Niệm Phật tam-muội bảo vương luận

Status
Không mở trả lời sau này.

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Chánh văn

3.-Minh Tôn:

Tôn chỉ là chỗ cốt yếu của tu hành, là điều kiện tất yếu để trở về bản thể. Nếu người tu hành không rõ tôn chỉ thì làm sao có thể lảnh hội được diệu thể không thể nghĩ bàn, nên trước đã hiển thể, sau phải minh tôn. Trước hiển thể là chỉ bày Tánh đức, còn minh tôn là chỉ bày chỗ Tu đức. Nên biết, Tu đức nếu có công mới hiển bày được Tánh đức.

Luận này lấy nhân quả cùng thời làm Tôn. Có người cho rằng Thể tức là Tôn, Tôn tức là Thể. Thực ra Thể thuộc về Tánh Đức không phải nhân, không phải quả, còn Tôn thuộc về Tu Đức có nhân có quả, vì trước tu là nhân, chứng được là quả. Tuy vậy Tôn Đức và Tánh Đức không phải một, không phải hai, nên không thể nói là một, cũng không thể nói là khác. Cũng như cột kèo của cái nhà là giềng mối của cái nhà, nhờ có cái nhà mà ta có một khoảng trống do cột trụ tạo ra, nhờ có cột kèo mà ta có khoảng trống để che mưa đở nắng, nhưng không thể nói kèo cột là khoảng trống của nhà vì kèo cột không phải một, lại cũng không nói khoảng trống là kèo cột vì khoảng trống và kèo cột không phải hai. Kèo cột dụ Tôn, khoảng trống dụ Thể. Nếu nói là một thì có nhiều lầm lẫn, vì bỏ kèo cột ra thì không có khoảng trống cái nhà, lìa khoảng trống thì không thấy kèo cột, hai cái đó không thể lìa được nên gọi là chẳng phải khác. Nói Thể và Tôn khác nhau thì lầm lỗi rất lớn, nếu Tôn khác với Thể thì Tôn không thể hiển Thể, Thể nếu khác với Tôn thì không phải là Thể của Tôn.

Nói nhân quả cùng thời là vì nhân gồm biển quả, quả thấu nguồn nhân, nhân quả hợp nhau nên gọi đồng thời. Trong Phổ Hiền Quán kinh nói : 'Nhân của Đại thừa là thật tướng của các pháp, và quả của Đại thừa cũng là thật tướng của các pháp.' Trước nói Thể là chỉ Ông Phật sở niệm. Nay nói Tôn là chỉ cho Tâm năng niệm, đã biết Phật thông cả ba đời là biết Cảnh dọc trùm ba phía, Tâm niệm chư Phật là biết Tâm ngang khắp mười phương, Tâm và Cảnh không hai, không có ngang dọc, Tâm Cảnh rõ ràng cũng ngang cũng dọc, như con mắt của Ma Hê Thủ La Thiên giống ba góc hình tam giác đều, không ngang không dọc, không cùng không khác. Trong luận nói : Lưới châu của Đế Thích chưa mở ngàn viên ngọc chiếu bày, lưới vừa mở toang, muôn mắt đều mở. Đầy biển cả phải dùng trăm sông, niệm được Phật danh chắc thành Tam muội.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Chánh văn

4.- Luận dụng:

Dụng là lực dụng. Đa số kinh điển Tịnh độ lấy việc lìa khổ được vui làm lực dụng, thường cho cõi Ta bà bị năm món trược làm khổ, được về An dưỡng được năm thứ thanh làm vui. Chỉ có luận này lấy khổ vui đều quên làm lực dụng. Nếu chỉ niệm Phật hiện tại, như trong chương Thế Chí niệm Phật Viên Thông nói : 'Các đức Như Lai trong mười phương thương nhớ chúng sanh như mẹ nhớ con, chúng sanh niệm Phật như con nhớ mẹ, khi con nhớ mẹ như mẹ nhớ con thì mẹ con nhiều kiếp không hề xa nhau. Tâm chúng sanh nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền hoặc tương lai chắc được thấy Phật, không cần dùng phương tiện, tự được tâm mở tỏ. Nhơn địa tu hành của tôi, dùng tâm niệm Phật được vô sanh pháp nhẫn, nay ở thế giới này tiếp dẫn người niệm Phật về cõi Tịnh độ'. Lìa cái khổ của thế giới này về chỗ vui của Tịnh độ là lực dụng hầu hết các kinh luận Tịnh độ. Luận này thì trước niệm Phật vị lai, kế đó niệm Phật hiện tại, sau đó niệm chung chư Phật ba đời đều là Phật. Ý nói rằng : Chúng sanh đều là Phật, chúng sanh và Phật không hai. Đã nhận chúng sanh và Phật không hai cảnh giới, thì không có lòng ghen ghét. Không ghét thì không có cái khổ để muốn xa lìa, không yêu thì không thấy cái vui có thể được, vì cõi tịnh và cõi uế vốn không hai, nên dùng khổ vui đều quên làm lực dụng. Trong quyển thứ nhất của Luận này, Ngài Văn Thù dạy người nữ nói : 'Tánh Bồ đề vốn không, thân cô cũng không.' Phật bảo Trưởng Giả Tử nói : 'Nếu quán thân thật tướng, quán Phật cũng vậy, thì các pháp hữu vi liền thành vô vi. Ở chỗ có chưa từng có, ở chỗ không chưa từng không, lo gì Phật có tướng? Tâm có niệm !' Trong đoạn này ý nói thánh trí bồ đề và thân phàm tình của ông không khác; chỉ cho thánh phàm không hai. Ở chỗ có chưa từng có, ở chỗ không chưa từng không, chỉ không trụ ở hai bên. Lo gì Phật có tướng, tâm có niệm, trong Đạo chẳng an, lực dụng như thế thật mầu nhiệm.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Tư duy

* Thế nào là "vô sanh pháp nhẫn" ?

- Theo Tự điển Phật Quang:

Bồ tát không thấy có pháp sinh, không thấy có pháp diệt;

nếu không sinh thì không diệt, không diệt thì không hết,

không hết thì lìa cấu, lìa cấu thì không hoại,

không hoại thì chẳng động, chẳng động thì vắng lặng,

Đó là Vô sinh pháp nhẫn.
* Như vậy người được " Vô sanh pháp nhẫn" là tương ưng Tánh không, là tương ưng Như, là thể nhập Thật tướng.

* Luận này lấy thật tướng để làm chỗ Dụng. Thật tướng là Vô sanh pháp nhẫn đó. Ví như:

- khổ vui đều quên. Vì khổ là tánh không. vui cũng là tánh không vậy là bình đẳng Vô sanh (vì tánh không là vô sanh).

- chúng sanh và Phật không hai. Vì chúng sanh là tánh không. Phật cũng là tánh không vậy là bình đẳng Vô sanh.

- cõi tịnh và cõi uế vốn không hai. Vì cõi Tịnh là tánh không. Cõi uế cũng là tánh không vậy là bình đẳng Vô sanh.

- Hữu vi liền thành vô vi. Vì Hữu vi là tánh không. Vô vi cũng là tánh không vậy là bình đẳng Vô sanh.

* Được "Vô sanh pháp nhẫn" như thế. Thì lo gì Phật có tướng, tâm có niệm, trong Đạo chẳng an, lực dụng như thế thật mầu nhiệm.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Chánh văn

5.-Phán giáo.

Tổ Thiên Thai Trí Giả Đại sư dùng năm thời tám giáo để giải thích một đời thuyết giáo của đức Như Lai. Năm thời gồm có thời Hoa Nghiêm, A Hàm, Phương Đẳng, Bát Nhã, Pháp Hoa Niết Bàn. Để dễ nhớ, cổ nhân có bài kệ :

Hoa Nghiêm tối sơ tam thất nhật

A Hàm thập nhị, Phương Đẳng bát.

Nhị thập nhị niên Bát Nhã đàm,

Pháp Hoa, Niết Bàn cộng bát niên.


Tạm dịch :

Hoa Nghiêm trước nhất 21 ngày

A Hàm mười hai, Phương Đẳng tám.

Bát Nhã nói suốt hai mươi hai

Pháp Hoa, Niết Bàn, tám năm dài.

Tám giáo là tạng, thông, biệt, viên, đốn, tiệm, bí mật và bất định. Trong kinh có thí dụ về luyện sữa như sau : Kinh Hoa Nghiêm dụ sữa mới nặn ra; kế đó từ sữa cho ra lạc, thời A Hàm dụ cho lạc; kế đó từ lạc cho ra sanh tô, Phương Đẳng dụ sanh tô; từ sanh tô cho ra thục tô, Bát Nhã dụ thục tô; từ thục tô cho ra đề hồ, Pháp Hoa, Niết bàn dụ cho đề hồ thượng vị. Luận này, ngay trong câu hỏi đầu khách đã hỏi : 'Con đường thẳng tắt thành đạo là cái hạnh bất khinh trong Pháp Hoa Tam muội, cái Tôn của Ban Chu là niệm Phật tam muội, đều được gọi là cái cửa của vô thượng thâm diệu Thiền, nguyện nghe chỗ nhiệm mầu ấy ? Như thế, luận này thuộc cơ thuần Viên độc diệu, Giáo tướng thuộc Vô thượng đề hồ Bồ tát tạng.

 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Tư duy

Tổ Thiên Thai phân định Các giai đoạn của Đức Phật thuyết giáo làm 5 thời kỳ.

có thể dùng hình ảnh mặt trời từ lúc bình minh đến hòang hôn để suy luận:

1/. Nhật xuất tiên chiếu: Như mặt trời mới mọc ,chỉ chiếu sáng trên đỉnh núi.



Đầu tiên 21 ngày ngồi dưới cội Bồ Đề, Phật nói kinh Hoa nghiêm, chỉ độ cho chư Thiên và các vị Đại Bồ tát.

2/. nhật thăng thứ chiếu : Như mặt tời lên cao, chiếu lưng chừng núi, đây là Phật nói kinh A Hàm 12 năm.



3/. Nhật thăng chuyển chiếu" Như mặt trời lên cao, chiếu khắp tất cả, đây là thời 8 năm nói kinh phương đẳng Lăng già .Lăng Nghiêm, v.v...



4/. Nhật thăng phổ chiếu . Như mặt trời đúng bóng, 22 năm nói sâu nghĩa Bát nhã.



5/. Nhật một hoàn chiếu . Như mặt trời hoàng hôn, chiếu lên đỉnh núi cao lần chót. nói kinh Pháp hoa, niết Bàn 8 năm.



5 Thời này nói các kinh, chia làm 8 loại Giáo. Đó là: là tạng giáo, thông giáo, biệt giáo, viên giáo, đốn giáo, tiệm giáo, bí mật giáo và bất định giáo.

Luận này thuộc về Viên giáo, nghĩa là loại giáo lý Hoàn toàn đầy đủ.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Chánh văn

Phần thích luận

Thời Nhà Đường, núi Tử Các, Chùa Thảo Đường,

Tuyển luận: Sa Môn Thi Tích

Dịch giả: Sa Môn Hồng Nhơn​

A Phần tựa

Có người khách cao ngạo đến thiền thất của tôi (Ngài Phi Tích) trước đảnh lễ rồi hỏi : Con đường thẳng tắt thành đạo là cái hạnh Bất Khinh trong Pháp Hoa Tam muội, cái Tôn của Ban Chu trong niệm Phật Tam muội đều là cửa ngõ thâm diệu thiền, nguyện nghe chỗ nhiệm mầu ấy?

Đáp : Tâm ông hy vọng rất cao, nên lời hỏi rất hay ! Ông sắp bước vào bến rồng vô sanh, muốn dở cánh bằng đến Đồ Nam. Tôi biết mình không xuất sắc nhưng cũng gắng gượng mở ra hai mươi môn nói về tôn chỉ này. Quyển thượng có bảy môn niệm vị lai Phật. Quyển trung có sáu môn niệm hiện tại Phật. Quyển hạ có bảy môn chung niệm cả ba đời đều là Phật.



