LUẬN ĐẠI TRÍ ĐỘ Lược giải -Phẩm Tự-1.Lục chủng thành tựu

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Nam Mô Long Thọ Tổ Sư Bồ Tát Ma Ha Tát.

Kính Bạch Chư Tôn Đức.
Kính thưa Quý Đạo hữu ở Diễn Đàn .

Đại Trí Độ Luận là một Bộ Luận lớn, do Bồ Tát Long Thọ tạo tác, nhầm tuyên bày giáo nghĩa thậm thâm vi diệu của pháp Đại Thừa và để giải thích Kinh Đại Bát nhã Ba la mật.

Ở Việt Nam hiện nay có hai bộ được dịch từ Hán Văn sang Việt văn.
+ 1 bộ do Hòa Thượng Thích Thiện Siêu phiên dịch.
+1 bộ do Sư Bà Thích Nữ Diệu Không phiên dịch, cùng với Hòa Thượng Thích Thiện Trí và Cư sĩ Lê văn Lâm nhuận bút và biên tập.

Trên nhiều diễn đàn internet,tôi thấy phần nhiều đã có bản dịch của HT Thích Thiện Siêu. Nhưng Bản dịch của Sư Bà TN Diệu Không thì chưa thấy .

Bâng khuâng trong dạ. vì muốn giới thiệu đến các Bạn đồng tu bản dịch rất công phu và trong sáng này, nhưng lại ngại về vấn đề BẢN QUYỀN.

Chợt một hôm tôi đọc bày "Lời nói đầu" của Sư Bà có đoạn : " Bằng tịnh tín tâm lực, tôi nguyện đem công đức phiên dịch này hồi hướng đến khắp pháp giới chúng sanh đều trọn thành Phật Đạo. "

Tôi vui mừng vô hạn, vì nhận ra Sư Bà đã phổ thí Pháp Bảo này cho chúng sanh, thì dù cho tôi lạm dụng mà giới thiệu cho đại chúng, thiển nghĩ Sư Bà cũng sẽ tha thứ cho tôi.

Có một hôm, để định hướng cho tâm nguyện hoằng thừa chí cả của Thầy Tổ, tôi có đến gặp Sư Phụ là Hòa Thượng Thích Thiện Trí, để hỏi về việc xin phép Sư Phụ mà trích xuất "tài nguyên" ở bày giảng Đại Trí Độ Luận.

Tuy rằng chưa an tâm lắm về sức tu học của tôi, nhưng Hòa Thượng vẫn cho phép tôi nên nghe thêm cho kỹ và hãy bằng tâm huyết của mình mà trùng tuyên lại những gì đã học nơi Sư Phụ .

Nay tôi quyết tâm nghe theo lời dạy của Hòa Thượng mà nương theo lời giảng Đại Trí Độ Luận của HT Thích Thiện Trí để chú thích, giới thiệu "Thiểu phần" Bản dịch ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN của Sư Bà Thích Nữ Diệu Không .

Kính thưa Chư Thiện Hữu Tri Thức. Đây là việc làm vượt qua sức của Tôi, nên sẽ rất là thiếu sót và cạn cợt. Nên rất cần sự chỉ dạy và bổ túc .

Kính mong được sự ủng hộ và khuyến khích của các bạn Đồng Tu.

Nam Mô Hoan hỷ Tạng Bồ Tát Ma Ha tát.

Ghi chú: Tôi dự định đăng bài này ở Tạng Luận, nhưng lại suy nghĩ, trong bài này vẫn có lời lẻ và sự suy nghĩ của Tôi là kẻ sơ học, (Phần chữ màu đỏ, và trong khung là phần chánh luận, phần chữ màu xanh, là mượn các nguồn nơi khác, Phần chữ màu đen viết chú giải và Tư duy, là những lời ngoài Luận, là tư ý của V/Q) nên đành để ở đây hầu hoàn chỉnh thêm.

Lời Tựa

Muôn sự muôn vật đều do sinh sinh mà được hình thành. Thế nhưng cội gốc của sinh sinh lại là vô sinh. Từ vô thỉ đến nay và mãi mãi về sau, tính vô sinh ấy vẫn thường bất động. Do duyên khởi biến hóa mà giả danh có các sự vật. Thật ra, tất cả các sự các vật đều là hư vọng, là không thật có, là vô tự tính. Phàm phu do chìm đắm trong mê muội, mà khởi các vọng chấp cho rằng các sự vật là thật có.
Trong kinh A Hàm, Phật dạy rằng: “Các sự thấy nghe hay biết của chúng sinh đều do nhiễm trước nơi cảnh sở duyên mà có”. Chúng sinh do bị vô minh ngăn che tâm trí, nên khởi sinh các tà kiến chấp, vì vậy mà bị các pháp sai sử.
Chỉ có trí huệ Bát Nhã mới làm tan biến được mà vô minh u ám, mới hiển bày được thật tướng của các pháp. Dùng trí huệ Bát Nhã soi chiếu đến tận gốc rễ sẽ liễu ngộ được lý siêu việt chân thường, dẫn đến chỗ tuyệt tư cảnh giới. Trái lại, nếu dùng danh tự ngôn ngữ mà diễn đạt thì sẽ trái với chỗ thậm thâm vi diệu; còn nếu dùng lý trí mà tư

duy, thì sẽ mất đi chỗ y chỉ.
Ở nơi Tam tạng Pháp Bảo, hàng Thanh Văn cũng không liễu tri đến chỗ thâm diệu; còn người tạp học thì phải chịu thúc thủ chẳng sao bước vào được cửa Không, chỉ ví như cá muốn hóa rồng, phí công mà chẳng sao được như nguyện, đành phơi mang trước cửa Long cung.
Thật may mắn thay! Vào cuối thời Chánh pháp có ngài Mã Minh, và vào thời Tượng Pháp có ngài Long Thọ ra đời hoằng dương chánh pháp, chấn chỉnh di phong của Phật, làm sáng tỏ nghĩa kinh, quét sạch đám mây mù đen tối.
Ngài Long Thọ thương xót chúng sinh ở nơi Tượng pháp và Mạt pháp, chẳng có thiện duyên thấu rõ đạo mầu, nên đã thị hiện thân phàm phu, nhằm khai ngộ và dẫn dắt chúng sinh dần dần vào chánh đạo. Ngài không ngại khó khăn tìm đến chốn Long cung sưu tầm huyền chỉ thậm thâm của Đức Thế Tôn. Do có trí huệ thuần thục, nên ngài thấu suốt cùng tột đến chỗ bí ẩn u huyền của những lời thâm diệu. Ngài làm ra bộ Thích luận này để khai ngõ vào Đại Thừa Phật pháp, làm quy củ dẫn thẳng vào thật tướng các pháp. Nhờ vậy mà các tà hoặc, các vong kiến đều bị quét sạch.
Ở đầu bộ luận, ngài thành lập các câu hỏi khác nhau, rồi dùng lời lẽ mỹ diệu giải thích rõ ràng. Sau cùng dẫn đến chỗ vô chấp, là chỗ thâm diệu, tận thiện, tận mỹ.
Nếu lời kinh quá súc tích, khó giải, khó hiểu, thì phần luận giải của Ngài với lời lẽ khúc chiết, với lối trình bày rõ

ràng, cặn kẽ, khiến cho người tu học thấu triệt được ý nghĩa thâm sâu vi diệu chứa đựng trong lời dạy của Đức Bổn Sư. Chẳng ai có thể vấn mạn được nữa.
Những câu hỏi nêu trên, những thí dụ đa dạng và phong phú đã khiến người tu học, muôn đời về sau được ngộ ý chỉ của Ngài.
Bộ Thích luận này được Ngài Cưu Ma La Thập phiên dịch ra Hán văn.
Ngài La Thập thông minh xuất chúng, trí huệ tuyệt vời. Ngay từ nhỏ, Ngài đã thông minh kinh điển, thuyết pháp vô ngại. Ngài đọc trường tập này xong, hết lòng tán thán rằng: “Nếu sau này có được những tài năng lỗi lạc, có những luận biện ngôn từ mỹ diệu thì đó chính là nhờ nơi bộ luận này cả. Phải lấy bộ luận này làm gương mẫu, phải bằng vào những lý luận cao siêu ở nơi bộ luận này, mới mong thấy rõ được tâm tôn của Đức Thế Tôn.”
Đến đời nhà Trần, niên hiệu Hoằng Thỉ thứ ba, tháng 12 ngày 20, bộ luận này mới được đem đến đất Trường An.
Mặc dù vua nhà Tần, đã hư cấm từ lâu, nhưng Ngài La Thập nhờ ngày trước đã được xem tâm tôn của Phật, nên trọn ngày nghiên cứu, không hề mệt mỏi, các lời đối đáp trong toàn bộ luận này. Ngài tự nghĩ rằng: “Lời lẽ trong bộ luận quá thậm thâm, quá vi diệu. Hận mình tâm chẳng thấy rõ được ý chỉ của đấng Luận chủ. Lại tiếc cho Pháp Mầu mênh mông chưa được trải khắp nơi, ta nguyện quên đi ngu huệ của mình để mạnh dạn làm nghĩa hiệp của sa môn”. Nghĩ như vậy rồi, Ngài mời các bậc công

