Kinh Thủ Lăng Nghiêm.- Trùng tuyên và thảo luận. Chương 3 (tt), 4, 5

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Thắng Nghĩa.

Kinh văn:

* PHẬT CHỈ NGUỔN GỐC VỌNG TƯỞNG CỦA HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ (^)


Bấy giờ đức Thế Tôn bảo ông Phú Lâu Na và các đại A La Hán rằng: Nay Như Lai vì đại chúng chỉ bày tánh thắng nghĩa trong thắng nghĩa, khiến cho hàng định tánh Thanh Văn chưa được nhơn không và pháp không, hướng về đại thừa, được pháp tu chân chánh tịch diệt của nhất thừa. Các ông hãy lắng nghe cho kỹ, tôi sẽ vì đại chúng mà nói.

Trực chỉ:

Phật bảo ông Phú Lâu Na, đó là vấn đề "thắng nghĩa" của các pháp, vấn đề cội nguồn của sự vật hiện tượng vạn pháp. Nói đến vấn đề này là đề cập đến tánh chơn như, bàn đến tánh thường như của vạn pháp.

(hết trích)


Chú thích thuật ngữ và tư duy:

+ Thắng nghĩa: Là cái nghĩa lý thù thắng, cao tột, là Chân thật nghĩa của Giáo lý Phật.

+ Vọng tưởng: Là cái suy tưởng mơ hồ không thật của ý thức.

+Định tánh Thanh văn: Có những người tu học Phật pháp, chỉ cầu thành A-la-hán là quả cao nhất của Thanh văn, không cầu thành Phật. Sách Phật gọi là Định tánh Thanh văn.

+ nhơn không và pháp không: Cũng là Nhơn vô Ngã và Pháp vô ngã. Nghĩa là con người (Nhơn) là pháp huyên hợp do 5 uẩn thành nên không có tự ngã, mà Pháp (đối tượng vật chất ngoài con người) cũng là pháp huyên hợp do 5 Đại hợp thành nên không có tự ngã.

+ pháp tu chân chánh tịch diệt của nhất thừa: tức là Chơn Như Tâm.

+ Tánh Chơn Như- Tánh thường Như: Là nói vạn Pháp do duyên hợp Không có Tự Tánh.- Đó là "Tánh Không". Đằng sau "Tánh Không" chính là CHƠN NHƯ. "Tánh Không" Tức Chơn Như này nó MANG 8 YẾU TỐ KHÔNG PHẢI.- TỨC LÀ BÁT bẤT- CŨNG LÀ TRUNG ĐẠO ĐẾ. : Trích Từ điển Phật học Huệ Quang :

Bát bất tức là Trung đạo ; tức ngăn chặn 8 loại chấp trước : sinh diệt, thường đoạn, nhất dị (một, khác), lai xuất (đến, đi), để phát khởi lí trung đạo vô sở đắc. Đây là một trong các pháp luận lí trọng yếu của học phái trung Quán thuộc Phật giáo Đại Thừa cổ đại ở Ấn Độ và của tông Tam Luận ở Trung Quốc. Ý nói : Muôn pháp trong vũ trụ đều do nhân duyên tụ tán mà phát sinh hiện tuợng sinh diệt, nhưng thực ra thì không có gì sinh không có gì mất đi. Nếu nói có sinh hoặc có diệt thì nghiêng về một bên ; do lìa 2 bên nên nói bất sinh bất diệt. Đó là lí trung đạo.

Trung Luận, quyển đầu (đại 30, 1 trung) của Long Thọ có bài kệ :

Bất sinh diệc bất diệt

Bất thường diệc bất đoạn

Bất nhất diệc bất dị

Bất lai diệc bất xuất

Năng thuyết thị nhân duyên

Thiện diệt chư hý luận

Ngã khể thủ lễ Phật

Chư thuyết trung đệ nhất.

(con cúi đầu lễ Phật,

Bậc giáo chủ đệ nhất

Khéo diệc các tà thuyết

Bằng giáo pháp nhân duyên

Không sinh cũng không diêt

Không thường cũng không đoạn

Không một cũng không khác

Không đến cũng không đi).


Trong bài đó, bất sinh, bất diệt, bất thường, bất đoạn, bất nhất, bất dị, bất lai, bất xuất gọi là Bát bất. Dùng Bát bất để ngăn trừ 8 loại tà chấp của thế tục, làm sáng tỏ thật nghĩa Trung Đạo vô sở đắc, nên gọi là Bát Bất Trung Đạo.

Lại nữa, Bát bất này đều để thuyên giải lí duyên khởi của các pháp, nên gọi là Bát Bất Duyên Khởi. Bát bất : Bất sinh, bất diệt…phá hết tà chấp ngoại đạo. trong đó, Lục bất: Bất đoạn, bất thường…làm sáng tỏ ý nghĩa của bất sinh, bất diệt. do vậy, y theo đây, bất sinh, bất diệt là gốc của bát bất. lại, vì bất diệt do bất sinh mà có, nên bất sinh là căn bản của chính quán Sở đắc.

Còn Trung Quán Luận Sớ, phần cuối thì ghi: Dùng bát bất theo thứ tự để phá các chấp của xiển đề, Thanh văn, ngoại đạo, Độc giác và Bồ Tát sơ phát tâm. Bất sinh để phá cái chấp anh nhi xiển đề cho các pháp quyết có sinh; Bất diệt, để phá các chấp tà kiến xiển đề cho tất cả pháp đều diệt; bất đoạn, để phá các chấp của đoạn kiến Thanh văn chấp đoạn diệt sinh tử; Bất thường, phá chấp của thường kiến Thanh văn chấp thân thường trụ vô vi Niết- bàn; bất nhất, để phá cái chấp của ngoại đạo chấp cho ngã và ngũ ấm là một; Bất dị, phá chấp của ngoại đạo chấp cho ngã và ngũ ấm là khác; Bất lai, bất xuất phá cái chấp của Độc giác và Bồ tát sơ phất tâm nương nhân đến quả, ra khỏi ba cõi, có chỗ đến có chỗ đi. Nhưng đây chỉ lấy Bát bất phối hợp với 4 loại xiển đề…để làm sáng tỏ thêm ý nghĩa của nó. Chính nghĩa của thuyết Bát bất là nhằm phủ định 8 điều chấp trước sinh, diệt…để làm sáng tỏ lí chính quán vô sở đắc, trên cơ sở đó hành theo Trung Đạo.

 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu .

Kinh văn:

Phật bảo: Phú Lâu Na ! Như ông vừa nói: Đã là bản nhiên thanh tịnh tại sao bỗng nhiên lại sanh ra ấm nhập xứ giới núi sông đất liền sum la vạn tượng ? Ông có nghe Như Lai đã từng dạy: Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu hay không ?

- Bạch Thế Tôn ! Tôi đã nghe, Phú Lâu Na thưa.

- Ý ông hiểu thế nào ? Tánh giác tự minh mà gọi là giác hay tánh giác không minh phải dùng tánh minh để minh tánh giác ?

Bạch Thế Tôn ! Tánh giác tự minh nên gọi là tánh giác diệu minh. Nếu tánh giác không minh thì còn lấy cái gì để gọi là minh tánh giác !

Phật bảo: Đúng vậy, Phú Lâu Na ! Nếu tánh giác không tự minh thì không lấy cái gì khác để minh tánh giác. Và, nếu tánh giác là cái sở minh thì không còn gọi là tánh giác nữa. Vậy ông nên hiểu: Tánh giác vốn minh mà chúng sanh lầm tưởng rằng phải nhờ cái minh để minh tánh giác. Sự thực tánh giác vốn không phải là cái sở minh. Nhơn vì lầm tưởng mà tánh giác trở thành ra sở. Cái vọng về sở đã thành, tất sanh cái vọng năng của ông. Nguồn gốc của vọng tưởng phát nguyên là như vậy.


Trực chỉ:

Như Lai dạy: sự thật, hiện tượng vạn pháp cùng chung một bản thể: Như Lai tàng. Hữu tình vô tình đều phát xuất từ chủng tử trong Như Lai tàng vận động, biến chuyển duyên khởi mà hình thành. Thoạt kỳ thỉ, tất cả hiện tượng vạn pháp sanh khởi hình thành bằng tánh như thị bản nhiên của nó. Đồng chủng thì hợp lại, dị chủng thì đẩy ra, đồng tánh thì chống nhau, dị tánh thì hút nhau. Sự hợp, đẩy, chống, hút, không do ai làm, không bị ai xui, không bởi thế lực "thiêng liêng" nào sắp xếp. Vì vậy, trong đó không có cái sở và cái năng. Năng nghĩa là có ai đó… làm, xui hay sắp xếp. Sở là cái bị ai đó sắp xếp, làm và xui nên. Tánh "Thường như" của vạn pháp vốn không có vấn đề năng sở, nghĩa là không có chủ thể phân biệt và đối tượng phân biệt. Tất cả cùng một bản thể, tùy duyên vận động chuyển biến hiện ra như vậy và như vậy:

Duy thức luận nói:

"Do thức nhất thiết chủng
Nó biến như vậy như vậy
Do quá trình vận động
Hiện tượng sự vật sanh."

