Kinh Thủ Lăng Nghiêm.- Trùng tuyên và thảo luận. Chương 1, 2, 3.

Hoa Vô Tướng

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
9 Thg 4 2018
Bài viết
661
Điểm tương tác
224
Điểm
43
Ô hô ! Pháp hải u huyền trần tâm nan hội ! Chơn tâm hạo đảng như nguyệt lâm thủy diện, bát khai thủy diện, nguyệt hoàn thâm !
Tuyệt!

Biển pháp thâm sâu tâm trần khó hội!
Chân Tâm trong sáng như trăng hiện trong nước
Nước lặng tám phương trăng tự hoàn Chân!
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* VẬT LÀ ĐỐI TƯỢNG PHÂN BIỆT CỦA TÂM. TÂM BIỂU HIỆN QUA TÁNH THẤY LÀ CHỦ THỂ PHÂN BIỆT VẬT.
Chánh văn:

Ông A Nan thưa: Bạch Thế Tôn: Tuy tôi biết tánh thấy không thể trả về, nhưng làm sao biết được đó là chơn tánh của tôi ?

Phật bảo: A Nan ! Ông chưa được quả vô lậu, nhờ thần lực Phật mà thấy được cõi Sơ thiền: trong khi, ông A Na Luật thì thấy cõi Diêm phù đề như quả quýt để trên bàn tay. Bồ Tát thấy cùng tột các quốc độ thanh tịnh của mười phương chư Phật. Còn chúng sanh thì thấy chẳng được xa hơn gang tấc.

A Nan ! Tôi cùng ông xem cung điện Tứ Thiên Vương, chặng giữa các hiện tượng đất liền biển cả và hư không, tuy có nhiều hình sắc khác nhau, sáng tối không đồng, nhưng không cái gì không phải tiền trần đối tượng phân biệt. Những thứ mà ông thấy, ông hãy lựa xem cái gì là chủ thể, cái nào là đối tượng phân biệt của ông ?

A Nan ! Cùng tột sức thấy của ông, từ mặt trời, mặt trăng… cho đến thất kim sơn, xem xét khắp cùng, dù có thấp cao lớn nhỏ và màu sắc không đồng nhưng cũng đều là vật chớ chẳng phải ông. Lần xem mây kéo, chim bay, gió động, bụi tung, cây, rừng, sông, núi, cỏ, hoa, súc vật… cho đến con người đều là vật chớ chẳng phải ông.

A Nan ! Các vật gần xa đó, tuy khác nhau, nhưng đều do tánh thấy thanh tịnh (hiện lượng, đệ nhất sát na) của ông. Các vật loại kia có sai khác mà tánh thấy của ông thì không sai khác. Tánh thấy sáng suốt nhiệm mầu đó, rõ là chủ thể phân biệt của chính ông, chứ còn ai nữa ! Nếu tánh thấy là vật, thì ông đã thấy cái thấy của tôi. Nhưng sự thật thì không như vậy. Điều đó chứng minh rằng: tánh thấy không phải vật, mà là chủ thể phân biệt của chính ông. Sự thể quá rõ ràng, sao ông còn nghi ngờ cái chơn tánh của ông ? Chơn tánh của ông, ông không tự nhận, vướng chấp pháp âm của tôi mà cầu thực chứng thì làm sao có được ?


* *

TRỰC CHỈ

Tánh thấy tức là nhãn thức. Nhãn thức là một trong tám thức tâm vương. Tánh thấy thanh tịnh, sáng suốt nhiệm mầu, vì tiếp thu trần cảnh, nó chỉ thu nhận "tánh cảnh" và "hiện lượng" cho nên tự tánh của cái thấy vốn không có tội lỗi gì. Nó là hiện tượng biểu hiện của chơn tâm, nó gần với bản chất thanh tịnh của chơn tâm hơn các hiện tượng khác, nên ví nó như vành trăng thứ hai do mắt nhặm mà thấy, chứ nó không hư ảo, đảo điên như bóng trăng in đáy nước.

