì tên Diệu Thiện.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong phần nhận định thêm sau này về Quan Âm Diệu Thiện, chúng tôi sẽ đề cập đến những chi tiết bổ túc thêm cho những tài liệu này.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">2. <B>SỬ LƯỢC</B>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) <B>Vua Diệu Trang Vương và nước Hưng Lâm</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vào khoảng thế kỷ thứ VII<SUP><B>(1)</B></SUP>, tại nước Tây Vức (Tây Thiên Trúc, tức là Ấn Độ hiện nay) có một chàng trai mười sáu tuổi, dòng họ Thái - hiệu Kim Thiên, họ Bà tên Già<SUP><B>(2)</B></SUP>, có tài văn võ kiêm toàn và tự xưng là La Ngọc anh hùng hán.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chàng ta hưng binh đánh lấy nước Tây Vức, thống nhất sơn hà, rồi sau đó tự lập làm vua, xưng hiệu là Diệu Trang Vương, đặt tên nước là Hưng Lâm quốc<SUP><B>(3)</B></SUP>. Rồi chàng ta kết hôn với nàng Bá Nha, đặt làm ngôi Chánh cung Hoàng hậu<SUP><B>(4)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong nước nhân dân được sự thái bình thạnh trị, đời sống no ấm sung túc, nhưng vua và hoàng hậu vẫn thường lo buồn vì lúc ấy vua đã ngoài bốn mươi tuổi rồi<SUP><B>(5)</B></SUP> mà vẫn hiếm hoi: Vương hậu chẳng sanh được một vương tử hoặc vương nữ nào.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua bèn ra lệnh cho bá quan lựa ngày lành tháng tốt, lập đàn chay trên núi Tây Hoa<SUP><B>(6)</B></SUP> để cúng Phật cần thần và vương hậu lễ bái cầu tự. Hôm ấy nhằm ngày mới chín tháng hai, trong bảy ngày ròng rã, tại đàn tràng khói hương nghi ngút không ngớt, vương hậu một dạ chí thành khấn nguyện xin cho giáng đản thiên nhơn, để cho nước Hưng Lâm khỏi bề tuyệt hậu.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) <B>Cầu tự sinh được ba công chúa</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau kỳ trai đàn tiến cúng ấy, vua và hoàng hậu trở về hoàng cung, được mấy năm thì vương hậu có tin lành sanh hai kỳ đầu được hai vương nữ, ấy là Diệu Thanh và Diệu Âm. Hai vương nữ ấy đều xinh đẹp, kỳ thứ ba lại sanh thêm được một công chúa thứ ba nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thật là một nhành liễu chương đài, giáng trần nhằm giờ Tý, ngày mười chín tháng hai, có nhiều điềm lạ tốt đẹp hiện ra như hương lạ đầy nhà, mây mầu vẫn cửa, dường như báo tin một vị Bồ tát giáng thế. Vua và hoàng hậu bèn đặt tên cho vị công chứa thứ ba này là Diệu Thiện.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cả ba vị vương nữ đều có dung nhan tươi đẹp, dáng vẻ mỹ miều, rất là diễm lệ, thật là xứng đáng với danh từ sắc nước hương trời, thục nữ thiên kim, cành vàng lá ngọc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong ba công chúa ấy có bà chúa thứ ba lại tỏ ra trang trọng dung nghi, tánh tình nhu mì hòa nhã, ăn nói dịu dàng nhỏ nhẹ, đoan trang ôn hòa, tỏ ra có lòng từ mẫn đôn hậu, phong độ thật khác với người phàm<SUP><B>(7)</B></SUP>. Sinh hoạt rất là thanh tịnh, ăn uống nhất thiết trai vị thuần khiết, không đụng đến những món ngũ tân và các món mặn (cá, thịt v.v...), rõ ràng là một vị thánh nhân từ các cõi trời giáng thế.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng vua Diệu Trang vẫn lộ ra vẻ ưu sầu phiền não, vì ngài hằng ước mong sanh được một vị Đông cung Thái tử đặng nối nghiệp đế vương, ai ngờ vương hậu chỉ sanh toàn gái, mặc dù ba vị công chúa thật là xinh đẹp nết na.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(3) <B>Hai công chúa trưởng và thứ kết duyên cùng hai phò mã</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trải qua mười chín năm, các vị công chúa cũng đã đến tuổi trưởng thành, thường đi du ngoạn với nhau và đàm đạo trò chuyện với nhau trong khu vườn thượng uyển.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Diệu Thanh, người chị lớn trong ba người, thì ước mong ba chị em luôn luôn được sum vầy đầm ấm với nhau. Diệu Âm thì suy nghĩ khác hơn và nói rằng: "Ở đời, chị em sum hợp chẳng qua chỉ là một khoảng tạm thời mà thôi, chứ sau khi trưởng thành, ai cũng phải lập gia đình lấy chồng, xuất giá tòng phu. Rồi mỗi người đều chia tay nhau, kẻ đông người tây, ai ở riêng nhà nấy, chứ có lẽ nào mà chị em lại được sống chung với nhau cho đến bạc đầu?"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Diệu Thiện công chúa nghe hai chị nói chuyện thì không góp ý kiến gì mà chỉ mỉm cười im lặng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai chị bèn gạn hỏi em:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hiền muội chúng ta có ý kiến gì mà không nói ra, chỉ cười thầm hai chị như vậy?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bấy giờ, Diệu Thiện công chúa mới ngỏ lời, đem triết lý sâu xa vô thượng của Phật pháp ra nói với hai chị rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thưa hai chị, như lời chị Diệu Âm nói, thì đấy là một điều trong chân lý "Khổ đế" của đạo Phật: "Ái biệt ly khổ", tức là xa những người, những điều mình yêu mến, mà lại gần những điều mình không thích: "Oán tắng hội khổ". Còn điều mong ước của chị Diệu Thanh được sum vầy mãi mãi, như vậy có thể được chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cuộc sang giàu của người đời chẳng khác gì giọt sương buổi sớm vậy. Ta cũng thường rõ biết bao cuộc hưng vong, thành bại, thịnh suy ở đời này, đã xảy ra từ khi có loài người. Nhiều vị vua chúa coi giang sơn như là của riêng gia tộc mình, nhưng rốt cuộc vận trời dâu bể, có ai giữ được non sông trọn kiếp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vận may của bậc anh hùng cái thế cho có lừng danh thiên hạ đi nữa, cũng đâu có bền lâu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn về đời riêng của mỗi cá nhân thì sao cho khỏi biệt ly chia lìa với người thân: nào cha mẹ, vợ chồng, anh chị em, con cái, có ai ở với nhau mãi mãi kiếp này sang kiếp khác được đâu? Thế nào "luật vô thường" cũng đến, có sum hợp tất có biệt ly.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn gia tài, của cải, bạc vàng, châu báu cũng khó bề đem theo mỗi khi phải rời cuộc sống hiện tại để về cõi âm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bấy nhiêu điều ấy, thật đúng là bèo đậu bến mê, bọt trôi biển khổ, chẳng mấy chốc mà rã rời, tan vỡ, không gì níu kéo lại được, thật rõ là trò tục lụy, mà phần đông người đời chẳng hiểu rõ lẽ giả chơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo như chí nguyện của em, thì em chỉ muốn tìm nơi tự viện danh sơn tu hành, đặng cầu lấy sự thanh tịnh trong kiếp sống hiện tại, và một mai có được thành chánh quả thì sẽ tiêu diêu trên cõi Cực Lạc, đích thân mình được lên cõi trường sanh bất tử, độ hết thảy phàm trần khổ não! Trước là độ cho cha mẹ được vãng sanh lên cõi Liên trì cửu phẩm, sau nữa độ cho hai chị được siêu thăng, ai nấy đều được lên Tây phương Cực Lạc, chứ chẳng màng đến đời sống nhân loại, trầm luân khổ hải, rồi có khi chẳng may lại hóa ra phải đầu thai vào loài súc sanh, ngạ quỷ, hung thần thì thật là khốn đốn biết bao.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong lúc chị em đang trò truyện thì có người thế nữ đem lịnh của phụ vương và mẫu hậu đến truyền triệu ba vị công chúa về cung.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi về tới cung thì mới biết là phụ vương đã chọn hai vị tân khoa văn võ, tài năng xuất chúng, tướng mạo uy phong, để gả hai vị công chúa trưởng và thứ: đó là Triệu Khôi, trạng nguyên khoa văn, kết duyên cùng Diệu Thanh công chúa, và Hà Tánh, trạng nguyên khoa võ, sánh đôi cùng Diệu Âm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Và sau đó, vua ra lệnh cho triều đình văn võ bá quan sửa soạn lễ tế cao Thiện Địa, bái cún gtông miến để làm lễ thành hôn cho hai vị phò mã cùng hai công chúa và giao cho hai phủ Đông, Tây để làm nơi lưu trú<SUP><B>(8)</B></SUP>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(4) <B>Công chúa thứ ba: Diệu Thiện từ hôn bị cầm tù nơi ngự viên</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhân một bữa nọ, vua Diệu Trang làm lễ lục tuần, có bá quan văn võ và vương cung, Phò mã, công chúa đến dự lễ chúc thọ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau bữa tiệc, vua ngự giá về điện Vĩnh An yên nghĩ. Vua cũng vẫn còn ưuy tư buồn phiền vì nghĩ mình tuổi cao tác yếu, mà non sông nghiệp cả không kẻ thừa đương, nghĩ ra bất hiếu là tội vô hậu. Chỉ còn một phương cách là chọn một phò mã cho công chúa thứ ba Diệu Thiện, lựa người trung trực hiền lương, tài đức vẹn toàn, rồi sẽ lập làm Thái tử mà truyền ngôi báu, ý muốn liệu cách vô nam dụng nữ mà thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nghĩ vậy rồi, ngài bèn truyền cho viên Khâm sai Đại thần là thái giám ở việc Hoài An qua thỉnh Vương hậu Bá Nha đến đặng cùng nhau bàn việc đó. Lại sai thế nữ qua hiên Cảnh Mai triệu tam cung công chúa là Diệu Thiện để thương lượng cùng con, xem ý nó nghĩ ra sao.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công chúa Diệu Thiện vào chầu, vua Diệu Trang phán rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Cha mẹ chỉ sanh được ba con gái, non sông này biết phú cho ai? Chỉ đành theo lối cổ, học Đường Ngu<SUP><B>(9)</B></SUP> mà truyền ngôi cho rễ. Vậy các van võ trạng nguyên ở triều đó, mặc ý con chọn lựa lấy lứa đôi, đặng sau này nối theo nghiệp đế cho yên dạ cha già ỷ vong.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công chúa nghe lời vua cha xong, liền khép xiêm lạy năm lạy, rồi tâu rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Muôn tâu phụ vương, phận gái đành rằng tòng phụ là đạo tại gia. Song, chí con chỉ thích thanh nhàn, nhưng ước mong được tu hành lạc đạo. Vậy cúi xin phụ vương cho phép còn tìm nơi danh sơn thắng cảnh, đặng an tâm quy Phật, thù bần cầu đạo, xuất thế tòng lâm, ước mong sao tới cõi Bồ đế để sau này đắc đạo, siêu độ song thân ra khỏi trần tục khổ não; ấy là đền đáp ân đức cù lao dưỡng dục được một trong muôn phần vậy. Còn nghiệp cả muôn năm, xin phụ vương ủy thác cho hai chị con cũng được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua Diệu Trang nghe lời công chúa Diệu Thiện tâu bày, bèn nổi giận lôi đình, lớn tiếng quở mắng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Sao một vị thiên kim công chúa mà lại đi làm tỳ kheo ni, lôi thôi bệ rạc, nhếch nhác bần hàn hay sao? Từ đây không được nói bậy trước mặt ta nữa, nếu không chừa nết ấy đi, thì sau này đừng trách ta khắc nghiệt, nghiêm minh nhé!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công chúa bị quở, cúi lạy dập đầu mà tâu lại rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thưa phụ vương, con trộm nghĩ vinh hoa phú quí khác nào như đám mây trôi nổi giữa trời, lúc tụ lúc tan, chẳng có chi là chắc chắn! Nếu phụ vương quyết định vì con kén rễ, thì xin chọn một chàng đại y sĩ, chữa bệnh cho thiên hạ không nóng không lạnh, chữa cho người khắp thế gian không ai có lòng tham muốn, không ai mắc phải vòng khổ đế: sanh, lão, bệnh, tử; không ai bị nhiễm ba món độc: tham, sân, si; đồng loại ngang nhau không ai nghèo, ai giàu, ấy mới là mãn nguyện của con, lúc đó con xin kết làm đôi bạn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức vua nghe nói lại càng thêm tức giận nhưng lại thấy công chúa một lòng sắt đá, quyết chí tu hành, nên không thể cấm ngăn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngài bèn sai viên quan cận về là Hà Đao lột hết áo gấm xiêm y, cho mặc chỉ toàn là áo vải, y thô, lại truyền bắt giam cầm trong chốn ngự viên, bỏ cho đói rách khổ thân, hòng làm cho công chúa chừa bỏ tánh ngang ngạnh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công chúa cúi đầu lạy tạ, vâng mạng vua cha, ra tạm trú ở sau vườn. Ai ngờ lại nhờ đó mà hợp cảnh tu hành; dưa muối chay lòng, nâu sồng thích thể, bạn cùng gió mát trăng trong, tự tại tiêu dao, không buộc không ràng, quên phứt đi cả mùi phú quý vinh hoa.