(Do nhất thiết chủng thức
Như thị như thị biến
Dĩ triển chuyển lực cố
Bỉ bỉ phân biệt sanh).


Thể tánh của hiện tượng vạn pháp trong Như Lai tàng vốn nhiệm mầu trong sáng không có vô minh. Tánh giác diệu minh bản giác minh diệu là tánh chất vốn vậy trong Như Lai tàng. Năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới và bảy đại sanh diệt, diệt sanh trong Như Lai tàng không phải là vấn đề đáng quan tâm thắc mắc, vì đó là vấn đề: vũ trụ vạn hữu tồn tại khách quan trong quy luật vô thường vận động sanh diệt, diệt sanh của chúng.

Tương quan thân thiết với con người là vấn đề nhơn sanh quan, mới là điều nên đầu tư suy nghĩ. Đã là tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu, thế nhưng tại sao con người có thể bị mất đi cái đó để rồi phải chuốc lấy phiền não buộc ràng trong sanh tử khổ đau ?

Phật dạy: Tánh giác tất minh, vọng vi minh giác nghĩa là do vọng tưởng khởi, sanh phân biệt chấp mắc hiện tượng vạn hữu. Do đó hiện tượng vạn hữu trở thành đối tượng sở minh. Cái phân biệt của con người trở thành năng minh để đánh giá cái tánh giác diệu minh của hiện tượng vạn pháp và chấp thủ sai lầm về cái bản giác minh diệu của chính mình. Do vọng tưởng sai lầm không đầu mối đó (sai lầm vô thỉ) dẫn đến nhận thức sai lầm: mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn… những cái thuộc loại "khách trần" và có chỗ trả về ấy lại chiếm ngự ở mãi lòng ta !

(hết trích)

- Kỳ sau giải thích về các pháp vọng sanh như thế nào ?-

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Các pháp vọng sanh như thế nào ?
* Đệ nhất sát na.

Tư duy:

TS Huyền Quang có bài kệ:

Tằng nghe rằng:

Giác tánh viên minh,

Xưa nay vắng lặng.

Vốn không ngã nhân huyễn tướng,

Nào có sanh tử giả danh!

Nhưng tối sơ một niệm vô minh,

Tùy vọng tưởng có nay sanh diệt.

Tuy nhiên:

Diệt nào có diệt,

Đạt Ma Tôn giả, quảy dép về Tây;

Sanh mà không sanh,

Thích Ca Thế Tôn, song lâm nhập diệt!

Nếu không một phen thấu triệt,

Khó khỏi nhiều kiếp nổi trôi..
..
(hết trích)

Kính các bạn:

"Tối sơ một niệm vô minh," hay còn gọi là "Nhất Niệm Vô minh" hoặc "ĐỆ NHẤT SÁT NA".- Là khởi nguyên từ "Chơn Như Tâm" cho các Pháp vọng sanh !

+ "ĐỆ NHẤT SÁT NA" là gì ?

- Sát Na chỉ cho đơn vị thời gian ngắn nhất.

- Đệ nhất Sát Na chỉ cho đơn vị thời gian ngắn nhất, và nguyên thỉ nhất.- Đó là lúc (6) CĂN và (6) TRẦN giao tiếp với nhau. Trong khoảng Đệ nhất Sát Na căn trần giao tiếp đó sanh ra Vọng (6) THỨC. Như vậy Căn- Trần- Thức 18 Giới là VỌNG SANH (gồm: Vọng Tưởng, Vọng Thức, Vọng Thọ, Vọng Hành, Vọng Sắc.- 5 Ấm).

- Trong nguồn vọng này nó mang 2 đặc tính là TICH và CHIẾU.- Tịch là vắng lặng (Bản Thể - Tịch Diệt Vô Sanh), chiếu là Huyễn giác (Hiện tượng - kiến, văn, giác, tri)

- Chúng sanh do vọng tưởng huân tập nơi tâm, nên chấp 5 Ấm (phần CHIẾU) là NGÃ nên cái "vọng Tâm chấp Ngã" ấy chịu quay cuồng theo Nhân- Quả, theo Nghiệp mà vọng thấy có Sanh- Tử.

- Sự Thấy, nghe, hay, biết chỉ có bán phần (CHIẾU) mà mất đi Bán phần (TỊCH), nên chúng luôn là một "Huyễn giác Bất Toàn".- Thấy biết lệch lạt nên bản chất chúng là Vô minh.

- Tuy nhiên: Thật Tế là Sanh mà Vô Sanh, Diệt mà không diệt.(TỊCH)- Do vậy Hành giả tu hành để thoát ly Sanh- tử.- Thật ra thì chỉ là Hóa giải Vô Minh vọng tưởng. Khi hết Vô Minh vọng tưởng, thì lúc đó Sanh- tử vẫn là Sanh- tử nhưng là "Giải Thoát Sanh tử", Đối lại, khi còn Vô Minh vọng tưởng thì cũng là Sanh- tử mà là "trầm luân sanh tử" vậy thôi.

Trong kinh Lăng già, Đức Phật dạy:

phàm phu chẳng biết là do vọng tưởng huân tập nơi tâm, nên thấy có sát na.

- Lại nữa, Đại Huệ! Như vàng ròng, kim cương, Xá lợi của Phật có tánh đặc biệt, trọn chẳng thể hoại. Đại Huệ! Người chứng Tự Giác Thánh Trí, đắc chánh pháp Vô Gián chẳng có tướng sát na sanh diệt. Nếu có sát na thì bậc Thánh chẳng phải Thánh, mà bậc Thánh luôn luôn là Thánh, như vàng ròng kim cương, dù trải qua vô số kiếp mà chất lượng chẳng giảm. Bởi phàm phu chẳng khéo hiểu pháp thuyết vi diệu ẩn mật của Ta, đối với tất cả pháp trong và ngoài tưởng có sát na sanh diệt.
(hết trích)


Kính các Bạn: Các Pháp Vọng sanh là như thế. Con đường về Vô Sanh là như thế.- Đó là lời Phật và Tổ đã dạy.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Lý Bất Dị.

Trực chỉ:

Vấn đề: địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến, thức, vì sao dung hóa được nhau; trong thực tế chúng có tánh đối kháng nhau rõ rệt !

Phật dạy: Địa thủy hỏa phong… đầy khắp pháp giới mà tánh hư không, không bị choán mất tiêu vong, vì vậy nên Như Lai nói: Tánh sắc chơn không. Hư không có đủ tất cả tánh chất của địa, thủy, hỏa, phong… vì vậy Như Lai mới nói: Tánh không chơn sắc(Chữ tánh phải được hiểu thể tánh của các tánh). Thủy đại đầy khắp pháp giới mà không triệt tiêu hỏa đại không ngập chìm tất cả thế gian, vì vậy Như Lai nói: Tánh thủy chơn không. Pháp giới không đại, vốn không phải là thủy đại, vậy mà trong không đại khắp đầy thủy đại, cho nên Phật dạy: Tánh không chơn thủy. Hỏa đại đầy khắp hư không mà không cháy sơn hà thảo mộc vạn hữu thế gian. Vì vậy, Phật nói: Tánh hỏa chơn không. Hư không vốn không hỏa nhưng lúc chúng sanh cần thì hỏa có trong hư không, cho nên Phật dạy: Tánh không chơn hỏa…, các đại còn lại cũng suy như vậy…

Tánh các đại vốn không ngăn ngại gì nhau, người đệ tử Phật học đến đây có thể nhận thức rõ chơn lý: Sắc bất dị không; không bất dị sắc. Sắc tức thị không; không tức thị sắc rồi vậy.

(hết trích)

Tư duy: 7 Đại: Địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến, thức. Về mặt "HIỆN TƯỢNG thì có khác nhau. Nhưng ở mặt BẢN THỂ chỉ là NHẤT CHƠN NHƯ.- Do vậy chúng khác mà không khác nhau. Ví như lấy một khối vàng 24k, người thợ chế tác ra một con sư tử bằng vàng khối. Trong con sư tử vàng đó, nếu dùng ý thức suy lường so đo thi thấy: Đầu sư tử khác với chân sư tử. Bụng sư tử khác với lưng sư tử v.v... Nhưng thật tế trên mặt giá trị thực.- Chúng đều giá trị như nhau đều trị giá hơn 4 triệu đồng VN một chỉ.

- Đó là Lý Bất Dị.
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* PHẬT CHỈ NGUỔN GỐC VỌNG TƯỞNG CỦA HIỆN TƯỢNG TÂM LÝ (^)

Kinh văn:

Bấy giờ đức Thế Tôn bảo ông Phú Lâu Na và các đại A La Hán rằng: Nay Như Lai vì đại chúng chỉ bày tánh thắng nghĩa trong thắng nghĩa, khiến cho hàng định tánh Thanh Văn chưa được nhơn không và pháp không, hướng về đại thừa, được pháp tu chân chánh tịch diệt của nhất thừa. Các ông hãy lắng nghe cho kỹ, tôi sẽ vì đại chúng mà nói.