B. Phần chánh tôn

I.. Quyển Thượng. Quyển thượng gồm có bảy môn, nói về niệm Bản Giác tức niệm Ông Phật ở vị lai.

1. Niệm Ông Phật ở vị lai mau thành Tam Muội

Nếu Tâm có hai thì sanh ra nhiều vọng tưởng, nhiều vọng tưởng tuy không thật, nhưng bị mê lầm làm trở ngại, việc trở ngại không giải thích là điều lo của Thánh nhân.

Vần mầu nhiệm thông suốt mà không lời, Pháp thân rỗng mà đủ tướng, không rõ được tướng, không tròn được lời, như thế ý chỉ một vị, tuyệt cả nói năng thì làm sao biết được chỗ qui thú ?

Khi lưới của Đế Thích chưa mở, nghìn hạt châu đâu ai thấy được, chóp lưới vừa động, muôn mắc lưới đều mở. Muốn đầy biển lớn phải dùng nước trăm sông, niệm hiệu Phật chắc thành Tam muội, một lời trùm khắp chính tại chỗ này, cũng như hạt thanh châu bỏ vào nước đục, nước đục không thể không trong, tưởng Phật đặt ở loạn tâm, loạn tâm không thể không có Phật.

Người đời niệm quá khứ Thích Ca, niệm hiện tại Di Đà, hoàn toàn chưa nghe niệm vị lai chư Phật. Vì sao ? Vì không hiểu đức Như Lai đối với cái Thô của chúng sanh mà nói cái Diệu của chư Phật bèn cho chúng sanh ở ngoài Phật.

Kinh Tịnh Danh nói đã có mùi hương hoa Chiêm Bồ không có mùi hương khác. Hoa có loại đeo vào thân, có loại không đeo vào thân. Đây là ý muốn chỉ bày Đại thừa. Chê Tiểu thừa vì để bác bỏ mờ mịt, chỉ bày Đại thừa đồng về với Bất Nhị. Kinh Pháp Hoa là Vua của các kinh đã chỉ rõ pháp Thinh Văn. Như thế, tất cả đều là hương Chiêm Bặc, tôn chỉ của luận này là Đại và Tiểu Thừa không chấp.

Nếu chẳng phải người ấy (phá chấp) tất cả đều cho Chư Phật là bậc rất cao (chí tôn), còn chúng sanh là hàng rất thấp (chí ti). Nếu có cao và thấp là các vọng đều sinh khởi, cung kỉnh và khinh mạng lập ra thì nhất chân pháp giới đều ẩn.

Người chấp chặt như thế ắt coi vạn hữu như cỏ rác, coi thiên hạ như đồ chơi, khi tràng ngã mạn đã lập nên thì cao ngạo chê người, mắt ngó mây xanh, tâm đạo trên thượng đế, không bao giờ chịu hạ thấp.

Kinh Duy Ma nói : Thấy tất cả đều nên cung kỉnh, dùng đồ cúng dường là hạnh tối thắng. Kinh Lăng Già nói : Như Lai Tàng tự tính nó vẫn thanh tịnh, chuyển 32 tướng vào trong tâm tưởng của tất cả chúng sanh, như có bảo châu đại vô giá gói trong áo dơ. Lại như người ăn xin rất hèn hạ cùng đức Như Lai cao cả đều không sai khác, vì thế, niệm tròn đủ chư Phật ba đời là khắp quán các đức Thế Tôn trong mười phương. Trong lý thú Bát Nhã nói : 'Tất cả chúng hữu tình đều là Như Lai Tạng, Bồ Tát Phổ Hiền tự thể trùm khắp các nơi. Như người con gái nghèo có mang một vị quốc vương, như hột gạo trong bao tấm cám, cảnh ấy có thể biết, đâu có thể mắc vào oan trái tám điều ngã mạn ư ? Mọi người đều khinh lờn hào quang ngọc của chư Phật thời vị lai mà không dám khinh lờn sắc vàng của chư Phật ở quá khứ và hiện tại mà khởi ra gốc tội, ở trước Phật tương lai vì được thấy chư Phật đã qua và hiện tại. Chúng sanh nếu chẳng phải là Phật, thì Phật vị lai đâu có !

Nên biết mẹ nghèo nhờ con quí mà sang, gạo nhờ cám mà được bảo toàn, điều ấy phù hợp với tâm Bất Khinh Bồ Tát trong Kinh Pháp Hoa, nếu được như vậy thì niệm Phật Tam muội không cầu mau mà tự thành tựu.

Pháp Hoa niệm Phật nguyên là một môn. Như dùng linh chi nấu thành thuốc. Các người tu tiên, xưa mỗi người ở một nơi không được gọi là Tiên. Người uống thuốc tiên có phép lên mây nên nhờ có thuốc mà nêu danh ở cõi Tiên. Người được dự vào cõi Tiên, người và thuốc tuy khác nhau, nhưng uống vào sẽ được thành tiên.

Nếu không có thánh nhân có ai được đạo, pháp không có Phật giác ngộ đâu ai làm cho ta tự ngộ. Pháp không có Phật thì không ai ngộ, từ đó niệm Phật Tam muội sinh ra, Phật không có pháp không sáng tỏ, nên Pháp Hoa Tam muội khởi. Một vị Tiên có hai danh xưng đều gọi là Tiên, niệm Phật Pháp Hoa đều gọi là Phật huệ. Phật huệ đã đồng chắc chẳng khinh Thiền Vô Thượng của Ban Chu, sự giác ngộ từ đây khởi xướng.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Chánh văn

2. Dâm nữ, phường trộm đều chẳng nên khinh

Hỏi : Dâm nữ, phường trộm cướp là hạng người cực ác, đâu có thể được cung kỉnh như Phật ?

Đáp : Phương pháp độ của Phật có cách đối đãi và cách quyết liễu.

A.-Về đối đãi : Đối với người nữ dối trá, Phật nói Như Lai là chỗ chí chơn. Phật là bậc đáng tôn sùng, người nữ là kẻ cần xa lìa. Xa lìa có hai phần là tránh lòng dục vọng và dùng tâm buông bỏ.

Thứ nhất là tránh dục : Trong Kinh Bồ Tát Quở Sắc Dục có dạy : 'Sắc gái đẹp là xiềng xích của thế gian. Kẻ phàm phu yêu đắm không thể tự mình nhổ ra khỏi, nó chính là tai họa lớn của thế gian, kẻ phàm phu bị vướng vào, đến chết cũng không bỏ được, nó chính là tai họa đáng thương của thế gian. Kẻ phàm phu gặp nó thì không có tai ách nào mà không đến'.

Hành giả đã bỏ được rồi, nếu còn nhớ lại, không khác người trong ngục vừa mới ra, lại nhớ ngục thất muốn vào. Như người cuồng vừa tỉnh lại muốn cuồng trở lại, người bệnh được lành lại mong mình được thêm bệnh. Người có trí tuệ biết điều đó là mê mờ điên đảo, người có niệm này sẽ chết không biết ngày nào !

Kẻ phàm phu mê đắm nữ sắc, cam lòng làm nô bộc cho tình yêu sai sử, trọn đời gánh vác những việc cay đắng khổ sở, tuy có ngàn mủi gươm dao đưa đến họ cũng cam lòng gánh chịu chẳng chút than van.

Nếu hành giả có thể bỏ mà không đoái hoài tới thì phá được các gông cùm xiềng xích, ghét mê, nhàm bệnh thì lìa được tai họa lo nghĩ. Tâm được an ổn là tốt, đã được ra khỏi lao ngục, vĩnh viễn không có hoạn nạn.

Người nữ có tướng yểu điệu dịu dàng, lời nói như mật ngọt ru hồn, nhưng lòng đầy thuốc độc. Suối lặng nước trong là chỗ ở của giao long, núi vàng hang báu là nơi cư ngụ của sư tử. Đây là chỗ họa hại không nên ở gần. Nhà cửa không yên là do người phụ nữ, tan nát dòng họ là hại bởi người vợ trong gia đình. Người nữ thật là một kẻ giặc âm thầm diệt hết trí huệ sáng suốt của con người.

Như lưới của người thợ săn đã bủa ra rồi ít con thú thoát nạn, như lưới chim vào rọ không thể bay ra, như lưới nhặt bọn cá bị lùa vào không thể nào ra khỏi, như đường hầm tối, người mù đi vào không thể trở ra, như thiêu thân thấy lửa đua nhau lăn vào. Vì thế, người trí biết rồi nên xa lánh thì không chịu những điều tai hại. Sự mê hoặc tồi tệ và xấu ác không gì bằng nữ sắc này.

Kinh Đại Bảo Tích nói : 'Người bị các khổ như tên độc bắn trúng, cây nhọn đâm thân, rớt xuống núi đao còn ít khổ hơn sự sai sử của người nữ. Họ mượn hương hoa trang sức cho đẹp đẽ, để người ngu thấy đó vọng khởi tham cầu, như chim lạc ngoài bể mong được vào bờ, chết bị đọa vào địa ngục A tỳ, hiện đời gặp nhiều thứ khổ vây quanh mình, bạn lành xa lìa, cung Trời mất vĩnh viễn. Chẳng thà ta liều vào ngục sắt nóng, chạy trên núi đao, nằm trên đống than hồng, nguyện không bao giờ thân cận nữ sắc. Như chim vì tìm miếng ăn không tránh được lưới rập, người tham ái với người nữ bị hại cũng thế. Như cá ở trong nước, bơi lội trước lưới câu do mình muốn tìm mồi đâu ai hại mình được. Người nữ như kẻ bắt cá, lời dịu dàng dối gạt giống như lưới, người con trai giống như con cá bị lưới hay câu cũng như vậy, tự mình muốn tìm đâu ai bắt mình phải đến.'

Thứ hai là phương pháp phóng tâm (tâm buông bỏ). Kinh Đại Bảo Tích dạy : 'Nếu người một lòng chuyên tinh tự giữ mình, khi tâm tham dục phát khởi liền phải tỉnh giác, dùng phương tiện dẹp hết, lại làm tâm trở lại tịch tịnh như cũ.'

Muốn trừ sạch hết phải làm sao ? Chúng ta phải nghĩ thế này : Tham dục này vốn không là chẳng sạch, hãy tìm chỗ sanh chỗ diệt của tâm dục này từ đâu mà đến, rồi đi về đâu, trong ấy ai là người nhiễm, ai là người bị nhiễm, và gì là pháp nhiễm ? Được như vậy mới có thể vào sanh tử chốn trần lao mà không lo bị tai họa bởi tham, sân, si, nên gọi là phóng tâm.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Chánh văn

B.-Về quyết liễu :

Nếu người xa lìa các vọng tưởng được rốt ráo, không nhiễm, rỗng rang như hư không, thì Phật quá khứ và Phật hiện tại đâu chẳng phải là Phật ở vị lai. Vì sao ? Vì người muốn tìm hạt châu quý báu, vô giá phải ở thương minh (biển sâu), muốn được của báu trí huệ phải tìm từ trong phiền não. Tướng ngũ nghịch là tướng giải thoát, cõi Ma tức là cõi Phật. Nếu còn nghe lời Phật mà vui mừng, nghe lời Ma mà nỗi giận thì chẳng phải là người giác ngộ được các pháp, muốn đến Bắc phải hướng Bắc mà đi, không được có ý về Nam, ngược đường mà đi, đâu được cùng người luận đạo.