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(5) <B>Vương hậu Bá Nha nhớ con cùng với Diệu Trang ngự giá đến thăm</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ khi Diệu Thiện công chúa bị giam cầm trong ngự viên thì mẫu hậu đêm ngày âu sầu nhớ con. Một hôm nọ hậu sai hai thể nữ tới thăm công chúa để xem dung nhan bây giờ ra sao, và dặn hai người kiếm lời khéo léo khuyên giải. Hai tên thể nữ lãnh mạng, liền đi theo nhau đến vườn, bái chào công chúa rồi thưa rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chúng em vâng mạng mẫu hậu tới rước xe loan công chúa về cung, cúi xin công chúa nghĩ lại chữ "hiếu", vì trong thiên hạ không ai thân và kính bằng cha mẹ; kẻ làm con chịu ơn cha mẹ ví bằng non cao biểu sâu, cho nên phải lo báo đáp lúc hiện tiền, chớ để song thân khuất bóng, chừng đó dù có oán than trách mình phận bạc không phụng sự được cha mẹ thì cũng chẳng được ích gì? Huống chi ý định gầy dựng gia thất vẫn là ý tốt, mà nghĩa vợ chồng là đầu mối vương quốc xã hội, người thế gian ít ai lọt khỏi nhiệm vụ di luân!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nay công chúa đã đôi tám xuân xanh, cái giá trắng trong như cành ngọc cành vàng, đương độ xuân thì như hoa đào mới nở, nếu để qua thời kỳ đó thì e hoa tàn nhụy héo, xuân sắc lạt phai, tới chừng đó đâu há dễ kiếm kẻ xứng đáng để sánh đôi làm bạn trăm năm. Xin công chúa nghe lời can gián của chúng em, là kẻ nô tỳ luôn luôn thương mến, trung thành với công chúa mà trở về đặng hưởng bề trăm năm hạnh phúc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công chúa nghe lời khuyên giải của hai người ấy thì mỉm cười và đáp rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Các em ơi! Các em đâu biết ý nghĩa của đời người? Những điều các em nói là ý kiến của kẻ thường tình phàm tục, điều đó ta há chẳng hay sao?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng lối sống tu hành của ta tự ta hiểu là có điều vi diệu chơn chánh, đó cũng là một lối sống báo đáp, công ơn cha mẹ ta đó! Và cũng là một lối tìm kiếm hạnh phúc của ta, một thứ hạnh phúc vĩnh cữu, an lạc lâu dài, chứ không phải là thứ bã vinh hoa phú quý dễ mất, dễ tan kia đâu?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cũng may là phụ vương ta cho đưa ta đến đây, dường như khiến cho thân ta lìa khỏi vòng đại nạn vinh thân phì da, vòng trói buộc trong các dục lạc phàm trần.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhờ được tam thế chư Phật phù hộ nên được tùy tâm mãn nguyện tu hành, chính là cảnh giới tịch mịch muôn dặm trường không, muôn nơi thanh tịnh, chẳng có chút gì vương vấn trần ai.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vậy ta phiền các em, trở về tâu với lại phụ vương, mẫu hậu ta, đừng bận lòng thương nhớ đên ta làm chi! Để ta yên tịnh tu hành, rồi đây khi thành chánh quả, ta sẽ độ cho tất cả người thân, kể cả các em là những người đã hầu hạ dưới trướng của ta thuở trước nữa. Thôi! Các em đừng mất thì giờ nói thêm nữa, các em nên về đi!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai người thể nữ biết không thể nào thuyết phục được công chúa, bèn bái chào từ biệt, theo nhau về điện Vĩnh An, quỳ tấu lạy trước mẫu hậu và thuật lại tất cả sự tình cùng những lời sắt đá, kiên gan quyết chí tu hành của công chúa. Và nói rằng công chúa có nhờ phúc tấu phụ vương, bệ hạ đừng bận lòng lo ngại cho công chúa, cứ đợi lúc nào công chúa được đắc đạo, mây hường dưới gối, ấy là lúc công chúa đền ơn cù lao sanh dưỡng đó!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vương hậu vừa mới nghe xong lời hai người thể nữ tâu lại, thì có viên quan ngự lâm tới báo tin Đại vương ngự giá tới cung thăm viếng. Vương hậu ân cần nghinh tiếp, chẳng dè khi thấy Trang vương, mặt mày ủ rũ, ngồi trên long sàng mà rơi lệ thấm áo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vương hậu mới kinh hãi, đón hỏi duyên cớ thì đức vua nghẹn ngào đáp:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con nhỏ Diệu Thiện tính tình ngang ngược, làm cho trẫm nổi giận mà giam cầm trong ngự viên. Ngày nay, tưởng nhớ tới con thì ruột đau như cắt!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trẫm mới nghĩ rằng: loài vật dữ tợn độc ác như cọp, rắn mà còn biết thương con thay, huống chi ta là người, há chẳng xót đến cốt nhục tình thâm hay sao?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trẫm nay đã trên sáu mươi rồi, chỉ sanh đặng ba chút đào thơ, hai chị nó thì đã yên bề gia thất, còn nó thì khi nói đến lứa đôi, nó lại có tánh trái ngược ngang ngạnh lạ thường, chẳng khứng chịu lời khuyên bảo của cha, bây giờ biết làm sao cảm hóa nó được?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vương hậu nghe lời đức vua phàn nàn, thì cúi đầu tâu lại:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chẳng những bệ hạ vì con áy náy buồn phiền, mà lòng thiếp đây cũng đau đớn trăm bề. Thôi xin bệ hạ hãy rộng lượng xá tội trước cho con, rồi thiếp sẽ liệu lời khuyên giải.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức vua nghe lời hậu nói, tức thì tuyên triệu đội lính thị vệ nơi điện Hoài An, truyền sửa soạn xe loan đặng cùng hậu ngự đến nơi vườn ghé thăm công chúa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ở trong ngự viên, công chúa Diệu Thiện đang đốt nhang khấn vái Phật trời, xin được ủng hộ để tu hành cho trọn công quả. Rồi lại ngồi tụng kinh bái sám, xảy được tin vương hậu giá lâm, bèn vội vàng đứng dậy nghinh đón, còn đức vua thấy con liền cầm lấy tay rơi lệ mà ban lời dụ rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bởi con trái lời cha dạy nên cha giận mà phạt ở tại đây, trải nay đã mấy tuần, vắng mặt con ở bên cạnh, cha mẹ rất là thương nhớ, vậy lòng con có biết chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nay cha mẹ đến đây đem con về chốn cung vi đặng cùng hưởng cao sán cẩm tú. Đạo làm con phải vâng nể lời cha mẹ, cho cha mẹ được vui lòng hôm sớm ra vào an tâm!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công chúa dập đầu lạy năm lạy mà tâu rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Cúi xin phụ vương và mẫu hậu đừng đoái hoài đến con làm chi, hiện giờ con cam chịu tội bất hiếu như ý nghĩa thường tình, vì không vâng lời cha mẹ! Song tánh con không muốn luyến lụy trần duyên cho thêm ràng buộc! Vậy trăm lạy phụ vương mẫu hậu rộng dung cho con tu hành cho tròn quả phúc, mai sau sẽ có ngày báo đáp ơn sâu!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vương hậu Bá Nha thấy con khăng khăng một dạ quyết chí tu hành lấy làm thất vọng, nổi giận mà quở rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thần tiên là chuyện hư huyễn, mà con mê tín làm chi? Cha mẹ dạy con mà con chẳng nghe lời, lại để cho cha con quá giận quở phạt thậm tình thì mẹ không thể nào can gián, bào chữa cho con được!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công chúa nghe vương hậu nặng lời quở mắng thì ngã lăn ra đất khóc lóc thảm thiết. Các cung tỳ xúm lại khuyên lơn hồi lâu mới hết. Rồi công chúa lai tâu rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con trộm tưởng: Vinh hoa phú quí, trăm năm nào có bao lâu, mà đem thân buộc lấy nợ trần, rồi chẳng may lại sa vào trụy lạc muôn đời! Còn tu là cội phúc, một kiếp tu siêu thoát ngàn đời. Cổ ngử có câu: "Một con xuất gia, độ cho chín họ", huống gì công cha nghĩa mẹ, lại không có phương đền đáp hay sao? Thôi con cúi xin cha mẹ hãy quên con đi, phần phụng dưỡng để nhờ hai chị con thay thế. Nếu cha mẹ quyết chẳng rộng ơn cho con được toại nguyện, thì dẫu búa rìu con cũng xin cam chịu, chớ không thể nào con bỏ đường chánh đạo mà bước vào lối mê được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức vua nghe con biện bác lấy làm bực mình, nhưng cũng rán nén giận mà ban lời nhắn nhủ:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ta tưởng những kẻ xuất gia làm tăng đạo, đều là phường góa bụa cô đơn, hay là quan biếng nhác ngu ngoan, không có kế sanh nhai nuôi miệng, mới làm nghề buôn thần bán Phật, kiếm miếng cơm manh áo để độ thân, chứ như con là cành vàng lá ngọc, cơm vua áo chúa thiếu gì mà lại đi học theo hàng vô lại!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công chúa dập đầu chảy máu cúi lạy rơi lệ mà tâu rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Trăm lạy cha để phước cho con, con thường nghe cổ ngữ nói rằng: Chư Phật là bậc chí thánh, trừ bỏ ngũ dục, tu hành từ bi hỷ xả, lục độ vạn hạnh mà đặng toàn thân chứng quả vô thượng Bồ đề; còn mấy vị xả thân quy Phật tu hành, là trang trí huệ thông minh chớ đâu phải là kẻ tầm thường; cúi xin cha đừng hủy báng quá lời mà mang tội, lại làm cho con thêm nặng tội nữa!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trang vương thấy công chúa một lòng sắt đá chẳng dời, thời nổi giận không thèm nói nữa, mà dắt vương hậu lên xe loan trở về. Ngài la mắng lớn tiếng rằng: "Đứa con bất hiếu, trái mạng cãi lời cha mẹ!" Rồi sau đó, ngài truyền chỉ cho viên quan quản viên phong khóa cửa vườn, cấm công chúa không được ra khỏi vườn nữa bước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công chúa thấy phụ vương và mẫu hậu về rồi, thì mặt mày lại tươi tỉnh, trở lại yên tĩnh ngồi tụng kinh như trước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1): <I>Theo tài liệu Sơ Lược Sử "Quan Âm Diệu Thiện hay là Quan Âm Nam Hải" của Minh Tâm thì truyện Quan Âm Diệu Thiện đã được một vị bác học Hòa Lan tên là De Groot khảo cứu: Sự tích này xảy ra vào năm 2587, trước Thiên chúa, thuộc vào thời đại Kim Thiên (Ciel d'or) bên Tây Phương (Ấn Độ).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) Bà Già: <I>Theo tài liệu của De Groot thì Quan Âm Diệu Thiện là con của một vị vua tên là Linh Ưu, danh hiệu là Diệu Trang.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(3) Nước Hưng Lâm: <I>Theo De Groot, phía Tây giáp ranh Thiên Trúc quốc (Inde); phía Bắc giáp ranh Xiêm La; Đông giáp ranh Phật Chai quốc (Sumatra), Nam giáp ranh Thiên Chơn quốc (Tien Tchan).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn tài liệu của Viện Cao Đẳng Phật Học Huệ Nghiêm thì công chúa Diệu Chân (tức là Diệu Thiện) là con thứ ba của một ông vua tại xứ Miến Điện.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Xem lại trong bản đồ vùng ấy hiện nay và đối chiếu với các điểm De Groot cho biết thì nước Hưng Lâm xưa kia có lẽ là phần đất phía Nam xứ Miến Điện hiện nay, hoặc thêm một ít đất phía Tây Nam của Thái Lan nữa.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(4) Chánh cung Hoàng hậu: <I>Theo De Groot, hoàng hậu vợ vua Diệu Trang tên là Bửu Đức.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(5): <I>Theo tài liệu của De Groot nói rằng từ ngày vua Diệu Trang tức vị đến nay (lúc bấy giờ) đã bốn mươi lăm tuổi rồi mà hoàng hậu chưa sanh một vị Hoàng tử nào.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(6) Núi Tây Hoa: <I>Theo De Groot thì gọi là núi Huê Sơn.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(7): <I>Theo truyền thuyết (Nam Phương Phật Tích) thì ba vị công chúa này kiếp trước là ba con trai dòng họ Thi: ấy là Thi Văn, Thi Tuấn và Thi Thiện, đều dốc chí tu thân luyện tánh, chỉ vì không cứu được loạn Vương Triết (?) nên bị tội giam cầm tại động Thần Tiên. Nay Ngọc Hoàng muốn giúp vua Diệu Trang nước Hưng Lâm, nên miễn tội cho ba anh em và biến thân trai làm thân gái, đầu thai giáng sanh là ba công chúa nước Hưng Lâm. Nhất là cho Thi Thiện hoàn nguyện tu hành kiếp này chứng được đạo pháp Bồ đề,</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(8): <I>Theo De Groot thì vua Diệu Trang gã hai vị công chúa trưởng và thứ cho hai vị quan to trong triều.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(9): <I>Theo lịch sử Trung Hoa, vua Đường Nghiêu (quốc hiệu là Đường) nhường ngôi cho ông Thuấn là một người khác họ tộc mà được tiếng khen có hiếu, còn vua Ngu Thuấn (quốc hiệu là Ngu) sau này nhường ngôi cho ông Võ, cũng ngoại họ tộc mà được tiếng giỏi giang, vì đã tìm cách làm cho nước lụt rút đi (vua Võ lập ra nhà Hạ) (Theo Trung Quốc Sử Lược của Phan Khoang).