Niệm Phật tam-muội bảo vương luận

Status
Không mở trả lời sau này.

Đức Trí

Member
Tham gia ngày
26 Tháng 6 2015
Bài viết
88
Reaction score
16
Điểm
8
Ui chao! Tranglinh ơi lời của Tranglinh đã có chỗ hở sườn với chánh kinh mà Tranglinh góp phần xiểng dương - Đây là thời mạt pháp.
Tranglinh nói pháp môn niệm Phật nâng ngộ tánh lên tầm cao mới. Người học Phật ngày nay theo pháp môn niệm Phật cũng rất đông. Nếu luận theo cách của Tranglinh thì người chứng ngộ sẽ phải rất nhiều rồi, đâu giống thời mạt pháp.
Tranglinh lại bảo người theo pháp môn niệm Phật dứt vọng tưởng thì lời nói này có gượng ép, cưỡng cầu không? Vì gần như người học Phật theo pháp môn niệm Phật đều vọng cầu vãng sanh cực lạc quốc. Có lẽ Tranglinh cũng không là ngoại lệ.
Hỏi Tranglinh chánh pháp với Tranglinh đang là chánh pháp hay mạt pháp mà Tranglinh cũng không thể nói rõ lại vẽ vời thế nhân.
Latuan không đến để vấn nạn Tranglinh hỏi đáp thế này latuan đã rõ nên không phiền Tranglinh nữa. Chớ khách sáo bảo không phiền latuan lại tham vấn sẽ khiến Tranglinh khó nghĩ nhiều.
Đừng nói latuan có thành kiến với pháp môn niệm Phật, lời này của Tranglinh nhận định không đúng về latuan. Vì latuan đã từng xác quyết Thái tử Tất đạt do niệm Phật tam muội mà thành Phật kia mà.
Đã biết đến chánh pháp thì đừng tự cô phụ chính mình, đừng tham cứu kinh sách bất liễu nghĩa, nhận lầm ngụy kinh là chánh pháp mà mê mờ trí huệ tự thân, tánh giác - Phật tánh. Đó là lời latuan gửi đến Tranglinh.
Mến!
Úi dào ! Ngài latuan ơi ! Ngài có biết "vãng sanh cực lạc quốc" là gì không ? Có biết liễu nghĩa, bất liễu nghĩa là gì không ?

Nếu ngài đã chạy , thì xin bạn tranglinh hãy "mặc nhiên tịnh kiến" đi ! Nhưng xin ngài latuan đừng có tung hỏa mù để "Rút lui chiến thuật" như thế.
 

latuan

Cựu Thành Viên Diễn Đàn
Tham gia ngày
15 Tháng 4 2015
Bài viết
1,263
Reaction score
413
Điểm
83
Úi dào ! Ngài latuan ơi ! Ngài có biết "vãng sanh cực lạc quốc" là gì không ? Có biết liễu nghĩa, bất liễu nghĩa là gì không ?

Nếu ngài đã chạy , thì xin bạn tranglinh hãy "mặc nhiên tịnh kiến" đi ! Nhưng xin ngài latuan đừng có tung hỏa mù để "Rút lui chiến thuật" như thế.
Hi! Bạn Đức Trí! Lời nào latuan nói không hợp tai, sai với chánh pháp bạn Đức Trí nói ra cho đại chúng nghe thử. Nếu đã nói thì cứ bày hẳn cái biết của mình ra chứ đừng có nấp sao chéo áo của Phật, của Tổ mà gầm gừ, giương nanh, múa vuốt.
 

auduongphong

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
29 Tháng 4 2015
Bài viết
640
Reaction score
276
Điểm
63
Chào Trí Đức

Úi dào ! Ngài latuan ơi ! Ngài có biết "vãng sanh cực lạc quốc" là gì không ? Có biết liễu nghĩa, bất liễu nghĩa là gì không ?

Nếu ngài đã chạy , thì xin bạn tranglinh hãy "mặc nhiên tịnh kiến" đi ! Nhưng xin ngài latuan đừng có tung hỏa mù để "Rút lui chiến thuật" như thế.
Cái này auduongphong cũng đang còn bí lắm . mong Đức Trí nói rõ nhé: vãng sanh cực lạc quốc là gì vậy, liễu nghĩa bất liễu nghĩa là thế nào. khi nào thì gọi là liễu nghĩa , khi nào thì gọi là bất liễu nghĩa.
còn ví như chẳng liễu nghĩa , chẳng bất liễu nghĩa thì gọi là gì?
Cám ơn nhiều
 

Đức Trí

Member
Tham gia ngày
26 Tháng 6 2015
Bài viết
88
Reaction score
16
Điểm
8
Cái này auduongphong cũng đang còn bí lắm . mong Đức Trí nói rõ nhé: vãng sanh cực lạc quốc là gì vậy, liễu nghĩa bất liễu nghĩa là thế nào. khi nào thì gọi là liễu nghĩa , khi nào thì gọi là bất liễu nghĩa.
còn ví như chẳng liễu nghĩa , chẳng bất liễu nghĩa thì gọi là gì?
Cám ơn nhiều
Bạn auduongphong đã hỏi thì Đức Trí đâu dám làm ngơ. Nhưng ngặt vì chủ đề này của Bạn tranglinh, đành nhường cho bạn ấy cầm chịch vậy. Chỉ có thể ké một ít lời là:

Niệm Phật là vãng sanh cực lạc quốc, Niệm Phật là liễu nghĩa , không Niệm Phật là bất liễu nghĩa . khi nào Niệm Phật là thì gọi là liễu nghĩa , khi nào không Niệm Phật là thì gọi là bất liễu nghĩa.
còn ví như chẳng liễu nghĩa , chẳng bất liễu nghĩa thì gọi là vô ký chẳng niệm Phật.