khanh, sĩ khí, khoảng 500 người, nhóm họp ở Vị Tân, cấm tục tại Tiêu Diêu Viên đường ở đất Lâm Giang, cùng xem huyền chương, khảo chính, xét trong bộ luận gốc chữ Phạn có 10 vạn bài kệ, mỗi bài có 32 chữ, cộng thành 320 vạn lời. Nhờ vậy mà Ngài rõ được ý chỉ của bộ luận, lấy chỗ quy về đường thẳng, chẳng còn chướng ngại, vướng mắc gì nữa cả.
Bên Thiên Trúc có chép rằng: “Rốt sau thời Chánh Pháp có ngài Mã Minh, đầu thời Tượng Pháp có Ngài Long Thọ, là những vị luận chủ tuyệt luân trong môn Đạo học. Hai Ngài phá sạch hết các tà kiến, hư ngôn, thẳng đường vào thật giáo, chẳng còn bị các tà luận làm trở ngại nữa. Bởi vậy nên ở bên Thiên Trúc cũng như nhiều nước khác, đã lập miếu tôn thờ hai Ngài, lại cho rằng: “Mặt trời trí huệ của Phật đã được hai Ngài làm thêm rực rỡ, phá tan hết màn tối tăm u ám, khiến người tu học ngộ được chân thật lý”.
Sự đóng góp của Pháp Bảo Tạng của hai Ngài là công quả của hàng Thập Địa Bồ Tát. Hai Ngài thật xứng đáng là những vị Bồ Tát Bố Xứ vậy.
Bộ luận này truyền đến Trung Quốc thật quả là điều may mắn. Ngài Pháp Sư Cưu Ma La Thập thấy rõ lời văn chữ Phạn quá uẩn khúc, mà người Tần lại thích lối văn giản dị, nếu dịch cho đầy đủ thì phải đến cả 1000 quyển, nên Ngài chỉ lược dịch cô đọng vào 100 quyển mà thôi. Tuy chỉ lược dịch có phần ít, mà đã hiển bày được chỗ thậm thâm vi diệu cao siêu của diệu lý Chân Thừa.

nếu dùng bút mà tranh luận, thì trọn đời chẳng sao hết được. Ước mong các bâc cao minh liễu đạt được huyền chỉ trong bản văn lược dịch này.

Trích bài tựa Do Ngài Trường Anh Thích Tăng Duệ Phụng soạn
 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Lược trích Đại Trí Độ Luận.

* Lời nói đầu (của SB TN Diệu Không):

Bộ Luận Đại Trí Độ do Bồ Tát Long Thọ tạo tác, nhằm tuyên bày giáo nghĩa thậm thâm vi diệu của pháp Đại thừa Bát nhã ba la mật.

Bộ Luận Đại Trí Độ này được ngài Tam Tạng Pháp Sư Cưu Ma La Thập phiên dịch từ chữ Phạn ra chữ Hán. Trong thời gian phiên dịch, ngài đã nhóm họp 500 vị thiện hữu tri thức, cấm túc tại Tiêu Diêu Đường, ở Lâm Giang nghiên cứu huyền chương, khảo chánh và lược dịch từ 1.000 quyển.

Tôi nhận thấy công tác phiên dịch các tạng Pali, Sanskrit, Hán v.v... ra Việt văn, đã được nhiều bậc tôn túc cao minh thực hiện. Thế nhưng cho đến nay Bộ Luận Đại Trí Độ này chưa được phiên dịch ra Việt văn.

Bởi nhân duyên ấy, cho nên dù tuổi già sức yếu, tôi cũng xin nguyện góp vào công tác phiên dịch, và mạnh dạn dịch bộ luận này từ Hán văn ra Việt văn, nhằm đáp ứng được nhu cầu nghiên cứu và học hỏi của hàng Tăng ni và Phật tử.

Bát nhã Ba la mật nghĩa quá thậm thâm vi diệu, chẳng có thể dùng văn tự ngôn ngữ mà diễn đạt được. Do vậy nên công tác phiên dịch vô cùng khó khăn, chẳng sao tránh khỏi những điều sai sót. Kính mong các bậc Tôn túc cao minh hoan hỷ chỉ giáo cho.

Vì muốn cho lời văn trong bản dịch được phù hợp với lối hành văn hiện đại, nên tôi đã nhờ Thượng tọa Thích Thiện Trí và Cư sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm giúp tôi trong việc nhuận bút và biên tập.

Sau gần 5 năm làm việc liên tục, Bộ Luận Đại Trí Độ này mới được hoàn tất.

Bằng tịnh tín tâm lực, tôi nguyện đem công đức phiên dịch này hồi hướng đến khắp pháp giới chúng sanh đều trọn thành Phật Đạo.

Nam Mô Viên Mãn Tạng Bồ Tát Ma Ha Tát

Mùa an cư Đinh mão (PL. 2531)
Tỳ kheo ni THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG
Chùa Hồng Ân - Huế.​



 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Lược trích Đại Trí Độ Luận.

.Lược Sử Tổ Long Thọ:

*Bồ tát Long Thọ sống trong khoảng một phần tư cuối cùng của thế kỷ thứ nhất và một phần tư đầu của thế kỷ thứ hai.
Theo ngài Cưu Ma La Thập kể lại .-thời trẻ ngài Long Thọ biết phép thuật tàng hình nên đã cùng với hai người bạn biến hóa vào cung vua để quyến rũ cung nữ. Nhưng một lần, ngài suýt chết dưới bàn tay của những người canh gác, nhờ phép thuật nên ngài thoát chết còn hai người bạn bị lính giết. Qua tai nạn đó Ngài tỉnh ngộ sự nguy hiểm của sắc dục nên đã xuất gia theo Phật . (theo truyền thuyết ngài là truyền nhân ngôi tổ Thiền thứ 14 tiếp ngôi của Tổ Ca tỳ Ma La)
Long Thọ Tổ sư ,là một Đạo Sư sáng chói của Phật giáo thuở đó (sau này ngài còn được tôn xưng là đệ nhị Thích Ca)
Tổ Long Thọ trước tác nhiều tác phẩm mang tính Triết học của Phật giáo,xuất phát từ kinh Bát Nhã Ba la mật của Đức Phật Thích Ca Mâu ni.

Lại cũng có truyền thuyết như (trích)
Theo một truyền thuyết khác thì Long Thụ, bằng những bài thuyết pháp của mình, đã thuyết phục một số loài rồng nên được mời xuống Long cung trao lại bộ kinh Bát-nhã-ba-la-mật-đa (sa. prajñāpāramitāsūtra) để báo ân. Tương truyền là Phật đã phó chúc cho loài rồng này gìn giữ bộ kinh và chờ đến khi nào nhân duyên viên mãn, loài người đã đủ khả năng để tiếp thu giáo lí này. Truyền thuyết này đã mang tên tiếng Phạn là "Nāgārjuna", có nghĩa là "trong trắng như loài rồng" (nāga = Long; arjuna = màu trắng, thanh tịnh). Tuy nhiên tên này được người Hoa hiểu là Long Thụ, tức là "một loài cây của rồng" (arjuna được hiểu là một loại cây, Terminalia Arjuna W. and A). Một biểu tượng dành riêng cho Long Thụ khác là những con rồng (hoặc rắn) trong hào quang của Sư.

Còn rất nhiều truyền thuyết khác về Long Thụ, như câu chuyện về cơn bệnh ngặt nghèo thời niên thiếu, được chữa trị khi Sư xuất gia và nghiên cứu kinh điển nhà Phật. Một truyện khác thuật lại các phép tu luyện kim và tạo nước trường sinh bất tử, cũng như việc Sư tự vẫn bằng cọng cỏ vì đáp ứng yêu cầu những người tranh luận mà Sư đã hàng phục. Sư đáp ứng yêu cầu vì lòng từ bi mà được giải thích là: bởi trong một tiền kiếp, Sư đã vô ý sát hại một côn trùng và việc này trở thành nghiệp quả Sư phải trả.

Thông tin có thể kiểm chứng về cuộc đời thực sự của Sư như vậy rất ít, nhưng mặc dù vậy, một vài điểm có thể được xác nhận, đó là Sư sống trong thế kỉ thứ 2, xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn miền Trung Ấn là Vidarbha, tiểu bang Maharashtra hiện nay. Khi tuổi đã cao, Sư trở về quê hương ở Trung Ấn, sống trên núi Phạm thiên (sa. brahmagiri), cao nguyên Śrīparvata, gần sông Kṛṣṇā. Ngọn đồi với ngôi chùa bây giờ vẫn còn và được mang tên của Sư – "Đồi Long Thụ" (sa. nāgārjunakoṇḍa). Các nhà nghiên cứu lịch sử sau này đã xác định được khoảng thời gian Sư hoằng hoá vì người ta tìm ra một vị vua có quan hệ với Sư ngự trị từ năm 106 đến năm 130 (vua xứ Śātavāhana, tên Gautamīputra Śatakarṇin, được dịch âm Hán-Việt là Kiều-đạt-di Phổ-đặc-la Khả-nhĩ-ni). Sư đã viết thư khuyên vị vua này. Những lời khuyên đó còn được lưu truyền trong tập Khuyến Giới Vương tụng (sa. suhṛllekha).
http://vi.wikipedia.org/wiki/Long_Thụ


(Tổ Long Thọ được tạc tượng có hình Rồng hộ Thể và có tướng Nhục Kế giống như Phật biểu thị 32 Tướng Đại Nhân)
 
Last edited by a moderator:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Lược trích Đại Trí Độ Luận.

