Kinh Thủ Lăng Nghiêm.- Trùng tuyên và thảo luận. Chương 1, 2, 3.

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
* TÁNH THẤY RỜI TẤT CẢ TƯỚNG, NHƯNG KHÔNG NGOÀI TẤT CẢ PHÁP. GIÁO LÝ NHƠN DUYÊN VẪN CHƯA LÀ ĐỆ NHẤT NGHĨA, THUYẾT TỰ NHIÊN LÀ MỘT NHẬN THỨC SAI LẦM CHƠN LÝ VŨ TRỤ.

Kinh văn:

Ông A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Đúng như lời pháp vương dạy: tâm tánh cùng khắp mười phương thế giới, yên lặng thường trú, không có sanh diệt. Song nếu đem lời dạy nầy, so sánh với thuyết của Phạm Chí Sa Tỳ Ca La về "minh đế" và thuyết của bọn ngoại đạo Đầu Khôi về "chân ngã khắp cùng", khác nhau chỗ nào ?

Hồi ở núi Lăng Già, Thế Tôn dạy cho ông Đại Huệ rằng: Bọn ngoại đạo thường nói "tự nhiên" còn Phật thì nói "nhân duyên".

Tôi nay suy nghĩ cái tâm tánh vốn "tự nhiên", vì nó không phải sanh cũng không diệt. Nó xa rời tất cả điên đảo hư vọng. Tôi nghĩ cái "tự nhiên" nầy khác với thuyết "tự nhiên" của bọn ngoại đạo. Xin Thế Tôn khai thị cho chúng tôi để được tâm tánh sáng suốt, khỏi rơi vào tà kiến.

Phật bảo: A Nan ! Như Lai đã dùng phương tiện chỉ dạy như vậy mà ông còn chưa tỏ ngộ, lại lầm là "tự nhiên".

A Nan ! Nếu là "tự nhiên" thì ông thử chứng minh cái gì là "tự thể" của cái "tự nhiên" ấy ? Ông hãy xét kỹ tánh thấy nhiệm mầu lấy cái gì làm tự ? Lấy sáng làm tự hay lấy tối làm tự ? Lấy rỗng không làm tự hay lấy ngăn bít làm tự ?

A Nan ! Nếu lấy sáng làm tự lẽ ra không thấy được tối. Nếu lấy rỗng không làm tự lẽ ra không thấy được ngăn bít. Bởi vì nếu lấy sáng làm tự, thì đến khi tối tánh thấy đã diệt mất đi rồi làm sao thấy được tối… ?

Bạch Thế Tôn ! A Nan thưa, tánh thấy nhiệm mầu nầy, chắc không phải tự nhiên. Nay tôi phát minh tánh thấy do "nhân duyên" sanh. Xin Như Lai dạy cho, tôi phải hiểu thế nào cho hợp với tánh "nhân duyên" của Phật ?

Phật bảo: Ông nói tánh thấy, do "nhân duyên". Vậy tôi hỏi ông: Tánh thấy đó, nhân sáng mà thấy hay nhân tối mà thấy ? Nhân trống không mà thấy hay nhân ngăn bít mà thấy ? Nếu nhân sáng mà thấy thì lẽ ra không thấy được tối. Nhân tối thì cũng như vậy…

Ông bảo rằng cái thấy do "duyên" cũng không đúng. Duyên sáng mà thấy hay duyên tối mà thấy ? Duyên rỗng không mà thấy hay duyên ngăn bít mà thấy ? Nếu duyên ngăn bít mà thấy, lẽ ra không thấy được rỗng không. Duyên tối… cũng lại như vậy.

A Nan ! Ông nên biết: tánh thấy nhiệm mầu, sáng suốt, không phải "thân" không phải "duyên", không phải tự nhiên, không phải không tự nhiên, không có cái "phải", hay "không phải". Không có cái "là" hay "không là". Nó "rời" tất cả tướng; nhưng nó không ngoài tất cả pháp. Ông đem các danh tướng hí luận thế gian mà nhận thức phân biệt, chẳng khác lấy tay nắm bắt hư không chỉ thêm nhọc sức.

Bạch Thế Tôn ! A Nan thưa, cái tâm tánh nhiệm mầu, nếu không phải nhân duyên, cớ sao Đức Thế Tôn đã từng dạy các Tỳ-kheo, rằng tánh thấy có bốn duyên: Khoảng không, ánh sáng, tâm và mắt ?

Phật bảo: Đó là tôi nói về các tướng nhân duyên thế gian, không phải đệ nhất nghĩa.

A Nan ! Các người thế gian khi họ nói: "tôi thấy". Vậy thế nào họ gọi là thấy, thế nào gọi là không thấy ?

A Nan thưa: Người đời nhân ánh sáng mặt trời, mặt trăng hoặc đèn mà thấy các sắc tướng, họ gọi đó là thấy. Nếu không có các thứ ánh sáng đó, họ gọi là không thấy.

Phật bảo: Nếu lúc không có ánh sáng mà gọi là không thấy thì lẽ ra lúc đó không thấy tối. Nếu đã thấy tối thì đó chỉ là không sáng, chớ không phải không thấy. Nếu lúc tối, vì không thấy sáng mà gọi là không thấy thì lúc sáng không thấy tối cũng nên gọi là không thấy. Vậy thì sáng tối cả hai đều là không thấy !

A Nan ! Thực tế không phải vậy. Tối và sáng tự lấn át nhau, tánh thấy của ông chẳng có lúc tạm không. Do đó, biết rằng tối và sáng đều thấy. Và, khi thấy sáng, tánh thấy không phải sáng. Lúc thấy tối, tánh thấy không phải tối. Lúc thấy không, tánh thấy không phải hư không. Khi thấy bít, tánh thấy không phải tướng bít.

Ông nên biết rằng:

Tánh thấy trong khi thấy, tánh thấy đó không phải là tánh thấy bản thể. Tánh thấy đó còn cự ly đối với tánh thấy bản thể. Tánh thấy đó chưa là tánh thấy bản thể.

Với tầm vóc sâu xa nhiệm mầu của tâm tánh, ông lại đem những thuyết nhân duyên, tự nhiên, hòa hợp, không hòa hợp mà luận đàm, không sao đến được. Các ông là Thanh Văn hẹp hòi, nông cạn, không nhận được thật tướng thanh tịnh. Nay tôi chỉ dạy, ông khéo suy nghĩ, không được biếng trễ trên đường Bồ Đề !

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
* Vũ trụ Quan & Nhân sinh Quan PG.

TRỰC CHỈ

Tìm hiểu nguyên nhân của hiện tượng vạn hữu phát xuất từ đâu, thế giới và con người do gì sanh là vấn đề tư tưởng ở vào tầm cỡ trọng đại. Từ thượng cổ hun hút xa xưa, đến nay thế kỷ 20 gần hết mà vẫn chưa có được sự nhất trí nào của con người, dù là người cùng chủng tộc, ngữ ngôn trong một nước !

Đức Phật ra đời này đã tròn 25 thế kỷ. Trước Phật đã có, cùng thời với Phật cũng có nhiều dị phái triết gia, họ cũng đề ra chủ thuyết, cắt nghĩa vấn đề thế giới và con người, tức là vấn đề vũ trụ nhân sanh quan của họ. Chủ thuyết thì nhiều; mỗi mỗi giải thích trình bày theo sở kiến mình, thật đa dạng và phong phú. Có điều không mấy lạc quan là khi đúc kết các dòng tư tưởng, người ta thấy không có chủ thuyết nào giống với chủ thuyết nào. Nhóm phạm chí Sa tì Ca La chủ trương "minh đế". Phái ngoại đạo Đầu Khôi chủ trương "thần ngã". Phái ngoại đạo tự nhiên đề xướng thuyết "tự nhiên". Phái Đại Phạm tôn sùng Phạm Thiên. Sau này có các phái chủ trương "Thiên chủ tạo vật", đấng "A La", "Huyền thiên thượng đế"…

Với Thế Tôn ta, Đức Phật không chủ trương có một đấng "siêu nhiên", "siêu nhân" như vậy.

Đứng bên mặt hiện tượng vạn hữu, Phật dạy.

Vạn Pháp Nhơn Duyên Sanh.

Đứng bên mặt bản thể chơn như,

Phật dạy:

Phi nhơn duyên; Phi tự nhiên. Phi hòa; Phi hợp. Pháp nhĩ như thị.

Kế thừa truyền thống đó, 600 năm, sau Phật Niết Bàn, thuyết Chơn như duyên khởi được dựng lên, Mã Minh Bồ Tát đường hoàng tuyên bố…

"Nhất thiết chư pháp, tùng bản dĩ lai, ly văn tự tướng, ly ngôn thuyết tướng ly tâm duyên tướng, tất cánh bình đẳng, bất khả phá hoại, duy thị nhất tâm, cố danh chân như"…

 

Hoa Vô Tướng

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
9 Thg 4 2018
Bài viết
387
Điểm tương tác
168
Điểm
43
Hoa Bát Nhã vừa khai.- Biết được Vũ trụ Chẳng hai- Tức Tâm là Phật
Thiền Tông thường nói " Tức Tâm Tức Phật".

Đơn giản là nói Tâm tự Tâm chẳng nói Tâm của ai. Hành giả còn vọng chấp cứng danh tướng ta, người thì khó hiểu được.

Nếu biết " Tức Tâm tức Phật" thì sẽ nhận ra thể chân như vốn là bình đẳng, phàm phù cùng Phật chỉ là lập danh giáo hóa mà thôi. Danh ngôn cũng chỉ quyền lập mà thôi.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
* Như Huyễn.

Tư duy:

"Nhất thiết chư pháp, tùng bản dĩ lai, ly văn tự tướng, ly ngôn thuyết tướng, ly tâm duyên tướng, tất cánh bình đẳng, bất khả phá hoại, duy thị nhất tâm, cố danh chân như"…
(hết trích)

Câu trên là của Tổ Mã Minh trong Đại thừa khởi tín luận. Ý là:

+ "Tất cả các Pháp" là gồm cả con người và vạn vật, là Nhân Sinh và Vũ trụ...

+ " tùng bản dĩ lai," nghĩa là từ vô thỉ đến nay và mãi mãi đến vô chung, vĩnh viễn siêu thời gian.

+ "ly văn tự tướng, " Tánh của nó lìa tướng văn tự, nghĩa là không thể dùng văn tự, chữ viết nào.- dù là Anh, Pháp, Tàu, việt v.v... Ấn Độ, hay Kampuchia v.v... mà có thể diễn đạt được Thật tướng của nó.

+ "ly ngôn thuyết tướng" nghĩa là lìa tướng nói năng dù bất cứ là ngôn ngữ của nước nào, cho là văn minh cách mấy.- cũng không thể diễn đạt được Thật tướng của nó.