Kính.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Bạn auduongphong đã hỏi thì Đức Trí đâu dám làm ngơ. Nhưng ngặt vì chủ đề này của Bạn tranglinh, đành nhường cho bạn ấy cầm chịch vậy. Chỉ có thể ké một ít lời là:

Niệm Phật là vãng sanh cực lạc quốc, Niệm Phật là liễu nghĩa , không Niệm Phật là bất liễu nghĩa . khi nào Niệm Phật là thì gọi là liễu nghĩa , khi nào không Niệm Phật là thì gọi là bất liễu nghĩa.
còn ví như chẳng liễu nghĩa , chẳng bất liễu nghĩa thì gọi là vô ký chẳng niệm Phật.

Kính.
Xin Bạn Đức Trí đừng làm khó ngài latuan và ngài auduongphong như thế ! Để từ từ biết đâu các vị ấy sẽ niệm Phật.

Đối với câu hỏi của bạn ở bài trước

Tôi thường nghe, có 4 pháp niệm Phật là:

1. Trì danh niệm Phật

2. Quán tượng niệm Phật

3. Quán tưởng niệm Phật

4. Thật tướng niệm Phật.

Phải chăng. luận này là nói về "Thật Tướng niệm Phật" ?
Thì luận này, chủ yếu dạy về "Thật Tướng niệm Phật".

Nếu không có câu hỏi trọng tâm chủ đề, thì tranglinh xin được tiếp tục nhé các Bạn.

 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần chánh văn

Tam muội : Tam muội là tiếng Phạn, nói cho đủ là Tam muội da. Trung Hoa dịch là Chánh thọ, Chánh định hay Điều trực định. Chánh thọ có nghĩa là không nhận bất cứ vật gì. Chánh định là vì khác với bất định của phàm phu, chẳng phải thiên định của tiểu thừa, chẳng phải tà định của ngoại đạo nên gọi là chánh định. Điều trực định là chỉ chỗ tâm và cảnh phù hợp ở trạng thái hợp nhất. Chúng ta khi mới tu định, hôn trầm và tán loạn tấn công, nhiều điều phiền lụy, lần lần điều phục, lâu dần tâm thuần thục, mới có thể nhiếp cảnh về tâm, tâm vào trong cảnh, tâm thẳng cảnh thông cùng nhau hợp nhất, nên gọi là điều trực định.

Niệm Phật Tam muội có thể bao gồm hết trăm ngàn thứ Tam muội, nên gọi là vua của các Tam muội. Trăm ngàn Tam muội tuy nhiều nhưng không ngoài ba thứ Tam muội : 1. Sa ma tha tức là Chơn đế tam muội. 2. Tam ma bát để tức là Tục đế tam muội. 3. Thiền na tức là Trung đế tam muội. Tam muội tuy nhiều nhưng không ngoài ba thứ tam muội kể trên. Trong luận Niệm Phật Tam muội này, bảy môn ở quyển Thượng, niệm Bản giác Phật tức là Chơn đế Tam muội. Bảy môn ở quyển Hạ, niệm chung chư Phật ba đời là niệm Thủy giác Phật tức Tục đế Tam muội. Sáu môn ở quyển Trung là niệm Cứu cánh giác Phật tức Trung đế Tam muội. Niệm Phật có 4 thứ chẳng đồng : 1. Quán tưởng niệm Phật như trong thập lục Quán kinh. 2. Quán tượng niệm Phật như trong Bát Nhã kinh. 3. Trì danh niệm Phật như A Di Đà kinh. 4. Thật tướng Niệm Phật như trong Phổ Hiền Quán kinh. Ở đây chỉ nói về trì danh niệm Phật. Người muốn tu trì danh niệm Phật trước tiên phải dùng chuổi, ghi mỗi niệm rõ ràng, phân định thời khóa, giữ chắc không cho thiếu sót. Nếu người mới phát tâm không chịu lần chuổi cho là không cần chấp tướng, muốn học theo lối viên dung tự tại, rõ ràng người ấy lòng tin không sâu, chỗ thực hành không đắc lực, vì tâm sinh tử không thiết, dù rằng tôn và giáo đều thông, nhưng đến khi mạng chung, không được chút nào lực dụng, chừng vô thường đến mới hối tiếc, ăn năn đâu còn kịp nữa!
 