Phật bảo: Phú Lâu Na ! Như ông vừa nói: Đã là bản nhiên thanh tịnh tại sao bỗng nhiên lại sanh ra ấm nhập xứ giới núi sông đất liền sum la vạn tượng ? Ông có nghe Như Lai đã từng dạy: Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu hay không ?

- Bạch Thế Tôn ! Tôi đã nghe, Phú Lâu Na thưa.

- Ý ông hiểu thế nào ? Tánh giác tự minh mà gọi là giác hay tánh giác không minh phải dùng tánh minh để minh tánh giác ?

Bạch Thế Tôn ! Tánh giác tự minh nên gọi là tánh giác diệu minh. Nếu tánh giác không minh thì còn lấy cái gì để gọi là minh tánh giác !

Phật bảo: Đúng vậy, Phú Lâu Na ! Nếu tánh giác không tự minh thì không lấy cái gì khác để minh tánh giác. Và, nếu tánh giác là cái sở minh thì không còn gọi là tánh giác nữa. Vậy ông nên hiểu: Tánh giác vốn minh mà chúng sanh lầm tưởng rằng phải nhờ cái minh để minh tánh giác. Sự thực tánh giác vốn không phải là cái sở minh. Nhơn vì lầm tưởng mà tánh giác trở thành ra sở. Cái vọng về sơ? đã thành, tất sanh cái vọng năng của ông. Nguồn gốc của vọng tưởng phát nguyên là như vậy.


Trực chỉ:

Thể tánh của hiện tượng vạn pháp trong Như Lai tàng vốn nhiệm mầu trong sáng không có vô minh. Tánh giác diệu minh bản giác minh diệulà tánh chất vốn vậy trong Như Lai tàng. Năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới và bảy đại sanh diệt, diệt sanh trong Như Lai tàng không phải là vấn đề đáng quan tâm thắc mắc, vì đó là vấn đề: vũ trụ vạn hữu tồn tại khách quan trong quy luật vô thường vận động sanh diệt, diệt sanh của chúng.

Tương quan thân thiết với con người là vấn đề nhơn sanh quan, mới là điều nên đầu tư suy nghĩ. Đã là tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu, thế nhưng tại sao con người có thể bị mất đi cái đó để rồi phải chuốc lấy phiền não buộc ràng trong sanh tử khổ đau ?

Phật dạy: Tánh giác tất minh, vọng vi minh giác nghĩa là do vọng tưởng khởi, sanh phân biệt chấp mắc hiện tượng vạn hữu. Do đó hiện tượng vạn hữu trở thành đối tượng sở minh. Cái phân biệt của con người trở thành năng minh để đánh giá cái tánh giác diệu minh của hiện tượng vạn pháp và chấp thủ sai lầm về cái bản giác minh diệu của chính mình. Do vọng tưởng sai lầm không đầu mối đó (sai lầm vô thỉ) dẫn đến nhận thức sai lầm: mừng, giận, thương, sợ, yêu, ghét, muốn… những cái thuộc loại "khách trần" và có chỗ trả về ấy lại chiếm ngự ở mãi lòng ta !

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* PHẬT KHAI THỊ NGUỔN GỐC DUYÊN KHỞI CỦA HIỆN TƯỢNG VẬT CHẤT(^)

Kinh văn:

Phật bảo: A Nan ! Bản thể của hiện tượng vốn chung cùng, do nhơn duyên mà biến hiện. Trong thể tánh không đồng không dị, phân giải sanh ra thành dị. Khác với các dị hóa hợp thành đồng. Tánh đồng dị đã phát minh, hai lực hấp dẫn và đề kháng cũng tự thành năng lực. Giữa sự nhiễu loạn mâu thuẫn bên trong của vật lý tâm lý và tánh hư không; những tánh chất năng động hợp thành thế giới, tính thể bất động là hư không. Hư không là đồng, thế giới là dị. Đồng dị hay không đồng dị, tất cả đều gọi là pháp hữu vi.

Trực chỉ:

Nguồn gốc duyên khởi của hiện tượng vật lý chỉ là vấn đề tất nhiên: hiện tượng vạn hữu tồn tại khách quan theo quy luật: "Thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập".

Đồng chủng tương ứng
Dị chủng tương xích
Đồng tánh tương cự
Dị tánh tương hấp
Đồng năng tương bội
Dị năng tương để

Do vậy trong Như Lai tàng, chủng tử cơ bản của vạn pháp có thể "liên tỏa" (kết hợp thành từng nhóm quyện chặt với nhau) để thành một chỉnh thể hiện tượng vạn hữu. Ngược lại cũng có thể phân giải hoàn toàn hoặc chuyển hóa dần dần từ lượng dẫn đến chuyển hóa hoàn toàn về chất để rồi sự vật cũ mất đi, hình thành sự thật mới nối tiếp…


 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* PHẬT DẠY RÕ VỀ 3 TƯỚNG TƯƠNG TỤC(^)

* 1. Thế giới tương tục:


Phật bảo: Phú Lâu Na ! Tánh giác thì sáng suốt; hư không thì bất động vô tri. Hai thứ tác động nhau thành tánh năng dao động. Do đó, trong thế giới có hiện tượng lay động phát sanh (gió: phong đại). Trong tánh năng dao động, những thứ đồng chủng hóa hợp với nhau kết thành tánh chất ngại. Đây là hiện tượng kim luân được hình thành để bảo trì quốc độ (kim luân là dị dạng của địa đại, nhiếp thuộc về địa đại). Kim luân cọ sát với không khí trong hư không, biến ra năng lượng. Hiện tượng hỏa đại phát huy từ đó. Kim luân sanh nước. Tánh nước chảy xuống. Tánh lửa bốc lên. Thủy đại chảy xuống, hỏa đại bốc lên, địa đại bảo trì, từ đó hiện tượng vật chất đủ điều kiện hình thành viên mãn. Chỗ sâu có nước là biển; chỗ cạn là cồn bãi, lục địa. Do nguyên nhơn đó, trong biển, lửa thường sanh khởi. Cồn bãi, lục địa, sông lạch thường tuôn chảy không ngừng, Chỗ thế nước kém thế lửa, kết tụ thành núi cao, cho nên đánh đá thì lửa nhoáng ra. Chỗ thế đất kém thế nước hay sanh cây cỏ. Vì vậy, rừng cháy thành đất, vắt ép gỗ chảy ra nước.

Sự vật hiện tượng trong thế giới tương quan làm nhơn quả cho nhau mà sanh. Xoay vần làm nhơn duyên cho nhau không dứt, vì vậy thế giới duy trì tương tục vô cùng.





 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* 2. Chúng sanh tương tục:

Kinh văn:


Lại nữa Phú Lâu Na ! "Vọng minh" không phải cái gì khác lạ. Do vì chúng sanh dùng cái tri kiến minh tri để minh tánh giác mà có sự lỗi lầm. Từ đó có cái sở minh. Sở minh đã có thì cái năng minh bị lệ thuộc vào. Vì vậy, tánh nghe không ngoài âm thanh; tánh thấy không ngoài màu sắc; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, 6 vọng trần đã hình thành làm đối tượng cho "vọng năng": Những cái thấy, nghe, ngửi, nếm, xúc, biết sanh khởi. Hễ đồng nghiệp thì hấp dẫn lúc hợp ly, khi tình, khi tưởng. Tánh thấy "năng minh" có, thì đương nhiên có sắc "sở minh" hiển hiện. Chủ thể đối tượng tác động vào nhau, từ cảm tính chuyển sang lý tính, từ lý tính nảy sinh khái niệm, từ khái niệm dẫn đến tư duy. Do tư duy có sự tưởng tượng nhận thức: Hễ ý kiến bị phủ nhận, sanh tâm lý ghen ghét. Tư tưởng được đồng tình, sanh tâm lý yêu thương. Dòng nước yêu thương kết thành chủng tử, thu nạp tưởng tượng hấp dẫn nghiệp đồng, tác hợp với "yết la lam" thành trạng thái của phôi trong thời gian gọi là "ngưng hoạt" (tinh trùng và noãn sào mới hợp nhau trong ba bốn tuần đầu). Thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh, tùy nghiệp đồng và thích ứng của mỗi loài mà cảm ứng. Thai nhơn tình mà có. Noãn do tưởng mà sanh. Thấp bởi hợp mà cảm. Hóa vì ly mà ứng. Tình, tưởng, hợp, ly luôn luôn vận động đổi thay theo nghiệp sở hành mà cảm thọ: Khi đi lên, lúc đi xuống xoay vần trong sáu nẻo. Đó là nguồn gốc làm cho chúng sanh tương tục không dừng.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* 3. Nghiệp quả tương tục:

Kinh văn:

Phật bảo: Phú Lâu Na ! Tưởng và ái gắn bó ràng buộc lẫn nhau. Ái mãi không rời kết thành nghiệp nhơn tương tục: Cha, mẹ, vợ, chồng, con, cháu tương tục sanh lên sanh xuống không có thời ký chấm dứt. Hạng chúng sanh này do dục tham làm gốc.