Nếu một tánh thấy để đơn cử công dụng phát thức của một căn. Kỳ thật tánh cảnh hiện lượng là đặc tánh chung của nhỉ, tỷ, thiệt, thân, năm thức trước. Năm thức trước hoạt động trong một bối cảnh "tùy duyên". Chỉ có ý thức đối với sự hoạt động của con người, tương đối nó thường trú túc trực hơn năm thức trước. Nó chỉ không hiện hữu ở năm trường hợp: Vô tưởng thiên, vô tưởng định, diệt tận định, ngủ không chiêm bao và chết ngất.

Sáu thức tác động vào sáu căn, biểu hiện ra thành sự nhận thức của con người. Đối tượng nhận thức của năm thức trước là "tánh cảnh" nghĩa là những sự vật có bản chất cụ thể, rờ, mó, cầm, nắm được, gọi đó là Vật. Chủ thể nhận thức thì biểu hiện thông qua sáu giác quan (lục căn), nhưng vì không bản chất chỉ có tác dụng thì gọi đó là TÂM. TÂM và VẬT đều là "hiện tượng" biểu hiện phát xuất từ Thể tánh tịnh minh, Như Lai Tàng bản thể:

Không gian cộng thời gian là bản thể Như Lai tàng vậy.

 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
3,108
Điểm tương tác
661
Điểm
113
Kính Thày VQ một ly trà [smile]:

*** vẫn câu nói đó .. nếu KLL có nói gì sai với Phật Lý .. kính xin thày VQ tận tình chỉ dạy, KLL nguyện học hỏi theo

hồi đó, ngày đầu tiên vào diễn đàn, là do tình cờ KLL dọc net tìm thấy 1 bài thày VQ viết về Diệu Quán Sát Trí (smile) .. cũng hai năm rùi .. lúc đó, KLL thấy trong lời thày viết có nhiều điều KLL cảm thấy đọc rất là hữu ích .. nên hôm nay, KLL trình bày lại cảm giác và sự hiểu biết của mình lúc đó .. khi đọc những gì thày viết [smile] ... do cảm thấy có lợi ích .. nên hôm nay trình bày cho mọi người đồng duyệt [smile]

NHƯ và HUYỄN --> BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH --> DIỆU QUÁN SÁT TRÍ

I. Như và Huyễn


Như là thật tướng của tâm và Huyễn là những vọng tưởng không đúng về thực tướng của tâm. Do có tâm mà có thực tướng của tâm gọi là Như... nhưng cũng do có tâm có những vọng tưởng không đúng về tâm gọi là Huyễn.

Như không phải là Huyễn, bởi vì sự thật không phải là vọng tưởng ... Huyễn thường được gọi là cái bóng của Như, nhưng đôi khi, ... sự so sánh này không đủ nói lên sự khác biệt giữa Như và Huyễn

điển hình như nhóm tâm bất thiện ... chứa đựng những vọng tưởng về thực tướng của tâm, thì những nhóm tâm thiện hảo chứa đựng những hành vi tâm chuyển dẫn tới .. hướng tới thực tướng của tâm .. cho đến nhóm tâm sở huệ --> thì đối với thực tướng đó .. đã không con nghi ngờ gì nữa [smile]


II. Bất Tương Ưng Hành:

Con người thường sử dụng ý thức của mình để phân biệt, tư duy và quyết định cho hành động của mình. Khổ nỗi, Ý thức đến từ Ý Căn = Thức Mạt Na. [smile]

Theo duy thức học, Thức Mạt Na bao gồm: Si, Kiến, Mạn, Ái và 8 món đại tùy bao gồm trạo cử, hôn trầm, bất tin, giải đãi, phóng dật, thất niệm, tán loạn bất chánh tri

lấy 1 chữ kiến thôi chẳng hạn thì Tâm Sở Ác Kiến đã có thân kiến, biên kiến, tà kiến, kiên thủ, giới cấm thủ ... toàn là những món "hư" không [smile]

cho nên .. sự phân biệt của Ý THỨC ... đứng ở đặc tính bản năng, bản tính, đa số toàn là nghĩ bậy .. dẫn đầu các pháp làm ra vọng tưởng điên đảo không [smile]