* Những Tác Phẩm của Bồ Tát Long Thọ:
Trích:
Người Tây Tạng cho rằng Bồ Tát Long Thọ đã sáng tác tất cả gồm 122 bộ sách. Nhưng, dường như chỉ có thể xác định những cuốn sách được liệt kê dưới đây:
1. Trung Luận (Madhyamaka-Sàtra) còn có tên là Bát Nhã
(Prajnà: trí tuệ) hoặc Tụng (Kàrikàs) và Vô Úy Luận (Akutobhaya) do chính tác giả chú giải.
2. Hồi Chánh Luận (Vigrahavyvartanì) với sự chú giải của tác giả.
3. Lục Thập Chánh Lý Luận (Yuktisastikà)
4. Thập Thất Tụng Không Tánh Luận (sunyatà-Sapsati) và chú giải.
5. Duyên Khởi Tâm (Pratìyasamut-pàdahrdaya) và chú giải.
6. Tứ Tụng (Catuhstava)
7. Tu Tập Thứ Đệ (Bhàvanàkrama)
8. Bằng Hữu Thư (Suhrllekha)
9. Lưu Chuyển Chư Hữu (Bhàvasamkrànti)
10. Bảo Hành Vương Chánh Luận (Ratnàvalì)
11. Bát Nhã Ba La Mật Đa Kinh Luận (Pràjnàpàramita-Sutra Sàstra)
12. Thập Địa Giải Thuyết Luận (Dasabhaùmivibhàsà Sàstra)
13. Nhất Kệ Luận (Eka – Sloka - Sàstra)
14. Năng Đoạt Kinh (Vaidalya Sutra) và chú giải (Prakarana)
15. Ngôn Ngữ Cứu Cánh (Vyavahara - Siddhi)
Những bộ sách trên hiện chỉ còn một số nguyên bản nhưng dù sao thì toàn bộ đã được dịch sang tiếng Tây Tạng.
Long Thọ Truyện Ký của Cưu Ma La Thập (Kumàrajìva) thì cho rằng những cuốn sách dưới đây cũng chính là những tác phẩm của Long Thọ:
1. Ưu Bà Đề Xá (Luận Nghị) gồm Thập Vạn tụng
(Upadsa 100,000 Gàthas)
2. Trang Nghiêm Phật Đạo Luận gồm 5,000 tụng (Buddhamàr Gàlankàsa Sàstra 5,000 Gàthàs)
3. Vô Úy Luận (Akutobhaya - Sàstra) gồm 100,000 tụng.
Những bản được sưu tập bằng Hoa văn được đề cập dưới đây cũng thuộc về những tác phẩm của Long Thọ:
1. Đại Thừa Bảo Yếu Nghĩa Luận
(Mahayànabhavabheda Sàstra) “Lưu Chuyển Chư Hữu Luận” (Bhavasankràntisastra)
2. Bồ Đề Tư Tương Luận (Buddhisambhàra - Sastra)
3. Pháp Giới Tụng (Dharmadhàtustava)

http://www.thuvienhoasen.org/daicuon...ungquan-03.htm


.Trong đó nổi trội nhất là
1.TRUNG LUẬN.
2.THẬP NHỊ TÔN LUẬN.
3.ĐẠI TRÍ ĐỘ LUẬN.
Chính 3 bộ luận này là nồng cốt để hình thành Trung Quán Tông.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Lược trích Đại Trí Độ Luận.


Ni trưởng THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG



- Ủy viên Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
- Ủy viên Thường trực Ban Trị sự Tỉnh hội Phật giáo Thừa Thiên Huế.
- Trú trì chùa Hồng Ân - Huế.


I. THÂN THẾ VÀ THIẾU THỜI
Ni trưởng thế danh Hồ thị Hạnh, húy thượng Trừng hạ Hảo, hiệu là Nhất Điểm Thanh, sinh năm 1905, là con gái út của quan Đông Các Đại học sĩ Hồ Đắc Trung và Bà Châu Thị Lương, người làng An Truyền, huyện Phú Vang, tỉnh Thừa Thiên Huế.

Xuất thân từ một danh gia vọng tộc, gặp buổi giao thời giữa hai nền văn hóa cũ và mới, nên từ tấm bé Sư đã được hấp thụ một nền giáo dục dung hòa cả hai truyền thống Đông Tây. Thân phụ muốn cho du học ở Pháp, nhưng Sư không đi. Chí hướng của Sư là khôi phục truyền thống Á Đông và nâng cao tinh thần phụ nữ. Bản hoài cao rộng đó thật khó mà thực hiện nếu không thoát ly đời sống gia đình nhỏ hẹp, bởi thế Sư đã nhiều lần xin cha mẹ xuất gia. Nhưng vào thập niên 1920, ở Huế chưa có chùa Ni, chỉ có các bà lớn tuổi mới được vào chùa Tăng làm dì vải nấu bếp. Sư lại là con gái út của một vị đại thần đương thời, được nâng niu như cành vàng lá ngọc, cha mẹ không bao giờ cho phép. Trước trở ngại lớn lao đó, Sư đành ở nhà cho trọn hiếu, chờ dịp thuận tiện. Song thân mong Người yên bề gia thất, cứ khuyến khích tham dự các tiệc tùng, dạ hội, nhưng Người một mực nuôi chí xuất trần. Thế rồi năm 23 tuổi (1928), vì cảm từ tâm của song thân, Người phát bi nguyện độ sinh, bằng lòng kết duyên với cụ Cao Xuân Xang để nuôi đàn con dại bơ vơ vừa mất mẹ. Thời gian không lâu ông qua đời. Từ đây duyên trần nhẹ gánh, Người vừa nuôi đàn con côi, vừa làm Phật sự đắc lực.

II. XUẤT GIA
Năm 1932 (27) tuổi, Sư được Hòa thượng Giác Tiên trụ trì Tổ đình Trúc Lâm truyền thập giới làm Sa di ni với pháp tự Diệu Không, nhưng vẫn đễ tóc để làm Phật sự. Lúc bấy giờ, Sư thường xuyên giao dịch với người Pháp trong chính quyền Bảo hộ với tư cách đại diện hội An Nam Phật Học mà Sư là một sáng lập viên. Sau khi thọ thập giới 12 năm, vào mùa thu năm Giáp Thân (1944), Sư được thọ tam đàn cụ túc tại đại giới đàn Thuyền Tôn do Hòa thượng Giác Nhiên đệ nhị Tăng Thống Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống Nhất làm đàn đầu.

III. CÔNG HẠNH
Sau khi thọ giới Sa-di-ni, Sư bán tư trang và vay mượn thêm để xây cất Ni viện đầu tiên cho nữ giới có chỗ tu học, đó là Ni viện Diệu Đức. Sư còn góp phần sáng lập và trùng tu nhiều chùa Ni và tịnh viện khác tại Thừa Thiên Huế như Diệu Viên, Khải Ân, Hồng Ân, Kiều Đàm, Định Huệ, Đông Thuyền, Hồng Đức, Liên Trì, Liên Hoa; Bảo Thắng - Hội An, Bảo Quang – Đà Nẵng, Tịnh Nghiệm - Quảng Ngãi, Ni viện Diệu Quang – Nha Trang. Tại miền Nam, Sư là người góp công thành lập Ni trường đầu tiên ở Sa Đéc, Ni viện Từ Nghiêm, Dược Sư, Diệu Giác, Diệu Tràng, Diệu Pháp tại Hố Nai, Long Thành. Sư còn góp công rất nhiều trong việc xây dựng viện Đại học Phật giáo đầu tiên của Việt Nam là Đại Học Vạn Hạnh, cùng với Hòa thượng Trí Thủ, Hòa thượng Minh Châu, Hòa thượng Nhất Hạnh và cư sĩ Ngô Trọng Anh … là những vị khai sáng đầu tiên. Ngoài ra, cơ sở Kiều Đàm tại đường Công Lý (ngày nay là Nam Kỳ Khởi Nghĩa) cũng do Sư cổ động xây cất. Ngoài các cơ sở văn hóa và Chùa, Sư còn góp công đắc lực khai sáng cô nhi viện Tây Lộc Huế, và các cô nhi viện trên khắp thành thị thôn quê miền Trung từ 1964 trở đi. Năm 1952, Sư góp phần đắc lực trong việc sáng lập nhà in Liên Hoa để in kinh sách Phật giáo và nguyệt san Liên Hoa, do Hòa thượng Đôn Hậu làm Chủ nhiệm, Hòa thượng Đức Tâm làm Chủ bút, Sư làm Quản lý và Biên tập viên, là tờ báo Phật giáo sống lâu nhất tại miền Trung. Ngoài công tác hộ trì chánh pháp và làm từ thiện xã hội, Sư còn dịch thuật trước tác và cộng tác với nhiều tạp chí Phật giáo như Viên Âm, Giác Ngộ, Từ Quang, Liên Hoa… Các bộ kinh luận quan trọng do Sư dịch gồm có Thành Duy-Thức-Luận, Du-Già Sư-Địa-Luận, Lăng-Già Tâm-Ấn, Di-Lặc Hạ Sinh kinh, Đại- Trí Độ-Luận, Trung-Quán-Luận Lược-Giải (của Long Thụ Bồ Tát), Hiện-Thật-Luận (của Thái Hư Đại sư) v.v… Ngoài ra, Sư còn sáng tác rất nhiều tập thơ văn khuyến tu và giáo dục phụ nữ, như câu chuyện đạo lý, v.v…

Mặc dù Phật sự đa đoan, Sư luôn luôn học hỏi, tham cứu kinh sách Đại Tiểu thừa, và thường nhập thất tham thiền tại chùa Khải Ân, núi Châu Ê. Tuy mang thân nữ, Sư gần như không có thói nhi nữ thường tình mà Phật thường thống trách. Nguyện của Sư là đời đời mang thân nữ để độ cho nữ giới và không cầu sinh Tịnh độ: “Nguyện Phật chứng minh muôn vạn kiếp, con xin lăn lóc cõi Ta Bà”. Có lẽ do hạnh nguyện ấy mà đến đâu Sư cũng được phụ nữ đoanh vây, già trẻ lớn bé đều yêu mến. Và cũng có lẽ nhờ Sư am hiểu nhân tình, tùy cơ giáo hóa, có biện tài vô ngại. Nhưng trên tất cả, chính nhờ tâm hồn Sư bao dung quảng đại, bình đẳng đối với người thân cũng như sơ, xa cũng như gần. Câu thơ Sư làm “lưới trời bao phủ một tình thương” đủ nói lên chính xác tâm hồn Sư vậy.