Xưa có một vị đại Tiên tên Lộc Đế, dùng thần chú làm cạn cả nước, có cô dâm nữ dụ được làm trời hạn đổ mưa. Người nữ ấy chính là Bà Gia Du Đà La, vị lai sẽ thành Phật hiệu là Cụ Túc Thiên Vạn Quang Tướng Như Lai. A Na Luật ngày xưa là đầu đảng trộm cướp, một hôm vào chùa ăn trộm hạt châu trên trán Phật, lấy mũi tên khơi ngọn đèn trên bàn Phật, làm cho ánh sáng cháy mãi không dứt. A Na Luật Tàu dịch là Vô Diệt (không dứt cũng từ lý do này). Ngài tương lai sẽ làm Phật hiệu là Phổ Minh Như Lai. Hai vị Phật ở vị lai này đủ chứng minh rõ ràng rằng dù phạm dâm hay phạm trộm cũng đều thành Phật.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Tư duy

* Chuyện tích Thái tử Năng Thí. Tiền thân đức Phật "Tìm trí huệ ở trong vô minh"

Trong kinh Bổn Sanh có chép mẫu chuyện sau đây:

....... Đức Phật Thích Ca Mưu Ni khi còn là Bồ tát, ngài làm một vị thầy thuốc nổi tiếng, nguyện chửa bệnh cho chúng sanh mà chẳng cầu danh lợi.

....... Số người bệnh đến xin thuốc quá nhiều chẳng sao chửa trị hết, nên Bồ tát buồn rầu mà chết, sanh lên cõi trời Đao Lợi. Ở đây Bồ tát lại tự nghĩ:" Ta nay ở cõi Trời sung sướng, nhưng chẳng ích gì cho chúng sanh". Nghĩ như vậy Bồ tát lại tự diệt thân mình, xả thọ mạng ở cõi Trời, sanh làm Thái tử của Long Vương.

....... Thái tử được cha mẹ cưng chìu, nhưng cũng vẫn buồn rầu vì chẳng làm được lợi ích gì cho chúng sanh cả. Một hôm, Thái tử bỏ cung đi dạo chơi, gặp chim Kim Sí Điểu bắt ăn thịt.

....... Chết đi lại tái sanh làm Thái tử của một vị Đại Vương ở cõi Diêm Phù Đề. Vừa mới sanh, Thái tử đã nói rằng:" Ai có gì hãy mang ra để ta hành bố thí ". Bởi vậy nên vua cha đặt tên Thái tử là Năng Thí. Thấy quần thần sợ hãi, Thái tử nói với Hoàng Hậu rằng:" Đời trước con vẫn thường hành bố thí". Sau khi nghe Hoàng Hậu thuật lại đầu đuôi câu chuyện, mọi người mới hết sợ hãi.

....... Thế rồi Thái tử lớn lên, tinh tấn hành bố thí, có vật gì là đem bố thí sạch. Thái tử xin vua cha đủ thứ vật báu đem ra bố thí. Nhưng vì thấy người cõi Diêm Phù Đề quá cơ cực, chẳng làm sao có đủ để bố thí, Thái tử bèn bật lên khóc thảm thiết, than:" Nhân dân quá cơ cực, ta biết làm cách nào để đem lại sự no ấm cho họ".

....... Có người mách:" Nếu tìm được Như Ý Bảo Châu thì sẽ có đầy đủ".

....... Thái tử xin Phụ Vương và Mẫu Hậu vào biển cả để tìm Như Ý Bảo Châu ở trên đầu Long vương.

....... Nhà vua than rằng:" Ta chỉ có một mình con thôi, nếu con xông pha vào biển cả, gặp tai nạn thì làm sao ta có thể sống được ! Trong kho còn nhiều lương thực và vật quý, con được phép tự do lấy ra để bố thí".

....... Thái tử thưa:" Vật trong kho thì có hạn, vậy mà sự bố thí của con vô lượng. Con muốn có tài vật đầy đủ để bố thí, khiến chẳng người nào còn thiếu thốn cả".

....... Vua và Hoàng hậu biết con đã quyết tâm, chẳng gì có thể ngăn cản được nữa, bèn cho 500 người lái buôn tháp tùng theo Thái tử...


(Đây là nhắc lại câu chuyện thượng dẫn ở phần chánh kinh.- còn tiếp)

Ý nghĩa đoạn tích trên:

+ Như Ý bảo châu ở đây ám chỉ cho "Trí huệ cứu cánh"

+ Bảo châu dấu trong đầu của long vương, chỉ cho trí huệ nằm sâu trong sân hận ,si mê, vì loài rồng tượng trưng cho sự sân hận, Rồng là loài súc sanh biểu trưng cho sự si mê. Ý nói rằng tuy chúng sanh là vô minh tham ái, tham sân si tràng ngập (Long vương), nhưng ẩn sâu trong đó lại có Trí huệ Bát nhã.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Tư duy

* Chuyện tích Thái tử Năng Thí (tt).

Thái tử hỏi:" Trong số các ngươi có ai biết đường đến Long Cung ?". Tất cả đều quay về phía một người mù tên là Đà Xá, và nói:" Người này đã từng ra biển khơi, xin Thái tử cứ yên tâm để Đà Xá dẫn đi".

....... Đà Xá trả lời:" Tôi đã ra biển khơi nhiều lần, nhưng nay tôi đã bị mù làm sao dẫn đường cho Thái tử được ".

....... Tuy nhiên, trước sự quyết tâm của Thái tử, Đà Xá nhận lời và nói:" Nếu vì một lý do gì mà tôi chết dưới biển sâu, xin Thái tử hãy để tử thi của tôi ở vùng Kim Sa dưới đáy biển".

....... Nói xong Đà Xá cùng Thái tử và đoàn tùy tùng lên thuyền ra khơi, rồi buộc dây vào mạn thuyền để lặn sâu xuống tận đáy biển. Sau khi lấy được rất nhiều ngọc quý, đoàn lái buôn vui mừng mời Thái tử lên thuyền để cùng họ trở về nước. Thái tử nói:" Ta chỉ muốn có Như Ý Bảo Châu, mà chẳng cần đến các thứ ngọc này. Các ngươi hãy mang về, nhưng đừng có ham lấy nhiều quá mà thuyền chìm nghe !".

....... Sau khi các lái buôn đã mang ngọc cất vào khoang thuyền rồi, Thái tử và Đà Xá cùng lên thuyền tiển họ đi một đoạn. Thuyền đang lướt qua vùng biển Nam Hải, đột nhiên gió lốc nổi lên đưa thuyền giạt vào một nơi nguy hiểm, nơi đó có rừng táo chìm sâu dưới nước. Gió thổi quá mạnh, thuyền sắp chìm. Ai nấy đều sợ hãi ôm chầm lấy các đọt cây táo cầu được cứu sống.

....... Lúc bấy giờ Đà Xá nói:" Xin cứ yên tâm, Thái tử cùng mọi người sẽ được cứu thoát, còn tôi đui mù chẳng còn sống được bao nhiêu nữa, tôi sẽ chết nơi đây. Cách đây không xa là vùng Kim Sa Châu, xin Thái tử hãy để thây tôi ở đó. Được như vậy tôi mãn nguyện lắm rồi".

....... Đà Xá nói xong thì thuyền ra khỏi chỗ nguy hiểm, nhưng vì quá kiệt sức, ông đã trút hơi thở cúôi cùng. Thái tử từ giả đoàn lái buôn, ở lại lo chôn cất xác Đà Xá ở vùng biển Kim Sa Châu, rồi một mình lặn sâu xuống biển tự tìm đường đến Long Cung.

....... Đi được 7 ngày, thấy hoa sen báu thanh khiết, Thái tử bèn ngồi lên một hoa sen, nhập vào Định Tam Muội, cảm thấy thân mình nhẹ nhàng.

....... Đi thêm 7 ngày nữa, Thái tử thấy toàn rắn độc ghê rợn, bèn nhập Từ Tâm tam Muội, tự tại đi trên đầu rắn, mà tất cả rắn đều ngoan ngoãn cúi đầu để Thái tử đi lên trên.

....... Đi thêm 7 ngày nữa, Thái tử thấy có 7 thành, thấy có hố sâu bao quanh, trong các hố có rắn độc, lại có 2 con rồng lớn canh cửa thành. Thấy tướng của Thái tử đẹp đẻ đoan nghiêm, hai con rồng tự nghĩ rằng:" Người này ắt chẳng phải hạng người thường, mà phải là một vị Bồ tát, mới có thể vượt gian nguy đến được nơi này".

....... Nghĩ như vậy rồi, rồng đưa Thái tử vào bái yết Long vương.


Tư duy:

* Thái tử dùng người mù Tên là Đề Xá dẫn đường vào trong biển.- Đó là biểu trưng muốn tìm Thánh tài trước phải dùng Ý Thức suy lường để thẩm sâu vào Tâm thức.

* Tìm được vô lượng báo vật ở trong biển.- Đó là nhận được vô lượng phước đức nhân thiên. cũng từ trong tâm thức vô minh hiện ra.

* Một nình Thái tử đi sâu vào biển, mà gặp Rồng Rắn v.v...Đó là quán sát thẩm sâu vào Tham, sân, si v.v...

* Gặp được long Vương là tiếp cận được Tàng thức.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Tư duy

Vừa thấy Thái tử, Long vương và hoàng hậu bật lên khóc. Vì có thần thông nên 2 ngài biết Thái tử trước đây là con của mình.

....... Long vương hỏi:" Ngươi trước đây là con của ta, khi mạng chung sanh về đâu ?"

....... Thái tử có Túc Mạng Thông nên đáp:" Con được sanh lên cõi Diêm Phù Đề, làm Thái tử của một vị Đại vương. Vì thấy chúng sanh quá đói khát, nên con mới xuống tận đây để cầu xin Như Ý Bảo Châu".

....... Long Mẫu nói:" Trên đầu cha con có Như Ý Bảo Châu để trang sức, thật khó lấy cho con vậy. Con hãy vào kho lấy bao nhiêu tùy ý".

....... Thái tử đáp:" Con xin được Như Ý Bảo Châu mới mãn nguyện".

....... Long Vương vì quá thương con nên bằng lòng thỏa mãn yêu cầu của Thái tử. Ngài nói với Thái tử rằng:" Ta có thể trao cho con Như Ý Bảo Châu này. Nhưng người cõi Diêm Phù Đề bạc phước làm sao có thể thấy được".

....... Thái tử nói:" Con vì chúng sanh bạc phước nên mới đến đây tìm Như Ý Bảo Châu . Con sẽ dùng Phật Đạo để giáo huấn họ".

....... Long Vương nói:" Con đã chẳng quản ngại gian lao, từ nơi xa đến được nơi này. Cha cảm kích lòng đại từ, đại bi của con, bằng lòng cho con mượn Bảo châu này. Nhưng con hứa trả lại cho cha".

....... Thái tử đáp:" Con xin y theo lời cha dặn".

....... Thái tử được Như Ý Bảo Châu rồi liền bay giữa cõi không trung trở về cõi Diêm Phù Đề. Vua cha và hoàng hậu thấy con về mừng rở, ôm con khóc nói rằng:" Con quá gian khổ như vậy, có được gì không ?".

....... Thái tử đáp:" Con đã được Như Ý Bảo Châu đem về đây rồi". Nói xong đưa viên Bảo Châu cho cha mẹ xem. Nhà vua thấy ngọc bé nhỏ, hỏi:" Sao viên ngọc bé nhỏ thế con ?" Thái tử đáp:" Tuy nhỏ mà có thần lực rất lớn".

....... Ngày hôm sau Thái tử xin vua truyền lệnh trong dân chúng khắp nơi phải quét dọn sạch sẽ, đốt hương, treo tràng phang, treo bảo cái, kết hoa, lại khuyên trì trai giữ giới. Rồi Thái tử dùng một chiếc gậy lớn đặt viên Như Ý Bảo Châu lên trên và thệ nguyện:" Con nay vì Phật Đạo, muốn độ thoát hết thảy chúng sanh, xin Như Ý Bảo Châu hóa tác ra nhiều vật dụng quý giá cho con bố thí được đầy đủ".

