Phật Học Quần Nghi

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<CENTER>

<BR><B>PHẬT HỌC QUẦN NGHI</B>
Tác giả: Hòa thượng Thích Thánh Nghiêm
Dịch giả: Thích Minh Quang
Nhà xuất bản Tôn Giáo
Phật lịch: 2544 - Dương lịch: 2000
<BR><B>LỜI NGƯỜI DỊCH</B></CENTER>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><I>Những ai mới phát tâm học Phật, chắc không khỏi hoang mang, thắc mắc khi đối diện trước biển Phật Pháp mênh mông, cũng như bao khó khăn, chướng ngại trong cuộc sống tu hành thực tế. Vì vậy, việc thân cận, học hỏi thiên hữu tri thức là điều không sao thiếu được trên bước đường tu học. Song minh sư khó gặp, bạn ác dễ gần. Đã không có ít người tuy qui y Tam Bảo nhiều năm, mà vẫn ngơ ngác giữa ngã ba đường học Phật, hay lầm lạc đi vào nẻo tà, tạo thành nhân duyên thoái đọa, bởi không đủ chánh kiến, chánh tín.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>Phật Học Quần Nghi</B> là tác phẩm Phật học mang tính phổ thông, nhằm giải tỏa nghi vấn, phá dẹp tà kiến, kiến lập chánh tín cho người Phật tử. Tác giả đã qui nạp những vấn đề Phật học thường gặp thành bảy mươi bốn câu hỏi, rồi mượn đó làm chủ đề để phát huy nội dung Phật học, mà không phải hạn cuộc ở hỏi đáp thông thường. Nó không những cho chúng ta những kiến giải Phật học chính xác, phong phú, mà còn chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trên con đường tự tu và hóa tha. Như trong lời tựa tác giả đã thổ lộ: <B>"Nội dung quyển sách này là tri thức học vấn, song quan trọng hơn nữa, nó còn là thực tế trong cuộc sống"</B>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nếu chúng ta thiếu cơ duyên, thời gian, phương tiện gần gũi bậc thiện tri thức, quyển sách chánh kiến, chánh tín này sẽ là người thầy, người bạn sáng suốt, nhiệt tình, sẵn sàng chỉ bảo, giải quyết khó khăn cho chúng ta bất cứ lúc nào, nơi nào. Nó giúp chúng ta gạn đục khơi trong: Đâu là Phật giáo chân chánh, đâu là tín ngưỡng dân gian; những gì là Chánh pháp, những gì là Phi pháp; và nhất là đính chánh những quan niệm lệch lạc, sai lầm về Phật giáo. Nhờ vậy, chúng ta sẽ tự tin, vững bước hơn trên nẻo đường học Phật, mà không sợ sa lạc vào ngã rẽ tà kiến. Vì tính chất đặc thù của quyển sách, chúng ta có thể đọc nó từ đầu đến cuối, hay xem mục lục, chọn đọc trước những vấn đề mà mình quan tâm thắc mắc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhận thấy giá trị và lợi ích của quyển sách này, dịch giả đã phát tâm dịch ra Việt văn để kết Pháp duyên cùng tất cả mọi người. Kính nguyện những ai có duyên đọc được, chánh kiến, chánh tín chưa sinh sẽ sinh; chánh kiến, chánh tín đã sinh càng kiên cố; Bồ đề tâm tăng trưởng, bất thoái cho đến ngày viên thành Phật đạo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật dạy: <B>"Trong tất cả bố thí, Pháp thí là đệ nhất, công đức hơn cả</B>. Dịch giả xin chân thành tri ân và tán thán công đức của tất cả Phật tử ủy viên, hội viên trong <B>Ban Ấn Tống Giác Nguyên</B>, đã phát tâm đóng góp tịnh tài ấn tống quyển sách này, để Pháp thí cho mọi người. Xin hồi hướng công đức và cầu nguyện Tam Bảo gia hộ cho quí vị và gia đình được vô lượng an lạc, vô lượng phước báu trong ánh từ quang của chư Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">NAM MÔ THƯỜNG TINH TẤN BỒ TÁT MA HA TÁT
<P align="right">Nghiên Cứu Sở Phật Học Trung Hoa
Tapei, ngày 19.09.1999
Dịch giả cẩn chí</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>1. TÍN NGƯỠNG THEO PHẬT GIÁO CÓ NHẤT ĐỊNH PHẢI QUY Y TAM BẢO HAY KHÔNG?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhất định phải qui y! Tín ngưỡng Phật giáo cần phải đầy đủ Tam Bảo. Điều này vốn khác với tín ngưỡng dân gian sùng bái quỉ thần. Tam Bảo chỉ là Phật Pháp Tăng. Xưng là Bảo, vì công đức ba ngôi này quí báu hơn mọi châu báu thế gian, một khi nhận được thì vĩnh viễn không mất: Nước cuốn chẳng trôi, lửa thiêu chẳng cháy, trộm cướp càng không thể tranh đoạt. Thật là lấy mãi chẳng hết, dùng mãi chẳng cạn, thọ dụng vô cùng!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Phật bảo là người tu hành đã đạt đến mức phước đức, trí tuệ cứu cánh viên mãn. Tất cả chúng sinh đều có khả năng thành Phật. Cho nên chư Phật trong mười phương, ba đời quá khứ, hiện tại, vị lai đều là bậc chúng ta qui y, tôn kính. Song chỉ có đức Phật Thích Ca là nhân vật lịch sử trong thế giới chúng ta.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Pháp bảo là chỉ đạo lý và phương pháp tu hành thành Phật. Pháp bảo mà chúng ta được biết là do đức Phật Thich Ca tuyên nói. Do đó ta xưng ngài là đức Phật bổn sư. Pháp bảo được thấy hiện nay là Tam Tạng Thánh giáo gồm Kinh Luật Luận, cộng thêm các chú giải và ngữ lục của chư Tổ sư. Đây chính là chuẩn mực chỉ dẫn chúng ta phương hướng tu học.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Tăng bảo là chỉ người xuất gia đang tu học, và giúp đỡ người khác cùng tu học như mình. Đây bao gồm chư Bồ tát, La hán và tất cả tăng ni phàm phu. Song chúng ta là người phàm mắt tục, dù gặp được Thánh Tăng cũng không nhận ra. Chúng ta tiếp xúc chủ yếu là phàm phu Tăng, cho nên phải lấy Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni ở nhân gian là trung tâm của Tăng bảo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tăng bảo là thầy, Pháp bảo là sách giáo khoa, còn Phật bảo là người dày dặn kinh nghiệm đã tìm ra chân lý và thuật lại thành sách. Có đủ Tam Bảo mới là Phật giáo hoàn chỉnh. Bằng không, chỉ tin Phật bảo thì khác gì mù quáng mê tín quỉ thần; chỉ tin Pháp bảo thì giống như học giả nghiên cứu học vấn, chỉ tin Tăng bảo có khác gì bái nhận cha nuôi, mẹ nuôi. Tất cả đều không phải là Phật giáo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cho nên qui y Tam Bảo là bước đầu của việc tin và học Phật. Giống như học sinh đến trường ghi tên nhập học mới có hồ sơ học bạ, mới được thừa nhận là học sinh của trường và có quyền lên lớp. Học sinh có bổn phận đi học, còn nhà trường có trách nhiệm giảng dạy. Cho nên nghi thức qui y vô cùng quan trọng, giống như việc vợ chồng kết hôn, quan chức nhậm chức, đảng viên gia nhập đảng, đều phải có nghi thức tuyên thệ và giám thệ để chứng tỏ sự thận trọng và khẳng định.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người chưa thông qua nghi thức qui y Tam Bảo tất nhiên vẫn có thể học Phật. Phật giáo không bài xích người chưa qui y như ma quỉ. Song người chưa qui y về mặt tâm lý sẽ có sự thoái thác, do dự, trì nghi. Đến lúc thử thách gay go, họ sẽ mượn cớ bảo: <I>Tôi vẫn chưa phải là Phật tử, nên không cần giữ theo giới luật Phật chế</I>. Đối với các thói xấu và nghiệp ác như biếng nhác, phóng túng, tà dâm, vọng ngữ, trộm cắp v.v..., họ sẽ dễ dàng tự tha thứ cho mình, càng không biết ngăn ngừa để khỏi vi phạm ở tương lai. Người sau khi qui y Tam Bảo, sẽ biết khắc chế, cảnh giác và sách tấn lấy mình, đồng thời họ cũng được các bậc thiện tri thức như thầy tổ, bạn tu khích lệ, đôn đốc, khuyên răn. Cho nên họ sẽ đi vào chánh đạo trong việc thăng hoa nhân cách, trưởng dưỡng đạo tâm và tinh tấn tu tập.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Xin bạn đọc không nên cho rằng qui y là việc không quan trọng, hay hiểu lầm rằng mình còn chưa hiểu Phật Pháp và chưa có tu nên không đủ tư cách qui y. Thật ra chỉ cần biết được Phật Pháp là đáng tin, đáng học thì có thể qui y. Chính vì chưa thông hiểu và tu tập Phật Pháp nên càng phải mau mau qui y Tam Bảo! Vì vậy nếu vị nào nghĩ mình chưa đủ tư cách làm đệ tử Phật thì nên qui y ngay bây giờ. Sau khi qui y không luận về mặt tâm linh, thói quen hay cuộc sống... đều được chư Phật, Bồ tát, Hộ pháp, Long thần, cùng chư thiện hữu tri thức hộ trì giúp đỡ. Do đó nhờ qui y sẽ khiến người thiếu tín tâm tăng thêm tín tâm, thiếu ý chí vững mạnh thêm ý chí.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>2. NHẤT ĐỊNH PHẢI NHÌN THẤU ĐƯỢC CẢNH HỒNG TRẦN<SUP>(1)</SUP> RỒI SAU MỚI CÓ THỂ HỌC PHẬT?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đây là vấn đề tựa hồ như đúng mà lại sai. Hai chữ bụi hồng (hồng trần) không phải là danh từ Phật học, mà có xuất xứ từ văn học Trung Quốc. Bụi hồng là hình dung cảnh cát bụi tung bay, hay cuộc sống phồn hoa náo nhiệt. Bài phú <B>Tây Đô<SUP>(2)</SUP></B> của Ban Cố đời Tây Hán có câu:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Đầy chật thành quách, lan rộng cả trăm triền</I><SUP><B>(3)</B></SUP>
<I>Bụi hồng bao phủ, khói mây giăng tiếp nối nhau.</I>
(Điền thành ích quách, bàng lưu bách triền
Hồng trần tứ hợp, yên vân tương liên).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong bài <B>Trường An Cổ Ý</B> của Lư Chiếu Lân có câu:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Liễu yếu hòe xanh buông quệt đất
Bụi hồng tiết đẹp bốc mù trời.</I>
(Nhược liễu thanh hòe phất địa thùy
Giai kỳ hồng trần ám thiên khởi).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong bài thơ <B>Thu Nguyệt</B> của Trình Hiệu đời Tống có câu:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Bụi hồng cách hẳn ba mươi dặm
Mây trắng lá hồng vời vợi xa.</I>
(Cách đoạn hồng trần tam thập lý
Bạch vân hồng diệp lưỡng du du).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tào Tuyết Cần trong <B>Hồng Lâu Mộng</B> cũng nói: <I>"Có thành quách bao bọc cổng Xương Môn, đây là nơi phú quí, phong lưu nhất nhì trong chốn hồng trần"</I> (Hữu thành hồi Xương môn, tối thị hồng trần trung nhất nhị đẳng phú quí phong lưu chi địa).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Câu <B>nhìn thấu được hồng trần</B> nhà Phật vốn không dùng. Chỉ có các nhà văn Trung Quốc do ảnh hưởng tư tưởng tự nhiên vô vi của Đạo gia, hay các nho sĩ khi đã chán ngán cảnh giàu sang giả tạm chốn quan trường, yêu thích nếp sống điền viên ẩn dật là hay dùng mà thôi. Cho nên <B>nhìn thấu được hồng trần</B> chính là từ bỏ nếp sống phồn hoa phù du như mây nổi, mà lui về sống cảnh núi rừng thiên nhiên, thanh đạm tự do.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật giáo ở Trung Quốc thường bị hiểu lầm. Người ta gán cho hiện tượng và trào lưu ẩn dật chốn núi rừng xa vắng là kết quả của việc tin và học theo Phật giáo. Thực ra trong Phật giáo không có nói đến hồng trần, và cũng không bảo <B>nhìn thấu được hồng trần</B>. Phật Pháp chỉ nói đến sáu trần: Sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp vốn là đối tượng của sáu căn: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Sáu trần là cảnh bên ngoài, sáu căn là cảnh bên trong, phải thêm vào sáu thức: Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức mới sinh ra hiện tượng nơi thân tâm. Tâm do bị ngoại cảnh sáu trần làm xao động, nên từ sáu căn gây ra các nghiệp thiện ác tốt xấu. Phật Pháp gọi đó là tạo nghiệp. Người tạo nghiệp ác phải đọa trong ba đường dữ: Địa ngục, ngạ quỉ, súc sanh; còn tạo nghiệp thiện sẽ tái sinh làm người, hay sinh lên cõi trời hưởng thọ phước báo nhân thiên. Song không luận là đọa xuống hay sanh lên, đều ở trong biển khổ luân hồi sanh tử! Muốn giải thoát cần phải nhận thấy sáu trần vốn hư huyễn, không thật, vô thường. <B>Kinh Kim Cang</B> bảo:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Tất cả pháp hữu vi
Như mộng, huyễn, bọt, bóng.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nếu triệt ngộ được tính huyễn hóa không thực của thế giới sáu trần, thì ngay đó sẽ tự tại giải thoát. Bậc giải thoát tuy thân tâm ở trong sáu trần, song không bị sáu trần nhiễu loạn, mê hoặc thì tự nhiên phiền não không sinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như vậy đủ thấy sáu trần mà Phật dạy là chỉ hoàn cảnh mà thân tâm đang ở. Cuộc sống giàu sang xa hoa đương nhiên là sáu trần, song lui về ẩn dật chốn núi rừng cũng đâu đã ra khỏi được sáu trần! Cho nên Thiền tông có câu: <I>"Bậc đại ẩn thì ẩn dạt chốn thành thị, còn kẻ tiểu ẩn thì ẩn dật chốn sơn lâm"</I> (Đại ẩn ẩn ư thị triền, tiểu ẩn ẩn ư sơn lầm). Đây cũng chính là lời nói, nếu tâm còn chấp trước, thân còn ràng buộc, cho dù sống ở chỗ nào cũng không tự tại giải thoát. Chốn núi rừng với mưa dầm gió bão, ác thú độc trùng, cộng thêm cảnh non cùng nước độc, dân tính dã man, đủ gây cho ta biết bao phiền não. Nếu tâm không ngăn ngại, thì cung điện, cửa rộng nhà cao, hay hang động, nhà tranh vách đất đều như nhau không khác, cần gì phải phân biệt đây kia!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">(Người Trung Quốc) <B>nhìn thấu được hồng trần</B> có nghĩa là xuống tóc làm Tăng. Đây có lẽ chỉ cho những người bất đắc chí trên đường công danh, sự nghiệp thất bại, hôn nhân tan vỡ, gia đình chia lìa. Họ không đủ dũng khí và tín tâm làm lại cuộc đời, nên lúc cùng đường lại tìm đến cửa Phật nương náu qua ngày. Đó là: <I>"Bạn cùng với chuông xanh mõ đỏ, cho qua đi hết kiếp sống tàn!"</I> Cảnh tượng này không những tiêu cực bi quan, mà còn hết sức là bi thảm! Trong thực tế quả thật có những người như vậy. Song đây không phải là con đường bình thường đúng đắn của người Phật tử bước chân vào cửa Phật tu học.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Làm đệ tử Phật không có nghĩa là phải xuất gia. Đệ tử Phật phân làm hai hạng lớn: Tại gia và xuất gia. Song đại đa số là người tại gia, còn xuất gia chỉ chiếm số ít. Người xuất gia đem toàn bộ sinh mệnh gửi vào trong đạo, hy sinh cả thân tâm vì Tam Bảo và cống hiến cho chúng sinh. Hy sinh vì Tam Bảo là để cầu pháp, cống hiến cho chúng sinh là để độ sinh. Hy sinh vì Tam Bảo là để tiếp nối tuệ mệnh đức Phật, cống hiến cho chúng sinh là vì cứu vớt những người còn trầm luân trong bể khổ mênh mông.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mục đích đúng đắn của người xuất gia là bỏ được điều khó bỏ, nhẫn được điều khó nhẫn. Bỏ được điều khó bỏ là bỏ đi danh lợi, vật dục thế gian; nhẫn được điều khó nhẫn là gánh vác gia nghiệp Như Lai, mang trách nhiệm cứu độ chúng sinh khổ nạn. Cho nên việc <B>nhìn thấu được hồng trần</B>, thật không có liên quan gì đến tông chỉ xuất gia!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn như người xuất gia học Phật, có thể bao quát cả mọi giai tầng trong xã hội. Họ tuyệt đối không phải vì trốn lánh hiện thực, mà là đem Phật Pháp giáo hóa độ nhân gian, khiến thế giới con người trở nên hòa mục, thanh tịnh. Nếu sau khi học Phật lại xa lìa nhân gian, sống riêng một mình, là trái với tinh thần hóa độ thế gian của Phật Pháp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người tại gia học Phật, sống theo nguyên tắc ngũ giới, thập thiện, làm tròn bổn phận, trách nhiệm đối với gia đình, quốc gia, xã hội. Cho nên người tại gia sau khi học Phật, càng tích cực hơn trong cuộc sống và năng nổ hơn trong trách nhiệm. Đây chính là lý do Đại thừa Phật giáo chia làm hai loại Bồ tát xuất gia và Bồ tát tại gia. Bồ tát xuất gia là tướng Tỳ kheo, giải thoát tự tại; Bồ tát tại gia là tướng trời người, phước đức trang nghiêm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bản ý của <B>nhìn thấu hồng trần</B> là tiêu cực, còn học Phật lại là tích cực. <I>Hình thái</I> và <I>tâm thái</I> sinh hoạt của con người có thể phân làm ba loại:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">1. <B>Người tham luyến thế gian</B>: Tuyệt đại đa số đều không buông xả được vật dục, tranh danh đoạt lợi, rượu chè trai gái, sống say chết mộng, khổ não cả đời mà không biết sinh từ đâu đến? Chết đi về đâu? Họ lúc sống thì tham đắm, khi chết lại luyến tiếc, nên đức Phật gọi họ là kẻ đáng thương.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">2. <B>Người yếm thế</B>: Họ là những người tài cao không gặp thời, hay tự cho thanh cao mà giận đời, ghét tục. Họ còn là những người tiêu cực, bi quan, có thái độ bất lực, mặc kệ sinh mạng. Do đó, hạng người trước sẽ trở nên ngạo đời cợt thế, hay lui khỏi xã hội nhân quần, sống đời ẩn dật; hạng người sau nếu không tự sát, trốn lánh hiện thực, thì cũng u uất đến chết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">3. <B>Người biết buông xả, biết gánh vác</B>: Đây là những người thấy nhân sinh đau khổ, việc đời nguy cấp nên ôm lòng bi mẫn, cứu vớt mọi người trong cơn hoạn nạn, hiểm nguy; cho dù vượt núi băng sông, vào chốn nước sôi lửa bỏng cũng không từ nan. Đây là những khuôn mẫu mà đời sau xưng là hiền giả hay Thánh nhân.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Song nếu dùng Phật Pháp giáo hóa, người căn tính phàm phu cũng có thể lần lần được trí tuệ, thấu triệt hiện tượng thế gian, giúp mọi người giảm phiền não, bớt đi tai nạn cho xã hội. Họ sẽ tích cực tu hành, sớm cầu ra khỏi biển khổ sinh tử. Tiến thêm bước nữa, họ sẽ làm mô phạm, điển hình cho thế hệ sau về tinh thần tự giác nỗ lực, tự mình cứu độ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người căn tính Đại thừa nhờ Phật Pháp hóa đạo, sẽ có sinh mệnh vô hạn, bi nguyện vô cùng, đời đời phát tâm Bồ đề, hành Bồ tát đạo, tịnh hóa nhân gian, thành tựu cõi Phật. Họ không những độ người mà còn muốn độ tất cả chúng sinh. Họ không vì trở ngại mà thất vọng, không vì thuận lợi mà đắc ý, luôn nỗ lực gây dựng nhân duyên, âm thầm ra sức không kể công, khoe công, tinh tấn không ngừng. Học Phật với thái độ như vậy, đương nhiên không có liên quan đến quan niệm <B>nhìn thấu hồng trần</B>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Nhìn thấu được cảnh hồng trần: <I>Nguyên văn: "Khán phá hồng trần", khán phá là nhận thức thấu triệt một điều gì đó không có giá trị, không có ý nghĩa. Hồng trần (bụi hồng) là chỉ cảnh xã hội phồn hoa, hay chỉ chung cho chốn nhân gian. Cho nên nhìn thấu được cảnh hồng trần là nhận thức rõ được cảnh phù du của thế gian nên nguội lạnh, không muốn tham gia, vướng bận cuộc đời. Truyện Kiều của Nguyễn Du từng nói:
<p style="padding-left: 30px;">Sự đời đã tắt lửa lòng
Còn chen vào chốn bụi hồng làm chi?</I><P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2): <I>Nguyên bản biên tập nhầm: Tây Đô thành ra Tây Độ. Nhà Tây Hán đặt đô ở Trường An, nhà Đông Hán đặt đô ở Lạc Dương. Lạc Dương ở phía Đông, nên gọi Trường An là Tây Đô hay Tây Kinh. Trong bài phú Tây Đô, Ban Cố cũng nói: "Tây Đô nhà Hán nằm ở Ung Châu, tên thật là Trường An". (Hán chi Tây Đô tại ư Ung Châu, thực viết Trường An).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(3) Triền: <I>Đơn vị đo diện tích thuở xưa của Trung Quốc. Đời Hán chỗ ở của một hộ tổng cộng rộng hai mẫu rưỡi, gọi là một triền.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">3. <B>PHẢI CHĂNG HỌC PHẬT CŨNG CẦN ĐẾN TRI THỨC VÀ HỌC VẤN</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người tri thức thấp kém, thậm chí mù chữ dốt nát, cũng không phải không thể đạt được đại thọ dụng của Phật Pháp. Ví dụ Lục Tổ Huệ Năng theo truyền thuyết là người đốn củi chưa từng biết chữ. Thế mà ngài cuối cùng trở thành vị Tổ thứ sáu trong lịch sử Thiền Tông Trung Quốc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhưng căn cứ nội dụng của <B>Lục Tổ Đàn Kinh</B> và sự khảo sát của các học giả, đại sư Huệ Năng tuy không phải là một học giả, song nếu nói ngài một chữ cũng không biết là điều không thể có. Cho nên trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, người mù chữ mà có thể làm Tổ sư, lại có ảnh hưởng rộng lớn và lâu dài trong giới Phật giáo, theo truyền thuyết chỉ có một mình ngài. Theo lịch sử Phật giáo Ấn Độ, bắt đầu từ đức Phật Thích Ca, truyền thừa cho đến các đời Tổ sư Trung Quốc, đều là các nhà tri thức, bậc đại học vấn, tinh thông ngũ minh, rành rẽ nội điển, ngoại điển.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bậc căn cơ thượng thượng không cần giáo dục, không cần văn hóa, tự nhiên thành tựu. Họ thông tỏ, nắm vững một nguyên lý căn bản là có thể quán thông toàn thể sự việc, mà không phải từ sự nhận biết đơn lẽ vụn vặt về vạn vật rồi nhận ra cái lý thống nhất trong đó. Như đại sư Huyền Giác trong <B>Chứng Đạo Ca</B> nói:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Hái lá tìm cành tôi chẳng thông.</I>
(Trích diệp chi ngã bất năng).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại nói:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Xuống biển đếm cát chỉ nhọc mình.</I>
(Nhập hải toán sa đồ tự bì).