Như đã nói ở những phần trên, nếu chúng ta nhìn vào tạng thức, thì thấy hoạt động của hành uẩn ... đều là những hoạt động có đặc tính "CHỨA NHÓM = UẨN" của tâm. Chứa nhóm phiền não thì có thâm sân si mạn kiến nghi ... chứa nhóm thiện hảo thì có TÀM có QUÝ .. có KHINH AN .. trở lại tâm sở ác kiến như trình bày ở trên, thì sự phân biệt đẫn đến sự xa lìa bất tin, thân kiến, tà kiến, kiến thủ giới cấm thủ sẽ không xảy ra nếu không có sự xuất hiện của những nhóm tâm thiện như TÀM QUÝ (biết xấu hổ, hổ thẹn với những gì không đúng, biết phục thiện) ... vv

Như vậy ... hoạt động của Ý Thức, tùy theo sự phân biệt đó lấy gì làm dữ kiện mà dẫn tới những món BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH riêng biệt cho sự phân biệt của ý thức đó ... tuy 51 tâm sở đại đa số thuộc về hành uẩn, hành vi, tạo tác, hữu vi, sắc.... nhưng SỰ PHÂN BIỆT của Ý THỨC "lồng với nội dung trí tuệ" của Ý THỨC ... do sự câu hữu với những nhóm tâm thiện hảo, biệt cảnh như tín, định, huệ ... dẫn tới những TÂM BẤT TƯƠNG ƯNG HÀNH tốt đẹp ... như là Vô Tưởng Định .. Diệt Tận Định [smile]


III. DIỆU QUÁN SÁT TRÍ

Do đó, KLL lúc đó nghĩ rằng .. Diệu Quán Sát Trí ... là sự phân biệt của ý thức do tác ý như lý ... làm cân bằng lại sự thiên lệch của Ý THỨC bắt nguồn từ Ý CĂN, tức là đặc tính "hoàn toàn phi lượng" của Ý Căn, Thức Mạt NA.

Sự quán sát đó phát triển bắt đầu từ sự câu hữu với những nhóm tâm có đặc tính làm giảm thiểu, vô hiệu hóa sự tạp nhiễm của những tâm vương tâm sở của sáu thức như Vô Tưởng Định, ... tạp nhiễm của sáu thức trước do "nội lục nhập" và tạp nhiễm của tâm vương tâm sở do Ý Căn mang lại như là Diệt Tận Định

Theo KLL hiểu, đối với các tướng có sắc chất theo biểu đồ giải thoát sinh tử được ghi chép trong cuốn Tiến Thẳng vào Thiền Tông của HT Thích Thanh Từ

thì đó là con đường phát triển "TRÍ QUÁN SÁT", tăng sự quán sát về thực tướng của tâm đối trong hiện tượng vạn pháp của Ngũ Thừa Phật .. đặc biệt là tam thừa, ba cỗ xe: thinh văn, duyên giác, bồ tát như đã liệt kê trong Kinh Pháp Hoa

https://thuvienhoasen.org/p33a12141/bieu-do-hai-duong-tram-luan-sinh-tu-giai-thoat-sinh-tu

Pháp Vô Vi bao gồm trạch diệt vô vi ... theo HT Thích Thiện Hoa, Do dùng Trí tuệ Vô lậu, lựa chọn diệt trừ hết các nhiễm ô, nên Chơn như Vô vi mới hiện. Vì thế nên gọi là “Trạch diệt vô vi”.

và đó cũng là nội dung trí tuệ của Diệu Quán Sát Trí ... bởi vì trong 8 thức, chỉ có Ý Thức có sự tinh khôn "tối linh ly" [smile] có khả năng đoạn hoặc câu sanh ngã chấp và pháp chấp của Thức Mạt Na .. và các thức khác ... do đó mà Ý Thức dẫn dầu các pháp ... là do sự phân biệt do tác ý như lý của Ý Thức xảy ra ...

KLL

************************

Đầu xuân khai bút rất hay.

7237

VQ6 Kính tặng.
 
Last edited by a moderator:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Giải thích thuật ngữ.

Tích Tôn giả A na Luật:

Tôn Giả A Na Luật, Đệ Nhất Thiên Nhãn (Anurudha)

A Na Luật sinh ra trong dòng dõi vua chúa. Khi tuổi còn nhỏ, A Na Luật là một đứa trẻ thiên tư hoạt bát và rất thông minh mẫn tiệp. Đến tuổi trưởng thành, A Na Luật là một thanh niên tướng mạo đường đường và bắt đầu hiểu được ý nghĩa cuộc đời.