</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(6) <B>Công chúa Diệu Thiện xuất gia lên chùa Bạch Hạc<SUP>(10)</SUP></B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi đức vua Diệu Trang và Hoàng hậu về rồi, hai người chị của Diệu Thiện là Diệu Thanh và Diệu Âm, từ lâu biết em mình bị giam cầm tại cảnh vườn hiu quạnh, nên động lòng thương xót, rủ nhau đến thăm em xem sức khỏe và dung nhan ra sao, và kiếm lời khuyên giải xem có được phần nào chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc đến vườn, Diệu Thiện đang tụng kinh, niệm Phật, nhưng cũng ngưng chút công phu để tiếp hai chị. Hai chị thấy em nửa mừng, nửa tủi, cầm tay em nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hai chị nghe tin em bị phụ vương giam cầm nơi đây, lòng đau như cắt! Nhưng bấy lâu mắc bận chuyện cửa nhà chưa rảnh đến đây thăm em được, nay mới đến xem em mạnh yếu ra sao và rủ em cùng về cung đặng sống một cuộc đời êm ấm, đồng hưởng phú quý vinh hoa, chứ em nghĩ tội gì mà em đem thân đày đọa chịu những cực khổ thiếu thốn cho uổng phí một đời xuân xanh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Diệu Thiện mới lấy lời cảm tạ hai chị và nói:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Em cũng biết là hiện giờ em là kẻ có tội bị cha mẹ giam cầm nơi đây, để hai chị nhọc lòng thương nhớ. Tuy nhiên, theo ngu ý của em đã tỏ cùng hai chị, cái chí của em đã quyết bỏ tục xuất gia tẩy trừ năm trược<SUP><B>(11)</B></SUP>, khiến cho sáu căn<SUP><B>(12)</B></SUP> thanh tịnh, coi sự vinh hoa phú quý ở đời như đám mây nổi. Vậy em cảm ơn hai chị về những lời luận lý thường tình tại thế gian, nhưng nếu hai chị muốn cho em trở lại hưởng mùi tục lụy trầm luân nơi chốn phàm trần thì em quyết chẳng đổi thay ý kiến đâu!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai người chị lại kiếm lời khuyên giải thêm nữa và cũng đánh vào tình cảm ruột thịt chị em để xem có cách nào lay chuyển được chí hướng của em không, nhưng công chúa Diệu Thiện vẫn một mực kiên gan vững lòng trả lời:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thôi em xin hai chị thông cảm chủ ý của em mà đừng nói thêm nhiều lời nữa. Em đã quyết tâm một lòng theo Phật đạo, sống một cuộc đời thanh bạch trắng trong, kham khổ chịu đựng sự đạm bạc để tu hành, may sao một ngày mai được vẹn tròn công quả, thì sẽ có ngày em đền ơn cha mẹ và đáp tình hai chị về sau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai người chị thấy em đã quyết lòng, dạ đá gan vàng, nên từ biệt ra về với vẻ hậm hực, để lại một mình Diệu Thiện trong cảnh hiu quạnh thanh vắng, ngồi lại tụng kinh như trước.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ở trong vườn chưa được bao lâu, một ngày kia Diệu Thiện thấy có hai tên thể nữ đến vườn cúi đầu lạy chào rồi bạch rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chúng tôi vâng mạng mẫu hậu tới rước công chúa về cung đây! Cúi xin công chúa hãy thuận tình để chúng tôi giữ được thân luân đại nghĩa, nếu không chúng tôi cũng phải khiêng công chúa về theo lệnh của mẫu hậu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói xong, chúng áp tới xốc hai cánh tay công chúa, làm cho Diệu Thiện phát giận mà mắng rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Mấy người làm gì vậy? Các ngươi muốn yên ổn thì từ rày không được lên đây mà khuấy rầy ta nữa! Ta nghe nói tại huyện Long Thọ, thuộc hạt Nhữ Châu có một ngôi chùa lớn là Bạch Hạc, có vị trụ trì là cao tăng ở đó, tăng ni đồ đệ rất đông, có đến năm trăm người. Ta sẽ đến đó tu hành, nếu tụi bây về tâu với mẫu hậu và xin phép với phụ vương cho ta được đi đến đó thì ta sẽ thưởng cho được có nhều hạnh phúc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Biết không thế nào ép được công chúa, hai thể nữ đành trở về cung tâu lại tự sự, nhân lúc vua Diệu Trang ngự giá tới hậu cung, nghe được chuyện Diệu Thiện định qua chùa Bạch Hạc tại Nhữ Châu tu hành. Ngài bèn nghĩ ra một kế: một mặt sai sứ tới chùa Bạch Hạc, huyện Long Thọ, truyền chỉ cho chủ chùa phải khuyên công chúa trở về, không thì trị tội hết tất cả tăng ni, lại một mặt sai người đến ngự viên truyền mạng cho phép công chúa tới tu hành tại chùa Bạch Hạc, nơi hạt Nhữ Châu. Viên thái giám tiếp được ngọc chỉ ra lệnh như vậy, liền phái các thuộc hạ vâng mạng thi hành ra đi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Diệu Thiện công chúa nghe được tin vua cho phép mình đi tu liền hết sức vui mừng, trở lại vương cung để từ giã cha mẹ. Ngờ đâu khi đến gặp vua cha, lại nghe ngài phán rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Làm sao con cứ giữ khăng khăng ý tưởng tu hành khiến cho cha phải giận dữ phạt con, giam cấm con trong vườn. Bữa nay tin cho con biết để về nghe lời cha mẹ khuyên răn trở lại đường ngay. Từ rày cha cấm con không được nói đến chuyện tu hành nữa!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Diệu Thiện biết vua cha không thực sự muốn cho mình đi tu, mà chỉ muốn đưa tin đặng mình trở về rồi giữ lại thôi, nên khóc lóc xin bái biệt cha mẹ rồi vội vàng băng mình ra khỏi bửu điện, chạy một mạch như gió bay, nhiều người vội vã rượt theo nhưng không kịp, vì dường như có điều huyền bí thần tiên hộ vệ gót ngọc, nên công chúa xông pha qua ngàn cây nội cỏ, chỗ nguy hiểm hang hùm ổ cọp, mà chẳng chút e ngại, chỉ trông theo một dãy non xanh mây trắng là nơi miền Long Thọ lướt tới, chẳng bao lâu đã đến Bạch Hạc thiền lâm.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(7) <B>Những khó khăn, hoạn nạn của Diệu Thiện khi tu hành tại chùa Bạch Hạc</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chùa Bạch Hạc là một ngôi chùa cổ đã trải qua ngàn năm, đời nào cũng được tu bổ: đó là một đại thiền lâm, một danh lam thắng cảnh trong cõi Nhữ Châu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sư trưởng trụ trì tại chùa lúc bấy giờ là Thôi Trung Tâm, pháp hiệu là Mã Chánh<SUP><B>(13)</B></SUP>, đạo hạnh cao thâm, pháp thuật diệu kỳ, tín đồ đến sùng bái rất đông, trong chùa có tới năm trăm tăng ni.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một buổi sáng kia, trời quang mây tạnh, gió im lạng, bỗng sư trưởng lắc chuông ra hiệu đòi các tăng ni lại mà truyền rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bữa nay sẽ có vị tam cung công chúa là một bậc tiết nữ thanh tâm, kiên chí, đến cầu quy y thọ giới tại cảnh chùa này, các ngươi phải sửa soạn nhang đèn, bày ra ngoài cửa để nghênh tiếp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sư vừa dứt lời, giữa trời xảy có áng mây che phủ, một làn gió từ phía bắc thổi qua, ngoài cổng tam quan có một người con gái trạc chừng đôi chín xuân xanh lẹ làng bước tới.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì có sư trưởng báo trước nên đoán chắc rằng tam cung công chúa là đây, mọi người đều cúi đầu thi lễ, chào hỏi rất lịch sự kính cẩn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công chúa bèn vội vàng đáp lễ và thành khẩn bạch rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nam Mô A Di Đà Phật! Kính bạch sư trưởng và sau xin thưa cùng các đạo hữu: kẻ tục nữ này, vì lòng thành kính mộ đạo của Như Lai, và trộm nghe tôn sư đạo pháp cao siêu, vậy nên đến đây để xin quy y tại cảnh thiền lâm này, đâu dám nhận những lễ nghi quá trọng hậu như vầy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cúi xin tôn sư cho phép tục nữ vào lễ Phật Tổ Như Lai đặng dâng lời nguyện kiên thành tu học theo đạo pháp vô thượng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sư tổ Mã Chánh nhận thấy công chúa có lòng thành nên dẫn công chúa vào lễ Tam Bảo, cùng các vị Bồ tát, thánh thần thờ trong chùa một lượt; sau đó công chúa cúi đầu lạy sư Mã Chánh xin thọ giáo thờ sư làm thầy. Các tăng ni đều tỏ ra kinh ngạc, từ từ lui bước để sư phán lời chỉ dạy cho công chúa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sư bèn mời công chúa ngồi lại trước phương trượng, rồi bảo rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Các Tăng Ni ở đây đều xuất thân từ giới dân giả hạ lưu, còn công chúa là nơi cành vàng lá ngọc, nay lại đi làm người xuất gia, đặng ngang hàng với kẻ tầm thường, e không xứng đáng chăng? Vả lại người xuất gia phải chịu nhiều nỗi tâm khổ, công chúa đã quen với nề nếp cẩm tú cao lương, chịu sao nổi cái phong vị dưa muối nâu sồng? Thôi! Chi bằng công chúa nên trở về hưởng phú quý vinh hoa hơn là giam mình nơi cửa thiền khổ hạnh!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công chúa lại bạch rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nam Mô A Di Đà Phật! Bạch sư trưởng con kính lạy sư trưởng thứ lỗi cho! Con thiết tưởng mỗi người đều có chơn tánh trong người, tín nữ tôi trộm nghĩ rằng: phú quý vinh hoa đều là tục lụy, luân hồi khổ cảnh, dễ mê hoặc mờ ám tâm trí con người, dầu sang cả như làm vua, cũng không tránh khỏi một mai vô thường xảy đến. Ngày nay, tín nữ xả thân cầu đạo, dầu thịt nát xương tan cũng không đổi lòng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Câu chuyện chưa xong xuôi vào đâu, thì nghe tin báo có triều sứ vào chùa, bày biện hương án ra, rồi mở chiếu tuyên đọc, thấy đại ý nói rằng: "Vương thượng truyền mạng cho chủ chùa phải khuyên công chúa trở lại vương cung, nếu không thì sẽ sai quân đốt chùa và giết hết tăng chúng!"
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cả sư trưởng và chúng tăng ni nghe chiếu chỉ đều hoảng sợ hết hồn, đồng thanh năn nỉ với công chúa:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Cúi xin công chúa đem lòng quảng đại từ bi, bảo toàn chùa chiền, cứu mạng tăng ni, giải nạn cho đạo pháp, chớ lẽ nào vì một mình công chúa mà đành lòng để cho tai ách đến với mọi người hay sao? Huống chi việc tu hành khổ não nhiều bề, đã vô ích cho mình, mà còn hại đến kẻ khác.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công chúa bình tĩnh đáp lại:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Bạch sư trưởng, cùng các đạo hữu! Tín nữ tôi trộm nghĩ: đã là người xả thân học đạo, há có tiếc mình hay sao? Cho dầu có thú dữ nuốt thịt nhai xương cũng chẳng hề thối chí, huống chi việc đốt chùa là chuyện chưa tới, có cần lo trước làm chi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thấy công chúa cương quyết khăng khăng một dạ đá vàng, không còn có lập luận nào lay chuyển được; vả lại, cửa Phật là nơi quảng đại bao dung, chẳng có lẽ ngăn cản đường tu. Chúng tăng ni hết đường biện bác, những hoạn nạn sẽ tới cũng khá sợ thật, cho nên họ kiếm chuyện làm khó dễ cho công chúa mà nói rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thưa công chúa! Xin công chúa hiểu cho rằng: tu hành chẳng phải là việc dễ, vì lẽ cửa thiền là nơi bình đẳng không phân biệt thượng, hạ lưu, sang hèn, giàu nghèo đều nhất luật như nhau. bao nhiêu công việc nhà chùa như: gánh nước, nấu cơm, hái rau, bửa củi, thỉnh chuông, đánh trống, đốt đèn, thắp hương v.v... từ việc thờ Phật cúng Tăng, cho chí việc tiếp khách thập phương, anh em đều phải chung phận gánh vác khó nhọc, cùng làm cùng chịu, không ai được đùa việc cho ai. Nếu người nào không cùng nhau hết sức cần lao thì sư trưởng sẽ dùng hình phạt roi vọt mà sửa trị. Xin công chúa suy xét cho kỹ, đừng để ăn năn về sau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nào ngờ đâu, công chúa một mực gan vàng, dạ sắt, gật đầu khứng chịu hết thảy, chẳng nề hà khó nhọc đê hèn, chỉ quyết chí rèn luyện đức nhẫn nhục tu hành, cầu cho được vẹn tròn công quả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sư trưởng cùng chúng tăng ni đã hết cách làm khó dễ, bèn phải để cho công chúa thọ phép quy y.