Phật Lịch 3049 (2019 Dương Lịch)

123456789

Active Member
Thành viên vinh dự
Tham gia ngày
14 Tháng 6 2009
Bài viết
473
Reaction score
65
Điểm
28



BIỂU TƯỚNG TĂNG ĐỒ TRONG THỜI MẠT PHÁP
Giảng: Hòa Thượng Hư Vân (Tổ Sư Giác Ngộ Đời Thứ 8 Của Quy Ngưỡng Thiền Tông)


Người thế tục có câu:

- Tú tài là tội nhân của Khổng Tử. Tăng sĩ là tội nhân của Phật đà.

Lời của người xưa thật rất thâm thúy. Làm mất sáu nước là do người của sáu nước, chứ chẳng phải do người nước Tần. Làm nước Tần tan rã là do thân tộc nhà Tần, chứ chẳng do thiên hạ. Diệt Phật pháp là do tăng sĩ. Hôm nay, để bày tỏ nỗi lòng uẩn khúc, tôi tự hỏi tự đáp những lời như sau.

Hỏi: Hiện tại có thể sửa đổi năm tháng Phật lịch, tức không dùng mồng tám tháng tư là ngày làm lễ Phật đản sinh được không?

Ðáp: Vận pháp của Phật Thích Ca, có ba thời kỳ là chánh pháp, tượng pháp, và mạt pháp. Ðời chánh pháp có một ngàn năm, và đời tượng pháp cũng có một ngàn năm. Mạt pháp có mười ngàn năm. Ðời chánh pháp và tượng pháp đã qua. Hiện nay là đời mạt pháp và đã qua chín trăm năm tám mươi hai năm. Thật ra, không có mạt, vì pháp làm sao mạt được? Nếu thường được nhiều người ủng hộ, thì Phật pháp trường tồn muôn năm. Sự tướng có phân biệt là chánh pháp tượng pháp và mạt pháp. Song, nếu con người chân chánh thì thời mạt pháp cũng là chánh pháp. Nếu tự sanh thối thất, thì tuy là đời chánh pháp, nhưng đã trở thành mạt pháp.

Kinh Mạt Pháp thuyết rất nhiều biểu tướng suy vi, mà hiện nay đã xuất hiện: Tăng cưới vợ; ni lấy chồng; sắc y ca sa biến thành màu trắng. Người bạch y (cư sĩ) ngồi trên tòa, còn tỳ kheo ngồi dưới tòa. Lúc con người thọ mạng khoảng ba mươi tuổi, thì pháp đại thừa sẽ bị diệt mất. Lúc con người thọ mạng chỉ còn hai mươi tuổi, pháp tiểu thừa cũng bị diệt luôn. Lúc thọ mạng của con người là mười tuổi, thì chỉ còn sáu chữ "Nam Mô A Di Ðà Phật". Trong đời mạt pháp, tất cả pháp của Phật thuyết ra, đều bị hoại diệt, mà đầu tiên là kinh Lăng Nghiêm, rồi đến kinh Ban Chu Tam Muội. Ví như ông Âu Dương Cảnh Vô, dùng kiến giải của mình, viết trăm lời ngụy thuyết, để phản đối bộ kinh Lăng Nghiêm. Tại Hồng Kông, có ông pháp sư nọ, bảo rằng kinh Hoa Nghiêm, Viên Giác, Pháp Hoa, Ðại Thừa Khởi Tín Luận, v.v... đều là ngụy giả. Ðây là biểu tướng của đời mạt pháp.

Ðời quá khứ, Phật Ca Diếp vừa nhập diệt, chư thiên liền thu góp ba tạng thánh giáo của Ngài, mà kết thành tam tạng kinh điển, rồi lập tháp cúng dường. Trong đời Ðường, chư thiên xuống mách bảo luật sư Ðạo Tuyên là thánh giáo tam tạng cùng kinh tượng của Phật Ca Diếp vẫn còn lưu giữ tại kho tàng thánh tích ở núi Chung Nam, tức Nam Cao Tứ Ðài. Hiện tại, có mười ba vị bồ tát hàng Viên Giác, đang thủ hộ trong đó. Ngày nay, vào mỗi tháng chạp, dân chúng địa phương thường nghe tiếng chuông khánh vang dội trên hư không.