Nhắc lại sau khi thành đạo thì đức Phật trở về cung thành Ca Tỳ La Vệ thuyết pháp giáo hóa và sau đó thì con Phật là La Hầu La cũng xuất gia theo Phật. Vua Tịnh Phạn bèn lập Bạt Đề lên làm Thái tử để kế nghiệp mai sau. Về sau Thái tử Bạt Đề cùng với sáu vị vương tử khác đi xuất gia, thành thử khi vua Tịnh Phạn băng hà thì anh của A Na Luật là đại tướng Ma Ha Nam lên nối ngôi.

Sức cảm hóa của Thế Tôn quá mạnh, nên sau chuyến về thăm phụ vương và gia đình thì chẳng bao lâu trong hoàng tộc rất nhiều người xuống tóc quy y theo Phật. Trước tiên là Nan Đà, người sẽ thay Phật làm vua tương lai, theo Phật làm sa môn, kế đến là La Hầu La làm sa di. Điều nầy làm chấn động những vương tử thanh niên trong thành. A Na Luật cũng nằm trong tình trạng ấy vì chính ông cũng muốn xuất gia theo Phật.

Trong lúc còn đang bâng khuâng, A Na Luật tìm đến anh là Ma Ha Nam mà nói:

- Thưa anh! Đức Phật trở về hoàng cung khiến cho mấy ngày gần đây, dòng họ Thích Ca chúng ta nhiều người cũng xuất gia làm sa môn để đem cam lồ pháp vũ của Phật truyền đi khắp tứ phương. Theo em nghĩ đó là một cuộc sống đầy ý nghĩa. Thái tử Nan Đà tuy có vợ đẹp là Tôn Đà Lị mà còn bỏ để gia nhập tăng đoàn. Còn La Hầu La nhỏ tuổi như vậy mà cũng xuất gia học đạo. Hai anh em ta nếu không có một người xuất gia thì thật là bất ổn. Vậy ý anh như thế nào? Đại tướng Ma Ha Nam anh dũng đã lập nhiều chiến công với quốc gia, nghe em nói bèn trả lời:

- A Na Luật! Lời nói của em giống anh. Hai anh em mình nhất định phải có một người đi xuất gia mới đúng cách . Anh định bàn với em, từ nay em hãy lo hiếu dưỡng cha mẹ để anh theo Phật làm sa môn.

A Na Luật lắc đầu không chịu:

- Anh không thể xuất gia được, nước nhà rất cần anh. Tuy em cũng biết võ công nhưng sánh với anh thật là thua xa. Xin anh hãy để em xuất gia, thêm nữa tính em thì thích hợp với lối sống tịch tịnh của tăng đoàn vì em không ưa chỗ ồn ào náo nhiệt cũng như nhàm chán ngũ dục của hoàng cung.

Ma Ha Nam đành phải nhượng bộ trước lập luận của em mình, nhưng từ khi La Hầu La xuất gia thì Đức Phật đã hứa với vua Tịnh Phạn là trẻ em dưới tuổi vị thành niên mà muốn xuất gia phải có sự chấp thuận của cha mẹ. Vì thế A Na Luật chỉ còn cách là năn nỉ với vương phụ và vương mẫu để cho mình được gia nhập tăng đoàn làm tỳ kheo.

Cho dù đôi ba phen nài nỉ, A Na Luật vẫn bị từ chối nên cuối cùng ông định tuyệt thực cho đến chết. Cha mẹ A Na Luật vì thương con mà phải chịu, nhưng nói:

- Nếu như con muốn xuất gia thì hãy thương lượng với vương tử Bạt Đề. Nếu Bạt Đề xuất gia thì chúng ta cho con đi chung bằng không thì đừng đòi hỏi trông mong nữa.

Thuyết phục vương tử Bạt Đề đi xuất gia không phải là chuyện dễ bởi vì sau khi La Hầu La làm sa di thì vương tử sẽ kế ngôi vua xứ Ca Tỳ La Vệ khi vua Tịnh Phạn băng hà. Mặc dầu việc khó như thế, nhưng A Na Luật vẫn đem ý định xuất gia nói và rủ Bạt Đề cùng xuất gia với mình.