Last edited by a moderator:

latuan

Cựu Thành Viên Diễn Đàn
Tham gia ngày
15 Tháng 4 2015
Bài viết
1,263
Reaction score
413
Điểm
83
Xin Bạn Đức Trí đừng làm khó ngài latuan và ngài auduongphong như thế ! Để từ từ biết đâu các vị ấy sẽ niệm Phật.
Ồ! Tranglinh hỡi! Đức Trí chưa làm khó cho latuan và trưởng bối auduongphong vì lời của nick Đức Trí vừa thiếu đức vừa kém trí. Thật tiếc cho hai chữ Đức Trí đã bị vạ lây.
Tranglinh xem ra cũng đã học theo Phi Tích sư ngậm Phật A di đà trong miệng. Mong Tranglinh cẩn trọng vì người đời thường bảo dứt ăn hãy nói. Tranglinh ngậm Phật trong miệng nên âm vực khò khè, tiếng nói thật khó nghe, khó tránh khỏi người khác hiểu lầm Tranglinh niệm Phật đắc định.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Tư duy

* Tam Muội là gì ?

+ Đó là "Thiền tâm bất động".

Theo Phật Quang tự điển:

Tam Muội: Tức là Định.

Căn cứ theo nội dung của định và giai đoạn tu hành, có thể chia định làm nhiều loại. Tông Câu xá chia ra hai loại là Hữu tâm định và Vô tâm định.

I. Hữu tâm định. Bao gồm 4 tĩnh lự (Tứ thiền, Tứ sắc giới định) và 4 định Vô sắc, cộng chung là 8 định (Bát đẳng chí).

A. Bốn tĩnh lự: - Sơ tĩnh lự, dứt hết nói năng. - Đệ nhị và đệ tam tĩnh lự diệt tầm (tìm kiếm), tứ (dò xét). - Đệ tứ tĩnh lự lần lượt xa lìa các cảm thụ lo, khổ, mừng, vui... Thêm nữa, Sơ tĩnh lự, thức mũi và thức lưỡi không còn tác dụng. Từ đệ nhị tĩnh lự trở lên thì cả 5 thức đều không hoạt động.

B. Bốn định Vô sắc: 1. Không vô biên xứ định: Diệt trừ sắc tưởng (gồm các sắc thấy được và không thấy được - Vô biểu sắc) mà vào tưởng hư không vô biên. 2. Thức vô biên xứ định: Bỏ duyên theo không bên ngoài, chỉ duyên theo thức bên trong mà vào hành thức vô biên. 3. Vô sở hữu xứ định: Lìa bỏ thức xứ, diệt trừ thức tưởng, đi vào hành tướng vô sở hữu. 4. Phi tưởng phi phi tưởng xứ định, cũng gọi phi hữu tưởng phi vô tưởng xứ định: Lìa bỏ hành tướng vô sở hữu, tiến tới xa lìa hành tướng phi tưởng để đạt đến Phi phi tưởng định.

C. Tám định: Có 2 giai đoạn:

a) Giai đoạn đã vào định, gọi là Căn bản định, hoặc Căn bản.
b) Giai đoạn chuẩn bị gần định, gọi là Cận phần định. Nhưng, giai đoạn trước Sơ tĩnh lự không gọi là Cận phần định mà gọi là Vị chí định, vì thế chỉ có 7 Cận phần định. Lại giai đoạn giữa Sơ tĩnh lự và Cận phần định của Đệ nhị tĩnh lự gọi là Trung gian định, hoặc Trung gian tĩnh lự, nếu tu tập định này thì được sinh lên cõi trời Đại phạm. Trong Tĩnh lự thứ 4, từ phẩm hạ hạ đến phẩm thượng thượng gồm có 9, phẩm thượng thượng là định cao nhất trong các định của cõi Sắc, gọi là định Biên tế. Các định: Vị chí, Trung gian, 7 cận phần, 8 căn bản nói ở trên, nếu xét về phương diện có tầm, tứ hay không, thì lại được chia làm 3 thứ định (tam ma địa). Đó là:

1. Định Vị chí và Sơ tĩnh lự có tầm có tứ, là định có giác có quán.

2. Định trung gian không có tầm chỉ có tứ, là định không giác có quán.

3. Định cận phần của Tĩnh lự thứ 2 trở lên không tầm không từ, tức là định không giác không quán. Ba loại định trên gọi là Tam ma địa, Tam muội.

(theo PQTĐ)
Đó là thứ lớp và trạng thái của Tam Muội.

Niệm Phật Tam muội, là dùng đề mục Niệm Phật để vào Chánh định, cũng qua các thứ lớp như trên.
 
Last edited by a moderator:

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Tư duy

* 3 Tam Muội.

Luận dạy:

Trăm ngàn Tam muội tuy nhiều nhưng không ngoài ba thứ Tam muội : 1. Sa ma tha tức là Chơn đế tam muội. 2. Tam ma bát để tức là Tục đế tam muội. 3. Thiền na tức là Trung đế tam muội. Tam muội tuy nhiều nhưng không ngoài ba thứ tam muội kể trên.
Như vậy là có 3 loại Tam muội:

1. Sa ma tha tức là Chơn đế tam muội. Sa ma tha là Phạn ngữ dịch là Chỉ, nghĩa là dứt lặng mọi vọng tưởng, dứt vọng tưởng, thì được "vô niệm", Vô niệm là "vô tâm", Vô tâm tương ưng Chân Như, nên gọi là Chơn Đế. Do "Chỉ" mà vào được Chơn Đế nên gọi là Chơn đế tam muội. Tam Muội này tương ưng với NHƯ nên còn gọi là niệm Bản giác Phật.- Đây là Niệm Quá khứ Phật.