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đây chỉ là một lần dứt là xong tất cả, không cần phải vụn vặt phiền phức. Học Pháp là tỏ cái lý, thấu cái căn bản; học Phật là kiến tánh thành Phật, đương nhiên không cần tri thức, học vấn. Song sau khi ngộ và kiến tính, cần phải thông đạt Kinh giáo, vun đắp tri thức để làm phương tiện lợi ích chúng sinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người bậc trung thượng và trung hạ cần phải y theo Kinh giáo, tham vấn minh sư, mới rõ phương hướng và chuẩn mực tu học, nếu không sẽ thành tu mù luyện quáng. Trước và sau khi gặp được minh sư, cũng cần phải dựa vào Kinh giáo mới có thể quyết trạch được minh sư chân giả. Nếu như thuận với Kinh giáo, thâm nhập Pháp lý, thấu rõ Pháp nghĩa thì đó là minh sư thật. Còn như lấy sự ức đoán cá nhân, cảm ứng, kinh nghiệm tu tập riêng để tùy tiện giải thích Kinh giáo, cũng như hủy báng các đời Tổ chính thống và Tam Bảo thì đó là tà sư ngoại đạo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cho nên, nếu có người còn chưa biết làm thế nào để chọn minh sư, trước nên thâm nhập Kinh giáo, nhận thức đúng đắn Phật Pháp, rồi sau mới đi tìm bậc minh sư. Như vậy sự giúp đỡ của minh sư sẽ giống như <B>vẽ rồng điểm nhãn<SUP>(1)</SUP></B>, khiến chỉ cần một lời nói cũng đủ để phá tan trăm ngàn nghi vấn. Còn như không biết gì cả mà đi tham vấn minh sư, cho dù có gặp đi nữa, dưới mắt ta cũng chỉ là kẻ phàm thường. Nếu đã tỏ thông Kinh giáo, tuy lặn lội khắp nơi mà chưa gặp được minh sư thì vẫn không đến nỗi lầm đường lạc lối. Khi đã nắm vững đường lối tu học, chỉ cần từng lớp cởi bỏ sự chướng ngại trong tâm, tuy không thể một lúc đập thủng đáy thùng sơn đen vô minh, song nếu so ra vẫn an toàn hơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người tu pháp môn niệm Phật, nếu không có thời gian và hoàn cảnh cho phép, chỉ cần niệm chắc một câu <B>Nam Mô A Di Đà Phật</B> là đủ. Song chư vị Tổ sư hoằng dương Tịnh Độ trong các đời như đại sư Tuệ Viễn ở Lư Sơn, đại sư Đạo Xước, Đàm Loan, Thiện Đạo, Ca Tài đời Đường, cho đến các vị như Liên Trì, Ngẫu Ích cuối đời Minh và ngài Ấn Quang đầu năm Dân quốc v.v... đều là những bậc đại tri thức thông suốt tam giáo Nho Đạo Thích, cũng là những nhà đại tư tưởng trong lịch sử Phật giáo. Vậy sao lại có thể bảo niệm Phật là không cần đến Kinh giáo?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người không tỏ thông giáo lý mà chỉ niệm Phật thì làm sao biết được niệm Phật có thể vãng sanh. Và Tịnh Độ phân làm mấy loại? Tuy rằng người căn cơ bậc hạ, không biết hỏi, chỉ cần chiếu theo lời nói thực hành là đủ. Song nếu là người biết hỏi, lại thêm thường phải giúp đỡ kẻ khác học Phật, tin Phật, niệm Phật, nếu không biết gì về kinh điển giáo nghĩa, thì làm sao có đủ năng lực khuyến hóa kẻ khác? Bằng không có khác gì kẻ mù dẫn đám lòa, tu mù luyện quáng, tà chánh chẳng phân, tâm niệm bất minh, mục đích bất chánh, như vậy làm sao có thể tự lợi, lợi tha, vãng sanh Tịnh Độ?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Quả thật người đang lúc dụng công cũng không luận là tham thiền, niệm Phật, tu hiển, tu mật đều không được phân tâm, làm hai việc cùng một lúc. Ta không thể vừa tu tập, vừa suy nghĩ Kinh giáo; hay lúc nào cũng đem nội dung, giáo nghĩa Kinh điển ra để đối chiếu với tình hình tu tập của mình. Như vậy sẽ làm nhiễu loạn, chướng ngại lớn cho sự tu hành. Song trước khi tu tập, cần nhận thức rõ đường hướng chuẩn mực, và sau khi tu cần ấn chứng tình trạng tâm linh cũng như chỉ dạy người sau, thì việc nghiên cứu học hỏi kinh điển là điều không sao thiếu được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Vẽ rồng điểm nhãn: <I>Đây là một thành ngữ Trung Quốc, lấy từ điển tích: "Lương Võ Đế sùng mộ việc trang hoàng chùa Phật, nên thường sai Tăng Dao họa nơi các chùa (...) Chùa An Lạc ở Kim Lăng có vẽ bốn con rồng trắng song không có mắt. (Tăng Dao) thường bảo nếu chấm vẽ mắt rồng (điểm nhãn) thì nó sẽ bay đi. Người ta cho là việc hoang đường, nên cố nài chấm vẽ mắt. Trong chốc lát, sấm sét nổi lên phá vỡ tường, hai con rồng cỡi mây bay lên trời; còn hai con chưa vẽ mắt vẫn ở chỗ cũ" (Lịch Đại Danh Hoa Ký đời Lương). Về sau chỉ hội họa hay văn chương nếu thêm một nét hay một câu, một chữ vào chỗ trọng yếu nhất, thích đáng nhất, khiến toàn thể trở nên linh hoạt, truyền thần là <B>vẽ rồng điểm nhãn</B>. Ở đây mượn thành ngữ này để chỉ người hành giả, khi tâm địa sẵn sàng, nhân duyên thời tiết chín muồi, chỉ cần thiện tri thức chỉ điểm một câu thích đáng, là có thể <B>hoát nhiên khai ngộ</B>.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">4. <B>PHẬT TỬ TẠI GIA CÓ PHẢI KIÊNG KỴ GÌ KHÔNG?</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các tín ngưỡng dân gian có lắm điều cấm kỵ. Song những điều cấm kỵ này lại bị hiểu lầm cho là Phật giáo! Như lư hương trong nhà không được mỗi ngày dọn sạch chân nhang, chẳng những làm cho bàn thờ Phật dơ bẩn mà còn có nguy cơ chân nhang bốc cháy gây nên hỏa hoạn. Thật ra trong chùa trước mỗi tượng Phật đều có lư hương, mỗi buổi sáng sớm đều phải lau dọn, luôn giữ sạch sẽ như lần đầu tiên thắp hương.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các nữ Phật tử trong kỳ kinh nguyệt, không dám vào chùa lễ lạy, thậm chí không dám thắp hương, tụng kinh, ngồi thiền, niệm Phật trước tượng Phật. Thực ra, chùa chiền Phật giáo không có yêu cầu kiêng kỵ như vậy. Các Tỳ kheo ni, Sa di ni và nữ Phật tử cận trụ đều sống trong chùa, mỗi ngày cùng làm bạn với Kinh tượng, Pháp khí, thế mà chưa từng có ai trong kỳ kinh nguyệt bị tai họa do vấn đề xung khắc xảy ra cả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người Phật tử tại gia thờ Phật, lúc lập bàn thờ Phật thường nhờ người khai quang cho tượng Phật, Bồ tát trước, đồng thời chọn ngày lành tháng tốt, xác định bàn thờ v.v... đều thuộc tín ngưỡng, phong tục dân gian. Theo tinh thần nhập gia tùy tục, cũng không có gì quá đáng. Việc khai quang là tỏ ra thận trọng, chọn ngày định hướng là cầu mong kiết tường. Song đứng trên quang điểm Phật giáo nhìn, chư Phật, Bồ tát không chỗ nào không có, không nơi nào không ứng hiện. Tất cả phương vị đều có mười phương chư Phật, mười phương Tam Bảo, Hộ pháp Long Thiên đương nhiên không có những vấn đề tưởng tượng ra đó của tín ngưỡng dân gian. Chỉ cần chọn một vị trí mào mình cho là tôn quí nhất, rồi đem tâm tha thiết chí thành, an vị Thánh tượng vào lúc thích đáng nhất là được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Có người cho rằng, Phật tử tại gia không được đọc tụng một số Kinh chú, hay vào thời gian nhất định nào đó không được đọc tụng. Thực ra đối với tất cả Kinh chú đều phải có tâm cung kính, trì tụng nơi chỗ thanh tịnh. Tốt nhất nên rửa tay, súc miệng, thắp hương, lễ bái trước Phật rồi sau mới tụng. Song Phật giáo trừ pháp môn qui định đặc biệt của Mật tông ra, không có cấm ngăn Phật tử tại gia không được tụng niệm một số Kinh nào, một số chú nào.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong nhà có người tin Phật, có người tin thần, vậy có thể thờ Phật và thờ thần cùng chung một bàn không? Không sao cả. Ta thờ Phật chính giữa, Bồ tát hai bên, còn các vị thần ở hai bên Bồ tát, làm Hộ pháp bên ngoài. Như vậy các vị thần sẽ gần gũi Tam Bảo, tu học Phật Pháp, gieo nhân thành Phật. Nếu người nhà đều đồng ý cải đổi tín ngưỡng, tin theo Phật giáo, thì nên thắp hương, cúng dường khẩn nguyện trước tượng thần, rồi dọn cất đi, để tránh việc thờ cúng ngẫu tượng quá nhiều.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tàn hương và Kinh tượng, Pháp khí hư hỏng, nhiều người không biết phải xử lý thế nào, thậm chí đem giao cho chùa lưu giữ! Thực ra, chỉ cần chọn nơi đất trống và đồ đựng sạch sẽ, bỏ các thứ vào đấy đốt thành tro rồi đem chôn là được. Nếu như là đồ đồng thau kim loại thì thu cất, đợi một thời gian sau có thể làm đồ cổ, hay xử lý như phế liệu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các thứ cúng Phật như hoa tươi, trái cây, thức ăn, nước trà đều phải thay mỗi ngày. Nếu còn dùng được nên dùng vào việc khác, hay cho người nhà ăn, không nên bỏ đi lãng phí. Còn như đã hư hỏng, thì xử lý như rác. Các thứ cúng nên số đôi hay số lẻ, thực ra không quan trọng. Thường bày thức cúng thành đôi chỉ do mỹ quang mà thôi. Nếu kinh tế eo hẹp hay chỗ thờ nhỏ chật không tiện, thì cúng đơn lẻ cũng chẳng sao. Còn như phẩm loại, chất lượng vật cúng nên tùy theo khả năng của mình mà quyết định, không nên quá sơ sài mà cũng đừng phô trương.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thời gian tu tập của Phật tử tại gia nên vào lúc sáng sớm và buổi tối, vì lúc đó thân tâm thanh tịnh, thư thái, dễ chí thành, chuyên tâm. Nếu do tính chất và giờ giấc công việc, đương nhiên ta có thể chọn một thời gian tu tập khác. Tốt nhất không nên thờ Phật trong phòng ngủ, không nên tọa thiền, niệm Phật, tụng kinh trên giường. Nếu nhà chỉ có một phòng, lúc bình thường nên dùng vải che tượng Phật lại, lúc lễ Phật nên dọn giường chiếu sạch sẽ, ngay ngắn rồi mới mở vải ra. Nếu ngoài giường ngủ không còn chỗ nào khác, thì ngồi trên giường tu tập cũng thành là chốn đạo tràng. Tóm lại, lấy tâm cung kính, thanh tịnh để đạt đến mức chí thành, trang nghiêm làm nguyên tắc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau khi quy y Tam Bảo, ta đối với các tôn giáo khác, hay tín ngưỡng dân gian đều không được qui y nữa, song vẫn tôn trọng họ. Nếu vào nhà thờ, đền miếu, đàn thần phải giữ lễ chắp tay xá chào. Tuy ta không quy y tín ngưỡng, song có thể giữa tình hữu nghị qua lại.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">5. <B>HỌC PHẬT CÓ CẦN PHẢI BỎ HẾT NHỮNG HƯỞNG THỤ HIỆN CÓ HAY KHÔNG?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Không nhất định phải như vậy, còn tùy theo tình hình. Nếu là sự hưởng thụ không mục đích thì nên bỏ. Song nếu hưởng thụ có lý do chính đáng thì cần phải duy trì.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật phải thếp vàng là cho chúng sanh chiêm ngưỡng, người mặc áo đẹp là để xã hội xem vào. Việc hưởng thụ bản thân tùy thuộc vào thân phận, địa vị, quan niệm của con người mà có khác nhau. Trong trường hợp, hoàn cảnh nào cần đến hình thức nghi lễ, nếu điều kiện vật chất cho phép, sử dụng tiện nghi sang trọng là tỏ ra lịch sự, long trọng. Song nếu sống trong hoàn cảnh kinh tế khó khăn, dù mình có đủ khả năng trưng bày tiêu xài đi nữa, cũng nên bỏ đi tất cả hưởng thụ, cùng mọi người chia sẻ khó khăn, vượt qua thử thách, như trường hợp Thánh Gandhi ở Ấn Độ trước đây.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Xã hội ngày nay cho phép lịch sự hay vì lý do an toàn mà trong một số trường hợp hoàn cảnh, gặp gỡ một nhân vật nào đó cần phải áo mũ chỉnh tề, sử dụng xe hơi cá nhân, ban ngày có lễ phục ban ngày, ban tối có lễ phục ban tối. Ở các nước Âu Mỹ và Nhật Bản, đi dự đám tang phải nặc lễ phục với kiểu cách và màu sắc nhất định, tham dự đám cưới và các cuộc gặp gỡ chính thức không được mặc đồ lao động, đồ ngủ hay đồ thường ngày ở nhà. Những việc đó không coi là hưởng thụ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật Pháp coi trọng nhân quả. Đời nay hưởng phước là do đời quá khứ biết bố thí. Hưởng thụ phước báo giống như rút tiền trong ngân hàng xài. Rút xài nhiều chừng nào thì tiền gởi còn lại ít chừng nấy, cho đến cuối cùng hết sạch cả tiền. Hưởng thụ nhiều thì phước báu tổn giảm cũng nhiều, có ngày sẽ hết. Nên phải một mặt tu phước, một mặt kiệm phước, mới có thể đạt đến mức phước đức viên mãn. Nếu không, dù cho có phước bao nhiêu, rồi cũng phải tiêu mòn mất hết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì thế, Phật giáo Nguyên thủy đã chủ trương Tỳ kheo phải sống hết sức đơn giản, không giữ của cải. Thứ nhất là để ngăn ngừa lòng tham, kế nữa là vì kiệm phước, thứ ba là để giảm đi sự chấp trước đối với tự thân. Người xuất gia đã như vậy, người Phật tử tại gia cũng như vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sa di phải giữ giới như không đeo vòng hoa trang sức, không thoa dầu thơm, không ca múa hát xướng, không cố tâm đi xem nghe, không ngồi trên giường cao rộng lớn, không đeo vòng vàng, không chứa vàng bạc, vật báu v.v... Phật tử tại gia trừ giới cất giữ vàng bạc vì cần phải tiêu xài ra, những giới khác nếu có thể giữ được là điều rất quí. Còn nếu không giữ được, hy vọng các vị vào sáu ngày trai giới mỗi tháng, thọ trì bát quan trai, tập sự sống đời xuất gia, để kiệm phước và buông bỏ hưởng thụ. Nói hưởng thụ ở đây bao gồm việc ăn dùng, chỗ ở, chỗ ngủ nghỉ, các vật đeo trên người và các thứ vui chơi, giải trí. Đây chính là <B>tiết kiệm quan trọng hơn tăng thêm thu nhập<SUP>(1)</SUP></B>. Bố thí là tăng thêm thu nhập phước báo, buông bỏ hưởng thụ là tiết kiệm phước báo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thân đức Phật Thích Ca có ba mươi hai tướng đại nhân. Đây là tướng phước đức, trí tuệ, trang nghiêm. Theo truyền thuyết ngài cũng từng nhận tấm y cà sa dệt bằng chỉ vàng, nhận tịnh xá Kỳ Viên do trưởng giả Cấp Cô Độc mua cúng dường bằng số vàng trải đầy đất. Đương thời các vị trưởng giả giàu sang lúc cúng phật, trai Tăng đều dâng lên các món ăn uống ngon quí, đồng thời sửa sang, trang hoàng tịnh xá và nơi trai Tăng hết sức trang nghiệm. Nhiều đạo tràng đức Phật thuyết pháp thuở xưa, sau này trở nên khu hoa viên, lâm viên nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các cõi Tịnh độ trong kinh Phật nói đến, như thế giới Cực Lạc của đức Phật A Di Đà phương Tây, lầu các của Bồ tát Di Lặc trong <B>Kinh Hoa Nghiêm</B>, cung điện của các vị đại Bồ tát mà Thiện Tài đồng tử gặp gỡ trong năm mươi ba lần tham học đều là những nơi vàng ngọc rực rỡ, hết sức trang nghiêm. Những vị thiện tri thức đó đều là những bậc có đại phước đức, nên phước đức tự nhiên gắn liền với cuộc sống của họ, biểu hiện qua sự giàu có sang trọng. Đây giống như người nghèo hèn thì thân tướng xấu, da thô nhám, người giàu sang thân tướng xinh đẹp, da dẻ mịn màng. Đây chính là phước báu theo cùng với họ khi sinh ra mà không có liên quan gì đến buông bỏ hay tham đắm hưởng thụ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hưởng thụ chỉ là sự tham lam miếng ngon, đòi hỏi sơn hào hải vị để thỏa mãn lòng dục, khoe khoang giàu có, mà không phải vì đãi khách, vì lễ nghĩa. Hưởng thụ chỉ là cố ý ăn diện, khiến người khác chú ý, hâm mộ, chỉ vì sĩ diện hão. Hưởng thụ là chỉ phóng túng lòng dục, vung tiền như rác, ăn chơi trong quán rượu phòng trà, vũ trường, thanh lâu, tìm lạc thú trong kích thích giác quan. Những phương cách hưởng thụ như trên, người Phật tử quyết nên dứt bỏ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Tiết kiệm quan trọng hơn tăng thêm thu nhập: <I>Nguyên văn: Tiết lưu cách trọng ư khai nguyên. Đây là từ thành ngữ Trung Quốc "Tăng thêm thu nhập giảm chi tiêu" mà ra. Khai nguyên là khơi nguồn, chỉ khai thác thu nhập, tiết lưu là hạn chế dòng chảy, chỉ tiết kiệm chi tiêu. Cho nên ở đây ý tác giả muốn nói: Sự tiết kiệm chi tiêu còn quan trọng hơn gia tăng thu nhập; sự dè xẻn phước báo còn quí hơn làm phước.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">6. <B>CÁC PHẬT TỬ CÓ QUAN NIỆM VỀ ĂN UỐNG NHƯ THẾ NÀO?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi Phật giáo ra đời tại Ấn Độ, các tín đồ không có thói quen hay qui định đặc biệt nào về việc ăn uống. Ấn Độ là một nước có tín ngưỡng tôn giáo phổ biến, cho nên những người theo tôn giáo thường có quan niện về ăn uống gần giống nhau. Các vị Tỳ kheo, Tỳ kheo Ni thời Phật giáo Nguyên thủy, sống bằng nếp sống <B>bình bát cơm ngàn nhà</B>, theo từng hộ khất thực. Họ không chọn lựa đối tượng, cũng không có kiêng kỵ thức ăn là tinh khiết hay không tinh khiết, thần thánh hay không thần thánh. Tất cả đều vì lẽ bình đẳng, rộng kết duyên lành. Các nước thuộc Thượng Tọa Bộ như Srilanca, Mianma, Thái Lan v.v... theo truyền thống hiện nay vẫn giữ lại phong cách xưa, nghĩa là cúng dường cái gì thì nhận cái nấy, không phân biệt lựa chọn. Chỉ cần người cúng không vì cúng dường mà cố ý sát sanh, thì dù thịt, cá cũng không từ chối. Đây là nguyên nhân vì sao Phật giáp Nam Tông không qui định buộc phải ăn chay.