Làm thế nào để được đới nghiệp vãng sanh (phần 2)

nam

New Member
Tham gia ngày
31 Tháng 7 2017
Bài viết
10
Reaction score
2
Điểm
3
LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐƯỢC ĐỚI NGHIỆP VÃNG SANH (PHẦN 2)
CÁC BÀI THƠ TỊNH ĐỘ
LỜI BẠT

Kính thưa Quý vị liên hữu!

Tôi xin mạn phép một đôi dòng trình bày Làm thế nào để được đới nghiệp vãng sanh (phần 2), trước khi gửi đến Quý vị một số bài Liên hoàn Tịnh Độ thi nói về pháp môn Tịnh Độ. Ngôn từ thi cú, vụng vặt không nói lên được toàn bộ tâm tư cũng như hoài vọng, mạch lạc rõ ràng của pháp môn Tịnh Độ thuần chuyên. Mong Quý vị lượng thứ cho.

Theo quan niệm thiển cận của tôi, pháp môn Tịnh Độ qua lời các vị Tổ cũng như Phật huyền ký… thời mạt này, chỉ duy pháp môn Tịnh Độ mới độ được ba căn và giải thoát trong kiếp này. Nhưng bằng cách nào để được giải thoát, niệm Phật nguyện vãng sanh Cực Lạc. Nhưng niệm bằng phương pháp nào? Vì niệm Phật cũng có năm bảy đường, thật tướng, quán tưởng, quán tượng, bất loạn, nhiếp tâm, tịnh tâm, một khối v.v… Nếu như Quý vị chọn một trong những phương pháp này, thì phải là bậc thượng thượng căn (Trung, hạ căn không thể làm nổi). Giả dụ, Quý vị có đạt được trình độ đó mà không có Tín Nguyện (tức Phật lực), đồng nghĩa Quý vị cũng không vãng sanh, tức là không giải thoát được. Tại sao nói vậy? Vì Quý vị đặt tự lực lên trên tha lực, chưa tin hẳn Bản hoài của Đức Phật và Bổn nguyện của Phật A Di Đà. Cho dù bất cứ ai trên mười phương thế giới, có đạt được nhất tâm bất loạn, tịnh tâm, đả thành nhất phiến, thật tướng… cũng chưa phải là người chứng đạo. Mà dù cho chứng đạo diệt được kiến, tư hoặc thoát sáu nẻo, cũng không vãng sanh về Tây Phương được. Vì sao? Vì thiếu Tín Nguyện vậy. Bậc đại thánh từ Sơ địa đến Đẳng giác còn phải nương Tín Nguyện mới về được. Huống gì bậc Tiểu thánh. Thì Quý vị liên hữu tự nghĩ chúng ta có hơn được các Ngài hay không? mà đặt tự lực lên trên tha lực (bậc chứng thánh từ Tu Đà Hoàn trở lên... muốn đới nghiệp vãng sanh về Tây Phương cũng phải nương vào TÍN NGUYỆN, nếu các Ngài tự lực cũng không về được...). Vì thiếu TÍN NGUYỆN vậy, còn chúng ta thì sao miễn bàn. Thế mà hiện nay rất nhiều vị chỉ chủ trương nhất tâm, tịnh tâm, lục độ, tam luân… làm chánh, thì chúng ta bao giờ mới về được Tây Phương. Nếu như ai có thể đạt được trình độ như trên với Tín Nguyện vững chắc, tức là lấy Tín Nguyện làm chánh, phần kia là trợ, đạt được nhất tâm, tịnh tâm… cũng tốt, không được cũng không sao, thì vị đó chắc chắn vãng sanh từ trung phẩm, thượng phẩm của hạ sanh trở lên... Nhưng thực sự, thời nay mấy ai làm được trình độ đó, ngoài bậc mô phạm hoặc thị hiện mới làm được mà thôi. Thế thì hàng trung hạ chúng ta phải làm sao? Theo tôi, vẫn có một hướng khác, mà hàng mạt rệp chúng ta vẫn có phần, dự được dòng thánh, vãng sanh Cực Lạc trong đời này. Đó là, trì danh niệm Phật, nhất hướng chuyên xưng, lấy Tín Nguyện làm chủ thể. Còn tất cả chỉ phần trợ. Vậy chúng ta phải Tín Nguyện theo cách nào? Để chắc chắn được vãng sanh chấm dứt dòng sanh tử.

Theo sự tìm hiểu và một số kinh nghiệm, qua thời gian nghiên cứu một số sách Tịnh Độ Tông của các bậc Cổ đức, Tổ Thầy… đi chuyên sâu về pháp môn Tịnh Độ, cùng trao đổi học hỏi với các bậc thiện tri thức…, bạn đạo và các liên hữu… nên cảm nhận được cuộc đời là vô thường, sinh tử là quan trọng. Vì thế, bằng tất cả tấm lòng, mong muốn chúng sanh đều đi pháp môn thuần chuyên Tịnh Độ, được tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà trong một đời này, nên trình bày con đường đi về Cực Lạc dễ dàng, thù thắng như thế nào trong khả năng, trình độ của mình.
  1. Phải tin lời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu cảnh giới Tây Phương là có thật… và mười phương chư Phật xác quyết.
  2. Phải tin Di Đà Bổn Nguyện, trong 48 lời nguyện của Ngài, lời nguyện thứ 18 là vua của các lời nguyện.
  3. Không tu tạp loạn làm duyên chánh, chỉ lấy thuần chuyên khắc cốt ghi.
  4. Trì danh niệm Phật, nhất hướng chuyên xưng.
  5. Phải tin tuyệt đối mình có khả năng được tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh trong đời này (nhưng đừng quên TÍN NGUYỆN là số 1 nhất trên con đường vãng sanh của chúng ta).
Đây chỉ mới nói chữ Tín, thế phải làm sao mới được đới nghiệp vãng sanh? Như vậy phải có Nguyện, nhưng Nguyện phải như thế nào? Không thể miệng Nguyện mà tâm chẳng Nguyện. Thế thì miệng và tâm là một, có vãng sanh không? Đến đây! Phải hỏi Quý liên hữu có thực sự thiết tha muốn vãng sanh không? Nếu thật sự Quý vị đặt sinh tử là quan trọng, thì không nên tu tạp loạn (1), không đặt nặng nhất tâm, tịnh tâm, nhất phiến cũng như thật tướng… cũng không lấy lục độ, tam phước, bố thí, Phật sự, từ thiện làm chánh, đồng thời vọng tưởng phiền não còn hay mất… mà chỉ duy nhất đặt trọn niềm tin vào lời Bổn Sư với lời nguyện của Phật A Di Đà. Cảm ứng hay không do Ngài A Di Đà, chứ không phải do chúng ta. Niềm tin phải mãnh liệt, Nguyện đặt trọn vào tha lực của Đức Phật, còn riêng mình dụng công được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Tùy theo trình độ, căn cơ, phước duyên, hoàn cảnh thuận nghịch của mỗi người, không luận niệm nhiều hay ít, chỉ lấy TÍN NGUYỆN là tiêu chuẩn đi đầu, còn tất cả là trợ, không quan trọng. Nếu ai có sức khỏe, thời gian, đủ phước báu thì nên nghiên cứu Kinh Luật Luận cùng các chú sớ…, tùy theo sở thích của riêng mình để thêm kinh nghiệm, kiến giải vững chắc, không ai có thể làm lung lay bạn được, đồng thời chúng ta cũng phải biết hiếu kính bậc cha mẹ, bậc trưởng thượng, thầy tổ…, bố thí cũng như cúng dường và phát bồ đề tâm (2)… tùy theo khả năng, hoàn cảnh, trình độ của mỗi người để làm trợ duyên trên con đường tu tập, tư lương vãng sanh mai này... Chỉ khi sức khỏe đã kém cũng như tuổi đời đã cao, bệnh tật… nên ngưng tất cả, chỉ dồn duy nhất niệm Phật thuần chuyên, đặt TÍN NGUYỆN lên mọi tiêu chuẩn. Đêm 30 bảo đảm, chắc chắn các bạn sẽ được Đức Phật A Di Đà cùng Thánh chúng tiếp dẫn Quý vị đới nghiệp vãng sanh Cực Lạc bất thối chuyển.

Vì thế, tôi xin mạn phép hỏi Quý liên hữu rằng Tín mà trì danh có thật tin sâu? Nguyện thời mạt pháp có phải như nguyện? Vãng sanh hay không là do TÍN NGUYỆN. Nhưng NGUYỆN mới là vua. Nếu như các bạn có TÍN và HẠNH, nếu không NGUYỆN có về được không? Mặc dù biết rằng ba chân liên hoàn với nhau thiếu một không được, nhưng NGUYỆN vẫn là vương (3). Một công án của pháp môn Tịnh Độ rất rõ ràng dành cho chúng ta trong thời mạt này, gồm thâu cả ba căn, thượng vàng hạ cám đều gom về Cực Lạc. Nếu ai TIN sâu, NGUYỆN thiết, HÀNH chuyên, chắc chắn sẽ được tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh. Mặc dù cho anh có niệm được một ngày 10 muôn hay nhất tâm, một khối, tịnh tâm… mà thiếu TÍN NGUYỆN, cũng chỉ phước báu nhân thiên đắc độ về sau. Là vì anh đặt tự lực bản thân trên tha lực của Đức Phật. Vì sao? Vì bạn còn nghi, không tin hoàn toàn tuyệt đối vào Bản Nguyện của Phật A Di Đà, bạn không dám giao sinh mạng mình hoàn toàn cho Ngài, mà chỉ tin vào chính mình. Cho rằng phải nỗ lực hết mình, mới cảm ứng đạo giao được với Ngài mới vãng sanh. Đó chính là bạn đã đặt tự lực, vô tình đã quên đi Phật lực. Đó là ý nghĩ sai lầm lớn nhất của những liên hữu đang tu tập trong pháp môn Tịnh Độ của ngày nay, mà dạng này thì rất nhiều. Tôi đã từng gặp trao đổi rất nhiều với những liên hữu có những ý tưởng như trên, thậm chí trong nhóm chúng tôi cũng có một số đặt nhất tâm, tịnh tâm, cảm ứng… là trên hết, nên tha lực của Ngài đã bị bỏ quên, Quý liên hữu phải biết rằng: Phật tiếp dẫn chúng ta vô điều kiện, hà tất chúng ta phải đặt điều kiện ngược lại với Ngài. Làm chướng ngại con đường dụng công, vãng sanh của chúng ta. Tại sao tôi nói vậy? Nếu chúng ta đặt tự lực của chính mình là chánh, tức là chúng ta không tin Bản Hoài và Bổn Nguyện của hai Đức Phật. Như vậy, khi cận tử nghiệp tới thì làm sao vãng sanh? Thì chúng ta sẽ đi theo dòng nghiệp khi ấm cảnh hiện tiền…

Tôi xin phép nhắc lại sơ lược một phần ý của Ngài Ấn Quang Đại Sư nói với các bậc đại thông gia, kiến giải trác tuyệt…, vào thời đại của Ngài cách đây trên một 100 năm (Ngài sinh năm 1860 và tịch năm 1940) mấy ông chỉ đặt nhất tâm bất loạn, thanh tịnh… làm tiêu chuẩn để vãng sanh, mấy ông chỉ chú trọng tự lực, còn tha lực Đức Phật thì xem nhẹ. Thực sự mấy ông có lực gì, ngoài nghiệp lực của thời quá khứ. Lời nói mấy ông về mặt lý thì đúng, chỉ dành riêng cho bậc thượng thượng căn, bậc trung hạ không có phần (vô tình một đại pháp của Đức Phật để cứu chúng sanh của thời mạt pháp này, đã bị mấy ông đóng bít con đường đới nghiệp vãng sanh của hàng trung hạ). Pháp không phải chỉ khế lý, còn phải khế cơ, hợp thời mới là pháp diệu. Vậy mà mấy ông còn dương dương tự đắc cho lời nói mình là cao siêu, mình lầm, khiến người lầm theo, sập hầm tà kiến, biết bao giờ ra được. Quả là lời nói ngông cuồng, buồn thay. Đây là ý của Ngài trả lời trong quyển Ấn Quang Văn Sao toàn tập với các bậc đại thông gia kiến giải sâu sắc… Khế lý chỉ nói về mặt lý tánh, hạng phàm phu chúng ta không thể kham nổi, chỉ dành cho bậc chứng đạo mà thôi. Kể cả bậc đại triệt đại ngộ hay đại khai viên giải, tam mật tương ưng… còn chẳng thể nắm bắt hết được, hà huống chúng ta phải tự hiểu lấy mình thuộc căn nào? Nói tóm lại, NGUYỆN phải hành chuyên, một niệm, mười niệm, một ngày, một năm, mười năm v.v. tùy theo tuổi thọ của mỗi người, dù thuận hay nghịch cảnh, cũng phải chuyên nhất một lòng, một dạ trì danh niệm Phật. Không nay tu cái này, mốt tu cái kia... có đạo tràng tu cũng tốt, không cũng không sao, chỗ nào cũng niệm được. Ít hay nhiều không quan ngại, cái chính là mình có TÍN sâu, NGUYỆN tha thiết như con nhớ mẹ hay không. Chư Phật đều biết hết, ai có phạm lỗi dù nặng hay nhẹ, chí thành hồi tâm sám hối niệm Phật, thân cung kính lễ, miệng một lòng xưng niệm, tâm chân thật cúng dường, chúng ta hãy sám hối bằng tất cả sự chân thật khả năng của mình (tức là chúng ta phải sửa đổi mọi hành vi hằng ngày trong cuộc sống của chúng ta. Thí dụ cố gắng chuyển xấu thành tốt, làm những Phật sự, từ thiện, phóng sanh, ăn chay, giới sát… tùy theo hoàn cảnh cuộc sống của mỗi người, và không thay đổi con đường dụng công, nhất hướng chuyên xưng trì danh niệm Phật, giao cả sinh mạng mình cho Đức Phật A Di Đà, tin tuyệt đối. Đó là chân sám hối) (bảo đảm Quý vị đới nghiệp vãng sanh 100% nếu không vãng sanh tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Vì sao? Vì Phật không bao giờ nói dối, Ngài hứa tiếp dẫn, Ngài phải giữ lời nếu chúng ta làm đúng Bản hoài của Đức Bổn Sư, Bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà thì các bạn chắc chắn vãng sanh. Vì thế, Ngài mới là Phật. Chúng ta tâm phải chán cõi Ta Bà đầy ác trược…, luôn luôn hướng muốn về Quê hương Cực Lạc của Đấng Từ Phụ. TÍN NGUYỆN như tường đồng vách sắt, trăm người niệm Phật, trăm người vãng sanh Cực Lạc. Đó là lẽ đương nhiên. Cũng như ăn cơm tất phải no, khát uống phải hết khát. Đừng hỏi tại sao như vậy. Vì vốn nó là như vậy. Kính xin Quý vị liên hữu hãy lắng lòng suy nghĩ, tư duy lẽ thiệt hơn (tự lực hay Phật lực, còn riêng ai muốn cảm ứng đạo giao, đả thành nhất phiến, diệt phiền não, trừ vọng tưởng, tam luân thể không… thì tùy Quý vị vậy). Ai muốn chọn con đường nào thì cứ chọn, miễn sao này đừng hỏi tại sao? Còn huynh đệ, tỉ muội tôi là bậc hạ căn, phước mỏng, nghiệp lại dày, chướng duyên dãy đầy… tin Phật nghe lời Phật cùng các Tổ, và Hiền Thánh Tăng, một lòng quyết đặt sinh tử là quan trọng. Tin tuyệt đối pháp môn thuần chuyên Tịnh Độ của Tổ Thiện Đạo cùng các Bồ Tát như Long Thọ, Thiên Thân, Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chi, Ngài Đàm Loan, Ngài Đạo Xước…, tại Đoài Loan là Pháp Sư Huệ Tịnh, Pháp Sư Tịnh Tông, tại Nhật thì có Tổ Pháp Nhiên Đại Sư… còn ở Việt Nam các cao tăng như Sư Ông Trí Tịnh, Hòa Thượng Thiền Tâm, Hòa Thượng Bửu Huệ, Hòa Thượng Minh Cảnh trong trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang, Hòa Thượng Minh Bá, Hòa Thượng Minh Thông chùa Huệ Nghiêm, Hòa Thượng Giác Thông giáo đoàn 1, Tịnh Xá Ngọc Thạnh, tỉnh Tây Ninh, thầy Trí Ấn trụ Tu Viện Hương Nghiêm thôn Đại Ninh, Ni Sư Như Phương chùa Vô Ưu… dù mất mạng suốt cuộc đời cũng không thay đổi pháp tu, lập trường rất rõ ràng, TÍN NGUYỆN trì danh, chuyên niệm hồng danh Đức Phật A Di Đà, nguyện vãng sanh Cực Lạc trong kiếp này. Một lần nữa, chúng tôi xin nhắc lại với các vị liên hữu, muốn biết TÍN NGUYỆN mình có thật tin sâu hay không, Quý vị hãy tự hỏi lấy lòng mình thế nào sẽ biết ngay. Về được hay không Quý liên hữu tự biết lấy. Trên con đường tu tập, Phật sự từ thiện, bố thí, cúng dường, ấn tống kinh, phóng sanh, giúp đời, cứu người… bổn phận chúng ta đều phải làm (dù không bắt buộc), tùy theo trình độ tâm cũng như phước báu thuận nghịch của mỗi người. Tâm rộng có tài lực thì làm nhiều, tâm hẹp thì làm ít, còn không đủ phước thì một đồng hoặc tán thán hay hoan hỷ, còn không tài vật thì sức lực, lời nói khuyên người làm lành lánh dữ…, tất cả phước báu ai cũng đều làm được. Nhưng đó không phải điều chánh yếu, là cứu cánh, vì sao? Vì Đức Phật ra đời không phải chú trọng những điều này, mà muốn tất cả chấm dứt dòng sanh tử dù tu bất cứ pháp môn nào (nếu vì những việc thiện trên Đức Phật sẽ không ra đời). Nhưng thời này, pháp môn Tịnh Độ là dễ dàng thù thắng nhất, bậc nhất, tuyệt nhất, dễ tu nhất, dễ thoát sanh tử nhất, vượt trên tất cả các pháp môn khác (dị hành đạo). Vì sao nói thế? Là vì pháp môn Tịnh Độ là nhị lực (99,99% là hoàn toàn nhờ tha lực của Đức Phật, chúng ta chỉ có 0,01% là tự mình niệm lục tự hồng danh Ngài). Chỉ lấy TIN sâu NGUYỆN thiết HÀNH chuyên, bỏ thân hiện tiền chắc chắn sẽ được tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh Cực Lạc. Còn tất cả pháp môn khác là tự lực, tự chính mình cất bước mà đi, tự mình chứng đạo, bản thân phải nỗ lực liên tục nhiều đời, phải nói thẳng là nhiều kiếp (kiếp của a tăng kỳ). Quả là nan hành đạo! Nếu ai cảm thấy mình là bậc long tượng hoặc thượng thượng căn, hay đại thông gia kiến giải sâu sắc thì tùy… Giáo pháp Đức Phật là tự nguyện, tự mình chọn, không ai bắt buộc ai, muốn đi đường khó (nan) thì đi, còn chúng tôi chọn đường dễ (dị hành đạo tức là hoàn toàn dựa vào tha lực của Đức Phật, tự lực chúng tôi kham không nổi). Trước khi kết thúc bài này, tôi xin kể một câu chuyện một vị Hòa thượng hỏi một vị đại sư rằng: con niệm Phật gần 50 năm, mà vọng tưởng vẫn dẫy đầy, vọng niệm vẫn không ngừng, tâm vẫn không thanh tịnh chút nào, mặc dù con đã cố gắng hết sức. Đại sư trả lời rằng: còn ăn cơm…, còn thải ra những thứ chính mình còn không ngửi nổi và không dám nhìn. Thì nói gì thanh tịnh hay tâm tịnh cõi Phật tịnh. Thanh tịnh này bất khả thi (chỉ có bậc thánh chứng đạo trở lên vẫn còn chút phần, chứ chưa thanh tịnh hoàn toàn, chỉ có Phật, đấng đại giác mới hoàn toàn thanh tịnh, tức tâm tịnh cõi Phật tịnh). Đây là 2 vị thượng thủ, 1 vị cao tăng cận đại đã viên tịch tại Việt Nam và 1 vị hiền tăng còn tại thế… Còn chúng ta thì sao… Tự Quý vị hiểu lấy mình thuộc căn nào, nên chọn con đường nào dễ nhất, dễ tu, dễ hành, dễ trên mọi hoàn cảnh để đạt được mục đích chấm dứt sinh tử trong đời này (Câu chuyện mà tôi trình bày trên đây, không phải do nghe ai nói lại, mà đích thân Hòa thượng kể lại cho nhóm chúng tôi nghe, chúng tôi thật may mắn và hạnh phúc được Hòa thượng tiếp, cho biết câu chuyện này). Kính thưa Quý vị liên hữu, từ khi ra đời đến lúc ra đi, tất cả chúng ta đều phải nương dựa nhau, phải biết rằng thế gian muốn tồn tại còn phải nương nhau, từ gia đình cho đến xã hội, quốc gia, thế giới kể cả mười phương… hà huống pháp xuất thế gian, muốn đới nghiệp vãng sanh Cực Lạc hay chứng đạo, mà chỉ tin vào tự lực dựa vào chính mình, không khác nào người đứng nhìn lên trời với tay muốn lấy mặt trăng, phỏng có được chăng? Thì xin hỏi Quý vị chúng ta có lấy được không? Đó là điều bất khả thi (nếu ai còn tin chính vào tự lực của mình, mà quên đi TÍN NGUYỆN cùng sự tiếp dẫn vô điều kiện trong lời Nguyện của Đức Phật A Di Đà, đồng nghĩa chúng ta không vãng sanh, thành Phật, ở lại Ta Bà).
Nhân đây, tôi xin trích dẫn lời của Đại đức lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam trong Niệm Phật thù thắng dễ dàng tại trang 167, nguyên tác Pháp Sư Tịnh Tông, người dịch: Nhuận Đạt – Hiệu Đính: Định Huệ do Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang như sau: “Đại đức lão cư sĩ Lý Bỉnh Nam đương đại, đạo đức và học vấn của ông khá tốt, tu trì cũng rất tốt, đến chín mươi mấy tuổi, ông ta nói: “Ở thế này, phàm phu muốn đạt được công phu nhất tâm bất loạn là giả, nói tự mình đạt đến công phu thành phiến rất ngắn ngủi (hoặc nói tâm thanh tịnh), đều đã tự thổi phồng quá rồi, đây là việc không thể!”. Đây là cả đời ông tin tấn tu học, đến chín mươi mấy tuổi mới nói. Chúng ta hãy nghĩ xem căn cơ của ông như thế mà không làm được, vậy chúng ta mà nói làm gì chứ?