2. Tam ma bát để tức là Tục đế tam muội. Sa ma bát đề dịch là Quán, nghĩa là chiếu soi theo một đề mục của Chánh Pháp Phật, do quán nên được "Giác" (tỉnh thức), do có "giác" nên thoát Vô minh, do thoát Vô minh nên đạt được chân lý Tục Đế. Do "Quán" mà vào được Chơn lý "Tục Đế" nên gọi là Tục đế tam muội. Tam Muội này tương ưng với THỊ nên còn gọi là niệm Thỉ giác Phật. Đây là Niệm hiện Tại Phật.

3. Thiền na tức là Trung đế tam muội. Thiền Na là chỉ quán cùng tu, do chỉ quán song tu nên thấy rằng thể của sự vật lại không nằm ngoài tướng, không thể bỏ hiện tượng để tìm bản chất, thể và tướng là một, niệm tức là Tâm, Tâm tức là Phật, vậy niệm không lìa Phật. Do vậy mà được "Nhất Tâm". Luận Đại Trí Độ dạy: "Niệm niệm tương tục thứ lớp sanh là tâm tương tục, còn gọi là nhất tâm". Do được Nhất Tâm nên gọi là Trung đế tam muội. Tam Muội này tương ưng với Bản giác ,và Thỉ giác hợp nhất (Phẩm hiện bảo tháp kinh Pháp hoa) nên còn gọi là niệm Cứu cánh giác Phật. Đây là Niệm Vị lai Phật.
 
Last edited by a moderator:

auduongphong

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
29 Tháng 4 2015
Bài viết
640
Reaction score
276
Điểm
63
Bạn auduongphong đã hỏi thì Đức Trí đâu dám làm ngơ. Nhưng ngặt vì chủ đề này của Bạn tranglinh, đành nhường cho bạn ấy cầm chịch vậy. Chỉ có thể ké một ít lời là:

Niệm Phật là vãng sanh cực lạc quốc, Niệm Phật là liễu nghĩa , không Niệm Phật là bất liễu nghĩa . khi nào Niệm Phật là thì gọi là liễu nghĩa , khi nào không Niệm Phật là thì gọi là bất liễu nghĩa.
còn ví như chẳng liễu nghĩa , chẳng bất liễu nghĩa thì gọi là vô ký chẳng niệm Phật.

Kính.
có phải vừa ngủ gật vừa mơ vừa viết bài không đó Trí Đức?
mình chờ câu trả lời lại đó, chúc tỉnh ngủ sớm hề hề
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần chánh văn

* Chánh Niệm.

Người niệm Phật muốn được Tam muội phải luôn luôn gìn giữ chánh niệm, khi niệm Hồng danh, tiếng ra từ miệng, tai nhận rõ ràng, miệng và tai thông đồng, tiếng và tâm khế hợp, lâu dần thuần thục, không biết có tâm năng niệm và ông Phật sở niệm, niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, tuy thọ cái tên niệm mà không có tất cả cái thọ gọi là niệm Phật Tam muội. Kẻ phàm phu không trì danh hiệu Phật nên tâm không định, ngoại đạo thì tà kiến, nhị thừa thì chìm trong cái không. Quyền thừa thì trệ một bên đều không phải là chánh định. Chỉ có người niệm Phật được nhất tâm bất loạn mới được gọi là chánh định. Từ lúc tán tâm ban đầu niệm lâu tâm sẽ trở về một nên gọi là Điều trực định.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Tư duy:

* Niệm Phật Tam muội cũng là nhập Thiền định.

*Chánh Niệm.

Người niệm Phật muốn được Tam muội phải luôn luôn gìn giữ chánh niệm, khi niệm Hồng danh, tiếng ra từ miệng, tai nhận rõ ràng, miệng và tai thông đồng, tiếng và tâm khế hợp, lâu dần thuần thục, không biết có tâm năng niệm và ông Phật sở niệm, niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, tuy thọ cái tên niệm mà không có tất cả cái thọ gọi là niệm Phật Tam muội. nên gọi là Điều trực định.
Thử đem so sánh pháp niệm Phật với kinh Quán niệm hơi thở đức Phật đã dạy:

...Này các thầy, người hành giả quán niệm thân thể nơi thân thể bằng cách nào?