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ăn chay là điều mà Phật giáo coi trọng và khích lệ. Ta vì lòng từ bi mà ăn chay chứ không phải vì lý do sức khỏe hay kinh tế. Thực ra ăn thịt không những tổn lòng từ bi mà còn có hại đến sức khỏe. Cho nên các kinh Đại thừa như <B>Kinh Phạm Võng, Kinh Lăng Nghiêm</B> đều nghiêm cấm ăn thịt.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đến như các thứ tanh và hôi nồng thì cần phải phân biệt. Các món tanh chỉ là thịt cá. Các món hôi nồng chỉ là tỏi, hành lá, củ hành, hẹ v.v... <B>Kinh Lăng Nghiêm</B> bảo: <I>Các thức đó ăn sống sẽ sinh tâm sân, ăn chín sẽ tăng lòng dâm</I> Trong giới Tỳ kheo thì qui định: <I>Ai ăn hành tỏi phải ở riêng, hoặc cách người khác xa khoảng mấy bước, hoặc ngồi dưới gió hoặc xúc miệng cho đến khi hết hôi mới thôi.</I> Đây chủ yếu vì không phiền nhiễu đại chúng, cho nên không được ăn các thứ hôi nồng. Lại nữa, trước khi tụng kinh tốt nhất không nên ăn hành tỏi, để tránh quỉ thần đến nghe kinh khởi tâm tham sân. Còn như ớt, tiêu, ngũ vị hương, tàu vị, ngò, hồi hương, vỏ quế v.v... đều kể là hương liệu, không phải món hôi nồng không nằm trong luật cấm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Không được uống rượu là nét đặc biệt của Phật giáo tjai Ấn Độ. Các tôn giáo khác không những không cấm uống rượu, thậm chí còn cho rằng rượu có thể khiến con người thông đạt được với thần linh. Cất nấu rượu vốn không phải sát sanh, rượu lại có thể dùng làm thuốc, lý ra tôn giáo không nên cấm kỵ. Song Phật giáo coi trọng trí tuệ, nếu uống nhiều rượu sẽ mất lý trí, ít ai có thể tự chủ, không say loạn sau khi uống rượu. Cho nên vì giữ tâm luôn luôn sáng suốt, tinh tấn tu hành, nhất là việc đạt đến tịnh tâm, người đệ tử Phật cần phải giữ giới không uống rượu. Còn như những người bình thường nếu làm được như Khổng Tử nói: <I>Uống không đến mức say loạn"</I> thì cũng không ảnh hưởng gì lớn cả. Cho nên khi thọ năm giới, nếu không giữ được giới rượu, có thể chỉ hứa giữ bốn giới, cũng không mất đi tư cách làm đệ tử Tam Bảo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nếu dùng rượu để nấu ăn, như đã mất đi mùi rượu và chất say, thì vẫn không nằm trong cấm giới. Cho nên Lý giáo<SUP><B>(1)</B></SUP>, một giáo phái nổi lên thời cận đại ở Trung Quốc, cũng răn không dùng rượu. Trong trường hợp cần dùng rượu, họ lấy giấm để thay thế. Ví dụ như lấy giấm làm gia vị thay cho rượu trong nấu ăn, vì giấm không có chất rượu.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nếu vào tiệm ăn mặn hay vào nhà có người dùng chay, có kẻ dùng mặn, thì tốt nhất nên dùng soong, chảo và bát đĩa riêng. Vì chay mặn mùi vị khác nhau, người ăn sẽ cảm thấy khó chịu, nên theo thói quen cần giữ gìn thanh tịnh. Đại sư Huệ Năng, Tổ thứ sáu Thiền Tông, sau khi khai ngộ được truyền Pháp, bèn ẩn lánh sống với bọn thợ săn, chỉ ăn rau bên cạnh thịt mà thôi. Không ăn thịt là vì lòng từ bi đối với chúng sanh, ăn rau là để duy trì thân mạng trong hoàn cảnh khắc nghiệt. Cho nên chúng ta trong hoàn cảnh bắt buộc, dùng soong, nối nấu mặn để nấu thức chay cũng không sao cả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đối với thuốc lá và các chất ma túy, trong luật Phật chế nếu bệnh thì được dùng theo đơn thuốc của y sĩ. Không những chỉ thuốc lá, ngay cả rượu trong trường hợp bắt buộc phải dùng thì không kể là phạm giới. Hút thuốc là để ngăn ngừa chướng khí. Người tu sĩ sống trong vùng chướng khí mịt mù, có thể hút thuốc vừa phải, song vì oai nghi tốt hơn là nên bỏ thuốc. Còn như hút thuốc chỉ vì nguyên nhân tìm cảm giác kích thích, thị hiếu, hay buồn chán thì giới luật không cho phép. trong các vùng nhiệt đới phương Nam, ăn trầu là để phòng chống các bệnh đường hô hấp. Song nếu không phải vì trị bệnh, thì ăn trầu là một thói quen xấu làm mất oai nghi, ảnh hưởng đến hình tượng của người con Phật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thuốc lá, trầu đều không phải là thứ thiết yếu cần trong ăn uống. Dùng ít chúng có tác dụng trị bệnh, dùng nhiều sẽ hại đến sức khỏe. Ví dụ như uống rượu quá lượng sẽ trúng độc, chất nicotine trong thuốc là tác nhân gây nên chứng sưng phổi, hen suyển và ung thư; nước cốt trầu ăn mòn làm hại men răng, người Phật tử tốt nhất không nên dùng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cuối cùng là những thức ăn làm từ sữa, không thuộc ăn mặn và cũng không có mùi tanh. Bò dê ăn cỏ và ngũ cốc, chất sữa vì vậy không tanh. Cho nên uống sữa không phải sát sanh. Ngày nay người ta có thể nuôi và khống chế số lượng sữa sản xuất, không ảnh hưởng gì đến sự sinh trưởng, phát dục của bò con, dê con. Cho nên vào thời đức Phật, người ta uống sữa một cách phổ biến, đồng thời chế thành năm cấp loại: sữa, sữa chua, kem, bơ, phó mát<SUP><B>(2)</B></SUP> làm món ăn hàng ngày và thức dinh dưỡng thiết yếu, nên trong luật không cấm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Lý giáo: <I>Đây là một giáo phái của Trung Quốc do tiến sĩ Dương Trạch, người huyện Tức Mặc, tỉnh Sơn Đông khai sáng vào năm đầu nhà Thanh. Ban đầu giáo phái này xưng là Tại Lý Giáo. Giáo nghĩa dung hợp với giáo lý của ba nhà Nho, Thích, Đạo, thờ Bồ tát Quán Thế Âm và tôn Thánh Tông Cổ Phật, nhấn mạnh đến thiên lý, chân lý, luân lý và đạo trung hiếu. Giáo phái này chế ra năm giới: Tà dâm, trộm cắp, hút thuốc, nói vọng, uống rượu. Đạo này chủ yếu lưu hành tại miền Bắc Trung Quốc, thừng bị cấm vận động vì cho là Bạch Liên Giáo. Năm 1949 giáo chủ Triệu Đông Thư khôi phục giáo phái này tại Đài Loan, lập ra Tổng Công Sở Lý Giáo, Thanh Tâm Đường, Thánh Lý Học Viện để tích cực truyền đạo.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2): <I>Nguyên văn: Nhũ, lạc, sinh tô, thục tô, đề hồ vốn là những sản phẩm được chế ra từ sữa. Dịch giả dùng từ thông dụng hiện nay cho dễ hiểu, song có thể không đúng lắm với thực tế thực phẩm Ấn Độ thời Phật.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">7. <B>THẾ NÀO LÀ ĐỊNH NGHĨA VÀ PHẠM VI SÁT SANH</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo nguyên tắc, trọng tâm của giới không sát sanh là không giết người. Giết người phạm tội nặng, giết các loài động vật khác phạm tội nhẹ. Chúng sanh vốn bình đẳng như nhau, nhưng chỉ có loài người là có thể gây nghiệp ác, hay tạo nghiệp thiện. Gây nghiệp ác phải đọa vào quỷ đạo hay địa ngục, còn tạo nghiệp thiện sẽ sinh lên cõi trời hay giải thoát khỏi Tam giới cho đến thành Phật. Các loài chúng sanh khác trừ một vài ngoai lệ ít ra, hầu hết đều không biết phân biệt thiện ác. Chúng chỉ có hành vi tự nhiên theo nghiệp thọ báo, mà không có tâm ý tạo tác trong đó. Cho nên chỉ có con người là có thể tu tập và hoằng đạo. Vì vậy giới không sát sanh lấy không giết người làm căn bản.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phạm tội giết người phải đầy đủ ba điều kiện: Một, biết đó là người; hai, có ý mưu sát trước; ba, đã giết chết. Nếu không, chỉ gọi là làm thương tổn, hay phạm lỗi lầm, mà không kể là tội giết người.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Hiện nay giới y học kêu gọi mọi người sau khi chết quyên tặng những bộ phận trong thân thể mình để cấy ghép cho người cần dùng. Ví dụ như tặng giác mạc, thận v.v... là những bộ phận người chết không còn sử dụng nữa, khiến nó sống lại dùng để cứu người. Đây là điều đáng được khích lệ. Nếu lúc sống đương sự đã đồng ý quyên tặng thì không có vấn đề gì cả, còn như lúc mất mới lấy ghép bộ phận thân thể người mất mà không có sự đồng ý trước thì không nên. Vì như vậy người mất còn một phần tham luyến chấp trước, di thể, sẽ sinh tâm sân hận oán thù, ảnh hưởng đến sự vãng sinh vào cõi lành hay Tịnh độ của họ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người chết bình thường trong vòng mười hai tiếng đồng hồ thần thức chưa rời khỏi thi thể, nên còn một phần tri giác. Theo y học phán đoán là đã chết rồi, song theo quan điểm Phật giáo thì vẫn còn chưa thực sự chết hẳn. Song nếu người chết lúc sinh tiền đã lập di chúc quyên tặng bộ phận thân thể, nhằm cứu mạng sống cho một hay nhiều người, thì đó là hạnh Bồ tát xả thân cứu đời, sẽ không có ảnh hưởng gì.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong cuộc sống thường ngày, chúng ta vì giữ vệ sinh môi trường, nhiều lúc cần phải xử lý ruồi, muỗi, kiến, gián, chuột bọ v.v... Đây là điều đã có lệ sẵn từ thời đức Phật. Một hôm thầy Tỳ kheo phụ trách việc dọn dẹp nhà tắm bỗng phát hiện hồ nước tắm do lâu ngày không dùng, sinh ra rất nhiều loại côn trùng nhỏ và không biết xử lý cách nào. Đức Phật thấy vậy dạy: <I>"Hãy đổ hết nước dơ, rửa sạch nhà tắm"</I>. Thầy Tỳ kheo e ngại thưa: <I>Như vậy sẽ hại đến côn trùng"</I>. Đức Phật bảo: <I>"Không phải vì làm hại côn trùng, mà chỉ vì dọn dẹp nhà tắm"</I>. Thầy Tỳ kheo nghe vậy bèn yên tâm. Đây là nói, vì bảo vệ môi trường trong cuộc sống mà phải quét dọn chứ không cố ý giết hại côn trùng, nên không kể là sát sanh. Đương nhiên không thể phun thuốc sát trùng, chỉ có thể dọn dẹp, lau quét, chùi rửa để phòng ngừa hay đuổi đi trùng kiến mà thôi. Nếu môi trường luôn giữ sạch sẽ, ngăn nắp, cho dù có trùng kiến đi nữa thì cũng không nhiều.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi cày cấy khó mà tránh khỏi làm thương hại đến côn trùng. Song vì sự sống bản thân, không chỉ cày cấy mà ngay cả đi đường hay làm việc khác cũng vô ý làm hại đến trùng kiến. Cho nên phải thường niệm <B>A Di Đà Phật</B> để cầu nguyện cho chúng sinh vô tri đó sau khi chết sinh vào cõi lành hay chốn Tịnh độ, thì cũng không kể là phạm giới sát sanh. Đương nhiên cần phải cẩn thận đề phòng, giảm thiểu cơ hội sát hại côn trùng, đây là sự thể hiện lòng từ bi. Nếu biết rõ sát sanh mà tâm không sám hối, thì thật thiếu tâm từ bi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn như các loài thú dữ, rắn rết v.v... do nghiệp lực khiến chúng như vậy. Chúng hại người không có dự tính trước, nên tuy có hành động ác song không có tâm ác, không kể là tạo nghiệp ác. Con người cần phải thông cảm và bảo hộ chúng. Xã hội con người ngày nay không những tránh khỏi bị chúng làm hại, mà còn nhận định được phạm vi không gian cho chúng sinh tồn, hay hạn chế sự sinh sôi nẩy nở của chúng, không để trở thành tai hại cho nhân loại. Đây là nói nên dùng biện pháp phòng chống, không nên dùng biện pháp tiêu diệt. Điều này không những vun bồi lòng từ bi của nhân loại, mà còn làm tròn trách nhiệm bảo vệ thiên nhiên của mình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Những người mới học Phật không hiểu định nghĩa chúng sanh như thế nào, lại thêm hiện nay có người bảo rằng thực vật cũng có sinh mệnh, cũng có tình cảm, nếu nói không sát sanh, thì không những không giết động vật mà ngay cả thực vật cũng không nên giết. Kỳ thực sinh mệnh có thứ bậc khác nhau. Thực vật là vô tình chúng sanh, động vật là hữu tình chúng sanh. Nói chung chúng sanh có thể chia làm ba giai cấp. Cấp cao là con người, đầy đủ ba điều kiện: Một, tế bào sống; hai, có phản ứng thần kinh; ba, có tư tưởng ký ức. Cấp thấp là thực vật, chỉ có tế bào sống, không có thần kinh và ký ức, chúng tuy có phản ứng sống chết, nhưng không có cảm giác khổ vui, càng không có tư tưởng ký ức, nên gọi là vô tình. Cấp trung bình là động vật, chỉ có ít loài động vật cao đẳng như chó, ngựa, khỉ, voi v.v... là có trí nhớ đôi chút, song cũng không có tư tưởng. Đến như loài động vật hạ đẳng thì ngoài phản ứng thần kinh bản năng ra, không có ký ức tư tưởng, song chỉ cần có thần kinh là biết đau khổ, biết sợ chết. Cho nên trùng kiến đều biết trốn tránh cái chết một cách tự nhiên, còn thực vật thì không vậy. Cho nên phạm vi của giới sát sanh chỉ hạn định không giết các loài động vật biết tham sống sợ chết mà không tính đến loài thực vật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật chế giới không cho phép các thầy Tỳ kheo chặt phá cây cối là vì các loại quỉ thần cấp thấp nương vào cây cối, nhờ cây cối che chở. Vì lòng từ bi người tu không đi phá chỗ ở của quỉ thần, không để các loài đó sinh tâm sân hận, mà không phải vì lý do không thể sát hại loài thực vật.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vi sinh vật như vi khuẩn theo sinh vật học là loài giữa ranh giới thực vật và động vật. Chúng không có thần kinh, càng không có ký ức tư tưởng, không thuộc hữu tình chúng sinh, có thể gọi là loài thực vật biết hoạt động. Cho nên giết vi trùng không phải là sát sanh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các loài vi sinh vật trong nước, ngoài vi khuẩn ra còn có các loài sinh vật cao đẳng hơn. Chúng tuy không có thần kinh song vẫn kể là loài động vật. Cho nên các thầy Tỳ kheo thời Phật tại thế phải dùng lọc nước trước khi uống, để tránh sát hại các sinh vật nhỏ. Đấy là do lòng từ bi không nỡ nhìn thấy sinh vật bị giết là không cứu độ. Nếu như nhục nhãn nhìn không thấy, hay thấy mà không thể phân biệt được hữu tình hay vô tình, thì không phải bận lòng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật giáo chủ trương không sát sanh, tôn chỉ chủ yếu là tinh thần từ bi, chúng sanh bình đẳng. Tất cả chúng sinh đều có quyền sinh tồn và tự do. Chúng biết sợ tổn thương, tử vong, thì mọi loài cũng như vậy. Chúng sanh tuy có phân loại cao thấp khác nhau song mạng sống không có phân biệt sang hèn, cao thấp. Nếu như mọi người biết phát huy tinh thần bình đẳng này, thế giới chúng ta sẽ hòa bình, tương thân tương ái, giúp đỡ lẫn nhau, sẽ không có người cố ý làm hại. Tuy kinh Phật có nói đến quả báo sát sanh, giết người thì sẽ bị người giết, ăn qua rồi phải trả lại. Đây là nói lên sự thực nhân quả không sai chạy. Song chúng ta không nên lấy sợ hãi báo ứng làm lý do chính của giới sát. Bởi vì quả báo tuy có, song không phải là tuyệt đối không thể thay đổi. Vun bồi tâm từ bi mới chính là trọng điểm của giới sát, cũng chính là tinh thần hóa độ thế gian của chư Phật, Bồ tát.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">8. <B>VÌ SAO PHÓNG SINH VÀ NÊN PHÓNG SINH NHƯ THẾ NÀO?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phóng sinh có xuất xứ từ kinh điển Đại thừa, thịnh hành ở Trung Quốc, Tây Tạng và lưu truyền đến các nước láng giềng như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam v.v... Phóng sinh đặt trên nền tảng tinh thần từ bi, chúng sinh bình đẳng và quan niệm nhân quả trong sinh tử luân hồi. Người ta thường bảo: <I>"Ăn qua nửa cân rồi phải trả lại tám lạng"</I>.Cho nên nếu có thể vừa không sát sanh, vừa phóng sinh thì công đức sẽ gia tăng gấp bội. Sự tích cảm ứng linh nghiệm của công đức phóng sinh sử sách xưa nay thường luôn nhắc đến.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>Kinh Tạp Bảo Tạng</B> quyển 4 chép: Có một vị Sa di, thầy chú thấy rằng sau bảy ngày, chú sẽ qua đời, nên cho phép về thăm nhà một tuần, song không nói rõ nguyên nhân. Trên đường về nhà, chú trông thấy bờ ao bị lở, nước chảy vào tổ kiến cạnh bên, và đàn kiến đang nhôn nhao tìm đường trốn chạy. Song chúng chạy sao nhanh bằng dòng nước cuốn kia? Trông thấy đàn kiến sắp bị nước dìm chết, Sa di bèn khởi tâm từ bi, dùng y cà sa bọc lấy đất đắp lại chỗ bờ ao bị lở, cứu sống cho cả đàn kiến. Sau bảy ngày ở nhà chú trở lại với thầy. Vừa trông thấy chú bình yên trở lại, vị thầy hết sức kinh ngạc vội hỏi: <I>Có chuyện gì xảy ra trong mấy ngày qua không?