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cả chùa lên đèn nhang cho công chúa làm lễ thọ giới, rồi công chúa liền xin sư trưởng Mã Chánh trao cho các kinh kệ để sớm hôm đều đặn công phu mà đi lần vào đạo, nương mình vào pháp giới chư tôn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ đây, cẩm y đổi lấy cà sa, một vị công chúa thiên kim, cành vàng lá ngọc, đã trở thành một ni cô nương mình nơi cửa Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Do lòng thành của ni cô Diệu Thiện cảm ứng đến các vị linh thiêng nên Đại Đế Thiên Thần <SUP><B>(14)</B></SUP>, liền triệu Kim Tinh sắc chỉ giáng lâm hạ thổ, hiệp cùng với các Lục đinh thần tướng, Ngũ Nhạc sơn linh, Bát bộ long vương<SUP><B>(15)</B></SUP> và các Thổ địa thần kỳ, các vị thần ấy đều đến ủng hộ cho xong mọi việc: cọp dũng vác củi, chim thiêng hái rau, Long thần lấy nước. Già lam hộ giáo đánh trống thỉnh chuông, không mọt việc nào động đến Diệu Thiện phải làm, và vì muốn để cho công chúa được rảnh rang chuyên trì tinh tấn tu hành học đạo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chư thần đồng một lượt lãnh mạng của Đại Đế Thiên thần xuống trần ủng hộ. Quả nhiên mọi việc thảy đều xong xuôi, không để phải uổng phí một chút tận lực nào của ni cô Diệu Thiện, cho nên các thời khóa tụng kinh niệm Phật, công phu hôm sớm, chuông mõ cứ đúng giờ đều đặn mà vang lên theo giờ khắc tu tập hành trì của ni cô công chúa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một ngày kia, trong trai phòng, các tăng ni đều tụ hội và nói chuyện với nhau rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Quái lạ thật! Ni cô Diệu Thiện xuất thân từ nơi cẩm tú cao sang, nề nếp đỉnh chung sẵn có, làm sao mà chịu nổi với sinh hoạt nâu sống lam lũ, dưa muối lạt chay? Vả lại, thuở nay quen với lối lên xe xuống ngựa, kẻ hầu người hạ, ngày nay lại lâm vào những công việc gian lao cần khổ, khó nhọc thân xác, mà sao cũng làm nổi được ư? Chắc đây là một vị Bồ tát hóa thân, theo lối chân tu từ kiếp trước vaạy!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Họ không biết rằng vì lòng thành khẩn nguyện chí hướng cao siêu, động đến thần linh thiên địa nên có Phật trời phù hộ, bao nhiêu công việc đều do quỷ thần làm thế cho cả!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn chịu nổi dưa muối lạt chay, nâu sồng lam lũ thì đó là do ý chí quyết tâm cầu mong đạo pháp vô thượng chánh giác, nên coi thường cẩm tú cao sang, đỉnh chung mỹ vị, mà chỉ cần xả phú cầu bần, đói no cũng mặc, miễn sao được ở nơi thiền lâm thanh tịnh để tu hành cho tròn nghiệp quả!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tuy vậy mà kiếp tu cũng thật là gian truân khổ não, phải đem mình liều thân với đạo, được quỷ thần yểm trợ, bá tánh kính nể, với lòng dạ sắt son cho đành một kiếp chơn tu, đến đây tưởng đã yên phận hành trì tu học, nào dè đâu chỉ vì cha mẹ là nơi vương giả cho nên không biểu đồng tình, mà gây ra nạn lớn sắp chờ sau lưng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ khi Diệu Thiện công chúa bái từ cha mẹ đến chùa Bạch Hạc tu hành, phụ vương DiểuTang đã lập kế truyền chỉ cho chủ chùa ngăn cản mà không được, nên thường cho người đến thăm dò tình hình. Một hôm kia, quân về phúc tâu rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Công chúa Diệu Thiện đã yên thân thọ giới tại chùa ấy, đêm ngày tu hành tụng niệm, tĩnh tâm, an định với cuộc sinh hoạt của giới tăng ni và đã nghiễm nhiên trở thành một vị sư cô rồi!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua Diệu Trang nghe nói lấy làm bực tức giận dữ, liền sắc cho Tất Lực tướng quân lãnh ba ngàn binh mã chở theo xe cỏ và các vật bắt cháy, phủ vây tự viện, không cho một tăng ni nào thoát thân ra ngoài, rồi phóng hỏa đốt chùa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi nổi lửa lên, khói tỏa mù trời, tiếng la dậy đất, các tăng ni kinh hoàng tìm nơi lẫn tránh, trong ba ngày ròng rã, mọi người đều sầu oán ni cô Diệu Thiện, vì một người mà đem họa đến cho bao nhiêu người, phước đức đâu chưa thấy mà lạy gây nên khổ nạn lớn!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ni cô Diệu Thiện lâm vào cảnh huống áo não này, đau đớn trăm bề, ngửa mặt lên trời mà than khóc, cầu đảo các vị thần linh và khấn nguyện đức Linh
Sơn Đại Thế Chí Bồ tát rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Cúi xin ngài mau mau chuyển oai lực mà cứu vớt chúng con là năm trăm tăng ni tại chùa này, còn thân con dù có chết cháy cũng không dám tiếc!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khấn nguyện xong, liền cầm cây trâm tre đâm vào lưỡi mình, miệng ngậm máu tươi day qua hướng đông phun vào đống lửa. Tức thì giây phút mây đen kéo đến tối sầm bốn phía, rồi mưa xuống như trút, làm cho lửa tắt, cứu được tất cả tăng ni năm trăm người.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tất Lực tướng quân nhận thấy việc kỳ diệu bất ngờ ấy, vội vã sai người về triều phụng mạng. Diệu Trang Vương được tin phúc tấu, lại nổi giận thêm, bèn ra lịnh sai quân giết hết tăng ni trong chùa, nhưng Bá Nha vương hậu ngăn cản lại và dâng lên một kế như vầy:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hãy dựng lên một rạp hát ngoài chùa, sai người kết lụa gài hoa, mở ra lễ hội linh đình, hát xướng ca xung, rồi cho công chúa ra dự, bày ra các cảnh phong lưu khoái lạc, phú quý cao sang như vậy, để làm cho công chúa phải xiêu lòng, nhất là sau khi đã chịu đựng những đau đớn khổ não, cực nhọc trăm bề, thì thế nào công chúa cũng phải nao núng lòng dạ!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trang Vương nghe kế của hậu bày, cho là phải bèn xuống lệnh thi hành ngay.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nào ngờ đâu công chúa chẳng thèm ngó ngàng gì đến, không những tỏ vẻ thờ ơ, mà còn dè bỉu, phỉ nhổ vào bọn phường nhạc nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua cha thấy không còn cách nào chuyển động được lòng con nữa, bèn nổi giận lôi đình sai quân bắt công chúa giải ra pháp trường xử trảm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các quan văn võ - theo phép thường lệ của vương triều - đều bày lễ nghi tế sống, mẫu hậu và hai chị cũng đều tới ôm lấy mình công chúa mà khóc lóc thê thảm, làm cho phụ vương phải động lòng mà truyền hoãn lại lệnh xử trảm, rồi sai giải vô lãnh cung giam cầm, một mặt khiến quan nội thị cùng mọi người trong hoàng gia kiếm cách can gián cho công chúa được hồi tâm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng công chúa coi việc sống chết như không, cứ mọt lòng cvam chịu hành hình mà không nghe lời ai để chịu hoàn tục. Phụ vương hết sức căm giận, cho là không còn bề nào cảm hóa được nữa, nên quyết cắt đứt tình phụ tử, và truyền đem ra hai trượng lụa hồng, sai đem công chúa ra thắt cổ tức thời, để trị tội bất hiếu mà răn kẻ làm con trong thiên hạ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc đó pháp trường đông nghẹt cả quan quân, dân giả, người người xúm lại xem đông như kiến cỏ, làm kinh động đến vị thần hoàng, ngài liền tâu lên Thiên đình xin kíp ban ra thần lực để cứu Diệu Thiện.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngọc Hoàng liền sắc cho các vị thiên thần địa kỳ, ngũ nhạc sơn linh giáng lâm ủng hộ cho Diệu Thiện khỏi bị nạn búa đao động tới chơn thân. Lục đinh thần tướng sẽ phải biến ra con hổ để cõng Diệu Thiện ra khỏi pháp trường.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến giờ hành hình, giám sát đem nàng ra định xử giảm (thắt cổ) thì liền có một trận cuồng phong thổi tới, một con cọp to lớn xô tới, dân chúng đua nhau chạy trốn, quan quân xô nhau tự giải tán. Con cọp hùng dũng tiến tới như bay, chụp lấy mình Diệu Thiện, cõng trên lưng chạy đi như gió thổi, trong nháy mắt đã không thấy đâu nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Viên quan giám trảm đem chuyện lạ ấy hồi tấu, vua Diệu trang cho là đứa con ấy có tội bất hiếu nên phải chịu vạ trời, khiến cho con hổ ăn thịt mất xác; từ đây không cần đoái hoài đến nó nữa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nào ngờ đâu Diệu Thiện được thàn minh bảo hộ, và hoàng thiên chẳng phụ người con hiền đức thiện tâm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(10): <I>Theo De Groot thì gọi là chùa Bạch Tước (thay vì chùa Bạch hạc) tại quận Long Thọ (Loung-Choi) tỉnh Nhữ Châu (Ju Tcheou).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(11) Năm trược (ngũ trược):
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>- <U>Kiếp trược</U>: Vào thời kiếp giảm, con người tuổi thọ giảm dần, cho đến khi tuổi thọ còn mười tuổi thì hết kiếp giảm. Trong thời kỳ ấy, con người có dủ bốn thứ ô trược: kiến trược, phiền não trược, chúng sanh trược, mạng trược.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <U>Kiến trược</U> (Ý kiến, sự thấy biết ô trược): Con người có kiến thức tà vạy, chấp quấy bỏ phải, theo tà bỏ chánh, điên đảo thiên lệch.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <U>Phiền não trược</U> (các mối mê dục ô trược): Con người trong tâm chứa đầy những sự tham lam, giận hờn, mê muội, ngu si.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <U>Chúng sanh trược</U>: Con người ta và vạn vật sanh ra ở cõi ô trược này, hằng bị khổ não, tai nạn, không mấy lúc sung sướng thanh nhàn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <U>Mạng trược</U> (đời sống ô trược): Bởi đời sống con người giảm lần, cho nên trong đời con người phạm rất nhiều tội lỗi, họ lo tìm hưởng các điều thỏa thích về vật chất, chớ không lo tu hành. (Phật Học Từ Điển, Đoàn Trung Còn, tập II, trang 424).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(12) Sáu căn thanh tịnh: <I>Căn là có căn cội, có sức sanh nảy: Như mắt là căn cội của sức sanh nảy sự thấy, cho nên kêu là nhãn căn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sáu căn: nhãn căn (mắt), nhĩ căn (tai), tỷ căn (mũi), thiệt căn (lưỡi), thân căn (thân, xúc chạm), ý căn (ý, nghĩ suy). Sáu căn thanh tịnh là các giác quan được kềm chế không cho nhiễm các điều uế trược, xấu xa.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(13) Mã Chánh: <I>Theo De Groot thì trụ trì chùa này là một sư bà, không biết danh tánh là gì.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(14) Đại Đế Thiên Thần: <I>Đó là vị trời, đức Đế Thích, vua chư tiên ở miền Đao Lỵ, miền này có 33 cảnh. Miền của đức Đế Thích ở thượng tầng cõi trung giới, cao hơn miền của Tứ Thiên Vương và thấp hơn miền Dạ Ma. Ngài ngự trong cảnh đền đài bằng ngọc, kêu là Hỷ Kiến Thành.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vừa là một vị Thiên đế theo đạo Bà la môn và theo đạo Phật, đức Đế Thích có nguyện với Phật rằng ngài hằng hộ trợ Tam Bảo (Trích trong Phật Học Từ Diển - Đoàn Trung Còn).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(15) Kim Tinh, Lục Định Thần tướng, Ngũ Nhạc sơn linh, Bát Bộ long vương:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>- <U>Kim tinh</U>: một vị hành tinh ở giữa khoảng Thủy Tinh và Địa cầu. Theo thần học của Trung Hoa, Kim tinh lại là một vị sao mà mỗi vị sao đều có một vị thần làm chủ, nên đây là muốn chỉ vị thần, chủ của sao Kim, thường gọi là Thái Bạch Kim tinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <U>Lục đinh thần tướng</U> (Lục đinh, lục giáp): Tên những vị thần trong khoa bói toán (phép bói 94 quẻ) lục nhâm đại độn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <U>Ngũ Nhạc sơn linh</U>: Các vị thần ở trên năm hòn núi cao tiêu biểu cho năm phương ở Trung Quốc: Đó là:
<p style="padding-left: 30px;">- Hoành Sơn Nam Nhạc.
- Hoa Sơn Tây Nhạc.
- Trung Sơn Trung Nhạc.
- Thái Sơn Đông Nhạc
- Hoằng Sơn Bắc Nhạc.
(Tầm Nguyên Từ Điển - Bửu Kế và Thành ngữ điển tích - Trịnh Văn Thanh).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <U>Bát bộ Long vương</U>: Bát bộ: Tám bộ chúng:
<p style="padding-left: 30px;">- Thiên chúng: các vị trời.
- Long chúng: các vị đại long vương.
- Dạ xoa: bọn quỷ thần bay đi trong không.
- Càn thát bà: bọn thần âm nhạc.
- A tu la: bọn thần thường chiến đấu chống Đế Thích.
- Ca lâu la: giống chim cánh vàng.
- Khẩn na la: giống thần ca hát của Đế Thích.