Người ấy đến một khu rừng hoặc một gốc cây, hoặc một nơi thanh vắng, ngồi xuống theo tư thế kiết già, giữ lưng ngay thẳng và đặt mình trong sự quán niệm. Thở vào người ấy ý thức rõ ràng mình đang thở vào, thở ra người ấy ý thức mình đang thở ra. Hoặc khi thở vào một hơi dài, người ấy ý thức: 'Tôi đang thở vào một hơi dài'. Khi thở ra một hơi dài, người ấy ý thức: 'Tôi đang thở ra một hơi dài'. Hoặc khi thở vào một hơi ngắn, người ấy ý thức: 'Tôi đang thở vào một hơi ngắn'. Khi thở ra một hơi ngắn, người ấy ý thức: 'Tôi đang thở ra một hơi ngắn'. Người ấy tự mình tập luyện như sau: 'Tôi sẽ thở vào và cảm nghiệm toàn thân'. 'Tôi sẽ thở ra và cảm nghiệm toàn thân'. 'Tôi sẽ thở vào và làm lắng dịu sự điều hành trong thân thể'. 'Tôi sẽ thở ra và làm lắng dịu sự điều hành trong thân thể'.

Cũng như khi xoay một vòng dài, một người thợ tiện khéo tay ý thức rằng mình đang xoay một vòng dài; hoặc khi xoay một vòng ngắn, ý thức rằng mình đang xoay một vòng ngắn. Cũng vậy, người hành giả khi thở vào một hơi dài ý thức rằng mình đang thở vào một hơi dài; khi thở ra một hơi ngắn ý thức rằng mình đang thở ra một hơi ngắn. Người ấy tự mình tập luyện như sau:' Tôi sẽ thở vào và cảm nghiệm toàn thân... Tôi sẽ thở ra và làm lắng dịu sự điều hành trong thân thể'...
Bây giờ thay thế những từ quán niệm hơi thở bằng "Niệm Phật". như sau:

Người ấy đến một khu rừng hoặc một gốc cây, hoặc một nơi thanh vắng, ngồi xuống theo tư thế kiết già, giữ lưng ngay thẳng và đặt mình trong "câu niệm Phật". khi niệm Hồng danh, tiếng ra từ miệng, tai nhận rõ ràng, tiếng và tâm khế hợp, Người ấy tự mình tập luyện như sau: 'Tôi đã niệm và tai nghe rõ ràng, Tôi đang niệm và tai nghe rõ ràng, Tôi sẽ niệm và tai nghe rõ ràng'. 'Tôi niệm Phật và cảm nghiệm toàn thân'. 'Tôi sẽ niệm Phật và làm lắng dịu sự điều hành trong thân thể'.

* Quán niệm hơi thở như trên sẽ vào được Sơ Thiền.

* Cũng vậy Quán niệm Phật như trên cũng sẽ vào được Sơ Thiền.

Bởi vì: Do niệm lực được tương tục nên dừng đứng được 5 triền cái : tham, sân, hôn trầm, trạo cử và nghi. Do ly dục, ly bất thiện pháp (5 triền cái) nên vào được Sơ Thiền.

Một trạng thái xuất hiện cùng với sự đoạn trừ năm triền cái. Khi hành giả quán xét thấy năm triền cái đã được từ bỏ trong tự thân, “hân hoan sẽ khởi lên trong vị ấy; nhờ hân hoan như vậy, hỷ sẽ sanh; và khi có hỷ, thân vị ấy trở nên khinh an.” Khinh an đưa đến lạc, trên căn bản của lạc này tâm trở nên định tĩnh và nhập vào sơ thiền. Sự hoan hỷ an lạc như thế không có hỷ lạc nào do 5 dục mà sánh được nên gọi là "Cực Lạc".

* lâu dần thuần thục, không biết có tâm năng niệm và ông Phật sở niệm, niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, tuy thọ cái tên niệm mà không có tất cả cái thọ gọi là niệm Phật Tam muội.

Ở trong Sơ Thiền, hành giả sẽ thấy là nếu còn Tầm, còn Tứ tức là còn thấy có mình đang niệm liền xả bỏ cái ta đang niệm,.- Đó là Xả "Tầm", lại thấy còn có tiếng A Di Đà Phật để nương theo, cũng là còn nặng trược nên xả bỏ sở niệm, đó là "Xả Tứ".- Như vậy là vào được Nhị Thiền.

Ở Nhị thiền hành giả vẫn thấy còn có Hỷ, có lạc. Hỷ lạc này làm cản trở dòng Thiền định, nên xả bỏ Hỷ lạc, là vào được Tam Thiền. Tâm thức lúc đó: niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, tuy thọ cái tên niệm mà không có tất cả cái thọ (tầm, tứ, hỷ, lạc). Vậy là vào Đệ Tam Thiền.

Ở Đệ Tam Thiền chỉ còn "vô niệm" tương tục. "Vô niệm" này không phải là triệt tiêu các tưởng như Vô Tưởng Định của ngoại đạo, mà là Niệm niệm tương tục thứ lớp sanh là tâm tương tục,( như ở Tam Thiền vừa nói) nên gọi là nhất tâm.

Vì tương tục thứ lớp sanh, nên tuy có nhiều phen sanh mà cũng gọi là nhất tâm. Suốt quá trình Niệm niệm tương tục thứ lớp sanh như vậy, hành giả chẳng để cho tâm tham ái xen vào. Đó là được Tam Muội còn gọi là gọi là Điều trực định.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần chánh văn

Bảo Vương :

Chữ bảo có nghĩa là quí báu. Vương có nghĩa là thống lãnh tự tại. Như các thứ vàng, bạc, lưu ly, san hô, hổ phách, mả não, trân châu ....đều gọi là quý báu. Trong các thứ báu này, chỉ có châu ma ni là quý báu hơn cả, nên cổ nhân nói : Một hạt châu ma ni có thể đè bẹp hết ngàn loại châu báu trong biển nên gọi là vua trong các thứ quý báu. Ở đây ví muôn ngàn loại châu báu như muôn ngàn tam muội, ví châu ma ni như niệm Phật Tam muội. Tựa đề này dùng pháp dụ lập đề nên gọi Niệm Phật Tam Muội Bảo Vương.