</I> Chú Sa di ngỡ ngàng cho rằng thầy bảo mình phạm giới hay đã làm điều gì sái quấy, nên vô cùng lo sợ trả lời là không. Thầy chú là bậc A la hán bèn dùng thiên nhãn quan sát, biết rằng chú đã làm được một việc thiện nhỏ là cứu sống cho cả đàn kiến. Nhờ công đức đó Sa di tránh được chết yểu, về sau hưởng phước trường thọ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Có hai bộ kinh căn cứ của việc phóng sinh mà Phật tử quen thuộc nhất đó là kinh <B>Phạm Võng Bồ Tát Giới</B> và kinh <B>Kim Quang Minh. Kinh Phạm Võng</B> nói: <I>"Người con Phật vì lòng từ bi mà làm việc phóng sinh. Tất cả người nam là cha ta, tất cả người nữ là mẹ ta, mỗi đời ta đều từ đó mà sanh ra, nên chúng sinh trong sáu đường đều là cha mẹ của ta cả. Nếu giết chúng sinh mà ăn, chính là giết cha mẹ của ta, cũng là giết thân cũ của ta. Tất cả đất nước là thân trước của ta, tất cả gió lửa là thể chất của ta. Vì thế nên thường phóng sinh, đời đời thọ sinh. Nếu thấy người đời giết các loài súc sinh phải tìm cách cứu hộ, giải thoát khổ nạn cho chúng. Nên thường giáo hóa, giảng thuyết giới Bồ tát cứu độ chúng sinh".</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bộ kinh thứ hai là kinh <B>Kim Quang Minh</B> quyển 4, Phẩm Lưu Thủy Trưởng Giả Tử cũng có một đoạn ghi lại đức Phật Thích Ca hành đạo Bồ Tát trong thuở quá khứ. Lúc đó Phật Thích Ca là một vị trưởng giả tử tên là Lưu Thủy. Một hôm, ông đi ngang qua một ao nước rất to, khi trời hạn hán. Lúc đó lại có người vì định bắt cá, nên ngăn dòng nước đầu nguồn nơi thượng du, khiến nước trong ao càng lúc càng cạn nhanh. Trưởng giả tử trông thấy cả vạn cá lớn cá nhỏ đang gần kề cái chết, còn mình không cách nào phá vỡ đập chắn nước ở thượng du để dẫn nước vào ao. Vì để cứu sống đàn cá, ông mới bất đắc dĩ xin vị vua nước đó cho hai mươi thớt voi to chở nước đựng đầy trong túi da đến đổ vào ao, cho đến lúc nước đầy ao mới thôi. Đồng thời ông còn cho chúng thức ăn, nhờ vậy mới cứu sống đàn cá.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kinh <B>Phạm Võng</B> là căn cứ lý luận của việc phóng sinh, kinh<B>Kim Minh Quang</B> là y cứ của việc đào ao phóng sinh. Ngoài ra các kinh Đại thừa như Kinh <B>Lục Độ Tập</B> quyển 3, có ghi việc chuộc rùa phóng sinh. Ngài Tam Tạng Huyền Trang trong quyển <B>Đại Đường Tây Vực Ký</B> quyển 9 cũng nói đến câu chuyện Tháp Nhạn. Theo truyền thuyết, nước Ma Kiệt Đà miền Trung Ấn Độ có một ngôi chùa Tiểu Thừa. Các Tỳ kheo trong đó đều dùng tam tịnh nhục. Tam tịnh nhục là ba thứ thịt thanh tịnh mà Tỳ kheo được phép ăn. Đó là thứ thịt không thấy vì mình mà bị giết, không nghe vì mình mà bị giết và không nghi vì mình mà bị giết. Một hôm có thầy Tỳ kheo khất thực không được thịt, vừa lúc đó có đàn nhạn bay ngang qua. thầy liền hướng lên đàn nhạn cầu nguyện rằng: <I>Hôm nay có vị Tăng không nhận được cúng dường, các vị đại Bồ tát nên biết đã đến lúc rồi</I>. Bầy nhạn nghe nói vậy liền sa xuống đất chết. Thầy Tỳ kheo vốn không tin Đại thừa, không tin nhạn là Bồ tát, nên dùng lời đừa cợt để trêu chọc Đại thừa. Không ngờ bầy nhạn đó chính là Bồ tát hóa hiện ra để cảm hóa Tỳ kheo. Thầy Tỳ kheo Tiểu thừa thấy vậy hết sức hổ thẹn, rồi bảo lẫn nhau: <I>Đây là Bồ tát ai mà dám ăn? Từ nay về sau chúng ta nên y theo Đại thừa không ăn tam tịnh nhục nữa</I>. Sau đó các thầy cùng nhau chôn xác chim nhạn, xây tháp để thờ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Do đó có thể thấy, phóng sinh là từ giới sát mà ra, cũng có thể nói giới sát tiến thêm một bước nữa là phóng sinh. Giới sát chỉ ngăn dứt điều ác, là hạnh lành tiêu cực; phóng sinh, cứu sinh mới là hạnh lành tích cực. Nếu chỉ ngăn dứt điều ác mà không thực hành việc thiện, thì không phải là tinh thần Đại thừa. Do đó ở Trung Quốc từ thời Bắc Tề, Tiêu Lương đến nay, đã đề xướng việc chấm dứt ăn thịt, không sát sinh. Phong trào phóng sinh cũng có từ đó dần dàn lan rộng. Từ triều đình cho đến dân gian, từ xuất gia cho đến tại gia đều ưa chuộng ăn chay. Nhà nước trong các triều đại để tỏ ra thi hành chính sách nhân từ, hằng năm qui định mấy ngày không giết thịt súc sinh. Nhà nước từ trung ương cho đến địa phương vì để cầu mưa, giải trừ tai nạn đều làm việc phóng sinh hay cấm giết thịt súc sinh. Ví dụ như Lương Vũ Đế từng ban chiếu chỉ cấm sát hại súc sanh để cúng tế tông miếu. Tỳ kheo Tuệ Lập đời Lương tự đốt hai cánh tay, đi khất hóa các châu, dùng số tiền có được chuộc lại sinh mạng các loài vật rồi đem phóng sinh. Đời Tùy, Thiên Thai Trí Nghị<SUP><B>(1)</B></SUP> đại sư phát khởi việc đào ao phóng sinh, và giảng kinh <B>Kim Minh Quang</B>, kinh <B>Pháp Hoa</B> cho chúng nghe. Vào đời Trần, Tuyên Đế ra sắc bảo quan Tế Tửu trường Quốc Tử tên Từ Hiếu Khắc biên soạn: <I>Thiên Thai Sơn Tu Thiền Tự Trí Nghị Thiền Sư Phóng Sinh Bi Văn (Văn bia phóng sinh của thiền sư Trí Nghị, chùa Tu Thiền núi Thiên Thai)</I>. Đây là khởi đầu của việc ghi chép ao phóng sinh và hội phóng sinh ở Trung Quốc. Từ đó về sau, từ đời Đường cho đến đời Tống, đời Minh đều thịnh hành việc phóng sinh. Như vào đời Đường Túc Tông, quan Thứ sử Nhan Châu Khanh soạn: <I>Thiên Hạ Phóng Sinh Trì Bi Minh Tự (Bài tựa và bài minh trên bia ao phóng sinh trong thiên hạ)</I>. Hai vị đại sư Tuân Thức và Tri Lễ đời Tống cũng hết sức đề xướng việc phóng sinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đời Tống, đại sư Liên Trì<SUP><B>(2)</B></SUP> là vị tích cực đề xướng phóng sinh nhất trong tất cả cao tăng các đời. Trong quyển <B>Trúc Song Tùy Bút</B> của ngài có các bài văn <I>Như Lai Bất Cứu Sát Nghiệp, Thực Nhục, Trai Tố</I>. Trong quyển <B>Trúc Song Nhị Bút</B>, ngài cũng viết các bài như <I>Ý Bạch Thực Nhục</I><SUP><B>(3)</B></SUP>, <I>Giới Sát Diên Thọ, Phóng Sinh Trì, Y Giới Sát Sinh, Nhân Bịnh Thực Nhục</I> v.v... Trong quyển <B>Trúc Song Tam Bút</B>, ngài cũng viết các bài như <I>Sát Sinh Nhân Thế Đại Ác, Sát Sinh Phi Nhân Sở Vi, Nhân Bất Nghi Thực Chúng Sinh Nhục</I> v.v... để khuyến khích việc phóng sinh. Ngoài các bài văn viết về ăn chay, ngài còn soạn bài <I>Nghi Thức Phóng Sinh, Văn Giới Sát Phóng Sinh</I> để mọi người lúc phóng sinh có nghi thức noi theo. Hiện nay có quyển<B>Hộ Sinh Họa Tập</B> do Hoằng Nhất đại sư viết, Phong Tử Khải vẽ gồm sáu cuốn. Ngoài ra còn có cư sĩ Thái Niệm Sinh, hiệu Vận Thần cả đời đề xướng giới sát phóng sinh. Ông biên tập các mẩu chuyện động vật cũng có tính linh và cảm ứng thành một quyển, tên là <B>Loài Vật Còn Như Vậy</B>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Song ngày nay xã hội khoa học kỹ thuật tiến bộ, mật độ nhân khẩu tăng nhanh, không gian sinh sống thu nhỏ, muốn có ao phóng sinh hay khu vực phóng sinh tuyệt đối an toàn tin cậy là điều rất khó khăn. Khó khăn không chỉ ngăn ngừa săn bắn, chài lưới, mà còn do sự hạn chế của môi trường thiên nhiên. Như hiện nay ở Đài Loan và Mỹ chỉ có khu bảo hộ động vật hoang dã. Ngoài ra còn có người do.lòng thương yêu loài vật, hay đứng trên lập trường bảo vệ môi trường thiên nhiên mà khuyên nhắc, kêu gọi mọi người không nên lạm sát, dánh bắt bừa bãi. Mục đích là để tránh phá vỡ thế cân bằng tự nhiên tương sinh tương khắc của loài vật, cũng như cứu lấy các loài động vật quí hiếm đang trên đà diệt chủng. Điều này chỉ tương ứng song không tương đồng với bản ý phóng sinh của Phật giáo. Nếu chúng ta chỉ đem loài vật phóng sinh thả vào khu bảo vệ động vật một cách không hạn chế, một lúc nào đó mật độ đến mức bão hòa, người ta sẽ lấy lý do khống chế sự sinh sôi nảy nở, mà bắt giết bớt đi nhằm điều tiết không gian sinh sống của chúng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vậy thì chúng ta phóng sinh ở đâu? Nếu là cá người ta sẽ câu bắt, nếu là chim người ta sẽ bắn giết, bẫy rập. Lại thêm cá bán ở chợ, chim bán ở tiệm, chỉ số rất ít là đánh bắt từ tự nhiên. Chúng phần lớn đến từ vườn chim hay ao cá do con người nuôi dưỡng. Những con vật này không có khả năng thích ứng với môi trường thiên nhiên, không sao tự kiếm sống để sinh tồn được. Cho nên nếu chúng ta mua phóng sinh thì cũng như sát sinh! Thả con nhỏ sẽ bị con lớn ăn, thả con lớn sẽ bị con người ăn! Thêm nữa loài chim, nhất là loài cá, chúng đều có tính thích ứng sinh tồn riêng. Tùy theo loài cá chỉ có thể sống được trong môi trường chất nước, độ sâu và độ chảy nhất định. Mua cá nước ngọt thả vào biển, mua cá biển thả vào cá nước ngọt, thì khác nào giết chúng. Nếu như chim nuôi ở vườn, chúng chưa từng kiếm ăn trong môi trường thiên nhiên, ngay cả giống cỏ, loại trái nào có thể ăn được trong rừng cũng chưa chưa chắc chắn biết. Như vậy ta thả chúng ra ngoài, nếu không bị đói mà chết thì cũng bị dị loại hay đồng loại bắt ăn. Trước tình hình này, chúng ta có cần phải phóng sinh và có nên phóng sinh không?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đây là một sự thực hết sức không may. Sự hạn chế của môi trường tự nhiên khiến cho việc vận động phóng sinh ngày càng khó khăn. Song điều quan trọng là ở tâm niệm lúc phóng sinh, ví dụ như nguyện cho chúng được kéo dài thọ mạng. Còn như chúng sống được bao lâu? Đây là điều mà chúng ta phải có trách nhiệm tìm hiểu, suy xét và quan tâm đến. Ví dụ như muốn phóng sinh chim, trước hết phải xét xem nên thả loại chim nào, thả ở đâu, lúc nào thả mới tương đối an toàn có hiệu quả. Phóng sinh loài thủy tộc như cá rùa cũng vậy. Trước hết ta phải tìm hiểu, khảo sát xem môi trường sống của chúng ra sao, tập tính thế nào và chúng từ đâu lại. Sau đó ta chọn lúc thích đáng thả chúng vào chỗ an toàn thích hợp nhất. Nếu không chắc chắn một trăm phần trăm cứu chúng thoát nạn, thì năm mươi phần trăm cũng khá lắm rồi. Còn như hôm nay thả ra ngày mai bị bắt lại, thì chúng ta cũng đành chịu vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chúng ta đề xướng việc phóng sinh vì khiến mọi người phát khởi, tăng trưởng lòng từ bi và tâm cứu hộ chúng sinh. Còn như loài được phóng sinh, chúng cũng có nhân duyên, quả báo tội phước riêng của mình. Lúc phóng sinh ta không những cầu nguyện chúng không bị bắt giết trở lại, mà còn khai thị Phật Pháp, quy y Tam Bảo cho chúng. Đồng thời ta cũng phát nguyện hồi hướng, mong sao chúng thoát được thân súc sinh, sinh lại làm người, hay lên cõi trời, hoặc về Tịnh độ, phát Bồ đề tâm, độ khắp chúng sinh. Nói tóm lại, ta chỉ cần tận tâm tận lực làm là được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Trí Nghị đại sư: <I>Tức Trí Giả đại sư, sơ Tổ tông Thiên Thai. Ở Việt Nam thường đọc nhầm là Trí Khải đại sư. Đây là do vì chữ Nghị, tự dạng gần với chữ Khải.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) Liên Trì đại sư: <I>Họ Thẩm, tên Châu Hoằng, hiệu Liên Trì. Ở núi Vân Thê, nên còn gọi là Vân Thê Châu Hoằng.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(3) Ý bạch thực nhục: <I>Là mặc lụa là, ăn thịt cá.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">9. <B>NGƯỜI PHẬT TỬ NÊN KIẾM TIỀN VỚI THÁI ĐỘ NHƯ THẾ NÀO?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Có người hỏi rằng: <I>Làm ăn không thể nói thật, như bán hàng nào thì rao hàng ấy tốt, nếu tự bảo hàng mình xấu ai mà thèm mua. Như vậy người Phật tử có thể buôn bán không? Buôn bán có phạm giới vọng ngữ nói dối không?</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại có người hỏi: <I>Người học Phật không nên có tâm tham, trái lại còn phải biết bố thí. Song buôn bán là để kiếm lời, như vậy có trái với lời Phật dạy hay không?</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lại có người hỏi: <I>Người Phật tử không thể hại người, nếu buôn bán kiếm tiền làm kẻ khác lỗ vốn, như vậy phải làm sao?</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cũng có người hỏi: <I>Người Phật tử có thể làm các việc như mua cổ phiếu đầu tư, cho vay lấy lời, mua bán đất đai nhà cửa không?</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Càng có người hỏi: <I> Người Phật tử có thể mua bán các loại thực phẩm, gạo cám không? Nếu những thức ăn này được bán cho những người chăn nuôi, như vậy có phải là đã gián tiếp giúp người khác tăng thêm nghiệp sát?</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vâng, những vấn đề đó là điều mà chúng ta cần phải thẩm xét, thảo luận. Trước hết cần phải biết, xã hội Ấn Độ trong thời đức Phật Thích Ca, chia thành bốn giai cấp: Một, giai cấp Bà la môn, là những nhà tôn giáo. Hai, giai cấp Sát đế lợi, là những nhà chánh trị, quân sự. Ba, giai cấp Phệ xá, là những người làm thợ hay buôn bán. Bốn, giai cấp Thủ đà la, làm các nghề hạ tiện như sát sinh v.v... Đức Phật ngoài việc không khuyến khích nghề của Thủ đà la ra, các nghề khác ngài chẳng những không ngăm cấm, mà còn khen ngợi. Cho nên Phật tử làm các nghề công thương nghiệp là điều chính đáng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn như nói buôn bán là hành vi nói dối, lừa gạt người khác, đây là điều cần phải bàn xét lại. Bởi vì buôn bán không nhất định phải dùng thủ đoạn như vậy. Nói thách và khoa trương chẳng qua do thói quen và tâm lý của mỗi người tạo ra mà thôi. <B>Hàng thật, giá phải chăng, giữ uy tín</B> là đạo đức nghề nghiệp nên có của giới công thương nghiệp. Và cũng chỉ có uy tín mới có thể làm ăn lớn và lâu dài. Cho nên có nhiều nhà buôn treo chiêu bài: <B>Cửa hàng lâu năm</B>, từ mấy mươi năm cho đến trăm năm để quảng cáo, thu hút khách mua. Tôi đã từng nói: <I>Nếu làm ăn với người thuần thành theo đạo Tin Lành, thì không sợ bị họ lừa</I>. Chúng ta là đệ tử Phật, không nên để người khác nghi ngờ mình dùng thủ đoạn lừa dối để bán được hàng. Điều này không những người Phật tử phải vậy, mà ngay cả người buôn bán cũng cần tuân theo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tất nhiên chúng ta biết, có những người bán hàng nói thách rất cao, là để cho khách trả giá. Song cũng có người bán hàng không dối gạt bất cứ ai, dùng chiêu bài <B>không bán hai giá</B> để thu hút khách. Chúng ta là đệ tử Phật, nên biểu hiện tính thành thật không dối gạt để khuyến hóa mọi người. Có thể lúc đầu làm ăn lợi nhuận kém đi, song về lâu dài uy tín sẽ giúp chúng ta kiếm được nhiều tiền.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người Trung Quốc quan niệm: <I>"Nuôi con chờ lúc về già, chứa lúa phòng khi thất bát"</I> (Tích cốc phòng cơ, dưỡng nhi đãi lão). Làm ăn muốn nmột vốn bốn lời, chẳng qua cũng chỉ vì bảo đảm đời sống vật chất và để lại cho con cháu đời đời được ăn no mặc ấm. Song thời đại đã đổi thay, quan niệm ngày nay không còn như xưa. Các nhà đại doanh nghiệp hiện nay, không nên chỉ vì lợi mình, mà phải cống hiến trí tuệ tài năng để mưu cầu phúc lợi cho xã hội. Đây gọi là: <I>Lấy từ xã hội, dùng cho xã hội</I>. Nếu lấy việc hoàn thành sự nghiệp làm mục đích, lấy tạo phúc cho nhân quần làm lý tưởng, thì sẽ không còn tâm tham. Còn như những người bình thường, trí tuệ tài năng không đủ để cống hiến cho xã hội đại chúng, thì cũng nên lo lấy việc chi tiêu cá nhân, gánh vác trách nhiệm gia đình và quan tâm đời sống nhân viên trong công ty. Đó là giúp đỡ lẫn nhau, cũng là đáp ứng nhu cầu riêng của mỗi người.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì vậy mọi người phải đóng góp năng lực của mình, không luận là tiền bạc, trí tuệ hay công sức. Là người Phật tử, chúng ta kinh doanh buôn bán không phải chỉ vì lợi ích cá nhân, mà quên đi quan tâm giúp đỡ người khác. Xã hội là một quần thể, có mối duyên sinh liên hệ với nhau. Chúng ta tham dự bất cứ việc gì trong đó, đều có ảnh hưởng đến người khác, tác động qua lại và lợi ích lẫn nhau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chúng ta nên kiếm lời hợp lý với tâm lợi mình lợi người. Số tiền kiếm được cũng phải tiêu xài đúng chỗ, không nên vì hưởng thụ vật chất riêng mình, hay xa hoa phô trương chỉ vì sĩ diện hão. Làm được như vậy, kiếm tiềm không phải là có tâm tham. Kinh <B>Thiện Sinh</B> nói: <I>Người cư sĩ thu nhập tốt nhất nên phân làm bốn phần để xử lý:
<p style="padding-left: 30px;"><B>1. Chi tiêu cho sinh hoạt gia đình.