+ " ly tâm duyên tướng" Nó lìa tướng duyên lự, suy nghĩ phân biệt, suy lường của Ý thức.- Càng suy lường càng xa vời thật tánh.

+ "tất cánh bình đẳng" Nghĩa là Tánh chất Thật, rốt ráo chung cùng của Các Pháp là Thanh Tịnh (rốt ráo Thanh tịnh không có tham sân si v.v..). Vì các Pháp vốn Không Tánh , các Pháp do duyên hòa hợp sanh, chỉ là HUYỄN.- Nên Bản Thể là Bình Đẳng.- BÌNH ĐẲNG TÁNH KHÔNG.

+ "bất khả phá hoại," Vì các Pháp "Bình đẳng tánh Không" nên có 8 điều Không:

Chẳng sanh cũng chẳng diệt
Chẳng thường cũng chẳng đoạn
Chẳng một cũng chẳng khác
Chẳng đến cũng chẳng đi.

(Trung quán Luận)
Như kinh kim cang Bát Nhã nói:

Tu Bồ Đề! Nếu có người nói Như Lai hoặc đến, hoặc đi, hoặc ngồi, hoặc nằm, người ấy không hiểu nghĩa ta nói. Vì sao thế? Như Lai, là không từ chỗ nào đến, cũng không chỗ nào đi, nên gọi là Như Lai.

Như Lai là hoàn toàn tánh Không, mà tánh Không thì không trụ ở đâu cả, ở thời gian nào cả, nên không từ chỗ nào đến, cũng không chỗ nào đi. Có trụ ở đâu, rồi có đến có đi, đó là những cái hữu hạn, đó là sanh tử, đó là chúng sanh.
(hết trích)

Vì Các Pháp đều Bình Đẳng Tánh Không.- Nên Thật tướng các Pháp đều là NHƯ.

* Lưu Ý:

- Ở trên nói các Pháp là "HUYỄN" tức là nói hiện tượng các Pháp là Huyễn.

- Ở dưới nói các Pháp là "NHƯ". - tức là nói Bản Thể các Pháp là NHƯ.

Hiện tượng không lìa Bản Thể, như sóng không thể lìa nước.- HUYỄN cũng không lìa NHƯ.

+ "bất khả phá hoại" Vì tánh chất Như Huyễn của các Pháp, nên không ai làm sao có thể phá hoại, có thể tiêu diệt, có thể làm mất đi các Pháp. hay nói cách khác: Các Pháp đủ duyên thì hiện, mất duyên thì ẩn.- Muôn đời vẫn như thế. Kinh Pháp hoa Phật dạy:

"Cho nên Xá-lợi-phất!
Ta vì bày phương tiện
Nói các đạo dứt khổ
Chỉ cho đó Niết-bàn
Ta dầu nói Niết-bàn
Cũng chẳng phải thiệt diệt
Các pháp từ bổn lai
Tướng thường tự vắng lặng
Phật tử hành đạo rồi
Đời sau được thành Phật
"


Kinh Hoa Nghiêm Phật dạy:

Quan-sát nơi các pháp
Ðều không có tự-tánh
Tướng nó, vốn sanh-diệt
Chỉ là danh thuyết giả.
Tất cả pháp vô-sanh
Tất cả pháp vô-diệt
Nếu hiểu được như vậy
Chư Phật thường hiện tiền.

(hết trích)

+ "duy thị nhất tâm, cố danh chân như".- Chỉ duy Nhất Tâm. tức là Chỉ cho Chân Như Tâm.- Cái Tâm Uyên Nguyên tỉnh Lặng, tức Chân Tâm thường trú, Thể tánh tịnh minh của chính mình.- Gọi là đó là CHÂN NHƯ.

* Phương tiện để tiếp cận Chân Như Tâm là Như Huyễn Tam ma Đề (Pháp Tam muội- thiền định).- Mà Đức Phật đã dạy ở kinh thủ lăng Nghiêm:

...Tự tâm thủ tự tâm
Phi huyễn thành huyễn pháp
Bất thủ vô phi huyễn
Phi huyễn diệt bất sanh
Huyễn pháp vân hà lập
Hữu thị Diệu Liên Hoa
Kim cang vương bảo giác
Như huyễn tam ma đề
Đờn chỉ siêu vô học
Thử A Tì đạt ma
Thập phương bạt già phạm
Nhất lộ Niết Bàn môn...


dịch nghĩa:

Tự tâm mình là Phật nhưng còn chấp lấy tìm cầu tâm, cầu Phật ở bên ngoài
Nên các pháp vốn chẳng phải huyễn (Chơn) điều trở nên pháp huyễn (Vọng).
Nếu không chấp trước và tâm thanh tịnh rồi
Chơn còn không có thì làm sao có cái gọi là Vọng?
Quán được như vậy gọi là “Như Huyễn Tam Ma Đề” nghĩa là pháp tu thiền, quán vạn pháp duyên sanh như huyễn.
Có được pháp tu này quý báu và chắc chắn ví như vua của các loài kim cương
Là thanh tịnh như Diệu Liên Hoa
Khảy ngón tay trong một sát na liền vượt qua hàng vô học (bật A La Hán trở lên)
Khắp mười phương Chư Phật cũng đều dựa vào pháp tu quán này
Để cùng đi trên con đường đến thành đô Niết Bàn!!


Trực chỉ:

1/ NHƯ HUYỄN TAM MA ĐỀ (xác định rõ tánh chất vạn pháp duyên sanh như huyễn).
2/ Thành tựu NHƯ HUYỄN TAM MA ĐỀ bấy giờ hành giả chợt bừng tỉnh thấy rõ : "thân, tâm, căn, trần, thức, giới, đại đều một màu thanh tịnh".
Rồi thấy rõ : ngu uẩn, thập nhị xứ, thập bát giới, nhị thập ngũ hữu thanh tịnh. Rồi thập lực, tứ vô sở uý, thập bát bất cọng pháp, tam thập thất trợ đạo phẩm thanh tịnh cho đến tám muôn bốn ngàn pháp tồng trì môn đều thanh tịnh. Và lúc bấy giờ hành giả tỏ ngộ chân lý : "TẤT CẢ LÀ THẬT TƯỚNG" .
3/ Thành tựu NHƯ HUYỄN TAM MA ĐỀ, về đến nhà Viên Giác hành giả biết rõ vì sao căn, trần, thức, đại không hoại diệt nhau.
4/ Thành tựu Tam Ma Đề cũng tức là về đến nhà VIÊN GIÁC, bấy giờ hành giả biết rõ vì sao Bố tát không nhàm chán sanh tử, không mong chứng Niết bàn… không kính người trì giới, không khinh người trái phạm…
5/ Thành tựu NHƯ HUYỄN TAM MA ĐỀ, hành giả chợt thấy rằng mình chẳng có tu và cũng chẳng có thành tựu. Vì lẽ trong Viên Giác thanh tịnh không có tướng hai. Bấy giờ thấy rõ trăm ngàn muôn ức a tăng kỳ, bất khả thuyết hằng hà sa thế giới chư Phật trong mười phương như hoa đốm trong hư không loạn khởi loạn diệt, bất tức, bất ly… và chợt thấy rõ rằng :
"CHÚNG SANH XƯA NAY LÀ PHẬT".
"SANH TỬ NIẾT BÀN NHƯ GIẤC MỘNG ĐÊM QUA".

(trích Trực Chỉ của HT. Thích Từ Thông)


Kính các Bạn: Tóm lại Nhân Sinh và Vũ trụ Quan của PG là TẤT CẢ PHÁP NHƯ HUYỄN.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
* DO NHẬN THỨC SAI LẦM KHIẾN CHO CON NGƯỜI BỎ MẤT BẢN TÂM THANH TỊNH BẢN GIÁC THƯỜNG TRÚ CỦA MÌNH(^)

Kinh văn:

Ông A Nan bạch Phật: Thế Tôn đã vì chúng tôi, chỉ dạy về nhân duyên, tự nhiên, hòa hợp và không hòa hợp. Tâm chúng tôi còn chưa tỏ ngộ. Nay nghe Phật dạy: Tánh thấy trong khi thấy, tánh thấy đó không phải tánh thấy bản thể… làm cho chúng tôi càng thêm mờ mịt. Cúi xin Phật thương xót bố thí tuệ nhãn, khai thị cho chúng tôi về bản tâm thanh tịnh, bản giác thường trú.

Phật bảo: A Nan ! Ông được năng khiếu nhớ lâu, nhưng cái đó chỉ giúp cho ông phần học rộng. Đối với pháp Chỉ Quán thẩm sâu mầu nhiệm ông còn chưa rõ. Tôi sẽ vì ông chỉ bày và cũng khiến cho những người hữu lậu tương lai được quả Bồ Đề.

A Nan ! Tất cả chúng sanh trong thế gian, luân hồi sanh tử do hai thứ nhận thức sai lầm kết thành nguyên nhơn lưu chuyển.

Một, nhận thức sai lầm biệt nghiệp. Ví như người bệnh mắt hóa lòa, ban đêm trông ngọn đèn thấy có vầng tròn năm màu. Cái vầng tròn năm màu vốn không thực có đối với người không bị bệnh lòa. Nhưng nó không phải không có đối với người mắc bệnh. Vầng tròn ấy không phải màu sắc của cái thấy hay của đèn. Nó không tự sanh, cũng không phải do đèn hay do mắt đã sanh. Nguyên nhơn của vầng tròn, do mắt bệnh hóa lòa. Cái vầng tròn và cái thấy vầng tròn đều là bệnh lòa. Nhận thấy được bệnh lòa thì tánh thấy đó không bệnh. Do đó, không nên nói cái vầng tròn năm màu là của đèn hay của cái thấy. Cũng không được nói: Rằng không phải của đèn hay không phải của cái thấy. Lại ví như vành trăng thứ hai. Nó không phải trăng mà cũng không phải bóng. Vành trăng đó vốn không có, nên không thể gán cho nó "phải" hay là "không phải" mặt trăng. Mặt trăng thứ hai có là do động tác của ngón tay ấn mắt. Người trí không nên bảo: Đó là hình trăng, hay không phải hình trăng. Đó là cái thấy hay ra ngoài cái thấy. Vầng tròn năm màu cũng vậy. Nó do bệnh lòa thành có. Gọi nó là của đèn hay của cái thấy đều là sai. Ráng sức đấu tranh, rằng không phải của đèn hay không phải của cái thấy càng thêm hí luận.