Thành tâm kính chúc tất cả các liên hữu nói riêng và các bạn đồng tu nói chung, mọi sở nguyện đều được ý như vạn sự…

(Nếu bất cứ liên hữu nào làm đúng như lời Phật, Tổ dạy… cùng những gì tôi trình bày trên đây mà các bạn không vãng sanh, tội một mình tôi gánh chịu).

(1) Tạp loạn: thí dụ như là không chuyên tu duy nhất niệm Phật, mai tu cái này, mốt tu cái kia v.v
(2) Phát bồ đề tâm: tức là cũng có nhiều cách để phát tâm bồ đề (tôi xin phép trình bày sơ lược về bồ đề tâm)
  • Trong Kinh Hoa Nghiêm nói rằng tu mà không phát bồ đề tâm, tức là hành ma nghiệp. Vậy người tu phải phát tâm như thế nào? Nếu tu tự lực thường phải pháp tâm bồ đề làm chánh, tự nỗ lực tu tập, tự mình phải tu chứng hay chí ít cũng phải triệt ngộ, minh tâm kiến tánh, chuyển thức thành trí… hoặc làm những Phật sự, từ thiện, như pháp thí, phóng sanh, giúp đời, cứu người, từ thô đến tế, tùy theo trình độ cao thấp của mỗi người, không thấy người làm cũng như người nhận… Lấy bồ đề tâm làm tiêu chuẩn, tinh tấn tu học bền lâu qua nhiều đời, đến khi chứng đạo vẫn phải tiếp tục phát tâm vô thượng bồ đề cho đến khi thành Phật. Quả thực khó làm (nan hành). Qua lời Phật và cổ đức đã dạy, phải qua a tăng tỳ kiếp mới đạt được đến địa vị đó, nhưng đời đời phải tiến tu, không có thối chuyển cũng như lui sụt thì mới chứng đạo đạt đến Phật quả, mà vẫn phải qua a tăng tỳ kiếp, toán số không thể tính đếm được.
  • Riêng người tu tịnh nghiệp cũng phải phát tâm bồ đề. Nhưng không lấy những hạnh trên làm chánh, mà chỉ là trợ làm tư lương vãng sanh phẩm vị cao hay thấp. Người tu tịnh Độ chỉ cần Tin cùng Tín Nguyện sâu sắc, tha thiết chuyên xưng hồng danh Đức Phật A Di Đà. Đó là phát tâm vô thượng bồ đề, vượt trên tất cả bồ đề tâm khác. Vì sao nói vậy? Đây là lời của các vị Tổ cùng các Bậc cao đức đã nói rất rõ ràng lục tự hồng danh của Ngài bao gồm cả tam tạng kinh điển, tam tâm tứ tu, ngũ niệm… cùng mọi Phật sự từ thiện của thế gian, xuất thế gian. Tại sao? Vì đới nghiệp vãng sanh 1 đời thành Phật độ khắp tất cả chúng sanh. Như vậy, không phải phát tâm vô thượng bồ đề thì là gì. Vì hồng danh A Di Đà là bất khả tư nghì. Chỉ có Phật với Phật mới biết được mà thôi. Phật lực không thể nghĩ bàn, vượt trên tất cả mọi tông phái khác, bồ đề tâm cũng nằm trong câu hồng danh của Ngài cùng tất cả các hạnh khác. Đây là lời và ý của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nếu chúng ta đặt sinh tử là khẩn thiết, Tín Nguyện là tuyệt đối, vãng sanh là quan trọng nhất của người tu tịnh nghiệp trong đời nay, giao sinh mạng mình cho 2 Đức Phật. Đó là phát tâm vô thượng bồ đề. Món ăn dù có ngon, tuyệt vời hoặc dở, cũng có kẻ thích người không. Nhưng vì biết món ăn dễ tiêu hóa, ai ăn vào cũng được lợi lạc… kẻ ngu này không nỡ một mình thưởng thức, muốn chia sẻ với tất cả mọi người bằng tấm chân tình tận đáy lòng của kẻ hèn này. Nếu không chê hôi ê thì cùng nhau ăn vậy!
(3) Tại sao NGUYỆN vẫn là vương: vì lời Nguyện thứ 18, mười niệm không vãng sanh, Ngài không thành Phật. Trong 48 lời Nguyện, Nguyện thứ 18 là vua của các lời Nguyện nên mới gọi là vương. Nếu không có Nguyện thứ 18, 47 lời Nguyện còn lại sẽ không thành lập được. Vì sao? Tất cả 47 lời Nguyện còn lại chỉ là trợ mà thôi, sẽ không có ai vãng sanh cả nếu thiếu lời Nguyện 18. Vì thế, Nguyện 18 mới là vua của các lời Nguyện còn lại, nên các vị cổ Đức bên Tịnh Tông mới gọi đó là NGUYỆN vương. Mười niệm Ngài sẽ tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh, dù kẻ đó là ai! Xấu hay tốt, đen hoặc trắng, không phân biệt màu sắc, chủng tộc, giai cấp… thì Ngài sẽ tiếp dẫn gom về hết Cực Lạc (dĩ nhiên chúng ta phải hồi tâm, sám hối, chân thật bằng hết khả năng của mình, lúc lâm chung mười niệm thì được Ngài tiếp dẫn ngay). Còn ai tuổi thọ còn dài thì niệm nhiều hơn, chuyên xưng theo thời gian tuổi thọ của riêng mình. Nhưng Quý vị phải nhớ lấy TÍN NGUYỆN làm chánh, chủ thể, không tu tạp… ví dụ đọc Kinh, bố thí, cúng dường v.v tất cả đều là trợ hạnh. Chắc chắn Quý vị bỏ thân sanh về Cực Lạc. Phật không bao giờ nói hai lời, Ngài mới là Phật (Nếu chúng ta làm đúng những gì Bổn Sư cùng Phật Di Đà chỉ dạy, TÍN sâu, NGUYỆN thiết mà không vãng sanh, thì Ngài đâu thành Phật). Mà nay Ngài đã thành Phật rồi, thì lo gì chúng ta không được vãng sanh, chỉ sợ chúng ta TIN không sâu, NGUYỆN không thiết, ba hồi thế này, bốn hồi thế kia, 8 nóng 12 lạnh, thì chịu thôi, đành chia tay với Ngài. Vì sao? Vì chúng ta đặt tự lực chính mình, nên xem nhẹ Phật lực của Đức Phật, tin chính mình hơn tin Phật. Thì đừng hỏi chúng ta tại sao không thi đậu… Hãy nhớ lấy, nhớ lấy TÍN NGUYỆN và Hồng Danh của Ngài là tiêu chuẩn để thi đậu (Phật lực), còn lại tất cả hạnh khác không quan trọng… Vì nó chỉ là trợ. Quý liên hữu và các bạn đồng tu muốn nắm rõ tỉ mỉ từng chi tiết của lời Nguyện thứ 18 là vua của các lời Nguyện, hãy tìm quyển Giảng giải Nguyện thứ 18, Nguyên tác của Pháp Sư Huệ Tịnh, Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang.

Chú thích: vị nào muốn nắm rõ yếu chỉ của bồ đề tâm, nên xem niệm Phật thập yếu hay niệm Phật sám pháp của Cố Hòa Thượng Thiền Tâm sẽ biết rõ ràng và cặn kẽ hơn.

Nếu những gì trình bày trên đây có sai sót, xin các bậc cao minh cùng Quý đạo hữu, liên hữu niệm tình tha thứ và chỉ dạy cho.

Chân thành cảm tạ!

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!


Kính tặng
Liên hoàn Tịnh Độ Thi
Lục Bộ liên hoàn Tịnh Độ Thi
HOÀI TÂY…!
Liên hoàn khúc

1. CHÍ kính lòng con nguyện nhớ lời!
TÂM từ ÔNG (1) dạy chỉ chuyên thôi
ĐẢNH buồn thấu rõ nay vào mạt…?
LỄ nguyện hành thâm! Chỉ một đời
VÔ thượng nương về theo TÍN NGUYỆN
NHỨT thì nên niệm mãi không ngơi…
ĐẠI thừa phải biết! Di Đà Phật
SƯ hứa đài sen sẽ đến mời?
Bài họa số 1:
CHÍ cả nghìn năm mãi nhớ lời
TÂM từ Sư dạy: một chuyên thôi
ĐẢNH non người nhắc: Thời sơ mạt…
LỄ tạ! lòng con quyết trọn đời
VÔ thượng Bồ đề vui TÍN NGUYỆN
NHẤT tâm, niệm mãi, niệm không ngơi
ĐẠI ân, nguyện lớn Di Đà Phật
SƯ hứa: Tây Phương Tứ thánh mời
--------oOo--------
2. ĐẾN mời liên hữu diện Di Đà!
CỰC lạc chân thành phải thiết tha
TÍN NGUYỆN thuần chuyên duy Tịnh Độ
HẠNH nhiều hay ít có đâu là…?
TAM luân (2) thật sự bao người được?
LỤC độ (3) xin nhường thoát khỏi đa…
TU tạp mong rằng tin Bản Nguyện! (4)
CÒN không lên xuống cũng Ta Bà?
Bài họa số 2:
ĐẾN thời sẽ thấy Đức Di Đà
CỬU phẩm sen vàng, nguyện thiết tha
TÍN Phật, tin ta, tin Tịnh Độ
HẠNH cần, chuyên niệm quả đây là…
TAM môn thanh tịnh, lòng tin chắc
LỤC đạo xa rồi, chuyên nhứt đa
TU dưỡng tánh chon tròn TÍN NGUYỆN
CÒN chi vướng lụy khỏi Ta Bà
--------oOo--------
3. TA bà sanh tử sướng chi đâu?
SƯ nói về Tây phải nguyện cầu
TÍN NGUYỆN như là con nhớ mẹ!
THUẦN chuyên khẩn thiết phải tin sâu
NIỆM nên xuyên suốt trì danh hiệu
PHẬT bảo rồi đây hết khổ sầu
THẬP ác (5) thánh hiền ai cũng được
YẾU môn hoằng nguyện (6) có bền lâu?
--------oOo--------
4. BỀN lâu thiết thực phải tin sâu?
CHỚ để mai kia vướng nỗi sầu
ĐỪNG ngại đường tu bao vọng tưởng
TỰ mình hỏi lấy! THẬT mong cầu!
NHỨT tâm Tam phước! (7) Rằng quan trọng
NHƯNG! đến liên đài NGUYỆN đứng đầu
THÀNH kính chân tình mong các vị
PHẬT đà tuyên thuyết có sai đâu!
--------oOo--------
5. SAI đâu nên biết! bởi vì ai?
LỜI PHẬT xưa nay chẳng đổi thay
CHÂN lý muôn đời không biến hoại!
THƯỢNG căn nào thấu đặng Liên đài? (8)
PHÀM phu chúng ta! Sao thông hiểu?
CHỈ lấy lòng tin đúng bản hoài (9)
BẬC thánh còn phải nương Tín Nguyện
HUỐNG hồ mạt pháp của đời nay!
--------oOo--------
6. ĐỜI nay giới sát phải trường chay
CHÍ ít sáu ngày hoặc thập trai
NÊN phát tâm từ! Bao Tổ dạy…
MỞ lòng dung thứ kẻ đi sai…
NÀO ai biết được? Vô thường đến!
CỐ gắng hành thâm Nguyện miệt mài…
LỤC tự hồng danh tâm quyết liệt
DI ĐÀ tiếp dẫn một đời nay!
Bài họa số 6:
ĐỜI người mai mắn biết ăn chay
CHÍ quyết gìn lòng giữ giới trai
NÊN rộng lòng Từ như Tổ dạy
MỞ ra, đừng buộc, dẫu người sai
NÀO ai chẳng phải quyến thuộc đây!
CỐ kết làm chi! Cứ miệt mài!
LỤC đạo luân hổi đành vọng phụ
DI ĐÀ tiếp dẫn mãi xưa nay!
Ba bài họa số 1, 2 và 6 do Ni Sư Như Phương sáng tác (10)

(1) ÔNG: tức là Hòa thượng Thích Thiền Tâm.
(2) TAM luân: tức là không thấy mình cho, không thấy người nhận, không thấy vật cho.
(3) LỤC độ: tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục…
(4) BẢN nguyện: tức 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà (mà lời nguyện thứ 18 là vua của các lời nguyện.)
(5) THẬP ác: tức là ngũ nghịch thập ác…
(6) Hoằng nguyện: tức là pháp môn Dị hành đạo, dễ tu, dễ hành, dễ vãng sanh
(7) NHỨT tâm: tức là nhứt tâm bất loạn; Tam phước: tức là thế phước, giới phước, hành phước…
(8) Liên đài: tức là cõi Cực Lạc…
(9) Bản hoài: tức là phải tin lời của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
(10) Ni Sư Như Phương: trụ trì chùa Vô Ưu

Trí Chân!
Sài Gòn Ngày 14/6/2019.
--------oOo--------

PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ 1
Liên hoàn khúc

1. PHÁP môn Tịnh Độ! Quả Từ Bi!
SÁM hối hồi tâm! Phật rước đi
HẠ cám thượng vàng! Gom tất cả?
DỄ dàng thù thắng khó so bì
BUỒN thay! Lắm kẻ cho là vọng…
CHẲNG biết chính mình mới mộng si…
BÁC bỏ thẳng thừng đâu có thật
MAI sau đừng trách ngục A Tỳ (1)!
--------oOo--------
2. A Tỳ hỏa ngục biết bao ngày?
ĐỪNG khóc Diêm Ngài (2) nỡ nặng tay
TỊNH Độ pháp môn do PHẬT thuyết
MƯỜI phương xác nhận! Độ đời nay (3)
KHUYÊN xưng nhất hướng trì danh hiệu
VƯỢT khỏi Ta Bà! Thoát mộng say…
CỰC lạc mong rằng tin TÍN NGUYỆN
THAI sen từ đây! Hết bi ai!