2. Làm vốn đầu tư kinh doanh.
3. Để dành trong nhà phòng khi cần đến.
4. Gửi ngân nhàng lấy lợi tức.</B></I><P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ở Ấn Độ cách nay hơn 2500 năm, kinh tế phân phối như vậy thật là hợp lý. Ngày nay phần để dành trong nhà và gửi ngân hàng nên nhập lại làm một. Ngoài ra, trong bốn phần đó cũng nên rút ra một khoản thích đáng để làm ba việc:
<p style="padding-left: 30px;"><B>1. Phụng dưỡng cha mẹ.
2. Giúp đỡ người thân, bạn bè và kẻ giúp việc.
3. Cúng dường Tam bảo.</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bốn phần trên là để bảo đảm cuộc sống ổn định. Ba việc sau là vì hiếu dưỡng cha mẹ, chăm lo phúc lợi xã hội và hộ trì chánh pháp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật pháp dạy nên làm những nghề nghiệp chính đáng. Đây là những nghề đối với ta, với người đều có lợi vô hại. Như vậy làm gì có chuyện chỉ kiếm lời riêng minh, còn khiến người khác lỗ vốn? Tất nhiên khi mở tiệm làm ăn không khá, hay công ty cứ lỗ lã luôn, thì ai cũng muốn tìm người sang nhượng. Do quan niệm và phương thức kinh doanh khác nhau, năng lực tri thức bất đồng, cộng thêm quan hệ xã hội mỗi người cũng khác, nên cùng một nghề mà người này kinh doanh thành công, còn kẻ kia lại thất bại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Về cơ bản, không nên có tâm hại người, đem điều khốn khó giao cho kẻ khác. Phải mong họ sau khi tiếp nhận sản nghiệp mà ta chuyển nhượng, sẽ ăn nên làm ra. Đừng nên nghĩ rằng: Mình làm không tốt, người khác cũng làm không tốt; cái mình cho là không tốt, người khác cũng nghĩ như mình. Chỉ cần chúng ta không quảng cáo gian dối những thứ mình bán, người mua nhân đó sẽ được lợi ích. Còn như đối phương do nguyên nhân gì khác mà lỗ vốn, ta không cố ý, thì cũng không có quan hệ gì. Tóm lại, người Phật tử làm bất cứ sự nghiệp gì đều phải lấy lòng thành thật tiếp đãi mọi người. Còn như kết quả thế nào, thì không phải trách nhiệm của mình, không cần bận tâm áy náy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mua bán cổ phiếu và bất động sản là đầu tư làm ăn được chính phủ các nước trên thế giới hiện nay công nhận. Công ty cổ phiếu huy động số vốn tư nhân nhàn rỗi, thông qua thị trường chứng khoán trở thành số vốn cho các xí nghiệp đầu tư. Đây là kinh doanh tiền bạc, nhằm phát triển công thương nghiệp, thúc đẩy xã hội kinh tế phồn vinh, thuộc việc làm chính đáng. Song vấn đề ở chỗ, có một số người nắm trong tay số lượng cổ phiếu lớn, cố ý tạo ra sự tăng giảm giá trị cổ phiếu, nhằm thao tứng thị trường chứng khoán. Đây là điều thiếu đạo đức. Muốn thao túng cổ phiếu, chỉ có các nhà đại tư bản mới làm được. Còn những người bình thường chỉ có thể xem tình hình cổ phiếu lên xuống mà mua vào hay bán ra, nên trong đó có phần mạo hiểm. Trong xã hội tiền bạc ổn định, thao túng cổ phiếu là phạm pháp. Các nhà đại doanh nghiệp tuy nắm trong tay số lớn cổ phiếu, cũng không đến nỗi thao túng thị trường, tạo nên sự lên xuống giá trị cổ phiếu. Nếu không, họ sẽ gặt lấy hậu quả việc mình làm, cái được không bù cho cái mất.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn như đầu tư vào việc kinh doanh nhà cửa cũng là việc làm chính đáng. Song xã hội lên án những người đầu cơ trục lợi, bung tiền mua vào bán ra, thao túng giá cả, làm lũng đoạn thị trường nhà cửa đất đai. Đây là hiện tượng bất bình thường, người Phật tử nên tránh không được làm. Còn nếu giá cả phải chăng, mua bán hợp lý, thì đây cũng là một nghề buôn bán, không có gì phải cấm cả.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Việc đem tiềm gửi vào ngân hàng hay hợp tác xã tín dụng cũng là một cách đầu tư. Chơi hụi trong dân chúng, xoay vòng số vốn giúp đỡ lẫn nhau, hay đầu tư vào một xí nghiệp nào đó, cũng là việc lợi mình lợi người, đem lại giàu có cho kinh tế xã hội, đáng được khuyến khích. Song nếu vì tham lời nhiều, cho vay lấy lãi nặng, thì là hành vi vừa thiếu đạo đức vừa nguy hiểm, thường mất đứt luôn cả vốn. Người Phật tử không thể tham lời nhiều mà cho vay, như vậy vừa không an toàn và bóc lột người ta quá đáng, tổn lòng từ bi, tốt nhất là không nên làm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Các loại nghề nghiệp, người xưa có câu: <I>Ba trăm sáu mươi nghề</I>. Trong xã hội công thương nghiệp ngày nay, nếu tính ra còn hơn ba ngàn sáu trăm nghề. Làm người Phật tử, khi chọn lựa nghề chúng ta phải giữ nguyên tắc. Không làm các nghề liên quan đến sát sinh, tà dâm, trộm cắp, cờ bạc, nói dối, cũng như tránh buôn bán các thứ làm say mê người như rượu và ma túy. Nhưng ta không thể bảo chắc một trăm phần trăm là nghề nào không được làm. Ví dụ như mở rạp chiếu phim, nếu chỉ chiếu các phim khiêu dâm, bạo lực thì tất nhiên không nên, còn như chiếu các phim mang tính nghệ thuật, giáo dục, giải trí thì là chánh nghiệp, không sao cả. Còn về vấn đề buôn bán lương thực, chỉ cần động cơ là bán cho người dùng, hay dùng cho công nghiệp chế biến khác thì được. Cho dù người khác mua đem nuôi súc sinh, cũng chỉ là cho súc sinh ăn, bản thân chúng ta không có gây nghiệp sát. Tất nhiên, nếu mình biết rõ thực phẩm này là dùng để nuôi heo, nuôi gà, ta có thể xét đến việc đổi nghề hay đổi hàng để bán. Tóm lại, Phật giáo không khuyến khích làm nghề sát sinh và cũng không gây nghiệp sát. Nếu việc gì có liên quan đến nghiệp sát, thì tốt nhất nên tránh.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">10. <B>PHẬT TỬ CÓ THỂ CÓ CUỘC SỐNG TÌNH CẢM ĐƯỢC KHÔNG?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Tình cảm chỉ là mối quan hệ giữa nam nữ, thân tộc và bạn bè. Đây cũng chính là tình yêu nam nữ, tình cảm người thân và tình nghĩa bạn bè. Đệ tử Phật vẫn là người bình thường, không thể không có cha mẹ, bạn bè, và ngoại trừ người xuất gia ra, thường thì ai cũng nên vợ thành chồng. Phật gọi chúng sinh là <B>hữu tình</B>. Nếu ai thoát ly được ba loại tình cảm trên thì không còn là chúng sinh nữa. Chúng sinh noi theo Phật để học. Chúng ta tiếp xúc qua lại với nhau, đều phải hợp tình, hợp lý, hợp pháp. Nếu Phật giáo chỉ nói đến ly dục, thì không cách nào khiến người bình thường bước vào cửa Phật. Nếu đức Phật giáo hóa không có phần tình cảm trong đó, thì cũng thật khó mà hóa độ chúng sinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật pháp nói từ bi, dường như khác với tình cảm. Nhưng thực ra từ bi được đặt trên nền tảng tình cảm giữa người và người. Cho nên có người gọi nó là tình thương. Tình thương ngoài có điều kiện và không điều kiện ra, còn được chia thành tình thương hữu ngã và tình thương vô ngã. Tình thương của Phật và Bồ tát là tình thương hữu ngã. Tình thương của cha mẹ với con cái là tình thương vô điều kiện; tình thương giữa trai gái, bạn bè có thể là tình thương có điều kiện hay vô điều kiện. Phật pháp phải từ trên tình thương thế gian, hướng dẫn mọi người tiến đến lòng từ bi vô ngã.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Do nơi chư Phật và Bồ tát vô ngã, còn chúng sinh thì chưa thể vô ngã, nên phải từ từ giáo hóa chúng sinh từ tình thương có điều kiện, tịnh hóa thành tình thương vô điều kiện; từ tình thương hữu ngã, dần dần tiến đến lòng từ bi vô ngã. Do đó, Phật giáo không thể mới đầu liền bảo người ta từ bỏ cuộc sống tình cảm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người Phật tử nên xử lý vấn đề tình cảm như thế nào? Gia đình là cơ sở của quan hệ tình cảm. Cơ sở gia đình, theo luân lý đó là tình cảm giữa cha mẹ, và con cái. Tình cảm này được bắt đầu từ tình yêu nam nữ kết hợp vợ chồng, sau đó mở rộng đến thành viên trong nhà và bạn bè thân thích bên ngoài. Do sự cần thiết của gia đình và hoạt động xã hội đã tạo nên tình bạn tất yếu. Tục ngữ Trung Quốc có câu: <I>"Ở nhà nhờ cha mẹ, ra ngoài nương bạn bè"</I>. Lại nói: <I>"Chồng xướng vợ theo, đầu bạc bên nhau"</I>. Những điều này đều đặt trên nền tảng tình cảm. Nếu không có tình cảm, thì sự quan hệ khác nào như máy móc không nhớt, thường xảy ra sự cố, và dễ dàng hư mòn do ma sát gây nên. Mục đích của Phật pháp là giáo hóa phàm phu thế gian, giúp họ từ mâu thuẫn trở nên hài hòa. Vì vậy Phật pháp có hai pháp môn bất biến là từ bi và trí tuệ. Trí tuệ thuộc lý trí, từ bi thuộc tình cảm. Đem lý trí hướng dẫn lòng từ bi. Vận dụng từ bi khiến tình cảm phàm phu từ loạn động trở nên ổn định, từ mâu thuẫn trở thành hài hòa. Tình cảm nếu không có trí tuệ hướng dẫn, sẽ tràn lan gây nên tai họa, hại mình hại người.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Kinh <B>Lễ Sáu Phương</B> ghi: <I>Có một tôn giáo ở Ấn Độ thời Phật tại thế, chuyên dạy người lễ baái sáu phương. Một hôm đức Phật trông thấy một thanh niên tên Thi Ca La Việt đang hết sức chí thành hướng về sáu phương đảnh lễ. Đức Phật hỏi anh ta lễ bái như vậy có ý nghĩa gì? Thanh niên không trả lời được, chỉ trả lời là làm theo di chí của cha. Cha anh lúc sinh tiền lễ bái như vậy, anh là con trai nên phải làm theo. Đức Phật dạy: Trong Phật giáo cũng có lễ sáu phương. Hiếu thuận cha mẹ là lễ phương Đông, cung kính sư trưởng là lễ phương Nam, vợ chồng thuận thảo là lễ phương Tây, thương giúp thân hữu là lễ phương Bắc, thương yêu người dưới là lễ phương dưới, cung kính người tu là lễ phương trên.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đức Phật còn dạy những thái độ đối xử và trách nhiệm của cha mẹ đối với con cái, sư trưởng đối với đệ tử, kẻ dưới đối với chủ, và người tu đối với cư sĩ. Đây toàn là những điều thuộc phạm vi tình cảm, là quan hệ luân lý trong thế gian. Có thể khéo xử lý vấn đề tình cảm và sống cuộc sống tình cảm chính đáng là bước đầu của việc tu hành Phập pháp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phẩm Phật Đạo trong kinh <B>Duy Ma Cật</B> ghi lại một đoạn vấn đáp giữa Bồ tát Phổ Hiện Sắc Thân và ngài Duy Ma Cật. Bồ tát hỏi ngài Duy Ma Cật:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <I>Ông có cha mẹ, vợ con, họ hàng thân quyến, lại cũng có bạn bè thuộc hạ, như vậy không phiền lụy hay sao?</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Duy Ma Cật đáp:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- <I>Mẹ tôi là trí tuệ, cha tôi là phương tiện độ sanh, vợ tôi là pháp hỷ đạt được do tu hành, con gái là tâm từ bi, con trai là thiện tâm và thành thật. Tôi có nhà, nhưng đó là cứu cánh không; tôi có đệ tử, song đó chính là tất cả chúng sinh; tôi có bạn dó là các pháp môn tu hành khác nhau. Những mỹ nữ ca múa xung quanh tôi là bốn phương tiện nhiếp hóa chúng sinh.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phẩm kinh này bao gồm tất cả hoàn cảnh sống của người tại gia. Duy Ma Cật không những không bị những phiền lụy đó trói buộc làm mất tự tại, mà trái lại còn dùng trí tuệ để chuyển vận tâm từ bi. Ông tuy sống cuộc sống tình cảm như người bình thường, nhưng lại có thế giới nội tâm giải thoát riêng của mình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như vậy đủ thấy, người Phật tử không cần phải bài xích cuộc sống tình cảm, chỉ cần làm sao đem lý trí hướng dẫn tình cảm, dùng tình cảm dung hợp lý trí. Nếu có thể dùng trí huệ chỉ đạo tình cảm, thì cuộc sống sẽ trở nên vô cùng phong phú, thuận lợi, hạnh phúc, lợi mình lợi người.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói rằng tu học theo Phật pháp phải lấy trí tuệ làm nguyên tắc, không có nghĩa là chúng ta phải buông bỏ, bài xích, chán ghét tình cảm, mà chỉ là dạy chúng ta nên xử lý tình cảm như thế nào. Ví dụ cha mẹ đối với con cái đương nhiên phải thương yêu chăm sóc, song nếu thương chiều quá đáng, lại thành ra làm hại chúng nó. Nam nữ yêu nhau là điều tất nhiên, nhưng nếu ngoại tình, hay sống phóng túng tình cảm trước khi kết hôn, là điều không nên. Vì như vậy không những sẽ rước lấy sự đổ vỡ hạnh phúc gia đình, mà còn gây ra sự tranh chấp trong xã hội. Ngoài ra trong mối quan hệ giữa họ hàng, bạn bè cho đến thầy trò, người chủ và kẻ giúp việc, cũng phải đặt trên lý trí để thể hiện tình cảm, nếu không chỉ làm phiền nhiễu cho nhau. Tóm lại, Phật pháp không phản đối cuộc sống tình cảm, mà chỉ hướng dẫn chúng ta làm thế nào sống cuộc sống tình cảm hợp lý, hợp pháp.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">11. <B>PHẬT TỬ NÊN CỬ HÀNH NGHI THỨC TANG LỄ NHƯ THẾ NÀO?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lễ tang nên có các Phật sự như tụng kinh, niệm Phật... Trong tang lễ Phật giáo Trung Quốc hiện hành, người xuất gia chỉ lo tụng kinh, mà không phải là người chính yếu hướng dẫn nghi lễ. Các nghi thức lễ tế gia đình và lễ tế đoàn thể v.v... đều giao cho công ty mai táng cử người chủ lễ. Việc tụng kinh, niệm Phật lại thành ra thứ trang sức cho tang lễ thêm phần ấm cúng mà thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nghi lễ Phật giáo đúng đắn, trừ người điều khiển nghi lễ ra, phần chính yếu là các vị xuất gia tụng kinh, niệm Phật hồi hướng công đức cho vong linh. những người tham gia đám tang nên cầm kinh tụng niệm theo quý thầy. Nội dung tụng niệm nên là những bài kinh hay câu kệ ngắn, như <I>Tâm Kinh, Chú Vãng Sinh, Kệ Hồi Hướng</I> và <I>Niệm Phật</I>. Không nên tán, chỉ nên tụng. Nếu không những người tham gia không thể tán theo, sẽ cảm thấy lạc lõng. Sau đó, vị thầy sẽ nói đơn giản về cuộc đời và công đức của người mất, đồng thời có lời khai thị ngắn gọn. Như vậy, chẳng những giúp người mất siêu sinh Tịnh Độ, mà còn có thể an ủi gia quyến, nhắc nhở họ tỉnh giác vô thường, phát tâm hướng về chánh pháp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn những lễ tế của thân tộc và lễ tế của các đoàn thể, tốt nhất nên cử hành vào cùng một ngày. Mọi người đã cùng tham dự lễ tang, đâu cần phải nhất thiết làm riêng. Nếu không, thì ngoài việc kéo dài thời gian ra, chỉ chứng tỏ sự nổi bậc của cá nhân và đoàn thể mà thôi. Nếu cùng ngày cử hành lễ tế cho thân tộc và đoàn thể thân hữu, thì nên chọn thời gian trước nghi lễ chính thức. Nghi thức tang lễ theo tinh thần Phật giáo nên đơn giản, trang nghiêm, thời gian không nên quá một giờ, nhiều lắm là một giờ rưỡi. Còn như rước dàn nhạc Tây, nhạc Tàu, chỉ là việc phô trương bên ngoài, sĩ diện hão mà thôi. Đối với người bình thường, họ có thể cho rằng điều này dùng để an ủi người mất, song đối với người Phật tử, đây chỉ làm quấy nhiễu, trở ngại cho người mất trong việc vãng sinh về cõi Phật mà thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Từ xưa đến nay tang lễ Phật giáo không còn chế độ nhất định. Nhưng ở Trung Quốc (và Việt Nam) khi người mất hấp hối và sau khi mất, những việc như tắm rửa, thay đồ, lập bàn vong, canh di thể, nhập liệm, đưa tang, mai táng, cúng thất, cho đến cúng trăm ngày v.v... nói chung đều có nghi thức cố định.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo pháp môn Tịnh Độ, trong lúc hấp hối nên thỉnh thiện tri thức, người tu hành có kinh nghiệm, không luận là xuất gia hay tại gia đến thuyết pháp, tụng kinh, niệm Phật do đương sự, cho đến mười hai giờ sau khi mất mới được di chuyển thi thể để tắm rửa, thay đồ, sau đó tiếp tục trợ niệm, thay thế cho việc canh di thể. Lại thêm mỗi khi cử hành một nghi thức nào đó, nên khai thị Phật pháp, khiến người mất nhất tâm qui hướng Tịnh Độ. Tốt nhất nên có vị Tăng thuyết pháp khai thị, nếu không thì mời vị cư sĩ nào có kinh nghiệm tu tập lâu năm thay thế cũng được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Đệ tử Phật đối với việc di thể có các cách xử lý như sau: Đặt ngồi trong khám (tọa khám, hay trong rương (tọa cang), rồi hỏa táng hay đem chôn. Nếu ngồi trong khám thì chỉ có nghi thức đóng khám và châm lửa. Nếu ngồi trong rương thì chỉ có nghi thức đóng rương và mai táng<SUP><B>(1)</B></SUP>. Còn như di thể nằm trong áo quan, thì có nghi thức nhập quan. Sau khi nhập quan, hoặc là chôn, hoặc là hỏa táng. Nếu hỏa táng thì đem hài cốt đến thờ trong tháp của chùa, hay nghĩa trang, cũng có người đem hài cốt chôn xuống đất lập mộ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Không luận là hỏa táng hay thổ táng, các nghi thức nên lấy sự niệm Phật, tụng kinh, hồi hướng thay thế cho việc gia quyến luân phiên than khóc, và kèn trống phô trương. Trong xã hội nông thôn ngày xưa, nếu nhà có người già, thường chuẩn bị sẵn áo quan, gọi là cái <B>thọ</B>; chuẩn bị áo tang gọi là áo thọ, để cầu phúc thọ miên trường, đại kiết đại lợi. Trong xã hội công thương nghiệp ngày nay với hoàn cảnh đô thị, không cho phép chúng ta giữ lại phong tục đó nữa, mà thực ra cũng không cần thiết phải như vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Như trên đã nói qua, nghi thức lễ tang theo Phật giáo nên đơn giản, trang nghiêm. Nhất là khi có tang sự, không được sát sinh, đem thịt cá tiếp đãi khách khứa, càng không thể đem rượu thịt cúng tế người mất. Ở Giang Tô Trung Quốc, dùng cơm đám tang gọi là <B>ăn đậu hủ</B>. Vì gia chủ chỉ dùng đồ chay để đãi khách đến điếu viếng, mà thức ăn chay chủ yếu là món đậu hủ. Trước bàn linh cúng các thứ như hương đèn, hoa quả, đồ chay... Còn lẵng hoa, vòng hoa, trướng liễn nên vừa phải. Ngoài tang gia và thân hữu đại biểu tặng vài lẵng hoa, vòng hoa, trướng liễn để tỏ lòng thương tiếc ra, không nên phô trương thái quá. Số tiền do thân hữu đến phúng viếng, trừ khi tang gia nghèo khó giữ lại để lo đám tang và cuộc sống gia đình ra, tốt nhất nên dùng vào việc cúng dường Tam Bảo, hoằng pháp lợi sinh và từ thiện xã hội; rồi đem công đức cúng dường này, hồi hướng cho người mất được thoát ra nẻo khổ, sinh về Tịnh Độ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cha mẹ qua đời, con cháu khóc thương đó là lẽ thường tình. Ngày xưa khi đức Thế Tôn nhập Niết Bàn, trừ các vị đã chứng A la hán, các đệ tử không ai là không thương khóc. Có điều thế gian quen cho rằng khóc than là để chứng tỏ <B>sự vinh dự của người mất<SUP>(2)</SUP></B>, thì đó là việc giả dối. Đệ tử Phật nên làm các Phật sự như tụng Kinh, niệm Phật để thay thế việc khóc than.