Mặc dù là vị hộ trì đắc lực cho chư Tăng tu học, mặc dù được đặc cách học chung với chư Tăng trong các lớp giảng đầu tiên tại Huế, Sư không vì vậy mà xao lãng Bát kỉnh pháp. Ngược lại, đối với chư Tăng Sư luôn luôn kính nể, dù là một vị Tỳ kheo tân thọ giới hay chỉ một chú tiểu, Sư cũng đối xử lễ độ và hết lòng nâng đỡ. Đối với Ni chúng, Sư là bạn của tất cả mọi người, ai gần Sư cũng kính mến như bậc Thầy do bởi bản tánh bình dị, uy nghi khả kính. Tính bình dị của Sư quả là một tấm gương cho Ni giới: xuất thân từ nơi phú quý, mà khi vào chùa, Sư đã sống một cuộc đời hoàn toàn buông xả, đối với bốn vật cần dùng là ẩm thực, y phục, sàng tòa và dược phẩm Sư không chú trọng, có gì tốt đẹp đều đem cúng dường bố thí. Trước khi ngọa bệnh, nơi thường trú của Sư tại chùa Hồng Ân chỉ là một gian nhà thấp u tối, nhưng Sư không hề quan tâm sửa chữa, vì tâm hồn Sư luôn luôn để vào những chương trình rộng lớn hộ trì Tam Bảo, phục vụ chúng sinh đương thời và mai hậu.

IV. NHỮNG NGÀY CUỐI CÙNG
Năm 1978 sau một cơn bệnh Sư đã tắt thở, được chư Tăng vây quanh tiếp dẫn. Nhưng khi thời kinh hộ niệm chấm dứt, Sư cô Bảo Châu đau đớn khóc thét lên, Sư bèn giật mình tỉnh dậy vì bi nguyện độ sinh. Kể từ đấy, Sư thường dạy: “Khi đã thấy cảnh Tịnh độ rồi thì tôi xem cảnh đời này toàn là giả”. Có lẽ nhờ thấy giả mà Sư kham nhẫn được mọi sự. Gần 5 năm già yếu ngọa bệnh, Sư luôn luôn hoan hỷ với mọi người, đón nhận sự săn sóc chu đáo của tất cả các đệ tử, sự chữa trị tận tình của các bác sĩ Tây y như thầy Hải Ấn, Bác sĩ Lê Văn Bách, và quý vị bác sĩ, y tá Bệnh viện Trung ương Huế; Đông y như Sư Tuệ Tâm và quý vị Y Bác sĩ tại Tuệ Tĩnh Đường Diệu Đế v.v…

Mặc dù già bệnh, tinh thần Sư luôn minh mẫn cho đến giây phút cuối, mỗi khi ai có việc quan trọng đến thỉnh ý, Sư đều dạy những lời khuyên hết sức sáng suốt. Cách 2 tháng trước khi qua đời, Sư còn phát tâm cúng dường cơ sở Hồng Đức cho Giáo hội để sử dụng trong việc đào tạo Tăng tài.

Như một trái cây chín mùi, như đi cuộc hành trình đã đến đích, Sư an nhiên thâu thần thị tịch vào lúc 2 giờ khuya ngày 22 tháng 8 năm Đinh Sửu tức 23 tháng 9 năm 1997, hưởng thọ 93 tuổi đời với 53 hạ lạp.

Trích KỶ YẾU

TANG LỄ NI TRƯỞNG THÍCH NỮ DIỆU KHÔNG
 
Last edited by a moderator:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Lược trích Đại Trí Độ Luận.

* Giới Thiệu NỘI DUNG & HÌNH THỨC ĐTĐL:

Nội dung :
Đại Trí Độ Luận là tên Phiên dịch từ Chữ Phạn : MA Ha -dịch là Đại ,Bát nhã - dịch là Trí, Ba la Mật - dịch là Độ. Đại Trí Độ Luận ,là Luận về Ma Ha Bát Nhã Ba la Mật .

Kinh Ma Ha Bát nhã Ba la mật ,là một bộ kinh thuộc Đại Thừa Đốn giáo .Tổ Long Thọ, tạo luận này ,triển khai , TÁNH KHÔNG - THỰC TƯỚNG của các Pháp, hiển bày Trí Tuệ BÁT NHÃ .

Hình thức :
Sư Bà Thích Nữ Diệu Không Việt dịch , Hòa thượng Pháp Sư Thích Thiện Trí và cư sĩ Tâm Viên Lê Văn Lâm Hiệu đính .

Tác phẩm này chia làm 5 tập :

* Tập 1 : từ quyển 1 đến quyển 20 gồm 675 trang .

* Tập 2 : từ quyển 21 đến quyển 40 gồm 614 trang .

* Tập 3 : từ quyển 41 đến quyển 60 gồm 666 trang .

* Tập 4 : từ quyển 61 đến quyển 80 gồm 734 trang .

* Tập 5 : từ quyển 81 đến quyển 100 gồm 671 trang .

Tổng cộng có 90 Phẩm, 3360 trang . ( Hiện Đạo tràng chùa Huyền Trang - Thủ Đức. TP.HCM .VN đang phát hành ).
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Lược trích Đại Trí Độ Luận.

* Bài nhận định Bát Nhã Tâm Kinh của ngài Đương Đạo :

Các nhà học giả Tây phương cũng như Đông phương đều công nhận hệ thống Bát-nhã là cổng chính yếu dẫn vào Đại thừa. Bởi vì không những kinh điển của hệ thống nghiên cứu về Tánh Không chiếm khối lượng nhiều nhất trong Đại thừa, mà từ Tánh Không (sunyata) đã lưu xuất ra hầu hết các học phái tu chứng của đạo Phật, như Thiền tông, Không Luận tông của Ngài Long Thọ, Thiên Thai tông và tiềm tàng trong Duy Thức tông, Mật tông, Hoa Nghiêm tông, Pháp Hoa tông...Kinh Đại Bát-nhã nói: "Y theo Bát-nhã này, người nào muốn thành Tu-Đà-Hoàn sẽ đắc quả Tu-Đà-Hoàn, muốn thành A-la-hán sẽ đắc quả A-la-hán, muốn thành Bích-Chi Phật sẽ thành Bích-Chi Phật, muốn thành Bồ-tát sẽ thành Bồ-tát, nhẫn đến muốn thành Phật sẽ thành Phật". Tất cả đều nhờ Bát-nhã. Như thế Bát-nhã bao gồm Đại thừa lẫn Tiểu thừa, tùy theo người sử dụng.

Bộ kinh Đại Bát-nhã gồm sáu trăm quyển, có 125.000 bài tụng do ngài Huyền Trang dịch. Bộ này được cô đọng thành Bát-nhã Tâm-Kinh gồm 260 chữ, nguyên văn bằng chữ Sanskrit, được lưu hành rộng rãi ở Tây Tạng, Trung Hoa, Nhật Bản, Triều Tiên, Việt Nam... Như thế đủ rõ Bát-nhã Tâm-Kinh là cốt tủy của hệ thống Bát-nhã Không-Tuệ học, mà chúng ta ai cũng thuộc lòng. Và ai đến với đạo Phật, như một con đường rộng lớn nhất để giải thoát, chứng thực được thực tại vi diệu nhất là Niết-bàn Tự Tâm, đều phải, không hoàn toàn thì cũng một phần, đi trên con đường Bát-nhã vì Bát-nhã được kinh gọi là Mẹ của chư Phật. Vậy thì Trí-Huệ Bát-nhã là gì ? Tâm-Kinh được truyền thuyết để hành giả đạt đến cái gì ? Trí-Huệ Bát-nhã là trí huệ thấu biết Tánh-Không và đưa hành giả đạt đến Tánh-Không. Tánh-Không là gì mà đạt đến nó tức là thành tựu được Phật quả, đạt đến mục đích cuối cùng của Đạo Phật ? Có được một ý niệm về Không, một hiểu biết ở trên bình diện ý thức _ dù ý thức được đạo Phật xem là vọng thức _ chúng ta mới có thể đi vào Bát-nhã Tâm-Kinh. KHÔNG có ba ý nghĩa:
1 -- Ý nghĩa thế đế. Không là không có tự tánh, rỗng không. Đó là ý nghĩa của Không trong câu "soi thấy năm uẩn là Không". Tiếng Phạn là asbhava-sunya, tức là năm uẩn rỗng không, không có tự tánh.
Để cho dễ hiểu, chúng ta hãy xem xét sự vật trên bình diện ý thức, nghĩa là những gì ý thức có thể hiểu được. Theo khoa học hiện đại về vật lý hạt nhân, phần tử căn bản tạo nên vật thể là nguyên tử. Nguyên tử gồm một nhân, xoay quanh nhân là những âm điện tử. Các electron này thường có tốc độ khoảng phân nửa tốc độ ánh sáng. Như thế cơ cấu của một nguyên tử không tồn tại nguyên dạng trong một phần triệu giây. Nói theo người xưa là nguyên tử không có tự tánh vì không giữ được cơ cấu của mình trong một sát-na. Kim loại vốn rắn, dưới ảnh hưởng của nhiệt biến thành thể lỏng. Kim loại không duy trì được tự tánh của nó nên kim loại là không có tự tánh. Nói theo đạo Phật, tứ đại (đất nước, gió, lửa) đều có thể bị hủy diệt biến thái bởi nhau và hóa thành lẫn nhau. Các nguyên tố sanh ra vũ trụ đều không có tự tánh nên là Không. Một ý nghĩa nữa mà ý thức có thể hiểu, Không nghĩa là trống rỗng. Cũng trong nguyên tử khoảng cách từ nhân ra đến âm điện tử là cực kỳ lớn, đến nỗi khối lượng vật chất (nhân + âm điện tử) so với khoảng không ở giữa chúng cũng giống như khối lượng các ngôi sao so với khoảng không vũ trụ chứa đựng chúng. Nếu bỏ đi khoảng không trong nguyên tử, thì toàn thể một con người chỉ còn lại phần vật chất đặc nhỏ hơn hạt cát. Một kính hiển vi điện tử nhìn một bức tường sẽ thấy là trống không, vì phần vật chất quá ít so với khoảng không chứa chúng. Vật chất mà ta thấy bằng mắt gần như trống rỗng, đó là một phần ý nghĩa của chữ Không. Không trong ý nghĩa thế đế là không có tự tánh và trống rỗng, một phần nào khoa học hiện đại có thể hiểu được.