(1) Ngục A Tỳ: tức là địa ngục A Tỳ và địa ngục vô gián…
(2) Ngài: tức là 10 vị Diêm Vương cai quản cõi địa ngục.
(3) Đời nay: tức là chúng ta đang sống vào thời mạt pháp.
Phong Vân!
Sài Gòn Ngày 06/9/2019.
--------oOo--------

PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ 2
Liên hoàn khúc

1. CHÚNG sanh phàm thánh cũng không hai
(1) ̣́TỰ tánh nào chi khác biệt sai
(2)THANH tịnh xin nhường cho bậc thượng
THÔNG gia tiến sĩ! Quả anh tài
NGƯỜI ngu cam phận vâng lời dạy
THỨC tỉnh đường trần niệm PHẬT ngay
SÁM hối chân thành thân kính lễ!
NGHIỆP dù nặng mấy cũng dần phai!
--------oOo--------
2. DẦN phai nghiệp chuyển nhẹ đôi vai…
LÝ sự viên dung (3) mới bậc tài
ĐỪNG nói cao siêu! Ăn bánh vẽ
PHÁP đàm phải biết mạt thời nay
CHỚ cho Tự tánh là siêu xuất
BÁC bỏ trời Tây (4) chuốc khổ thay…
TỰ hiểu ai là người thượng thượng
LÝ (5) dù trác tuyệt nợ còn vay…
--------oOo--------
3. CÒN vay chưa trả! Nghiệp nào đây?
MỐT nọ mai kia vẫn nợ hoài…
VĨNH kiếp bao giờ ta trả được
CHÍNH mình lạc bước tự an bài
(6) DI Đà Bổn Nguyện! Rằng phương tiện
LỜI Phật cổ Đức đã chỉ bày
TÍN NGUYỆN trì danh xưng lục tự
VẬY mà cố nói chẳng trời Tây
--------oOo--------
4. TRỜI Tây mười ức có bao xa?
CỰC Lạc nào đâu chẳng phải nhà
LÒNG quyết bền lâu câu Phật hiệu
VÃNH sanh đới nghiệp dứt Ta Bà
TRƯỜNG trai lục thập (7) tùy nghi chọn
GIỚI sát hồi tâm! Phải thật thà
(8)MIỆNG nói! Chớ hành theo nẻo khác…
LÀM sao dối gạt được Di Đà?
--------oOo--------
5. DI Đà mười tám (9) Nguyện vì Ta
TỊNH độ thuần xưng (10) tiếp mọi nhà
NÁT thịt tan xương bao vạn kiếp
CHẲNG đền đáp được một phần ba (11)
KHUYÊN nên chuyên nhất luôn trì niệm
MỚI xứng là con Phật Thích Ca
ĐỪNG bận tịnh tâm cùng bất loạn (12)
VÃNG sanh đồng nghĩa diện Di Đà!


(1) Tự tánh: tức là PHẬT tánh và cũng là Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ (mà chúng ta có làm được không vào thời mạt này).
(2) Thanh tịnh: tức là tâm tịnh, cõi Phật tịnh hoặc nhất tâm bất loạn, nhiếp tâm v.v. Kính hỏi Quý vị vào thời mạt này, thế gian mấy ai đạt được trình độ đó, lời Phật đã huyền ký…
(3) Lý sự viên dung: mới thực sự là người biết pháp nào là khế lý khế cơ hợp thời vào thời mạt pháp này.
(4) Trời Tây: tức là Tây Phương Cực Lạc.
(5) Lý: lý mà không sự là không đạt được mục đính; sự mới hiển lý, chứ lý không hiển sự (nếu cố chấp vào lý thì sự không thành cũng như mình khát nước mà người ta uống, mình có hết khát không?).
(6) Di Đà Bổn Nguyện: tức 48 lời Nguyện của Ngài (10 niệm vãng sanh Cực Lạc…).
(7) Lục thập: tức là thập trai, lục trai.
(8) Miệng nói: tức là nói Đông mà làm Tây.
(9) DI Đà mười tám: tức là lời Nguyện thứ 18 là vua của các lời Nguyện.
(10) Thuần xưng: tức là nhất hướng chuyên xưng trì niệm Hồng Danh Ngài đến ngày vãng sanh (suốt đời không thay đổi lối tu, có nghĩa là 30, 40, 50 năm… tùy theo tuổi thọ của mình mới là Tịnh Độ thuần chánh).
(11) Một phần ba: chỉ là giả dụ dù trăm ngàn lần, triệu lần… cũng còn chưa đền đáp được (huống gì là một phần ba).
(12) Tịnh tâm cùng bất loạn: tức là tâm thanh tịnh và nhứt tâm bất loạn.
Phong Vân!
Sài Gòn Ngày 06/9/2019.
--------oOo--------

PHÁP MÔN NIỆM PHẬT…!
TÍN phải lòng chân! TÂM thật NGUYỆN cầu!
NGUYỆN mà không thiết bên ngoài cửa miệng
Thuần còn tu tạp chỉ thêm nỗi sầu…
Chuyên niệm trì danh! Hơn ngàn muôn thiện…
Thời mạt suy tàn! Pháp nào dễ độ?
Chỉ duy niệm Phật mới là khế cơ
Một trong tích tắc chuyển mê thành ngộ
Đó là diệu pháp thuần chuyên TỊNH ĐỘ
Cứu cả muôn loài thoát bờ sanh tử
Nhưng thật tiếc thay! Thiên hạ đa phần
Cho là phương tiện! Buồn thay thế sự
Lời Đức Bổn Sư! Chân thật ân cần
Mười phương chư Phật đồng thanh xác nhận
Tha lực Di Đà Cực Lạc về Tây
Ai tin sẽ được luân hồi dứt tận!
Đới nghiệp vĩnh hằng thoát khổ từ đây?
Phong Vân!
Sài Gòn Ngày 24/4/2019
--------oOo--------

(1) BỔN - NGUYỆN…?
Liên hoàn khúc

1. Lời nguyện xem thường! Biết nói sao?
Cuộc đời sự thế! Tựa chiêm bao…
Mặc cho ai đó! Nay thành phiến (2)
(3) Kiến hoặc chưa trừ! Chớ ỷ cao…
(4) Tam Muội trăm ngàn chưa có một?
Nói gì chứng đạo dễ không nào?
Ấy mà vẫn bảo Tâm thanh tịnh…
Cảm ứng liền đặng! Chớ lãng sao!
--------oOo--------
2. Lãng sao nào hiểu chuyện ngày mai?
(5) Thông! Biệt đường đi có phải hai?
Tự lực nan hành! TÂM TỰ biết…
(6) Dị hành sao chẳng thẳng Liên Đài
Tham Sân vốn sẵn từ bao kiếp?...
Đừng tưởng rồi đây sẽ dứt ngay
(7) Tư Hoặc! Chi bằng tin TÍN NGUYỆN!
Nương về tha lực một đời nay
--------oOo--------
3. Đời nay bất thối! thoát Luân Hồi?
Sáu nẻo từ đây vĩnh biệt thôi
Phải biết tin lời theo BỔN NGUYỆN…
Đừng nghe rồi bảo để xem coi
(8) Thông gia ai muốn! Xin nhường đó!
(9) Triệt ngộ mai này cũng nổi trôi…
PHẬT LỰC dường như xem chẳng có?
Đau lòng buốt dạ! Nỗi nào vơi…!


(1) Bổn nguyện: tức là 48 lời nguyện mà lời nguyện thứ 18 là vua của các lời nguyện trong Kinh Vô Lượng Thọ.
(2) Thành phiến: tức là một khối.
(3) Kiến Hoặc: ai trừ được Kiến Hoặc chứng Sơ Quả Tu Đà Hoàn. Kiến Hoặc tạm dịch là nhìn thấy sai biệt…
(4) Tam Muội: tức là Chánh định
(5) Thông, Biệt: Thông là pháp môn phổ thông, là nan hành đạo (như Thiền, Giáo, Luật, Mật…); Biệt là pháp môn đặc biệt, dị hành đạo, pháp môn dễ tu, dễ hành, dễ chứng, tức là thuần chuyên Tịnh Độ trong Ấn Quang Văn Sao toàn tập của Tổ thứ 13…
(6) Dị hành đạo: tức là pháp môn thuần chuyên Tịnh Độ
(7) Tư Hoặc: ai trừ được Tư Hoặc chứng Quả vị A La Hán. Tư Hoặc tạm dịch là Tham, Sân, Si...
(8) Thông gia: tức là bậc từ cử nhân trở lên (về kiến thức của thế gian cùng kiến giải sâu sắc về Phật lý)
(9) Triệt ngộ: tức là người sáng suốt, nhận định sâu sắc về thế gian và xuất thế gian pháp (cũng như người đi trong rừng tối mà bừng lên ánh sáng để thấy đường đi… tùy theo trình độ triệt ngộ cao thấp của mỗi người, mà sự tỏa sáng lâu hay mau…, nhưng chưa phải là người chứng đạo)
Phong Vân!
Sài Gòn Ngày 24/10/2018.
 
Chỉnh sửa cuối:

tranquyhao

New Member
Tham gia ngày
23 Tháng 7 2019
Bài viết
22
Reaction score
7
Điểm
3
LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐƯỢC ĐỚI NGHIỆP VÃNG SANH (PHẦN 2)
CÁC BÀI THƠ TỊNH ĐỘ
LỜI BẠT