....... Lúc bấy giờ, trên trời mây đen liền che kín, mưa đổ xuống đủ thứ vật cần dùng, khiến hết thảy chúng sanh ở cõi Diêm Phù Đề đều được hưởng đầy đủ.

....... Như vậy gọi là bố thí " dẫn sanh Tỳ Lê gia Ba- la- mật".


Tư duy về pháp thoại trên:

+ Thái tử Năng thí .- Đó là chỉ cho người siêng năng tu hạnh bố thí, đó là mầm móng để trở thành đấng Pháp Vương.

+ Như Ý Bảo Châu, ở trên đầu Long Vương.- Đó là chỉ cho Trí tuệ Bát nhã Ba- la- mật, ở trên đỉnh cao Trí tuệ của người Đạt Đạo.

+ Viên Như Ý Bảo Châu ấy phải tìm ở trong biển cả.- Đó là ý chỉ Trí Tuệ Bát nhã Ba- la- mật, phải cọ xát, tìm thấy nơi biển Tâm.

+ Đà Xá, chỉ cam tâm chịu chết ở trên đường đến đích, trong vùng Kim Sa Châu.- Đó là ý Thinh Văn, Duyên giác, không đủ tâm lực nên trụ lại quyền thừa, mà lấy làm thỏa mãn.

+ Trước khi đến được Long Cung, Thái tử phải nhờ Đà Xá chỉ đường, rồi sau đó mới tự mình tiếp bước, đó là ý chỉ, trước phải tu Hạnh Thinh Văn Duyên giác, sau đó mới có đà mà tiếp tục Bồ tát Hạnh.

+ Vào đến vùng biển có báo vật rồi, thì có vô số châu báo, nhưng vẫn chưa có Như Ý Bảo Châu, có nghĩa vào trong biển Phật Pháp rồi thì gặp được vô số điều hay lẻ phải quý báo vô cùng, nhưng vẫn khó mà tiếp cận được Bát Nhã Ba- la- mật.

+ Đi được 7 ngày, thấy hoa sen báu thanh khiết, Thái tử bèn ngồi lên một hoa sen, nhập vào Định Tam Muội, cảm thấy thân mình nhẹ nhàng..- Đó là chỉ cho, trải qua quá trình tu tập đúng thời (Thời gian có 3: Quá khứ, hiện tại, vị lai) đúng chỗ ( Không gian có 4 Đông, tây, nam ,bắc) thì hành giả được đắc định.

+ Đi thêm 7 ngày nữa, Thái tử thấy toàn rắn độc ghê rợn, bèn nhập Từ Tâm tam Muội, tự tại đi trên đầu rắn, mà tất cả rắn đều ngoan ngoãn cúi đầu để Thái tử đi lên trên. Đó là chỉ cho công năng tu tập, đã hóa giải, điều phục được Vô minh tham ái.

+ Đi thêm 7 ngày nữa, Thái tử thấy có 7 thành, thấy có hố sâu bao quanh, trong các hố có rắn độc, lại có 2 con rồng lớn canh cửa thành. Chỉ cho sự vận hành của Trí tuệ do thiền định phát sanh, thấy được hai trở lực mạnh có thể hại hành giả không đến được Niết bàn, đó là NGÃ CHẤP và PHÁP CHẤP.

+ Hai con rồng đưa Thái tử vào bái yết Long vương.Đó là ý chỉ sau khi hành phục NGÃ và PHÁP đến được Ngã và Pháp đều Không ,đó là rồng đã được nhiếp phục, thì chính Trí thấy Ngã Pháp câu Không này đưa hành giả đến được Trí Bát Nhã là Như Ý Bảo Châu.

+ Thái tử được Như Ý Bảo Châu rồi liền bay giữa cõi không trung trở về cõi Diêm Phù Đề. Đó là chỉ người đã được Bát Nhã Ba- la- mật rồi thì không chấp mắc bất cứ việc gì, nhưng cũng không trốn bỏ Ta Bà mà vẫn thường "hòa quang đồng trần", làm lợi lạc chúng sanh.

+ Lý do vì sao mà Như Ý Bảo Châu lại có thể làm cho chúng sanh được đầy đủ không còn thiếu thốn đói khổ nữa ?
- Đó là vì chúng sanh do vô minh nên sanh ra tham lam, bỏn sẽn không bao giờ biết đủ, nay được trí tuệ Bát nhã soi sáng nên không còn móng khởi vọng tưởng điên đảo tham lam, sân hận, si mê nên dù gặp mọi hoàn cảnh khốn khó mà vẫn thấy mình được đầy đủ, như bày kệ nói:

Đệ tam giác tri:
Tâm vô yểm túc,
Duy đắc đa cầu,
Tăng trưởng tội ác.

Điều giác ngộ thứ ba là lòng người không bao giờ biết đủ, không bao giờ thấy chán, chỉ một bề mong cầu cho được nhiều, được mãi không thôi. Song, càng tham muốn nhiều, thì tội lỗi sẽ càng tăng thêm. Đó là tâm niệm của người thế gian còn nhiều mê mờ. Ngược lại:

Bồ-tát bất nhĩ,
Thường niệm tri túc,
An bần thủ đạo,
Duy tuệ thị nghiệp.

Do vậy mà được : " đầy đủ không còn thiếu thốn đói khổ nữa ".
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Tư duy

* Chuyện Tiên Nai (tiền thân đức Phật Thích Ca).

....... Ở đời quá khứ, tại thành Ba La Nại, có một vị tiên nhân, vào ngày rằm tháng Hai, trăng tròn chiếu sáng, khi đi tiểu tiện thấy bầy nai đang giao hợp, ông sanh dâm tâm, liền xuất tinh vào bồn. Có một con nai cái, uống nước trong bồn liền mang thai.

....... Biết mình sắp sanh, nai cái đến gần chỗ ở của tiên nhân, sanh ra được một con, mình người, đầu người, mà lại có sừng và chân nai, sanh xong, bỏ con lại rồi đi mất dạng.

....... Vị tiên nhân ra vườn, thấy hài nhi, biết đó là con của mình nên đã đem vào am nuôi dưỡng.

....... Tiên nai này lớn lên rất thông minh, học đủ 12 bộ kinh, tu thiền định được 5 thần thông.

....... Vì chân quá nhỏ, nên một hôm đang trèo núi, tiên Nai bị trượt chân té xuống sườn núi, khiến chân bị thương tích. Tiên Nai quá đau nhức nên khởi niệm sân nhuế, chú nguyện khiến trời không được mưa nữa.

....... Do tiên Nai chú nguyện như vậy nên cá Long thần chẳng dám mưa. Cả nước Ba La Nại, từ vua quan cho đến thần dân đều buồn rầu, khổ não.

....... Có người cho biết, vị Tiên nhân có sừng nổi giận, chú nguyện 12 năm trời không mưa nên mới ra cớ sự như vậy. nhà vua hạ chiếu, chiêu mộ người tài trừng trị Tiên Nai. Nếu ai làm được việc sẽ chia cho phân nữa nước để cai trị.

....... Lúc bấy giờ có một thiếu nữ rất đẹp tên là Phiến Đà, đến tâu với vua xin cho nàng đi chiêu dụ tiên Nai, hứa sẽ ngồi trên cổ của vị Tiên Nai đưa về cung thành. Nhà vua vui mừng, trao vàng ngọc châu báu và lựa 500 thiếu nữ trẻ đẹp theo tháp tùng Phiến Đà.

....... Phiến Đà bảo các thiếu nữ dùng lá cây thuốc, luyện thành các hoàn Hoan Hỷ, sửa soạn đủ các thức ăn ngon, rượu mạnh, cùng nhiều thứ y phục thuyệt đẹp. Rồi tất cả cùng lên đường thẳng đến am của vị Tiên Nai ở sâu trong rừng.

....... Tiên nai thấy các thiếu nữ sinh đẹp, liền sanh tâm đắm trước. Các thiếu nữ theo vị Tiên Nai vào am, cjia phiên âu yếm, hầu hạ, lại cung phụng đủ các thức ăn ngon, rượu quý.

....... Vị Tiên Nai ăn các món ăn có trộn hoàn Hoan Hỷ, liền sanh tâm đại hoan hỷ, nói với các thiếu nữ rằng:"Ta chưa bao giờ được ăn một bửa ngon miệng như hôm nay. Các nàng lại đẹp tuyệt vời. Các nàng làm sao có được sắc đẹp mỹ miều như vậy ?"

....... Các thiếu nữ đáp:"Chúng tôi nhờ trái ngọt, rượu ngon mà đẹp trẻ mãi như vậy đó".

....... Tiên Nai mời các thiếu nữ ở lại, Phiến Đà đáp:"Chúng tôi xin ở lại hầu hạ Tiên nhân, và xin được tắm chung với ngài".

....... Ngay sau đó, hai thiếu nữ tắm cho vị Tiên Nai. Do đắm chấp sự xúc chạm. Tiên Nai bị mất hẳn thần thông. Thế rồi trời đỏ mưa lớn. Sau 7 ngày ăn uống, vui chơi thỏa thích, thức ăn và rượu đã vơi hết, nhưng Tiên Nai vẫn đòi hưởng thêm nữa. Phiến Đà liền đề nghị với Tiên Nai:"Xin kính mời Tiên Nhân theo chúng tôi về cung. Ở đấy ngài sẽ được cung phụng đầy đủ".

....... Vị Tiên Nai xiêu lòng, theo các mỹ nữ về cung vua. Đi được một quảng đường, Phiến Đà giả vờ mệt, nằm dài xuống đát. Vị Tiên Nai nói:"Nếu nàng quá mệt không đi được nữa thì hãy cỡi lên vai tôi để tôi cõng nàng về cung thành".

....... Khi về đến cung thành, Phiến Đà bảo Tiên nhân lạy nhà vua xin quy hàng. nhà vua vui mừng, phong cho Tiên Nai làm Đại Thần và cung cấp đầy đủ tiện nghi.

....... Một thời gian sau, vị Tiên nhân nhàm chán dục lạc thế gian, nhớ đến Thiền định lạc, chẳng còn vui vẻ như trước nữa. nhà vua thấy vậy hỏi:"Vì sao Tiên Nhân chẳng còn được vui như trước nữa ?"

....... Vị Tiên nhân đáp:"Tôi nhớ rừng thanh tịnh. Ở nơi đó mới thật là trú xứ của Tiên nhân".

....... Nhà vua tự suy nghĩ:"Nếu ta ép buộc vị Tiên nhân này ở lại thì ông sẽ sầu khổ mà chết. Ta chỉ muốn trừ hạn hán, nay ý nguyện ta đã thành tựu rồi, ta chớ nên làm khổ vị tiên nhân này nữa". Nghĩ như vậy rồi, nhà vua liền trả vị Tiên nhân về núi rừng. Rồi Phật nói tiếp:"Này các Tỳ kheo! Vị Tiên nhân đó chính là Tiền thân của ta, còn dâm nữ Phiến Đà là tiền thân của bà Da du Đà La vậy. Lúc bấy giờ ta chưa đoạn hết kiết sử, nên các hoàn Hoan hỷ có đủ sức làm mê hoặc ta. Nay ta đã được Đạo nên các hoàn Hoan hỷ chẳng còn có thể làm mê hoặc ta nữa. theo đây, các ngươi nên biết, thân xúc có ma lực làm động tâm người. tiên nhân còn bị lôi cuốn, huống nữa là phàm phu. bởi nhân duyên vậy, nên phải tránh xa sự xúc chạm".
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Chánh văn

3. Trì giới, Phá giới đều tướng như Phật.

Trong giới luật, về giới tướng có hai loại:

1/ Giới của Thanh Văn gọi là Tăng giới,

2/ Bồ tát giới gọi là Phật Giới. Về Thinh Văn giới có bảy chúng chẳng đồng:​

1. Tỳ kheo giới gồm có 250 giới.

2. Tỳ kheo Ni giới gồm có 348 giới.

3. Thức Xoa Ma Na học sáu pháp.

4. Sa Di gồm có 10 giới.

5. Sa Di Ni cũng có 10 giới.

6. Ưu Bà Tắc (cư sĩ nam) gồm 5 giới.