Tham và ái đắm đuối nặng nề, tham ái mãi không thôi. Nghiệp nhơn này khiến cho các loài thai sanh, noãn sanh, thấp sanh, hóa sanh trong thế gian, tùy sức mạnh yếu, ăn nuốt lẫn nhau. Hạng chúng sanh này do sát tham làm gốc.

Người cướp mang súc vật để ăn. Súc vật tiến hóa làm người. Người làm ác nghiệp thoái hóa làm súc vật. Mười loại chúng sanh xoay vần lên xuống, xuống lên, ăn nuốt lẫn nhau. Ác nghiệp ngày thêm, cho nên tột ngằn mé vị lai tương tục. Hạng chúng sanh này do đạo tham làm gốc.

Phú Lâu Na ! Do những bất thiện nghiệp như vậy, người nầy mắc nợ thân mạng người kia. Người kia trả nợ cũ cho người nầy. Người nầy thương cái lòng tốt của người kia. Người kia yêu sắc đẹp của người nầy. Do nhơn duyên đó trải trăm nghìn kiếp ở mãi trong ràng buộc sanh tử khổ đau. Ba món Sát, Đạo, Dâm là những yếu tố căn bản tạo thành nghiệp quả tương tục.

Phú Lâu Na ! Sở dĩ có ba thứ tương tục điên đảo là do nhận thức sai lầm: Rằng phải nhờ lấy cái minh để minh tánh giác; không biết rằng: Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu, đại địa san hà vũ trụ vạn hữu là hiện tượng hữu vi có sanh có diệt là do kiến chấp vọng tưởng của con người. Sự thực, thể tánh của các hiện tượng vốn thanh tịnh bản nhiên là diệu dụng của Như Lai tàng biểu hiện.

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Nguồn gốc duyên khởi.

Kinh văn:

Phú Lâu Na ! Sở dĩ có ba thứ tương tục điên đảo là do nhận thức sai lầm: Rằng phải nhờ lấy cái minh để minh tánh giác; không biết rằng: Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu, đại địa san hà vũ trụ vạn hữu là hiện tượng hữu vi có sanh có diệt là do kiến chấp vọng tưởng của con người. Sự thực, thể tánh của các hiện tượng vốn thanh tịnh bản nhiên là diệu dụng của Như Lai tàng biểu hiện.

*
TRỰC CHỈ:

Nguồn gốc duyên khởi của hiện tượng vật lý chỉ là vấn đề tất nhiên: hiện tượng vạn hữu tồn tại khách quan theo quy luật: "Thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập".

Đồng chủng tương ứng
Dị chủng tương xích
Đồng tánh tương cự
Dị tánh tương hấp
Đồng năng tương bội
Dị năng tương để

Do vậy trong Như Lai tàng, chủng tử cơ bản của vạn pháp có thể "liên tỏa" (kết hợp thành từng nhóm quyện chặt với nhau) để thành một chỉnh thể hiện tượng vạn hữu. Ngược lại cũng có thể phân giải hoàn toàn hoặc chuyển hóa dần dần từ lượng dẫn đến chuyển hóa hoàn toàn về chất để rồi sự vật cũ mất đi, hình thành sự thật mới nối tiếp…

Luận nguồn gốc thế giới tương tục là chỉ đề cập đơn thuần bên mặt vật lý. Nói đến chúng sanh tương tục phải đề cập hai phần: vật lý và tâm lý tổ hợp mà hình thành. Cái động cơ thúc đẩy khiến cho chúng sanh sanh tử tương tục là nghiệp. Nghiệp là hành động được biểu hiện qua thân, miệng và ý thức, trong đó ý thức là then chốt. Do ý nhận thức sai lầm về "Tánh giác diệu minh" làm mê mờ chơn lý vũ trụ quan; sai lầm về "Bản giác minh diệu" làm mê mờ chơn lý nhân sanh quan. Vấn đề "Vọng năng" "Vọng sơ?/b>" là vấn đề tối hệ trọng. Bởi vì con người vốn không phải là kẻ năng cầu, năng lễ và năng nguyện, để được giáng phúc, ban ơn do đấng sở lễ, sở cầu, sở nguyện nào đó. Nhưng khi đã bị vọng tưởng sai lầm biến con người thành "Vọng năng" rồi thì "Vọng sở" đương nhiên chấp nhận có. Có năng sở tức là có chủ thể và đối tượng. Thế rồi, ý trái sanh ghét, ý đồng sanh tương… Dòng nước ân ái yêu thương kết thành tập khí chủng tử. Hấp dẫn đồng nghiệp tác hợp với phôi. Phôi lớn thành thai, rồi lục nhập, xúc, thọ, ái… theo thời gian mà phát triển. Thai nhơn tình mà có. Noãn do tưởng mà sanh. Thấp nhờ hợp mà cảm. Hóa bởi ly mà ứng. Tình, tưởng, hợp, ly theo sức nghiệp mà lúc xuống khi lên. Do vậy mà chúng sanh tương tục.

Về nghiệp quả tương tục, Phật chỉ rõ bởi ba nguyên nhơn chánh:

Tưởng và ái nặng, biểu hiện của con người nhiều dục và nhiều tham.

Dục và tham là một trong ba nguyên nhơn làm cho chúng sanh gánh chịu nghiệp quả tương tục.

Tham và ái nặng biểu hiện của con người nặng về tham và nặng về sát. Chính sát và tham là nguyên nhơn khiến cho chúng sanh gánh chịu nghiệp quả tương tục.

Thực và ái nặng, con người cướp sanh mạng của thú cầm, súc vật để ăn, biểu hiện con người nặng về đạo, nặng về tham. Đạo và tham làm nhơn thì con người phải gánh chịu sự vay trả trả vay tương tục.



 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* GIÁC KHÔNG SANH MÊ.

Kinh văn:

Ông Phú Lâu Na thưa: Bạch Thế Tôn ! Nếu tánh giác vốn nhiệm mầu trong sáng cùng với tâm Như Lai không kém không hơn. Thế mà vô cớ bỗng nhiên lại sanh núi sông đất liền các hiện tượng hữu vi sanh diệt ! Vậy hiện nay Như Lai đã chứng nhập bản thể giác minh (tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu ấy), ví phỏng chừng nào Như Lai sanh lại vọng tưởng phân biệt đối với các pháp hiện tượng hữu vi ? Và chừng nào hoặc lậu của Như Lai sanh trở lại ?

Phật bảo: Phú Lâu Na ! Ví như có người do mê mà lầm cho phương Nam là phương Bắc, cái mê như vậy, không nhân mê mà có, vì mê vốn không gốc rễ, không có hình dáng kích thước, cũng không phải sắc màu; càng không phải nhân ngộ, vì ngộ là tỉnh là sáng suốt, ngộ không sanh mê. Người mê đang lúc mê bỗng có người ngộ giải thích chỉ bày cho được ngộ; người mê hóa giải, dứt được cái mê thì phương hướng Bắc Nam không còn lầm lộn nữa. Mười phương Như Lai cũng vậy. Mê vốn không gốc rễ, tánh của nó là không. Xưa vốn không có mê, tựa hồ như có mê, có giác. Giác được mê thì mê diệt; giác vốn không sanh mê. Lại cũng như người nhặm mắt, thấy hoa đốm đầy nhẩy hư không. Nếu trị dứt bệnh nhặm thì hoa đốm trong không tự hết. Nếu ai đó mong chờ cho hư không sanh hoa trở lại là kẻ quá ngu si, với hạng người như vậy, không thể nói: Rằng họ là người ngu hay trí !

Lại nữa ! Phú Lâu Na ! Ví như quặng vàng lẫn lộn với vàng ròng. Khi vàng đã nấu lọc tinh rồi thì vàng không là quặng nữa. Lại cũng như gỗ đã đốt thành tro; tro không thể hoàn nguyên tánh gỗ được.

Phú Lâu Na ! Vấn đề Niết bàn của mười phương Như Lai cũng như vậy. Như Lai không bao giờ sanh lại vọng tưởng phân biệt để chấp mắc các hiện tượng hữu vi. Và cũng không có việc Như Lai sanh lậu hoặc trở lại.

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* GIÁC KHÔNG SANH MÊ. (tt)

TRỰC CHỈ

Tánh giác diệu minh cho nên giác không sanh mê. Mê không gốc rễ, không hình dáng, không kích thước, sắc màu. Rõ ràng mê không tự thể, lấy gì để gọi đó là mê. Huyền Giác thiền sư nói: "thật tánh vô minh là Phật tánh". Hễ giác sanh thì mê diệt. Sự thật quá rõ ràng.