Kính thưa Quý vị liên hữu!
Tôi xin mạn phép một đôi dòng trình bày Làm thế nào để được đới nghiệp vãng sanh (phần 2), trước khi gửi đến Quý vị một số bài Liên hoàn Tịnh Độ thi nói về pháp môn Tịnh Độ. Ngôn từ thi cú, vụng vặt không nói lên được toàn bộ tâm tư cũng như hoài vọng, mạch lạc rõ ràng của pháp môn Tịnh Độ thuần chuyên. Mong Quý vị lượng thứ cho.
Theo quan niệm thiển cận của tôi, pháp môn Tịnh Độ qua lời các vị Tổ cũng như Phật huyền ký… thời mạt này, chỉ duy pháp môn Tịnh Độ mới độ được ba căn và giải thoát trong kiếp này. Nhưng bằng cách nào để được giải thoát, niệm Phật nguyện vãng sanh Cực Lạc. Nhưng niệm bằng phương pháp nào? Vì niệm Phật cũng có năm bảy đường, thật tướng, quán tưởng, quán tượng, bất loạn, nhiếp tâm, tịnh tâm, một khối v.v… Nếu như Quý vị chọn một trong những phương pháp này, thì phải là bậc thượng thượng căn (Trung, hạ căn không thể làm nổi). Giả dụ, Quý vị có đạt được trình độ đó mà không có Tín Nguyện (tức Phật lực), đồng nghĩa Quý vị cũng không vãng sanh, tức là không giải thoát được. Tại sao nói vậy? Vì Quý vị đặt tự lực lên trên tha lực, chưa tin hẳn Bản hoài của Đức Phật và Bổn nguyện của Phật A Di Đà. Cho dù bất cứ ai trên mười phương thế giới, có đạt được nhất tâm bất loạn, tịnh tâm, đả thành nhất phiến, thật tướng… cũng chưa phải là người chứng đạo. Mà dù cho chứng đạo diệt được kiến, tư hoặc thoát sáu nẻo, cũng không vãng sanh về Tây Phương được. Vì sao? Vì thiếu Tín Nguyện vậy. Bậc đại thánh từ Sơ địa đến Đẳng giác còn phải nương Tín Nguyện mới về được. Huống gì bậc Tiểu thánh, thời Đức Phật tại thế, Ngài thuyết cho các đại chúng cùng các bậc thánh từ Tu Đà Hoàn trở lên, về cảnh giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Từ Phụ A Di Đà. Ngài Mục Kiền Liên dùng thần thông tìm đến Tây Phương Cực Lạc, nhưng Ngài đi lạc vào quốc độ của Tu Di Tướng Phật, không biết đường trở về Ta Bà. Ngài phải nhờ Phật Tu Di Tướng bảo một vị Đại Bồ Tát giúp đưa Ngài trở lại Ta Bà, nơi Đức Phật đang thuyết pháp. Đại đệ tử thần thông số 1 của Đức Phật còn không thể nào tìm đến được Cực Lạc, thì Quý vị liên hữu tự nghĩ chúng ta có hơn được Ngài hay không mà đặt tự lực lên trên tha lực. Tại sao Ngài về không được. Vì thiếu TÍN NGUYỆN vậy, còn chúng ta thì sao miễn bàn. Thế mà hiện nay rất nhiều vị chỉ chủ trương nhất tâm, tịnh tâm, lục độ, tam luân v.v… làm chánh, thì chúng ta bao giờ mới về được Tây Phương. Nếu như ai có thể đạt được trình độ như trên với Tín Nguyện vững chắc, tức là lấy Tín Nguyện làm chánh, phần kia là trợ mà đạt được nhất tâm, tịnh tâm v.v… cũng tốt, không được cũng không sao, thì vị đó chắc chắn vãng sanh từ trung phẩm, thượng phẩm của hạ sanh trở lên... Nhưng thực sự, thời nay mấy ai làm được trình độ đó, ngoài bậc mô phạm hoặc thị hiện mới làm được mà thôi. Thế thì hàng trung hạ chúng ta phải làm sao? Theo tôi, vẫn có một hướng khác, mà hàng mạt rệp chúng ta vẫn có phần, dự được dòng thánh, vãng sanh Cực Lạc trong đời này. Đó là, trì danh niệm Phật, nhất hướng chuyên xưng, lấy Tín Nguyện làm chủ thể. Còn tất cả chỉ phần trợ. Vậy chúng ta phải Tín Nguyện theo cách nào? Để chắc chắn được vãng sanh chấm dứt dòng sanh tử.
Theo sự tìm hiểu và một số kinh nghiệm qua thời gian nghiên cứu một số sách Tịnh Độ Tông của các bậc Cổ đức, Tổ Thầy… đi chuyên sâu về pháp môn Tịnh Độ, cùng trao đổi học hỏi với các bậc thiện tri thức…, bạn đạo và các liên hữu… nên cảm nhận được cuộc đời là vô thường, sinh tử là quan trọng. Vì thế, bằng tất cả tấm lòng mong muốn chúng sanh đều đi pháp môn thuần chuyên Tịnh Độ, được tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà trong một đời này, nên trình bày con đường đi về Cực Lạc dễ dàng, thù thắng như thế nào trong khả năng, trình độ của mình.
Phải tin lời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu cảnh giới Tây Phương là có thật… và mười phương chư Phật xác quyết.
Phải tin Di Đà Bổn Nguyện, trong 48 lời nguyện của Ngài, lời nguyện thứ 18 là vua của các lời nguyện.
Không tu tạp loạn làm duyên chánh, chỉ lấy thuần chuyên khắc cốt ghi.
Trì danh niệm Phật, nhất hướng chuyên xưng.
Phải tin tuyệt đối mình có khả năng được tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh trong đời này (nhưng đừng quên TÍN NGUYỆN là số 1 nhất trên con đường vãng sanh của chúng ta).
Đây chỉ mới nói chữ Tín, thế phải làm sao mới được đới nghiệp vãng sanh? Như vậy phải có Nguyện, nhưng Nguyện phải như thế nào? Không thể miệng Nguyện mà tâm chẳng Nguyện. Thế thì miệng và tâm là một, có vãng sanh không? Đến đây! Phải hỏi Quý liên hữu có thực sự thiết tha muốn vãng sanh không? Nếu thật sự Quý vị đặt sinh tử là quan trọng, thì không nên tu tạp loạn (1), không đặt nặng nhất tâm, tịnh tâm, nhất phiến cũng như thật tướng v.v… và cũng không lấy lục độ, tam phước, bố thí, Phật sự, từ thiện làm chánh, đồng thời vọng tưởng phiền não còn hay mất… mà chỉ duy nhất đặt trọn niềm tin vào lời Bổn Sư và lời nguyện của Phật A Di Đà. Cảm ứng hay không do Ngài A Di Đà, chứ không phải do chúng ta. Niềm tin phải mãnh liệt, Nguyện đặt trọn vào tha lực của Đức Phật, còn riêng mình dụng công được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Tùy theo trình độ, căn cơ, phước duyên, hoàn cảnh thuận nghịch của mỗi người, không luận niệm nhiều hay ít, chỉ lấy TÍN NGUYỆN là tiêu chuẩn đi đầu, còn tất cả là trợ, không quan trọng. Nếu ai có sức khỏe, thời gian, đủ phước báu thì nên nghiên cứu Kinh Luật Luận, tùy theo sở thích của riêng mình để thêm kinh nghiệm, kiến giải vững chắc, không ai có thể làm lung lay bạn được, đồng thời chúng ta cũng phải biết hiếu kính bậc cha mẹ, bậc trưởng thượng, thầy tổ v.v, bố thí cũng như cúng dường và phát bồ đề tâm (2) v.v tùy theo khả năng, hoàn cảnh, trình độ của mỗi người để làm trợ duyên trên con đường tu tập, tư lương vãng sanh mai này... Chỉ khi sức khỏe đã kém cũng như tuổi đời đã cao, bệnh tật… nên ngưng tất cả, chỉ dồn duy nhất niệm Phật thuần chuyên đặt TÍN NGUYỆN lên mọi tiêu chuẩn. Đêm 30 bảo đảm, chắc chắn các bạn sẽ được Đức Phật A Di Đà cùng Thánh chúng tiếp dẫn Quý vị đới nghiệp vãng sanh Cực Lạc bất thối chuyển.
Vì thế, tôi xin mạn phép hỏi Quý liên hữu rằng Tín mà trì danh có thật tin sâu? Nguyện thời mạt pháp có phải như nguyện? Vãng sanh hay không là do TÍN NGUYỆN. Nhưng NGUYỆN mới là vua. Nếu như các bạn có TÍN và HẠNH, nếu không NGUYỆN có về được không? Mặc dù biết rằng ba chân liên hoàn với nhau thiếu một không được, nhưng NGUYỆN vẫn là vương (3). Một công án của pháp môn Tịnh Độ rất rõ ràng dành cho chúng ta trong thời mạt này, gồm thâu cả ba căn, thượng vàng hạ cám đều gom về Cực Lạc. Nếu ai TIN sâu và NGUYỆN thiết HÀNH chuyên, chắc chắn sẽ được tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh. Mặc dù cho anh có niệm được một ngày 10 muôn hay nhất tâm, một khối, tịnh tâm v.v. mà thiếu TÍN NGUYỆN cũng chỉ phước báu nhân thiên đắc độ về sau mà thôi. Là vì anh đặt tự lực bản thân trên tha lực của Đức Phật. Vì sao? Vì bạn còn nghi, không tin hoàn toàn tuyệt đối vào Bản Nguyện của Phật A Di Đà, bạn không dám giao sinh mạng mình hoàn toàn cho Ngài, mà chỉ tin vào chính mình. Cho rằng phải nỗ lực hết mình mới cảm ứng đạo giao được với Ngài mới vãng sanh. Đó chính là bạn đã đặt tự lực, vô tình đã quên đi Phật lực. Đó là ý nghĩ sai lầm lớn nhất của những liên hữu đang tu tập trong pháp môn Tịnh Độ của ngày nay, mà dạng này thì rất nhiều. Tôi đã từng gặp và trao đổi rất nhiều với những liên hữu có những ý tưởng như trên, thậm chí trong nhóm chúng tôi cũng có một số đặt nhất tâm, tịnh tâm, cảm ứng v.v là trên hết, nên tha lực của Ngài đã bị bỏ quên, Quý liên hữu phải biết rằng Phật tiếp dẫn chúng ta vô điều kiện, hà tất chúng ta phải đặt điều kiện ngược lại với Ngài. Làm chướng ngại con đường dụng công và vãng sanh của chúng ta. Tại sao tôi nói vậy? Nếu chúng ta đặt tự lực của chính mình là chánh, tức là chúng ta không tin Bản Hoài và Bổn Nguyện của hai Đức Phật. Như vậy, khi cận tử nghiệp tới thì làm sao vãng sanh? Thì chúng ta sẽ đi theo dòng nghiệp khi ấm cảnh hiện tiền…
Tôi xin phép nhắc lại sơ lược một phần ý của Ngài Ấn Quang Đại Sư nói với các bậc đại thông gia, kiến giải trác tuyệt…, vào thời đại của Ngài cách đây trên một 100 năm (Ngài sinh năm 1860 và tịch năm 1940) mấy ông chỉ đặt nhất tâm bất loạn, tịnh tâm v.v. làm tiêu chuẩn để vãng sanh, mấy ông chỉ chú trọng tự lực, còn tha lực Đức Phật thì xem nhẹ. Thực sự mấy ông có lực gì, ngoài nghiệp lực của thời quá khứ. Lời nói mấy ông về mặt lý thì đúng, chỉ dành riêng cho bậc thượng thượng căn, bậc trung hạ không có phần (vô tình một đại pháp của Đức Phật để cứu chúng sanh của thời mạt pháp này, đã bị mấy ông bít chết con đường đới nghiệp vãng sanh của hàng trung hạ). Pháp không phải chỉ khế lý, còn phải khế cơ, hợp thời mới là pháp diệu. Vậy mà mấy ông còn dương dương tự đắc cho lời nói mình là cao siêu, mình lầm, khiến người lầm theo, sập hầm tà kiến, biết bao giờ ra được. Quả là lời nói ngông cuồng, buồn thay. Đây là ý của Ngài trả lời trong quyển Ấn Quang Văn Sao toàn tập với các bậc đại thông gia kiến giải sâu sắc… Khế lý chỉ nói về mặt lý tánh, hạng phàm phu chúng ta không thể kham nổi, chỉ dành cho bậc chứng đạo mà thôi. Kể cả bậc đại triệt đại ngộ hay đại khai viên giải, tam mật tương ưng… còn chẳng thể nắm bắt hết được, hà huống chúng ta phải tự hiểu lấy mình thuộc căn nào? Nói tóm lại, NGUYỆN phải hành chuyên, một niệm, mười niệm, một ngày, một năm, mười năm v.v. tùy theo tuổi thọ của mỗi người, dù thuận hay nghịch cảnh, cũng phải chuyên nhất một lòng, một dạ trì danh niệm Phật. Không nay tu cái này, mốt tu cái kia... có đạo tràng tu cũng tốt, không cũng không sao, chỗ nào cũng niệm được. Ít hay nhiều không quan ngại, cái chính là mình có TÍN sâu, NGUYỆN tha thiết như con nhớ mẹ hay không. Chư Phật đều biết hết, ai có phạm lỗi dù nặng hay nhẹ, chí thành hồi tâm sám hối niệm Phật, thân cung kính lễ, miệng một lòng xưng niệm, tâm chân thật cúng dường, chúng ta hãy sám hối bằng tất cả sự chân thật khả năng của mình (tức là chúng ta phải sửa đổi mọi hành vi hằng ngày trong cuộc sống của chúng ta. Thí dụ cố gắng chuyển xấu thành tốt, làm những Phật sự, từ thiện, phóng sanh, ăn chay, giới sát v.v. tùy theo hoàn cảnh cuộc sống của mỗi người, và không thay đổi con đường dụng công, nhất hướng chuyên xưng trì danh niệm Phật, giao cả sinh mạng mình cho Đức Phật A Di Đà, tin tuyệt đối. Đó là chân sám hối) (bảo đảm Quý vị đới nghiệp vãng sanh 100% nếu không vãng sanh tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Vì sao? Vì Phật không bao giờ nói dối, Ngài hứa tiếp dẫn Ngài phải giữ lời nếu chúng ta làm đúng Bản hoài của Đức Bổn Sư và Bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà thì các bạn chắc chắn vãng sanh. Vì thế, Ngài mới là Phật. Chúng ta tâm phải chán cõi Ta Bà đầy ác trược…, luôn luôn hướng muốn về Quê hương Cực Lạc của Đấng Từ Phụ. TÍN NGUYỆN như tường đồng vách sắt, trăm người niệm Phật, trăm người vãng sanh Cực Lạc. Đó là lẽ đương nhiên. Cũng như ăn cơm tất phải no, khát uống phải hết khát. Đừng hỏi tại sao như vậy. Vì vốn nó là như vậy. Kính xin Quý vị liên hữu hãy lắng lòng suy nghĩ, tư duy lẽ thiệt hơn (tự lực hay Phật lực, còn riêng ai muốn cảm ứng đạo giao, đả thành nhất phiến, diệt phiền não, trừ vọng tưởng, tam luân thể không… thì tùy Quý vị vậy). Ai muốn chọn con đường nào thì cứ chọn, miễn sao này đừng hỏi tại sao? Còn huynh đệ, tỉ muội tôi là bậc hạ căn, phước mỏng, nghiệp lại dày, chướng duyên dãy đầy… tin Phật nghe lời Phật cùng các Tổ, và Hiền Thánh Tăng, một lòng quyết đặt sinh tử là quan trọng. Tin tuyệt đối pháp môn thuần chuyên Tịnh Độ của Tổ Thiện Đạo cùng các Bồ Tát như Long Thọ, Thiên Thân, Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chi, Ngài Đàm Loan, Ngài Đạo Xước v.v, tại Đoài Loan là Pháp Sư Huệ Tịnh, Pháp Sư Tịnh Tông, tại Nhật thì có Tổ Pháp Nhiên Đại Sư… còn ở Việt Nam các cao tăng như Sư Ông Trí Tịnh, Hòa Thượng Thiền Tâm, Hòa Thượng Bửu Huệ, Hòa Thượng Minh Cảnh trong trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang, Hòa Thượng Minh Bá, Hòa Thượng Minh Thông, Hòa Thượng Giác Thông giáo đoàn 1, Tịnh Xá Ngọc Thạnh, tỉnh Tây Ninh, thầy Trí Ấn trụ Tu Viện Hương Nghiêm thôn Đại Ninh, Ni Sư Như Phương chùa Vô Ưu… dù mất mạng suốt cuộc đời cũng không thay đổi pháp tu, lập trường rất rõ ràng, TÍN NGUYỆN trì danh, chuyên niệm hồng danh Đức Phật A Di Đà, nguyện vãng sanh Cực Lạc trong kiếp này. Một lần nữa, chúng tôi xin nhắc lại với các vị liên hữu, muốn biết TÍN NGUYỆN mình có thật tin sâu hay không, Quý vị hãy tự hỏi lấy lòng mình thế nào sẽ biết ngay. Về được hay không Quý liên hữu tự biết lấy. Trên con đường tu tập, Phật sự từ thiện, bố thí, cúng dường, ấn tống kinh, phóng sanh, giúp đời, cứu người v.v bổn phận chúng ta đều phải làm (dù không bắt buộc), tùy theo trình độ tâm cũng như phước báu thuận nghịch của mỗi người. Tâm rộng có tài lực thì làm nhiều, tâm hẹp thì làm ít, còn không đủ phước thì một đồng hoặc tán thán hay hoan hỷ, còn không tài vật thì sức lực, lời nói khuyên người làm lành lánh dữ v.v, tất cả phước báu ai cũng đều làm được. Nhưng đó không phải điều chánh yếu, là cứu cánh, vì sao? Vì Đức Phật ra đời không phải chú trọng những điều này mà muốn tất cả chấm dứt dòng sanh tử dù tu bất cứ pháp môn nào (nếu vì những việc thiện trên Đức Phật sẽ không ra đời). Nhưng thời này, pháp môn Tịnh Độ là dễ dàng thù thắng nhất, bậc nhất, tuyệt nhất, dễ tu nhất, dễ thoát sanh tử nhất, vượt trên tất cả các pháp môn khác (dị hành đạo). Vì sao nói thế? Là vì pháp môn Tịnh Độ là nhị lực (99,99% là hoàn toàn nhờ tha lực của Đức Phật, chúng ta chỉ có 0,01% là tự lực niệm lục tự hồng danh Ngài). Chỉ lấy TIN sâu NGUYỆN thiết HÀNH chuyên, bỏ thân hiện tiền chắc chắn sẽ được tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh Cực Lạc. Còn tất cả pháp môn khác là tự lực, tự chính mình cất bước mà đi, tự mình chứng đạo, bản thân phải nỗ lực liên tục nhiều đời, phải nói thẳng là nhiều kiếp (kiếp của a tăng kỳ). Quả là nan hành đạo! Nếu ai cảm thấy mình là bậc long tượng hoặc thượng thượng căn, hay đại thông gia kiến giải sâu sắc thì tùy… Giáo pháp Đức Phật là tự nguyện, tự mình chọn, không ai bắt buộc ai, muốn đi đường khó (nan) thì đi, còn chúng tôi chọn đường dễ (dị hành đạo tức là hoàn toàn dựa vào tha lực của Đức Phật, tự lực chúng tôi kham không nổi). Trước khi kết thúc phần này, tôi xin kể một câu chuyện một vị Hòa thượng hỏi một vị đại sư rằng: con niệm Phật gần 50 năm, mà vọng tưởng vẫn dẫy đầy, vọng niệm vẫn không ngừng, tâm vẫn không thanh tịnh chút nào mặc dù con đã cố gắng hết sức. Đại sư trả lời rằng: còn ăn cơm, còn thải ra những thứ chính mình còn không ngửi nổi và không dám nhìn. Thì nói gì thanh tịnh hay tâm tịnh cõi Phật tịnh. Thanh tịnh này bất khả thi (chỉ có bậc thánh chứng đạo trở lên vẫn còn chút phần, chứ chưa thanh tịnh hoàn toàn, chỉ có Phật, đấng đại giác mới hoàn toàn thanh tịnh, tức tâm tịnh cõi Phật tịnh). Đây là 2 vị thượng thủ, 1 vị cao tăng cận đại đã viên tịch tại Việt Nam và 1 vị hiền tăng còn tại thế… Còn chúng ta thì sao… Tự Quý vị hiểu lấy mình thuộc căn nào và nên chọn con đường nào dễ nhất, dễ tu, dễ hành, dễ trên mọi hoàn cảnh để đạt được mục đích chấm dứt sinh tử trong đời này (Câu chuyện mà tôi trình bày trên đây không phải do nghe ai nói lại mà đích thân Hòa thượng kể lại cho nhóm chúng tôi nghe, chúng tôi thật may mắn và hạnh phúc được Hòa thượng tiếp và cho biết câu chuyện này).
Thành tâm kính chúc tất cả các liên hữu nói riêng và các bạn đồng tu nói chung, mọi sở nguyện đều được ý như vạn sự…
(Nếu bất cứ liên hữu nào làm đúng như lời Phật, Tổ dạy… cùng những gì tôi trình bày trên đây mà các bạn không vãng sanh, tội một mình tôi gánh chịu).
Tạp loạn: thí dụ như là không chuyên tu duy nhất niệm Phật, mai tu cái này, mốt tu cái kia v.v
Phát bồ đề tâm: tức là cũng có nhiều cách để phát tâm bồ đề (tôi xin phép trình bày sơ lược về bồ đề tâm)
Trong Kinh Hoa Nghiêm nói rằng tu mà không phát bồ đề tâm, tức là hành ma nghiệp. Vậy người tu phải phát tâm như thế nào? Nếu tu tự lực thường phải pháp tâm bồ đề làm chánh, tự nỗ lực tu tập, tự mình phải tu chứng hay chí ít cũng phải triệt ngộ, minh tâm kiến tánh, chuyển thức thành trí… hoặc làm những Phật sự, từ thiện, như pháp thí, phóng sanh, giúp đời, cứu người v.v. từ thô đến tế, tùy theo trình độ cao thấp của mỗi người và không thấy người làm cũng như người nhận… Lấy bồ đề tâm làm tiêu chuẩn, tinh tấn tu học bền lâu qua nhiều đời, đến khi chứng đạo vẫn phải tiếp tục phát tâm vô thượng bồ đề cho đến khi thành Phật. Quả thực khó làm (nan hành). Qua lời Phật và cổ đức đã dạy, phải qua a tăng tỳ kiếp mới đạt được đến địa vị đó, nhưng đời đời phải tiến tu, không có thối chuyển cũng như lui sụt thì mới chứng đạo đạt đến Phật quả, mà vẫn phải qua a tăng tỳ kiếp, toán số không thể tính đếm được.
Riêng người tu tịnh nghiệp cũng phải phát tâm bồ đề. Nhưng không lấy những hạnh trên làm chánh, mà chỉ là trợ làm tư lương vãng sanh phẩm vị cao hay thấp. Người tu tịnh Độ chỉ cần Tin và Tín Nguyện sâu sắc, tha thiết chuyên xưng hồng danh Đức Phật A Di Đà. Đó là phát tâm vô thượng bồ đề, vượt trên tất cả bồ đề tâm khác. Vì sao nói vậy? Đây là lời của các vị Tổ cùng các Bậc cao đức đã nói rất rõ ràng lục tự hồng danh của Ngài bao gồm cả tam tạng kinh điển, tam tâm tứ tu, ngũ niệm… cùng mọi Phật sự từ thiện của thế gian, xuất thế gian. Tại sao? Vì đới nghiệp vãng sanh 1 đời thành Phật độ khắp tất cả chúng sanh. Như vậy, không phải phát tâm vô thượng bồ đề thì là gì. Vì hồng danh A Di Đà là bất khả tư nghì. Chỉ có Phật với Phật mới biết được mà thôi. Phật lực không thể nghĩ bàn, vượt trên tất cả mọi tông phái khác và bồ đề tâm cũng nằm trong câu hồng danh của Ngài cùng tất cả các hạnh khác. Đây là lời và ý của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nếu chúng ta đặt sinh tử là khẩn thiết, Tín Nguyện là tuyệt đối, vãng sanh là quan trọng nhất của người tu tịnh nghiệp trong đời nay, giao sinh mạng mình cho 2 Đức Phật. Đó là phát tâm vô thượng bồ đề. Món ăn dù có ngon, tuyệt vời hoặc dở, cũng có kẻ thích người không. Nhưng vì biết món ăn dễ tiêu hóa, ai ăn vào cũng được lợi lạc… kẻ ngu này không nỡ một mình thưởng thức mà muốn chia sẻ với tất cả mọi người bằng tấm chân tình tận đáy lòng của kẻ hèn này. Nếu không chê hôi ê thì cùng nhau ăn vậy!
Tại sao NGUYỆN vẫn là vương: vì lời Nguyện thứ 18, mười niệm không vãng sanh, Ngài không thành Phật. Trong 48 lời Nguyện, Nguyện thứ 18 là vua của các lời Nguyện nên mới gọi là vương. Nếu không có Nguyện thứ 18, 47 lời Nguyện còn lại sẽ không thành lập được. Vì sao? Tất cả 47 lời Nguyện còn lại chỉ là trợ mà thôi, sẽ không có ai vãng sanh cả nếu thiếu lời Nguyện 18. Vì thế, Nguyện 18 mới là vua của các lời Nguyện còn lại, nên các vị cổ Đức bên Tịnh Tông mới gọi đó là NGUYỆN vương. Mười niệm Ngài sẽ tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh, dù kẻ đó là ai! Xấu hay tốt, đen hoặc trắng, không phân biệt màu sắc, chủng tộc, giai cấp… thì Ngài sẽ tiếp dẫn gom về hết Cực Lạc (dĩ nhiên chúng ta phải hồi tâm, sám hối, chân thật bằng hết khả năng của mình, lúc lâm chung mười niệm thì được Ngài tiếp dẫn ngay). Còn ai tuổi thọ còn dài thì niệm nhiều hơn, chuyên xưng theo thời gian tuổi thọ của riêng mình. Nhưng Quý vị phải nhớ lấy TÍN NGUYỆN làm chánh, chủ thể, không tu tạp… ví dụ đọc Kinh, bố thí, cúng dường v.v tất cả đều là trợ hạnh. Chắc chắn Quý vị bỏ thân sanh về Cực Lạc. Phật không bao giờ nói hai lời, Ngài mới là Phật (Nếu chúng ta làm đúng những gì Bổn Sư cùng Phật Di Đà chỉ dạy, TÍN sâu và NGUYỆN thiết mà không vãng sanh, thì Ngài đâu thành Phật). Mà nay Ngài đã thành Phật rồi, thì lo gì chúng ta không được vãng sanh, chỉ sợ chúng ta TIN không sâu, NGUYỆN không thiết, ba hồi thế này, bốn hồi thế kia, 8 nóng 12 lạnh, thì chịu thôi, đành chia tay với Ngài. Vì sao? Vì chúng ta đặt tự lực chính mình mà xem nhẹ Phật lực của Đức Phật, tin chính mình hơn tin Phật. Thì đừng hỏi chúng ta tại sao không thi đậu… Hãy nhớ lấy, nhớ lấy TÍN NGUYỆN và Hồng Danh của Ngài là tiêu chuẩn để thi đậu (Phật lực), còn lại tất cả hạnh khác không quan trọng… Vì nó chỉ là trợ. Quý liên hữu và các bạn đồng tu muốn nắm rõ tỉ mỉ từng chi tiết của lời Nguyện thứ 18 là vua của các lời Nguyện, hãy tìm quyển Giảng giải Nguyện thứ 18, Nguyên tác của Pháp Sư Huệ Tịnh, Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang.
Chú thích: vị nào muốn nắm rõ yếu chỉ của bồ đề tâm, nên xem niệm Phật thập yếu hay niệm Phật sám pháp của Cố Hòa Thượng Thiền Tâm sẽ biết rõ ràng và cặn kẽ hơn.
Nếu những gì trình bày trên đây có sai sót, xin các bậc cao minh cùng Quý đạo hữu, liên hữu niệm tình tha thứ và chỉ dạy cho.
Chân thành cảm tạ!
NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!