7. Ưu Bà Di (cư sĩ nữ) cũng có 5 giới​

- Về Bồ tát giới có 2 chúng tại gia và xuất gia: Căn cứ vào Kinh Địa Trí, tại gia Bồ tát giới có 6 giới trọng và 28 giới khinh. Căn cứ vào kinh Phạm Võng, xuất gia Bồ tát gồm 10 giới trọng và 48 giới khinh. Giới Bồ tát này cũng gọi là Kim Cương Quang Minh Bửu Giới, cũng gọi là Tam Tụ Tịnh giới:

1. Nhiếp luật nghi giới.

2. Nhiếp thiện pháp giới.

3. Nhiêu ích hữu tình giới.​

Cách trì giới: Bảy chúng đệ tử của Phật giữ gìn giới hạnh ở trong 4 oai nghi đi, đứng, ngồi, nằm, có mật thiết quan hệ. Nếu ở trong 4 oai nghi này có một oai nghi nào không tỉnh giác thận trọng là không thể trì. Chữ trì đây có nghĩa là gìn giữ vâng làm. Vì vậy trong lúc đi đứng nằm ngồi không được lơi lỏng nên gọi là trì.

Tỳ kheo có 250 giới: 4 giới đầu thanh tịnh gọi là trì căn bản giới. Còn 246 giới sau mỗi giới đều thúc liễm giữ gìn không cho mất gọi là Tỳ kheo toàn trí. Thầy Tỳ kheo trước tiên ở trên giới đàn, Thầy Yết Ma 3 lần tác bạch, bảy chứng sư vì đại chúng chứng thành, gọi là đã được giới thể. Gìn giữ như thế cho đến thành Phật, được Pháp thân đều từ giới này làm gốc.

Tỳ kheo ni giữ 8 giới trọng, mãi mãi không phạm gọi là căn bản giới thanh tịnh. Còn 340 giới cũng phải bảo toàn không mất gọi là giới phẩm hoàn toàn. Nếu giới phẩm được hoàn toàn thanh tịnh thì thành Phật có dư. Còn Thức Xoa Ma Na chỉ yếu có 6 pháp không phạm là đủ. Sa Di và Sa Di Ni chỉ yếu 10 giới pháp thanh tịnh. Trong 10 giới này chỉ có giới ăn phi thời có quan hệ rất lớn không thể không trì, giới này nếu không trì thì tất cả các giới khó khỏi không phạm. Giới Ưu Bà Tắc và Ưu Bà Di phải giữ 5 điều giới luật, ai cũng biết rõ.

Phá giới: Tỳ kheo trong 4 giới trọng, bị phạm một giới gọi là phá căn bản giới, cũng bị mất giới thể, suốt đời không được khôi phục. Các giới sau có bị phạm gọi là phá chi mạt giới, cho đến rất nhỏ gọi là đột kiết la. Ở cõi Trời Tứ Thiên Vương, một ngày một đêm bằng nhân gian 50 năm. Ở Địa Ngục, một ngày một đêm bằng ở Tứ Thiên Vương 50 năm. Cứ như thế tính thành năm tháng. Người tội ở trong Địa ngục phải trải qua 500 năm mới ra khỏi ngục. Đây là thời gian của người phá giới tội rất nhỏ, bị đọa vào Địa ngục. Sáu chúng sau so sánh như trên thì biết. Nếu người sau khi phá giới phải sanh lòng hỗ thẹn, đến trước vị A xà lê chân thành thổ lộ, không được dấu diếm dù nhỏ bằng sợi tơ. A xà lê sẽ hứa cho sám hối, nếu nhẹ thì tác pháp sám, tập hợp 20 vị Tăng, đối chúng phát lồ, khóc lóc cầu xin, cứu kính không tạo tội mới, sau khi tác pháp rồi, luôn luôn vâng lời Thầy dạy, hoặc trì chú bao nhiêu biến, hoặc tụng kinh bao nhiêu quyển, hoặc lễ sám bao nhiêu bộ, làm xong mới cho vào chúng đồng tu. Nếu phạm căn bản giới sẽ không được sám hối.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Chánh văn

Thủ Tướng sám: chẳng luận tụng kinh lễ sám hoặc thời hạn 7 ngày, 49 ngày, 90 ngày hoặc đến 1 năm, 3 năm, cần phải thấy hảo tướng như ánh sáng Phật, hoặc Phật đưa tay sờ đỉnh, hoặc chư thiên tán hoa... được các tướng như thế, tội mới sạch, gọi là Thủ Tướng sám.

Vô Sanh sám: Quán sát tánh của tội ấy, không ở trong, ngoài và chặng giữa, lại không ở quá, hiện, vị lai. Cuối cùng tội từ chỗ nào mà khởi? Tội không tự tánh, do nhân duyên sanh, đã từ nhân duyên mà sanh rồi cũng từ nhân duyên mà diệt. Từ nhân duyên mà sanh là người trong không dùng tâm tàm quý (xấu hổ) làm nhân, ngoài nhờ bạn ác làm duyên, do đó mà tạo ra các tội, nên gọi là sanh. Từ nhân duyên mà diệt là người trong lấy việc tàm quý (xấu hổ) phát lồ làm nhân, ngoài nhờ thiện tri thức làm duyên, nên có thể diệt hết các lỗi lầm nên gọi là diệt. Sáu chúng sau muốn sám hối khi phá giới cũng theo ba pháp sám kể trên.

Trì Bồ tát giới là người từ ở trong thân này đến khi thành Phật không được phạm gọi là Trì.

1. Nhiếp luật nghi giới là các ác đừng làm. Tất cả ác không làm gọi là trì, đã làm gọi là phạm, nên gọi không làm (chỉ) là Trì, có làm (tác) là Phạm.

2. Nhiếp thiện pháp giới: Tất cả việc lành đều làm gọi là Trì, không làm là Phạm nên gọi làm (tác) là Trì, không làm (chỉ) là Phạm.

3. Nhiêu ích hữu tình là không chúng sanh nào mà không độ. Hai cái chỉ và tác ở trên đều là tự độ, cùng độ người, nếu không độ người gọi là Phạm.​

Chúng ta, những người niệm Phật, phàm thấy bốn chúng đệ tử của Phật không cần so tính trì giới hay phá giới, không được vọng khởi phân biệt, dùng tâm bình đẳng như Bồ tát Thường Bất Khinh trong Kinh Pháp Hoa thấy tứ chúng liền sanh cung kỉnh, khen ngợi, lễ bái: 'Tôi không dám khinh các Ngài, các Ngài đều sẽ làm Phật'. Nên nói gặp mọi người đều sanh ý tưởng đang gặp Phật.

Hỏi: Kinh Phạm Võng nói: 'Nếu người thọ giới Phật tức vào địa vị của chư Phật.' Các hàng xuất gia là bậc mang giới luật như trăng sáng, đeo châu anh lạc, dự vào địa vị tam tôn, mô phạm cho bảy chúng. Nếu không tinh trì giới luật, vọng động làm điên đảo, ô uế thiền môn. Những người như thế, khinh chê đó cũng không lỗi, đánh đó cũng chẳng tội gì?

Trong Kinh Như Lai Tam Muội Hải, đức Phật vì phụ vương mà nói: 'Ngày xưa có 4 vị Tỳ kheo phạm luật, lấy làm hỗ thẹn, không biết nương tựa vào đâu. Bỗng nhiên trên hư không có tiếng nói: 'Các Ông đừng nói rằng không còn cách gì cứu! Không phải vậy, đức Không Vương Như Lai, tuy đã vào Niết Bàn nhưng hình tượng hãy còn. Các Ông nên vào tháp, một lòng quán tưởng hào quang trắng ở giữa chân mày của bảo tượng. Các Tỳ kheo nghe theo rõ lệ mà nói rằng: 'Phật tượng còn diệt được tội trọng như vậy huống hồ chân dung, khởi thân đảnh lễ đầu mặt sát đất, các tội liền tiêu. Ngày nay ở bốn phương đều thành chánh giác: phương Đông Phật A Súc, phương Nam Phật Bảo Tướng, phương Tây Phật Vô Lượng Thọ, phương Bắc Phật Vi Diệu Thinh. Bốn vị Tỳ kheo phá giới này một lòng quán bửu tướng, liền được vào vị đấng Đại Hùng của đời. Người niệm Phật đâu nên tự lầm và đem đến việc lầm lạc cho người khác.

Kinh Đại Tập nói: 'Nếu các vương thần đánh mắng những người xuất gia trì giới hay phá giới, tội đồng chích một trăm ức thân Phật ra máu'. Nếu thấy có người mặc áo cà sa, không luận là trì giới hay phạm giới, chỉ tưởng như Phật, người có tưởng Phật là người chứng được Niệm Phật Tam muội vậy. Đây lời vàng của Phật dạy và cũng là ý chỉ của Bồ tát Thường Bất Khinh trong Kinh Pháp Hoa, đâu được chẳng tin ư!

Thà làm Tâm của Thầy, đừng làm Thầy của Tâm, thấy xan tham quán tưởng bố thí, thấy người phá giới quán tưởng trì giới. Vì vậy mà ta không bị cảnh giới lục tệ trói buộc, thành tựu Quán môn Lục Độ Ba La Mật. Nếu cố tâm phân biệt, tự mình nhận lấy tối tăm. Như có thể thấu hiểu được chỗ nhận thức này thì Niệm Phật Tam muội thành tựu dễ dàng như nước chảy trong sông vậy.

 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Chánh văn

4. Hiện ở Địa Ngục Không Ngại Thọ Ký.

Hỏi: Như kẻ hiện ở nơi Địa ngục, hoặc Ngạ quỷ, Bồ đề tâm khó có thể phát khởi, dòng sông đã đục chưa biết kỳ hạn bao giờ được trong, đâu được xem đồng như Phật?

Đáp: Hái thuốc quí không phải lấy từ nhà trồng hoa, lấy thuốc pháp không phải tự nhiên mà có được.

Kinh Thủ Lăng Nghiêm nói về 4 thứ thọ ký:

1. Thọ ký người chưa phát tâm.

2. Thọ ký người mới phát tâm.

3. Thọ ký bí mật.

4. Thọ ký hiện tiền.​

Nay kẻ hiện ở Địa ngục, Ngạ quỷ, Phật thọ ký tương lai chắc phát đại chí, gặp bạn lành, thực hành đạo Bồ tát, hoàn thành bậc Chánh giác, chính là Phật thọ ký cho người chưa phát tâm sẽ được thành Phật. Khi Phật nói bốn hạng người được thọ ký, ngài Ca Diếp bạch Phật: Chúng con từ nay đối với tất cả chúng sanh tưởng như Thế Tôn, nếu sanh lòng khinh, tự mình bị hại. Phật bảo, lành thay lời nói rất hay! Mọi người đều không thể suy lường chúng sanh, chỉ có đức Như Lai là có thể hiểu thấu đáo. Ta bảo các hàng Thanh văn và các vị Bồ tát đối với chúng sanh nên sanh ý tưởng như Phật.

Kinh Hoa Nghiêm, Phẩm Phổ Hiền Hạnh Nguyện nói: 'Muốn phá trăm vạn cửa chướng, cần dùng tưởng chúng sanh như Phật này. Phàm nhà chứa châu báu tuy chưa mở cửa, không ngại gì nói có châu báu trong nhà. Hạt châu trên trán che kín, không ngại gì nói châu ẩn trên trán. Nếu không niệm chúng sanh là đương lai Phật, ắt bị sáu trần khuấy nhiễu, lại bị ma quân, tự mình phá hoại thành lủy, bảo tồn cho nước địch, luôn luôn khởi lòng cừu oán. Hai bên chiến trận chưa yên, trống trận còn thúc vang dội, đâu có thể nằm an nhàn say ngủ. Người có thể ngộ sắc thanh là Phật, thời chúng sanh đều là Phật ở tương lai, chắc không lập tâm ở phàm cảnh trước đây, hoặc tưởng thân mình là bổn tôn, thì quán môn thâm diệu của Du Già chơn ngôn, không cần tính toán cũng có được.