- Ma hầu la già: thần rắn lớn (mãng xà)
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Long vương: vua loài rồng, thường ở cung điện dưới nước, dưới đáy biển, có khi ở trên nước, có phép thần thông, trữ nhiều báu vật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hồi đức Thích Ca giảng kinh Diệu Pháp Liên Hoa, có tám vị Long vương dắt theo nhiều quyến thuộc đến hầu hạ Phật, đặng nghe Phật thuyết kinh Pháp Hoa, ấy là: Nan đà, Bạt Nan đà, Ta già la, Hòa tu kiết, Đức ca xoa, A na bà đạt đa, Ma na tư, Ưu bát la (Trích Phật Học Từ Điển - Đoàn Trung Còn).</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">8. <B>Hồn Diệu Thiện đi thăm các địa ngục</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi con cọp dữ cõng ni cô Diệu Thiện ra khỏi pháp trường, rồi ni cô bị mê man bất tỉnh trong một thời gian, lúc đó ni cô Diệu Thiện mơ mơ màng màng như trong giấc mộng, hồn phách lạc vào đám mây mù mù mịt mịt. Chốc lát đến một chỗ nọ, ngước đầu nhìn thấy toàn cảnh hư không phiêu diễn, không phân biệt nam bắc đông tây là đau. Ni cô tự hỏi chẳng hay do duyên cớ gì mà thân ta lại đến chốn này!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đương trong giấc mơ kinh dị, thì chợt thấy trong đám hư không hiện lên một cung điện nguy nga, tàn lọng cờ phướn phất phới, rõ ràng là động phủ của thần tiên, nhưng chẳng biết đây là chốn nào?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Xảy có một người võ sĩ hiện ra, vận áo nẹp xanh, từ trong cửa bước ra, cung kính thi lễ mà bẩm rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Chúng tôi vâng mạng Diêm Vương tới đây tiếp rước long giá công chúa đồng quan thế giới Phong Đô (địa ngục) để quan sát chốn u minh, xem xét các hình phạt hành tội các chúng sinh khi sống trên dương gian, làm những việc gian ác, bất lương bất chính, hiểm độc, ngu si, tham lam dối trá, để biết tại chốn u minh cũng có cán cân họa phúc, rồi sau đó mới chứng quả kim thân.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kế đó, nhiều đạo hào quang nâng lấy chân công chúa, vô số tia sáng màu sắc đẹp lạ, các mùi hương thơm kỳ diệu thoáng qua trên đường đi, chẳng mấy chốc đưa tới Phong Đô, qua hết chốn ấy xảy gặp quang cảnh gió thảm mưa sầu; đây là nơi chốn âm ty cách biệt với trên dương thế.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi lại thấy mười vị Minh vương chắp tay chào xá, theo hầu xung quanh có bọn quỷ sứ đầu trâu mặt ngựa qua lại lăng xăng. Rồi chúng nó vâng mạng Diêm chúa kính cẩn dẫn đường cho công chúa đi xem xét chiêm quan các nơi địa ngục, mỗi nơi đều có một vị Minh vương nói rõ tình trạng của nơi ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công chúa rảo bước dạo xem nơi mười địa ngục như: địa ngục kiếm đao, địa ngục giường sắt đỏ, địa ngục gông cùm cưa xẻ, địa ngục móc câu sắt, địa ngục xay giã thân thể, địa ngục hầm lửa, địa ngục giá lạnh, địa ngục nước đồng sôi, địa ngục thú dữ nhai xương thịt, địa ngục tối tăm. Mỗi mỗi địa ngục có vô số tội nhân chịu các hình phạt dao chém kiếm đâm, nằm trên giường sắt nóng đỏ cháy da phỏng thịt, bị mang gôm cùm xiềng xích đem đi cưa xẻ thân thể tay chân, bị xô vào hầm lửa cho cháy thân mình, bị móc câu sắt kéo lưỡi, xé miệng, bị cối xay giã nghiền nát thân thể ruột gan, bị giá lạnh ngâm bao quanh mình, bị bắt uống nước đồng sôi, bị thú dữ cọp beo nhai xương xé thịt, bị gió đen tối tăm thổi mờ mịt, nóng nảy thân thể như nung trong lò than, làm cho mù mắt, rách mũi, xé tai v.v...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bao nhiêu những tội nhân ấy vì lúc ở dương thế ăn ở bất hiếu mắng cha chửi mẹ, độc ác gian tham, bất nhân bất nghĩa, lường cân tráo đấu, đong đầy gạt vơi, mưu sấu kế độc, xui nguyên dục bị, chia rẻ vợ chồng con cái người ta, hãm hại kẻ hiền lương, tu hành giả dối, tranh của đoạt tiền người khác, làm giặc cướp giết người, trộm cắp dâm ô, v.v...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chịu những hình phạt đó rồi phải đầu thai lại trên dương gian làm kẻ bần cùng đói rách, ghẻ lở tanh hôi, làm súc sinh, thú vật, chim muông, côn trùng, dòi bọ đục trong đống phân, hết kiếp thú vật lại sinh làm người đui mù câm ngọng, xấu xa mặt mũi, sứt môi méo miệng, chịu bao nỗi khổ nhọc gian lao, dầm mưa dãi nắng, lầm than khốn khổ v.v...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Diêm Vương cho dẫn hồn ni cô Diệu Thiện đi dạo xem khắp các địa ngục là tuân theo mệnh lệnh của Phật Tổ Như Lai, để cho ni cô lịch duyệt con đường tội phúc ở âm ty, hầu khi trở về dương thế cố gắng dạy dỗ chúng sanh bỏ dữ làm lành, mở đường sám hối cho chúng sanh mà cứu độ họ, quyết thực hiện hạnh nguyện từ bi phổ độ quần sanh, mà tu hành cho trọn kiếp này để được viên thành đạo quả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ni cô mỗi lúc đến địa ngục nào cũng không quên tụng niệm kinh chú, tỏ lòng bi ai lân mẫn chúng sanh tội đồ, cầu cho họ được giải nghiệp; và đang khi tụng niệm chơn kinh thần chú thì hoa trời mưa rải xuống, mười vị Minh vương chắp tay hoan hỉ lễ bái đón chào, các tội đồ được giải thoát khỏi ngục hình mà đầu thai vào kiếp khác vui sướng hơn, hoặc người nào nhẹ nghiệp ít tội thì được sanh lên trời, hoặc vãng sanh lên cõi Tịnh Độ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khắp miền thế giới Phong Đô tỏ ra náo nhiệt, vui mừng, hân hoan, hỷ lạc một cách khác thường.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">9. <B>Hồn Diệu Thiện trở về dương thế</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi ni cô Diệu Thiện đã dạo xem khắp nơi trong địa ngục, Diêm Vương liền sai quân đưa hồn ni cô trở lại dương thế để tiếp tục tu hành chờ ngày đắc thành chánh quả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tên võ sĩ vận áo nẹp xanh lại vâng mạng Diêm chúa dẫn hồn ni cô Diệu Thiện do đường cũ trở về nơi chốn lâm sơn thanh tịnh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc bấy giờ ni cô Diệu Thiện tỉnh lại như sau cơn mê ngủ, tâm trí bàng hoàng, mở mắt ra thấy cảnh vật xung quanh chẳng biết đây là chỗ nào?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thì ra sau khi bất tỉnh vì hoảng sợ cọp bắt cõng lên lưng, ni cô đã thiêm thiếp như ngủ mê và hồn đã đi vào trong giấc mộng lãng du nơi chốn u minh, trong khi đó thì con cọp mạnh khỏe dai sức đã chạy một mạch đưa cô qua bao nhiêu quãng đường rừng rậm non cao để đến một gốc cây cổ thụ đặt cô xuống cho cô nằm nghỉ ngơi hoàn hồn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ni cô Diệu Thiện khi thức dậy tỉnh táo hoàn toàn rồi, mà vẫn nhớ rõ những gì đã thấy, đã nghe, đã biết trong giấc chiêm bao kỳ diệu. Nhưng hiện giờ thì ni cô chỉ có một mình bơ vơ nơi chốn quạnh hiu, vắng vẻ hoang vu..., nhìn ra bốn phía nước non xa lạ, chẳng biết tìm chốn nào để nương thân!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đương lúc còn ngơ ngẩn bàng hoàng, chưa biết lui tới ra sao, thì gặp một chàng thanh niên khôi ngô tuấn tú, dáng điệu cao sang lại thêm phong cách lịch sự nhã nhặn, từ đằng xa đi tới tận nơi ni cô đang nghỉ ngơi, rồi ngỏ lời thăm hỏi:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Cô nương ở đâu đến đây mà một mình thơ thẩn nơi chốn núi rừng vắng vẻ này? Chuyện gặp gỡ này với cô chắc cũng là một mối duyên nợ ba sinh gì cho tôi đây? Vậy ý cô ngương nghĩ sao? Nếu cô không cho là tôi quá sổ sàng thì tôi nguyện cùng cô nương xe tơ kết tóc, đặng trăm năm hưởng phước ái ân đoàn viên!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thấy gã thanh niên buông lời trăng gió, ni cô nghiêm nét mặt mà trả lời rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">-Ta vì mến đạo của Phật Tổ Như Lai mà trái mạng từ hôn do cha ta là Diệu Trang Vương định liệu, nên ta mới bị phụ vương trách phạt, phải lưu lạc tới chốn này. Nhưng tấm lòng cầu đạo tu hành của ta vẫn bền như sắt đá, dầu có khéo miệng biện bác khôn ngoan đến đâu cũng không chuyển nổi lòng ta. Nhà ngươi là hạng người nào? Đừng có nói bậy bạ mà mang tội với Phật!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nghe lời nghiêm nghị đoan chính đó, người thanh niên biến ra hình dung oai nghi chững chạc mà nói rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Thật ra, ta chẳng phải là khách gió trăng, chẳng qua là ta muốn thử lòng ngươi đó thôi! Ta chính là Phật Tổ Như Lai vậy! Ta thấy lòng ngươi một mực chí thành chân tu, đoan nghiêm chính trực, quả thật chẳng nhiễm mùi trần, nên nay ta đến đây để chỉ đường cho ngươi đến nơi thích hợp với ý nguyện tu hành của ngươi! Người phải đến nơi Hương Sơn thánh cảnh<SUP><B>(16)</B></SUP>, mới có thể nương mình yên chí hành trì đạo pháp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Diệu Thiện nghe trả lời như vậy, bèn giật mình vội cúi đầu bái lạy:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nam Mô A Di Đà Phật! Con người trần mắt thịt không biết ngài là Phật Tổ chân thân. Vậy con mang tội nhiều lắm! Cúi xin ngài từ bi đại xá! Nhưng con chẳng rõ Hương Sơn thánh cảnh ở tại nơi đâu, xin Thế Tôn lân mẫn chỉ dạy cho con được biết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức Phật bèn phán rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Hương Sơn là đất Lãnh Nam (Việt Nam) cách đây ba ngàn dặm<SUP><B>(17)</B></SUP> đường xa, ấy là nơi có động Phổ Đà (động Hương Tích), có núi Ngũ Nhạc, có động Tuyết Quỳnh, có núi Tiên Sơn<SUP><B>(18)</B></SUP>, cảnh trí đẹp hơn Bồng Lai tiên cảnh, ta biết ngươi không có tư lương để đến đấy, nên ta ban cho một quả kim đào<SUP><B>(19)</B></SUP> đem theo làm của hộ thân, hễ ăn nó thì không đói khát, cũng không bị nắng sương xâm nhiễm, để cho người có thể học đạo lâu dài. Miễn ngươi cố gắng tu hành cho thành chánh quả, ta sẽ chứng minh kim thân bất hoại cho ngươi!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Diệu Thiện cúi đầu lạy ta, lãnh trái kim đào rồi cảm thấy lòng mình hoan hỷ tiêu dao, rảo bước thong dong nhắm hương Hương Sơn đi tới. Nhưng tấm thân liễu yếu đào tơ, đường dài ngàn dặm, phải lội suối qua đèo thật khó bề đến nơi được!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bỗng đâu có một vị chúa sơn lâm nhảy ra đón lại ngang đường, nói tiếng người mà bạch rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Vì ni cô có lòng chí thanh nên cảm động đến sơn thần thổ địa, vậy xin ni cô chớ kinh hoàng làm chi, tôi đây chẳng phải là mãnh hổ độc ác đâu, mà thật là vâng mạnh Phật trời đến đây tiếp giá kim thân công chúa vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói xong, liền ghé lưng cho ni cô cỡi, rồi chạy thẳng một mạch như bay, ni cố nghe bên tai vo vo gió thổi cây rung, chẳng biết bao lâu, ngườc đầu ra đã nhìn thấy Hương Sơn thánh cảnh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi sơn thần dặt công chúa xuống, thì nhìn kỹ lại xung quanh, thật là quang cảnh non sông cẩm tú, đèo cao ngất như đến tận trời xanh, hang động sâu thẩm như thông xuống địa phủ, khe suối cây xanh tươi tốt, nước chảy lao xao, róc rách, núi non trùng điệp thâm u, tĩnh mịch, thật xứng đáng với cái tên "Nam Thiên Đệ Nhất Động<SUP><B>(20)</B></SUP>", để dấu linh thiêng Phật tích đến muôn đời.
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(10) <B>Diệu Thiện tu hành đắc chánh quả tại Hương Sơn</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Diệu Thiện đến tại Hương Sơn nơi vùng đất Lãnh Nam (Việt Nam) tìm đến núi Hương Tích<SUP><B>(21)</B></SUP> chỗ yên tĩnh, tịch mịch, thâm u, non cao rừng rậm, xa lánh cõi phàm trần, sớm chiều tu tập, kinh kệ công phu, thanh tâm tĩnh lự, nhiếp phục thân căn, lục căn xa lánh lục trần<SUP><B>(22)</B></SUP>, trải qua một thời gian chín năm, được phép huyền cơ, đã thâm nhập thiền quang đại đạo, lại tu luyện pháp môn nhĩ căn viên thông<SUP><B>(23)</B></SUP> thần thông quảng đại vô biên, phổ độ giải cứu bao nhiêu khổ nạn tai ương cho thế gian, thi hành lục độ vạn hạnh, tứ vô lượng tâm<SUP><B>(24)</B></SUP> vô số chúng sanh thảy đều cảm đội ơn đức.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các thánh thần cảm ứng, phúc tấu lên Thiên đình, chư Phật, Bồ tát và Ngọc hoàng Thượng đế đồng chứng giám cho đạo quả của ngài nhằm ngày mời chín tháng sáu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi kế đó, trong khu vực Hương Sơn các thần linh thổ địa, ngoài tứ hải thì các Long vương, Ngũ nhạc linh thần cho đến cõi u minh Địa Tạng Vương Bồ tát, trên thiên đình các vị thiên tiên, thánh thần, cho tới các cõi u đồ, ác sát, ma vương, quỉ thần, rồi đến nơi các tự viện thâm sơn Hộ pháp, Già lam, Bát bộ Kim cang, Ngũ phương Yết đế<SUP><B>(25)</B></SUP>, đồng một lượt tới nơi ngài đắc đạo, thành tựu từ bi đại pháp thân, mời ngài lên ngự tòa sen, sắc chỉ biệt hiệu Quan Âm Bồ tát, Thiên nhơn giáo chủ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cả tam thiên đại thiên thế giới đều sùng bái cúng dường, chư thiên các cõi trời tấu nhạc, và tự nhiên mưa hoa lả tả rơi xuống như tán thán công đức quảng đại từ bi, tầm thanh cứu khổ của ngài. Trên trời mây ngũ sắc nhóm họp và trong hư không các mùi thơm lạ bay tỏa khắp vùng thánh cảnh<SUP><B>(25a)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vậy kể từ ngày ngài quy y là mười chín tuổi, qua đến năm hai mươi tuổi thọ giới tại chùa Bạch Hạc, nơi huyện Long Thọ, rồi tới đất Lãnh Nam này, trụ trì tại Hương Sơn, nhằm lúc ngài hai mươi mốt tuổi, rồi thêm chín năm tu luyện hành đạo công phu, đến năm ba mươi tuổi, ngài đắc thành chánh quả, lưu lại nơi đây một Hương Tích danh tiếng tại cõi Nam phương.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về sau, mọi người đều ghi nhớ ngày mười chín tháng hai và ngày mười chín tháng sáu là những ngày vía của Phật Bà Quan Âm tại Hương Sơn, đó là ngày giáng đản và ngày thành đạo của đức Quán Thế Âm Bồ tát vậy. (Về sau, người ta còn thêm vào ngày mười chín tháng chín nữa?).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(16) Hương Sơn thánh cảnh: <I>Vùng núi Hương Sơn gồm có nhiều núi và hang động thanh u, tịch mịch rất hợp với người tu ẩn dật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vùng Hương Sơn này nay là xã Hương Sơn, huyện Mỹ Đức, một huyện ở Tây Nam tỉnh Hà Tây. Xã Hương Sơn nay có năm thôn là Dục Khê, Yến Vĩ, Hộ Xá, Phú Yên và Tiên Mai. Phần lớn các thôn ấy trước kia thuộc tổng Phù Lưu Thượng huyện Mỹ Đức. Huyện Mỹ Đức trước kia là phủ Mỹ Đức, trước nữa là huyện Hoài An thuộc phủ Ứng Thiên (miền Bắc Việt Nam).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phan Huy Chú viết trong Lịch Triều Hiến Chương Loại Chí "Phủ Ứng Thiên ở phía Tây trấn Sơn Nam, huyện Thanh Oai ở gần ngay giữa phủ, từ huyện Chơn Đức trở xuống, địa giới giáp liền ven núi. Huyện Sơn Minh, huyện Hoài An, một dãy rừng núi trùng điệp, giáp giới với miền thượng du trấn Thanh Hóa. Huyện Hoài An có nhiều ruộng sâu cấy chiêm, dân chất phác..."