Người đệ tử Phật có tư duy tu tập sẽ thấy rõ rằng Chơn tâm thường trú, Thể tánh tịnh minh là cái thường cái thật cái có sẵn của chính mình. Còn cái bất giác, cái mê, cái tham, sân, si, mạn hữu lậu nghiệp là những cái "vọng thành". Chúng là "khách" là "trần" chúng đến rồi đi và có chỗ trả về cho "nguyên quán" của chúng.

Hỏi Như Lai chừng nào sanh bất giác vô minh trở lại là câu hỏi của người đệ tử đối với giáo lý Phật, còn "chợt tỉnh chợt mê": Chưa xác định được vấn đề Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu. Chưa nhận rõ: vấn đề thể tánh tịnh minh cũng như không biết được Như Lai viên giác diệu tâm là gì. Ở đoạn kinh này Phật dạy rất rõ rằng:

Người không nhặm mắt, trông lên hư không thấy một màu thanh tịnh sáng trong. Chỉ vì bệnh nhặm mắt mà người ta trông hư không thấy toàn là hoa đốm. Hoa đốm ngập tràn là do bệnh nhặm mắt mà có ra. Khi bệnh nhặm mắt hết rồi, hoa đốm không còn là vấn đề người trí bận tâm: Rằng có, rằng không, rằng chừng nào hoa đốm nở đầy hư không trở lại !
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* LẠI NÓI RÕ VẤN ĐỀ CÁC ĐẠI CÓ THỂ DUNG NHAU(^)

Kinh văn:

Phật bảo: Phú Lâu Na ! Ông còn nghi ngờ. Vì sao thất đại: Địa, thủy, hỏa, phong, không, kiến, thức, lại có thể dung nhau ? Trong thực tế ông thấy chúng thường tự xâm đoạt hủy diệt nhau ?

Phú Lâu Na ! Ví như hư không, thể của nó vốn không phải hình tướng, nhưng nó không chống đối các tướng phát huy trong nó. Phú Lâu Na ! Bầu hư không vô cực kia, hễ mặt trời soi thì sáng, mây ùn thì tối, gió lay thì động, trời tạnh thì trong, hơi đọng thì đục, bụi nổi thì mù, nước lặng thì lóng lánh. Phú Lâu Na ! Ông hiểu thế nào ? Các tướng hữu vi sai khác dường ấy. Vậy nó nhân những cái đã có kia mà tự sanh hay nhân hư không mà có ? Phú Lâu Na ! Nếu bảo rằng do những cái kia tự sanh, vậy khi mặt trời soi, mặt trời sáng thì mười phương thế giới đều thành sắc của mặt trời, làm sao giữa hư không lại còn thấy mặt trời tròn ? Nếu bảo rằng hư không sáng, thì hư không tự soi lấy, cớ sao giữa lúc đêm mây mù không có ánh sáng soi ? Vậy nên biết rằng: Cái sáng không phải mặt trời, không phải hư không, nhưng cũng không ngoài hư không và mặt trời.

Phú Lâu Na ! Ông nên biết rằng: Đứng bên hiện tượng mà nhìn thì hiện tượng vốn vọng, cho nên không làm sao chỉ bày chính xác và đích thực được. Nhưng đứng trên bản thể mà tư duy, ta sẽ thấy bản thể là chơn: Tánh giác diệu minh, bản giác minh diệu, cho nên "địa" vốn không là "địa". "Không" vốn chẳng là "không". Thủy, hỏa, phong… cũng vậy thì làm chi có việc trở ngại không dung nhau được.

Trong bản tánh minh diệu của Như Lai tàng, ông cần phát minh hư không thì có hư không hiện ra. Địa, thủy, hỏa, phong… mỗi mỗi đều cần thì mỗi mỗi hiện ra. Ví như một dòng nước in bóng mặt trăng. Hai người cùng trông thấy bóng mặt trăng in đáy nước. Rồi người đi về Đông, người đi về Tây cả hai đều thấy có mặt trăng theo mình, mà không có chuẩn đích cho mặt trăng cố định. Trước sự kiện đó không nên gạn hỏi: Mặt trăng là một, sao có thể đi theo hai hướng khác nhau ? Cũng không được hỏi: Mặt trăng đã thành hai, sao trước kia hiện ra có một ?

Phú Lâu Na ! "Duyên sanh như huyễn" là vậy đó. Vì vậy, mà Như Lai dạy: Tánh sắc chơn không. Và cũng vì vậy, Như Lai nói: Tánh không chơn sắc… Không có pháp nào có tự thể độc lập cố định của chính mình !


*

TRỰC CHỈ

Phật dạy: vấn đề các đại có thể dung nhau là vì tánh chất duyên sanh của nó. Hiện tượng vạn pháp do nhơn duyên sanh, cho nên không pháp nào có tự thể độc lập, cố định đích thực của riêng mình. Như Lai đã khổ công dạy bảo: Rằng Tánh sắc chơn không tánh không chơn sắc… Tánh thủy chơn không tánh không chơn thủy… Tánh hỏa chơn không tánh không chơn hỏa… Tánh phong chơn không tánh không chơn phong… Tất cả đều "thanh tịnh bản nhiên, chu biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng, tuần nghiệp phát hiện"…

Do vậy mà các đại dung nhau, không trở ngại gì nhau, cũng là một sự thật ẩn hiện trước mắt mọi người !

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
KHIỂN TRÁCH CHÚNG SANH BỘI GIÁC HIỆP TRẦN VÀ KHAI THỊ PHƯƠNG PHÁP BỘI TRẦN HIỆP GIÁC(^)

* BỘI GIÁC HIỆP TRẦN

Kinh văn:


Phật bảo: Phú Lâu Na ! Do nhận thức đánh giá của ông về Sắc không của Như Lai tàng thì Như Lai tàng theo cái nhận thức của ông mà có Sắc không khắp cùng pháp giới. Vậy nên ông thấy gió thì động, hư không thì tĩnh, mặt trời thì sáng, mây mù thì tối. Ông và tất cả chúng sanh mê lầm, sống trái với giác tánh mình mà hiệp với trần tướng cho nên sanh khởi cái nhận thức trần lao. Do đó có các tướng thế gian đối tượng.

TRỰC CHỈ

Trái với giác tánh hợp với trần lao là tâm trạng chung của tất cả mọi người thế gian chưa đủ điều kiện quay về đường giải thoát giác ngộ. Người ta thường nhận thức, đánh giá và đặt tên cho sự vật theo tri kiến chủ quan của mình. Do vậy chủ thể và đối tượng hiển nhiên. Năng và sở đối lập, nhơn, ngã, bỉ, thử bời bời rối răm. Đó là hậu quả của sự "bội giác hợp trần".

Phật vẫn là một con người, nhưng khác với mọi người ở chỗ là không nhận thức đánh giá sai lầm sự vật hiện tượng theo tri kiến đảo điên chủ quan. Mà Như Lai sống đúng, sống hợp với tánh giác diệu minh của Như Lai tàng và tánh duyên sanh "như vậy" của hiện tượng vạn hữu.


Tư duy:

* 3 tầng bậc Sắc - Không .
Khi quán Pháp Không, hành giả sẽ thấy có 3 tầng bậc sâu cạn khác nhau:

1. Sắc Không Đối Đải.
2. Sắc Không Bất Dị.
3. Sắc Không Tuyệt Đãi.

1. Sắc Không Đối Đải. - Là đối với Phàm phu vô trí chỉ thấy Sắc (có) đối với Không (không có).- Đây là "cái thấy sai lầm" do ý thức vọng tưởng phân biệt theo Nhị Nguyên.

2. Sắc Không Bất Dị.- Là đối với người tu Quán Tánh không, thấy được Sắc và Không chẳng khác nhau. Vì Sắc do nhân duyên tụ - tán mà thành,thực Tướng là Không; mà Không cũng do nhân duyên tụ - tán mà thành, thực Tướng là Không.- Do bản chất chỉ có tụ - tán chớ không có Thật pháp,thực Tướng là Không. Nên Sắc chẳng khác Không ( Bất Dị) Sắc tức là Không.

3. Sắc Không Tuyệt Đãi. Là Tự Tánh Không, là Chơn Không, là Bất Nhị Pháp, là Nhất tướng, là Vô tướng, là Niết Bàn Tướng... nơi đây bặt ngôn ngữ bặc suy lường . Không phải do suy luận mà thấy Không.- Đây là chỗ Tuyệt Đối Không, là Chân Như.