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Tọa khám hay tọa rương: <I>Tức liệm người mất ở tư thế ngồi, chỉ lưu hành ở Trung Quốc, còn Việt Nam thì hiếm thấy.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2): <I>Nguyên văn: ai vinh, chỉ vinh dự của một người sau khi mất.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">12. <B>NÊN LÀM PHẬT SỰ NHƯ THẾ NÀO?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật sự chỉ là các việc như học Phật và hoằng dương Phật pháp mà đối tượng chủ yếu là con người. Ví dụ như tụng kinh, nghe pháp, giảng kinh, bố thí, trì giới, hành Bát chánh đạo, tu thiền định, sáu Ba la mật đều là làm Phật sự.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Song trong cuộc sống của người dân Trung Quốc nói chúng, họ không có khái niệm thế nào là Phật sự. Thường thì bạn bè hay người thân qua đời, họ mới vì người mất làm một chút Phật sự mang tính bù đắp, vớt vát, gọi là siêu độ, tiến vong. Họ thỉnh những vị Tăng Ni chuyên lo việc tụng kinh lễ sám cho người mất.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi làm Phật sự, gia quyến phần nhiều quan niệm mình là người chủ mướn thỉnh, nên không trực tiếp tham gia cùng chư Tăng Ni đang tụng kinh, lễ Phật. Thậm chí, có khi chư Tăng Ni đang tụng kinh trước đàn tràng, còn gia quyến thì lại ở bên cạnh chén tạc, chén thù, lớn tiếng nói chuyện hay bài bạc với khách! Họ coi việc tụng kinh, niệm Phật như là một hình thức trang hoàng cho đám tang, chứng tỏ vinh dự của người mất. Làm như vậy, chẳng những đối với Phật pháp bất kính, mà còn đối với vong linh vô lễ, chỉ có thể gọi là một hoạt động theo tập tục, mà không phải là làm Phật sự.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Làm Phật sự phải hội đủ các điều kiện thành tâm, cung kính, nghiêm túc, trang trọng. Tốt nhất gia quyến và thân hữu nên đích thân trì tụng, lễ sám, niệm Phật. Lúc cần thiết nên lễ thỉnh Tăng chúng chỉ bảo, dẫn dắt làm Phật sự. Đàn tràng cần phải giữ trang nghiêm, không được bừa bãi, ồn náo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật sự không phải là nghi thức. Không thể xem Phật sự như là một tiết mục trong nghi thức tang lễ. Gia quyến và thân hữu cần phải nhiệt thành tham gia, nếu có thể tụng theo thì tốt, bằng không cũng phải ở đó để lắng nghe hay lễ lạy. Nhờ vào sự thành tâm, cung kính của gia quyến, sẽ cảm ứng với chư Phật và Bồ tát. Nương theo sức thần vào đạo lý Phật pháp, sẽ khai mở tâm trí và cứu độ người mất. Bởi vì làm Phật sự là triệu thỉnh vong linh đến đàn tràng lắng nghe kinh pháp, hóa giải nghiệp lực phiền não, nhân đó siêu sinh thoát khổ. Nếu như gia quyến thân hữu không quan tâm gì đến Phật sự, đã không tham dự, cũng không lễ kính, như vậy nếu có công đức đi nữa cũng vô cùng ít ỏi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì người chết làm Phật sự tốt nhất là trong bảy thất bốn mươi chín ngày sau khi mất. Thường thì người tạo nghiệp ác quá nặng, sau khi chết lập tức sẽ đọa vào ba đường dữ<SUP><B>(1)</B></SUP>; còn người tạo nhiều nghiệp thiện sẽ sinh lên cõi trời ngay sau khi mất; còn tu tịnh nghiệp thành tựu sẽ được vãng sinh về Tịnh Độ. Ngoài những trường hợp này ra, người mất trong vòng bốn mươi chín ngày, đợi nhân duyên chín muồi sẽ tùy duyên, tùy nghiệp chuyển sinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trước khi chuyển sinh, nếu vì người mất làm các Phật sự để siêu độ, thì có thể chuyển nghiệp ác, gây tạo cơ sở nghiệp thiện, khiến người mất khai mở tâm ý, tiêu dần tập khí, bèn được sinh về cõi trời, cho đến vãng sinh cõi Phật. Nếu như người mất đã đọa vào ba đường dữ, nhờ sức công đức do gia quyến và thân hữu làm Phật sự hồi hướng cho, cũng có thể giảm đi nỗi đau khổ, cải thiện được hoàn cảnh ba đường dữ. Nếu như đã sinh về cõi trời, nhờ công đức này khiến cho họ tăng thêm phước lạc; còn như đã sinh về cõi Phật thì phẩm sen cũng được nâng cao. Sau bốn mươi chín ngày tất nhiên cũng có thể làm các việc Phật sự, khiến người mất hưởng được công đức lợi ích. Điều khác nhau là, nếu người mất đã chuyển sinh, hay đọa vào đường dữ, thì không thể nào chuyển đổi được loại chúng sinh<SUP><B>(2)</B></SUP> mà người mất đã thác sinh vào.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo kinh <B>Địa Tạng</B> nói: <I>Nếu muốn siêu độ tiên vong quyến thuộc, nên cung kính cúng dường chư Phật, Bồ tát, đọc tụng thọ trì kinh Phật</I>. Kinh <B>Vu Lan</B> lại bảo: <I>Nên bố thí cúng dường chúng Tăng</I>. Tóm ý kinh dạy, nên đứng trên lập trường gia đình thân nhân, đem những vật lưu lại của người mất, cúng dường Tam Bảo, cứu tế người nghèo khổ, lợi ích xã hội, cho đến bình đẳng bố thí cho tất cả chúng sinh, khiến họ hết khổ được vui. Đây đều là những trợ duyên, giúp người mất thoát ra nẻo luân hồi, sinh về Tịnh Độ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong bốn mươi chín ngày, tốt nhất từ khi lâm chung trở đi không dứt tiếng niệm Phật, đó là trợ niệm. Nếu người mất lúc sống chuyên tu pháp môn Tịnh Độ, thì đương nhiên khi trợ niệm phải niệm hồng danh đức Phật A Di Đà. Nên vài người hay từng người một thay phiên trợ niệm. Nếu người mất lúc sanh tiền không có chuyên tu pháp môn nào cả, thì cũng có thể trợ niệm bằng cách niệm danh hiệu Phật A Di Đà. Còn như lúc sống vị ấy có chuyên tu một pháp môn nào, như thường tụng một bộ kinh hay thường trí một danh hiệu Phật hoặc Bồ tát nào, thì tốt nhất nên theo pháp môn đó trì tụng, hồi hướng cho họ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo tập quán người Trung Quốc, có thể trong bốn mươi chín ngày làm Phật sự là điều tốt nhất. Nếu không, trong bảy ngày, ba ngày, thậm chí một ngày sau khi mất, hay mỗi tuần thất làm Phật sự một lần thì cũng tốt. Điều này tùy thuộc vào điều kiện kinh tế và nhân sự của gia đình người mất quyết định. Vạn nhất gia đình không có khả năng lễ thỉnh một vị Tăng Ni làm Phật sự, thì gia quyến dù chỉ một người cũng nên tụng kinh hồi hướng. Nếu không biết tụng kinh thì cũng nên niệm Phật. Còn như việc đốt giấy tiền vàng bạc, hoặc hàng mã như nhà giấy, xe giấy v.v... cho đến đốt quần áo, đồ đạc người mất lúc sinh tiền. Đó là tập tục dân gian, không có liên quan đến việc làm Phật sự.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo quan điểm Phật pháp, chôn cất trọng hậu là điều không cần thiết, phô trương tang lễ rình rang là việc làm vô nghĩa. Nếu như đem tài vật của người mất và khả năng của người thân ra làm những việc khoe khoang sĩ diện bề ngoài, thì chi bằng đem tiền của đó cúng dường Tam bảo, hoằng dương Phật pháp, cứu trợ người nghèo, lợi ích chúng sinh, rồi hồi hướng công đức cho người mất. Tang lễ nên đơn giản, nghiêm túc, trang trọng, nếu không thì không phải là làm Phật sự, chỉ mượn dịp người thân mất, qua nghi lễ rình rang, thỏa mãn tâm vinh dự hão của mình. Không nên chôn theo người mất những vàng ngọc và đồ đạc quí trọng, vì không có lợi ích gì cho người mất, mà còn lãng phí của cải.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Ba đường dữ: <I>Địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) Loại chúng sinh: <I>Theo Phật giáo, chúng sinh được chia thành sáu loại: Trời, người, A tu la, địa ngục, ngạ quỉ, súc sinh; hay năm loại, tức sáu loại trên, trừ A tu la.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">13. <B>CƯ SĨ CÓ THỂ NHẬN QUÀ TẶNG CỦA NHÀ CHÙA KHÔNG?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo giới Tỳ kheo và Tỳ kheo Ni, nếu lấy vật thường trụ do thập phương tín thí dâng cúng để đem cho hay dùng riêng, không luận là ai, với lý do nào đều phạm tội trộm cắp. Đó là tội lấy trộm vật thập phương Tăng, hay ít ra là tội lấy trộm vật hiện tiền Tăng. Vật thập hương Tăng là vật chung của tất cả chư Tăng mười phương; vật hiện tiền Tăng là vật của Tăng chúng trong một ngôi chùa nào đó. Lấy những vật này, tội lỗi nặng hơn hơn trộm của cá nhân rất nhiều. Cho nên người xuất gia không được lấy dùng riêng của công, đương nhiên cũng không được lấy của nhà chùa ra cho cư sĩ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người xuất gia không luận là lấy của riêng hay chung ra tặng cho cư sĩ, với mục đích lấy lòng họ, mong nhân đó sẽ nhận được sự cúng dường và hộ trì nhiều hơn, đều phạm tội <B>ô nhiễm tại gia<SUP>(1)</SUP></B>. Nói ô nhiễm tại gia là đem tâm ô nhiễm tặng vật phẩm cho tại gia.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Có hai trường hợp cư sĩ có thể nhận quà nhà chùa tặng cho:
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Trường hợp thứ nhất là trong lúc có nạn gấp, như nghèo, đói, bệnh tật, nhận của nhà chùa cứu trợ, tiếp tế. Cứu tế có thể phân ra làm hai loại: Một là vật chất và tiền bạc, hai là tinh thần và Phật pháp. Người tại gia có thể tiếp nhận sự cứu tế về Phật pháp, đương nhiên cũng có thể tiếp nhận được sự cứu tế về vật chất. Những vị đó sau khi ra khỏi cảnh khó khăn, sẽ trở lại cúng dường Tam Bảo và trợ giúp người khác. Trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, đã từng có những tổ chức từ thiện như vậy hết sức thịnh hành.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">- Trường hợp thứ hai là những người làm việc trong tự viện, song cần phải duy trì cuộc sống cá nhân, nhà chùa nên tính công trả cho họ. Nếu các vị ấy phát tâm làm công quả, lại không tiện đem thức ăn đến chùa để nấu, nhà chùa đương nhiên nên cung cấp việc ăn, nghỉ cho những vị này. Các vị tôn đức ngày xưa từng căn dặn: <I>Đối với những vị phát tâm làm việc cho chùa, nên cho họ ăn uống tử tế, thậm chí trả công phải nhiều hơn</I>. Thường thì cuộc sống trong chùa thanh đạm, cực khổ, e rằng người làm công ăn uống không quen, dễ sinh tâm hờn giận. Còn như chùa chiền có những vật dư ra, không phải đem bố thí cho ai, hay không thể đem đổi lầy tiền, thì các Phật tử tại gia cũng nên tiếp nhận với tâm hoan hỉ, để khỏi phải đổ bỏ lãng phí.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cuộc sống tự viện của Trung Quốc và Ấn Độ khác nhau xa. Chùa Ấn Độ không có nhà bếp, không thể tự nấu ăn. Chùa Trung Quốc từ xưa đến nay đều có dự trữ lương thực tự nấu, nhất là khi chùa có pháp hội<SUP><B>(2)</B></SUP>,Phật tử đều dùng cơm tại chùa. Phong tục này tuy không hợp với Phật giáo Ấn Độ, nhưng trong những khu vực Phật giáo Đại thừa, chẳng những chỉ Trung Quốc mà Triều Tiên, Nhật Bản, Việt Nam cũng vậy. Các Phật tử tham gia pháp hội ăn cơm ở chùa là hiện tượng phổ biến. Đây là do nhu cầu thực tế. Có lẽ ban đầu do cư sĩ cùng nhau lo việc nấu nướng, sau đó nhà chùa đứng ra lo liệu, song kinh phí là của Phật tử đóng góp. Đây là vì tạo sự tiện lợi cho các Phật tử, cũng là một trong những hình thức đại chúng hóa và phổ cập Phật giáo. Song nếu chùa chiền chỉ là nơi cung cấp ăn uống, không có Phật pháp để nghe, không có Phật sự để làm, thì sẽ biến thành tiệm cơm chay đại chúng, gốc ngọn điên đảo!
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Ô nhiễm tại gia: <I>Căn cứ phần 2 quyển Trung <B>Tứ Phần Luật San Phồn Bổ Khuyết Hành Sự Sao</B> chép: Nếu Tỳ kheo có tâm mong cầu đem các thứ ra tặng cho người tại gia sẽ khiến người được tặng vui lòng, sinh tâm báo ân, người không được tặng thấy vậy không vui. Hành vi như thế chẳng những tổn hại tâm bố thí bình đẳng, mà còn phá hoại tín tâm thanh tịnh của người Phật tử tại gia, nên gọi là ô nhiễm tại gia.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) Pháp hội: <I>Là cuộc tập hội làm các pháp sự như giảng kinh, trai Tăng, hành lễ tưởng niệm chư Phật, Bồ tát v.v... Hiện nay từ Pháp hội dùng ở Đài Loan thường có nghĩa như tổ chức tụng kinh bái sám, siêu độ vong linh hay tiêu tai giải nạn với số đông tăng ni tín đồ và thời gian từ một đến nhiều ngày.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">14. <B>PHẬT TỬ TẠI GIA NÊN LẬP BÀN THỜ PHẬT NHƯ THẾ NÀO?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vấn đề này nhiều người hỏi đến. Người Phật tử tại gia có cần phải lập bàn thờ Phật ở nhà không? Nếu cần, thì phải thiết lập như thế nào?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Điều này cần phải xem tình hình của mỗi người mà quyết định. Nếu chỗ ở quá chật hẹp, hay ở chung với bạn học hay người cộng sự trong ký túc xá, hay căn hộ tập thể thì không tiện thiết lập bàn thờ. Lúc đến thời khóa tụng kinh, tạm lấy kinh thay tượng Phật, đặt ở vị trí thích đáng, không cần phải hương hoa nhang đèn. Chỉ cần trước và sau khi tụng niệm, chắp tay xá và đảnh lễ để tỏ lòng thành kính là được. Nếu những vị cùng phòng đều là Phật tử, có thể thiết lập một bàn thờ Phật chung. Còn như chỉ một mình thành tâm học Phật, thì không nên lập dị, cố lập bàn thờ, gây mất lòng mọi người.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nếu gia đình chỉ có mình học Phật thì cũng như trường hợp sống tập thể nói trên, không nên lập bàn thờ riêng, gây nên sự bất hòa trong nhà. Không nên vì lý do học Phật của mình, mà khiến cho người nhà đối với Phật sinh ác cảm hay cơ hiềm. Còn như cả nhà tin Phật, học Phật, hay mình là chủ trong nhà, hoặc vợ chồng đồng lòng học Phật mà trong nhà còn chỗ rộng hay phòng trống, thì tốt nhất nên lập bàn thờ Phật hay Phật đường<SUP><B>(1)</B></SUP>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Bàn thờ Phật nên chọn vị trí chính trong phòng khách, cũng chính là hướng ngồi của vị chủ nhà. Lưng tượng Phật không nên sát cửa sổ, mà nên mặt hướng ra cửa, ánh sáng đầy đủ, khiến người bước vào có thể thấy ngay được. Bàn thờ Phật là trung tâm của gia đình, có tác dụng tạo nên sức an định và cảm giác an tâm cho cả nhà. Còn như phương hướng mà thầy địa lý chỉ, có thể tham khảo, song không nên câu nệ, mê tín. Chỉ cần không đặt tượng Phật hướng về nhà vệ sinh, bếp núc, hay trực tiếp đối diện giường ngủ của mình là được. Còn như thiết lập Phật đường, nên chọn một gian phòng yên tĩnh, không phải là chỗ mèo chó ra vào hay trẻ con chơi đùa; cũng không phải là nơi hội hợp khách khứa, nói chuyện, yến tiệc, mà chỉ chuyên dùng để lễ Phật, tụng kinh, hay thiền tu mà thôi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nếu như trong nhà vốn có thờ tượng thần như quan Công, Mã Tổ<SUP><B>(2)</B></SUP>, ông địa hay bài vị tổ tiên, thì không thể do tin Phật, học Phật mà lập tức dẹp bỏ đi, mà phải tiến hành từ từ. Trước hết nên an vị Phật và Bồ tát chính giữa, các tượng thần và bài vị tổ tiên thì hai bên. Không cần đặt riêng bàn hương chân đèn. Tất cả thiện thần và tổ tiên sẽ hộ trì và thân cận Tam Bảo. Sau khi thiết cúng tượng Phật và Bồ tát, họ cũng có thể trở thành đệ tử Tam Bảo, được lợi ích lớn trong Phật pháp. Đợi khi có điều kiện lập riêng bàn thờ Phật hay Phật đường, thì tượng thần có thể được xem là đồ cổ mà cất đi.