2 . Ý nghĩa thế đế thứ hai: Không có nghĩa là giả, không thật, như huyễn ảo. Qua những thí dụ trên, ta thấy rằng sự vật ta nhìn bằng mắt thường thì khác với sự vật của khoa học. Ta cũng biết rằng con kiến chỉ biết có hai chiều, không biết chiều cao. Con chó cũng thấy được có hai màu trắng đen. Vào đầu thế kỷ, con người ý thức được chiều thứ tư của sự vật là chiều thời gian. Vậy thì, thực tại tùy theo mỗi loài, tùy theo ý thức hạn hẹp hay mở rộng mà thấy có khác nhau. Cái ta thấy chỉ là cái của ta. Cái ấy không đúng như thực tại trong tự thể của nó. Không nhìn đúng sự thật, không nhìn được thực tại như nó hiện là, mà nhìn ra một cái khác tùy theo ý thức mỗi loài. Cái khác đó đạo Phật gọi là giả hay sâu xa hơn, là như huyễn. Duy Thức tông nói mọi pháp đều có theo “thức”. Nghĩa là mọi vật đều theo “thức phần” của ta mà hiện ra với ta, cái hiện ra đó tùy theo thức, nên mọi cái hiện ra đều do thức. Vì theo thức riêng của mỗi loài chúng ta nên không thật, là giả, như huyễn.

3. Ý nghĩa chân đế. “Không” là thực tại, không sanh, không diệt, không dơ sạch, không tăng giảm, như Tâm Kinh tuyên thuyết. Thực tại đó siêu việt khỏi mọi ngôn ngữ, mọi ý niệm hoặc có hoặc không, ngoài mọi hình tướng nên dùng chữ “Không” để diễn tả như một sự phủ định tất cả và vượt lên tất cả. Thực tại đó, trong Thiền tông được biểu thị bằng một vòng tròn trống không hàm chứa tất cả mọi sự, đó là thực tại tròn đầy gọi là Chân Không Diệu Hữu. Lấy một ví dụ có ý nghĩa triết học, người xưa thường dùng là sóng và nước. “Không” ở đây là bản thể, đối với “sắc” là hiện tượng. Tâm Kinh nói sắc tức là Không, có nghĩa là hiện tượng sanh diệt là bản thể chân thường. Như sóng sanh diệt
có bản thể là nước, là biển cả chân thường. Bản thể của sóng là nước như bản thể của hình sắc vật chất là Chân Không. Như thế, trăm ngàn sóng đều đồng nhau trong bản chất là biển cả, cũng như trăm ngàn hình sắc đều cùng một bản chất là Chân Không bất diệt. Trăm ngàn thứ đồ vật bằng vàng đều có bản thể là vàng. Chúng ta không thấy được vạn vật cùng một thể tánh (thể tánh này siêu việt lên ý thức, ngoài mọi lý luận về có và không) vì chúng ta bị trói buộc trong ý thức nông cạn của mình. Muốn thấy được Tánh Không đó phải từ ý thức đi vào Trí Bát-nhã. Đó là quá trình tu chứng của đạo Phật.

Một cách cụ thể, khi có người hỏi hành giả tu Bát-nhã, cái bàn là gì? Hành giả đó sẽ trả lời cái bàn là Không. Và không những cái bàn, mà cỏ cây, hoa lá, núi sông, phàm thánh trời người, tất cả đều là Không, đều đồng một thể Chân Không. Điều đó cũng giống như tất cả mọi bóng sắc trong một tấm gương rộng lớn đến vô hạn, tuy sắc có vô số nhưng đồng một bản thể là gương. Tâm Kinh nói Không tức thị Sắc nghĩa là gương và bóng là một. Không có bóng nào ở ngoài gương và không có bóng nào không có bản chất là gương. Đối với khoa học hiện đại, khi được hỏi bản thể của vật chất là gì, khoa học sẽ trả lời là những hạt cơ bản. Đối với đạo Phật, vượt quá ý thức để thấy và chứng bằng Trí Huệ, bản thể của vật chất còn vi diệu hơn cả những hạt cơ bản và những hạt cơ bản là một thứ vật chất nhỏ. Những hạt cơ bản không vi tế bằng khoảng không ở trong nguyên tử đó, mà theo kinh Lăng Nghiêm khoảng trống không vũ trụ còn được sanh ra bởi và ở trong Như Lai Tạng tức là trong Chân Không, thì cái thể tánh Không đó hoàn toàn không thể nghĩ bàn. Kinh Duy-ma-cật phẩm Đệ Tử có nói:
"Pháp đồng pháp tánh". Mọi pháp cùng đồng một Pháp tánh. Pháp tánh ấy là Không. Không là Pháp tánh, là bản thể của tất cả mọi vật. Ngài Hiền Thủ, tổ Hoa Nghiêm tông, giảng Sư Tử Chương: Con sư tử bằng vàng, nên tất cả mọi sợi lông trên thân đều bằng vàng. Cũng thế mọi hình tướng vật chất ta thấy được đều cùng một thể tánh, thể tánh đó là Không. Không đó, kinh Lăng Nghiêm gọi là Không Như Lai Tạng. Hoa Nghiêm gọi là Pháp giới Tánh, Pháp Thân. Kinh Viên Giác gọi là Viên Giác, cái biết thường hằng viên mãn. Kinh Lăng Già gọi là Viên thành thật Trí hay Đại viên cảnh Trí. Ngài Padmasambhava, vị khai sáng Phật giáo Tây Tạng trong cuốn Đại Giải Thoát, diễn tả cái Không đó là Nhất Tâm như sau: "Tâm thì không chỗ trụ, không dơ nhiễm, không sinh ra bởi vật gì, là Chân Không, chiếu soi, trống lặng, không phân hai, trong suốt, không thời gian, không trộn lẫn, không bị ngăn ngại, không màu sắc, không hình tướng để có thể nắm bắt, nhưng là nhất thể của vạn pháp, lại cũng không sinh ra bởi vạn pháp. Một vị bình đẳng siêu lên mọi phân biệt." Lục Tổ Huệ Năng gọi là Tự Tánh: "Nơi con người, thân xác là thành, mắt tai mũi lưỡi là cửa, ngoài có năm giác quan là năm cửa, trong có cửa ý, tâm là đất, Tánh là Vua. Trên đất tâm này, có Giác Tánh Như Lai, phóng ra ánh sáng lớn, ngoài soi sáu cửa thanh tịnh, trong phá sáu nẻo luân hồi, Tự Tánh chiếu bên trong ba độc tham sân si diệt trừ, địa ngục và tội lỗi tiêu sạch. Trong ngoài sáng suốt chính là Tịnh Độ. Thiền tông gọi Tánh Không này là Tâm, Chân Tâm, Phật Tánh, Tâm Không, Tâm Ấn... Mật tông gọi là Kim Cương giới, thế giới bản thể, đối lại với Thai Tạng giới là thế giới hiện tượng. Ở trên là ba ý nghĩa của Tánh Không. Ba ý nghĩa đó có thể gọi là ba phương diện của cùng một thực tại. Ba phương diện này được Ngài Long Thọ nói trong Trung Luận:

"Các pháp nhân duyên sanh,
Tôi nói chính là Không,
Đó gọi là giả danh,
Cũng là nghĩa Trung Đạo. "

Nói theo ngài Thiên Thai Trí Giả, đó là ba phương diện Không, Giả, Trung của thực tại. Đối với ba phương diện ấy của thực tại Không, đạo Phật có ba pháp tu quyết định được giảng trong những kinh điển như Lăng Nghiêm và Viên Giác để đưa hành giả tương ưng với Thực Tại. Đó là Samatha, Chỉ hay Định để tương ưng với Không. Vipasyana, Quán hay Huệ để tương ưng với Giả. Dhyana hay Thiền, hay Chỉ Quán song tu để tương ưng với Chân Không Trung Đạo đệ nhất nghĩa đế. Đứng trong Triết học Đông phương, chia thực tại làm ba phương diện Thể, Tướng, Dụng thì Không là:
Thể: Không là Chân Không Trung Đạo đệ nhất nghĩa đế, ly tứ cú (vượt ra ngoài bốn ý niệm: có, không, vừa có vừa không, không có không không), tuyệt bách phi (vượt ra ngoài một trăm cái chẳng phải là).
Tướng : Không là trống rỗng, không tự tánh.
Dụng : Không là không thật có, như huyễn.