* Sắc không đối đãi nhiếp về Bán tự giáo.(chưa liễu nghĩa)

* Sắc không bất dị và Sắc Không tuyệt đãi nhiếp về Mãn tự Giáo.(liễu nghĩa)

Trong học Phật và tư duy Phật Pháp. Nếu hành giả phần nhiều chỉ dùng "Sắc không đối đãi", tức là chỉ dùng ý thức suy lường mà học và hiểu.- Đó là ý chỉ:

"Người ta thường nhận thức, đánh giá và đặt tên cho sự vật theo tri kiến chủ quan của mình. Do vậy chủ thể và đối tượng hiển nhiên. Năng và sở đối lập, nhơn, ngã, bỉ, thử bời bời rối răm. Đó là hậu quả của sự "bội giác hợp trần".
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* BỘI TRẦN HIỆP GIÁC

Kinh văn:

Phú Lâu Na ! Như Lai sử dụng tánh giác diệu minh không sai lầm nhận thức, không đánh giá điên đảo. Như Lai tàng là tánh giác diệu minh khắp trùm pháp giới. Vậy nên đối với Như Lai: Một là tất cả, tất cả là một; trong nhỏ hiện lớn, trong lớn hiện nhỏ, ngồi tại đạo tràng bất động mà như ở khắp mười phương; một thân mà trùm cả hư không vô tận, đầu một mảy lông mà hiển hiện ra vô vàn cõi Phật; ngồi trong vi trần bé bỏng mà vận chuyển đại pháp luân; diệt hết nhận thức sai lầm trần tướng, sống hợp giác tánh, cho nên Như Lai nhìn đâu cũng là tánh chơn như sáng suốt giác ngộ nhiệm mầu.

*

TRỰC CHỈ

Phật vẫn là một con người, nhưng khác với mọi người ở chỗ là không nhận thức đánh giá sai lầm sự vật hiện tượng theo tri kiến đảo điên chủ quan. Mà Như Lai sống đúng, sống hợp với tánh giác diệu minh của Như Lai tàng và tánh duyên sanh "như vậy" của hiện tượng vạn hữu.

Nhận thức hiện tượng vạn hữu qua "Tri kiến Phật" thì một là tất cả, tất cả là một, ngồi trong vi trần bé xíu mà chuyển xe pháp vĩ đại bao la. Ngôn ngữ đoạn kinh này, nếu y văn mà hiểu nghĩa thì rõ là oan cho ba đời chư Phật. Thâm nghĩa của đoạn kinh này, nhằm dạy cho đệ tử Phật về vấn đề bản thể chung cùng của hiện tượng vạn hữu: Rằng vòng, kiền, trâm, nhẫn, nút áo, hoa tai, nếu nhìn hình dáng và tên gọi khác nhau, nhưng tất cả cùng là vàng 24 cara. Lấy ra một điểm nhỏ trong những đồ trang sức đó, đem thử lửa, người thợ kim hoàn đánh giá không sai tuổi của tất cả những món đồ vàng còn lại. Với tri kiến như vậy, nên gọi Như Lai là bậc "bội trần hợp giác".


Tư duy:

Do nhận thức đúng tính chất Bản thể Bất Dị, Chân Như của các Pháp.

Từ đó thấy đúng và sống đúng với nhãn quan: 2. Sắc Không Bất Dị. và 3. Sắc Không Tuyệt Đãi. Nên gọi Như Lai là bậc "bội trần hợp giác".
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* NHƯ LAI TÀNG RỜI TẤT CẢ TƯỚNG(^)

Kinh văn:

Như Lai tàng vốn là bản thể nhiệm mầu viên mãn. Tuy nhiên, nó không phải là tâm; không phải là không; không phải địa; không phải thủy; không phải hỏa; không phải phong; nó không phải nhãn; không phải nhĩ; không phải tỷ; không phải thiệt; không phải thân, không phải ý; nó không phải là sắc, không phải thanh, không phải hương, không phải vị; không phải xúc; không phải pháp; nó không phải nhãn thức giới cho đến không phải ý thức giới, nó không phải minh; không phải vô minh, không phải hết vô minh; cho đến không phải lão tử; không phải hết lão tử; nó không phải khổ; không phải tập; không phải diệt, không phải đạo; nó không phải trí cũng không phải đắc, nó không phải bố thí; không phải trì giới; không phải nhẫn nhục; không phải tinh tấn, không phải thiền định; không phải trí tuệ; nó không phải là Như Lai, là ứng cúng, chánh biến tri; nó không phải đại niết bàn; không phải thường lạc, ngã tịnh, vì Như Lai tàng không phải là pháp thế gian, mà cũng không phải là pháp xuất thế gian.

NHƯ LAI TÀNG LÀ TẤT CẢ PHÁP(^)

Nhưng cái bản thể nhiệm mầu viên mãn Như Lai tàng lại cũng tức là tâm, là không, là địa, là thủy, là hỏa, là phong; cũng tức là nhãn, là nhĩ, là tỷ, là thiệt, là thân, là ý; cũng tức là sắc, là thanh, là hương, là vị, là xúc, là pháp; cũng tức là nhãn thức giới cho đến ý thức giới; cũng tức là minh, là vô minh, cho đến là lão tử, là hết lão tử; cũng tức là khổ, là tập, là diệt, là đạo; cũng tức là trí, là đắc, cũng tức là bố thí, là trì giới, là nhẫn nhục, là tinh tấn, là thiền định, là trí tuệ; cho đến cũng tức là Như Lai là ứng cúng, là chánh biến tri; cũng tức là đại niết bàn; là thường, là lạc, là ngã, là tịnh. Vì vậy, Như Lai tàng biểu hiện qua tất cả các pháp thế gian và xuất thế gian.


 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* DÙNG PHẬT NHÃN NHÌN HIỆN TƯỢNG VẠN PHÁP, KHÔNG CÓ VẤN ĐỀ LÀ HAY KHÔNG LÀ TRONG NHƯ LAI TÀNG BẢN THỂ CHƠN NHƯ MẦU NHIỆM(^)

Kinh văn:


Này Phú Lâu Na ! Như Lai tàng vốn nhiệm mầu trong sáng, vượt ngoài sự phê phán đánh giá "là" hay "không phải là". Vậy nên, chúng sanh trong ba cõi và hàng Thanh Văn Duyên Giác dùng cái tri thức cạn cợt thì làm sao mà đo lường bồ đề vô thượng của Như Lai; đem ngôn ngữ hạn cuộc của thế gian mà diễn đạt cái tri kiến Phật thậm thâm sao cho đến được ! Ví như các nhạn khí: Dương cầm, phong cầm, lục huyền cầm… dù có âm thanh tuyệt diệu nhưng nếu không có bàn tay điêu luyện của nghệ sĩ tài hoa thì cũng không phát ra được những tiếng hay. Ông và chúng sanh cũng vậy. Chân tâm giác minh mọi người đều đầy đủ. Thế mà Như Lai ấn ngón tay thì rực rỡ hào quang, còn các ông vừa móng tâm thì trần lao đã nổi dậy. Đó là do các ông không siêng năng cầu vô thượng giác mà ham ưa pháp tiểu thừa, được chút ít cho là đủ !

*

TRỰC CHỈ

Như Lai tàng là bản thể chơn như của hiện tượng vạn pháp. Chơn có nghĩa là không gì phá hoại được. Như có nghĩa là không thể xây dựng thêm gì được nữa. Như Lai tàng rời tất cả tướng thế gian, nhưng không phải là ở cảnh giới xa xăm nào khác. Như Lai tàng là tất cả pháp, nhưng không phải ai cũng nhận biết rằng: Mình đang sanh hoạt trong Như Lai tàng. Như Lai tàng hiện hữu trong hiện tượng vạn pháp, biểu hiện thông qua hiện tượng vạn pháp, thế mà chúng sanh suốt cả cuộc đời chỉ biết có hiện tượng vạn pháp mà không hề nghĩ đến bản thể Như Lai tàng mầu nhiệm. Như Lai tàng là sức sống vô tác nhậm vận của con người, là sanh khí hồn nhiên của hiện tượng vạn pháp, cho nên người ta xem thường xem rẻ nó. Người ta xem thường xem rẻ nó cũng như người ta đã từng xem rẻ hơi thở của lỗ mũi, của buồng hô hấp, của sự co bóp của nhịp tim họ, họ xem rẻ cái thấy của mắt, họ xem rẻ thứ nước cam lồ trong miệng của họ. Có mấy ai quan tâm xem trọng những thứ quý giá vô giá ấy đâu. Mà người ta rất quý giá giấy bạc và những khâu vàng… Thế mà người ta quí cái ngọn mà xem thường cái gốc của sự sống của chính mình !

Nhận thức vấn đề "Là" hay "Không là" chúng ta nên học theo cái tâm trạng của người trí ngắm biển trong một buổi hoàng hôn trời đẹp. Người ta không băn khoăn thắc mắc rằng: Sóng là nước hay sóng không là nước. Vì người ta biết rằng: sóng và nước không phải là một, nhưng cũng không được bảo đó là hai. Không phải một vì sóng là sóng; sóng không phải nước. Không được bảo hai, vì sóng là hiện tượng của nước, nước là bản thể của sóng. Múc lên một chén sóng, cũng tức là múc được một chén nước rồi vậy.