Lúc trước, liên hội Phật Giáo Trung Quốc vừa được thành lập. Trong những lần luận nghị, có người bảo Phật pháp đã diệt tận. Thật ra, đó là người Phật tử tự diệt. Chánh phủ không màng Phật tử đã diệt hay không, chỉ phái người đến làm chủ tọa các buổi thảo luận. Trong những buổi thảo luận, có các Phật tử phân vân rối rít bàn tán rằng trong kinh giáo, có các bộ kinh hại chết rất nhiều thanh niên nam nữ như kinh Phạm Võng, Tứ Phần Luật, Bá Trượng Thanh Quy, nên phải hủy diệt thủ tiêu. Họ lại bảo rằng ba y ca sa, vốn là áo quần của dân chúng đời Hán, chứ chẳng phải là tăng y. Hiện tại, tăng sĩ nên cải cách, chẳng cần đắp ba bộ ca sa. Nếu vẫn còn đắp mặc, tức là bảo thủ phong kiến, chống đối lại chế độ mới. Họ lại bảo rằng vì tín giáo tự do, nên tăng ni có quyền tự do lập gia đình, ăn thịt uống rượu. Vừa nghe qua những lời ngược ngạo, tà tri tà kiến, tôi phản đối dữ dội, chẳng nệ hà họ là người gì. Họ lại không thừa nhận ngày Phật đản sinh là mồng tám tháng tư. Tôi liền căn cứ theo bổn pháp nội truyền, cùng những lời đối đáp giữa pháp sư Ma Thắng và vua Minh Ðế để cải chánh như sau:

- Phật Thích Ca Mâu Ni giáng sanh vào mồng tám tháng tư, thuộc năm giáp dần, tức nhằm đời Chu Chiêu Vương thứ hai mươi bốn tại Trung Thổ.

Theo sách vở đời Ngụy, sa môn Ðàm Mô Tối bảo:

- Phật giáng sanh vào mồng tám tháng tư năm thứ hai mươi bốn của triều vua Chu Chiêu Vương, và nhập diệt vào ngày mười lăm tháng hai năm thứ năm mươi hai của triều vua Mục Vương. Năm tháng Phật đản sanh và nhập niết bàn, hầu hết các triều đại quân chủ đều tuân phụng như nhau mà không sửa đổi.


Ðời vua Chu Chiêu Vương, năm Giáp Dần, cách ngày nay (1952) khoảng hai ngàn chín trăm tám mươi hai năm. Hiện tại, họ muốn sửa thành hai ngàn năm trăm lẻ hai năm. Ông Khổng Tử vốn sanh sau Phật, nhưng họ lại muốn sắp đặt ngày sanh của Khổng Tử trước Phật. Trong buổi hội nghị đó, tôi cùng họ tranh luận về giới luật, niên hiệu, tăng y và bảo rằng không thể hủy hoại. Hai tôn giả Mã Thắng và Trúc Pháp Lan đem giáo lý của Phật đà từ Thiên Trúc sang Trung Thổ. Khi đó, Phật mới vừa diệt độ. Ðương thời, phía đông chùa Bạch Mã có ánh sáng lạ kỳ chiếu vào ban đêm. Tôn giả Mã Thắng bảo rằng xưa kia vua A Dục đã từng sai người mang xá lợi của Phật đặt để nơi đó. Nghe điều này, vua Minh Ðế liền sai người dựng tháp cúng dường. Bấy giờ tăng sĩ cùng đạo sĩ thi thiết pháp thuật. Tôn giả Mã Thắng hiện thần thông biến hóa quảng đại, phi thân trên không trung. Ngài Trúc Pháp Lan xuất đại pháp âm, tuyên dương Phật pháp. Thần thông trí huệ diệu dụng của hai tôn giả, dầu kể suốt bao năm tháng cũng không thể hết. Chư cao tăng sau này như ngài Cưu Ma La Thập, Huyền Trang, Ðạo Tuyên, v.v... tuy thuyết pháp bao ngôn từ, mà không bao giờ xác quyết sửa đổi cải biến ngày Phật đản sinh. Vào năm Dân Quốc thứ hai, cư sĩ Chương Thái Ðàm cùng các vị khác, chiêu tập khai mở đại pháp hội Vô Giá tại chùa Pháp Nguyên, Bắc Kinh. Trong lần đó, họ cũng thảo luận về ngày Phật đản sinh, và đồng nghị quyết rằng mồng tám tháng tư là ngày Phật đản sinh. Hiện tại, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều dùng dương lịch. Song, chánh phủ cũng chưa bảo rằng Phật giáo đồ nên sửa đổi từ âm lịch sang dương lịch. Tôi chủ trương là chúng ta phải ứng dụng theo Phật Lịch, vậy có được hay không? Ðó là tôn kính giới luật và giáo pháp của bậc cổ nhân, mà không thể sửa đổi. Họ lại ương ngạnh bảo rằng mồng tám tháng hai, mồng tám tháng tư, ngày mười lăm tháng hai, vốn là ngày kỷ niệm tổ tiên. Họ muốn đổi ngày Phật đản sinh từ mồng tám tháng tư qua rằm tháng tư. Kinh Phạm Võng thuộc thời Hoa Nghiêm và Tứ Phần luật thuộc thời A Hàm. Họ đều muốn hủy bỏ. Thanh Quy của Tổ Bá Trượng, từ đời Ðường cho đến ngày nay, thiên hạ đều phụng hành, mà họ lại muốn sửa đổi. Tăng y ca sa từ đời Hán đến nay, họ cũng muốn cải đổi. Quý vị xem coi, có phải là đời mạt pháp không? Vì vậy, tôi phải tranh luận với họ, mà bảo rằng nếu các ông muốn cải đổi thì phải tự cải đổi chính mình.