Hai, nhận thức sai lầm cộng nghiệp. A Nan ! Cõi Diêm phù đề, trừ nước biển bao la, trong đó đất bằng có 3.000 châu. Ở giữa có một châu lớn. Chung quanh có đến 2.300 nước. Châu nhỏ chỉ có hai nước thôi. Những chúng sanh trong một nước gặp phải năm thời tiết không thuận hòa thì cùng thấy những hiện tượng bất thường: Hoặc thấy sao phướng, sao sa, và chỉ có những người trong nước đó thấy, chúng sanh trong nước kế cận thì không thấy và cũng không nghe.

A Nan ! Nay tôi đem hai việc đó kết hợp so sánh làm thí dụ để chỉ cho ông.

A Nan ! Cái nhận thức sai lầm biệt nghiệp của chúng sanh, ví như người bệnh mắt, trông thấy ngọn đèn hiện ra vầng tròn năm màu, tưởng là cảnh thật trước mắt. Sự thật vầng tròn do bệnh lòa của người đau mắt tạo thành. Lòa là bệnh của cái thấy, không phải sắc tướng tạo ra. Cái thấy, thấy được bệnh lòa cái thấy đó vốn không có bệnh. Cũng vậy, hiện nay ông dùng con mắt xem thấy núi sông cảnh giới và các chúng sanh đều do bệnh lòa vô thỉ tạo thành. Cái thấy và cái bị thấy không thể tách rời ra. Do vô minh, chúng sanh vọng kiến thấy tiền cảnh in tuồng là "vật đối lập" với mình. Sự nhận thức sai lầm đó do bệnh lòa NĂNG KIẾN, SỞ KIẾN của tâm tánh giác minh thanh tịnh. Chừng nào nhận thức rằng: Cái thấy, thấy vầng tròn năm màu là bệnh, thì sự nhận thức đó vốn không có bệnh. Đó là ý nghĩa thẩm sâu: "Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến du ly kiến, kiến bất năng cập". Bản chất của tánh thấy là: tánh kiến giác minh, kiến tinh minh giác, thanh tịnh bản nhiên, chu biến pháp giới.

A Nan ! Do nhận thức sai lầm nghiệp riêng, người bệnh lòa thấy ngọn đèn có vầng tròn năm màu. Do nhận thức sai lầm nghiệp chung, chúng sanh cùng thấy những hiện tượng bất thường. Do nhận thức sai lầm vô thỉ, tất cả chúng sanh nhận lấy các bệnh: Tham, sân, si… Ta, người, thương ghét… để rồi nhận lấy sanh tử khổ đau của các nguyên nhân đau khổ đó. Nếu xa rời các bệnh duyên "năng", "sở" thì chúng sanh mười phương đồng chung bản thể cùng một tâm tánh nhiệm mầu. Tất cả đều viên mãn tánh Bồ Đề trong bản giác thường trú của mình.
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
Giải thích thuật ngữ,

* Bản giác & Thỉ Giác.

Kinh Văn:
Ông A Nan bạch Phật: Thế Tôn đã vì chúng tôi, chỉ dạy về nhân duyên, tự nhiên, hòa hợp và không hòa hợp. Tâm chúng tôi còn chưa tỏ ngộ. Nay nghe Phật dạy: Tánh thấy trong khi thấy, tánh thấy đó không phải tánh thấy bản thể… làm cho chúng tôi càng thêm mờ mịt. Cúi xin Phật thương xót bố thí tuệ nhãn, khai thị cho chúng tôi về bản tâm thanh tịnh, bản giác thường trú.
(hết trích)

Thế nào là Bản Giác ?

+ Thủy Giác:qua sự tu tập hậu thiên, lần lượt phá trừ những mê hoặc từ vô thủy đến nay, dần dần hiểu biết mà mở tỏ được nguồn tâm tiên thiên, như thế gọi là Thủy giác;

Theo từ điển Phật học online:

bản giác có nghĩa là:

+ Bản Giác: (本覺) Chỉ tính giác sẵn có. Đối lại với Thủy giác.