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Huyện Hoài An xưa, huyện Mỹ Đức nay, như vậy là có cả sông và núi. Phía trước sông dài, phía sau núi dài. Sông đây là sông Đáy, một phân lưu của sông Hồng, chảy từ bắc ra nam Hà Tây, rồi qua Nam hà, Ninh Bình ra biển. Ở quãng ngoặt từ sông Hồng vào, sông Đáy mang tên là sông "Hát". Gần cửa sông Hát, xã Hát Môn, huyện Phúc Thọ, hiện nay còn một di tích lịch sử rất đáng quý là đền thờ Hai bà Trưng (trong "Thung Mơ Hương Tích" của Trần Lê Văn, trang 22-23).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(17) Ba ngàn dặm: <I>một dặm = một lý. Theo Timothy Richard, một vị linh mục Hoa Kỳ dòng Báp tít (Baptiste) đã đến tỉnh Chan-si (Trung Hoa) từ năm 1878 thì một lý = 600m (ghi chú dưới trang 127, cuốn La Chine Eutre en Scène - "Trung Hoa Nhập Cuộc" của Roger Pélissier - Imprimeri Hérissey à Evreux-René Juillard - Éditeur à Paris, 1964). Vậy ba ngàn dặm là: 3000 x 600m = 1.800.000m = 1.800km.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vậy khoảng cách này - so trong bản đồ có thể tương đương với đường đất từ vùng Nam Miến Điện đến miền Bắc Việt Nam.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(18) Động Phổ Đà (động Hương Tích), núi Ngũ Nhạc, động Tuyết Quỳnh, núi Tiên Sơn: <I>Một vài thắng tích tại vùng Hương Sơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Theo De Groot, <B>động Phổ Đà</B> là núi Phổ Đà giữa Nam Hải thuộc cù lao Hương đảo (Phổ Đà Sơn). Ở tại vùng Hương Sơn, động Phổ Đà chính là động Hương Tích.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong cuốn "Thung Mơ Hương Tích" có nói (trang 74): "Hương Tích là trọng điểm của cảnh Hương Sơn. Động chùa Hương tiêu biểu cho cả một vùng thắng cảnh. Chả có thế mà chùa Hương gần như trở thành đồng nghĩa với toàn bộ cảnh đẹp Hương Sơn". Rồi nơi trang 81, có nói đến tượng Phật Bà Quan Âm: "Giá trị nhất về nghệ thuật điêu khắc, không những trong động Hương Tích, mà kể cả trong toàn bộ hệ thống chùa chiền ở Hương Sơn là pho tượng Phật Bà Quan Âm bằng đá xanh tạc vào thời Tây Sơn".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <B>Núi Ngũ Nhạc</B>: là núi có năm ngọn. Trong "Thung Mơ Hương Tích" (trang 37) có đoạn: "Lại bắt đầu từ ngoài vào, nhìn sáng bên phải, kia núi Ngũ Nhạc (núi năm ngọn), dưới núi có đền Trình".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Rồi trong cuốn "Chùa Hương Tích" của Dương Tư Giáp (trang 13), nơi đoạn nói về đền Trình, có viết như sau: "Đền Trình dựng ngay ở chân núi Ngũ Nhạc - núi ấy có năm ngọn, cho nên cũng có người gọi là đền Ngũ Nhạc".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <B>Động Tuyết Quỳnh</B>: Trong "Thung Mơ Hương Tích" (trang 71) có nhắc đến: "Gần chùa Giải Oan còn có động Tuyết Quỳnh (quen gọi là Tuyết Kinh)".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong cuốn "Chùa Hương Tích" (trang 47) có bài thơ của Chu Mạnh Trinh, trong đó có bốn câu:
<p style="padding-left: 30px;">Này suối Giải Oan, này chùa Cửa Võng
Này hang Phật Tích, này động Tuyết Quỳnh
Nhác trong lên ai khéo vẽ hình
Đá ngũ sắc long lanh như gấm dệt...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <B>Núi Tiên Sơn</B>: Trong cuốn "Chùa Hương Tích" (trang 37) có đoạn như sau: "Ở chùa Thiền Trù ra, đi rẽ về phía tay trái, thấy con đường đá nhỏ ngược theo sườn núi, ấy là lối đi vào chùa Hương Tích mà khách thập phương thường quen gọi là "Chùa Trong".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cứ đường ấy đi mãi lên, sẽ qua nhiều chùa nữa rồi mới vào đến chùa Trong, nhưng trước hết thế nào cũng phải đi qua chùa Tiên Sơn. Vậy tôi mời khách ghé vào chùa Tiên Sơn".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chùa Tiên Sơn dựng ngay trên đỉnh một ngọn núi, hình tròn, bề mặt rộng có tới ba hay bốn trăm thước vuông, bề cao ước phỏng cũng gần một trăm thước. Đứng tại chùa nhìn ra chung quanh chỉ thấy những núi xanh bao bọc, nhất là đứng ngay trên lầu một ngôi nhà hai tầng làm sát cạnh chùa mà nhìn xuống thì thật không khác gì như mình đã hiện thân vào một nơi tiên cảnh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong "Thung Mơ Hương Tích" (trang 66) có đoạn như sau: Tài liệu cũ "Lịch sử động báu non tiên" (Tiên Sơn bảo động lịch sử) ghi rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">"... Sau một trận mưa to, bão lớn, một người tiều phu trông thấy từ trên núi trút xuống một tảng đá, khi lên xem thì thấy chỗ vách núi tách ra một khoảng như người mới đục một cái cửa. Lần dến cửa, ngó vào xem thì thấy ở trong vách đá hiện ra những hình ảnh như hình người! Tiều phu có ý kinh sợ không dám một mình len lõi vào hang, liền trở về báo, rồi cùng với bọn thổ hào ở đấy quay lại xem thì thấy từ tít trong hang, trên một vách đá phẳng, đã đề một bài thơ Nôm tám câu luật Đường"
<p style="padding-left: 30px;">Chợt khỏi Thiên Trù thoạt rẽ lên
Che che cửa động một đường len
Chở mây quanh quất lồng hương Phật
Gõ đá vang lừng trổi nhạc tiên.
Bảo cái đùn đùn trên bảo tọa
Kim quan chăm chăm trước kim liên
Thanh sa dấu cũ còn di để
Quyến được xe loan biết mấy phen.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về việc tìm thấy cửa động này, lời truyền miệng và văn bia, đại khái cũng có nói như trên, chỉ khác một vài chi tiết. Lại ở trang 68, có đoạn như sau: "Văn bia núi Tiên cho biết: Năm Giáp Thìn (1904) mở rộng hai cửa động, được ba phiến đá sáng như gương. Năm Đinh Mùi (1907) lấy những phiến đá ấy tạc tượng".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hiện nay còn năm pho tượng bằng thứ đá trắng nói trong chùa. Đá trắng như ngọc thạch. Ánh đèn nến soi qua,tựa như qua một lớp kính mờ. Năm pho tượng là năm người trong gia đình Phật Bà Quan Âm (tục gọi bà chúa Ba) trong truyền thuyết. Ở giữa là Phật Bà, phía sau là Diệu Trang Vương và Hoàng hậu, tức là ông bố và bà mẹ, phía trước là Diệu Thanh (cỡi sư tử xanh) và Diệu Âm (cỡi voi trắng), tức là chị Cả và chị Hai. Bà chúa Ba sau bao nhiêu thử thách gian khổ, đã thành chánh quả và xum hợp với những người thân của mình.</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(19) Quả kim đào: <I>Chính là quả Bàn đào ở vườn Tây Vương mẫu (De Groot).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(20) Nam Thiên Đệ Nhất Dộng: <I>Mấy chữ này ở trên cửa động Hương Tích. Trong "Thung Mơ Hương Tích" (trang78), có đoạn như sau: ... Mấy chữ Nam Thiên Đệ Nhất Động, vào cửa trông lên phía trên thấy ngay, thì chúng tôi xác nhận là chữ viết tay của Trịnh Sâm, khắc vào đá tháng ba năm Canh Dần (1770). Năm Canh Dần này, Sâm đề vịnh ở vùng Hương Sơn khá nhiều (Dưới trang 78, có ghi chú thêm "Bên canh năm chữ Nam Thiên Đệ Nhất Động, có dòng lạc khoản đề bằng chữ Hán cỡ nhỏ: Đại Nguyên soái tổng quốc chính, sư thượng Tỉnh Vương đặc bút" Tỉnh Vương Là Trịnh Sâm).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(21) Núi Hương Tích: <I>Là núi chính trong vùng Hương sơn. Núi này có động Hương Tích, cũng là chùa Hương Tích (cũng là động Phổ Đà). Trong "Thung Mơ Hương Tích" (trang 54) Thiên Trù là chùa ngoài, Hương Tích là chùa Trong. Khách từ ngoài vào trong, từ trong ra ngoài đều phải qua Thiên Trù. Hương Tích là bề sâu, Thiên Trù là bề rộng, nếu ví von một cách hơi ngộ nghĩnh thì Thiên Trù là cái miệng phễu rót những dòng người vào tận đáy một cái bình là động Hương Tích.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(22) Lục căn lục trần: <I>Lục căn là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý; lục trần là sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Ý nói tu hành là nhiếp phục các căn đừng cho nhiễm những thứ xấu xa, ô trược.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(23) Nhĩ căn viên thông: <I>Là phương pháp tu của Bồ tát Quán Thế Âm. Đây là tóm tắt phương pháp này:
<p style="padding-left: 30px;">a. Các tiếng động ở ngoài vào căn tai.
b. Vào rồi mất (sinh rồi diệt như vạn sự ở đời). Ví dụ như cái bóng trong gương.
c. Tâm mình vẫn không động, không để ý thức phân biệt, chạy theo tiếng động.
d. Tiếng động vào lỗ tai rồi mất (theo lẽ sinh diệt).
e. Không phân biệt động tĩnh, thì không còn năng sở.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Suốt bộ kinh Lăng Nghiêm, Phật lấy bao ví dụ để giảng nguyên tắc trên:
<p style="padding-left: 30px;">- Gõ chuông.
- Gương soi bóng.
- Nhắm mắt thấy tối và người mù.
- Khách trần.
- Hoa đốm hư không.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lối tu này thích hợp hơn các lối tu khác, đối với chúng sanh ở cõi Tà bà này. (Trích trong cuốn kinh Lăng Nghiêm của Trí Độ và Tuệ Quang - trang 321-322, Viện Phật Học Huyền Cơ, in năm 1964).</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(24) Lục độ, vạn hạnh, Tứ vô lượng tâm:
<p style="padding-left: 30px;"><I>- <B>Lục độ</B>: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ.
- <B>Vạn Hạnh</B>: Vô số các hạnh mà người tu phải thực hành.
- <B>Tứ vô lượng tâm</B>: Là từ, bi, hỷ, xả</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(25) Hộ pháp già lam, Bát bộ Kim cang, Ngũ phương Yết đế:
<p style="padding-left: 30px;"><I>- Hộ pháp già lam: Là những vị thiên thần, long đã có thệ nguyện trước mặt chư Phật mà hộ trợ Tam Bảo, che chở cho những người tu trì có công hạnh, có trí huệ. Già lam là tên chung các chùa chiền.
- Bát bộ: (Xem chú thích số (15) ở trên, Bát bộ Long vương).
- Kim Cang: Kim cang thần, gọi là Chấp Kim cang thần, là vị thần kỳ tay cầm dùi Kim cang, hộ vệ Phật pháp, lực sĩ hầu ở hai bên sơn môn (nhà chùa).