Luận tiếng Phạn là A Tỳ Đạt Ma, Trung Hoa dịch là Vô Tỷ Pháp nghĩa là pháp không thể so sánh là danh xưng chung của Luận tạng. Yếu thích : Nhằm giải rõ những chỗ bí áo trong luận tập nên dịch giả giải thích những điểm cốt yếu.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Tư duy

* Cửa ngỏ vào Niết Bàn.

Như ở phần tư duy về Tam muội ở trên. Tam Thiền là đệ nhất lạc, là Cực Lạc đó, ngay nơi Tam muội cực lạc này, chỉ cần xả niệm (xả nhất tâm vô niệm) thì vào được Đệ tứ thiền.

* Từ Tứ Thiền này, nếu đi tiếp theo 9 thứ đệ định (gồm sơ, nhị, tam, tứ thiền cộng với 4 định không, thức, vô sở hữu, phi phi tưởng sẽ vào Diệt thọ tưởng định) thì đắc A-la- hán, Hữu Dư Y Niết Bàn.

* Nếu từ tứ thiền này mà vào được Tam Muội Vương Tam Muội, thì vào được Vô Dư Niết Bàn, tức là Cứu cánh thành Phật. Như đoạn kinh Bát nhã sau:

Tam Muội Vương Tam Muội còn gọi là Tự tại Thiền Tướng, nhiếp nơi Đệ Tứ Thiền. Phật thường ở trong tứ thiền, khi xã thọ mạng cũng ở trong Tứ Thiền mà vào Niết bàn.
Niết Bàn là quý báu nhất trong các loại quý báu, nên gọi là "Bảo vương".

Luận Niệm Phật Tam muội, là cửa ngỏ vào đến Niết Bàn, nên gọi là Bảo Vương luận.
 

Vô Ưu

Active Member
Tham gia ngày
7 Tháng 3 2013
Bài viết
119
Reaction score
56
Điểm
28
* Niệm Phật Tam muội cũng là nhập Thiền định.

* Cũng vậy Quán niệm Phật như trên cũng sẽ vào được Sơ Thiền.

Bởi vì: Do niệm lực được tương tục nên dừng đứng được 5 triền cái : tham, sân, hôn trầm, trạo cử và nghi. Do ly dục, ly bất thiện pháp (5 triền cái) nên vào được Sơ Thiền.

Một trạng thái xuất hiện cùng với sự đoạn trừ năm triền cái. Khi hành giả quán xét thấy năm triền cái đã được từ bỏ trong tự thân, “hân hoan sẽ khởi lên trong vị ấy; nhờ hân hoan như vậy, hỷ sẽ sanh; và khi có hỷ, thân vị ấy trở nên khinh an.” Khinh an đưa đến lạc, trên căn bản của lạc này tâm trở nên định tĩnh và nhập vào sơ thiền. Sự hoan hỷ an lạc như thế không có hỷ lạc nào do 5 dục mà sánh được nên gọi là "Cực Lạc".

* lâu dần thuần thục, không biết có tâm năng niệm và ông Phật sở niệm, niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, tuy thọ cái tên niệm mà không có tất cả cái thọ gọi là niệm Phật Tam muội.

Ở trong Sơ Thiền, hành giả sẽ thấy là nếu còn Tầm, còn Tứ tức là còn thấy có mình đang niệm liền xả bỏ cái ta đang niệm,.- Đó là Xả "Tầm", lại thấy còn có tiếng A Di Đà Phật để nương theo, cũng là còn nặng trược nên xả bỏ sở niệm, đó là "Xả Tứ".- Như vậy là vào được Nhị Thiền.

Ở Nhị thiền hành giả vẫn thấy còn có Hỷ, có lạc. Hỷ lạc này làm cản trở dòng Thiền định, nên xả bỏ Hỷ lạc, là vào được Tam Thiền. Tâm thức lúc đó: niệm mà không niệm, không niệm mà niệm, tuy thọ cái tên niệm mà không có tất cả cái thọ (tầm, tứ, hỷ, lạc). Vậy là vào Đệ Tam Thiền.

Ở Đệ Tam Thiền chỉ còn "vô niệm" tương tục. "Vô niệm" này không phải là triệt tiêu các tưởng như Vô Tưởng Định của ngoại đạo, mà là Niệm niệm tương tục thứ lớp sanh là tâm tương tục,( như ở Tam Thiền vừa nói) nên gọi là nhất tâm.