Hỏi: Những người ở Địa ngục là người chưa phát tâm, đức Như Lai là một đấng Pháp vương vì lòng từ bi thương xót mà thọ ký cho. Thật ra họ là người chưa ngộ thì bao giờ mới tỉnh?

Đáp: Cái nguồn của trường giang (sông dài) tràn đầy chừng một chén; gốc của đại mê chỉ ở trong hai cái chấp ngã và Pháp mà thôi. Nếu ngoài niệm mà lập ra vô niệm, ngoài sanh lập ra vô sanh thì sanh tử khác với Niết bàn, thì lời vàng của chư Phật cũng không dạy được. Nếu biết rõ niệm mà vô niệm, sanh mà vô sanh, thì phiền não tức Bồ đề, một tướng trang nghiêm nhân đây mà có thể ngộ được.

Cũng như đàn ong ở đỉnh núi đem về phòng vẫn cho mật tốt; bảy báu để trong giếng dơ đem lên không thể bỏ, mà không cho là của quý? Sự quý báu gốc vốn nó đã có đủ, không phải đợi đến bây giờ mới có. Chúng ta hãy xem xét khắp tất cả chỗ mà ta duyên đến đều thấy đức Như Lai thì những thứ tham, sân, si làm sao sanh ra còn được?

Trong Kinh Như Lai Tạng dạy: 'Ta dùng Phật nhãn xem tất cả chúng sanh trong tham, sân, si và các thứ phiền não đều có trí Như lai, mắt Như lai, thân Như lai đang kiết già an ngồi, nghiễm nhiên chẳng động; cho đến đầy đủ các đức tướng như ta không khác gì? Dùng chín thí dụ để rộng nói rằng, tất cả chúng sanh đều có Như lai Tạng. Trong lời giải thích bài tạng của luận Thật Tánh dạy: 'Trong cành hoa héo có chư Phật, trong thùng phẩn có vàng vòng, trong đất có tạng trân bảo, trong các trái củ có mầm non, trong chiếc áo rách có tượng vàng ròng, trong người con gái nghèo xấu có mang chuyển luân vương, trong đám bùn lầy có bảo tượng thượng diệu. Chúng sanh có đầy dẫy các thứ tham, sân, si, vọng tưởng phiền não, nhưng trong cái cảnh trần lao đều có Như lai Tạng'. Qua chứng minh trên chứng tỏ rằng hiện ở trong Địa ngục không có trở ngại gì cho việc thọ ký.

Hỏi: Bậc chí nhân (chí tôn) khi dụng tâm là các thứ phan duyên đều dứt hẳn, còn chúng sanh phóng tâm chạy theo duyên, đều thấy Như lai, chưa biết ở giáo lý nào? Kinh điển nào?

Đáp: Trong giáo lý có dạy: 'Người khởi tâm duyên khắp sáu trần, ba nghiệp nhưng phát diệu nguyện vào cảnh giới Phật, mỗi thứ duyên khởi không lìa Như lai gọi là thấy tất cả, chỗ thấy viên mãn này không phải do mắt mà thấy được.

Kinh Niết Bàn dạy: 'Thanh văn có Thiên nhãn được coi là Nhục Nhãn (mắt thịt), người học Đại thừa lấy nhục nhãn (mắt thịt) làm Phật nhãn vì hiểu rõ thân mình có Phật tánh'.

Kinh Thắng Thiên Vương dạy: 'Các Đại Bồ tát dùng sức phương tiện thực hành Bát Nhã Ba La Mật, đối với tất cả pháp, tâm duyên tự tại. Duyên tất cả sắc nguyện được Phật sắc không chỗ được. Duyên theo các tiếng nguyện được vi diệu âm thinh của Như lai. Duyên các thứ hương nguyện được thanh tịnh giới hương của Như lai. Duyên các mùi vị nguyện được vị đệ nhất Trượng Phu Tướng của Như Lai. Duyên các sự xúc chạm nguyện được bàn tay mềm mại của Như lai. Duyên các pháp nguyện được tâm tịch tịnh của Như lai. Duyên thân nguyện được thân Phật. Duyên khẩu nguyện được Phật khẩu. Duyên ý nguyện được ý bình đẳng của Như lai. Đại Bồ tát thực hành Bát Nhã Ba La Mật không có một tâm một hạnh nào luống qua mà không hướng vào Nhất thiết Chủng trí, duyên khắp các pháp mà không chấp trước. Quán thấy các pháp đều hướng về đạo Bồ đề; Bồ tát tu tập các hạnh đều do ngoại duyên mà thành lập, cũng như quả đất, trên đó nếu muốn đào ao, đào giếng liền có nước mà dùng, nếu không chịu đào, không làm sao mà có được nước? Cảnh giới thánh trí cũng thế, trùm khắp tất cả pháp, nếu người nào siêng năng tu Bát Nhã Phương Tiện thì sẽ được Thắng trí Bát nhã, nếu không chịu tu thì làm sao có thể đạt được ?
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Chánh văn

5. Quán không, vô ngã chọn việc thiện mà theo.

Hỏi: Tức phàm là thánh đều là vô ngã. Như thế vô ngã của Tam giáo tức không khác, nghĩa ấy thế nào?

Đáp: Tên của Tam giáo ban đầu đã không khác lý lại chẳng đồng. Đức Phu Tử (Trọng Ni) ở trong Tứ Tuyệt có nói đến Vô Ngã là ý khiêm nhường; Đạo Lão nói vô ngã là nói thời gian dài không có chủ; Còn Đạo Phật nói vô ngã là quán năm uẩn đều không.

Khổng giáo và Lão Giáo đều không hiểu rõ ngũ uẩn thì làm sao hiểu được Tứ Đế, Lục Độ Vạn Hạnh. Nói gì đến giai cấp. Thánh Hiền tuyệt nhiên chưa nghe, nên kẻ sĩ tu tâm cần phải chọn việc tốt nhất mà theo đó.

Vì việc Bất thiện (chẳng lành) không ích lợi đối với chí chơn, không ghi và quên luôn cả thiện và ác, làm trở ngại cho Phật Pháp, đâu không phải từ đó mà ra nên Thánh Nhân đơn giản (bỏ) mà không lấy. Niệm Phật Tam Muội là bậc thiện tối thượng, là đầu của muôn hạnh, nên gọi là vua Tam Muội.

6. Không chọn thiện không bỏ ác

Hỏi: Nếu chọn thiện để theo vì sao không chọn cái thiện của Chư Phật và bỏ cái ác của chúng sanh?

Đáp: Không cần đổi câu hỏi lại, cũng thành câu đối đáp. Vì sao, vì chọn thiện mà theo thì bao hàm cái ác mà thiện, tức vọng mà chơn. Nếu có thể niệm Ông Phật ở vị lai, nói cái sanh của Bồ Tát Thường Bất Khinh thì trời đất là một, muôn vật là một lông ngựa vậy.

Chúng sanh đều là Phật nên cõi này thường thanh tịnh, khác nào Ngài Xá Lợi Phất xem cõi này là đá, cát, ngói, gạch, đồng với cõi trân bảo trang nghiêm của Phạm Vương, vì vậy chọn chỗ chí thiện là không ai có thể bỏ.

Kinh Pháp Hoa nói rõ diệu ý tuyệt đối đãi: ‘Chúng sanh thấy kiếp cuối, khi lửa lớn thiêu đốt, cõi ta đây yên ổn, trời người rất sung túc, lầu nhà và vườn rừng, các thứ báu trang nghiêm’.

Trong Kinh Thắng Thiên Vương nói: ‘Chỗ Phật ở thật không phải cõi uế, vì chúng sanh phước mỏng nên thấy có bất tịnh’. Phàm năng lực mạnh mẽ của Tam Muội, không thể dùng vọng tưởng muỗi rệp (nhỏ nhít) mà có thể phá hoại. Gõ hồng chung niệm mười niệm không gián đoạn, đối với tán tâm niệm Phật có sai khác rất rõ. Niệm Phật A Di Đà là niệm chung cả Chư Phật trong ba đời, niệm Chư Phật Bồ Tát cũng như vậy. Luận Đại Thừa Khởi Tín dạy: ‘Y cứ vào một hướng nên bị lầm chuyển (Tây cho là Nam) sự thật phương hướng không có đổi. Vì thế, biết rõ được một phương là các phương khác đều đúng, niệm một vị Phật là Chư Phật hiện tiền. Đây chính là yếu nghĩa của Pháp Môn Đại Thừa vậy.

7. Không thể ăn thịt tất cả chúng sanh

Hỏi : Thịt là thứ để cho người ăn, người niệm Phật cấm tuyệt là ý gì ?

Đáp : Quốc Vương Thi Tỳ xã thân cứu con vịt đem toàn thân cân mới bằng, người và cầm thú tuy khác, nhưng đều tham sống sợ chết, nên đâu có thể ăn thịt nó, dùng béo thân mình để hại mạng nó đâu chẳng đáng sợ sao ? Nếu biết rằng chúng sanh là Phật vị lai, thì ai nở dùng dao giết hại mạng chúng!

Kinh Thủ Lăng Nghiêm có bài kệ: 'Vì lợi giết chúng sanh, vì tiền lưới các vật. Hai món đều nghiệp ác, chết vào ngục kêu than'. Vì thế, Phật dạy nếu đem tiền của bố thí thì kẻ lưới thú và những người làm hàng thịt tự nhiên không có. Vì vậy, Tổ Long Thọ không khinh chim nhỏ, bậc cao tăng không dám đạp trùng kiến. Nếu có người hỏi việc này ta có thể đáp: Các chúng sanh lớn nhỏ cùng với ta đồng ở trong bể sanh tử, các chúng sanh kia hoặc có kẻ thành chánh giác trước ta, đâu thể dám khinh lờn. Khinh còn không được, huống gì ăn máu thịt của chúng.

Luận Bửu Tánh dẫn Kinh Như Lai Tạng dạy: 'Chúng sanh là Đệ nhất nghĩa đế (Phật), là Như Lai Tạng, là Pháp Thân, là Bồ Đề'. Nếu người không hiểu ý chỉ niệm vị lai Phật, như con chó chỉ đuổi theo gói đồ ăn, không theo người, việc theo đuổi biết bao giờ dứt. Người chỉ niệm Phật quá khứ và hiện tại mà không niệm Ông Phật vị lai thì lòng ngã mạn không dứt. Nếu sư tử đuổi theo người, thì gói đồ ăn vứt ngay vì không cần thiết. Chúng ta thường nghe cung kỉnh và ngã mạn là một, nhưng tánh cách rất khác nhau. Bỏ cung kỉnh theo ngã mạn đối với cha mẹ là đại nghịch, bất đạo, bỏ ngã mạn theo cung kỉnh đối với cha mẹ là người đại hiếu. Nên kinh Phạm Võng dạy: 'Chúng sanh trong sáu đường đều là cha mẹ. Hiếu gọi là giới, thiện căn phát khởi từ đây.' Quán chúng sanh trong sáu đường đều là Phật ở tương lai rất gần với ý tưởng xem chúng sanh trong sáu đường là cha mẹ. Như vị Sa Di cứu đàn kiến tuổi thọ gia tăng, Lưu Thủy Trưởng giả dẫn nước cứu cá được Trời rưới hoa, thay cái chấp vô số kiếp lượng của chúng sanh để niệm cái thân của tương lai Phật. Phải biết trong đống phân ô uế có vàng ròng, tuy có nhiều lớp mây che, nhưng sau đó là trăng sáng. Như thế việc ham ăn thịt là những mây mù nghiệp báo sanh tử, cần phải dùng gió Huệ quét sạch thì Tam Muội hiện tiền, Kinh Phạm Võng dạy : 'Ta là Phật đã thành, các Ông là Phật đang thành.' Nếu người thường có lòng tin như vậy thì giới phẩm đã trọn vẹn, đâu được không thể niệm vị lai Phật ư?