+ Còn cái Giác thể tiên thiên vốn có mà bản tính nó từ xưa đến nay vẫn trong sạch sáng suốt, không bị phiền não mê vọng nhiễm ô chi phối, ảnh hưởng, thì gọi là Bản giác. Tư tưởng hai giác Bản, Thủy, trong luận Đại thừa khởi tín của Hiển giáo, luận Thích Ma ha diễn của Mật giáo và trong giáo nghĩa của tông Thiên thai Nhật bản đều có trần thuật về nghĩa, nhưng về ý thú thì lại bất nhất. Nay thuật khái quát như sau: I. Thuyết của luận Đại thừa khởi tín: chủ trương vạn hữu đều về một tâm, và trong một tâm lập thành Tâm chân như môn, và Tâm sinh diệt môn, . 1. Đứng về mặt Tâm chân như môn mà nói, thì tâm là sự tồn tại trong sạch tuyệt đối chẳng hai, siêu việt tất cả tướng sai biệt, vốn không có cái tên Bản giác, Thủy giác. 2. Nếu đứng về mặt Tâm sinh diệt môn mà nói, thì vô thủy đến nay, tâm bị vô minh làm nhơ nhuốm, nên sinh ra các tướng sai biệt, vì vậy, trong thức Alêda mới có Bản giác, Thủy giác khác nhau. Chân như gặp duyên vô minh mà sinh khởi các hiện tượng mê vọng, trong mê vọng, tâm hoàn toàn mờ mịt chẳng biết, gọi là Bất giác; nhưng cái bản tính giác thể của tâm không hề bị thương tổn, vẫn thường đủ tướng bình đẳng và bao hàm cái đức đại trí tuệ sáng suốt, là cái thể thanh tịnh, xa lìa tất cả tâm niệm sai biệt của thế tục, tức là tính giác ngộ sẵn có, cho nên gọi là Bản giác. Tâm đã bị vọng nhiễm, nếu biết dựa vào sức huân tập của chân tâm bản giác bên trong (tác dụng của bản giác bên trong, gọi là bản giác nội huân) và sức huân tập bên ngoài (tức chỉ giáo pháp làm trợ duyên bên ngoài) mà phát tâm tu hành, thì có thể dần dần đánh thức tính giác, xa lìa vô minh, tìm về bản chân, đến lúc dứt hết vọng nhiễm bất giác mà hợp làm một với bản giác để trở thành cái đại giác Thủy, Bản chẳng hai, đó tức là cảnh giới đồng với chư Phật. Quá trình từ lúc bắt đầu phát tâm tu hành cho đến giai đoạn đạt được trí tuệ trở thành đại giác ấy, gọi là Thủy giác. Về mối quan hệ và tác dụng hỗ tương giữa Bản giác và Thủy giác nói trên đây, trong Đại thừa khởi tín luận nghĩa kí quyển 3, ngài Pháp tạng đã bàn một cách khá rõ ràng và qui kết là: y vào Bản giác mà sinh Bất giác, y vào Bất giác mà khởi Thủy giác, lại y vào Thủy giác mà phá trừ Bất giác để trở về tính thể Bản giác. Như thế thì biết, hai giác Thủy, Bản tuy có mối quan hệ tương đối, nhưng Thủy giác rốt ráo cũng đồng như Bản giác, cho nên, Thủy, Bản chẳng phải hai mà tuyệt đối bình đẳng, và toàn nhiên siêu việt phạm vi của tính đối lập. Nếu phối với các loại giai đoạn tu hành của Bồ tát Đại thừa, thì có thể chia Thủy giác làm bốn vị thứ: a. Bất giác....., chỉ những người thuộc giai vị Thập tín (vị Ngoại phàm), tuy đã biết cái nhân của nghiệp ác sẽ đưa đến quả khổ, đồng thời, đã xa lìa nghiệp ác, nhưng vẫn chưa sinh khởi trí đoạn hoặc, cho nên gọi là bất giác. b. Tương tự giác , chỉ những người Nhị thừa Thanh văn, Duyên giác và các Bồ tát giai vị Thập trụ, Thập hành, Thập hồi hướng..., tuy đã xa lìa ngã chấp, hiểu rõ lí Ngã không, nhưng vẫn chưa lìa bỏ được niệm phân biệt pháp chấp, đối với lí chân như, chỉ mới được cái pháp vị phảng phất ang áng như thế thôi, cho nên gọi là Tương tự giác. c. Tùy phần giác........, chỉ các Bồ tát từ Sơ địa trở lên đến Cửu địa, đã xa lìa pháp chấp, biết rõ lí tất cả pháp đều do nơi tâm thức biến hiện; đối với lí chân như Pháp thân, có thể tùy sự tu chứng từng cảnh địa chuyển lên, cứ mỗi địa ngộ thêm được một phần lí chân như, cho nên gọi là Tùy phần giác. d. Cứu kính giác........, chỉ các Bồ tát Thập địa, đã hoàn thành nhân hành, dùng trí tuệ một niệm tương ứng, biết rõ nguồn gốc đầu tiên của tâm, đồng thời, xa lìa những niệm nhỏ nhiệm và thấy suốt tâm tính, cho nên gọi là Cứu kính giác. Từ đó đến quả Phật thì thành tựu được đại giác Thủy, Bản chẳng hai, tuyệt đối bình đẳng. Bốn giai vị kể trên được gọi là Thủy giác tứ vị, hoặc là Phản lưu (ngược dòng) tứ vị. Bởi vì, cái dòng trôi chảy của mê giới không ngoài các tướng sinh, trụ, dị, diệt của tâm chúng sinh, theo nghĩa ấy, do thứ tự phản lưu hoàn diệt, tức theo thứ tự ngược lên mà hiểu bốn tướng, cho nên được bốn vị. Tức Bất giác là hiểu biết được tướng diệt của tâm chúng sinh, Tương tự giác là hiểu được tướng dị của tâm, Tùy phần giác là hiểu được tướng trụ của tâm, cho đến Cứu kính giác là biết được tướng sinh của tâm. Cái gọi là ngược dòng, tức là ngược dòng sống chết mà hướng tới cái phương hướng trở về diệt của Bồ đề giác ngộ. Lại về tướng của Bản giác, có thể dùng hai nghĩa tùy nhiễm và tính tịnh để thuyết minh, về mặt tác dụng, thì dùng Tùy nhiễm bản giác để thuyết minh, về mặt thể đức, thì dùng Tính tịnh bản giác để thuyết minh. a. Tùy nhiễm bản giác..........., dựa vào phiền não nhiễm ô để nói rõ cái tác dụng của Bản giác, lại chia làm hai: một là tướng trí tịnh, tức y vào trí tuệ Thủy giác mà dứt hết vọng nhiễm bất giác để trở về tướng Bản giác xưa nay vốn trong sạch, gọi là Trí tịnh tướng; hai là tướng nghiệp bất tư nghị, tức đã khôi phục Thủy giác, dứt hết vọng nhiễm mà hiện tính đức Bản giác, rồi tùy căn khí của chúng sinh mà tương ứng một cách tự nhiên để làm các việc lợi tha, không gián đoạn. b. Tính tịnh bản giác............, tức là thể Bản giác, tính nó xưa nay vốn thanh tịnh, hiển hiện vô hạn tác dụng. Nếu dùng gương để thí dụ, thì có thể chia làm bốn cái gương để nêu tỏ bốn nghĩa lớn của Tính tịnh bản giác. Đó là: a. Như thực không kính , có nghĩa cũng như mặt gương sạch trống không, chẳng phản chiếu bất cứ vật gì bên ngoài, tâm thể của Tính tịnh bản giác đã tách lìa mọi tâm niệm, tự nó đã xa rời tất cả tướng cảnh giới tương ứng với tâm, rất mực thanh tịnh. b. Nhân huân tập kính, có nghĩa cũng như mặt gương chẳng không, phản chiếu tướng cảnh giới một cách như thực; tính nó chẳng ra, chẳng vào, không mất, không hoại, tâm thể thường trụ, là tính chân thực của hết thảy pháp, tự nó lại đầy đủ tính công đức vô lậu, dùng tính công đức vô lậu ấy làm nhân,.. để huân tập chúng sinh, vì thế gọi là Nhân huân tập kính.c. Pháp xuất li kính , có nghĩa cũng như lau hết bụi bậm khiến mặt gương trắng sạch, tính giác đã từ trong phiền não chướng, trí chướng thoát ra rồi thì tách lìa cái tướng nhiễm tịnh hòa hợp, chỉ còn thuần là sáng láng trong sạch, cho nên gọi là Pháp xuất li kính. d. Duyên huân tập kính , có nghĩa cũng như mặt gương đã được lau sạch bụi bậm rồi, người ta có thể dùng để soi muôn tượng, trí tính Bản giác đã thuần tịnh, tức có thể soi khắp tâm chúng sinh mà tùy niệm thị hiện, trở thành sức duyên ngoài huân tập chúng sinh siêng tu thiện căn, phát khởi trí Thủy giác, cho nên gọi là Duyên huân tập kính. Trên đây dùng gương để thí dụ bốn nghĩa lớn của Tính tịnh bản giác, gọi tắt là bốn gươ ng đó, cái ý trong hai gương trước cho biết Bản giác còn tại triền, (còn bị trói buộc). Triền, hàm ý là phiền não trói buộc. Tại triền, có nghĩa là, tâm tự tính thanh tịnh Như lai tạng còn ẩn mất trong phiền não trói buộc, ngược lại, từ trong sự trói buộc thoát ra mà hiển hiện Pháp thân, thì gọi là Xuất triền, . Là vì Bản giác tuy bị phiền não trói buộc, nhưng tự tính nó trước sau vẫn thanh tịnh vô nhiễm. Luận Đại thừa khởi tín, khi giải thích về Tâm chân như môn, đặc biệt nêu hai nghĩa Như thực không và Như thực bất không, cũng giống như thế, Bản giác tại triền cũng có hai nghĩa Không (về mặt lìa tướng) và Bất không (về mặt đầy đủ các công đức). Cái ý trong hai gương sau cho biết Bản giác đã Xuất triền, có nghĩa là Bản giác đã tách rời phiền não cấu nhiễm mà thuần là trong sạch sáng láng, đồng nghĩa với trí tịnh tướng và bất tư nghị nghiệp tướng của Tùy nhiễm bản giác. Còn chia làm hai gương nhân huân và duyên huân, tức chỉ nhân trong và duyên ngoài của việc trở về với trí thể Bản giác; cũng tức là lấy sự tịnh huân của Bản giác bên trong làm nhân mà khởi Thủy giác (nhân huân), đồng thời, Bản giác cũng lại là sức huân duyên ngoài (duyên huân) của sự sinh khởi Thủy giác. [X. kinh Bồ tát địa trì Q.1 phẩm Chủng tính; luận Phật tính Q.2 phẩm Tam nhân; Đại thừa trang nghiêm kinh luận Q.6; Giải thâm mật kinh sớ Q.3; Khởi tín luận sớ bút tước kí Q.3]. II. Thuyết của luận Thích ma-ha-diễn quyển 3. Giác có bốn nghĩa là Bản giác, Thủy giác, Chân như và Hư không, gọi là bốn vô vi; đối với bốn môn này đều chia làm hai thứ Thanh tịnh và Nhiễm tịnh để thuyết minh. Trong đó, Bản giác thanh tịnh, là chỉ Pháp thân từ vô thủy đến nay vốn có vô lượng hằng hà sa số công đức, thường hằng sáng sạch; còn bản giác nhiễm tịnh thì chỉ tâm tự tính thanh tịnh, chịu sự huân tập của vô minh mà trôi dạt trong dòng sống chết. Thủy giác thanh tịnh là chỉ tính trí vô lậu xa lìa hết thảy vô minh, không chịu sự huân tập của vô minh; còn Thủy giác nhiễm tịnh thì chỉ Thủy giác khi chưa được rốt ráo thì vẫn còn bị vô minh huân tập khiến cho ô nhiễm. Vị khai tổ của tông Chân ngôn Nhật bản là Không hải rất coi trọng thuyết của luận Thích ma ha diễn, đã dẫn dụng rất nhiều trong các trứ tác của sư. Do đó, tông Chân ngôn của Nhật bản bèn đứng trên lập trường tất cả sự tồn tại bản lai là Phật mà lập thành chủ trương Bản hữu bản giác môn, và lấy Thai tạng giới làm Bản giác, Kim cương giới làm Thủy giác mà chủ trương thuyết hai bộ Kim cương, Thai tạng Hai mà chẳng Hai. (xt. Tứ Vô Vi). III. Tông Thiên thai Nhật bản: đem hai giác Thủy, Bản và hai môn Bản, Tích trong kinh Pháp hoa kết hợp làm một, gọi Bản môn là pháp môn Bản giác hạ chuyển (từ quả về nhân), Tích môn là pháp môn Thủy giác thượng chuyển (từ nhân vào quả). Vị Khai tổ của tông Thiên thai Nhật bản là Tối trừng, khi đến Trung quốc học Phật (thời nhà Đường), theo học sư Đạo thúy, thừa tập pháp môn Bản giác, lấy Ma ha chỉ quán làm trung tâm mà nghiên cứu học tập các giáo lí Nhất tâm tam quán, Cửu thức tu hành, Tòng quả hướng nhân, Quán tâm vi bản v.v... Tối trừng còn theo sư Hành mãn thừa tập pháp môn Thủy giác, lấy Pháp hoa huyền nghĩa, Pháp hoa văn cú làm trung tâm mà nghiên cứu học tập các giáo lí Tứ giáo ngũ thời, Lục thức tu hành, Tòng nhân hướng quả, Giáo tướng vi bản v.v... Từ thời trung cổ trở đi, dòng Tuệ tâm chuyên truyền bá pháp môn Bản giác, dòng Đàn na thì truyền bá pháp môn Thủy giác.

(hết trích)

P6.jpg


Trong kinh Pháp Hoa. Đức Phật có dạy trong Phẩm Hiện Bảo Tháp về ẩn dụ Bản giác là khi đức Phật mở ra tháp Đa Bảo để đức Phật Quá Khứ Đa bảo hiện ra (Bản giác) và đức Phật Thích Ca (Thủy giác) cùng nhau ngồi vào Tháp Đa Bảo.- Đó là Thủy giác và Bản giác gặp nhau.
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
Giải thích thuật ngữ.

* Hữu lậu.

kinh văn:

Phật bảo: A Nan ! Ông được năng khiếu nhớ lâu, nhưng cái đó chỉ giúp cho ông phần học rộng. Đối với pháp Chỉ Quán thẩm sâu mầu nhiệm ông còn chưa rõ. Tôi sẽ vì ông chỉ bày và cũng khiến cho những người hữu lậu tương lai được quả Bồ Đề.
(hết trích)

Thế nào là hữu lậu ?
Danh từ lậu hoặc không xa lạ gì lắm đối với quý vị hay tụng đọc kinh văn hoặc hay nghe giảng, và nghiên cứu. Lậu là tươm chảy ra của uế nhiễm, và hoặc là si mê. Như vậy, lậu hoặc là sự tươm chảy của những uế nhiễm khiến bị si mê, lầm lạc. Còn pháp có nghĩa là tất cả những hiện tượng hay đối tượng xảy ra, không phải là pháp (Dharma), những lời Phật dạy. Lậu hoặc có 4 loại là dục lậu, hữu lậu, kiến lậu, và vô minh lậu. Nhưng trong bài này, chúng tôi chỉ xin tập trung vào hữu lậu mà thôi.

Hòa Thượng Thiện Siêu, trong ‘Tâm Lý Phật Giáo Trong Tây Du Ký,’định nghĩa hữu lậu như sau: ‘Hiện tượng nào có khuynh hướng muốn bám víu, chấp thủ, mong muốn, tham luyến …đối với sự tương tục tồn tại, sinh hữu của nó. Đây được gọi là Hữu Lậu. Hữu lậu…được biểu thị bằng khuynh hướng muốn bám chắc vào, nhưng lúc này đối tượng của nó là sanh hữu hay sự tiếp tục hiện hữu’ Như vậy, pháp hữu lậu là những hiện tượng, hay đối tượng khiến mình sinh uế nhiễm, phiền não, với điều kiện là tâm mình bị dính mắc vào sự sinh, hữu của hiện tượng, hay đối tượng đó. Ngoài danh từ hữu lậu, đôi khi chúng ta cũng có nghe danh từ vô lậu. Nếu hữu lậu là tâm bị dính mắc sự uế nhiễm, phiền não, thì vô lậu là không còn mắc kẹt vào phiền não, uế nhiễm nữa. Đương nhiên, uế nhiễm, phiền não trên thế gian này sẽ không bao giờ hết. Nhưng vấn đề là mình có bị dính mắc hay không!