Vì tương tục thứ lớp sanh, nên tuy có nhiều phen sanh mà cũng gọi là nhất tâm. Suốt quá trình Niệm niệm tương tục thứ lớp sanh như vậy, hành giả chẳng để cho tâm tham ái xen vào. Đó là được Tam Muội còn gọi là gọi là Điều trực định.
Kính xin hỏi Bạn tranglinh.

Tu niệm Phật tam muội, như bạn đã nói ở trên.

...Ở trong Sơ Thiền, hành giả sẽ thấy là nếu còn Tầm, còn Tứ tức là còn thấy có mình đang niệm liền xả bỏ cái ta đang niệm,.- Đó là Xả "Tầm", lại thấy còn có tiếng A Di Đà Phật để nương theo, cũng là còn nặng trược nên xả bỏ sở niệm, đó là "Xả Tứ".- Như vậy là vào được Nhị Thiền...
- Vậy thì, ở từ Nhị thiền , cho đến khi vào được thế giới Cực Lạc, tức là đệ tam thiền như bạn đã nói. Thì khi ấy hành giả còn có Niệm Phật hay không ?

- Nếu còn niệm Phật, thì là chưa xả Tầm và tứ, thì làm sao vào được Nhị Thiền ?

- Nếu không còn niệm Phật, thì chỉ là vào Nhị thiền, sao lại gọi là vào được "Cực Lạc tam thiền" và đắc Niệm Phật Tam muội ?

Mong bạn, giải thích dùm.

Kính.


 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Chánh văn

Kính Bạn Vô Ưu.

Những vấn đề của bạn vừa nêu lên. tranglinh xin được thảo luận cùng các bạn sau phần Chánh Văn sau đây:
2.- Hiển thể:

Chữ Thể có nghĩa là tính chất hay chủ. Danh đề là khách, thể chính là chủ. Thể là thật chất, danh đề là giả danh. Danh đề là phần năng thuyên (1) của thể, thể là phần sở thuyên (2) của danh đề. Phàm tất cả danh đề, lời nói, văn tự đều thuộc phần năng thuyên, đều giống như ngón tay chỉ mặt trăng, như cái nôm để bắt cá. Vì vậy trước tiên phải giải danh đề rồi sau đó mới chỉ bày chỗ sở thuyên của thể, nhờ văn ngôn năng thuyên mà ngộ được tánh thể của sở thuyên, như nương theo hướng ngón tay mà thấy mặt nguyệt, nhờ có nôm mà bắt được cá.

Luận này lấy tịch chiếu bất nhị làm thể. Ý muốn chỉ chỗ tịch (lặng lẽ) mà chiếu (soi sáng) như ngọn đèn lặng lẽ mà hằng chiếu sáng. Trong lời tựa của kinh Di Đà Sớ Sao nói : 'Tánh linh minh rỗng suốt, lặng lẽ thường hằng, không đục không trong, không lưng không mặt. Chơn thể rộng lớn thay ! Không thể nghĩ bàn được. Nó chính là tự tánh của chúng ta'. Trong đoạn trên, câu đầu chỉ rõ cái chiếu, tức tịch mà chiếu. Câu kế nói tịch, tức chiếu mà tịch. Hai câu nếu hợp lại để quán thì chiếu tức là tịch, tịch tức là chiếu. Chữ tức trong quán này là nghĩa bất nhị (không hai). Môn thứ 20 của luận này nói : 'Định này đức Như Lai gọi là Thắng định, là Vua Tam muội, là Tạng Quang Minh, là hạt châu trừ tội, là đèn diệt tà kiến, là bản đồ cho người lạc đường, là ấn vàng của Vương Tử, là Tánh của Tam Bảo, là Đại Huệ Quang Minh. Tất cả đều chỉ cái thể của Tịch chiếu bất nhị này.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Phần Tư duy

* Thế nào là "Tịch - Chiếu bất nhị".

Chân Tánh chúng ta có 2 đặc tánh là TỊCH và CHIẾU.

- Chiếu là diệu dụng của Tâm tánh, nó hằng chiếu soi.

- Tịch là tuy chiếu soi mà vẫn thường vắng lặng.

Thí dụ như: Tâm do nghiệp cảm mà có 6 giác quan: Mắt, tai, mủi, lưỡi, thân, ý. 6 giác quan này khi duyên với 6 trần: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp. Thì khởi sanh 6 thức là: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức.

....... + Diệu dụng " kiến, văn, giác, tri" của 6 thức. Đó là CHIẾU.

....... + Nhưng khi Chiếu soi diệu dụng đó, bản tánh TỊCH (vắng lặng) vẫn tồn tại, nên khi thiền định, hoặc đối cảnh 6 trần qua đi thì TỊCH lại hiển hiện không bao giờ phai nhạt.

* TỊCH là NHƯ.

* CHIẾU là THỊ.

* TỊCH là NHƯ.

* CHIẾU là LAI.

Thị từ Như mà đến. Chiếu từ Tịch mà sanh. Cả 2 không thể rời nhau mà riêng có được, nên gọi là "Bất nhị".
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Tư duy Tịch Chiếu Bất nhị


- Vậy thì, ở từ Nhị thiền , cho đến khi vào được thế giới Cực Lạc, tức là đệ tam thiền như bạn đã nói. Thì khi ấy hành giả còn có Niệm Phật hay không ?