Tóm lại dầu gọi bằng tên gì, chúng ta cũng có một kết luận: Có một thể tánh chân thường, không sanh không diệt, không tăng không giảm, ngoài mọi ý niệm có không. Thể tánh đó là bản thể của mọi pháp và cũng là thể tánh của chúng ta. Nó là Phật tánh của chúng ta, cái vốn có từ xưa đến giờ ở nơi mỗi chúng ta. Chúng ta chỉ thoát khỏi khổ đau, ràng buộc, trôi lăn trong sanh tử luân hồi; ngày nào chúng ta còn là Nó, còn là một làn sóng, còn bị trói chặt trong thân ngũ ấm, chừng đó còn bị đau khổ, trôi lăn. Khi nào làn sóng là một với đại dương không sanh không diệt, thường, lạc, chân, tịnh, vấn đề đau khổ và luân hồi sẽ chấm dứt. Thể tánh đó là lời hứa vĩnh cửu cho mọi con người chúng ta, những sinh vật khát khao vĩnh cửu chân thường, vì tất cả chúng ta đều sanh ra để chết. Nếu không có thể tánh Chân Không đó, sẽ không có đạo Phật, vì chẳng còn lời giải cho khổ đau, sanh tử và luân hồi, không còn nụ cười an nhiên của Đức Phật, không có sự tự chứng và giúp người khác chứng, không có một Đức Phật nào và một vị Bồ-tát nào.Tánh Không đó là lời hứa vĩnh cửu cho mọi con người khát khao vĩnh cửu, thường, lạc, chân, tịnh, mà chính Đức Thích-Ca đã hứa với mỗi một chúng ta, khi trao y bát cho Ngài Ca-diếp làm vị Tổ đầu tiên của đạo Phật: "Ta có Chánh pháp Nhãn Tạng Niết- bàn Diệu Tâm, thực tướng vô tướng, nay phó chúc cho ông". Tánh Không đó, không phải do giảng thuyết mà đạt được, không do bàn luận mà đạt được không do học tập mà đạt được. Với đạo Phật, nghe (Văn) tư duy (Tư) chỉ để đi đến thực hành (Tu). Tánh Không đó chỉ đạt được do tu tập, do huân tập một cái nhìn khác với cái nhìn của giác quan thường nghiệm, luyện tập một lối suy nghĩ khác với ý thức thường nghiệm để chuyển Thức thành Trí. Chuyển Thức thành Trí là công phu tu hành của mọi môn phái đạo Phật. Con đường của Giác ngộ là đạo Phật, chỉ có qua sự tu tập. Không có công phu tu tập chúng ta sẽ không tiến được một bước quyết định nào trên con đường đó, không leo lên được một nấc thang nào trong năm mươi bốn địa vị dẫn đến quả vị Giác Ngộ. Bởi thế, khi diễn giải, chúng tôi chú trọng nhiều hơn về mặt thực hành….

(Trích Bát Nhã Tâm Kinh – Thiền giải –
Phần Dẫn Nhập)
 
Last edited by a moderator:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
ĐTĐL -Duyên khởi

QUYỂN 1.

20 Duyên Khởi: Trong Luận có nói rõ 20 Duyên khởi mà Đức Thế Tôn thuyết Bát nhã Ba la Mật.

Ở đây xin chỉ lượt trích 3 Duyên khởi .


*Đặt vấn đề:

Do nhân duyên gì mà Phật thuyết kinh Ma ha Bát nhã Ba la Mật ?

Phật pháp chỉ được tuyên bày khi có đại sự nhân duyên; chẳng phải không nhân duyên, hay do tiểu nhân duyên mà có được. Ví như núi Tu Di chẳng phải tự nhiên, hay do một kích động nhỏ mà lay chuyển được. Nay do đại nhân duyên gì mà Phật thuyết kinh Ma ha Bát nhã Ba la Mật ?

Luận giải:

Duyên khởi 12:
Lại nữa, Phật muốn phá trừ hai chấp đoạn và thường của chúng sanh, đưa chúng sanh vào trung Đạo.

Bởi nhân duyên như vậy, nên Phật mới thuyết kinh Ma ha Bát nhã Ba la Mật này
.
 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
ĐTĐL -Duyên khởi

*Tư duy - Duyên khởi 12:

+ Thế nào là chấp Thường ?:
- THƯỜNG KIẾN:Đây là kiến chấp do ức tưởng phân biệt khởi sanh ra. Nên là sai lầm sẽ dẫn chúng sanh đến ưu bi khổ não.
- THƯỜNG KIẾN là chấp Thấy Có Linh hồn bất diệt, là cái Thấy biết sai lầm về Ngã và Thế Giới và chấp đó là Chân lý của người Thế gian và Ngoại Đạo.

- THƯỜNG KIẾN - Nghĩa là họ chấp: Cái xác thân này chết đi, thì Linh Hồn vẫn tồn tại, nó sẽ bay ra, và sẽ nhập vào một xác thân khác. Hoặc có niềm tin là khi chết đi Linh hồn sẽ nằm ở đâu đó để chờ đợi "ngày phán xét cuối cùng" để rồi mãi mãi bị đọa vào Hỏa Ngục, hoặc mãi mãi lên Thiên Đàng .v.v...

Do vì Thường kiến là ức tưởng, là vọng kiến sẽ đưa chúng sanh đến ưu bi khổ não, nên Thường Kiến cần phải được phá trừ .

+ Thế nào là chấp Đoạn ?:

- ĐOẠN KIẾN:

KIẾN CHẤP CHO RẰNG CHẾT LÀ HẾT,KHÔNG CÓ NHÂN QUẢ,KHÔNG CÓ TÁI SANH GÌ CẢ.

Đây cũng là kiến chấp do ức tưởng phân biệt khởi sanh ra. Nên là sai lầm sẽ dẫn chúng sanh đến ưu bi khổ não.

Kính các Bạn. Người chấp Thường, tuy là sai lầm nhưng vẫn còn hy vọng hưởng được phước báu nhân thiên. Vì họ còn sợ nhân quả, còn sợ tái sinh qua đời sau, nên hạn chế làm ác. Còn người chấp Đoạn thì vì họ nghĩ rằng có là gì thì khi chết cũng hết tất, nên họ mặc sức buông lung, miễn không ai biết được tâm ý họ xấu ác thì được rồi.

Do vì Đoạn kiến là ức tưởng, là vọng kiến sẽ đưa chúng sanh đến ưu bi khổ não, nên Đoạn Kiến cần phải được phá trừ .
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
ĐTĐL -Duyên khởi

*Tư duy - Duyên khởi 12:

+ Thế nào là TRUNG ĐẠO ?

Trung Đạo là con đường ở giữa mọi cực đoan trong lề lối tu hành .

Tùy theo trình độ tu chứng, tùy theo hệ phái tông chỉ, người tu học Phật Pháp sẽ có những khái niệm về Trung Đạo sâu cạn khác nhau :

- Hệ thống Giáo lý Nguyên thủy cho rằng Trung Đạo là con đường xa lánh 2 cực đoan là Hưởng thọ dục lạc và hành hạ thân xác để cầu Đạo . Đức Phật đã ví dụ như sợi dây đàn nếu quá chùng hay quá căng thì không thể tấu lên những khúc nhạc hay .Và Bát Chánh Đạo chính là con đường Trung Đạo, như bài Kinh Câu Lâu Sấu Vô Tránh trong Kinh Trung A hàm như sau:

“ Xa lìa hai cực đoan này thì có trung đạo, tác thành con mắt, tác thành trí tự tại, tác thành định, đưa đến trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn’. Vấn đề này được nói lên với những nguyên nhân nào ? Ở đây, Thánh đạo tám chi, từ chánh kiến cho đến chánh định, gọi là tám. Do bởi sự kiện này mà nói: Xa lìa hai cực đoan này thì có trung đạo, tác thành con mắt, tác thành trí tự tại, tác thành định, đưa đến trí, đưa đến giác ngộ, đưa đến Niết-bàn.”

Trong hệ kinh điển Phật giáo Đại thừa còn đề cập đến Đệ nhất nghĩa không là Trung đạo. Liên quan đến ý nghĩa này, trong Kinh Đại Bát Niết Bàn giải thích:

- Lại các kinh Đại thừa dạy rằng "Đệ nhất nghĩa không" chính là Trung Đạo
“Phật tánh là ’đệ nhất nghĩa không’Đệ nhất nghĩa không tức là trí tuệ. Cái gọi là KHÔNG không phải là không cũng chẳng phải là bất không (có). Người trí thấy nó vừa là không cũng vừa bất không, (thấy các pháp) vừa thường và cũng vừa vô thường, vừa khổ và vừa lạc, vừa ngã vừa vô ngã. Không là tất cả sinh tử, bất không là đại Niết bàn, thậm chí thấy vô ngã cũng là sinh tử, thấy ngã gọi là Niết bàn. Thấy tất cả đều không mà không thấy bất không thì không gọi là Trung đạo. Ngay cả thấy tất cả pháp đều là vô ngã mà không thấy (các pháp) là ngã, điều ấy không gọi là (hành) Trung đạo. Trung đạo tức là Phật tánh, căn cứ vào ý nghĩa này, cho nên biết Phật tánh là thường hằng bất biến. Chúng sinh vì bị vô minh che lấp, cho nên không thấy Phật tánh; hàng Thinh Văn Duyên Giác chỉ thấy tất cả pháp đều không, nhưng không thấy các pháp là bất không, thấy các pháp là vô ngã mà không thấy các pháp là ngã. Chính vì lý do này mà không thấy Đệ nhất nghĩa không, vì không thấy Đệ nhất nghĩa không, cho nên không hành pháp Trung đạo, vì không hành pháp Trung đạo cho nên không thấy được Phật tánh.”


- Trung quán Luận Tổ Long thọ dạy :

Do nhân duyên sinh pháp,

Ta nói vốn là không,

Nó cũng gọi giả danh,

Cũng gọi nghĩa Trung đạo.