Nhan nhản trong cuộc sống mình nhìn đâu cũng thấy pháp hữu lậu, nào là tiền tài, vật chất, sức khoẻ, gia đình, con cái, bà con ruột thịt, bạn bè, v.v… với điều kiện là mình còn vướng mắc phiền não với những chuyện này. Vì vậy mà nhiều người cho rằng ‘tu là cõi phúc, tình là giây oan.’ Nói nôm na cho dễ hiểu: hữu lậu là phiền não, pháp hữu lậu là những hiện tượng hay đối tượng khiến mình sinh phiền não. Sở dĩ, có phiền não phát sanh vì mình, bằng cách nào đó, để cho những hoàn cảnh ô nhiễm, hay đối tượng bất tịnh từ từ tươm chảy, xâm nhập vào tâm và bắt đầu sanh khởi. Nó bao gồm luôn những thứ mà mình ghét bỏ, nhưng cứ giữ trong tâm. Nói tóm lại, hễ khi nào mình còn lưu giữ những pháp bất tịnh, ô nhiễm trong tâm thì phiền não sẽ vẫn tiếp tục sanh khởi. Đương nhiên là những đối tượng thanh tịnh, an lạc sẽ đem đến những pháp vô lậu......
Pháp hữu lậu tế là những gì mình không thấy và hoạt động rất âm thầm, vi tế, như khi mình chỉ nghĩ đến một việc gì, hay ai đó là tức thì phiền não sanh ra ngay, không cần phải thấy.

Vì pháp hữu lậu chỉ phát sanh khi có sự vướng mắc trong tâm nên cho dù có đối tượng phiền não xuất hiện, nếu mình không dính mắc thì đó không còn là pháp hữu lậu nữa, mà biến thành vô lậu. Nên có câu chuyện về một vị thầy tu cõng một cô gái trẻ đẹp qua con suối lớn để về nhà. Có một sư đệ đi theo vị thầy này, người sư đệ rất sửng sốt khi thấy sư huynh mình làm vậy. Nhưng nể bụng không dám nói. Cho đến khi về đến chùa, vị sư đệ không nhịn được nữa, liền trách sư huynh sao lại phạm giới, cõng cô gái qua suối. Vị sư huynh cười xòa, bảo sư đệ rằng: ‘Anh đã để cô ta ở suối đó rồi, sao em còn mang cô ấy về chùa!’ Thế mới biết, khi tâm bị vướng mắc thì pháp hữu lậu, tức phiền não liền sanh......
Như vậy, mình có thể nói rằng pháp hữu lậu và vô lậu tuy hai mà một vì hễ tâm còn dính mắc thì đó là hữu lậu; bằng không bị dính mắc thì đó là vô lậu. Vậy, một hiện tượng, hay một đối tượng nào mà không thể khiến mình sinh ra đau khổ, phiền não thì đó không thể gọi là hữu lậu được, mà phải gọi là vô lậu! Chẳng hạn như khi bố thí, nếu chúng ta còn phân biệt nhiều ít thì sự bố thí đó còn trong vòng hữu lậu. Cho nên còn có tên gọi khác là phước hữu lậu. Có nghĩa là vẫn còn mang lại phiền não, dù mình đang làm việc tốt. Còn khi mình bố thí mà tâm không phân biệt, không mong cầu thì đó là phước vô lậu. Cũng như bố thí ba-la-mật, không có người cho, người nhận, và vật thí nên tâm không vướng mắc, nên không sanh phiền não được.

(theo Thiện Ý https://thuvienhoasen.org/a23059/phap-huu-lau)

Tất cả chúng sanh từ phàm phu gọi là hữu lậu. tu hành chứng từ các quả Tư Đà Hoàn, tu Đà Hàm, đến A na Hàm vẫn còn là hữu lậu. Chỉ khi chứng quả A la Hán mới được gọi là Vô lậu.
(hết trích)
Phần sau của Kinh Phật Thuyết Tứ Thập Nhị Chương này có dạy rằng:
"Thận vật tín nhữ ý, nhữ ý bất khả tín."
(Hãy thận trọng, chớ tin nơi ý nghĩ của ông; ý nghĩ của ông chẳng thể tin được.)

Đức Phật cũng dạy: "Phải chứng được quả A la Hán, thì mới có thể tin vào Tâm ý của mình".- Vì A la Hán là Vô Lậu-.


 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
* Năng kiến và sở kiến.

Kinh văn:

A Nan ! Cái nhận thức sai lầm biệt nghiệp của chúng sanh, ví như người bệnh mắt, trông thấy ngọn đèn hiện ra vầng tròn năm màu, tưởng là cảnh thật trước mắt. Sự thật vầng tròn do bệnh lòa của người đau mắt tạo thành. Lòa là bệnh của cái thấy, không phải sắc tướng tạo ra. Cái thấy, thấy được bệnh lòa cái thấy đó vốn không có bệnh. Cũng vậy, hiện nay ông dùng con mắt xem thấy núi sông cảnh giới và các chúng sanh đều do bệnh lòa vô thỉ tạo thành. Cái thấy và cái bị thấy không thể tách rời ra. Do vô minh, chúng sanh vọng kiến thấy tiền cảnh in tuồng là "vật đối lập" với mình. Sự nhận thức sai lầm đó do bệnh lòa NĂNG KIẾN, SỞ KIẾN của tâm tánh giác minh thanh tịnh. Chừng nào nhận thức rằng: Cái thấy, thấy vầng tròn năm màu là bệnh, thì sự nhận thức đó vốn không có bệnh. Đó là ý nghĩa thẩm sâu: "Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến du ly kiến, kiến bất năng cập". Bản chất của tánh thấy là: tánh kiến giác minh, kiến tinh minh giác, thanh tịnh bản nhiên, chu biến pháp giới.

A Nan ! Do nhận thức sai lầm nghiệp riêng, người bệnh lòa thấy ngọn đèn có vầng tròn năm màu. Do nhận thức sai lầm nghiệp chung, chúng sanh cùng thấy những hiện tượng bất thường. Do nhận thức sai lầm vô thỉ, tất cả chúng sanh nhận lấy các bệnh: Tham, sân, si… Ta, người, thương ghét… để rồi nhận lấy sanh tử khổ đau của các nguyên nhân đau khổ đó. Nếu xa rời các bệnh duyên "năng", "sở" thì chúng sanh mười phương đồng chung bản thể cùng một tâm tánh nhiệm mầu. Tất cả đều viên mãn tánh Bồ Đề trong bản giác thường trú của mình.

(hết trích)

+ Năng kiến và sở kiến là gì ?

- Năng kiến và sở kiến hay: nói tắt là Năng và Sở là những thuật ngữ Phật học bằng tiếng Hán nhưng nếu hiểu theo tiếng Việt thì Năng kiến là Cái biết và Sở kiến là Cái bị biết hay Đối tượng của Cái biết
A- Cái biết không phải chỉ có một loại mà nó có hai loại: Cái biết trực tiếp giác quan và cái biết Ý thức mà trong Tâm lý học gọi là Nhận thức cảm tính và Nhận thức lý tính. Trong Cái biết trực tiếp giác quan lại có sáu cái tương ứng với các giác quan: Nhãn thức ,Nhĩ thức ,Tỉ thức, Thiệt thức, Thân thức và Tưởng thức gọi là nhóm Tưởng hay Tưởng uẩn.
1- Cái biết trực tiếp giác quan phát sinh do sáu căn tiếp xúc với sáu trấn (duyên). Mắt duyên Sắc trần phát sinh Nhãn thức, Tai duyên Thanh trần phát sinh Nhĩ thức ,Mũi duyên Hương trần phát sinh Tỉ thức, Lưỡi duyên Vị trần phát sinh Thiệt thức, Thân duyên Xúc trần phát sinh Thân thức, Ý duyên pháp trần phát sinh Tưởng thức. Một cách khác gọi cái biêt trực tiếp này là Thấy (nhãn thức ), Nghe (nhĩ thức), Cảm nhận (tỉ thức,thiệt thức ,thân thức ,tưởng thức). Một cách nói khác là Tưởng tri đối tượng (cái biết Tưởng )như trong Một só Kinh định nghĩa Tưởng là nhận biết đối tượng tức cũng đồng nghĩa với thấy nghe cảm nhận đối tượng.

theo: https://batchanhdao.vn/nang-kien-va-so-kien/
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
* Năng kiến và sở kiến.

Kinh văn:

A Nan ! Cái nhận thức sai lầm biệt nghiệp của chúng sanh, ví như người bệnh mắt, trông thấy ngọn đèn hiện ra vầng tròn năm màu, tưởng là cảnh thật trước mắt. Sự thật vầng tròn do bệnh lòa của người đau mắt tạo thành. Lòa là bệnh của cái thấy, không phải sắc tướng tạo ra. Cái thấy, thấy được bệnh lòa cái thấy đó vốn không có bệnh. Cũng vậy, hiện nay ông dùng con mắt xem thấy núi sông cảnh giới và các chúng sanh đều do bệnh lòa vô thỉ tạo thành. Cái thấy và cái bị thấy không thể tách rời ra. Do vô minh, chúng sanh vọng kiến thấy tiền cảnh in tuồng là "vật đối lập" với mình. Sự nhận thức sai lầm đó do bệnh lòa NĂNG KIẾN, SỞ KIẾN của tâm tánh giác minh thanh tịnh. Chừng nào nhận thức rằng: Cái thấy, thấy vầng tròn năm màu là bệnh, thì sự nhận thức đó vốn không có bệnh. Đó là ý nghĩa thẩm sâu: "Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến du ly kiến, kiến bất năng cập". Bản chất của tánh thấy là: tánh kiến giác minh, kiến tinh minh giác, thanh tịnh bản nhiên, chu biến pháp giới.

A Nan ! Do nhận thức sai lầm nghiệp riêng, người bệnh lòa thấy ngọn đèn có vầng tròn năm màu. Do nhận thức sai lầm nghiệp chung, chúng sanh cùng thấy những hiện tượng bất thường. Do nhận thức sai lầm vô thỉ, tất cả chúng sanh nhận lấy các bệnh: Tham, sân, si… Ta, người, thương ghét… để rồi nhận lấy sanh tử khổ đau của các nguyên nhân đau khổ đó. Nếu xa rời các bệnh duyên "năng", "sở" thì chúng sanh mười phương đồng chung bản thể cùng một tâm tánh nhiệm mầu. Tất cả đều viên mãn tánh Bồ Đề trong bản giác thường trú của mình.

(hết trích)

+ Năng kiến và sở kiến là gì ?