- Ngũ phương yết đế: các vị thần cai quản năm phương là Đông, Tây, Nam, Bắc, Trung ương (xem thêm chú thích số (15): Ngũ nhạc sơn linh).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(25a): <I>Chư thiên cõi trời tấu nhạc, mưa hoa rơi xuống, mây ngũ sắc nhóm họp, mùi thơm lạ bay tỏa. Các hiện tượng này thường xảy ra khi có những sự kiện huyền bí thiêng liêng như có một vị thánh giáng sinh, một vị tu hành chứng quả A la hán, Bồ tát, một vị Phật ra đời hoặc thuyết pháp v.v... Các ví dụ trong điển tích:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Như trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Hóa Thành Dụ (thứ 7), chỗ đức Đại Thông Trí Thắng Phật ngồi tòa sư tử đặng đạo vô thượng chánh đẳng chánh giác, có đoạn như sau: "Khi Phật vừa ngồi trên tòa đó, các trời Phạm thiên vương rưới những hoa trời khắp bốn mươi do tuần, gió thơm lâu lâu thổi đến, thổi hoa đẹp héo rồi rưới hoa tươi mới mãi như thế không ngớt mãn mười kiếp để cúng dường đức Phật, nhẫn đến khi Phật diệt độ thường rưới hoa này. Các trời Tứ thiên vương vì cúng dường Phật nên thường đánh trống trời. Ngoài ra các vị trời khác trổi kỹ nhạc trời mãn mười tiểu kiếp đến khi Phật diệt độ cũng lại như thế".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Trong cuốn "Nhị Khóa Hiệp Giải" (trang 82), có đoạn nói khi Bồ tát Quán Thế Âm nói chú "Như Ý Bảo Luân Vương Đà La Ni" xong, giữa thinh không mưa tuôn xuống những hoa báu, và các vật quý xinh đẹp, các thiên thần tấu trổi âm nhạc, dâng đủ món cúng dường".
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong truyện Quan Âm Thị Kính (xem ở đoạn sau - Chương VI), đến chỗ làm chay cho Quan Ân Thị Kính, có Phật giáng xuống, có hai câu thơ:
<p style="padding-left: 30px;">Giữa trời một đóa tường vân
Đức Thế Tôn hiện toàn thân xuống đàn.
<BR>Tường vân là đám mây có nhiều màu sắc đẹp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại trước đó, khi Thị Kính đến chùa Vân Tự để xin đi tu, thấy sư cụ ngồi tụng kinh, có hai câu thơ:
<p style="padding-left: 30px;">Trông lên sư cụ vừa ngồi tụng kinh
Mưa hoa rải khắp bên mình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cuối trang (trang 40) có ghi chú nhắc lại sự tích "Sư cụ Trí Nghiễm đời Đường ngồi tụng kinh, trời mưa hoa rắc xuống bên mình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong cuốn "Sáu cửa vào động Thiếu Thất" (trang 167), bài Bích Nham Lục của Viên Ngộ có nhắc đến tích vua Lương Võ Đế: "Võ Đế từng đắp cà sa, tự giảng kinh Phóng Quang Bát Nhã, cảm đến hoa trời ngổn ngang rơi xuống đất hóa vàng, biện đạo nêu Phật, dạy bảo thiên hạ, cất chùa độ tăng, dựa theo giáo nghĩa mà tu hành, người người tôn là vị thiên tử có tâm Phật".</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Registered
Tham gia
18 Thg 1 2013
Bài viết
1,072
Điểm tương tác
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(11) <B>Quan Âm Bồ tát hàng phục các yêu thần, quỷ quái</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi thành đạo, Quan Âm Bồ tát thường hóa phép thần thông quảng đại, vô cùng oai lực, thâu phục yêu thần, quỷ quái đặng cứu thế độ sanh cho các loài chúng sanh ở khắp nơi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong các lần cứu giải tai nạn, khổ ách này, người ta thường ghi nhớ, theo truyền thuyết những trường hợp đặc biệt như sau:
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">a. <B>Thâu phục Hồng Hài Nhi và đặt cho danh hiệu Thiện Tài đồng tử<SUP>(26)</SUP></B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc bấy giờ vào thời vua Thái Tôn nhà Đường, tại Trung Hoa (lối thế kỷ thứ VII), có Tam Tạng pháp sư Huyền Trang lặn lội qua bao nhiêu dặm đường gian lao để đi thỉnh kinh tại Thiên Trúc (Ấn Độ) về Trung Hoa (Đông Độ), qua một vùng núi cao nọ, trong núi có động Hỏa Vân, thì một người con trai tên Hồng Hài Nhi, con của Ngưu Ma Vương và Thiết Phiên công chúa (La sát) ở tại đấy, ỷ tài thần thông dõng mãnh, thường đón đường mọi người qua lại ăn thịt. Gặp lúc ngài Tam Tạng pháp sư và các đồ đệ đi qua đấy, Hồng Hài Nhi chận bắt lại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vị đệ tử của pháp sư Huyền trang là Tôn Hành Giả (Tề Thiên đại thánh) đánh nhau hàng phục không nổi mới đến cầu cứu đức Quán Âm tại động Phổ Đà. Ngài Quan Âm đến nơi động Hỏa Vân thâu phục yêu quái, giải trừ tai nạn cho pháp sư Huyền Trang và bắt Hồng Hài Nhi thu về làm đệ tử, đặt tên là Thiện Tài đồng tử cho hầu cận hai bên tả hữu của ngài
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">b. <B>Thu phục con gái của Long Vương làm Long Nữ</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Một ngày kia, ngài Quan Âm đi vân du ngoài bãi biển, gặp mấy người chài lưới bắt được một con cá to, nặng gần ngàn cân. Con cá nhìn thấy ngài thì ngáp miệng, nghiêng đầu, nháy mắc như cầu cứu. Ngài đem lòng từ bi "ái vật độ nhân", bỏ tiền ra mua lại con cá ấy, rồi đem thả xuống biển. Con cá mừng rỡ quẩy đuôi, gật đầu tỏ ra vẻ cảm tạ ân đức cứu nạn, rồi vẫy vùng làm nổi sóng lớn cuồn cuộn, theo làn nước lặn xuống đáy biển.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi Quan Âm Phật Bà đằng vân về núi, thì thấy một người con gái dung nhan đẹp lạ theo đến nơi ngài, đem theo một hột châu ngọc dạ minh<SUP><B>(26a)</B></SUP> và một chiếc tịnh bình bằng ngọc cẩn vàng, đặng làm lễ ra mắt Phật bà mà bạch rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nam mô đại từ đại bi cứu khổ cứu nạn Quan Âm Bồ tát! Tín nữ là Long cung công chúa, phụ vương con là Nam Hải Long Quân, nhơn lúc đi tuần du trong biển chẳng may bị người ta bắt. May nhờ đức từ bi rộng lớn cứu tử độ sanh của ngài, nên con được thoát nạn, phụ vương con biết ơn ngài, sai con đem dâng chút lễ vật mọn, mong bái tạ hồng ân sâu dày vô lượng của ngài.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức Quan Âm Bồ tát thâu nhận lễ vật rồi sai người đưa Long Nữ ra về, thì Long Nữ chần chờ và cúi đầu lạy đức Quan Âm mà bạch rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tín nữ tình nguyện xả thân cầu đạo xin quy y với Phật, vậy xin Tôn sư đoái mẫn, dùng làm đệ tử, ơn ấy con thật xem như trời cao đất dày!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức Quán Âm Bồ tát bảo rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Việc tu hành khó như mài cây sắt lớn làm kim vậy. Nhà ngươi là công chúa, thân phận quý giá thiên kim, chịu sao nổi mùi thiền khổ hạnh, học đạo cần lao.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Long Nữ bèn bạch lại rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Con cúi xin Bồ tát rõ tấm lòng chân tâm cầu đạo của con, con quyết xin nương thân nơi cửa Bồ đề, dầu cần lao khổ hạnh đến mức nào, con cũng nguyện tu hành cho trọn quả. Cúi xin tôn sư mở đường thâu nạp cho đệ tử được gội nhuần ơn đức muôn thuở.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức Quan Âm Bồ tát xét thấy nguyện chân thành của Long Nữ, bèn dung nạp làm đệ tử, cho phép cùng Thiện Tài đồng kết làm anh em và hầu cận hai bên tả hữu đức Phật Bà, để sớm hôm tu tập chuyên cần hành trì đạo pháp.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">c. <B>Thâu phục chim Đại bàng Bằng Vương mỏ vàng</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại một ngày kia, nhân đức Phật Bà đang ngồi giảng kinh trong động Phổ Đà, xảy đâu có trận gió cuồng phong cuốn bụi mù trời ám đất, rồi nghe tiếng la ó của mọi người già trẻ lớn nhỏ xôn xao. Ngài ngước lên thấy con chim đại bàng mỏ vàng, lông trắng như tuyết, miệng đỏ như ngậm máu, đôi cánh lớn giăng ra rợp một góc trời, bay là đà xuống cánh đồng chụp bắt người mà ăn thịt. Dân gian bị hại vô số.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Do lòng từ bi rộng lớn vô biên của Quan Âm Bồ tát, ngài xót thương cho mọi người, liền hóa phép thần thông, cầm kiếm lên hàng phục yêu bằng, làm cho nó phải quy y theo Phật. Rồi Phật Bà không nỡ làm hại tánh mạng nó, ngài bèn phán rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Mày đã phát tâm quy y Phật thì phải bỏ dữ làm lành, không được giết hại sinh vật nữa. Từ đây ta phong cho mày hiệu là Oanh Ca thánh, theo ta hành cước đi bốn phương, trừ tai giải ách cho chúng sanh trên cõi dương thế, rồi sau này sẽ được trường thọ hưởng phước vĩnh cửu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Con yêu bằng cứu đầu lạy đức Phật Bà từ bi, xin chịu phép quy y Tam Bảo. Quan Âm Bồ tát làm lễ thọ giới cho Bằng vương rồi thả cho đi, bảo bay vào rừng Tử Trúc<SUP><B>(27)</B></SUP> mà nương mình, rồi hằng ngày qua lại Hương Sơn theo hầu đức Quan Âm, tu tâm dưỡng tánh cho được nhiều công đức<SUP><B>(28)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">d. <B>Diệu Trang Vương mắc bệnh nan y</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ khi đắc đạo, Diệu Thiện đã từng cứu độ vô số chúng sanh, duy chỉ có điều phát nguyện lớn từ trước là đền đáp công ơn cha mẹ và độ cho các người trong thân quyến là chưa làm được. Nhưng cơ duyên sắp đến cho Quan Âm Diệu Thiện để thực hiện lời ước nguyện ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thì đến lúc Diệu Trang Vương vì phiền não, một phần do hối hận đã nỡ đoạn tình cốt nhục mà xử tội con mình nặng nề, một phần lo buồn vì không có con trai nối dõi dòng giống, vì thế mà đêm ngày chỉ lo bày ra các cuộc vui chơi dục lạc tửu sắc, say sưa trong cung cấm để giải khuây. Lại còn phát ra tánh tình hung bạo, những kẻ công thần hơi có lỗi lầm nhỏ nhặt gì, liền xuống lệnh tru di cả tộc họ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Những tội ác hoang dâm bạo ngược đó làm cho Diệu Trang Vương chuốc lấy quả báo đọa lạc và mắc phải chứng bệnh ác tật nan y: trong người nổi lên ngứa ngáy khó chịu, gãi tróc da chảy máu lở lói khắp mình thành chứng ghẻ lở phong cùi, càng ngày càng trầm trọng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Viên ngự y chữa đủ các thứ thuốc mà không khỏi, và các cung tần gần gũi cũng đâm ra khó chịu với mùi tanh hôi thối tha không thể tả được. Các quan văn võ trong triều cũng đành bó tay, không có kế gì để trị cho vua lành bệnh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vương hậu Bá Nha liền sai viên thái giám đến triệu hai phò mã, thì họ đang mãi mê vui thú tửu sắc nên không đoái hoài gì đến bệnh tình của đức vua.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Triều đình bèn nghĩ cách yết thị ra ngoài ngọ môn đặng chiêu dụ danh y tứ phương, may ra có kẻ nào chạy chữa cho thánh thể được an khương chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Yết thị truyền ra, mọi người đều biết và tại nơi Hương Sơn thánh cảnh, Phật Bà Quan Âm nghe tin áy thì trong lòng lo lắng không nguôi. Ngài nghĩ rằng đạo làm con trước hết phải đền ơn cha mẹ sanh thành, vậy không lúc nào bằng lúc này phải nghĩ cách cứu chữa cho cha già thoát khỏi nạn lớn bệnh khổ hành hạ xác thân.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nghĩ vậy rồi, ngài bèn sai một đồ đệ, hóa thân làm một vị sãi già đến kinh thành Hưng Lâm mà tìm xem yết thị, rồi làm mọi cách cho người ta chú ý mình để được gần vương hậu, hoặc các quan trong triều, nhận trị bệnh cho đức vua lành khỏi chứng nan y ngặt nghèo ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sãi già đồ đệ của Quan Âm vâng mạng làm theo, đến nơi có treo tấm bảng cáo thị, liền xé tờ giấy yết thị cầu danh y ra bỏ vào túi áo, làm cho bọn lính canh la ó, bắt vào yết kiến các quan trong triều.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lão sãi này đến trước mặt thừa tướng Triệu Chấn, nói sẽ trị lành bệnh cho đức vua. Quan Thừa tướng vào khải tấu với vua rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Muôn tâu bệ hạ! Ngoài ngọ môn có một vị thánh tăng ở xa lại, lấy tờ yết thị chiêu y rồi nhận có thể chữa cho bệ hạ được lành bệnh! Cúi xin bệ hạ giáng chỉ tuyên triệu sãi già ấy vào để thí nghiệm phương dược, may ra có hiệu quả chăng?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trang vương nghe lời Thừa tướng tâu trình thì hết sức vui mừng, tức thời sai tuyên triệu vị sãi già kia vào bên long sàng, ân cần hỏi chuyện:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Y tăng từ phương nào lại, tên họ là gì? Thọ nghiệp với danh sư nào? Hãy nói cho quả nhân được rõ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sãi già quỳ lạy trước long sàng, kính cẩn tâu rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Muôn tâu Bệ hạ! Bần tăng đạo hiệu là Quang Minh Tạng, đã từng là đồ đệ của bổn Dược Sư Viên Thông Tất Đạt, hiện có chừng năm ngàn đồ đệ, sai đi phổ tế thập phương thế giới. Nay xa nghe thánh thể bất an, vậy vâng mạng bổ y sư tới đây phụng thị thang dược.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trang vương nghe nói an tâm, ra vẻ hòa dịu, ban lời phán với sãi già rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Nếu y tăng dụng tâm điều độ cho quả nhân đặng lành mạnh như thường, thì quả nhân sẽ hậu tạ cho nhiều châu báu bạc vàng và phong làm Trấn quốc thiền sư, đặng đồng thống chưởng non sống trăm năm ngàn thuở.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sãi già nghe lời vua phán thì tâu lại rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Lời ngọc dụ của bệ hạ hôm nay trái hẳn với lời trên bảng chiêu y; trên bảng bần tăng đọc thấy: "Hễ kẻ nào trị lành bệnh cho trẫm, thì trẫm sẽ truyền ngôi vua cho" kia mà! Nay bệ hạ lại nói chỉ hậu tạ bạc vàng châu báu và làm chức lớn thôi, còn non sông thì sẽ trao cho người khác. Tuy bần tăng là tu sĩ, việc thế gian bỏ ra ngoài, có ham chi phú quý cao sang, nhưng bệ hạ đã hứa một lời thì thủy chung như nhất, có vậy mới không tổn hại đến chơn tâm và phước đức, nếu không thì bần tăng e rằng bệnh khổ không hết đặng, mà đem lại sự vô thường mau chóng cho số mạng của bệ hạ. Huống chi phương thuốc này chẳng dễ gì kiếm đặng, vì trong thần đơn của bần tăng cần phải có con mắt và bàn tay của một vị Tiên Phật làm thang!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trang vương nghe sãi già nói câu chuyện có vẻ hoang đường thì phát giận mà quở rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Ai mà nghe được câu chuyện nhà ngươi nói kỳ quái vô lý như vậy! Tiên Phật nào lại chịu cho con mắt, bàn tay làm thang thuốc bao giờ? Nếu nhà ngươi dám dùng lời yêu quái đó với trẫm thì tội khó mà dung tha đấy!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sãi già tâu lại:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Cúi xin bệ hạ bớt giận mà nghe bần tăng nói hết câu chuyện đã! Vì những vị Tiên Phật linh thiêng nếu có đại nguyện bố thí thân thể tay chân thì họ cũng sẵn lòng cứu nạn cho người đời, do lòng từ bi cao cả rộng lớn của các ngài ấy!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như hiện nay có đức Đại thánh ở Hương Sơn, ngài phát nguyện xả thân tế thế, nếu bệ hạ sai quan quân tới cầu thì chỉ cần dâng một hộp nhang trầm đàn cúng dường, miễn có lòng chân thật thành kính khấn nguyện là ngài liền bố thí ngay con mắt và cánh tay<SUP><B>(29)</B></SUP> phía tả đặng điều trị thánh thể.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thừa tướng Triệu Chấn nghe qua câu chuyện ấy liền tỏ dạ trung thành nguyện phụng chỉ vua Diệu Trang Vương đến đó cầu xin các món quý giá cho môn thần được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hương sơn cách đây ba ngàn dặm, nên phải đi đường xa. Triều đình liền chuẩn cấp cho võ sĩ tùy tùng, ngày đêm cấp tốc lên đường, nhắm Hương Sơn thẳng đến.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn vị sãi già thì giữ lại để xem việc chữa trị sau này có đúng với lời nói không, rồi sẽ tùy liệu kết quả mà xử đối.