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn như bài vị tổ tiên có thể đem gửi trong chùa, ở nhà không cần phải thờ. Nếu muốn thờ trong nhà thì có thể thờ dưới tượng Phật hay nơi khác. Nghĩa là lập một bàn thờ tổ tiên riêng, nhỏ và thấp hơn bàn thờ Phật. Ví dụ như chùa có qui mô to, thường lập riêng vãng sanh đường để chuyên thờ linh vị. Còn chùa nhỏ thì ở hai bên bàn thờ Phật, lập bài vị vãng sinh và bài vị trường sinh<SUP><B>(3)</B></SUP>. Như vậy, vừa có thể tỏ lòng hiếu kính nhớ đến tổ tiên, vừa có thể bày tỏ tâm tín ngưỡng chí cao đối với chư Phật và Bồ tát. Tâm tín ngưỡng này khác với lòng hiếu kính.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong nhà thờ Thánh tượng không nên quá nhiều, sẽ trở thành tạp loạn. Một vị Phật có thể đại biểu cho vạn vị Phật; một vị Bồ tát có thể đại biểu cho vạn vị Bồ tát. Phần lớn các gia đình thường thờ tượng Phật Thích Ca, Phật A Di Đà, Phật Dược Sư và Bồ tát Quán Âm. Chọn một trong các vị ấy thờ là được. Nếu thờ tượng Phật và tượng Bồ tát chung, thì tượng Phật đặt ở chính giữa, hay chỗ cao phía sau, tượng Bồ tát đặt ở hai bên hay chỗ thấp phía trước. Cần phải đặt tượng Phật cao hơn hay chính giữa, để tỏ tính tôn quí của Phật. Thánh tượng lớn nhỏ thế nào cần phải thích hợp với kích thước bàn thờ hay không gian Phật đường. Nếu Thánh tượng rất nhỏ làm bằng vàng ngọc quí, thì dùng cái khám điêu khắc nhiều lớp để cúng thờ, làm nổi bậc tính cao quí của Thánh tượng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khi thỉnh Thánh tượng về nhà, nhiều người thích làm lễ khai quang. Theo quan điểm Phật giáo, không nhất thiết phải làm lễ khai quang. Bởi vì tượng Phật, Bồ tát chỉ mang tính tượng trưng, làm đối tượng cho chúng ta tỏ lòng thành kính và nương theo tu hành. Còn Phật và Bồ tát thì có mặt khắp nơi, tùy cơ cảm ứng. Nếu không có Thánh tượng, chúng ta sẽ không có đối tượng tỏ lòng thành kính, cúng dường, đảnh lễ. Nhờ vào phương tiện tu hành này, chúng ta sẽ đạt sự lợi ích lớn lao trong Phật pháp và cảm ứng với chư Phật, Bồ tát. Cho nên, điều quan trọng nhất là tâm tin tưởng chí thành, tâm cung kính, mà chẳng phải ở bản thân Thánh tượng. Cho nên Thánh tượng có khai quang hay không là điều không quan trọng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Thuở Phật còn tại thế, nhân vì ngài lên cõi trời Đao Lợi thuyết pháp cho mẹ ba tháng, đệ tử chốn nhân gian do tưởng nhớ đã tạc tượng Phật cúng dường. Trong đó không thấy ghi đến việc khai quang. Đến đời sau lấy kinh, tượng, pháp vật chùa tháp đại biểu cho đức Phật trụ thế và hóa độ thế gian. Tuy nhiên, nghi thức long trọng có thể khiến nhiều người khởi lòng kính tin, cho nên về sau lần lần càng có nhiều nghi thức cúng dường, mà khai quang là một trong những nghi thức đó. Cho nên ngày nay các chùa nếu có thỉnh, tạc tượng mới, đều tập hợp Phật tử làm lễ khai quang. Đây giống như nghi thức cắt băng khánh thành khi hoàn tất công trình xây dựng, hay lễ khai mạc của trường học hoặc công ty. Làm những nghi thức này là muốn trân trọng tuyên bố cho mọi người biết.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn như trong nhà thờ Thánh tượng chư Phật, Bồ tát, vì không cần phải tuyên cáo với mọi người trong xã hội, nên cũng không cần phải làm lễ khai quang. Chỉ cần chúng ta thành tâm, cung kính an vị Thánh tượng, rồi dùng hương đèn hoa trái cúng dường hàng ngày. Nên giữ nơi thờ luôn sạch sẽ, chỉnh tề, tươi mới, sẽ tạo ra bầu không khí thánh thiện, trang nghiêm, nhờ đó dẫn dắt và làm phát khởi đạo tâm cho người tu hành.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì để giữ không khí trong nhà trong lành, hương thắp cúng cần phải thơm nhẹ. Phật đường trong nhà mỗi lần thắp một cây là đủ, không nên thắp cả bó như thắp đuốc, làm khói hương mờ mịt. Các loại hương tự nhiên như đàn hương, trầm hương là tốt nhất. Không nên dùng nhang do các hương liệu hóa học hay động vật chế thành. Ngày nay Phật đường trong nhà có thể dùng đèn điện thay cho nến. Thường thường phải chùi dọn bàn thờ, lư hương, chân đèn, thay đồ cúng mới. Ít ra phải giữ bàn thờ Phật không có bụi bặm và hoa trái không để khô héo, hư hỏng. Mỗi ngày nên có khóa tụng sáng tối, và hai buổi cúng hương, cúng nước. Trước khi ra khỏi hay sau khi về nhà, cần phải đến lễ Phật trước, để tỏ lòng biết ơn, cung kính và chánh niệm.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Bàn thờ Phật và Phật đường: <I>Hơi khác nhau. Bàn thờ Phật là một nơi tôn trí tượng Phật cùng các pháp khí, vật cúng..., thường đặt ở phòng khách. Còn như nhà nào rộng rãi, dành riêng ra một phòng để tu học, có bàn thờ Phật mọi thứ v.v... thì gọi là Phật đường.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(2) Mã Tổ: <I>Tín ngưỡng Mã Tổ của Trung Quốc là tín ngưỡng một vị nữ thần, giống như tín ngưỡng Thánh Mẫu Cửu Thiên Huyền Nữ, hay bà Chúa Xứ ở Việt Nam, rất phổ biến trong dân gian.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(3) Bài vị vãng sinh và trường sinh: <I>Theo nghi thức của Phật giáo Trung Quốc, bài vị vãng sinh ghi tên người mất để cầu siêu; bài vị trường sinh ghi tên người còn sống để cầu bình an, trường thọ.</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">15. <B>PHẬT TỬ Ở NHÀ THỜI KHÓA TỤNG NIỆM NHƯ THẾ NÀO?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nguyên tắc chủ yếu của thời khóa tụng niệm là theo thời giờ nhất định tiến hành khóa tu. Nội dung gồm: <I>cúng dường, lễ bái, tọa thiền, niệm Phật, tụng kinh, phát nguyện, hồi hướng</I> v.v...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cúng dường là dâng cúng các thứ như hương, hoa, đèn, quả, nước sạch và thức ăn trước bàn thờ Phật. Nếu điều kiện cho phép, mỗi ngày nên thay đổi thức cúng, giữ sự tươi mới. Còn không cũng phải giữ cho bàn Phật không có hoa héo, trái cây hư, bụi bám... Nói chung, phải lấy sự sạch sẽ, chỉnh tề, trang nghiêm làm nguyên tắc.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo thời giờ nhất định tiến hành khóa tu, nghĩa là mỗi ngày vào đúng giờ qui định, hành trì khóa tu thường xuyên của mình. Tốt nhất nên chọn khoảng thời gian nào trí óc thanh thản, thân tâm thoải mái. Thường thì nên tiến hành vào lúc sáng sớm, sau khi thức dậy súc miệng, rửa mặt; và khoảng thời gian buổi tối trước khi đi ngủ. Cả hai khóa tu gộp lại khoảng từ một tiếng cho đến hai tiếng, không nên quá bốn tiếng. Thời gian quá dài e sẽ làm ảnh hưởng đến cuộc sống và công việc gia đình. Nếu hoàn cảnh đặc biệt, cũng có thể định vào buổi sáng hay buổi chiều tiến hành khóa tu cũng được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khóa tụng còn gọi là nhật tụng, vì phải tu niệm mỗi ngày, không thể gián đoạn. Tác dụng của thời khóa tu niệm, cũng giống như ta mỗi buổi sáng thức dậy phải súc miệng, rửa mặt, quét sân, đại tiểu tiện, nhằm giữ sự quân bình thân tâm, cũng là phương cách sống sách tấn, tu tâm dưỡng tánh cho mình. Mục đích tu hành không phải ở hình thức, nhưng hình thức lại có thể giúp cho thân tâm chúng ta được an định, lành mạnh, hạnh phúc. Ngoài việc tự mình tu tập và phản tỉnh ra, còn có chư Phật, Bồ tát, Hộ pháp, Long thiên gia bị hộ trì.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khóa tụng có thể dài ngắn tùy ý, chỉ cần mỗi ngày có định khóa là được. Nội dung tu niệm tùy theo thời gian cho phép và ý thích mỗi người mà quyết định. Song cúng nước, dâng hoa và đảnh lễ là những điều không thể thiếu được. Một mình tụng niệm, không nhất định dùng đến chuông mõ, cũng không cần phải biết tán. Nếu không sợ phiền nhiễu đến kẻ khác, thì cũng có thể dùng mõ nhỏ. Sau khi dâng đồ cúng và đảnh lễ ba lạy xong, buổi sáng tụng từ ba đến bảy <I>Chú Đại Bi</I> , một biến <I>Tâm Kinh</I>. Kế đó đọc ba lần <I>Ma Ha Bát Nhã Ba La Mật</I>, niệm danh hiệu Phật A Di Đà, hoặc Bồ tát Quán Thế Âm, bốn mươi tám biến hay một trăm lẽ tám biến, rồi đọc bài kệ <I>Phổ Hiền Bồ tát Thập Đại Nguyện</I> hay <B>Tứ Hoằng Thệ Nguyện</B>. Cuối cùng là <I>Tam Quy Y</I>, và xướng bài <I>Kệ Hồi Hướng</I>:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Nguyện tiêu tam chướng, trừ phiền não
Nguyện đắc trí huệ chơn minh liễu
Phổ nguyện tai chướng tất tiêu trừ
Thế thế thường hành Bồ tát đạo.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc kết thúc đảnh lễ ba lạy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Khóa lễ buổi tối cũng cúng dường, đảnh lễ, rồi tụng <I><B>Kinh A Di Đà</B>, Sám Hối Văn (cũng có thể thay bằng tụng bảy biến Chú Đại Bi)</I>, rồi tụng một biến <B>Tâm Kinh</B>, ba biến <I>Chú Vãng Sinh</I>, niệm hồng danh Phật A Di Đà hay Quán Thế Âm Bồ tát, bốn mươi tám biến hay một trăm lẽ tám biến, rồi đọc bài <I>Tứ Hoằng Thệ Nguyện</I> <I>Phổ Hiền Cảnh Chúng Kệ, Tam Quy Y, Hồi Hướng Kệ</I>:
<p style="padding-left: 30px;"><I>Nguyện đem công đức này
Hồi hướng cho chúng sinh
Giải thoát ba cõi khổ
Đều phát Bồ đề tâm.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sau đó đảnh lễ ba lạy, kết thúc khóa lễ tối.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vì tham gia khóa lễ, có người tụng mau, có người tụng chậm, có người biết tán có người không, nên trừ trường hợp có thể ra, không nên dùng pháp khí xướng tán, chỉ tụng niệm bình thường là được. Số biến kinh chú đọc tụng, có thể tùy tốc độ nhanh chậm mà gia giảm để bảo đảm dúng thời gian qui định.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nếu thời gian cho phép, ta có thể kéo dài thời khóa tụng niệm từ bốn mươi lăm phút cho đến một tiếng. Trước buổi lễ sáng và sau buổi lễ tối, cũng có thể tăng thêm thời thiền tọa hai mươi lăm đến ba mươi phút. Tốt nhất nên học cách tọa thiền an toàn nơi vị thầy có chánh tri kiến và kinh nghiệm. Bằng không, cũng có thể ngồi ngay thẳng, thân tâm buông xả, niệm thầm Thánh hiệu Phật và Bồ tát, nhất tâm chuyên chú, không gấp mà cũng không hưỡn. Nếu không quen tỉnh tọa, thì cũng có thể dùng cách lễ lạy, ấn định thời giờ hay số lạy, đảnh lễ chư Phật, Bồ tát. Đem tâm không mong cầu để lễ tụng và tịnh tọa là phương cách chính xác, an toàn nhất. Nếu không sẽ dễ dàng phát sinh các huyễn tượng, huyễn cảnh, ảo giác, trở thành chướng ngại cho thân tâm. Người tu hành chân chính không có đòi hỏi điều kiện nào. Tuy nhiên tu hành là có mục dích. Mục đích của việc tu hành nằm ngay ở bản thân mình.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nếu chỉ muốn kéo dài thời gian tụng niệm mà không có ý tịnh tọa hay tăng thêm số lễ lạy, thì có thể sau phần cúng dường lễ bái buổi sáng, tụng thêm <I>Lăng Nghiêm</I> và <I>Thập Chú</I>; sau phần cúng dường lễ bái buổi tối, tụng thêm <I><B>Kinh Phổ Môn</B></I> hay tụng thêm <I>Chú Đại Bi</I> hai mươi mốt biến hay bốn mươi tám biến đều được.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nếu như nhà không có việc, cũng có thể ban ngày vào bất cứ thời gian cố định nào, lễ bái Kinh điển. Phương pháp lễ Kinh trước cũng cúng dường, sau đó lễ mỗi chữ một lạy. Lễ một chữ, nên niệm hai câu đề Kinh. Ví dụ lúc lạy <I><B>Kinh Pháp Hoa</B></I> mỗi một lạy nên niệm thêm: <I>Nam Mô Diệu Pháp Liên Hoa Kinh, Nam Mô Pháp Hoa Hội Thượng Phật Bồ Tát</I>. Nếu lạy <I><B>Kinh Hoa Nghiêm</B></I>, thì niệm: <I>Nam Mô Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh, Nam Mô Hoa Nghiêm Hải Hội Phật Bồ tát</I>. Nếu lạy <I><B>Kinh Kim Cang</B></I>, thì niệm: <I>Nam Mô Bát Nhã Ba La Mật Đa Kim Cang Kinh, Nam Mô Bát Nhã Ba La Mật Đa Hội Thượng Phật Bồ tát</I>. Nếu lạy <I><B>Kinh A Di Đà</B></I>, thì niệm: <I>Nam Mô Phật Thuyết A Di Đà Kinh, Nam Mô Liên Trì Hải Hội Phật Bồ tát</I>. Nếu lạy <I><B>Phổ Môn</B></I>, thì có hai cách niệm. Một, bởi vì đây là một phẩm trong <I><B>Kinh Pháp Hoa</B></I>, nên niệm như cách niệm lạy <I><B>Kinh Pháp Hoa</B></I>, hai, niệm: <I>Nam Mô Quán Thế Âm Bồ tát Phổ Môn Phẩm, Nam Mô Đại Từ Đại Bi Cứu Khổ Cứu Nạn Quán Thế Âm Bồ tát</I>. Nếu lạy <I><B>Kinh Địa Tạng, Kinh Dược Sư</B></I>, cũng có thể theo cách đó mà suy ra.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Lúc lễ Kinh, nên dùng bản Kinh chữ to và miếng giấy bìa dài màu vàng, hay đàn hương dò theo từng chữ để lạy. Lạy đến đoạn Kinh nào, có thể ghi lại, hay dùng giấy kẹp vào chỗ chữ Kinh hay đoạn Kinh đó, làm dấu để lần sau lạy tiếp. Mỗi lần lễ Kinh xong, phải gấp Kinh và lấy vải đậy lại, không được để mở, cũng không được trống. Lạy xong một bộ Kinh, có thể lạy trở lại bộ Kinh đó, cho đến suốt đời phát nguyện chỉ lạy một bộ kinh. Ta cũng có thể phát nguyện lạy những bộ Kinh khác, bao nhiêu bộ đều được cả. Lễ Kinh càng nhiều càng tốt.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trước khi phát nguyện tụng niệm hay lễ Kinh, ta có thể có những điều cầu nguyện cho lợi ích hiện đời hay đời sau. Hay sau khóa lễ, ta cũng có thể hồi hướng công đức cầu nguyện cho tâm nguyện được thành tựu. Nhưng trong lúc làm lễ, phải chuyên tâm chánh niệm theo khóa tụng, không được có tâm mong cầu bất cứ điều gì. Thái độ tốt nhất là: <I>Chỉ vì chúng sinh khỏi khổ, không màng lợi ích cá nhân</I>. Đó chính là tâm lượng tu hành của Bồ tát, thực hiện Bồ tát đạo. Thực ra, không vì lợi ích riêng mình tu hành, công đức đó mới to lớn nhất.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">16. <B>CÓ THỂ TIÊU TAI TĂNG THỌ ĐƯỢC KHÔNG?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nhân quả nhà Phật nói là chỉ sự quân bình của lực lượng tự nhiên, tai nạn xảy ra hay thành đạt hạnh phúc đều là nhân quả báo ứng. Gieo nhân lành sẽ gặt hái quả giàu sang, trường thọ; tạo nhân ác sẽ chuốc lấy quả tai nạn, bệnh khổ. Cho nên theo quan điểm Phật pháp, cách tốt nhất để tiêu tai trừ họa, tăng trưởng tuổi thọ là làm lành lánh dữ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nguyên lý tiêu trừ tai nạn, tăng thêm tuổi thọ là sám hối và phát nguyện. Quả báo đến thì phải chịu, song khi quả báo chưa sanh ra, nếu có tâm sám hối và phát nguyện thì có thể chuyển đổi. Giống như một người phạm tội, trong lúc bị thẩm tra, nếu biết nhận tội và ăn năn, chịu hợp tác cùng quan chức tư pháp, khi phán sử sẽ được giảm án. Ngày xưa có việc <I>mang tội lập công, đem công chuộc tội</I>; ngày nay có tù treo, xử lý nội bộ không khởi tố, hay hòa giải không đưa ra tòa, đều là những thí dụ tuy có nhân phạm tội, song có thể chuyển đổi quả báo.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người cầu tiêu tai giải nạn, tăng phước tăng thọ vì có tâm sám hối nên không thể vừa cầu vừa tạo ác. Người đó còn phải làm các Phật sự như tụng kinh, lễ sám, bố thí, cúng dường để tiêu tai tăng thọ. Đây cũng chính là dùng Phật pháp khai đạo cho oan gia trái chủ nhiều đời trong đường dữ, tâm ý khai mở, giải thoát nẻo khổ, không còn đòi trả nợ cũ nữa. Lại thêm nhờ vào sức phát nguyện, sẽ thay đổi nhân tố của việc chưa phát sinh. Nếu tiếp tục làm ác, sẽ tương ứng với nguyên nhân tai nạn, nếu bỏ ác hướng thiện, sẽ tiêu trừ nguyên nhân tai nạn, xa lìa tai họa.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cho nên phát nguyện, học Phật, tu thiện đều có thể thay đổi vận mệnh ở tương lai. Đương nhiên, trong đó có sức mạnh không thể nghĩ bàn của Phật pháp. Trong Kinh nói, nếu quy y Tam Bảo, đương nhiên cũng sẽ có thiện thần theo hộ trì. Do từ vô thủy đến nay, nhân quả thiện ác tuần hoàn không dứt, vô cùng phức tạp, ân oán qua lại, ai thiếu ai trước từ người bình thường cho đến La hán đều khó mà phân biệt rõ ràng. Nếu dựa vào sức mạnh Phật pháp bất khả tư nghì, và sự bảo hộ của chư thiện thần thì cũng có thể chuyển đổi, không phải chuốc những quả báo đáng ra phải chịu, giống như người giàu sang không có hẹp bụng xiết đòi nợ nhỏ của người nghèo. Cũng vậy khi các oan gia đời trước đã siêu sinh thoát khổ, sẽ không còn tâm oán hận, lấy oán báo oán. Đây chính là đạo lý tiêu trừ tai nạn, tăng thêm tuổi thọ.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">17. <B> GIA TRÌ CÓ HIỆU NGHIỆM THẬT KHÔNG?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nội dung giáo pháp đạo Phật có thể bao hàm nhiều mức độ cao thấp khác nhau: có mức độ <B>tín ngưỡng dân gian</B>, có mực độ <B>tôn giáo cao cấp</B>, có mức độ <B>triết học</B>, cho đến mức độ <B>chứng đạt thực tướng vô tướng</B>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Mức độ <B>thực tướng vô tướng</B> chính là bản chất và cũng là cơ sở của Phật giáo. Vì Phật pháp chủ trương ly dục, không mong cầu, không nương tựa, không chấp trước. Không chấp trước nhị biên: có không, thiện ác, yêu ghét, được mất... một bên nào cả. Cho nên ta gọi <B>Phật pháp vô biên, cứu cánh tự tại</B>. Đã như vậy, thì cần gì phải nhờ gia trì hay gia trì cho người khác?