- Năng kiến và sở kiến hay: nói tắt là Năng và Sở là những thuật ngữ Phật học bằng tiếng Hán nhưng nếu hiểu theo tiếng Việt thì Năng kiến là Cái biết và Sở kiến là Cái bị biết hay Đối tượng của Cái biết
A- Cái biết không phải chỉ có một loại mà nó có hai loại: Cái biết trực tiếp giác quan và cái biết Ý thức mà trong Tâm lý học gọi là Nhận thức cảm tính và Nhận thức lý tính. Trong Cái biết trực tiếp giác quan lại có sáu cái tương ứng với các giác quan: Nhãn thức ,Nhĩ thức ,Tỉ thức, Thiệt thức, Thân thức và Tưởng thức gọi là nhóm Tưởng hay Tưởng uẩn.
1- Cái biết trực tiếp giác quan phát sinh do sáu căn tiếp xúc với sáu trấn (duyên). Mắt duyên Sắc trần phát sinh Nhãn thức, Tai duyên Thanh trần phát sinh Nhĩ thức ,Mũi duyên Hương trần phát sinh Tỉ thức, Lưỡi duyên Vị trần phát sinh Thiệt thức, Thân duyên Xúc trần phát sinh Thân thức, Ý duyên pháp trần phát sinh Tưởng thức. Một cách khác gọi cái biêt trực tiếp này là Thấy (nhãn thức ), Nghe (nhĩ thức), Cảm nhận (tỉ thức,thiệt thức ,thân thức ,tưởng thức). Một cách nói khác là Tưởng tri đối tượng (cái biết Tưởng )như trong Một só Kinh định nghĩa Tưởng là nhận biết đối tượng tức cũng đồng nghĩa với thấy nghe cảm nhận đối tượng.

theo: https://batchanhdao.vn/nang-kien-va-so-kien/
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
* Năng kiến và sở kiến.

Kinh văn:

A Nan ! Cái nhận thức sai lầm biệt nghiệp của chúng sanh, ví như người bệnh mắt, trông thấy ngọn đèn hiện ra vầng tròn năm màu, tưởng là cảnh thật trước mắt. Sự thật vầng tròn do bệnh lòa của người đau mắt tạo thành. Lòa là bệnh của cái thấy, không phải sắc tướng tạo ra. Cái thấy, thấy được bệnh lòa cái thấy đó vốn không có bệnh. Cũng vậy, hiện nay ông dùng con mắt xem thấy núi sông cảnh giới và các chúng sanh đều do bệnh lòa vô thỉ tạo thành. Cái thấy và cái bị thấy không thể tách rời ra. Do vô minh, chúng sanh vọng kiến thấy tiền cảnh in tuồng là "vật đối lập" với mình. Sự nhận thức sai lầm đó do bệnh lòa NĂNG KIẾN, SỞ KIẾN của tâm tánh giác minh thanh tịnh. Chừng nào nhận thức rằng: Cái thấy, thấy vầng tròn năm màu là bệnh, thì sự nhận thức đó vốn không có bệnh. Đó là ý nghĩa thẩm sâu: "Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến du ly kiến, kiến bất năng cập". Bản chất của tánh thấy là: tánh kiến giác minh, kiến tinh minh giác, thanh tịnh bản nhiên, chu biến pháp giới.

A Nan ! Do nhận thức sai lầm nghiệp riêng, người bệnh lòa thấy ngọn đèn có vầng tròn năm màu. Do nhận thức sai lầm nghiệp chung, chúng sanh cùng thấy những hiện tượng bất thường. Do nhận thức sai lầm vô thỉ, tất cả chúng sanh nhận lấy các bệnh: Tham, sân, si… Ta, người, thương ghét… để rồi nhận lấy sanh tử khổ đau của các nguyên nhân đau khổ đó. Nếu xa rời các bệnh duyên "năng", "sở" thì chúng sanh mười phương đồng chung bản thể cùng một tâm tánh nhiệm mầu. Tất cả đều viên mãn tánh Bồ Đề trong bản giác thường trú của mình.

(hết trích)

+ Năng kiến và sở kiến là gì ?

- Năng kiến và sở kiến hay: nói tắt là Năng và Sở là những thuật ngữ Phật học bằng tiếng Hán nhưng nếu hiểu theo tiếng Việt thì Năng kiến là Cái biết và Sở kiến là Cái bị biết hay Đối tượng của Cái biết
A- Cái biết không phải chỉ có một loại mà nó có hai loại: Cái biết trực tiếp giác quan và cái biết Ý thức mà trong Tâm lý học gọi là Nhận thức cảm tính và Nhận thức lý tính. Trong Cái biết trực tiếp giác quan lại có sáu cái tương ứng với các giác quan: Nhãn thức ,Nhĩ thức ,Tỉ thức, Thiệt thức, Thân thức và Tưởng thức gọi là nhóm Tưởng hay Tưởng uẩn.
1- Cái biết trực tiếp giác quan phát sinh do sáu căn tiếp xúc với sáu trấn (duyên). Mắt duyên Sắc trần phát sinh Nhãn thức, Tai duyên Thanh trần phát sinh Nhĩ thức ,Mũi duyên Hương trần phát sinh Tỉ thức, Lưỡi duyên Vị trần phát sinh Thiệt thức, Thân duyên Xúc trần phát sinh Thân thức, Ý duyên pháp trần phát sinh Tưởng thức. Một cách khác gọi cái biêt trực tiếp này là Thấy (nhãn thức ), Nghe (nhĩ thức), Cảm nhận (tỉ thức,thiệt thức ,thân thức ,tưởng thức). Một cách nói khác là Tưởng tri đối tượng (cái biết Tưởng )như trong Một só Kinh định nghĩa Tưởng là nhận biết đối tượng tức cũng đồng nghĩa với thấy nghe cảm nhận đối tượng.

theo: https://batchanhdao.vn/nang-kien-va-so-kien/
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
* Cái thấy chân thật.

TRỰC CHỈ

Đoạn kinh nầy Phật nêu ra hai thứ vọng kiến: Biệt nghiệp và Đồng Phận. Biệt nghiệp vọng kiến là vọng kiến của cá nhân. Đồng phận vọng kiến là vọng kiến của xã hội.

Sự thật của biệt nghiệp vọng kiến vốn không có cái vầng tròn năm màu quanh một ngọn đèn.

Sự thật của đồng phận vọng kiến là những hiện tượng bất thường… chỉ có với những người cùng ở trong một nước gặp phải năm thời tiết bất hòa.

Cá nhân vọng kiến chỉ vì bệnh lòa mà vầng tròn năm màu sanh ra.

Xã hội vọng kiến chỉ do cùng ở chung một nước mà những hiện tượng bất thường… được thấy.

Người không bệnh mắt, vầng tròn không có trước đèn.

Chúng sanh nước kế cận không chung quốc độ nên những hiện tượng bất thường không có.

Như Lai Thế Tôn, vì không vọng kiến vô thỉ, nên thấy "pháp giới bất nhị". Như Lai tàng thanh tịnh "nhất chân".

Chúng sanh bị nhận thức sai lầm vô thỉ, cái thấy trở thành các bệnh: Ngã, nhân, bỉ, thử, thủ, xả thân, sơ… Đó là trần lao, là vô minh bụi bặm. Chúng che lấp mất cái bản thể vốn thanh tịnh của Chơn tâm thường trú.

Ngày nào chúng sanh xa rời vọng kiến sẽ nhận thức rõ pháp giới nhất chân. Chúng sanh trong mười phương đồng một tâm tánh nhiệm mầu. Hiện tượng vạn hữu chỉ là "vật trang trí" từ thường trú chơn tâm biểu hiện.

Do vậy, Như Lai nói: tánh thấy trong khi thấy, tánh thấy đó không phải tánh thấy bản thể. Tánh thấy đó còn cự ly với tánh thấy bản thể. Tánh thấy đó chưa là tánh thấy bản thể vốn thanh tịnh bản nhiên…

Lời dạy thậm thâm của Phật, nhưng thiết tưởng không có gì vượt quá tâm thiền định tư duy của người hành giả đệ tử Như Lai.

(hết trích)

Tư duy:

"Tánh thấy bản thể vốn thanh tịnh bản nhiên…" mà đức Phật dạy ở đây.- Sẽ thâm nhập bằng Thiền Định. Như bài kệ:

"Mấy ai đã vào vòng,
Thiền Định và an tịnh.
Cảm thông được cái thấy,
Không phải bằng con mắt.
Là cái thấy chân thật..."

Và... Phải chăng vì vậy mà đức Phật dạy 5 loại thấy (ngũ nhãn): Nhục nhãn, thiên nhãn, pháp nhãn, tuệ nhãn và Phật nhãn. Như bài kệ:

Thiên nhãn thông phi ngại,
Nhục nhãn ngại phi thông.
Pháp nhãn duy quán tục,
Huệ nhãn liễu tri không.
Phật nhãn như thiên nhật,
Chiếu dị thể hoàn đồng.


Dịch nghĩa:

Thiên nhãn thông chẳng ngại,

Nhục nhãn ngại chẳng thông.
Pháp nhãn hay quán tục (tục đế),
Huệ nhãn thấu rõ không (chơn đế).
Phật nhãn như ngàn nhật (mặt trời),
Chiếu dị (khác) thể vẫn đồng.

(hết trích)

Khi hành giả đạt được ngũ nhãn, lúc đó sẽ có được cái thấy bản thể vốn thanh tịnh bản nhiên.- Đó là cái thấy chân thật
 
Last edited:

Vo Minh

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
27 Thg 12 2017
Bài viết
424
Điểm tương tác
230
Điểm
43
Tại sao Đức Phật khi còn sống giải thích Tánh THẤY cho ông A Nan mãi vẫn không giác ngộ được???

Ông A Nan THẤY gì???

Có phải chúng ta cũng giống như ông A Nan hay còn tệ hơn ông A Nan là MONG MUỐN, MONG CẦU được GIÁC NGỘ THÀNH phật???

Giác Ngộ thành Phật rõ ràng không phải làTánh THẤY.

Tánh THẤY là: "Chỉ có THẤY mà cái THẤY, và cái BỊ THẤY không THÀNH gì cả!"

Nói một cách rõ ràng hơn là: Tánh THẤY là: "Chỉ có THẤY mà KHÔNG suy nghĩ!"

Có ai THẤY mà KHÔNG suy nghĩ Thiện, KHÔNG suy nghĩ ÁC???

Chỉ có Vô Minh mê muội, ngu xuẩn mới KHÔNG suy nghĩ Thiện! KHÔNG suy nghĩ Ác phải không???

Vì những người tu Phật có TRÍ TUỆ như chúng ta không thể nào KHÔNG suy nghĩ Thiện! KHÔNG suy nghĩ Ác.

Chúng ta mãi là A Nan chỉ THẤY Đức Phật để suy nghĩ.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
* Tánh thấy phi hòa- phi hợp.

Kinh văn:
TÁNH THẤY NGOÀI HAI NGHĨA:
HÒA HỢP VÀ KHÔNG HÒA HỢP(^)

Phật bảo: A Nan ! Dù ông đã ngộ tâm tánh bản giác nhiệm mầu sáng suốt, không phải nhân duyên, không phải tự nhiên, nhưng ông còn chưa rõ tâm tánh sanh ra do hòa hợp hay không hòa hợp.