Kính tặng
Liên hoàn Tịnh Độ Thi
Lục Bộ liên hoàn Tịnh Độ Thi
HOÀI TÂY…!
Liên hoàn khúc
CHÍ kính lòng con nguyện nhớ lời!
TÂM từ ÔNG (1) dạy chỉ chuyên thôi
ĐẢNH buồn thấu rõ nay vào mạt…?
LỄ nguyện hành thâm! Chỉ một đời
VÔ thượng nương về theo TÍN NGUYỆN
NHỨT thì nên niệm mãi không ngơi…
ĐẠI thừa phải biết! Di Đà Phật
SƯ hứa đài sen sẽ đến mời?
Bài họa số 1:
CHÍ cả nghìn năm mãi nhớ lời
TÂM từ Sư dạy: một chuyên thôi
ĐẢNH non người nhắc: Thời sơ mạt…
LỄ tạ! lòng con quyết trọn đời
VÔ thượng Bồ đề vui TÍN NGUYỆN
NHẤT tâm, niệm mãi, niệm không ngơi
ĐẠI ân, nguyện lớn Di Đà Phật
SƯ hứa: Tây Phương Tứ thánh mời

--------oOo--------
ĐẾN mời liên hữu diện Di Đà!
CỰC lạc chân thành phải thiết tha
TÍN NGUYỆN thuần chuyên duy Tịnh Độ
HẠNH nhiều hay ít có đâu là…?
TAM luân (2) thật sự bao người được?
LỤC độ (3) xin nhường thoát khỏi đa…
TU tạp mong rằng tin Bản Nguyện! (4)
CÒN không lên xuống cũng Ta Bà?
Bài họa số 2:
ĐẾN thời sẽ thấy Đức Di Đà
CỬU phẩm sen vàng, nguyện thiết tha
TÍN Phật, tin ta, tin Tịnh Độ
HẠNH cần, chuyên niệm quả đây là…
TAM môn thanh tịnh, lòng tin chắc
LỤC đạo xa rồi, chuyên nhứt đa
TU dưỡng tánh chon tròn TÍN NGUYỆN
CÒN chi vướng lụy khỏi Ta Bà
--------oOo--------
TA bà sanh tử sướng chi đâu?
SƯ nói về Tây phải nguyện cầu
TÍN NGUYỆN như là con nhớ mẹ!
THUẦN chuyên khẩn thiết phải tin sâu
NIỆM nên xuyên suốt trì danh hiệu
PHẬT bảo rồi đây hết khổ sầu
THẬP ác (5) thánh hiền ai cũng được
YẾU môn hoằng nguyện (6) có bền lâu?
--------oOo--------
BỀN lâu thiết thực phải tin sâu?
CHỚ để mai kia vướng nỗi sầu
ĐỪNG ngại đường tu bao vọng tưởng
TỰ mình hỏi lấy! THẬT mong cầu!
NHỨT tâm Tam phước! (7) Rằng quan trọng
NHƯNG! đến liên đài NGUYỆN đứng đầu
THÀNH kính chân tình mong các vị
PHẬT đà tuyên thuyết có sai đâu!
--------oOo--------
SAI đâu nên biết! bởi vì ai?
LỜI PHẬT xưa nay chẳng đổi thay
CHÂN lý muôn đời không biến hoại!
THƯỢNG căn nào thấu đặng Liên đài? (8)
PHÀM phu chúng ta! Sao thông hiểu?
CHỈ lấy lòng tin đúng bản hoài (9)
BẬC thánh còn phải nương Tín Nguyện
HUỐNG hồ mạt pháp của đời nay!
--------oOo--------
ĐỜI nay giới sát phải trường chay
CHÍ ít sáu ngày hoặc thập trai
NÊN phát tâm từ! Bao Tổ dạy…
MỞ lòng dung thứ kẻ đi sai…
NÀO ai biết được? Vô thường đến!
CỐ gắng hành thâm Nguyện miệt mài…
LỤC tự hồng danh tâm quyết liệt
DI ĐÀ tiếp dẫn một đời nay!
Bài họa số 6:
ĐỜI người mai mắn biết ăn chay
CHÍ quyết gìn lòng giữ giới trai
NÊN rộng lòng Từ như Tổ dạy
MỞ ra, đừng buộc, dẫu người sai
NÀO ai chẳng phải quyến thuộc đây!
CỐ kết làm chi! Cứ miệt mài!
LỤC đạo luân hổi đành vọng phụ
DI ĐÀ tiếp dẫn mãi xưa nay!
Ba bài họa số 1, 2 và 6 do Ni Sư Như Phương sáng tác (10)

  • ÔNG: tức là Hòa thượng Thích Thiền Tâm.
  • TAM luân: tức là không thấy mình cho, không thấy người nhận, không thấy vật cho.
  • LỤC độ: tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục…
  • BẢN nguyện: tức 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà (mà lời nguyện thứ 18 là vua của các lời nguyện.)
  • THẬP ác: tức là ngũ nghịch thập ác…
  • Hoằng nguyện: tức là pháp môn Dị hành đạo, dễ tu, dễ hành, dễ vãng sanh
  • NHỨT tâm: tức là nhứt tâm bất loạn; Tam phước: tức là thế phước, giới phước, hành phước…
  • Liên đài: tức là cõi Cực Lạc…
  • Bản hoài: tức là phải tin lời của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
  • Ni Sư Như Phương: trụ trì chùa Vô Ưu
Trí Chân!
Sài Gòn Ngày 14/6/2019.
--------oOo--------

PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ 1
Liên hoàn khúc
PHÁP môn Tịnh Độ! Quả Từ Bi!
SÁM hối hồi tâm! Phật rước đi
HẠ cám thượng vàng! Gom tất cả?
DỄ dàng thù thắng khó so bì
BUỒN thay! Lắm kẻ cho là vọng…
CHẲNG biết chính mình mới mộng si…
BÁC bỏ thẳng thừng đâu có thật
MAI sau đừng trách ngục A Tỳ (1)!
--------oOo--------
A Tỳ hỏa ngục biết bao ngày?
ĐỪNG khóc Diêm Ngài (2) nỡ nặng tay
TỊNH Độ pháp môn do PHẬT thuyết
MƯỜI phương xác nhận! Độ đời nay (3)
KHUYÊN xưng nhất hướng trì danh hiệu
VƯỢT khỏi Ta Bà! Thoát mộng say…
CỰC lạc mong rằng tin TÍN NGUYỆN
THAI sen từ đây! Hết bi ai!
  • Ngục A Tỳ: tức là địa ngục A Tỳ và địa ngục vô gián…
  • Ngài: tức là 10 vị Diêm Vương cai quản cõi địa ngục.
  • Đời nay: tức là chúng ta đang sống vào thời mạt pháp.
Phong Vân!
Sài Gòn Ngày 06/9/2019.
--------oOo--------

PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ 2
Liên hoàn khúc
CHÚNG sanh phàm thánh cũng không hai
PHẬT tánh nào chi khác biệt sai
(1)THANH tịnh xin nhường cho bậc thượng
THÔNG gia tiến sĩ! Quả anh tài
NGƯỜI ngu cam phận vâng lời dạy
THỨC tỉnh đường trần niệm PHẬT ngay
SÁM hối chân thành thân kính lễ!
NGHIỆP dù nặng mấy cũng dần phai!
--------oOo--------
DẦN phai nghiệp chuyển nhẹ đôi vai…
LÝ sự viên dung (2) mới bậc tài
ĐỪNG nói cao siêu! Ăn bánh vẽ
PHÁP đàm phải biết mạt thời nay
CHỚ cho Tự tánh (3) là siêu xuất
BÁC bỏ trời Tây (4) chuốc khổ thay…
TỰ hiểu ai là người thượng thượng
LÝ (5) dù trác tuyệt nợ còn vay…
--------oOo--------
CÒN vay chưa trả! Nghiệp nào đây?
MỐT nọ mai kia vẫn nợ hoài…
VĨNH kiếp bao giờ ta trả được
CHÍNH mình lạc bước tự an bài
(6) DI Đà Bổn Nguyện! Rằng phương tiện
LỜI Phật cổ Đức đã chỉ bày
TÍN NGUYỆN trì danh xưng lục tự
VẬY mà cố nói chẳng trời Tây
--------oOo--------
TRỜI Tây mười ức có bao xa?
CỰC Lạc nào đâu chẳng phải nhà
LÒNG quyết bền lâu câu Phật hiệu
VÃNH sanh đới nghiệp dứt Ta Bà
TRƯỜNG trai lục thập (7) tùy nghi chọn
GIỚI sát hồi tâm! Phải thật thà
(8)MIỆNG nói! Chớ hành theo nẻo khác…
LÀM sao dối gạt được Di Đà?
--------oOo--------
DI Đà mười tám (9) Nguyện vì Ta
TỊNH độ thuần xưng (10) tiếp mọi nhà
NÁT thịt tan xương bao vạn kiếp
CHẲNG đền đáp được một phần ba (11)
KHUYÊN nên chuyên nhất luôn trì niệm
MỚI xứng là con Phật Thích Ca
ĐỪNG bận tịnh tâm cùng bất loạn (12)
VÃNG sanh đồng nghĩa diện Di Đà!

  • Thanh tịnh: tức là tâm tịnh, cõi Phật tịnh hoặc nhất tâm bất loạn, nhiếp tâm v.v. Kính hỏi Quý vị vào thời mạt này, thế gian mấy ai đạt được trình độ đó, lời Phật đã huyền ký…
  • Lý sự viên dung: mới thực sự là người biết pháp nào là khế lý khế cơ và hợp thời vào thời mạt pháp này.
  • Tự tánh: tức là Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ (mà chúng ta có làm được không vào thời mạt này).
  • Trời Tây: tức là Tây Phương Cực Lạc.
  • Lý: lý mà không sự là không đạt được mục đính; sự mới hiển lý chứ lý không hiển sự (nếu cố chấp vào lý thì sự không thành cũng như mình khát nước mà người ta uống, mình có hết khát không?).
  • Di Đà Bổn Nguyện: tức 48 lời Nguyện của Ngài (10 niệm vãng sanh Cực Lạc…).
  • Lục thập: tức là thập trai, lục trai.
  • Miệng nói: tức là nói Đông mà làm Tây.
  • DI Đà mười tám: tức là lời Nguyện thứ 18 là vua của các lời Nguyện.
  • Thuần xưng: tức là nhất hướng chuyên xưng trì niệm Hồng Danh Ngài đến ngày vãng sanh (suốt đời không thay đổi lối tu, có nghĩa là 30, 40, 50 năm… tùy theo tuổi thọ của mình mới là Tịnh Độ thuần chánh).
  • Một phần ba: chỉ là giả dụ dù trăm ngàn lần, triệu lần… cũng còn chưa đền đáp được (huống gì là một phần ba).
  • Tịnh tâm cùng bất loạn: tức là tâm thanh tịnh và nhứt tâm bất loạn.
Phong Vân!
Sài Gòn Ngày 06/9/2019.
--------oOo--------

PHÁP MÔN NIỆM PHẬT…!
TÍN phải lòng chân! TÂM thật NGUYỆN cầu!
NGUYỆN mà không thiết bên ngoài cửa miệng
Thuần còn tu tạp chỉ thêm nỗi sầu…
Chuyên niệm trì danh! Hơn ngàn muôn thiện…
Thời mạt suy tàn! Pháp nào dễ độ?
Chỉ duy niệm Phật mới là khế cơ
Một trong tích tắc chuyển mê thành ngộ
Đó là diệu pháp thuần chuyên TỊNH ĐỘ
Cứu cả muôn loài thoát bờ sanh tử
Nhưng thật tiếc thay! Thiên hạ đa phần
Cho là phương tiện! Buồn thay thế sự
Lời Đức Bổn Sư! Chân thật ân cần
Mười phương chư Phật đồng thanh xác nhận
Tha lực Di Đà Cực Lạc về Tây
Ai tin sẽ được luân hồi dứt tận!
Đới nghiệp vĩnh hằng thoát khổ từ đây?
Phong Vân!
Sài Gòn Ngày 24/4/2019
--------oOo--------

(1) BỔN - NGUYỆN…?
Liên hoàn khúc
1. Lời nguyện xem thường! Biết nói sao?
Cuộc đời sự thế! Tựa chiêm bao…
Mặc cho ai đó! Nay thành phiến (2)
(3) Kiến hoặc chưa trừ! Chớ ỷ cao…
(4) Tam Muội trăm ngàn chưa có một?
Nói gì chứng đạo dễ không nào?
Ấy mà vẫn bảo Tâm thanh tịnh…
Cảm ứng liền đặng! Chớ lãng sao!
--------oOo--------
2. Lãng sao nào hiểu chuyện ngày mai?
(5) Thông! Biệt đường đi có phải hai?
Tự lực nan hành! TÂM TỰ biết…
(6) Dị hành sao chẳng thẳng Liên Đài
Tham Sân vốn sẵn từ bao kiếp?...
Đừng tưởng rồi đây sẽ dứt ngay
(7) Tư Hoặc! Chi bằng tin TÍN NGUYỆN!
Nương về tha lực một đời nay
--------oOo--------
3. Đời nay bất thối! thoát Luân Hồi?
Sáu nẻo từ đây vĩnh biệt thôi
Phải biết tin lời theo BỔN NGUYỆN…
Đừng nghe rồi bảo để xem coi
(8) Thông gia ai muốn! Xin nhường đó!
(9) Triệt ngộ mai này cũng nổi trôi…
PHẬT LỰC dường như xem chẳng có?
Đau lòng buốt dạ! Nỗi nào vơi…!