Hỏi: Thịt không được ăn tôi đã tin rồi, còn ngũ tân thì sao?

Đáp: Kinh Phật Đảnh Thủ Lăng Nghiêm dạy : 'Năm thứ rau này, nếu ăn chín thì khởi lòng dâm, ăn sống tăng giận hờn. Người ăn năm thứ rau này dù có thể nói giỏi mười hai bộ kinh, Thiên Tiên trong mười phương nghe mùi hôi hám nên đều xa lánh, các ngạ quỷ theo người ăn ngũ tân liếm môi mỏ, thường cùng quỷ ở chung. Phước đức mỗi ngày mỗi tiêu, thường không lợi ích. Những người tu thiền ăn ngũ tân này, Bồ Tát Thiên Tiên, Thiên Thần trong mười phương không đến giúp hộ, Đại Lực Ma Vương được nhiều phương tiện gia hại. Người tu Đạo Bồ Đề phải vĩnh viễn đoạn tuyệt ngũ tân, đây là việc tăng tiến thứ nhất trong việc tu hành, đây là lời vàng chúng ta đâu nên trái lại.

Kinh Bách Dụ nói: 'Có người ở trên đường nhặt được một rương tiền vàng, cắm cúi đếm chưa xong, chủ rương tiền đến, lấy tiền lại. Người đi đường hối hận sao hồi trước không đi nhanh, buồn rầu khổ sở? Như người gặp Phật Pháp không gấp siêng năng tu hành, chỉ thích nghe nhiều, bất chợt mạng chung, đọa vào ba đường ác, như người ngu kia, lẩn quẩn tính toán để người chủ đến đoạt mất. Có bài kệ rằng:

Ngày nay tạo việc này,

Ngày mai tạo việc kia,

Vui đắm không biết khổ,

Không ngờ giặc chết đến,

Dần dà lo các việc,

Kẻ phàm đều như vậy,

Như kẻ đếm tiền kia,

Việc đó cũng như vậy.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Chánh văn

II. Quyển Trung: Quyển Trung gồm có sáu môn, Niệm Cứu Kính Giác là niệm ông Phật hiện tại chuyên chú vào một cảnh.

8. Niệm hiện tại phật chuyên chú vào một cảnh

Hỏi : Niệm vị lai Phật chính là chúng sanh đã nghe được huyền chỉ sự rộng, lý sâu, lại e tâm tán loạn khó thúc liễm, nay muốn dùng một để thấu suốt tất cả, chuyên niệm một vị Phật ở phương Tây, niệm một vị Phật để vào vị bất thối, bỏ tâm hữu lậu, chèo thuyền ở ao vàng ròng, lễ Phật Di Đà ở Điện Bạch Ngọc, dùng chung ba đời, mong vào chín phẩm có thể được chăng ?

Đáp : Luận Thập Trụ Tỳ Bà Sa, Bồ Tát Long Thọ y theo Kinh Hoa Nghiêm mà tạo luận. Trong luận có phẩm hạnh dễ làm viết : 'Đường thực hành của Bồ Tát có hạnh khó làm như người đi bộ vất vả gian nan; có hạnh dễ làm như người đi thuyền khỏe thân mà mau đến. Năng lực bổn nguyện của Phật A Di Đà, nếu người nghe danh xưng niệm, chính mình được về nước Cực Lạc kia, như thuyền nước xuôi gặp gió thuận, ngày vượt xa ngàn dặm đâu có khó gì ! Vì thế, Phụ Vương và quyến thuộc của Đức Thích Ca Như Lai, sáu muôn họ Thích đều sanh về cõi Cực Lạc vì Phật A Di Đà và chúng sinh trong thế giới này có duyên sâu dày, nên chuyên chú một cảnh, viên thông cả ba đời là điều rất tốt vậy.

Hỏi : Chuyên chú một cảnh, viên thông ba đời là điều rất tốt, nhưng xưng niệm tự tâm mình để được vãng sanh về nước kia là dùng hữu vi hư giả như gió làm nhiều sóng, đâu chẳng tưởng bậy ở bên ngoài, mình chỉ nhiếp tâm ở bên trong làm sao hợp với ý chỉ vô vi ?

Đáp : Hữu vi tuy hư giả bỏ đi thì đạo nghiệp khó thành, vô vi tuy thật lấy đó thì tâm huệ không sáng. Trong kinh dạy : 'Nhàm lìa công đức hữu vi là ma nghiệp, ưa đắm công đức vô vi cũng là ma nghiệp. Ông nay chán hay vui sự giao tranh đâu chẳng lạc vào hang quỷ ư ? Nếu Thánh Hiền nhiếp tâm gọi là nội, Phàm phu đã tưởng gọi là ngoại, nếu cho chạy bên ngoài là loạn, trụ ở bên trong là định. Chỗ chạy loạn bên ngoài hoặc bên trong đều không phải là ý của chỗ nhiếp tâm của niệm Phật Tam Muội. Trong phần chú kinh Duy Ma Cật, Pháp Sư La Thập kể : Ở nước ngoài có một người con gái rất đẹp, thân thể như vàng ròng, có người con của một vị trưởng giả tên là Đạt Mộ Đa La dùng một ngàn lượng vàng để cưới, khi rước dâu đi ngang Tinh Xá Trúc Lâm, Bồ Tát Văn Thù ở trên đường biến thân một nữ cư sĩ, mặc bộ đồ rất quý báu sang trọng, người nữ thấy rồi lòng tham phát khởi, muốn được bộ đồ đẹp ấy. Ngài Văn Thù nói : Nếu cô muốn được bộ đồ đẹp này, cô phải phát Tâm Bồ Đề, tôi sẽ tặng cho. Người nữ hỏi thế nào là Tâm Bồ Đề ? Ngài Văn Thù trả lời : Chính là thân cô đấy ! Cô ta hỏi : đó là ý nghĩa gì ? Ngài Văn Thù đáp : Tánh Bồ Đề vốn không, thân của cô cũng không. Người con gái đời trước đã từng ở nơi Phật Ca Diếp gieo trồng nhiều căn lành, rộng tu trí huệ, nghe lời ấy rồi liền chứng được Vô Sanh Pháp Nhẫn. Được Pháp Nhẫn rồi mới biết sự ham muốn của mình là sai, liền cùng con ông trưởng giả đi vào rừng. Khi vào rừng, cô ta hiện tướng ngất xỉu mà qua đời, thời gian sau thân thể sình chương hôi thối. Con ông Trưởng giả thấy thế rất sợ, tìm đến Tinh Xá, Phật thuyết pháp cho ông cũng được Pháp Nhẫn. Người Đại Giác chưa thành, chưa rảnh rỗi việc nên gọi là nhẫn, như tự quán thật tướng của thân, quán Phật cũng vậy, nữ thân không, thân Phật cũng không, đâu có gì là. Nếu được như thế thì tất cả hữu vi là vô vi, tất cả trong ngoài không phải trong ngoài. Vì thế, ở chỗ có mà chưa từng có, có mà thường không, ở chỗ không mà chưa từng không, không mà hằng có thì nào lo gì Phật có tướng tâm có niệm.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Chánh văn

9. Đời này đời sau một niệm mười niệm

Hỏi : Đã nói về chỗ dễ làm và khó làm, quán thân là Bồ Đề ý chỉ đã rõ ràng, người sống ở đời mong manh như điện chớp, nếu để một niệm dần dà ăn năn không kịp. Người tu hành, biết tâm vô thường huống là thân, thân còn vô thường huống là vật ngoài thân. Một khi hơi thở ra không trở vào liền thuộc đời sau, gió nghiệp thổi bồng bềnh, mờ mờ không biết về đâu, dám mong chỉ cho thế nào một niệm và mười niệm vãng sanh và cái kế của đời này và đời sau thế nào ?

Đáp : Pháp môn Tịnh Độ công năng rất lớn, hàng Nhị Thừa thì lắng thần hư vô, chìm không sợ tướng, không nhớ chúng sanh, nên nói không có Tịnh Độ, nhưng Đại Thừa luôn luôn nhắc nhở. Kinh Bi Hoa dạy : Phật Di Đà xưa là một Chuyển luân vương tên là Vô Tránh Niệm có rất nhiều của báu và con cái. Nhờ có ông thiện tri thức là Bảo Hải đại thần hướng dẫn mà Ngài ở trước Phật Bảo Tạng phát Bồ Đề tâm, trang nghiêm Tịnh Độ Cực Lạc ở phương Tây, trong Kinh nói các Phật, Bồ tát, Thinh Văn đều là con cái của Ngài. Trưởng Thái Tử tên Bất Thuần là Đức Quan Thế Âm, con thứ tên Ma Ni là Đức Đại Thế Chí, con thứ tên Vương Chúng là Đức Văn Thù Sư Lợi, con thứ tên Dẫn Đồ là Đức Phổ Hiền, con thứ tên Năng Già Nô là Bồ Tát Kim Cang Trí Quang Minh, con thứ tên Vô Úy là Như Lai Liên Hoa Tôn, con thứ Am Bà La là Bồ Tát Hư Không Quang Minh, con thứ tên Hương Tý là Bồ Tát Sư Tử Hương, con thứ tên Mật Tô là Phật A Súc. Mật Tô từ khi phát tâm tu hành, thường dùng phương pháp ký số niệm Phật theo từng bước đi, nhờ đó mà mau thành chánh giác, hôm nay đã thành Phật ở nước Diệu Lạc. Chúng ta ngày nay trong lúc đi bộ ở đường cái hay dạo bước ở vườn rừng, đều nên bắt chước phương pháp niệm Phật của Ngài Mật Tô. Dù ở chốn đế đô, người qua kẻ lại, xe ngựa rộn ràng, không khí rộn rịp, ta luôn luôn nghĩ đến sinh tử là việc lớn, cần phải dụng tâm niệm Phật theo mỗi bước chân đi. Cõi đời thân người mong manh, sanh tử chỉ trong hơi thở, bất kỳ thời gian nào dù đang súc miệng, chải tóc đều cùng là bờ mé của sinh tử. Người đời phần nhiều lấy ngọc, gỗ, đá làm số châu niệm Phật, riêng tôi chỉ lấy hơi thở làm niệm châu, niệm danh hiệu Phật theo hơi thở, mỗi hơi thở là một câu, có nhiều lợi ích, không lo gì một hơi thở không trở lại liền thành đời sau. Ông nên đi đứng ngồi nằm thường dùng loại châu này để niệm Phật. Dù sắp ngủ cũng ngậm ông Phật mà ngủ, thức dậy lại tiếp tục. Chắc chắn ở trong mộng được thấy Phật A Di Đà, như người cọ lửa vừa thấy khói sanh lửa liền cháy sáng. Nếu trong mộng mà vẫn thực hành được pháp tu này thì Niệm Phật Tam Muội liền thành, tạng mặt gặp Phật A Di Đà, xin Ngài thọ ký, chắc được kết quả, ông hãy gắng đó.

Hỏi : Một niệm, mười niệm vãng sanh Tịnh Độ lấy cái nào làm chánh?