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Song nhân gian là thế giới phàm phu, tuy ta có dùng tri thức hiểu được cảnh giới giải thoát vô cầu, vô dục mới là cứu cánh tự tại, nhưng một mai khi tự thân gặp phải bệnh chướng, người nhà tai nạn, sự nghiệp không thuận sẽ tự nhiên mong mỏi sức trợ giúp bên ngoài, thần lực gia trì, Phật và Bồ tát cứu độ. Do đó, gia trì tuy không phải là Phật pháp cứu cánh, song Phật giáo vì phương tiện tiếp dẫn, thích ứng nhu cầu đại chúng, nên không có phủ định và phản đối lòng tin và tác dụng của việc gia trì.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công năng gia trì đến từ chú lực, nguyện lực và tâm lực. Người trì chú công phu thâm hậu, bản thân chú ngữ sẽ sinh ra sức cảm ứng, có thể cảm thông quỉ thần, giúp đỡ và gia trì cho người khác. Người có nguyện lực mạnh, có thể dùng tâm phát nguyện cảm thông chư Phật và Bồ tát, cho đến Hộ pháp, long thiên hộ trì, cứu giúp. Người có tâm lực mạnh, có thể ảnh hưởng trực tiếp đến tâm niệm của người được gia trì, làm mạnh thêm ý chí, chuyển đổi quan niệm của họ. Bảo rằng gặp hung hóa kiết, tiêu tai trị bệnh đều do sức mạnh tâm linh làm chủ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sức mạnh gia trì là thay đổi tâm niệm của người được gia trì. Gọi thần lực gia trì chủ yếu giúp người được gia trì an tâm, an thân vượt qua khó khăn, tăng cường dũng khí và nghị lực của họ để đối diện với thực tế, mà không phải là tránh nợ, trốn lánh hiện thực. Đương nhiên nhờ sức gia trì có thể làm giảm áp lực và chướng ngại trước mắt. Sau đó mượn sức gia trì làm đà biến thành sức mạnh tự tu, hóa giải hết áp lực và chướng ngại.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ở mức độ <B>tín ngưỡng dân gian</B>, sức gia trì thụoc về tha lực mà không phải là tự lực. Đây chính là dùng tâm lực, nguyện lực và chú lực của người gia trì trực tiếp giải quyết vấn đề cho người khác. Điều này được dân chúng nói chung tin tưởng và mong cầu. Vì như vậy không cần phải tự mình tu tập, cũng không cần phải trả một giá đắt nào mà có thể giải quyết được nguy cơ to lớn. Đây là lý do vì sao tín ngưỡng quỉ thần trong dân gian được phổ biến như vậy. Song gia trì theo cách ấy mãi, chỉ có thể ngăn tai họa trong một lúc, mà không thể giải quyết vấn đề triệt để và vĩnh viễn. Đây cũng giống như nương tựa thế lực của nhà quyền thế, để tránh sự truy tìm của chủ nợ hay xã hội đen. Một mai thế lực đó không còn nữa, tai nạn sẽ xảy ra, mà còn hung hiểm hơn nhiều.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật pháp không như vậy, nếu bị oan nghiệt túc trái quấy nhiễu, làm chướng ngại thì người gia trì sẽ đem tâm từ bi, sức tu trì của mình ra để cảm hóa, khuyên dắt những oan gia trái chủ đó, khiến họ không còn tâm oán hận, chấp trước, báo thù nữa. Oan gia trái chủ nhân đó sẽ chuyển sinh vào đường lành, người được gia trì nhờ đó được tiêu tai giải nạn, kiết tường như nguyện. Song sau đó đương sự phải quy y Tam Bảo, tu học Phật pháp, tạo phúc cho chúng sinh. Nếu không,họ tiếp tục gây nhân ác, sẽ lại gánh lấy quả báo khổ đau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Có người trì chú Đại Bi vào nước uống, có người đem chú lực, nguyện lực cũng như lời chú phúc lành chú nguyện vào xâu chuỗi, pháp khí, cho đến những vật bình thường để khiến trở thành linh vật có thể trị bệnh, tránh tà, an ổn nhà cửa, giáng phúc v.v... Đây là do sức thần chú và nguyện lực, cộng thêm sức tu, phước đức, tâm lực của người gia trì khiến cho những vật đó trở nên linh nghiệm. Song tùy theo công phu sâu cạn của người gia trì, thời gian linh nghiệm của những vật đó dài ngắn không nhất định. Đây là thuộc phạm vi cảm ứng, chí cần tu trì như pháp là có thể làm được, hoàn toàn tha lực. Nhưng nếu người được gia trì tự mình không tu, thì giống như vay tiền ngân hàng, có thể hanh thông trong một thời gian ngắn, sau đó vấn đề càng nhiều, nợ nần càng lắm. Do đó, gia trì chỉ là phương tiện không phải là biện pháp căn bản.</P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">18. <B>BẬC ĐẠI TU HÀNH CÓ THỂ TIÊU NGHIỆP THAY CHO CHÚNG SINH ĐƯỢC KHÔNG?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Vâng, có người nói như vậy, bậc đại tu hành có thể thay chúng sanh hữu duyên thọ báo. Ví dụ như có người bảo hòa thượng Hư Vân mắc nạn trong sự kiện Vân Môn, bị tra tấn khắp mình thương tích, đến đỗi gần chết, đó là thay thế toàn dân Trung Quốc gánh chịu khổ nạn. Lại có người bảo, vị đại Lạt Ma hay vị chuyển thế nào đó mắc phải bệnh khổ qua đời là tiêu nghiệp cho toàn thể nhân loại. Có người còn bảo, vị đại tu hành nào đó thực hành mọi thứ khổ hạnh, như mùa đông nằm trên tuyết, mùa hè ngồi ngoài trời nắng, hay dùng biện pháp nhờ người khác hành hạ thân thể của mình, vì cầu nguyện cho một số người hay nhân loại được bình an, khỏe mạnh. Thực ra, đây đều là những kiến giải dường như đúng mà lại sai, không phải Phật pháp chánh kiến.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Theo Phật pháp, nhân quả bình đẳng đối với tất cả chúng sanh. Mỗi người do gây tạo nghiệp nhân khác nhau mà chiêu cảm quả báo khác nhau. Nhiều người cùng gây tạo nghiệp nhân giống nhau, sẽ chiêu cảm quả báo giống nhau. Gây nghiệp ác sẽ chịu quả khổ, tạo nghịêp thiện sẽ hưởng phước lành. Cũng giống như ai ăn nấy no, ai nhịn nấy đói. Không có chuyện một người ăn cơm khiến cho nhiều người no. Và nếu người đó nhịn đói, thì cũng không liên quan gì đến mọi người. Cho nên có câu: <I>"Tự mình liễu thoát vòng sinh tử, tự mình lo tiêu nghiệp cho mình"</I>. Đúng như kinh <B>Địa Tạng</B> nói: <I>"Chí thân như cha với con mỗi người một ngã, dù có gặp gỡ, cũng không bằng lòng chịu khổ thay nhau"</I>.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Sức tu của bậc đại tu hành quả có thể ảnh hưởng đến người khác. Nơi nào có bậc đại tu hành, nơi đó sẽ có nhiều lợi ích; thời đại nào bậc tu hành xuất hiện, chúng sinh trong thời đó sẽ được trợ giúp. Đây là do sức tu hành cảm ứng, và ngôn hành của vị ấy cảm hóa, khiến cho mọi người bỏ ác làm lành, quỷ thần nhu hòa hộ trì. Song đây cũng là do chúng sinh trong địa phương, thời đại đó có phước đức, mới được gặp bậc đại tu hành xuất hiện, mà không phải vị đó tiêu nghiệp thay cho chúng sinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nếu bậc đại tu hành gặp phải các đại nạn, tật bệnh nặng, thì có thể có hai trường hợp: Một, Thánh nhân thị hiện tướng phàm phu, chịu đủ tai nạn là vì muốn tiếp cận, cảm hóa chúng sinh; hai, bản thân của bậc đại tu hành chiêu cảm nghiệp báo. Ngay cả thân cuối cùng của Phật và La Hán còn phải thọ báo, huống chi là bậc đại tu hành còn giai đoạn phàm phu? Có vị do tinh tấn tu hành khiến thiên ma lo sợ, hay oan gia trái chủ đời trước nay thác sinh làm thần hay quỷ lo lắng, vì vị ấy nếu giải thoát họ sẽ không thẻ khống chế hay đòi nợ cũ được nữa. Vì vậy chúng sẽ gây ra chướng ngai, khiến vị đại tu hành gặp phải các ma nạn lớn, các tật bệnh nặng. Cũng có khi do sức tu hành lớn, vị đó chuyển những nghiệp nặng đáng phải đọa địa ngục, ngạ quỷ, súc sinh thành những quả báo nhẹ bị tai nạn, tật bệnh trong nhân gian. Cho nên bậc đại tu hành gặp phải những tai nạn, tật bệnh đều là hiện tượng tốt, song đây không phải là tiêu nghiệp thế cho chúng sinh.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Còn như quan niệm chịu thay quả báo, tiêu thay nghiệp chướng là bị ảnh hưởng của tư tưởng thần giáo. Ví dụ như, Jesus chịu chết trên thập tự giá là để chuộc tội cho người đời. Tín ngưỡng dân gian Trung Quốc cũng tin tưởng Bồ tát có thể tiêu nghiệp thay thế cho chúng sinh. Ví dụ như họ tin rằng Phật Dược Sư đã xưng là <B>Tiêu Tai Diên Thọ</B> thì nhất định có thể tiêu nghiệp thế cho chúng sinh. Có người lại nghĩ, Địa Tạng Bồ tát vào địa ngục cứu độ chúng sinh cũng là tiêu nghiệp cho chúng sinh. Càng có người vì tiêu tai tăng thọ cho cha mẹ, người thân mà phát nguyện ăn chay, xuất gia, giảm tuổi thọ, hay cho người thân mượn tuổi thọ của mình. Những quan niệm này đêu xuất phát từ tấm lòng tốt đẹp, song không phù hợp với luật nhân quả căn bản của Phật pháp.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chúng ta chỉ có thể hành thiện, trì giới và đem công đức, sức tu hành hồi hướng cho chúng sinh khiến họ được lợi ích. Điều này giống như dùng tấm gương phản chiếu ánh nắng, rọi vào nơi tăm tối khiến nơi đó trở nên sáng suốt. Song nếu người mù, dù có ánh sáng họ cũng không thể trông thấy. Đây là nói, chỉ có những người có đủ thiện căn mới được sự giúp đỡ của bậc đại tu hành. Cho nên Phật giáo không tán thành những khổ hạnh thiếu lý trí và những hành vi mê tín, như cho mượn tuổi thọ v.v...
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Có người cho rằng, người tu và những kẻ có khả năng cảm thông thần linh có thể trừ tà, đuổi ma, tiêu nghiệp, trị bệnh cho người khác. Đây là điều mà tín ngưỡng dân gian tin tưởng. Song Phật nói định nghiệp không thể chuyển, những nghiệp đáng phải lãnh chịu thì không sao tránh khỏi. Sức mạnh tôn giáo trong tín ngưỡng dân gian, tuy có một số hiệu quả, song không thể nào giải quyết được vấn đề tận gốc rễ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Dùng sức chú thuật và tâm lực của người tu hành có thể tạm thời ngăn nghiệp chướng cho người khác. Song nếu ngăn trở quá nhiều, hay miễn cưỡng ngăn đỡ, thì người sử dụng thuật chú hay nhà tu hành đó sẽ bị ảnh hưởng ngược lại, hoặc bệnh nặng có khi phải chết. Đây giống như dùng ván ép để ngăn lại núi băng sông lở, nhất định bị nước lũ cuốn trôi. Đó không phải là tiêu nghiệp cho chúng sinh, mà là tự mình tạo nghiệp phải rước lấy quả báo. Bởi vì vị ấy làm trái luật nhân quả, nên tuy có tâm tốt làm cho đương sự tạm thời tránh khỏi quả báo, nhưng thực ra, lưới trời lồng lộng tuy thưa mà khó lọt, không hề có chuyện tạo nghiệp ác mà không chịu quả báo ác. Làm trai luật tự nhiên tức là làm trái luật nhân quả. Không luận là dùng sức các vị thần vương của chú thuật, hay tâm lực của nhà tu hành giúp người khác, đều phải đặt trên nguyên tắc tương ứng cả đôi bên. Tức là người được giúp phải có thiện căn, và hồi tâm hướng thiện, cộng thêm chú lực hay tâm lực của người tu hành mới có thể sinh ra hiệu quả tốt đẹp. Đó gọi là <B>cảm ứng đạo giao<SUP>(1)</SUP></B>, tạo nên kết quả tốt đẹp trên nguyên tắc hợp lý, mà không phải ai tiêu nghiệp dùm cho ai.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Cảm ứng đạo giao: <I>Cảm là tự lực, tức tâm thành, sức tu của chúng sinh hay đương sự. Ứng là tha lực, tức sức gia hộ của chư Phật và bồ tát. Tự lực và tha lực kết hợp tâm thành và sức gia hộ giao tiếp, tạo nên hiệu quả nào đó, gọi là cảm ứng đạo giao. Sức gia hộ của Phật và Bồ tát như trăng sáng, chỉ cần chúng sinh chí thành, thanh tịnh như nước trong, sóng lặng, thì "Ngàn sông có nước, ngàn trăng xuất hiện, muôn dặm không mây, muôn dặm trời"</I></P>
</span></span>
 

Tuấn Tú

Well-Known Member
Tham gia ngày
18 Tháng 1 2013
Bài viết
1,072
Reaction score
286
Điểm
83
<span style="font-family: Times New Roman; font-size:16pt"><span style="color: blue;">
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">19. <B>TRÌ CHÚ CÓ CÔNG HIỆU HAY KHÔNG?</B>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Công dụng của chú ngữ là điều nên khẳng định. Chú là những phù hiệu do âm phù và ngữ cú đặc thù hợp thành. Nó đại biểu cho tôn hiệu và lực lượng của các vị thần linh và chư Phật, Bồ tát. Trong tôn giáo của dân tộc Nguyên thủy đã có thần chú.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Chú ngữ thông qua sự môi giới của những người giao cảm với thần linh mới có. Thần linh truyền dạy thần chú và được dân gian sử dụng. Không luận là ở phương Đông hay phương Tây, đều có thần chú lưu truyền và nhiều người tín ngưỡng, sử dụng. Trong dân gian Trung Quốc <I>bùa</I> và <I>chú</I> dùng chung. Bùa là dùng viết vẽ thành phù hiệu, cũng đại biểu cho sức linh thiêng của một vị thần nào đó. Cho nên khi gặp một số việc bất như ý nhỏ, dùng sức bùa chú có thể đạt đến hiệu quả trừ tà, tránh hung hiểm, gặp kiết tường. Đó là điều mà hiện nay người ta bảo: <I>Cách trị liệu theo tập tục dân gian.</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong thời Phật tại thế, cũng có số ít đệ tử sử dụng chú thuật tương tự, song đã bị Phật răn cấm. Sau khi đức Phật diệt độ, thành phần giáo đoàn lần lần phức tạp. Có một số người trước đây là thầy chú thuật ngoại đạo, sau đó quy y Tam Bảo trở thành Tỳ kheo. Do đó, trong quyển 27 <B>Tứ Phần Luật</B> và quyển 46 <B>Thập Tụng luật</B>, đều có ghi lại việc dùng chú trị bệnh. Song theo căn bản Phật pháp, có bệnh nên đi bác sĩ, gặp tai nạn nên sám hối. Tâm lương thiện làm các việc lành mới là cách tốt nhất giải tỏa oan kết, chuyển hung hiểm thành kiết tường. Vì vậy, về nguyên tắc, Phật giáo không coi trọng sử dụng chú ngữ <I>(Xin tham khảo sách <B>Thế Giới Phật Giáo Thông Sử</B>, trang 215-216 của cùng một tác giả).</I>
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Song nếu trì tụng trùng lập một loại ngữ cú đặc định nào đó, sẽ sinh sự linh nghiệm. Trong đó, tất nhiên có sức thần linh cảm ứng, song điều quan trọng vẫn là sức tập trung tâm niệm của người trì tụng. Cho nên người trì tụng càng lâu, càng có sức hiệu nghiệm. Nếu có thể chuyên tâm nhất ý, trì tụng liên tục một bài chú, thì cũng có thể đạt được trạng thái thân tâm thống nhất, từ hữu niệm đi vào thiền định vô niệm. Cho nên Phật giáo trong thời kỳ sau, không có phản đối pháp môn trì chú. Đồng thời, chú ngữ tiếng Phạn có nghĩa là tổng trì, cho nên một chú pháp thâu nhiếp tất cả các pháp, chỉ cần trì tụng đúng pháp bất cứ một chú ngữ nào, lâu ngày sẽ có hiệu nghiệm lớn. Chủ yếu là do người trì chú kiêm giữ giới, tu thiền định sẽ sinh ra sức từ bi và trí tuệ, tiêu trừ chấp trước, nghiệp chướng, cho nên cảm ứng được với sức bản thệ nguyện của chư Phật, Bồ tát.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Do đó nếu hỏi: <I>Chú ngữ nào là vua của các chú?</I> Theo nghĩa tổng trì nói: <I>Bất cứ chú nào chỉ cần trì tụng đắc lực, đều là vua của các thần chú</I>. Trừ những tà pháp, tà chú dùng để hại người lợi mình, hoặc dùng để báo thù rửa hận, tất cả chú đều có thể trì tụng.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Phật giáo Trung Quốc trong thời kỳ đầu cũng không coi trọng trì chú. Nếu ai trì chú sẽ bị coi là tạp tu, tạp hạnh. Cho nên tuy Mật giáo truyền vào Trung Quốc rất sớm, thời Ngụy Tấn <B>Khổng Tước Vương Kinh Chú</B> đã được dịch ra, còn chú Đại Bi được dịch thành tiếng Hoa vào đời Đường Túc Tông, nhưng mãi đến đời Tống, chú ngữ mới được thiền sư Tứ Minh của Thiên Thai tông đề xướng mà phổ cập, chú Lăng Nghiêm vào cuối đời Đường đã truyền vào Trung Quốc, song mãi đến đời Tống về sau, nhờ vào <B>Kinh Lăng Nghiêm</B> phổ biến mới được các chùa coi trọng, dùng trong khóa lễ hàng ngày. Cuối đời Minh, biên tập quyển <B>Thiền Môn Nhật Tụng</B> đã thu thập khá nhiều chú ngữ.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Cho nên Phật giáo truyền đến Nhật Bản trong đời Đường, Tống không có lưu hành chú ngữ. Ngoài Mật Tông ra, các tông phái khác không coi trọng chú ngữ, như Tịnh Độ Tông chuyên niệm Phật, Thiền Tông chuyên tham thiền, Thiên Thai Tông chuyên tu chỉ quán. Giới Phật giáo Nhật Bản cảm thấy kỳ quái trước hiện tượng mọi người đều kiêm tu pháp môn trì chú của Phật giáo Trung Quốc cận đại. Nhưng trong dân gian Trung Quốc, có nhiều lệ chứng rõ ràng về việc trì chú Đại Bi được cảm ứng. Cho nên chúng ta không thể phản đối pháp môn trì chú.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Trong chú ngữ mà Phật giáo sử dụng hiên nay, phần nhiều là tên các vị thần vương, và các tôn hiệu đại biểu thần lực. Đây là do tư tưởng Phật giáo Đại thừa coi tất cả sức mạnh thiện pháp và tác dụng sinh ra công đức đều do Phật, Bồ tát huyền hiện hoặc hóa hiện. Cho nên Phật giáo Đại thừa xem tất cả thần vương, quỉ vương là đại biểu cho Phật, Bồ tát. Chú ngữ của Phật giáo tất nhiên có danh hiệu chư Phật, Bồ tát, cũng có lời qui kính Tam Bảo trong đó, song chẳng qua đều dùng âm tiếng Phạn dịch trực tiếp mà không dịch nghĩa theo Hán ngữ. Ví dụ như nói: <I>"Nam Mộ Phật Đà, Nam Mô Đạt Ma, Nam Mô Tăng Già"</I>, chính là qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng theo âm tiếng Phạn. Cho nên nếu trì tụng <B>Nam Mô Quán Thế Âm Bồ tát</B> cũng chính là trì chú, song ý nghĩa rõ ràng hơn.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Người trì chú chân chính cũng coi trọng phát âm, tốt nhất là dùng cách phát âm tiếng Phạn. Mỗi một âm tiết tiếng Phạn đều có ý nghĩa và tác dụng nhất định. Nhưng tu trì tất cả pháp môn đều lấy tâm làm chủ, phát âm chỉ là thứ yếu. Cả ngàn năm nay người Trung Quốc trì niệm theo âm của mình không có một hậu quả hay tác dụng xấu nào, và cũng không giảm đi sự hiệu nghiệm tư trì. Giống như chú Đại Bi, người Tây Tạng, người Hàn Quốc, người Nhật Bản, người Việt Nam và người Trung Quốc đều phát âm khác nhau, song trì tụng đều có hiệu quả như nhau.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Nói mật phó, mật truyền chú ngữ là chỉ những mật pháp được Phật giáo Tây Tạng liệt vào hạng cao thâm, như <I>Du Già Mật</I> và <I>Vô Thượng Du Già Mật</I>. Những mật pháp này có nghi quỹ và trình tự tu trì nhất định, chú trọng sự dẫn dắt tâm lý, nên cần có thầy truyền thọ. Còn các chú ngữ sử dụng thông thường thì không cần như vậy.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify">Ngày nay có những quỉ thần giáo tự xưng là thượng sư, hay ngoại đạo dựa vào Phật giáo đều nói đến mật pháp, mật truyền. Các phái ngoại đạo ở Ấn Độ cũng có những hiện tượng tương tự, như pháp <B>tĩnh tọa siêu giác</B> lưu hành hiện nay, có tự quyết, mật chú riêng. Nhất Quán Đạo ở Đài Loan cũng có <B>khẩu quyết năm chữ<SUP>(1)</SUP></B>. Những loại truyền bá mật pháp như vậy, thật là hiện tượng không lành mạnh trong xã hội.
<P style="TEXT-INDENT: 25pt; TEXT-ALIGN: justify"><B>CHÚ THÍCH</B>:
<P style="TEXT-INDENT: 42pt; TEXT-ALIGN: justify">(1) Khẩu quyết năm chữ: <I> Nội dung năm chữ đó là "Vô thái Phật Di Lặc".</I></P>
</span></span>
 
Top