Đối với việc từ bỏ dục lạc, vinh hoa phú quý của cuộc đời để xuất gia tu đạo thì Bạt Đề cảm thấy rất khó, nhưng đối với chỗ thân tình như A Na Luật thì khó mà từ chối thẳng nên Bạt Đề suy nghĩ giây lát rồi miễn cưỡng trả lời:

- A Na Luật! xuất gia làm tỳ kheo chẳng còn được lưu luyến dục lạc thế gian, ta và em đều còn trẻ làm sao đủ sức chịu nổi? Em hãy đợi vài năm, chúng ta hưởng hết những thú vui vương giả. Bảy năm sau ta sẽ xuất gia với em.

Rõ ràng là Bạt Đề khéo léo từ chối, nhưng A Na Luật đôi ba phen nói rõ niềm vui của cuộc đời xuất gia nên Bạt Đề hẹn từ bảy năm xưống còn một năm. Rồi từ một năm xuống còn một tháng và cuối cùng từ một tháng giảm còn 7 ngày.

Bảy ngày sau, A Na Luật cùng Bạt Đề và năm vị vương tử khác là A Nan, Đề Bà, Kiếp Tân Na, Bà Sa và Nan Đề đồng lén bỏ nhà ra đi tìm những con đường Phật thường đến du hóa. Khi đến mé rừng thuộc làng Di Na, các vương tử cởi bỏ y phục, bảo Ưu Bà Ly cạo hết râu tóc, khoác áo cà sa và tìm đến yết kiến Phật.

Đức Phật chưa cho gia nhập tăng đoàn ngay mà bảo họ đến ở trong tịnh thất để tịnh tọa một tuần lễ cho quên hết thân thế cao sang của mình rồi sau mới chính thức cho xuất gia và ra mắt đại chúng.


Từ Chối Thiếu Nữ Cầu Hôn

Sau khi xuất gia, A Na Luật thường nghe giảng kinh điển, làm quen với lối sống đạm bạc và đối với lời dạy của Đức Phật thì hoan hỷ phụng hành.

Tuy chưa chứng thánh quả nhưng được kích động bởi niềm vui Phật pháp cũng như muốn báo ân đức Phật đã cho xuất gia nên A Na Luật dự định làm một chuyến giáo hóa phương xa. Đức Thế Tôn rất hoan hỷ và khuyến khích tôn giả cần phải có nhiệt tâm hoằng pháp lợi sanh. Vì trong khi làm việc độ sanh là phương cách nuôi lớn tín tâm mà tín tâm có mạnh thì mới có thể hy vọng khai ngộ chứng quả thánh được.

Một ngày nọ, A Na Luật từ tịnh xá Kỳ Viên đi đến nước Kiều Tát La. Trong suốt đoạn đường không có chỗ nào cho tỳ kheo tạm trú, A Na Luật không còn cách nào khác hơn là xin ngủ nhờ nhà dân chúng. Trong chốn đồng quê vắng vẻ và làng xóm lưa thưa, A Na Luật ghé lại một ngôi nhà có vẻ rộng rãi để xin tá túc qua đêm. Thật chẳng ngờ hôm ấy cả nhà đi vắng hết chỉ còn một cô gái trẻ tuổi ở nhà mà thôi. A Na Luật bị đặt vào hoàn cảnh tấn thối lưỡng nan vì một tỳ kheo mà lại nghỉ đêm tại ngôi nhà chỉ có một người thiếu nữ thì quá bất tiện mặc dù Đức Phật chưa chế giới đề cập đến điều nầy, còn ra đi thì ngoài trời mây đen phủ kín như sắp mưa to. A Na Luật không biết làm sao đành phải xin ở lại. Trong khi A Na Luật vào nhà không lâu thì có một ông già lỡ đường ghé vào xin tá túc nhưng cô chủ nhà quyết liệt từ chối. Thấy cô đối xử với ông già không chút lễ độ cũng không có tình người, A Na Luật không mấy hài lòng.

Ngược lại thiếu nữ đối với A Na Luật rất ân cần, mời trà mời nước cũng như hỏi gần hỏi xa. A Na Luật chỉ ngồi tịnh tọa, nhất tâm niệm Phật và mong cho trời sáng để đi khỏi nơi nầy.