Đáp : Một niệm vãng sanh vào địa vị bất thối làm chánh. Như Phật dạy: Chê Phật, hủy kinh, đánh tăng, làm nhục bực tôn túc, thuộc về tội ngũ nghịch, tứ trọng đều do một niệm mà thành, bị đọa vào địa ngục nhanh như tên bắn. Hôm nay người niệm Phật sanh Tịnh Độ là nhất niệm thiện nghiệp thành tựu, được về Cực Lạc nhanh như khảy móng tay. Một niệm trước năm ấm diệt một niệm sau năm ấm sanh, như ấn sáp in vào bùn, ấn tan thì văn thành không có hai niệm. Ngày xưa có vị Sa Di ưa tô lạc, một niệm sanh ưa thích, sau sanh làm con trùng ở trong lạc. Vợ của ông Trưởng giả Đại Tát Bà, ngồi đối với gương sáng, soi gương tự khởi một niệm ưa thích thân mình, sau đó gió thổi chìm thuyền, bà sanh làm con trùng ở trong tử thi. Tất cả đều do một niệm mà ra. Trong kinh Vô Lượng Thọ viết: người có một niệm niệm Phật đều được vãng sanh. Quán Kinh dạy 10 niệm vì người tật bịnh yếu ớt, sức kém, tâm yếu, nên lấy 10 niệm xưng danh để giúp cho một niệm. Nếu tâm mạnh mẽ, không mê, chỉ cần một niệm cũng đủ sanh rồi không có gì lo ngại.
 
Last edited by a moderator:

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Chánh văn

10. Tâm ấy là phật, tâm ấy làm Phật

Hỏi : Trong kinh có nói rõ tâm ấy là Phật, tâm ấy làm Phật. Vì sao lại xưng niệm danh hiệu của Phật A Di Đà ở phương xa, giữ tướng Cực Lạc, có phải là từ ngoài tâm mà tìm Phật không ?

Đáp : Câu hỏi của ông là dẫn từ Quán Kinh, ý chính nói rõ về niệm Phật A Di Đà, vì nhớ Phật nên Phật từ trong tưởng mà sinh ra, nên nói tâm ấy là Phật. Đâu thể trộm lấy phương pháp Quán Tưởng Phật A Di Đà mà xoay lại nói tâm mình là Phật A Di Đà. Nếu nói rằng không cần xưng niệm danh hiệu Phật A Di Đà mà tâm ấy là Phật, cũng như không tưởng ác mà tâm ấy là tâm ác. Đem so sánh thì biết. Huống nữa Đức Phật A Di Đà là Bậc Chí Tôn ở nuớc Cực Lạc. Nước Cực Lạc cách đây mười muôn ức cõi Phật, núi Tu Di đều là vật ở trong tâm nên không làm nhãn căn ta chướng ngại, hằng hà sa tướng hảo, do sức nguyện lực của Phật mà tưởng thành, khảy móng tay liền được vãng sanh, đâu cần vọng tình cõi kia xa gần.

Hỏi :Ánh sáng của Phật, ánh sáng của Ma, tự quán và tha quán, tà chánh lộn xộn mong được khai thị rõ ràng từng điểm một ?

Đáp : Y theo tưởng mà hiện gọi là tự mình quán, đó là Chánh quán. Không y theo tưởng mà hiện gọi là tha quán, cũng là Tà quán. Như ta quán tưởng Bạch hào mà bạch hào không hiện, trong lúc ấy chưa tưởng mắt xanh mà mắt xanh hiện là trái với bản tâm, huống là các tưởng khác. Ánh sáng của Phật êm dịu, không bóng và không chói mắt, ánh sáng của ma thì có bóng và chói mắt. Kinh Lăng Nghiêm dạy : Ánh sáng của Ma chiếu đến làm ta nóng xót như lửa hừng, ánh sáng của Phật mát mẻ không chói mắt. Lại nữa : Ánh sáng của Phật làm người niệm Phật thân tâm lặng lẽ thanh tịnh, ánh sáng của Ma làm người niệm Phật cảm thấy tâm bồn chồn hoảng hốt. Kinh Niết bàn dạy : 'Trong suốt thanh tịnh là chơn giải thoát.'

Hỏi : Bậc chí nhân không có lo nghĩ, ở đây nói dùng tưởng, đâu chẳng sai lầm ư ?

Đáp : Kinh Đại Oai Đức Đà La Ni dạy : 'Muốn vượt qua ba cõi và kiến tư hoặc cần phải phát khởi tâm muốn, Tưởng không phải là Tâm ham muốn. Đây cần kể rõ : 'Muốn tu niệm Phật cần phải phát tâm tưởng, tưởng mà không có tưởng.' Kinh Phương Đẳng Hiền Hộ dạy : 'Người có ham muốn ác tưởng đến người nữ, mộng thấy người nữ, có ham muốn thiện tưởng Phật, mộng thấy Phật. Hai tưởng tuy đồng tên mà thiện và ác cách xa một trời một vực, vì thế không thể nghe nói tưởng mà sanh nhàm chán. Nếu quả nhàm chán chắc sanh về cõi trời Vô tưởng. Nếu chấp vô tưởng mà chê tưởng Phật thì vĩnh viễn rơi vào Địa ngục A Tỳ. Trong mười phương, đâu hy vọng được đến Thiên Cung! Huống nữa các cõi trời, chẳng phải là con đường giải thoát. Kinh Niết bàn dạy: 'Người nghe trống độc, xa gần đều chết.' Ở đây cũng như vậy, người bát không theo tưởng, xa gần đều bị đọa. Kinh dạy : Hoặc có người được sanh lên các cõi Trời, lên cao xuống thấp cuối cùng cũng bị đọa. Phàm nâng thuyền hay úp thuyền đều do nước, hoặc đứng hoặc té đều từ đất. Tưởng Vọng tức chúng sanh, tưởng Chơn tức chư Phật, lìa ngoài tưởng ra còn dùng được gì ? Kinh Ban Chu dạy : Tâm khởi tưởng là si, vô tưởng là niết bàn. Nên biết rằng người có tâm năng tưởng, tưởng Ông Phật sở tưởng hoặc lấy tưởng Phật, lấy chấp không làm vô tưởng đều thuộc về si. Hôm nay chúng ta rõ Phật từ tưởng sanh, không Phật cũng không tưởng làm gì có si. Đây chính là Quán Không Tam Muội, không có tà kiến. Phàm là bậc chí chơn, rõ chơn thể tịch tịnh, tâm thường rỗng rang như hư không, muôn pháp đều chiếu, tâm chưa từng chấp có, đấy là vô duyên của chơn trí, nên gọi là vô niệm, tục trí có duyên, tưởng niệm liền sinh. Lại nữa tưởng chẳng khác không, không chẳng khác tưởng, đó chính là Trung Đạo Đệ Nhất nghĩa đế, đây là hiển pháp thân. Không chẳng khác tưởng là tục đế, hằng sa muôn đức đều y theo tục đế, đây là hiển Báo thân. Tưởng tức không là chơn đế, phá 25 hữu, được 25 tam muội, thường không thường giáo hóa, hòa quang đồng trần, lợi vật độ sanh, đây là hiển thị Hóa thân. Như thế thì lấy Tam quán, quán tam đế, quán tam đế chứng tam Đức, thành tam Thân, cho đến 10 loại, ba pháp có chỗ nào chẳng được mà muốn bỏ cái tưởng thanh tịnh để lấy cái tưởng của vô tưởng ư. Các Kinh Lăng Nghiêm, Mật Nghiêm đều dạy : 'Thà khởi hữu kiến như núi Tu Di, chẳng khởi cái không kiến bằng hạt cải.' Người tin có nhân quả còn tưởng niệm Phật sanh về Tịnh độ Cực Lạc, người bát không nhơn quả, chê việc niệm Phật chắc bị đọa địa ngục A Tỳ. Than ôi ! Há chẳng sợ ư!
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Chánh văn

11. Cao tiếng niệm phật mặt hướng về tây

Hỏi : Tưởng tức vô tưởng, tôi đã nghe qua. Trong Kinh Phương Đẳng dạy : Tu vô thượng Thâm Diệu Thiền Định, phải tưởng bạch hào liên tục, gồm xưng danh hiệu Phật để cầu được thắng định, đã khế hợp rồi, tâm và Phật đều quên, là có đủ niềm tin rồi vậy. Chỉ cần mặc niệm làm suối tâm tự trong, tam muội tự đến, hà tất niệm tiếng vang làng xóm, rền khắp núi rừng, như vậy cho là đạo sao ?

Đáp : Âm thinh là việc tốt để tu hành, phàm chỗ cốt yếu để trị bịnh hôn trầm hay tán loạn, cần phải dùng tiếng, nếu tiếng không rõ, thì tâm bồng bềnh không định. Có 5 nghĩa :

1. Nhổ cỏ phải nhổ tận gốc, tiếng niệm Phật cũng vậy, dùng một tiếng tận lực, tất cả phiền niệm như mây tan biến.

2. Tiếng niệm Phật vang đến đâu, tất cả ác quỷ đều xa lìa, nên làm cho Công Đức Tòng lâm ngàn năm hưng thịnh.

3. Người xưa cao tiếng niệm Phật, liền thấy tướng tốt, Phật hiện diệu tướng, hoa tán hư không.

4. Như người kéo gỗ đá, một người xướng lớn, nhiều người hòa theo chuyển vật nặng thành nhẹ, nhờ tiếng giúp mà có sức mạnh.

5. Khi hai bên giao chiến, thắng bại chưa phân, nếu có một phía dùng tiếng để khích lòng quân có thể phá cường địch, có thể dùng trống, hoặc tiếng nói để thúc dục. Người tu tam muội trước phải cao tiếng niệm Phật là chỉ, lặng lẽ tưởng bạch hào là quán, cao tiếng niệm Phật dứt được tán loạn và hôn trầm, tâm tưởng bạch hào mới được yên tịnh. Dụng công như vậy Phật chắc gia hộ vì phù hợp với ý Phật. Trong lời tựa quyển Niệm Phật Tam Muội dạy : 'Công cao dễ tiến, niệm Phật là trước, lời niệm Phật vừa vang ra, trần lụy liền tiêu. Nếu tình trần đã tiêu thì huệ tâm liền sáng, chỗ chí diệu thoát khỏi trần lao, không do âm thinh niệm Phật thì không ai làm được'. Kinh Hoa Nghiêm dạy : 'Thà chịu vô lượng khổ mà nghe được âm thinh Phật, còn hơn thọ tất cả vui, mà không nghe hiệu Phật.' Vì thế, tiếng niệm Phật vừa vang, khai mở hạt giống Phật, như sấm chớp mùa xuân làm cây cỏ mọc mầm, đâu được khinh chê ư ?

Hỏi : Tịnh Độ trong 10 phương đều có Như Lai, vì sao mặt cứ hướng Tây, đâu chẳng phải là trệ chấp ư ?

Đáp : Đây là lời Phật dạy trong kinh Phương Đẳng đã nói như thế, chẳng phải là ý của các Sư. Người không thuận theo ý kinh là người chê Pháp. Người si thấy Đức Quan Âm có 11 mặt, lại vấn nạn tại sao không vẽ 12 mặt. Nếu có tượng họa 12 mặt lại vấn nạn tại sao không vẽ 11 mặt. Nếu chạy theo hý luận như thế là người si vậy. Kinh Thắng Thiên Vương dạy : ' Đức Như Lai có 80 cách đẹp, tùy theo công đức mà phát lộ hào quang gọi là hướng tới mà quay vào người khác. Nên biết Phật mặt thường hướng về tất cả chúng sinh, hành giả một hướng tất cả hướng đâu không có sự sai khác kia đây, phân biệt hướng tới quay lưng. Xưa Trí Giả Đại Sư từ thiếu niên xuất gia đến 60 tuổi, nằm thì chắp tay, ngồi mặt luôn luôn hướng về Tây, khi sắp vãng sanh, bảo tăng chúng đọc 48 đại nguyện chương cửu phẩm quán, hào quang sáng khắp núi, nhạc trời tấu vang, Ngài ngồi hướng mặt về Tây mà tịch. Vì thế, việc hướng mặt về Tây là việc lớn của người tu Tịnh Độ vậy.

(lược bớt 1 phần)'
 
Status
Không mở trả lời sau này.
Top