Phật đà vốn là người Ấn Ðộ. Ở Ấn Ðộ, một năm chia làm ba quý. Mỗi quý là bốn tháng. Nước Tàu mỗi năm chia làm bốn quý. Mỗi quý chia làm ba tháng. Nước Tàu có phân hiệu niên giáp, mà nước Ấn Ðộ lại không có. Vì vậy, chớ nên hàm đồ thay triều đổi niên đại không rõ ràng. Ngài Huyền Trang ở Ấn Ðộ mười tám năm, mà chưa từng xác định niên đại. Trải qua hơn hai ngàn năm, người xưa thường cử hành lễ Phật đản vào mồng tám tháng tư. Nếu sửa đổi thì rất bất tiện. Chúng ta là ai, mà lại dám tự sửa đổi?

Tôi bàn luận với Lý Nhậm Triêu là những Phật tử xấu xa này, muốn cải đổi giáo chế của Phật đà. Nếu chánh phủ không tự chủ, dung túng những kẻ này, tạo những việc xằng bậy, thì Phật tử quốc tế sẽ sanh tâm hồ nghi.

Ðối với những kẻ manh tâm xằng bậy cải đổi quy chế giới luật Phật giáo, Lý Nhậm Triêu cùng các người khác khuyên tôi hãy nên nhẫn nhục với họ. Chánh phủ thấy việc tranh cãi lộn xộn, liền hỏi han về lý do muốn sửa đổi giới luật quy chế Phật giáo. Có người bảo rằng tăng ni phải nên mặc y hoại sắc. Chánh phủ hỏi rằng y hoại sắc là như thế nào? Năng pháp sư đáp rằng ca sa vốn là y hoại sắc, còn những y phục khác thì không phải. Mọi người nghe lời phân trần rõ ràng này, quyết định giữ lại y ca sa hoại sắc, hủy bỏ ý kiến của những kẻ muốn cải đổi tăng bào. Tôi bảo rằng lời nói của Năng pháp sư là không sai. Tiếng Phạn gọi là ca sa. Tiếng Tàu gọi là y hoại sắc. Y ca sa có ba loại là y năm điều, y bảy điều, và đại y. Lại có một khỏa y và một cái quần. Chư tăng Ấn Ðộ dùng ba y và một cái quần tức là y khố chúng ta đang mặc ở nước Tàu. Những y ca sa và quần này luôn luôn mặc trên thân. Ngủ cũng mặc, mà chết cũng không rời. Tại Ấn Ðộ khí hậu nóng nực nên chỉ cần có ba y ca sa là đủ. Tại Tàu khí hậu lạnh lẽo, nên trong mình còn phải mặc thêm y phục thế tục, nhưng không được mặc y phục có nhiều màu sắc rực rỡ, mà phải nhuộm thành y hoại sắc. Nếu đi ra ngoài làm việc Phật sự thì phải đắp y ca sa. Y ca sa không thường đắp, nên khiến người nhìn khởi tâm tôn kính. Các triều đại như Tống, Kim, Nguyên đều sửa đổi y phục khác với đời Hán. Tăng nhân đến hôm nay vẫn chưa từng sửa đổi, tức dùng y ca sa đời Hán làm tăng y. Ðó gọi là đại y ca sa, cũng là y hoại sắc. Nếu cho rằng mặc loại y ca sa này khiến đi đứng bị hạn chế, thì không nên cải đổi. Nếu cải đổi tăng y thì ranh giới giữa tăng nhân kẻ tục khó phân định. Nghe những lời tôi phân trần, chánh phủ đồng ý tán trợ, và lại bảo rằng Phật luật Tổ quy không thể sửa đổi, mà phải giữ gìn bảo hộ.

Sau đó, chánh phủ gọi tôi vào kinh đô, tiếp đãi các thân hũu Phật giáo quốc tế.

Tạm cáo kết cuộc. Quý vị thấy không, có phải là tăng sĩ tự hủy hoại Phật pháp chăng? Lão già Hư Vân này vô lực khuông phò Phật pháp. Ngưỡng vọng chánh tri kiến tăng già, đồng tránh khỏi những phong ba bão táp, thì Phật pháp mới không bị hủy diệt.
 
Top