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* MÊ VỌNG KHÔNG CÓ NGUYÊN NHÂN HẾT MÊ LÀ BỔ ĐỀ (Giác)(^)

Kinh văn:

Ông Phú Lâu Na thưa: Bạch Thế Tôn ! Chơn tâm thanh tịnh giác ngộ viên mãn của tôi và của Như Lai không hai; vậy mà tôi thì bị vọng tưởng vô thỉ sai tử cho nên ở trong luân hồi lâu xa nhiều kiếp; nay dù được thánh quả mà còn chưa rốt ráo. Thế Tôn thì các vọng được gạn lọc sạch trong, còn thuần một tâm tánh chơn thường mầu nhiệm. Tôi xin hỏi Như Lai: Tất cả chúng sanh do nguyên nhân nào mà có vọng để rồi tự che mất tâm tánh sáng suốt nhiệm mầu của mình, phải chịu luân hồi trôi nổi khổ đau ?

Phật bảo: Phú Lâu Na ! Ông dù trừ được tâm nghi, nhưng tư tưởng mê lầm chưa hết. Ông há không nghe trong thành Thất La Phiệt có chàng Diễn Nhã Đạt Đa vào một buổi sáng mai, đứng trước gương soi mặt, bỗng dưng ham thích cái đầu trong gương, còn cái đầu của mình tự bấy lâu nay anh ta cho là đồ yêu quái, vì anh chẳng thấy được mày, mắt, mặt, mũi, đẹp đẽ như cái mặt trong gương. Rồi chàng ta kinh hãi phát điên ôm đầu chạy hoảng.

Phú Lâu Na ! Ông nghĩ thế nào ! Diễn Nhã Đạt Đa do nguyên nhân gì, bỗng dưng phát điên ôm đầu chạy hoảng ?

- Bạch Thế Tôn ! Tâm người ấy điên chớ không duyên cớ gì khác.

- Phú Lâu Na ! Tánh giác thì tròn đầy sáng suốt mầu nhiệm từ xa xưa nhẫn nay không lúc nào tạm vắng ở trong ông. Còn cái vọng ? Đã gọi là vọng thì làm sao có nguyên nhân ! Nếu có nguyên nhân thì sao gọi là vọng được ? Vọng tưởng tự xoay vần làm nhân cho nhau, từ cái mê này nảy thêm cái mê khác tích lũy qua số kiếp như vi trần cho nên dù Phật chỉ rõ mà ông hãy còn chưa biết trở về. Cái nhân của mê do mê mà tự có. Biết được cái mê không có nguyên nhân thì cái vọng không có chỗ gá sanh. Thế thì cái sanh còn không có, còn đem cái gì để làm cái diệt ? Giả sử có cái diệt thì diệt để diệt cái gì ?

Phú Lâu Na ! Người được đạo bồ đề ví như người tỉnh giấc, kể chuyện trong chiêm bao. Tâm ghi nhớ rõ ràng nhưng không sao lấy vật trong chiêm bao ra được; huống chi cái mê vốn không, không nhân, không gì cả thì tìm sao cho nó có cội nguồn ? Như Lai cái điên của chàng Diễn Nhã đâu có nguyên nhân, tự sợ đầu mình mà bỏ chạy. Khi hết điên thì cái đầu cũng vẫn là cái đầu của anh vốn có. Lúc điên loạn, cũng không vì vậy mà anh tạm mất cái đầu.


TRỰC CHỈ

Thực quá rõ ràng, không còn dạy cách nào rõ hơn nữa được:

Vọng không có nguyên nhân, vì không nhân nên mới gọi vọng. Vọng ở đây nhằm ám chỉ cho mê, tánh mê, tánh bất giác, tánh phiền não đột xuất ở tâm tánh con người. Người đệ tử Phật có tư duy, sẽ nhận thấy rõ về vấn đề mê và giác ở chính bản tâm mình: Mê vọng thuộc khách trần; Giác minh ví như hư không và chủ.

Biết được mê ? không có nguyên nhân thì vọng không có chỗ gá sanh. Đã không có sanh thì khỏi đặt vấn đề diệt. Do vậy:

Khỏi cầu chân
Khỏi diệt vọng
Biết được:
"Vọng nguyên vô xứ tức bồ đề."
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Giác - Mê:

Kinh văn:

Phật bảo: Phú Lâu Na ! Ông dù trừ được tâm nghi, nhưng tư tưởng mê lầm chưa hết. Ông há không nghe trong thành Thất La Phiệt có chàng Diễn Nhã Đạt Đa vào một buổi sáng mai, đứng trước gương soi mặt, bỗng dưng ham thích cái đầu trong gương, còn cái đầu của mình tự bấy lâu nay anh ta cho là đồ yêu quái, vì anh chẳng thấy được mày, mắt, mặt, mũi, đẹp đẽ như cái mặt trong gương. Rồi chàng ta kinh hãi phát điên ôm đầu chạy hoảng.

Phú Lâu Na ! Ông nghĩ thế nào ! Diễn Nhã Đạt Đa do nguyên nhân gì, bỗng dưng phát điên ôm đầu chạy hoảng ?

- Bạch Thế Tôn ! Tâm người ấy điên chớ không duyên cớ gì khác.

- Phú Lâu Na ! Tánh giác thì tròn đầy sáng suốt mầu nhiệm từ xa xưa nhẫn nay không lúc nào tạm vắng ở trong ông. Còn cái vọng ? Đã gọi là vọng thì làm sao có nguyên nhân ! Nếu có nguyên nhân thì sao gọi là vọng được ? Vọng tưởng tự xoay vần làm nhân cho nhau, từ cái mê này nảy thêm cái mê khác tích lũy qua số kiếp như vi trần cho nên dù Phật chỉ rõ mà ông hãy còn chưa biết trở về. Cái nhân của mê do mê mà tự có. Biết được cái mê không có nguyên nhân thì cái vọng không có chỗ gá sanh. Thế thì cái sanh còn không có, còn đem cái gì để làm cái diệt ? Giả sử có cái diệt thì diệt để diệt cái gì ?

Phú Lâu Na ! Người được đạo bồ đề ví như người tỉnh giấc, kể chuyện trong chiêm bao. Tâm ghi nhớ rõ ràng nhưng không sao lấy vật trong chiêm bao ra được; huống chi cái mê vốn không, không nhân, không gì cả thì tìm sao cho nó có cội nguồn ? Như Lai cái điên của chàng Diễn Nhã đâu có nguyên nhân, tự sợ đầu mình mà bỏ chạy. Khi hết điên thì cái đầu cũng vẫn là cái đầu của anh vốn có. Lúc điên loạn, cũng không vì vậy mà anh tạm mất cái đầu.

Phú Lâu Na ! Tánh của cái vọng là như vậy, làm sao tìm có nguyên nhân ? Ông chỉ cần đi ngược dòng tương tục của ba thứ: Thế gian, nghiệp quả và chúng sanh, ba duyên đã chặt đứt thì ba chân chẳng có cơ sở để sanh. Bấy giờ cái tánh điên cuồng Diễn Nhã Đạt Đa trong tâm ông tự hết. Hết tức là bồ đề. Cái chân tâm trong sáng khắp cùng pháp giới xưa nay, không có ai cho mà tự được; chẳng cần tu chứng nhọc nhằn vất vả lôi thôi ! Ví như người có hạt như ý châu trong vạt áo mà không biết không hay, gần suốt cuộc đời tha phương cầu thực cùng khổ lang thang bỗng có người thiện hữu phát hiện, chỉ hạt châu cho, bấy giờ người cùng khổ trở thành giàu có nhất đời, ngồi gẫm lại nửa đời lưu lạc tự hận cho số kiếp dại khờ: Thì ra viên như ý châu không phải từ ngoài, ai đem đến !


Trực chỉ:

Vấn đề tu chứng Bồ đề Như Lai đã từng nói: Như Lai nào có chứng đắc gì đâu. Nằm ngủ trên giường mà rên siết khóc kêu thì người ta gọi đó là người đang cơn ác mộng. Lúc tỉnh dậy rồi chính mình nằm trên giường đó, có chăn ấm nệm êm, thì ra không phải chiếc giường là nguyên nhơn gây đau khổ. Giác sanh, mê diệt là vậy. Cũng như người ta tạo hoàn cảnh vui đến thì dữ kiện khổ tự nó mất đi.

Nghèo khổ là nghèo khổ, dù đang hồi nghèo khổ mà như ý bảo châu vẫn y nhiên trong chéo áo của kẻ cơ hàn. Ngày phát hiện như ý bảo châu, trở thành người cự phú thì ra hạt châu vốn là hạt châu trong chéo áo mình đã sẵn có tự bấy lâu nay.

 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* LẠI RƠI VÀO NHẬN THỨC ĐỐI ĐÃI CỦA THUYẾT NHƠN DUYÊN VÀ TỰ NHIÊN(^)

Kinh văn:


Bấy giờ ông A Nan đảnh lễ dưới chân Phật mà bạch rằng:

Đức Thế Tôn nói về các nghiệp sát, đạo, dâm và ba duyên đoạn rồi thì ba nhân không sanh, tánh điên Diễn Nhã Đạt Đa trong tâm tự hết. Hết tức bồ đề, không do ai đem đến.