  • Bổn nguyện: tức là 48 lời nguyện mà lời nguyện thứ 18 là vua của các lời nguyện trong Kinh Vô Lượng Thọ.
  • Thành phiến: tức là một khối.
  • Kiến Hoặc: ai trừ được Kiến Hoặc chứng Sơ Quả Tu Đà Hoàn. Kiến Hoặc tạm dịch là nhìn thấy sai biệt…
  • Tam Muội: tức là Chánh định
  • Thông, Biệt: Thông là pháp môn phổ thông, là nan hành đạo (như Thiền, Giáo, Luật, Mật…); Biệt là pháp môn đặc biệt, dị hành đạo, pháp môn dễ tu, dễ hành, dễ chứng, tức là thuần chuyên Tịnh Độ trong Ấn Quang Văn Sao toàn tập của Tổ thứ 13…
  • Dị hành đạo: tức là pháp môn thuần chuyên Tịnh Độ
  • Tư Hoặc: ai trừ được Tư Hoặc chứng Quả vị A La Hán. Tư Hoặc tạm dịch là Tham, Sân, Si...
  • Thông gia: tức là bậc từ cử nhân trở lên (về kiến thức của thế gian cùng kiến giải sâu sắc về Phật lý)
  • Triệt ngộ: tức là người sáng suốt, nhận định sâu sắc về thế gian và xuất thế gian pháp (cũng như người đi trong rừng tối mà bừng lên ánh sáng để thấy đường đi… tùy theo trình độ triệt ngộ cao thấp của mỗi người, mà sự tỏa sáng lâu hay mau…, nhưng chưa phải là người chứng đạo)
Phong Vân!
Sài Gòn Ngày 24/10/2018.
Em ngưỡng mộ bác quá! Cảm ơn lời khai thị của bác!
 

tranquyhao

New Member
Tham gia ngày
23 Tháng 7 2019
Bài viết
22
Reaction score
7
Điểm
3
LÀM THẾ NÀO ĐỂ ĐƯỢC ĐỚI NGHIỆP VÃNG SANH (PHẦN 2)
CÁC BÀI THƠ TỊNH ĐỘ
LỜI BẠT

Kính thưa Quý vị liên hữu!

Tôi xin mạn phép một đôi dòng trình bày Làm thế nào để được đới nghiệp vãng sanh (phần 2), trước khi gửi đến Quý vị một số bài Liên hoàn Tịnh Độ thi nói về pháp môn Tịnh Độ. Ngôn từ thi cú, vụng vặt không nói lên được toàn bộ tâm tư cũng như hoài vọng, mạch lạc rõ ràng của pháp môn Tịnh Độ thuần chuyên. Mong Quý vị lượng thứ cho.

Theo quan niệm thiển cận của tôi, pháp môn Tịnh Độ qua lời các vị Tổ cũng như Phật huyền ký… thời mạt này, chỉ duy pháp môn Tịnh Độ mới độ được ba căn và giải thoát trong kiếp này. Nhưng bằng cách nào để được giải thoát, niệm Phật nguyện vãng sanh Cực Lạc. Nhưng niệm bằng phương pháp nào? Vì niệm Phật cũng có năm bảy đường, thật tướng, quán tưởng, quán tượng, bất loạn, nhiếp tâm, tịnh tâm, một khối v.v… Nếu như Quý vị chọn một trong những phương pháp này, thì phải là bậc thượng thượng căn (Trung, hạ căn không thể làm nổi). Giả dụ, Quý vị có đạt được trình độ đó mà không có Tín Nguyện (tức Phật lực), đồng nghĩa Quý vị cũng không vãng sanh, tức là không giải thoát được. Tại sao nói vậy? Vì Quý vị đặt tự lực lên trên tha lực, chưa tin hẳn Bản hoài của Đức Phật và Bổn nguyện của Phật A Di Đà. Cho dù bất cứ ai trên mười phương thế giới, có đạt được nhất tâm bất loạn, tịnh tâm, đả thành nhất phiến, thật tướng… cũng chưa phải là người chứng đạo. Mà dù cho chứng đạo diệt được kiến, tư hoặc thoát sáu nẻo, cũng không vãng sanh về Tây Phương được. Vì sao? Vì thiếu Tín Nguyện vậy. Bậc đại thánh từ Sơ địa đến Đẳng giác còn phải nương Tín Nguyện mới về được. Huống gì bậc Tiểu thánh, thời Đức Phật tại thế, Ngài thuyết cho các đại chúng cùng các bậc thánh từ Tu Đà Hoàn trở lên, về cảnh giới Tây Phương Cực Lạc của Đức Từ Phụ A Di Đà. Ngài Mục Kiền Liên dùng thần thông tìm đến Tây Phương Cực Lạc, nhưng Ngài đi lạc vào quốc độ của Tu Di Tướng Phật, không biết đường trở về Ta Bà. Ngài phải nhờ Phật Tu Di Tướng bảo một vị Đại Bồ Tát giúp đưa Ngài trở lại Ta Bà, nơi Đức Phật đang thuyết pháp. Đại đệ tử thần thông số 1 của Đức Phật còn không thể nào tìm đến được Cực Lạc, thì Quý vị liên hữu tự nghĩ chúng ta có hơn được Ngài hay không mà đặt tự lực lên trên tha lực. Tại sao Ngài về không được. Vì thiếu TÍN NGUYỆN vậy, còn chúng ta thì sao miễn bàn. Thế mà hiện nay rất nhiều vị chỉ chủ trương nhất tâm, tịnh tâm, lục độ, tam luân v.v… làm chánh, thì chúng ta bao giờ mới về được Tây Phương. Nếu như ai có thể đạt được trình độ như trên với Tín Nguyện vững chắc, tức là lấy Tín Nguyện làm chánh, phần kia là trợ mà đạt được nhất tâm, tịnh tâm v.v… cũng tốt, không được cũng không sao, thì vị đó chắc chắn vãng sanh từ trung phẩm, thượng phẩm của hạ sanh trở lên... Nhưng thực sự, thời nay mấy ai làm được trình độ đó, ngoài bậc mô phạm hoặc thị hiện mới làm được mà thôi. Thế thì hàng trung hạ chúng ta phải làm sao? Theo tôi, vẫn có một hướng khác, mà hàng mạt rệp chúng ta vẫn có phần, dự được dòng thánh, vãng sanh Cực Lạc trong đời này. Đó là, trì danh niệm Phật, nhất hướng chuyên xưng, lấy Tín Nguyện làm chủ thể. Còn tất cả chỉ phần trợ. Vậy chúng ta phải Tín Nguyện theo cách nào? Để chắc chắn được vãng sanh chấm dứt dòng sanh tử.

Theo sự tìm hiểu và một số kinh nghiệm qua thời gian nghiên cứu một số sách Tịnh Độ Tông của các bậc Cổ đức, Tổ Thầy… đi chuyên sâu về pháp môn Tịnh Độ, cùng trao đổi học hỏi với các bậc thiện tri thức…, bạn đạo và các liên hữu… nên cảm nhận được cuộc đời là vô thường, sinh tử là quan trọng. Vì thế, bằng tất cả tấm lòng mong muốn chúng sanh đều đi pháp môn thuần chuyên Tịnh Độ, được tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh Cực Lạc của Đức Phật A Di Đà trong một đời này, nên trình bày con đường đi về Cực Lạc dễ dàng, thù thắng như thế nào trong khả năng, trình độ của mình.
  1. Phải tin lời Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật giới thiệu cảnh giới Tây Phương là có thật… và mười phương chư Phật xác quyết.
  2. Phải tin Di Đà Bổn Nguyện, trong 48 lời nguyện của Ngài, lời nguyện thứ 18 là vua của các lời nguyện.
  3. Không tu tạp loạn làm duyên chánh, chỉ lấy thuần chuyên khắc cốt ghi.
  4. Trì danh niệm Phật, nhất hướng chuyên xưng.
  5. Phải tin tuyệt đối mình có khả năng được tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh trong đời này (nhưng đừng quên TÍN NGUYỆN là số 1 nhất trên con đường vãng sanh của chúng ta).
Đây chỉ mới nói chữ Tín, thế phải làm sao mới được đới nghiệp vãng sanh? Như vậy phải có Nguyện, nhưng Nguyện phải như thế nào? Không thể miệng Nguyện mà tâm chẳng Nguyện. Thế thì miệng và tâm là một, có vãng sanh không? Đến đây! Phải hỏi Quý liên hữu có thực sự thiết tha muốn vãng sanh không? Nếu thật sự Quý vị đặt sinh tử là quan trọng, thì không nên tu tạp loạn (1), không đặt nặng nhất tâm, tịnh tâm, nhất phiến cũng như thật tướng v.v… và cũng không lấy lục độ, tam phước, bố thí, Phật sự, từ thiện làm chánh, đồng thời vọng tưởng phiền não còn hay mất… mà chỉ duy nhất đặt trọn niềm tin vào lời Bổn Sư và lời nguyện của Phật A Di Đà. Cảm ứng hay không do Ngài A Di Đà, chứ không phải do chúng ta. Niềm tin phải mãnh liệt, Nguyện đặt trọn vào tha lực của Đức Phật, còn riêng mình dụng công được bao nhiêu hay bấy nhiêu. Tùy theo trình độ, căn cơ, phước duyên, hoàn cảnh thuận nghịch của mỗi người, không luận niệm nhiều hay ít, chỉ lấy TÍN NGUYỆN là tiêu chuẩn đi đầu, còn tất cả là trợ, không quan trọng. Nếu ai có sức khỏe, thời gian, đủ phước báu thì nên nghiên cứu Kinh Luật Luận, tùy theo sở thích của riêng mình để thêm kinh nghiệm, kiến giải vững chắc, không ai có thể làm lung lay bạn được, đồng thời chúng ta cũng phải biết hiếu kính bậc cha mẹ, bậc trưởng thượng, thầy tổ v.v, bố thí cũng như cúng dường và phát bồ đề tâm (2) v.v tùy theo khả năng, hoàn cảnh, trình độ của mỗi người để làm trợ duyên trên con đường tu tập, tư lương vãng sanh mai này... Chỉ khi sức khỏe đã kém cũng như tuổi đời đã cao, bệnh tật… nên ngưng tất cả, chỉ dồn duy nhất niệm Phật thuần chuyên đặt TÍN NGUYỆN lên mọi tiêu chuẩn. Đêm 30 bảo đảm, chắc chắn các bạn sẽ được Đức Phật A Di Đà cùng Thánh chúng tiếp dẫn Quý vị đới nghiệp vãng sanh Cực Lạc bất thối chuyển.

Vì thế, tôi xin mạn phép hỏi Quý liên hữu rằng Tín mà trì danh có thật tin sâu? Nguyện thời mạt pháp có phải như nguyện? Vãng sanh hay không là do TÍN NGUYỆN. Nhưng NGUYỆN mới là vua. Nếu như các bạn có TÍN và HẠNH, nếu không NGUYỆN có về được không? Mặc dù biết rằng ba chân liên hoàn với nhau thiếu một không được, nhưng NGUYỆN vẫn là vương (3). Một công án của pháp môn Tịnh Độ rất rõ ràng dành cho chúng ta trong thời mạt này, gồm thâu cả ba căn, thượng vàng hạ cám đều gom về Cực Lạc. Nếu ai TIN sâu và NGUYỆN thiết HÀNH chuyên, chắc chắn sẽ được tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh. Mặc dù cho anh có niệm được một ngày 10 muôn hay nhất tâm, một khối, tịnh tâm v.v. mà thiếu TÍN NGUYỆN cũng chỉ phước báu nhân thiên đắc độ về sau mà thôi. Là vì anh đặt tự lực bản thân trên tha lực của Đức Phật. Vì sao? Vì bạn còn nghi, không tin hoàn toàn tuyệt đối vào Bản Nguyện của Phật A Di Đà, bạn không dám giao sinh mạng mình hoàn toàn cho Ngài, mà chỉ tin vào chính mình. Cho rằng phải nỗ lực hết mình mới cảm ứng đạo giao được với Ngài mới vãng sanh. Đó chính là bạn đã đặt tự lực, vô tình đã quên đi Phật lực. Đó là ý nghĩ sai lầm lớn nhất của những liên hữu đang tu tập trong pháp môn Tịnh Độ của ngày nay, mà dạng này thì rất nhiều. Tôi đã từng gặp và trao đổi rất nhiều với những liên hữu có những ý tưởng như trên, thậm chí trong nhóm chúng tôi cũng có một số đặt nhất tâm, tịnh tâm, cảm ứng v.v là trên hết, nên tha lực của Ngài đã bị bỏ quên, Quý liên hữu phải biết rằng Phật tiếp dẫn chúng ta vô điều kiện, hà tất chúng ta phải đặt điều kiện ngược lại với Ngài. Làm chướng ngại con đường dụng công và vãng sanh của chúng ta. Tại sao tôi nói vậy? Nếu chúng ta đặt tự lực của chính mình là chánh, tức là chúng ta không tin Bản Hoài và Bổn Nguyện của hai Đức Phật. Như vậy, khi cận tử nghiệp tới thì làm sao vãng sanh? Thì chúng ta sẽ đi theo dòng nghiệp khi ấm cảnh hiện tiền…