3 khía cạnh Hiện tượng trong Tổng thể Chân Như của tấc cả Pháp : 1. Duyên sanh, 2. Không Tự Tánh , 3. Giả danh, đều là nghĩa Trung Đạo. Do quán sát 3 khía cạnh này mà thấy được tánh Chất bát bất, đưc kinh luận gọi là Bát bất Trung Đạo : Bất sanh, bất diệt, bất thường, bất đoạn, bất nhất, bất dị, bất khứ, bất lai .
1- Không sinh
2- Không diệt
3- Không thường
4- Không đoạn
5- Không phải một
6- Không phải khác
7- Không đến
8- Không đi.
như hai bài kệ đầu của Trung Quán Luận đã nói:

1. "Bất sanh diệc bất diệt,
Bất thường diệc bất đoạn,
Bất nhất diệc bất dị,
Bất lai diệc bất xuất"

2. "Năng thuyết thị nhân duyên
Thiện diệt chư hý luận
Ngã khể thủ lễ Phật
Chư thuyết trung đệ nhất"

(Không sanh cũng không diệt,
Không thường cũng không đoạn,
Không đồng nhất cũng không dị biệt,
Không đến cũng không đi.

Nói rõ thuyết nhân duyên ấy,
Khéo dập tắt các hý luận.
Con cúi đầu lễ Phật
Bậc thuyết giảng đệ nhất trong các bậc thuyết giảng)


(vấn đề này chúng ta sẽ trở lại nhiều lần nữa bên trong bài luận )
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
ĐTĐL -Duyên khởi

*Tư duy - Duyên khởi 12:

Nhân duyên Phật muốn phá trừ hai chấp đoạn và thường của chúng sanh, đưa chúng sanh vào trung Đạo.
là để chúng sanh thoát khỏi mọi lầm chấp mà vào được Trí Tuệ Bát nhã Ba la Mật . Như bài kệ tán thán:

"Đường Trí Độ Phật rộng mở bày,
Biển tâm sâu thẳm khắp cùng soi
Tướng Trí Độ, Phật nghĩa vô ngại.
Ngưỡng Trí Độ, Phật tánh khôn lường,
Diệt tận gốc hai chấp có không,
Chân thật tướng Thế Tôn chỉ dạy,
Thường trú, bất hoại, tịnh phiền não.
Kính lễ pháp Phật hằng tôn trọng..."

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
ĐTĐL -Duyên khởi

*20 Duyên Khởi:


+ Duyên khởi 16:
Lại nữa, Phật muốn thuyết giảng về tướng của Đệ Nhất Nghĩa Tất Đàn .

Bởi nhân duyên như vậy, nên Phật mới thuyết kinh Ma Ha Bát Nhã ba la Mật này .

Có bốn thứ Tất Đàn , đó là:
1. Thế giới Tất Đàn.
2. Vị nhân Tất Đàn.
3. Đối trị Tất Đàn.
4. Đệ nhất nghĩa Tất Đàn.

Trong 4 Tất Đàn này tổng nhiếp 12 bộ kinh, gồm 8.400 pháp tạng, tất cả đều là chân thật pháp, chẳng có gì trái ngược nhau.

Sở dĩ trong Phật pháp nói có 4 Tất Đàn, và nói cả 4 Tất Đàn đều như thật có, là nhằm đối trị mọi sự nhận định của chúng sanh ở 4 phạm trù riêng biệt vậy .
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
ĐTĐL -Duyên khởi

*Tư duy - Duyên khởi 16:

+ Tất Đàn .-Nghĩa là Phương pháp thành tựu .- Đức Phật dùng 4 phương pháp này trong việc giáo hóa chúng sanh, để thành tựu lợi ích cho chúng sanh, phá chấp diệt ác cho chúng sanh. Gọi là Tứ Tất Đàn.

1/. Đối trị Tất Đàn: Một trong bốn Tất đàn. Chỉ cho phương pháp tùy bệnh cho thuốc mà đức Phật dùng để đối trị phiền não ác nghiệp của mỗi chúng sinh. Như Ngài dạy quán bất tịnh để phá tham dục, quán từ bi để phá giận tức, dạy không giáo để phá thường kiến, dạy hữu môn để phá đoạn kiến v.v..., đó đều là vì đối trị vọng chấp và phiền não của chúng sinh để thành tựu lợi ích phá chấp diệt ác. [ luận Đại trí độ Q.1].

2/. thế giới tất đàn: Tức trước đức Phật tùy thuận phàm tình, dùng các tên giả của thế gian như nhân ngã, dục lạc... để nói các pháp thế gian mà thành tựu Phật đạo cho chúng sinh,
Ví dụ như Đức Phật dùng những cảnh ham muốn của
Thế gian, như vàng, bạc, lưu ly v.v... để rồi tập tành cho chúng sanh tu tập thiền Định, niệm Phật để thành tựu được thiện quả .Đó gọi là gọi là Thế giới tất đàn.

3/. Vị nhân tất đàn, hay Các các vị nhân tất đàn. Tức tùy theo căn cơ của chúng sinh mà thuyết pháp, khiến cho thiện căn của họ tăng trưởng, Ví như các Phương pháp Biệt Giáo như truyền thuyết Thích Ca niêm hoa - Ca Diếp vi tiếu .


4/. Đệ nhất nghĩa tất đàn: Cũng gọi Nhập lí tất đàn. Pháp dùng để phá trừ tất cả sự biện luận, vượt ra ngoài lời nói. Đây là phương tiện khéo léo dùng để thuyết minh lí trung đạo khiến chúng sinh chứng ngộ chân lí. Đệ nhất nghĩa tất đàn được chia làm 2 loại: 1. Bất khả thuyết: Pháp sở đắc của chư Phật. 2. Khả thuyết: Dùng 4 câu: Tất cả thật, tất cả chẳng thật, tất cả thật cũng chẳng thật, tất cả chẳng thật chẳng không thật để nói rõ thực tướng của các pháp. Nếu đem phối hợp với Tứ đế của 4 giáo hóa pháp trong tông Thiên thai, thì Đệ nhất nghĩa tất đàn có thể phối hợp với Vô tác tứ đế của Viên giáo. [X. Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.1 phần dưới].-(Theo Phật quang từ điển) .

4 Tất đàn này, do Đức Phật vì tùy theo căn cơ trình độ của chúng sanh nên tùy cơ mà sử dụng trong suốt 12 bộ kinh,8.400 pháp tạng. Do đó nếu không có được Trí tuệ Bát nhã thì sẽ thấy những lời dạy của Phật chống trái nhau.

Thật ra , cả 4 Tất đàn để cuối cùng đưa về Đệ nhất nghĩa Tất đàn. Vì muốn cho chúng sanh vào được Đệ nhất nghĩa Tất Đàn, dung hợp được cả 4 Tất Đàn nên Đức Phật thuyết Ma ha Bát nhã Ba la Mật kinh .
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
ĐTĐL -Duyên khởi

*20 Duyên Khởi:

+ Duyên Khởi 19:
Lại nữa, cũng có hai lối thuyết pháp là:
1. Thuyết pháp có tranh cãi.
2. Thuyết pháp không có tranh cãi.

Nói có tướng hay không có tướng, có vật hay không có vật, có chỗ y cứ hay không có chỗ y cứ, có thế giới hay không có thế giới... dẫn đến có mê, có ngộ, có chúng sanh, có Phật v.v...đều thuộc về thuyết pháp có tranh cãi, vì có đối đãi vậy.

Nay Phật muốn thuyết minh lối thuyết không có tranh cãi.

Bởi nhân duyên vậy, nên Phật thuyết kinh Ma ha Bát nhã Ba la Mật này.

Hỏi: Phật là đấng đại từ, đại bi, chỉ thuyết những pháp không có tranh cãi. Vì sao Phật cũng có thuyết những pháp có tranh cãi ?

Đáp: Các pháp không tranh cãi đều là vô tướng, thường vắng lặng, nên chẳng có thể dùng lời nói mà diễn bày được. Các pháp Bố thí, Trì giới, Tinh tấn, Nhẫn nhục, Thiền định, Trí tuệ; cũng như các pháp Vô thường, khổ, không, vô ngã v.v... đều vắng lặng, chẳng có hý luận. Người lợi căn thượng trí nghe xong liền hiểu ý Phật, nên chẳng khởi tranh cãi. Người độn căn thiểu trí, vì chẳng hiểu được ý Phật nên sanh chấp tướng, rồi từ đó khởi tranh cãi.

Bát nhã Ba la Mật là pháp rốt ráo, nên chẳng có tranh cãi. Vì sao ? Vì đã là rốt ráo thì chẳng còn có đối đãi nên chẳng y cứ vào đâu để khởi tranh cãi. Lại nữa, đã là rốt ráo thì có và không đều vắng lặng.

Bởi nhân duyên vậy, nên Phật thuyết kinh Ma ha Bát nhã Ba la Mật này.

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
ĐTĐL -Duyên khởi

*Tư duy - Duyên khởi 19:

Nguyên nhân nào Thuyết pháp có tranh cãi.?
(Luận dạy)
Hết thảy ngọai đạo xuất gia, đều có thể cho pháp của mình thanh tịnh đệ nhất, hủy báng pháp của kẻ khác ,vì thế đời này đấu tranh, đời sau sẽ đọa vào địa ngục. chịu vô lượng khổ não cho nên Thế Tôn đã dạy : Vì say đắm Pháp của mình ,hủy báng pháp của kẻ khác, tuy giữ gìn giới hạnh, không thoát khổ địa ngục.dù có giữ gìn giới hạnh mà hủy báng pháp của kẻ khác .say đắm pháp của mình đó là rơi lọt vào tà kiến .

Trong Phật pháp Vất bỏ hết thảy ái , Trong Phật pháp Vất bỏ hết thảy các kiến chấp, Trong Phật pháp Vất bỏ hết thảy các kiêu mạn. như trong kinh đã nêu : “ Các ngươi nếu thấu rõ Pháp của ta ví như chiếc thuyền đưa kẻ sang sông, qua bên bờ kia rồi thì chiếc thuyền để lại, nếu thiện pháp như chiếc thuyền thì thiện pháp còn vứt bỏ,hà huống phi pháp”.