Bạch Thế Tôn ! Như thế rõ là nhân duyên rồi, tại sao Như Lai bác bỏ nghĩa nhân duyên ? Chẳng riêng gì tôi mà một số Thanh Văn trong hội này: Như ông Đại Mục Kiền Liên, ông Xá Lợi Phất, ông Tu Bồ Đề v.v… đều do nghe lý nhân duyên của Phật mà phát tâm mà tỏ ngộ, được thành quả vô lậu.

Nay Phật dạy Bồ đề không do nhân duyên; vậy thì các thuyết tự nhiên của bọn ngoại đạo Câu Xa Ly, thành Vương Xá lại là đệ nhất nghĩa rồi sao ? Xin Phật rũ lòng đại bi chỉ giáo cho kẻ chưa hết mê mờ !

Phật bảo: A Nan ! Theo ý ông thì chàng Diễn Nhã Đạt Đa kia, nếu diệt trừ hết "nhân duyên điên" thì tánh "tự nhiên không điên" hiện ra. Lý nhân duyên tự nhiên theo hiểu biết của ông, luận đến cùng là như vậy ?

Này ! A Nan ! Cái đầu chàng Diễn Nhã Đạt Đa vốn là "tự nhiên". Nếu nó đã "tự nhiên", vậy do "nhân duyên" gì mà sợ cái đầu phát điên ôm chạy ? Đầu vốn "tự nhiên" vì "nhân duyên" gì mà điên ? Tại sao không vì "nhân duyên" gì mất đi để khỏi điên ?

Cái đầu không mất, cũng chẳng thay đổi chút nào. Còn cái điên sợ là do mê vọng mà có, không bởi, cũng chẳng tại "nhân duyên" mà có ra. Nếu tánh điên vốn là "tự nhiên", tự nhiên sẵn có tánh hoảng sợ, vậy lúc chưa điên, cái điên ẩn trú chỗ nào ? Tánh hoảng sợ nương náu nơi đâu ? Nếu tánh không điên là tự nhiên thì trong đầu chẳng có việc gì, cớ sao lại phát điên ôm đầu chạy ?

Nếu hiểu kỹ rằng: Cái đầu là đầu của mình sẵn có rồi. Biết chắc rằng: vì điên mà ôm đầu chạy hoảng thì cái thuyết "nhân duyên" "tự nhiên" đều là hý luận. Thế nên Như Lai nói: Ba duyên đoạn rồi là Bồ Đề tự hiện. Nếu bảo rằng: Đoạn ba duyên rồi thì bồ đề tâm sanh, vì tâm sanh diệt đã diệt thì đó cũng chỉ là "sanh", "diệt" trong vòng đối đãi. Diệt và sanh đều xóa hết, mới đến chỗ "vô công dụng" (địa vị kiến đạo, tức quả sơ địa).

A Nan ! Bồ đề Niết bàn còn xa, nếu ông không siêng năng tu tập, dù ông có nhớ diệu nghĩa 12 bộ kinh của thập phương Như Lai cũng chỉ thêm nhiều hý luận; dù ông có luận tập đa văn, ông cũng vẫn không tự hóa giải nạn Ma Đăng Già; dù nhiều kiếp nhớ ghi diệu pháp của Phật, cũng không bằng một ngày chuyên tu vô lậu nghiệp: Xa lìa hai khổ thương ghét thế gian. Ma Đăng Già trước kia là dâm nữ, do được nghe Thủ Lăng Nghêm mà diệt được lòng ưa muốn. Nay trong Phật pháp nàng có tên Tánh tỳ kheo ni. Cũng như Da Du Đà La, nàng tỏ ngộ cái nhân ở nhiều đời trước, biết rõ tham ái là khổ, cả hai cùng chuyên tâm tu tập vô lậu thiện, cho nên người thì ra khỏi buộc ràng, kẻ được Phật thọ ký. Còn ông ! Sao ông tự khinh mình, để mắc mưu mãi trong vòng nghe thấy.


*
TRỰC CHỈ

Như chúng ta đã biết, tất cả hiện tượng vạn hữu không có một sự vật nào tự nhiên mà có. Đơn vị của sa mạc là hạt cát tí ti; đơn vị của núi cao là hòn đá nho nhỏ; đơn vị của biển cả là sông, ngòi, khe, lạch cho đến những giọt sương chiều. Cho nên không thể "tự nhiên" mà có tòa cao ốc sừng sững hiên ngang trong đô thị.

Không phải Tự nhiên thì ông A Nan phải xoay sở phía nhân duyên vậy. Nhưng khổ thay ! Ông A Nan chưa hiểu Bản thể chơn như của hiện tượng vạn pháp !

"Tất cả các pháp này, từ xưa nhẫn nay, rời ngôn thuyết, rời văn tự, rốt ráo bình đẳng, thể của nó là Tâm. Tâm ?/b>la Bản thể chơn như vậy".

Do vậy, đem ngôn ngữ luận đàm, đem văn tự miêu tả rằng nhơn duyên rằng tự nhiên… thì làm sao khỏi bị Phật quở là hý luận.

Làm sao tìm được đầu mối nguyên thỉ của sự vật để gọi là Nhân ? Nhân đã không tìm được thì Duyên chỉ là cái nhân phụ, đem dùng vào việc gì ? Phật ví dụ điển hình về cái điên của anh chàng Diễn Nhã Đạt Đa" để cho người đệ tử Phật suy nghĩ kỹ về cái "Tự nhiên" và "Nhân duyên" cụ thể. Nếu đã là tự nhiên không điên thì Nhân duyên gì phát điên ôm đầu chạy hoảng ?

Thế nên biết rằng: Tự nhiên đã sai lầm, Nhân duyên cũng chỉ là hý luận mà thôi.

Sự thật của hiện tượng vạn pháp, phát nguyên từ bản thể chơn như mầu nhiệm. Nó ly tất cả ngôn ngữ văn tự.

Tư duy:

Học về Chân Tâm, tức là học về Chân Lý, học về Chân Như.

Mà Chân Như thì:

Luận văn: Tâm chân như giả tức thị Nhất pháp giới đại tổng tướng pháp môn thể. Sở vị tâm tính bất sinh bất diệt. Nhất thiết chư pháp duy y vọng niệm nhi hữu sai biệt, nhược ly vọng niệm tắc vô nhất thiết cảnh giới chi tướng. Thị cố nhất thiết pháp tùng bổn dĩ lai ly ngôn thuyết tướng, ly danh tự tướng, ly tâm duyên tướng, tất cánh bình đẳng vô hữu biến dị, bất khả phá hoại, duy thị nhất tâm cố danh chân như. Dĩ nhất thiết ngôn thuyết giả danh vô thật, đản tùy vọng niệm bất khả đắc cố. Ngôn chân như giả, diệc vô hữu tướng, vị ngôn thuyết chi cực nhân ngôn khiển ngôn, thử chân như thể vô hữu khả khiển, dĩ nhất thiết pháp tất giai chân cố. Diệc vô khả lập, dĩ nhất thiết pháp giai đồng như cố. Đương tri nhất thiết pháp bất khả thuyết, bất khả niệm, cố danh vi chân như. Vấn viết: Nhược như thị nghĩa giả, chư chúng sinh đẳng vân hà tùy thuận nhi năng đắc nhập? Đáp viết: Nhược tri nhất thiết pháp tuy thuyết vô hữu năng thuyết khả thuyết, tuy niệm diệc vô năng niêm khả niệm, thị danh tùy thuận. Nhược ly ư niệm danh vi đắc nhập. Phục thứ, thử chân như giả, y ngôn thuyết phân biệt hữu nhị chủng nghĩa.

nghĩa:

Tâm Chân như tức Bản thể Nhất pháp giới đại tổng tướng gọi là Tâm tính bất sinh bất diệt. Tất cả pháp đều y Vọng niệm nên có sự sai khác, nếu rời Vọng niệm tức khắc không còn tướng sai biệt. Thế nên tất cả pháp từ xưa nay đều rời tướng ngôn thuyết, rời tướng văn tự, rời tướng tâm duyên, tuyệt đối bình đẳng không bao giờ biến dị, cũng không thể phá hoại, duy Nhất tâm vì thế gọi là Chân như. Tất cả những ngôn thuyết đều giả danh không thật, tùy theo Vọng niệm nên thật sự là Bất khả đắc. Dù gọi Chân như nhưng Chân như không có tướng. Đây là chỗ cùng cực của ngôn thuyết, dùng ngôn ngữ phủ định ngôn ngữ. Tuy nhiên Bản thể Chân như tuyệt đối không thể phủ định, bởi vì tất cả các pháp đều là Chân, cũng không thể thành lập bởi vì tất cả các pháp đều là Như. Vì thế nên gọi Chân như. Nên biết tất cả chư pháp không thể nói, không thể suy nghĩ, vì tất cả pháp đều là Chân như.
(Đại thừa khởi tín luận)
 
Bên trên