Tôi xin phép nhắc lại sơ lược một phần ý của Ngài Ấn Quang Đại Sư nói với các bậc đại thông gia, kiến giải trác tuyệt…, vào thời đại của Ngài cách đây trên một 100 năm (Ngài sinh năm 1860 và tịch năm 1940) mấy ông chỉ đặt nhất tâm bất loạn, tịnh tâm v.v. làm tiêu chuẩn để vãng sanh, mấy ông chỉ chú trọng tự lực, còn tha lực Đức Phật thì xem nhẹ. Thực sự mấy ông có lực gì, ngoài nghiệp lực của thời quá khứ. Lời nói mấy ông về mặt lý thì đúng, chỉ dành riêng cho bậc thượng thượng căn, bậc trung hạ không có phần (vô tình một đại pháp của Đức Phật để cứu chúng sanh của thời mạt pháp này, đã bị mấy ông bít chết con đường đới nghiệp vãng sanh của hàng trung hạ). Pháp không phải chỉ khế lý, còn phải khế cơ, hợp thời mới là pháp diệu. Vậy mà mấy ông còn dương dương tự đắc cho lời nói mình là cao siêu, mình lầm, khiến người lầm theo, sập hầm tà kiến, biết bao giờ ra được. Quả là lời nói ngông cuồng, buồn thay. Đây là ý của Ngài trả lời trong quyển Ấn Quang Văn Sao toàn tập với các bậc đại thông gia kiến giải sâu sắc… Khế lý chỉ nói về mặt lý tánh, hạng phàm phu chúng ta không thể kham nổi, chỉ dành cho bậc chứng đạo mà thôi. Kể cả bậc đại triệt đại ngộ hay đại khai viên giải, tam mật tương ưng… còn chẳng thể nắm bắt hết được, hà huống chúng ta phải tự hiểu lấy mình thuộc căn nào? Nói tóm lại, NGUYỆN phải hành chuyên, một niệm, mười niệm, một ngày, một năm, mười năm v.v. tùy theo tuổi thọ của mỗi người, dù thuận hay nghịch cảnh, cũng phải chuyên nhất một lòng, một dạ trì danh niệm Phật. Không nay tu cái này, mốt tu cái kia... có đạo tràng tu cũng tốt, không cũng không sao, chỗ nào cũng niệm được. Ít hay nhiều không quan ngại, cái chính là mình có TÍN sâu, NGUYỆN tha thiết như con nhớ mẹ hay không. Chư Phật đều biết hết, ai có phạm lỗi dù nặng hay nhẹ, chí thành hồi tâm sám hối niệm Phật, thân cung kính lễ, miệng một lòng xưng niệm, tâm chân thật cúng dường, chúng ta hãy sám hối bằng tất cả sự chân thật khả năng của mình (tức là chúng ta phải sửa đổi mọi hành vi hằng ngày trong cuộc sống của chúng ta. Thí dụ cố gắng chuyển xấu thành tốt, làm những Phật sự, từ thiện, phóng sanh, ăn chay, giới sát v.v. tùy theo hoàn cảnh cuộc sống của mỗi người, và không thay đổi con đường dụng công, nhất hướng chuyên xưng trì danh niệm Phật, giao cả sinh mạng mình cho Đức Phật A Di Đà, tin tuyệt đối. Đó là chân sám hối) (bảo đảm Quý vị đới nghiệp vãng sanh 100% nếu không vãng sanh tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm. Vì sao? Vì Phật không bao giờ nói dối, Ngài hứa tiếp dẫn Ngài phải giữ lời nếu chúng ta làm đúng Bản hoài của Đức Bổn Sư và Bổn nguyện của Đức Phật A Di Đà thì các bạn chắc chắn vãng sanh. Vì thế, Ngài mới là Phật. Chúng ta tâm phải chán cõi Ta Bà đầy ác trược…, luôn luôn hướng muốn về Quê hương Cực Lạc của Đấng Từ Phụ. TÍN NGUYỆN như tường đồng vách sắt, trăm người niệm Phật, trăm người vãng sanh Cực Lạc. Đó là lẽ đương nhiên. Cũng như ăn cơm tất phải no, khát uống phải hết khát. Đừng hỏi tại sao như vậy. Vì vốn nó là như vậy. Kính xin Quý vị liên hữu hãy lắng lòng suy nghĩ, tư duy lẽ thiệt hơn (tự lực hay Phật lực, còn riêng ai muốn cảm ứng đạo giao, đả thành nhất phiến, diệt phiền não, trừ vọng tưởng, tam luân thể không… thì tùy Quý vị vậy). Ai muốn chọn con đường nào thì cứ chọn, miễn sao này đừng hỏi tại sao? Còn huynh đệ, tỉ muội tôi là bậc hạ căn, phước mỏng, nghiệp lại dày, chướng duyên dãy đầy… tin Phật nghe lời Phật cùng các Tổ, và Hiền Thánh Tăng, một lòng quyết đặt sinh tử là quan trọng. Tin tuyệt đối pháp môn thuần chuyên Tịnh Độ của Tổ Thiện Đạo cùng các Bồ Tát như Long Thọ, Thiên Thân, Tam Tạng Bồ Đề Lưu Chi, Ngài Đàm Loan, Ngài Đạo Xước v.v, tại Đoài Loan là Pháp Sư Huệ Tịnh, Pháp Sư Tịnh Tông, tại Nhật thì có Tổ Pháp Nhiên Đại Sư… còn ở Việt Nam các cao tăng như Sư Ông Trí Tịnh, Hòa Thượng Thiền Tâm, Hòa Thượng Bửu Huệ, Hòa Thượng Minh Cảnh trong trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang, Hòa Thượng Minh Bá, Hòa Thượng Minh Thông, Hòa Thượng Giác Thông giáo đoàn 1, Tịnh Xá Ngọc Thạnh, tỉnh Tây Ninh, thầy Trí Ấn trụ Tu Viện Hương Nghiêm thôn Đại Ninh, Ni Sư Như Phương chùa Vô Ưu… dù mất mạng suốt cuộc đời cũng không thay đổi pháp tu, lập trường rất rõ ràng, TÍN NGUYỆN trì danh, chuyên niệm hồng danh Đức Phật A Di Đà, nguyện vãng sanh Cực Lạc trong kiếp này. Một lần nữa, chúng tôi xin nhắc lại với các vị liên hữu, muốn biết TÍN NGUYỆN mình có thật tin sâu hay không, Quý vị hãy tự hỏi lấy lòng mình thế nào sẽ biết ngay. Về được hay không Quý liên hữu tự biết lấy. Trên con đường tu tập, Phật sự từ thiện, bố thí, cúng dường, ấn tống kinh, phóng sanh, giúp đời, cứu người v.v bổn phận chúng ta đều phải làm (dù không bắt buộc), tùy theo trình độ tâm cũng như phước báu thuận nghịch của mỗi người. Tâm rộng có tài lực thì làm nhiều, tâm hẹp thì làm ít, còn không đủ phước thì một đồng hoặc tán thán hay hoan hỷ, còn không tài vật thì sức lực, lời nói khuyên người làm lành lánh dữ v.v, tất cả phước báu ai cũng đều làm được. Nhưng đó không phải điều chánh yếu, là cứu cánh, vì sao? Vì Đức Phật ra đời không phải chú trọng những điều này mà muốn tất cả chấm dứt dòng sanh tử dù tu bất cứ pháp môn nào (nếu vì những việc thiện trên Đức Phật sẽ không ra đời). Nhưng thời này, pháp môn Tịnh Độ là dễ dàng thù thắng nhất, bậc nhất, tuyệt nhất, dễ tu nhất, dễ thoát sanh tử nhất, vượt trên tất cả các pháp môn khác (dị hành đạo). Vì sao nói thế? Là vì pháp môn Tịnh Độ là nhị lực (99,99% là hoàn toàn nhờ tha lực của Đức Phật, chúng ta chỉ có 0,01% là tự lực niệm lục tự hồng danh Ngài). Chỉ lấy TIN sâu NGUYỆN thiết HÀNH chuyên, bỏ thân hiện tiền chắc chắn sẽ được tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh Cực Lạc. Còn tất cả pháp môn khác là tự lực, tự chính mình cất bước mà đi, tự mình chứng đạo, bản thân phải nỗ lực liên tục nhiều đời, phải nói thẳng là nhiều kiếp (kiếp của a tăng kỳ). Quả là nan hành đạo! Nếu ai cảm thấy mình là bậc long tượng hoặc thượng thượng căn, hay đại thông gia kiến giải sâu sắc thì tùy… Giáo pháp Đức Phật là tự nguyện, tự mình chọn, không ai bắt buộc ai, muốn đi đường khó (nan) thì đi, còn chúng tôi chọn đường dễ (dị hành đạo tức là hoàn toàn dựa vào tha lực của Đức Phật, tự lực chúng tôi kham không nổi). Trước khi kết thúc phần này, tôi xin kể một câu chuyện một vị Hòa thượng hỏi một vị đại sư rằng: con niệm Phật gần 50 năm, mà vọng tưởng vẫn dẫy đầy, vọng niệm vẫn không ngừng, tâm vẫn không thanh tịnh chút nào mặc dù con đã cố gắng hết sức. Đại sư trả lời rằng: còn ăn cơm, còn thải ra những thứ chính mình còn không ngửi nổi và không dám nhìn. Thì nói gì thanh tịnh hay tâm tịnh cõi Phật tịnh. Thanh tịnh này bất khả thi (chỉ có bậc thánh chứng đạo trở lên vẫn còn chút phần, chứ chưa thanh tịnh hoàn toàn, chỉ có Phật, đấng đại giác mới hoàn toàn thanh tịnh, tức tâm tịnh cõi Phật tịnh). Đây là 2 vị thượng thủ, 1 vị cao tăng cận đại đã viên tịch tại Việt Nam và 1 vị hiền tăng còn tại thế… Còn chúng ta thì sao… Tự Quý vị hiểu lấy mình thuộc căn nào và nên chọn con đường nào dễ nhất, dễ tu, dễ hành, dễ trên mọi hoàn cảnh để đạt được mục đích chấm dứt sinh tử trong đời này (Câu chuyện mà tôi trình bày trên đây không phải do nghe ai nói lại mà đích thân Hòa thượng kể lại cho nhóm chúng tôi nghe, chúng tôi thật may mắn và hạnh phúc được Hòa thượng tiếp và cho biết câu chuyện này).

Thành tâm kính chúc tất cả các liên hữu nói riêng và các bạn đồng tu nói chung, mọi sở nguyện đều được ý như vạn sự…

(Nếu bất cứ liên hữu nào làm đúng như lời Phật, Tổ dạy… cùng những gì tôi trình bày trên đây mà các bạn không vãng sanh, tội một mình tôi gánh chịu).

(1) Tạp loạn: thí dụ như là không chuyên tu duy nhất niệm Phật, mai tu cái này, mốt tu cái kia v.v
(2) Phát bồ đề tâm: tức là cũng có nhiều cách để phát tâm bồ đề (tôi xin phép trình bày sơ lược về bồ đề tâm)
  • Trong Kinh Hoa Nghiêm nói rằng tu mà không phát bồ đề tâm, tức là hành ma nghiệp. Vậy người tu phải phát tâm như thế nào? Nếu tu tự lực thường phải pháp tâm bồ đề làm chánh, tự nỗ lực tu tập, tự mình phải tu chứng hay chí ít cũng phải triệt ngộ, minh tâm kiến tánh, chuyển thức thành trí… hoặc làm những Phật sự, từ thiện, như pháp thí, phóng sanh, giúp đời, cứu người v.v. từ thô đến tế, tùy theo trình độ cao thấp của mỗi người và không thấy người làm cũng như người nhận… Lấy bồ đề tâm làm tiêu chuẩn, tinh tấn tu học bền lâu qua nhiều đời, đến khi chứng đạo vẫn phải tiếp tục phát tâm vô thượng bồ đề cho đến khi thành Phật. Quả thực khó làm (nan hành). Qua lời Phật và cổ đức đã dạy, phải qua a tăng tỳ kiếp mới đạt được đến địa vị đó, nhưng đời đời phải tiến tu, không có thối chuyển cũng như lui sụt thì mới chứng đạo đạt đến Phật quả, mà vẫn phải qua a tăng tỳ kiếp, toán số không thể tính đếm được.
  • Riêng người tu tịnh nghiệp cũng phải phát tâm bồ đề. Nhưng không lấy những hạnh trên làm chánh, mà chỉ là trợ làm tư lương vãng sanh phẩm vị cao hay thấp. Người tu tịnh Độ chỉ cần Tin và Tín Nguyện sâu sắc, tha thiết chuyên xưng hồng danh Đức Phật A Di Đà. Đó là phát tâm vô thượng bồ đề, vượt trên tất cả bồ đề tâm khác. Vì sao nói vậy? Đây là lời của các vị Tổ cùng các Bậc cao đức đã nói rất rõ ràng lục tự hồng danh của Ngài bao gồm cả tam tạng kinh điển, tam tâm tứ tu, ngũ niệm… cùng mọi Phật sự từ thiện của thế gian, xuất thế gian. Tại sao? Vì đới nghiệp vãng sanh 1 đời thành Phật độ khắp tất cả chúng sanh. Như vậy, không phải phát tâm vô thượng bồ đề thì là gì. Vì hồng danh A Di Đà là bất khả tư nghì. Chỉ có Phật với Phật mới biết được mà thôi. Phật lực không thể nghĩ bàn, vượt trên tất cả mọi tông phái khác và bồ đề tâm cũng nằm trong câu hồng danh của Ngài cùng tất cả các hạnh khác. Đây là lời và ý của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Nếu chúng ta đặt sinh tử là khẩn thiết, Tín Nguyện là tuyệt đối, vãng sanh là quan trọng nhất của người tu tịnh nghiệp trong đời nay, giao sinh mạng mình cho 2 Đức Phật. Đó là phát tâm vô thượng bồ đề. Món ăn dù có ngon, tuyệt vời hoặc dở, cũng có kẻ thích người không. Nhưng vì biết món ăn dễ tiêu hóa, ai ăn vào cũng được lợi lạc… kẻ ngu này không nỡ một mình thưởng thức mà muốn chia sẻ với tất cả mọi người bằng tấm chân tình tận đáy lòng của kẻ hèn này. Nếu không chê hôi ê thì cùng nhau ăn vậy!
(3) Tại sao NGUYỆN vẫn là vương: vì lời Nguyện thứ 18, mười niệm không vãng sanh, Ngài không thành Phật. Trong 48 lời Nguyện, Nguyện thứ 18 là vua của các lời Nguyện nên mới gọi là vương. Nếu không có Nguyện thứ 18, 47 lời Nguyện còn lại sẽ không thành lập được. Vì sao? Tất cả 47 lời Nguyện còn lại chỉ là trợ mà thôi, sẽ không có ai vãng sanh cả nếu thiếu lời Nguyện 18. Vì thế, Nguyện 18 mới là vua của các lời Nguyện còn lại, nên các vị cổ Đức bên Tịnh Tông mới gọi đó là NGUYỆN vương. Mười niệm Ngài sẽ tiếp dẫn đới nghiệp vãng sanh, dù kẻ đó là ai! Xấu hay tốt, đen hoặc trắng, không phân biệt màu sắc, chủng tộc, giai cấp… thì Ngài sẽ tiếp dẫn gom về hết Cực Lạc (dĩ nhiên chúng ta phải hồi tâm, sám hối, chân thật bằng hết khả năng của mình, lúc lâm chung mười niệm thì được Ngài tiếp dẫn ngay). Còn ai tuổi thọ còn dài thì niệm nhiều hơn, chuyên xưng theo thời gian tuổi thọ của riêng mình. Nhưng Quý vị phải nhớ lấy TÍN NGUYỆN làm chánh, chủ thể, không tu tạp… ví dụ đọc Kinh, bố thí, cúng dường v.v tất cả đều là trợ hạnh. Chắc chắn Quý vị bỏ thân sanh về Cực Lạc. Phật không bao giờ nói hai lời, Ngài mới là Phật (Nếu chúng ta làm đúng những gì Bổn Sư cùng Phật Di Đà chỉ dạy, TÍN sâu và NGUYỆN thiết mà không vãng sanh, thì Ngài đâu thành Phật). Mà nay Ngài đã thành Phật rồi, thì lo gì chúng ta không được vãng sanh, chỉ sợ chúng ta TIN không sâu, NGUYỆN không thiết, ba hồi thế này, bốn hồi thế kia, 8 nóng 12 lạnh, thì chịu thôi, đành chia tay với Ngài. Vì sao? Vì chúng ta đặt tự lực chính mình mà xem nhẹ Phật lực của Đức Phật, tin chính mình hơn tin Phật. Thì đừng hỏi chúng ta tại sao không thi đậu… Hãy nhớ lấy, nhớ lấy TÍN NGUYỆN và Hồng Danh của Ngài là tiêu chuẩn để thi đậu (Phật lực), còn lại tất cả hạnh khác không quan trọng… Vì nó chỉ là trợ. Quý liên hữu và các bạn đồng tu muốn nắm rõ tỉ mỉ từng chi tiết của lời Nguyện thứ 18 là vua của các lời Nguyện, hãy tìm quyển Giảng giải Nguyện thứ 18, Nguyên tác của Pháp Sư Huệ Tịnh, Trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang.

Chú thích: vị nào muốn nắm rõ yếu chỉ của bồ đề tâm, nên xem niệm Phật thập yếu hay niệm Phật sám pháp của Cố Hòa Thượng Thiền Tâm sẽ biết rõ ràng và cặn kẽ hơn.

Nếu những gì trình bày trên đây có sai sót, xin các bậc cao minh cùng Quý đạo hữu, liên hữu niệm tình tha thứ và chỉ dạy cho.

Chân thành cảm tạ!

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!


Kính tặng
Liên hoàn Tịnh Độ Thi
Lục Bộ liên hoàn Tịnh Độ Thi
HOÀI TÂY…!
Liên hoàn khúc

1. CHÍ kính lòng con nguyện nhớ lời!
TÂM từ ÔNG (1) dạy chỉ chuyên thôi
ĐẢNH buồn thấu rõ nay vào mạt…?
LỄ nguyện hành thâm! Chỉ một đời
VÔ thượng nương về theo TÍN NGUYỆN
NHỨT thì nên niệm mãi không ngơi…
ĐẠI thừa phải biết! Di Đà Phật
SƯ hứa đài sen sẽ đến mời?
Bài họa số 1:
CHÍ cả nghìn năm mãi nhớ lời
TÂM từ Sư dạy: một chuyên thôi
ĐẢNH non người nhắc: Thời sơ mạt…
LỄ tạ! lòng con quyết trọn đời
VÔ thượng Bồ đề vui TÍN NGUYỆN
NHẤT tâm, niệm mãi, niệm không ngơi
ĐẠI ân, nguyện lớn Di Đà Phật
SƯ hứa: Tây Phương Tứ thánh mời
--------oOo--------
2. ĐẾN mời liên hữu diện Di Đà!
CỰC lạc chân thành phải thiết tha
TÍN NGUYỆN thuần chuyên duy Tịnh Độ
HẠNH nhiều hay ít có đâu là…?
TAM luân (2) thật sự bao người được?
LỤC độ (3) xin nhường thoát khỏi đa…
TU tạp mong rằng tin Bản Nguyện! (4)
CÒN không lên xuống cũng Ta Bà?
Bài họa số 2:
ĐẾN thời sẽ thấy Đức Di Đà
CỬU phẩm sen vàng, nguyện thiết tha
TÍN Phật, tin ta, tin Tịnh Độ
HẠNH cần, chuyên niệm quả đây là…
TAM môn thanh tịnh, lòng tin chắc
LỤC đạo xa rồi, chuyên nhứt đa
TU dưỡng tánh chon tròn TÍN NGUYỆN
CÒN chi vướng lụy khỏi Ta Bà
--------oOo--------
3. TA bà sanh tử sướng chi đâu?
SƯ nói về Tây phải nguyện cầu
TÍN NGUYỆN như là con nhớ mẹ!
THUẦN chuyên khẩn thiết phải tin sâu
NIỆM nên xuyên suốt trì danh hiệu
PHẬT bảo rồi đây hết khổ sầu
THẬP ác (5) thánh hiền ai cũng được
YẾU môn hoằng nguyện (6) có bền lâu?
--------oOo--------
4. BỀN lâu thiết thực phải tin sâu?
CHỚ để mai kia vướng nỗi sầu
ĐỪNG ngại đường tu bao vọng tưởng
TỰ mình hỏi lấy! THẬT mong cầu!
NHỨT tâm Tam phước! (7) Rằng quan trọng
NHƯNG! đến liên đài NGUYỆN đứng đầu
THÀNH kính chân tình mong các vị
PHẬT đà tuyên thuyết có sai đâu!
--------oOo--------
5. SAI đâu nên biết! bởi vì ai?
LỜI PHẬT xưa nay chẳng đổi thay
CHÂN lý muôn đời không biến hoại!
THƯỢNG căn nào thấu đặng Liên đài? (8)
PHÀM phu chúng ta! Sao thông hiểu?
CHỈ lấy lòng tin đúng bản hoài (9)
BẬC thánh còn phải nương Tín Nguyện
HUỐNG hồ mạt pháp của đời nay!
--------oOo--------
6. ĐỜI nay giới sát phải trường chay
CHÍ ít sáu ngày hoặc thập trai
NÊN phát tâm từ! Bao Tổ dạy…
MỞ lòng dung thứ kẻ đi sai…
NÀO ai biết được? Vô thường đến!
CỐ gắng hành thâm Nguyện miệt mài…
LỤC tự hồng danh tâm quyết liệt
DI ĐÀ tiếp dẫn một đời nay!
Bài họa số 6:
ĐỜI người mai mắn biết ăn chay
CHÍ quyết gìn lòng giữ giới trai
NÊN rộng lòng Từ như Tổ dạy
MỞ ra, đừng buộc, dẫu người sai
NÀO ai chẳng phải quyến thuộc đây!
CỐ kết làm chi! Cứ miệt mài!
LỤC đạo luân hổi đành vọng phụ
DI ĐÀ tiếp dẫn mãi xưa nay!
Ba bài họa số 1, 2 và 6 do Ni Sư Như Phương sáng tác (10)