A Nan ! Ông nghĩ kỹ xem, tánh thấy nhiệm mầu thanh tịnh của ông nó hòa với ánh sáng hay hòa với tối ? Hòa với thông hay hòa với ngăn bít ? Nếu hòa với sáng, hiện nay ông thấy sáng, tánh thấy hòa chỗ nào: Tánh thấy và tướng sáng có thể nhận được, còn cái hình trạng "hòa" ra sao ? Nếu tướng sáng ngoài tánh thấy, làm sao thấy được sáng ? Nếu tướng sáng là tánh thấy, hóa ra thấy được tánh thấy, hóa ra thấy được tánh thấy, còn gì vô lý bằng ? Với tướng tối, tướng thông và tướng bít cũng vậy.

Lại nữa, A Nan ! Hiện nay tánh thấy nhiệm mầu sáng suốt của ông, nó hợp với sáng hay hợp với tối ? Hợp với thông hay hợp với bít ? Nếu hợp với sáng, đến khi tối tướng sáng mất đi rồi, tánh thấy không còn hợp được với tối, làm sao thấy được tối ? Nếu không hợp với tối mà thấy được tối, khi hợp với sáng lẽ ra không thấy được sáng ! Đã không thấy được sáng, làm sao hợp với sáng và biết được sáng không phải là tối ? Với tướng thông, tướng bít cũng vậy.

A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Nay tôi lại nghĩ: Tánh thấy nhiệm mầu đối với trần cảnh và các tưởng niệm nhớ nghĩ không hòa hợp chăng ?

Phật bảo: Nay ông lại nghĩ: rằng tánh thấy không hòa hợp với sáng hay không hòa hợp với tối ? Không hòa với thông hay không hòa với bít ? Nếu không hòa với sáng thì giữa tướng sáng và tánh thấy phải có lằn ranh. Ông hãy xét kỹ: Chỗ nào là tướng sáng, chỗ nào là tánh thấy ? Chỗ nào là ranh giới giữa hai thứ kia ? A Nan ! Nếu trong tướng sáng không có tánh thấy, tướng sáng và tánh thấy không đến nhau, tất nhiên tánh thấy sẽ tối, tướng thông và tướng bít cũng vậy.
 
Last edited:

Vo Minh

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
27 Thg 12 2017
Bài viết
424
Điểm tương tác
230
Điểm
43
Sự Thật là chúng ta đang lạc vào rừng chữ nghĩa!
Chữ nghĩa chỉ làm mê mờ Tánh THẤY của chúng ta.

Chắc chắn không có khả năng nào làm cho chúng ta THẤY Tánh THẤY của chúng ta.

Bởi vì Tánh THẤY ở ngay chúng ta! Chỉ có chúng ta mới có khả năng TỰ THẤY được chúng ta.

Khi chúng ta TỰ THẤY được chúng ta có nghĩa là chúng ta là Tánh THẤY.

Ngày nào chúng ta vẫn còn thấy CÓ chúng ta và chúng ta vẫn còn thấy CÓ Tánh THẤY để Giác Ngộ thì ngày đó vẫn còn CÓ cái NHÂN này thì vẫn còn phải CÓ cái QUẢ kia để Luân Hồi.

Sự Thật Đức Phật Thích ca mâu ni chính là chúng ta! Chúng ta chính là Đức Phật Thích ca mâu ni.

Chính chúng ta TỰ chia cắt chúng ta ra thành CÓ chúng ta, CÓ Đức Phật Thích ca mâu ni, CÓ cái Tánh THẤY, CÓ giác ngộ, CÓ kiến tánh, CÓ người này, CÓ người kia, CÓ nam, CÓ nữ, CÓ vạn vật vũ trụ........

Nói như vậy để chứng minh rằng " Trong cái THẤY! Chỉ có Tánh THẤY"

Nói như vậy để chứng minh rằng: "Đức Phật là Tánh THẤY! Chúng ta là Tánh THẤY! Tánh THẤY không thể làm Tánh THẤY giác ngộ hay kiến tánh!"
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
* Tánh thấy phi hòa- phi hợp (tt).

TRỰC CHỈ

Tánh thấy là nhân duyên sanh hay tự nhiên sanh đã được Phật hướng dẫn quá rõ ràng. Nêu hai vấn đề: Biệt nghiệp vọng kiến và đồng phận vọng kiến ở đoạn trước, cũng nhằm chỉ rõ tánh chất sai hại của tánh thấy, khi tánh thấy bị nhận thức sai lầm.

… "Tánh kiến giác minh, kiến tinh minh giác, thanh tịnh bản nhiên chu biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng, tuần nghiệp phát hiện". Nhận rõ tính chất thanh tịnh bản nhiên, chu biến pháp giới của tánh thấy thì những vấn đề: nhân duyên, tự nhiên hay phi nhân duyên, phi tự nhiên; hòa, hợp hay phi hòa hợp tất cả đều trở thành hí luận !

(hết trích)


Ô hô ! Pháp hải u huyền trần tâm nan hội ! Chơn tâm hạo đảng như nguyệt lâm thủy diện, bát khai thủy diện, nguyệt hoàn thâm !
Hoa Vô tướng dịch:

Tuyệt!

Biển pháp thâm sâu tâm trần khó hội!
Chân Tâm trong sáng như trăng hiện trong nước
Nước lặng tám phương trăng tự hoàn Chân!
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
* Thất Đại, Tứ Khoa.

Kinh văn:
BỐN KHOA BẢY ĐẠI VỐN LÀ
HIỆN TƯỢNG BIỂU HIỆN TỪ NHƯ LAI TÀNG(^)

A Nan ! Ông còn chưa rõ, tất cả tướng phù trần hư huyễn đều là vật huyễn sanh huyễn diệt trong bản thể Như Lai tàng. Các huyễn vọng gọi là tướng, tánh thực của tướng là thể giác minh mầu nhiệm (Diệu giác minh thể).

Giải thích thuật ngữ.

+ Tứ khoa là gì ? Đó là 4 khoa:

1/. Đối với người chấp nặng về TÂM. Đức Phật dạy Tâm là Huyễn không thật. Cụ thể là dạy khoa (1) ; nghĩa là nói gọn về SẮC, triển khai rộng về tâm chi tiết. Nhằm để thấy rõ tâm là huyễn.- Đó là 5 Ấm:

Sắc ấm,Thọ ấm, tưởng ấm, Hành ấm, Thức ấm (trong đó Sắc chỉ cho Tâm. 4 còn lại chỉ cho SẮC).- Đó là khoa 1) HỢP SẮC KHAI TÂM.

2/. Đối với người chấp nặng về SẮC. Đức Phật dạy SẮC là Huyễn không thật. Cụ thể là dạy khoa (2) ; nghĩa là nói gọn về tâm, triển khai rộng về SẮC chi tiết đề thấy rõ SẮC là huyễn.- Đó là Thập nhị xứ (12 chỗ) là huyễn. Đó là:

Sắc và kiến
Thanh và thính
Hương và khứu
Vị và thường
Xúc và thân
Pháp và ý

Trong đó 2 chi Pháp và ý chỉ cho Tâm, 10 chi còn lại chỉ cho SẮC,-).- Đó là khoa 2) HỢP TÂM KHAI SẮC.

3/. Đối với người chấp nặng về TÂM, mà cũng nặng luôn SẮC. Đức Phật dạy Tâm là Huyễn không thật, mà SẮC cũng là Huyễn không thật, Triễn khai cả SẮC cả TÂM. Cụ thể là dạy khoa (3) ; nghĩa là dạy Thập Bát Giới như huyễn (18 Giới). Đó là:

1.Nhãn giới, 2. sắc giới, 3. nhãn thức giới, 4. nhĩ giới, 5. thanh giới, 6. nhĩ thức giới,7. tỉ giới, 8. hương giới, 9. tỉ thức giới, 10. thiệt giới, 11. vị giới, 12. thiệt thức giới, 13. thân giới, 14. xúc giới, 15. thân thức giới, 16. ý giới, 17. pháp giới, 18. ý thức giới.

- Đó là khoa 3) SẮC TÂM ĐỒNG KHAI.

4/. Đối với người tương đối biết các Pháp Sắc- Tâm đều vô thường. Đức Phật dạy: Chư Pháp Như Huyễn. Đó là Khoa (4)

Lý Như-Huyễn là một quan niệm về nhân sinh và vũ trụ độc đáo của nhà Phật. Trong thiền định sâu xa, Đức Phật thấy rõ tất cả các pháp đều là những hiện tượng không thật có, vì chúng do nhiều duyên tụ hội lại mà thành. Bản chất của chúng là không, vì chúng không có tự thể. Như vậy, nhìn trên hiện tượng (SẮC) là duyên hợp tạm có, nhưng bản thể lại là KHÔNG. Nói khác đi, SẮC là biểu tướng của KHÔNG, KHÔNG là bản chất của SẮC. Đây là tinh thần Bát-Nhã, mà chỉ những người ở trong Như-Huyễn tam-muội, tức trong chánh định quán triệt lý Như-Huyễn, mới thẩm thấu được.

Các pháp không thật có nên là huyễn, nhưng tự tánh các pháp là không, nên tuy huyễn mà vẫn thường ở trong Như tánh. Như là thể của Huyễn, Huyễn là dụng của Như. Như là thể tánh bất động, không bao giờ thay đổi; Huyễn là tùy duyên mà hình tướng đổi thay. Chúng ta từ Như đến đây, mang thân huyễn mộng này, rồi khi mất đi lại trở về Như. Nhưng không phải đợi lúc hình tướng tan hoại mới trở về Như, mà ngay khi còn thân huyễn, nó đã là Như rồi. Cũng như nước là hiện tượng, có thể thay đổi từ thể lỏng sang thể rắn, thể hơi, nhưng không bao giờ mất đi tánh ướt. Vì Huyễn không bao giờ rời Như, nên nhà Phật gọi là Như-Huyễn.

- Đây là Khoa 4 SẮC- TÂM Đồng Hợp.

* Tóm lại: Cả 4 Khoa nhằm chỉ ra VẠN PHÁP NHƯ HUYỄN.

+ Thất Đại là gì ?: Đối với người không biết rõ SẮC- TÂM đều là từ Như Lai Tàng huyễn hiện. Đức Phật dạy Thất Đại. Cụ thể là dạy 7 Đại (Thất đại lại là bảy chất lớn, trong bảy chất lớn ấy phổ biến khắp pháp giới nên gọi là đại) . Chúng đều là biểu hiện của Như Lai Tàng.- Đó là:

1. Địa: Chất chứng rắn như đất, cỏ cây…
2. Thủy: Chất nước đàm, đãi, chất kết dính…
3. Phong: Chất gió, hơi thở ra vào…
4. Hỏa: Chất nóng, làm chín…
5. Thông: Hư không khắp cùng không gian
6. Thức: Tâm thức phân biệt của chúng sanh
7. Kiến: Sự thấy.