- Nếu còn niệm Phật, thì là chưa xả Tầm và tứ, thì làm sao vào được Nhị Thiền ?

- Nếu không còn niệm Phật, thì chỉ là vào Nhị thiền, sao lại gọi là vào được "Cực Lạc tam thiền" và đắc Niệm Phật Tam muội ?

Trở lại câu hỏi của Bạn Vô Ưu.

Bạn hỏi: Vào Cực lạc Tam thiền, đã xã Tầm, tứ thì có còn niệm Phật không ?

Với câu hỏi này, tranglinh xin dùng 2 thí dụ liên tiếp nhau, bạn nương theo đó mà tư duy:

* Ví như nhà khoa học phóng phi thuyền lên không trung, đầu tiên phải dùng một "tên lửa" đủ mạnh, để đưa phi thuyền lên "quỷ đạo". Khi đã đạt đến một tầm cao cần thiết, thì tác dụng của sức tống của tên lửa không còn cần thiết nữa, mà phi thuyền sẽ theo sức đẩy ban đầu mà tự bay mãi mãi.

* Nhớ thưở nhỏ khi mới tập tành chạy xe đạp đầu tiên trong đời.



Mình bước lên xe phải tập trung tư tưởng:

Tay cầm chắc ghi đông, mắt chăm chú nhìn phía trước, chân đạp đều đặn v.v... Thế mà vẫn bị té !

* giai đoạn tập chạy này là mới niệm Phật. Có Tầm, có tứ.

Sau khi biết chạy thuần thục rồi, thì không cần phải để ý lưu tâm gì nữa cả, mà vẫn chạy được chiếc xe đạp.- Đó là sức " Vô tác diệu lực".

* Khi phi thuyền đã đạt đến tầm cao cần thiết (thoát ra khỏi lực hấp đẫn địa trường), hay khi đạp xe đã được Vô tác diệu lực.- Đó là khi niệm Phật vô niệm mà niệm, niệm mà vô niệm, giữ niệm vô niệm tương tục, vào nhất Tâm, được Cực lạc Tam thiền.

* Cũng trạng thái này luận dạy. Đó là:

Tịch Chiếu bất nhị đó bạn.
 

auduongphong

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
29 Tháng 4 2015
Bài viết
640
Reaction score
276
Điểm
63


Trở lại câu hỏi của Bạn Vô Ưu.

Bạn hỏi: Vào Cực lạc Tam thiền, đã xã Tầm, tứ thì có còn niệm Phật không ?

Với câu hỏi này, tranglinh xin dùng 2 thí dụ liên tiếp nhau, bạn nương theo đó mà tư duy:

* Ví như nhà khoa học phóng phi thuyền lên không trung, đầu tiên phải dùng một "tên lửa" đủ mạnh, để đưa phi thuyền lên "quỷ đạo". Khi đã đạt đến một tầm cao cần thiết, thì tác dụng của sức tống của tên lửa không còn cần thiết nữa, mà phi thuyền sẽ theo sức đẩy ban đầu mà tự bay mãi mãi.

* Nhớ thưở nhỏ khi mới tập tành chạy xe đạp đầu tiên trong đời.



Mình bước lên xe phải tập trung tư tưởng:

Tay cầm chắc ghi đông, mắt chăm chú nhìn phía trước, chân đạp đều đặn v.v... Thế mà vẫn bị té !

* giai đoạn tập chạy này là mới niệm Phật. Có Tầm, có tứ.

Sau khi biết chạy thuần thục rồi, thì không cần phải để ý lưu tâm gì nữa cả, mà vẫn chạy được chiếc xe đạp.- Đó là sức " Vô tác diệu lực".

* Khi phi thuyền đã đạt đến tầm cao cần thiết (thoát ra khỏi lực hấp đẫn địa trường), hay khi đạp xe đã được Vô tác diệu lực.- Đó là khi niệm Phật vô niệm mà niệm, niệm mà vô niệm, giữ niệm vô niệm tương tục, vào nhất Tâm, được Cực lạc Tam thiền.

* Cũng trạng thái này luận dạy. Đó là:

Tịch Chiếu bất nhị đó bạn.
hỏi một câu thẳng thắn : trang linh vào được thiền nào?
Chưa vào thì nói chưa vào, chỉ là nói theo kinh điển hay gì gì đó. nếu thực vào được thì nói cho anh em mở lời " trêu ghẹo' để thán phục.
 

tranglinh

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
24 Tháng 3 2015
Bài viết
239
Reaction score
76
Điểm
28
Kính Bạn auduongphong.
hỏi một câu thẳng thắn : trang linh vào được thiền nào?
Chưa vào thì nói chưa vào, chỉ là nói theo kinh điển hay gì gì đó. nếu thực vào được thì nói cho anh em mở lời " trêu ghẹo' để thán phục.
Tứ Thiền Thiên thuộc Sắc giới, Tứ Định Thiên thuộc Vô sắc giới. Hành giả dù cho đắc cả tứ thiền tứ định, là vẫn còn trong Tam giới, thì có gì đáng để thán phục đâu bạn. :icon_afraid:
 
Status
Không mở trả lời sau này.
Top