(1) ÔNG: tức là Hòa thượng Thích Thiền Tâm.
(2) TAM luân: tức là không thấy mình cho, không thấy người nhận, không thấy vật cho.
(3) LỤC độ: tức là bố thí, trì giới, nhẫn nhục…
(4) BẢN nguyện: tức 48 lời nguyện của Đức Phật A Di Đà (mà lời nguyện thứ 18 là vua của các lời nguyện.)
(5) THẬP ác: tức là ngũ nghịch thập ác…
(6) Hoằng nguyện: tức là pháp môn Dị hành đạo, dễ tu, dễ hành, dễ vãng sanh
(7) NHỨT tâm: tức là nhứt tâm bất loạn; Tam phước: tức là thế phước, giới phước, hành phước…
(8) Liên đài: tức là cõi Cực Lạc…
(9) Bản hoài: tức là phải tin lời của Đức Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni
(10) Ni Sư Như Phương: trụ trì chùa Vô Ưu

Trí Chân!
Sài Gòn Ngày 14/6/2019.
--------oOo--------

PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ 1
Liên hoàn khúc

1. PHÁP môn Tịnh Độ! Quả Từ Bi!
SÁM hối hồi tâm! Phật rước đi
HẠ cám thượng vàng! Gom tất cả?
DỄ dàng thù thắng khó so bì
BUỒN thay! Lắm kẻ cho là vọng…
CHẲNG biết chính mình mới mộng si…
BÁC bỏ thẳng thừng đâu có thật
MAI sau đừng trách ngục A Tỳ (1)!
--------oOo--------
2. A Tỳ hỏa ngục biết bao ngày?
ĐỪNG khóc Diêm Ngài (2) nỡ nặng tay
TỊNH Độ pháp môn do PHẬT thuyết
MƯỜI phương xác nhận! Độ đời nay (3)
KHUYÊN xưng nhất hướng trì danh hiệu
VƯỢT khỏi Ta Bà! Thoát mộng say…
CỰC lạc mong rằng tin TÍN NGUYỆN
THAI sen từ đây! Hết bi ai!

(1) Ngục A Tỳ: tức là địa ngục A Tỳ và địa ngục vô gián…
(2) Ngài: tức là 10 vị Diêm Vương cai quản cõi địa ngục.
(3) Đời nay: tức là chúng ta đang sống vào thời mạt pháp.
Phong Vân!
Sài Gòn Ngày 06/9/2019.
--------oOo--------

PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ 2
Liên hoàn khúc

1. CHÚNG sanh phàm thánh cũng không hai
PHẬT tánh nào chi khác biệt sai
(1)THANH tịnh xin nhường cho bậc thượng
THÔNG gia tiến sĩ! Quả anh tài
NGƯỜI ngu cam phận vâng lời dạy
THỨC tỉnh đường trần niệm PHẬT ngay
SÁM hối chân thành thân kính lễ!
NGHIỆP dù nặng mấy cũng dần phai!
--------oOo--------
2. DẦN phai nghiệp chuyển nhẹ đôi vai…
LÝ sự viên dung (2) mới bậc tài
ĐỪNG nói cao siêu! Ăn bánh vẽ
PHÁP đàm phải biết mạt thời nay
CHỚ cho Tự tánh (3) là siêu xuất
BÁC bỏ trời Tây (4) chuốc khổ thay…
TỰ hiểu ai là người thượng thượng
LÝ (5) dù trác tuyệt nợ còn vay…
--------oOo--------
3. CÒN vay chưa trả! Nghiệp nào đây?
MỐT nọ mai kia vẫn nợ hoài…
VĨNH kiếp bao giờ ta trả được
CHÍNH mình lạc bước tự an bài
(6) DI Đà Bổn Nguyện! Rằng phương tiện
LỜI Phật cổ Đức đã chỉ bày
TÍN NGUYỆN trì danh xưng lục tự
VẬY mà cố nói chẳng trời Tây
--------oOo--------
4. TRỜI Tây mười ức có bao xa?
CỰC Lạc nào đâu chẳng phải nhà
LÒNG quyết bền lâu câu Phật hiệu
VÃNH sanh đới nghiệp dứt Ta Bà
TRƯỜNG trai lục thập (7) tùy nghi chọn
GIỚI sát hồi tâm! Phải thật thà
(8)MIỆNG nói! Chớ hành theo nẻo khác…
LÀM sao dối gạt được Di Đà?
--------oOo--------
5. DI Đà mười tám (9) Nguyện vì Ta
TỊNH độ thuần xưng (10) tiếp mọi nhà
NÁT thịt tan xương bao vạn kiếp
CHẲNG đền đáp được một phần ba (11)
KHUYÊN nên chuyên nhất luôn trì niệm
MỚI xứng là con Phật Thích Ca
ĐỪNG bận tịnh tâm cùng bất loạn (12)
VÃNG sanh đồng nghĩa diện Di Đà!


(1) Thanh tịnh: tức là tâm tịnh, cõi Phật tịnh hoặc nhất tâm bất loạn, nhiếp tâm v.v. Kính hỏi Quý vị vào thời mạt này, thế gian mấy ai đạt được trình độ đó, lời Phật đã huyền ký…
(2) Lý sự viên dung: mới thực sự là người biết pháp nào là khế lý khế cơ và hợp thời vào thời mạt pháp này.
(3) Tự tánh: tức là Tự tánh Di Đà, duy tâm Tịnh Độ (mà chúng ta có làm được không vào thời mạt này).
(4) Trời Tây: tức là Tây Phương Cực Lạc.
(5) Lý: lý mà không sự là không đạt được mục đính; sự mới hiển lý chứ lý không hiển sự (nếu cố chấp vào lý thì sự không thành cũng như mình khát nước mà người ta uống, mình có hết khát không?).
(6) Di Đà Bổn Nguyện: tức 48 lời Nguyện của Ngài (10 niệm vãng sanh Cực Lạc…).
(7) Lục thập: tức là thập trai, lục trai.
(8) Miệng nói: tức là nói Đông mà làm Tây.
(9) DI Đà mười tám: tức là lời Nguyện thứ 18 là vua của các lời Nguyện.
(10) Thuần xưng: tức là nhất hướng chuyên xưng trì niệm Hồng Danh Ngài đến ngày vãng sanh (suốt đời không thay đổi lối tu, có nghĩa là 30, 40, 50 năm… tùy theo tuổi thọ của mình mới là Tịnh Độ thuần chánh).
(11) Một phần ba: chỉ là giả dụ dù trăm ngàn lần, triệu lần… cũng còn chưa đền đáp được (huống gì là một phần ba).
(12) Tịnh tâm cùng bất loạn: tức là tâm thanh tịnh và nhứt tâm bất loạn.
Phong Vân!
Sài Gòn Ngày 06/9/2019.
--------oOo--------

PHÁP MÔN NIỆM PHẬT…!
TÍN phải lòng chân! TÂM thật NGUYỆN cầu!
NGUYỆN mà không thiết bên ngoài cửa miệng
Thuần còn tu tạp chỉ thêm nỗi sầu…
Chuyên niệm trì danh! Hơn ngàn muôn thiện…
Thời mạt suy tàn! Pháp nào dễ độ?
Chỉ duy niệm Phật mới là khế cơ
Một trong tích tắc chuyển mê thành ngộ
Đó là diệu pháp thuần chuyên TỊNH ĐỘ
Cứu cả muôn loài thoát bờ sanh tử
Nhưng thật tiếc thay! Thiên hạ đa phần
Cho là phương tiện! Buồn thay thế sự
Lời Đức Bổn Sư! Chân thật ân cần
Mười phương chư Phật đồng thanh xác nhận
Tha lực Di Đà Cực Lạc về Tây
Ai tin sẽ được luân hồi dứt tận!
Đới nghiệp vĩnh hằng thoát khổ từ đây?
Phong Vân!
Sài Gòn Ngày 24/4/2019
--------oOo--------

(1) BỔN - NGUYỆN…?
Liên hoàn khúc

1. Lời nguyện xem thường! Biết nói sao?
Cuộc đời sự thế! Tựa chiêm bao…
Mặc cho ai đó! Nay thành phiến (2)
(3) Kiến hoặc chưa trừ! Chớ ỷ cao…
(4) Tam Muội trăm ngàn chưa có một?
Nói gì chứng đạo dễ không nào?
Ấy mà vẫn bảo Tâm thanh tịnh…
Cảm ứng liền đặng! Chớ lãng sao!
--------oOo--------
2. Lãng sao nào hiểu chuyện ngày mai?
(5) Thông! Biệt đường đi có phải hai?
Tự lực nan hành! TÂM TỰ biết…
(6) Dị hành sao chẳng thẳng Liên Đài
Tham Sân vốn sẵn từ bao kiếp?...
Đừng tưởng rồi đây sẽ dứt ngay
(7) Tư Hoặc! Chi bằng tin TÍN NGUYỆN!
Nương về tha lực một đời nay
--------oOo--------
3. Đời nay bất thối! thoát Luân Hồi?
Sáu nẻo từ đây vĩnh biệt thôi
Phải biết tin lời theo BỔN NGUYỆN…
Đừng nghe rồi bảo để xem coi
(8) Thông gia ai muốn! Xin nhường đó!
(9) Triệt ngộ mai này cũng nổi trôi…
PHẬT LỰC dường như xem chẳng có?
Đau lòng buốt dạ! Nỗi nào vơi…!


(1) Bổn nguyện: tức là 48 lời nguyện mà lời nguyện thứ 18 là vua của các lời nguyện trong Kinh Vô Lượng Thọ.
(2) Thành phiến: tức là một khối.
(3) Kiến Hoặc: ai trừ được Kiến Hoặc chứng Sơ Quả Tu Đà Hoàn. Kiến Hoặc tạm dịch là nhìn thấy sai biệt…
(4) Tam Muội: tức là Chánh định
(5) Thông, Biệt: Thông là pháp môn phổ thông, là nan hành đạo (như Thiền, Giáo, Luật, Mật…); Biệt là pháp môn đặc biệt, dị hành đạo, pháp môn dễ tu, dễ hành, dễ chứng, tức là thuần chuyên Tịnh Độ trong Ấn Quang Văn Sao toàn tập của Tổ thứ 13…
(6) Dị hành đạo: tức là pháp môn thuần chuyên Tịnh Độ
(7) Tư Hoặc: ai trừ được Tư Hoặc chứng Quả vị A La Hán. Tư Hoặc tạm dịch là Tham, Sân, Si...
(8) Thông gia: tức là bậc từ cử nhân trở lên (về kiến thức của thế gian cùng kiến giải sâu sắc về Phật lý)
(9) Triệt ngộ: tức là người sáng suốt, nhận định sâu sắc về thế gian và xuất thế gian pháp (cũng như người đi trong rừng tối mà bừng lên ánh sáng để thấy đường đi… tùy theo trình độ triệt ngộ cao thấp của mỗi người, mà sự tỏa sáng lâu hay mau…, nhưng chưa phải là người chứng đạo)
Phong Vân!
Sài Gòn Ngày 24/10/2018.
Bác ơi! E cố gắng tụng kinh a di đà hàng ngày. Và khi rảnh rỗi em hát câu a di đà phật. Nhưng tâm e k tịnh. E nghĩ e phải sám hối thật nhiều. Có kinh từ bi thủy sám hối, e tụng để sám hối phá vô minh dc k bác! Bác chỉ e với! E cũng tu thiền cho tâm sáng, nhưng e xác định chỉ là trợ duyên thôi ạ!
 

nam

New Member
Tham gia ngày
31 Tháng 7 2017
Bài viết
10
Reaction score
2
Điểm
3
Bác ơi! E cố gắng tụng kinh a di đà hàng ngày. Và khi rảnh rỗi em hát câu a di đà phật. Nhưng tâm e k tịnh. E nghĩ e phải sám hối thật nhiều. Có kinh từ bi thủy sám hối, e tụng để sám hối phá vô minh dc k bác! Bác chỉ e với! E cũng tu thiền cho tâm sáng, nhưng e xác định chỉ là trợ duyên thôi ạ!
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT!

Lý sự viên dung: mới thực sự là người biết pháp nào là khế lý khế cơ hợp thời vào thời mạt pháp này.

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!

Nếu các vị liên hữu muốn đi chuyên sâu về pháp môn thuần chuyên Tịnh Độ, thì nên tìm đến những quyển Niêm Phật Thập Yếu của HT Thiền Tâm, Vạn Đức Pháp Ngữ của HT Trí Tịnh, Bản Nguyện Niệm Phật của Tổ Thiện Đạo do Pháp Sư Huệ Tịnh dịch Hán Văn, Việt văn trung tâm dịch thuật Hán Nôm Huệ Quang, cùng 1 số luận sớ của Pháp Sư Huệ Tịnh, Pháp Sư Tịnh Tông… Tuyển Trạch Bản Nguyện Niệm Phật của Tổ Pháp Nhiên, Ngẫu Ích Đại Sư Pháp Ngữ Tổ thứ 9 của liên tông, Lá Thư Tịnh Độ và Ấn Quang Văn Sao của liên tông thập tam tổ Ấn Quang Đại Sư..
 
Chỉnh sửa cuối:

tranquyhao

New Member
Tham gia ngày
23 Tháng 7 2019
Bài viết
22
Reaction score
7
Điểm
3
NAM MÔ BỔN SƯ THÍCH CA MÂU NI PHẬT!

Kính thưa Quý vị liên hữu, từ khi ra đời đến lúc ra đi, tất cả chúng ta đều phải nương dựa nhau và phải biết rằng thế gian muốn tồn tại còn phải nương nhau, từ gia đình cho đến xã hội, quốc gia, thế giới kể cả mười phương… hà huống pháp xuất thế gian, muốn đới nghiệp vãng sanh Cực Lạc hay chứng đạo, mà chỉ tin vào tự lực dựa vào chính mình, không khác nào người đứng nhìn lên trời với tay muốn lấy mặt trăng, có được chăng? Thì xin hỏi Quý vị chúng ta có lấy được không? Đó là điều bất khả thi (nếu ai còn tin chính vào tự lực của mình, mà quên đi TÍN NGUYỆN cùng sự tiếp dẫn vô điều kiện trong lời Nguyện của Đức Phật A Di Đà, đồng nghĩa chúng ta không vãng sanh, thành Phật, ở lại Ta Bà), hà huống chi bạn còn bận tâm tới thanh tịnh, hay bất loạn, triệt ngộ hay không v.v. Điều đó không liên quan đến vãng sanh. Tổ số 9, Ngài Ngẫu Ích Đại Sư trong liên tông thập tam tổ đã phán rất rõ trong Ngẫu Ích Đại Sư Pháp Ngữ rằng: "Vãng sanh được hay không hoàn toàn do TÍN NGUYỆN; phẩm vị cao hay thấp là do HẠNH". Bạn nên tìm xem kỹ lại "Làm thế nào để được đới nghiệp vãng sanh" và xem lại "Làm thế nào để được đới nghiệp vãng sanh (phần 2)", trong đó trình bày rất rõ ràng về cúng dường, phóng sanh, sám hối, thanh tịnh v.v không phải là cứu cánh dành cho người tu thuần chuyên Tịnh Độ, muốn 1 đời này đới nghiệp vãng sanh, vì tất cả những hạnh này không quan trọng, TÍN NGUYỆN và lục tự Hồng Danh của Ngài A Di Đà mới đưa chúng ta chấm dứt dòng sanh tử, tức là đới nghiệp vãng sanh Tây Phương Cực Lạc, còn lại những phần kia chỉ là PHỤ và TRỢ duyên cho con đường tu Tịnh của chúng ta mà thôi, làm được nhiều cũng tốt, ít cũng tốt bằng hết khả năng của mình... Những gì tôi trình bày trên đây, nếu không đúng ý bạn, thì xin bạn lượng thứ vì tôi chỉ là kẻ phàm phu, hàng hậu học thôi, thì bạn có thể tìm đến những vị cao minh hơn. Thành tâm chúc bạn 1 đời đới nghiệp vãng sanh Tây Phương.

NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT!
E cảm ơn bác khai sáng cho em! Ước mơ của em là về được tây phương, k phải tiền tài danh vọng. Nên em cũng đang nỗ lực ạ!
 
Top