<P style="TEXT-INDENT: 66pt; TEXT-ALIGN: justify">e. <B>Náo loạn tại nội cung vua Trang Vương</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi Thừa tướng Triệu Chấn đi rồi thì tại cung Diệu Trang Vương lại có nội biến:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nguyên do hai phò mã Triệu Khôi và Hà Tánh, vì thấy vua Diệu Trang bị bịnh nguy có thể băng hà, mà không có vương tử nối ngôi, nên sanh tâm phản trắc, muốn chiếm giang sơn để chia đôi cùng ngự trị trong nước. Bọn họ mới thông đồng với tên thái giám Hoắc Lễ và tên gian tặc Xách Đáp, âm mưu đâm chết thầy sãi và dùng thuốc độc phục cho Trang Vương uống để vua sớm băng hà, lúc ấy hai phò mã sẽ dễ bề hành động.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng vì Phật Bà có phép tha tâm thông và thiên nhĩ thông<SUP><B>(29a)</B></SUP>, nên biết được ý định của họ, và nghe được câu chuyện họ bàn với nhau; tức thời ngài sai phái Du thần<SUP><B>(30)</B></SUP> qua nước Hưng Lâm, đến tại vương cung để bảo vệ nhà vua.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vị thần này mới vâng mạng thi hành. Vào một đêm kia, khoảng canh ba, tên thái giám Hoắc Lễ gõ cửa hậu cung của vua dâng chén thuốc, mạo xưng là của vị sãi già đưa lại, và bẫm tấu rằng chén thuốc này uống vào có thể tiêu độc và bớt đau. Du thần bèn hóa phép tự biến ra cung tỳ đón lấy chén thuốc đổ đi và thay vào chén thuốc nhũ hương dâng cho vua uống.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Xách Đáp thừa cơ định đi tìm thầy sãi đâm chết, nhưng bỗng đâu có những tiếng ồn ào nổi lên làm cho nó hoảng sợ vội vàng chạy trốn, bị quan quân bắt trói lại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chén thuốc độc bị đổ đi, xông lên mùi độc vị sặc sụa, làm say té năm tên lính thị vệ. Lúc ấy, trong cung xôn xao ồn ào, làm kinh động đến đội ngự lâm cẩm y. Viên đại tướng bèn kiểm tra quân ngũ và lệnh bao vây bắt kẻ gian đảng, giải nạp trước cung Tả Thuận, tâu trình việc ấy cho đức vua rõ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vua Diệu Trang lập tức cho lập bàn hầu tra, đem hai tên thích khách Hoắc Lễ và Xách Đáp ra tra khảo hỏi cung xem kẻ nào chủ mưu đâm chết thầy sãi và đầu độc thí vua? Nếu không tường khai sẽ bị cực hình khốn đốn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai tên hung phạm, ý chừng không thể dấu được, bèn khai tình tiết ra tất cả là do hai vị phò mã Triệu, Hà hiệp mưu hành gian, bày kế thi hành, nếu sau này thành việc, sẽ phong cho làm công thần.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trang Vương ngự lãm tờ biểu cung khai, liền nổi giận lôi đình, quát mắng nguyền rủa hai đứa tặc tử, rồi triệu hội bá quan văn võ tại triều, hạ chiếu tróc nã xử tội hai đứa gian ác Triệu Khôi và Hà Tánh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quan đại tướng võ lâm cẩm y vâng lệnh nhà vua, tập hợp ba ngàn binh mã phủ vây hết hai dinh phò mã của Triệu, Hà, rồi vào bắt hết gia quyến, không cho trốn thoát một người nào.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai chàng tặc tử biết không thể thoát tội, bèn mỗi têm lấy mười thước lụa đỏ, tự treo cổ lên xà nhà mà quyên sinh. Tướng quân cắt lấy thủ cấp đem nạp vào triều. Vua Trang vương ra lệnh cho đem hai cái thủ cấp ra bêu giữa đô thị, và dùng hình phạt lăng trì<SUP><B>(31)</B></SUP> xử tội hai tên cung nhơn phản trắc Hoắc Lễ và Xách Đáp để răn dạy cho mọi người tội làm tôi bất trung.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn hai công chúa Diệu Thanh và Diệu Âm, cũng biết mình không khỏi tội do chồng mình làm ra, nên bèn cầu cứu với mẫu hậu. Vương hậu Bá Nha vì thương con nên hết lòng năn nỉ van xin Diệu Trang Vương đoái tình cốt nhục mà giảm tội cho hai con, vì đấy là hành động của hai người chồng của chúng, chứ chúng nó là phận gái ở trong khuê phòng, không can dự gì đến mưu ấy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trang vương im lặng một hồi lâu, suy nghĩ: "Vì nước nhà bạc phước nên chỉ sanh được ba đứa con gái, mà trước đây đã chết oan mất một đứa rồi<SUP><B>(32)</B></SUP>, may còn hai đứa này, chẳng lẽ giết hết sạch con cái hay sao? Ngài bèn chuẩn cho đem tạm giam hai công chúa vào chốn lãnh cung, chờ sau này sẽ nghị án.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hai công chúa ở nơi u ám tối tăm, xót thân tủi phận than vãn với nhau rằng:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Vì chồng mình làm chuyện bất lương, soán tặc nên để liên lụy đến hai chị em mình. Bây giờ mang tội bất hiếu bất trung, chạy đâu cho khỏi vạ trời. Thế mới biết tình là dây oan, tu là cội phúc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng trước kia, em ba mình là Diệu Thiện đã hiểu lẽ đó, mà sao chẳng khỏi thác oan? Vậy, cái thân ta đầy đọa kiếp trần, nghĩ đến nghiệp duyên mà ngán ngẫm! Hỡi em ba ở dưới suối vàng có biết chăng? Linh hồn em nay phiêu dạt nơi đâu?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi liền khóc sụt sùi sướt mướt, và động tâm té nhào xuống đất chết giấc đi cả hai người. Hồn hai vị công chúa phảng phất làm kinh động đến vị Thổ thần, ngài mới báo cho biết:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Em ba của hai người chưa chết đâu, nay vị đó đã thành Tiên, Thánh mà hai người chưa biết rõ. Hiện giờ, ngài đang lo chữa bệnh cho Vương thượng, rồi sau này sẽ độ cha mẹ và hai chị được siêu thăng nơi chốn Cực Lạc, cho vẹn tròn quả phước, trả ơn sanh thành cho cha mẹ, đáp nghĩa thâm tình của chị em.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rồi, vị Thổ thần lay cho hai người tỉnh dậy, hồn lại nhập xác, rồi hai chị em mới thấy là mình chiêm bao, hai người kể lại cùng một điềm mộng như nhau không sai chút nào!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ đó, hai chị em cùng phát nguyện tu hành, quy y Tam Bảo, tụng kinh đọc kệ, mong sao cho được tới cõi Bồ đề.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(26) Thiện Tài đồng tử: <I>Theo De Groot, Thiện Tài là một vị trẻ tuổi được các thánh tiên lựa chọn, tên Hoàn Thiện Tài (Hoan Chen-Tsai) nghĩa là người chỉ có đọc kinh mà được đức lành phép lạ. Thiện Tài đồng tử thú nhận rằng: Vì mồ côi cha mẹ nên chàng mới phát nguyên tu hành quy y Phật pháp, nhưng chưa chứng quả. Nay nghe Nam Hải Phổ Đà Sơn có Bồ tát ngự, nên quyết chí vượt qua mấy muôn dặm đến đây để hầu ngài và xin làm đệ tử. Trước khi chuẩn lời nguyện ấy, Bồ tát muốn thử xem tâm chí ra sao? Ngài bèn truyền cho Sơn thần, Thổ địa hóa làm kẻ cướp đến vây đánh Phổ Đà sơn một cách hung tợn. Riêng phần ngài thì giả dạng sợ sệt, kêu la cầu cứu và ngã té xuống hố sâu, thấy vậy Thiện Tài đồng tử chạy theo cứu thầy và nhảy luôn xuống hố. Vì quyền năng pháp thuật của đồng tử chưa cao siêu cho nên phải chịu thiệt mạng. Bồ tát liền dùng thần thông cứu tử, khi đồng tử tỉnh dậy thì thấy có một cái xác bên mình, Bồ tát cho biết đó là xác phàm của đồng tử và hiện nay đồng tử đã bỏ xác phàm và nhập vào cõi thánh, từ đó Thiện Tài đồng tử một lòng phụng thờ Bồ tát trong việc cứu độ chúng sanh.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(26a) Hột châu ngọc dạ minh: <I>Một loại ngọc quý có khả năng tự phát ánh sáng lúc ban đêm, hoặc ở chỗ tối.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(27) Tử trúc: <I>Loại tre có màu đỏ tía, hiếm có tại Việt Nam. Hiện nay chỉ có loại tre da màu vàng, các lóng tre dài, có sọc xanh lục, rải rác mọc tại một vài vùng quê Việt Nam: Lái Thiêu chẳng hạn.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(28): <I>Cho nên hiện nay người ta vẽ hình Quán Thế Âm Bồ tát đứng giữa, có Thiện Tài, Long Nữ đứng hầu hai bên tả hữu và trên trời có con chim Oanh ca thánh ngậm xâu chuỗi Bồ đề, phía sau có rừng tre, là do ở tích này.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(29) Bố thí tay, mắt: <I>Trong kinh Diệu Pháp Liên Hoa, phẩm Bồ Đề Đạt Đa (thứ 12), đức Phật Thích Ca nói rằng: "... Vì muốn đầy đủ sáu phép ba la mật nên siêng làm việc bố thí lòng không lẫn tiếc, bố thí voi ngựa, bảy báu, nước thành, vợ con, tôi tớ, bạn bè, cho đến đầu mắt, tủy óc, thân thịt, tay chân chẳng tiếc thân mạng". Đó là bố thí Ba la mật của các vị Bồ tát, Phật.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(29a) Tha tâm thông, thiên nhĩ thông: <I>Trong sáu lực thần thông của người tu đắc quả vị Bồ tát, Phật thì có tha tâm thông là lực thần thông biết suốt hết các tư tưởng, các cuộc mưu tính trong tâm của kẻ khác. Còn thiên nhĩ thông là lực thần thông nghe thông suốt hơn sức nghe thường, hoặc ngồi một chỗ mà nghe được những âm thanh ở xa (Phật học Từ Điển - Đoàn Trung Còn).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(30) Du thần: <I>Vị thần đi tuần du để xem xét việc nhân gian thế nào (Thành ngữ điển tích, Tập I, Trịnh Văn Thanh).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(31) Lăng trì: <I>Một thứ hình phạt ngày trước, dưới thời phong kiến rất tàn khốc. Người bị xử lăng trì, tay chân bị chặt đứt, rồi bị xẻo thịt từng miếng cho đau đớn dần dần mà chết (Thành ngữ điển tích, Tập I, Trịnh Văn Thanh).</I></P>
</span></span>
 
Bên trên