. Như vậy những pháp nào không phải là giải thóat, không đưa chúng sanh đến an lạc và niết bàn, nếu chúng ta trú chấp thì sẽ rơi lọt vào tà kiến .Đức Phật dạy :”Đệ tử của ta không nhiễm trước vào pháp, Đệ tử của ta không ái pháp, Đệ tử của ta không bị ràng buộc vào pháp, và chỉ mong giải thóat, chỉ mong lìa khổ, không bao giờ hý luận về các Pháp tướng.”.

Lại nữa nói : Nói Pháp của ta là chân thật, các Pháp khác là vọng ngữ, Pháp của ta là bậc nhất, các pháp khác là không thật, Ấy là đầu mối của đấu tranh.

Vì muốn cho Đệ Tử Phật thuyết pháp Không có tranh cải, nên Đức Phật Thuyết Ma ha Bát nhã Ba la Mật kinh .
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
ĐTĐL -Duyên khởi

Kính các Bạn. nhìn qua 20 duyên khởi ở luận Đại Trí Độ. Đều là nhằm nâng cao sự thẩm nhận Chân lý cho chúng đệ tử, đều là nhằm hiển bày Thật tướng của vạn pháp cho chúng đệ tử, nhằm hóa giải phá trừ lầm chấp cho chúng đệ tử, nhằm hướng dẫn chúng đệ tử thể nhập, vào Ma ha Bát nhã Ba la Mật. tương ưng Ma ha Bát nhã Ba la Mật. nên Đức Phật Thuyết Ma ha Bát nhã Ba la Mật kinh .

Nghĩa Bát nhã Ba la Mật vô cùng vô tận, lý duyên khởi cũng vô lượng vô biên. Nay chỉ lượt thuyết một số lý duyên khởi đủ để dẫn nhập vào bộ luận này.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
ĐTĐL -Phẩm tự

PHẨM THỨ NHẤT - PHẨM TỰ:

Nói về nghĩa:

Như thị ngã văn nhất thời...



Kinh:

Như vậy tôi nghe, một thời...

Luận:

Hỏi: Vì sao tất cả các kinh, Phật đều mở đầu bằng hai chữ " như vậy" ?

Đáp:phật pháp mênh mông như biển cả. Phải có tín tâm mới vào được biển Phật pháp; có tín tâm mới sanh tín lực, giúp hành giả vượt qua mọi khó khăn thử thách, tinh tấn tu học thẳng tiến trên đường hành Đạo.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
ĐTĐL -Phẩm tự

* Tư Duy về nghĩa chữ TÍN:

Theo truyền thuyết. ngài A Nan hỏi Đức Phật: “để mở đầu cho lời trùng tuyên lại những gì ngài dạy, câu mở đầu, chúng đệ tử phải nói là gì?”

Đức Phật dạy: “như chư Phật quá khứ, hiện tại và tương lai đã đang và sẽ nói, thì dầu có đọc tụng lời dạy của ta trong nhiều năm, nhiều tháng, nhiều ngày, câu mở đầu phải là: như thị ngã văn, nhất thời Phật tại…..”

Đây là câu nói quan trọng để xác tín niềm tin cho hàng Phật tử về những gì đức Phật đã dạy, gọi là lục chủng thành tựu hay lục chủng chứng tín. Nghĩa là 6 loại THÀNH TỰU để làm CHỨNG TÍN.
đó là :

1. Tín thành tựu .
2. Văn thành tựu .
3. Thời thành tựu
4. Chủ thành tựu.
5. Xứ thành tựu .
6. Chúng thành tựu .

Sáu điều trên đây là Lục chủng chứng tín hay Lục chủng thành tựu, nghĩa là sáu điều làm bằng chứng làm cho chúng ta tin Kinh này không phải Ngài A Nan tự nói ra mà chính Ngài đã cùng nghe với thính chúng, và ngài trùng tuyên lại có sự chứng kiến làm chứng của chư Thánh cùng kết tập kinh điển.



Tuy nhiên, ngoại đạo có thể nương nơi lục chủng này viết nên một chủ thuyết nào đó trái lại với đạo Phật mà vẫn đầy đủ các điều kiện trong lục chủng thì điều đó rất nguy hiểm. Vì thế, đức Phật dạy đệ tử phải văn nhi tư, tư nhi tu. Nghĩa là Nghe thì phải tư duy suy nghĩ, suy nghĩ rồi thì hãy thực hành. Nhưng nghe như thế nào mới là văn nhi tư? Và suy nghĩ như thế nào gọi là tư nhi tu?
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
ĐTĐL -Phẩm tự

* 1. Tín thành tựu .

Luận dạy:


"Như vậy" (Như thị) đặt ngay đầu mỗi quyển kinh, khẳng định lòng tin sâu dày của các bậc kiết tập kinh điển đối với lời Phật dạy. Người có tín tâm thanh tịnh mới vào được biển Phật pháp. Người không có tín tâm thì chẳng sao được như vậy.

Ví như da trâu đã thuộc rồi, trở nên mềm mại, dễ uốn nắn; cũng như vậy, hành giả nếu được trang bị tín tâm thanh tịnh, sẽ vận hành pháp Phật một cách mềm mại, nhu nhuyến.

Phật dạy: " ví như người có đầy đủ hai tay, nếu vào được trong núi báu, sẽ tha hồ lượm nhặt các vật báu, còn người mất cả hai tay, thì dù có vào được cũng chẳng lượm nhặt được gì cả. Cũng như vậy, hành giả có tín tâm thanh tịnh, nếu vào được trong núi báu Phật pháp sẽ tự tại thọ lãnh vô lậu căn, vô lậu lực, thiền định, trí tuệ v.v... người không có tín tâm chẳng bao giờ được như vậy.....

Hai chữ " Như vậy " còn mang ý nghĩa: " Người trực tín mới có thể nghe pháp. Nếu chẳng có tín lực thanh tịnh, thì chẳng sao có thể hiểu được lời Phật dạy". Như bày kệ thuyết:

Cầu nghe pháp như khát cầu uống,
Nhất tâm tìm hiểu nghĩa lời kinh,
Tinh tấn nghe với tâm hoan hỷ,
Người như vậy, nên vì họ thuyết
.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
ĐTĐL -Phẩm tự

* 1. Tín thành tựu (tt) .

Thế nào là NHƯ THỊ ?

Như là thể, Thị là dụng, Như là vô sanh, Thị là duyên sanh, Như là chơn như tánh, như hư không bất động, Thị là phương tiện.

“Đương thể tức như
Đương hạ tức thị”

(Đương ở thể thì gọi là Như, Nhưng để chỉ bày thì gọi là Thị)

Như- thì không thể nói được, nhưng Thị thì có chỗ để chỉ bày. Như là vô lượng nghĩa, nghĩa là không có nghĩa để nói; chỉ dùng một ý trong vô lượng ý để nói thì gọi là Thị. Chữ Như, chữ Thị là trung đạo đế, là thể dụng không hai.

Nêu lên đầu tiên là NHƯ THỊ để biểu thị lòng tin rốt ráo thanh tịnh. Thế nào là lòng tin rốt ráo thanh tịnh ?

Luận dạy: " Trong Phật pháp Vất bỏ hết thảy ái , Trong Phật pháp Vất bỏ hết thảy các kiến chấp, Trong Phật pháp Vất bỏ hết thảy các kiêu mạn. như trong kinh đã nêu : “ Các ngươi nếu thấu rõ Pháp của ta ví như chiếc thuyền đưa kẻ sang sông, qua bên bờ kia rồi thì chiếc thuyền để lại, nếu thiện pháp như chiếc thuyền thì thiện pháp còn vứt bỏ,hà huống phi pháp”.
.....

Phật dạy :”Đệ tử của ta không nhiễm trước vào pháp, Đệ tử của ta không ái pháp, Đệ tử của ta không bị ràng buộc vào pháp, và chỉ mong giải thóat, chỉ mong lìa khổ, không bao giờ hý luận về các Pháp tướng.”.


Như vậy tất cả Pháp , luôn cả Phật Pháp, nếu về THỊ thì đó là phương tiện, đệ tử Phật phải tư duy :

" Trong Phật pháp Vất bỏ hết thảy ái , Trong Phật pháp Vất bỏ hết thảy các kiến chấp, Trong Phật pháp Vất bỏ hết thảy các kiêu mạn. như trong kinh đã nêu : “ Các ngươi nếu thấu rõ Pháp của ta ví như chiếc thuyền đưa kẻ sang sông, qua bên bờ kia rồi thì chiếc thuyền để lại, nếu thiện pháp như chiếc thuyền thì thiện pháp còn vứt bỏ,hà huống phi pháp”.

Luận dạy: " Phật pháp xả ly ái chấp cùng các kiến chấp khác, đoạn trừ hết các kiết sử, chẳng có tham , sân, si ,chẳng có kiêu mạn. Bởi vậy nên, bậc chân tu chẳng thấy có gì để đắm trước cả .....

Bước đầu vào Phật pháp là " như vậy ". Hành giả phải " như vậy ' y chỉ nơi lời dạy của Đức Thế Tôn :


”Đệ tử của ta không nhiễm trước vào pháp, Đệ tử của ta không ái pháp, Đệ tử của ta không bị ràng buộc vào pháp, và chỉ mong giải thóat, chỉ mong lìa khổ, không bao giờ hý luận về các Pháp tướng.”.


Nghĩa là phải nhận ra THỊ để mà khế hợp với NHƯ.

Nghĩa là Tín Chân Như nên Không kiến chấp gì cả .Đó là Tin tâm thanh tịnh, Đó là lòng tin rốt ráo thanh tịnh.

[MOVRIGHT]TÍN VÔ TÍN đó là Tín Thành Tựu.[/MOVRIGHT]
 
Top