Kinh Thủ Lắng Nghiêm Đức Phật dạy rõ vấn đề SẮC KHÔNG qua chân lý: "TÁNH SẮC CHÂN KHÔNG, TÁNH KHÔNG CHÂN SẮC, THANH TỊNH BẢN NHIÊN CHÂU BIẾN PHÁP GIỚI, TÙY CHÚNG SANH TÂM, ỨNG SỞ TRI LƯỢNG TUẦN NGHIỆP PHÁP HIỆN"

Nghĩa là cả 7 Đại Đồng Qui Nhất CHÂN NHƯ.- Đây là VẠN PHÁP QUI CHÂN.

Ở đây Đức Phật dạy:

BỐN KHOA BẢY ĐẠI VỐN LÀ
HIỆN TƯỢNG BIỂU HIỆN TỪ NHƯ LAI TÀNG

Nghĩa là: Cuối cùng VẠN PHÁP QUI CHÂN.
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
* Sanh diệt như Huyễn.
* Tương ưng NHƯ.

Kinh văn:

Năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới, nhân duyên hòa hợp vọng gọi là sanh, nhân duyên chi ly vọng gọi rằng diệt. Chúng sanh không biết sự sanh diệt đi lại, chỉ là sự vận hành biến dịch mầu nhiệm của Như Lai tàng. Sự vật hiện tượng luôn luôn chuyển hóa lẫn nhau. Trong Như Lai tàng tìm cho ra tử sanh mê ngộ đến đi, không thể được.

TRỰC CHỈ

Bốn khoa bảy đại chỉ là hiện tượng trong Như Lai tàng. Như Lai tàng là bản thể của tất cả chủng tử của hiện tượng vạn hữu.

Vấn đề "Hiện tượng vạn hữu do gì sanh", cho đến thế kỷ 20 này vẫn còn là một vấn đề chưa ngã ngũ. Một vấn đề mà loài người sẽ nói mãi, có lẽ không bao giờ có sự nhất trí với nhau.

Bảo rằng hiện tượng vạn hữu do "đấng tạo vật sanh", ở vào thời đại văn minh nầy, người ta cho đó là quan niệm ngây thơ ấu trĩ. Bảo rằng do "tự nhiên sanh" đó là một thứ tri kiến của người không tri kiến tí nào. Bởi vì trước mắt mọi người, không có cái gì "tự nhiên" cả.

Với nền giáo lý Phật, trong những năm dài thuyết giáo, Phật thường dạy cho các đệ tử: rằng "vạn pháp do nhân duyên sanh"… Cái chân lý đó, càng ngày càng rạng rỡ. Thế kỷ 20 nầy, loài người tiến đến đỉnh cao của trí tuệ, của khoa học văn minh người ta đã chứng minh được rằng một nguyên tử, hạt cơ bản của nguyên tử cũng chưa phải là một đơn vị "tự nhiên" mà nó còn kết hợp bởi những tính… và chất… mà người ta chưa tìm ra ngôn từ tương xứng để xưng gọi. Sự gặp gỡ đó, ta có thể tự hào và kết luận rằng: giáo lý "nhân duyên"…. Của Phật giáo là niềm vui hãnh diện của những người đệ tử có lòng tín mộ tôn thờ Đức Phật làm vị "Bổn sư" mình.

Vậy mà ở kinh Thủ Lăng Nghiêm nầy. Đức Phật thẳng thắn nói với ông A Nan: rằng giáo lý "nhơn duyên" mà Như Lai nói chưa phải thứ giáo lý "Liễu nghĩa". Quả là một tiếng sấm lưng trời ! Nói "đấng tạo vật" sanh, bị Phật rầy; nói "thần ngã" sanh, bị Phật trách; nói "Phạm Thiên" sanh, bị Phật chê; nói "tự nhiên" sanh, bị Phật bác; nói "đấng A La" sanh, Phật không chịu; nói "hòa hợp" sanh, bị Phật nạn,; nhớ lời Phật dạy, nói "nhân duyên" sanh, nay cũng không xong ! Vậy thì:

A ? Cái gì sanh vũ trụ vạn hữu ?

Người học Phật cần tư duy, phải tư duy sâu sắc, nhà Phật gọi là "tham thiền". Người ta thường thắc mắc, khi tham thiền phải tham những gì ? Thì đây chính là "thoại đầu" là một đề tài lớn để cho người đệ tử Phật "tham" và "tọa":

"Vũ trụ vạn hữu do gì sanh ?"

Tham cho đến khi trí tuệ bừng sáng, tháo gỡ hoàn toàn cái gút thắt của vấn đề, chừng đó, hành giả chợt thấy:

"Bát nhã hoa khai vạn pháp, tức tâm, tức Phật"
"Bồ đề quả thục Nhất chân phi sắc phi không".

(hết trích)

Tư duy:

Qua quán chiếu, tư duy, thiền định...Hành giả nhận thấy các chất liệu Năm ấm, sáu nhập, mười hai xứ, mười tám giới, bảy Đại v.v... đều "Thanh tịnh bản nhiên, đầy khắp pháp giới".- Nghĩa là chúng nó bất sanh bất diệt (luôn đầy đủ sẳn). Như câu kinh mà Đức Phật dạy ở kinh tiểu Bát Nhã:

"Xá Lợi Tử, thị chư pháp không tướng, bất sanh bất diệt, bất cấu bất tịnh, bất tăng bất giảm.
Thị cố không trung vô sắc, vô thọ tưởng hành thức.
Vô nhãn nhĩ tỷ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới.
Vô vô minh, diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử, diệc vô lão tử tận."


dịch:

"Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.
Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ tưởng hành thức.
Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý. Không có sắc, thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.

Không có vô minh,mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết."
(hết trích)

Vì sao ? Vì:

+ Ví như trong giấc mộng thấy mình đốn cây rồi đẽo thành cột, thành, kèo, thành rui, thành mái tạo ra một cái nhà to lớn.- Nhà chỉ là "Mộng"- Tỉnh ra không có gì là nhà cả.

+ Cũng vậy Khi Vô minh tác động chúng ta dùng các vọng nghiệp (Tội- Phước không tự tánh) dệt thành luân hồi sanh tử. Khi hết vô minh.- Sanh tử luân hồi tan biến theo giấc mộng Vô minh.

+ Nhưng lúc đó: KHÔNG PHẢI LÀ LÚC THẬT HẾT SANH TỬ.- MÀ LÀ" GIẢI THOÁT SANH TỬ."- TỨC LÀ SANH MÀ VÔ SANH, DIỆT KHÔNG THẬT DIỆT, LÀ THƯỜNG TỊCH- THƯỜNG CHIẾU, LÀ TƯƠNG ƯNG "NHƯ".

* Lúc mà "Tâm" tương ưng NHƯ.- Đó là lúc:

"Bồ đề quả thục Nhất chân phi sắc phi không".
"Bát nhã hoa khai vạn pháp, tức tâm, tức Phật"

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
* NĂM ẤM LÀ HIỆN TƯỢNG BIỂU HIỆN TỪ NHƯ LAI TÀNG(^)

Sắc ấm

Thọ ấm

Tưởng ấm

Hành ấm

Thức ấm

-------------------------------------------------------------------

* 1. Sắc ấm Như Huyễn:

Kinh văn:


A Nan ! Sao gọi năm ấm là tánh chân như mầu nhiệm biểu hiện của Như Lai tàng ?

A Nan ! Ví như có người dùng mắt trong sáng nhìn hư không thanh tịnh, chỉ thấy hư không trong suốt không có gì khác. Mắt người kia bỗng dưng đờ đẫn mỏi mệt, trông hư không thấy hoa đốm lăng xăng, các tướng huyễn hư rối loạn. Sắc ấm cũng như vậy.

A Nan ! Các hoa đốm không phải từ hư không đến, không phải từ con mắt ra. Nếu từ hư không đến, hư không chẳng còn là hư không nữa. Nếu tứ mắt ra, ắt phải có lúc trở vào. Nếu vậy, khi ra thành hoa đốm làm mờ loạn hư không, lúc vào tại sao không thấy con mắt ?

Sắc ấm là hư vọng không phải nhân duyên cũng không phải tự nhiên.

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,510
Điểm tương tác
1,768
Điểm
113
* Thọ ấm Như huyễn.

Kinh văn:


Thọ ấm

A Nan ! Ví như có người tứ chi an ổn, cơ thể điều hòa, không bị vui buồn tác động, tịch tĩnh như quên mình. Bỗng nhiên người kia đưa hai tay lên không xoa nhau, sanh cảm xúc: nóng, lạnh, trơn, rít… Thọ ấm cũng như vậy.

A Nan ! Những cảm xúc hư vọng kia, không phải từ hư không đến. Không phải từ bàn tay ra. Nếu từ hư không đến sanh cảm xúc nơi bàn tay, sao không sanh cảm xúc ở thân thể ? Không lẽ hư không biết lựa chỗ để sanh cảm xúc ?

Thọ ấm là hư vọng không phải nhân duyên cũng không phải tự nhiên.
 

Hoa Vô Tướng

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
9 Thg 4 2018
Bài viết
387
Điểm tương tác
168
Điểm
43
[Tư duy...]

Quan sát về dữ kiện sát na. Ký ức về thể trước và đương thể sẽ phân ra có chỗ đồng, có chỗ khác. Dù bản thể là Vô đối nhưng đã lập vọng lập chân từ đây dấy khởi quan niệm : nhất sinh nhị -> nhị sinh tam -> tam sinh vạn pháp

Cái nhất trong nhất sinh nhị chỉ là ký ức về thể trước, nền tảng này đã lạc hậu nơi đương niệm nên hành giả phải phá luôn cái rào cản để thấy toàn thể đương chân.

Cái nhận thức về bản thể và sự hiện hữu của bản thể tự xác nhận, khế hợp lẫn nhau thành một thể viên dung, thành 1 nền tảng : 1 bách biến vẫn một. Trâu sắt trổ hoa, Tiếng vỗ 1 bàn tay, ....

Như người ta thường nói : tôi làm, tôi ăn, tôi nói.... Lúc nào cũng chính là tôi biến hoá ngoài ra không còn cái khác tôi, nhưng lại không rõ tôi là cái gì trong những phần được gọi là của tôi?

Đến đây mới vỡ lẽ. Chúng ta chỉ là nhất thể. Cho rằng ta là cái gì khác đều sai lầm. Tức Tâm tức Phật là vậy! Biết được cái chỗ nhận lầm thì tự nhiên hết lầm.

P/S: kính thầy @vienquang6 con tư duy như vậy nếu có chỗ không hợp lý xin thầy chỉ bảo!
 
Last edited:
Bên trên