Đến nửa đêm, ánh đèn dần dần mờ ảo,mông lung. Thiếu nữ đến bên A Na Luật thốt lời tình tứ:

- Em biết thầy là một sa môn và đối với sa môn mà có ý nghĩ nầy nọ thì không phải, nhưng từ khi em gặp thầy thật khó ngăn được cảm tình. Xin thầy hãy tin em, em không phải là hạng gái trắc nết trăng hoa, rất nhiều công tử đến cầu hôn mà em chẳng nhận lời ai. Em thấy thầy dung mạo thanh tân, hành vi đoan trang nên em không sợ xấu hổ mà xin nguyện tự đính hôn ước với thầy. Từ nay mời thầy cứ ở lại nhà em, ba má em nhất định rất vui mừng đấy ạ.

A Na Luật vốn dòng dõi vương tôn anh tuấn, đối với chuyện ái tình của các cô thiếu nữ, A Na Luật cũng có chút kinh nghiệm. Vốn từ thời còn ở hoàng gia, cũng có nhiều công nương bao vây xin cầu hôn, tuy nhiên A Na Luật nhận thấy ái tình chẳng vui sướng gì vì thế A Na Luật không hề bị nhiễm dục mê hoặc. Đối với A Na Luật thì chỉ có tu đạo mới thật là niềm vui an ổn nhất.

Khi lửa ái tình của thiếu nữ bộc phát thì khó mà dập tắt ngay nên A Na Luật chỉ còn cách là nhắm nghiền đôi mắt, không ngó ngàng thì cô ta mắc cỡ mà lui ra. Nhưng cô nàng lại có ý đồ bất chánh, liền tiến tới nắm tay tôn giả. A Na Luật vẫn ngồi yên như một quả núi không nhúc nhích khiến cô nọ dạn dĩ ôm choàng lấy Ngài. Lúc ấy A Na Luật mới trừng mắt nhìn cô ta trách rằng:

- Này cô nương! Cô không mắc cỡ sao? Nam nữ còn không thể làm như vậy. Huống chi tôi là người xuất gia, sao cô lại đối với tôi chẳng có chút lễ độ?

Tình ái của nam nữ trên thế gian là nguồn gốc của bể khổ sanh tử để gây ra đủ thứ phiền não, thị phi và rối răm. Cô hãy dẹp tắt lửa tình của cô và hãy nhìn lại lòng mình.

Lời nói nghiêm nghị của A Na Luật khiến thiếu nữ hổ thẹn cúi đầu hối hận. Sau đó, xin A Na Luật tiếp dẫn cho mình quy y Phật làm Ưu Bà Di (tín nữ).

Tình cảm nam nữ là tập quán của loài người, nhưng người tu chân chính phải vượt khỏi tính người tầm thường thì mới tiếp thọ được tính Phật cao siêu mầu nhiệm. Từ đó về sau A Na Luật không dám ngủ lại ban đêm ở nhà nhân gian.


Bị Mù Vì Lời Nguyện

Đạo tâm của A Na Luật rất kiên cố cho dù gặp sắc đẹp mà cũng không xao động. Nhưng một hôm trong một buổi giảng kinh của Thế Tôn, A Na Luật ngủ gục tại tỏa làm Đức Thế Tôn ở xa nhìn thấy bèn nói:

Dốt thay kẻ mê ngủ

Thu mình trong vỏ sò

Một giấc ngủ ngàn năm

Không nghe danh hiệu Phật.

Người tỳ kheo kế bên bèn xô nhẹ A Na Luật làm tôn giả hoảng kinh thức dậy, Đức Thế Tôn bèn hỏi:

- A Na Luật! Ông đi xuất gia vì sợ phép nước hay vì sợ đạo tặc?

A Na Luật vội đứng lên cung kính thưa:

- Thưa không phải.

Phật lại hỏi:

- Bạch Thế Tôn! Vì con nhàm chán sanh lão bịnh tử và muốn giải thoát ưu bi khổ não.

Phật dạy:

- Mọi người đều khen ông không vì nữ sắc mà phạm giới, chắc ông tự mãn điều ấy lắm, ông xem, trong khi ta thuyết pháp mà ông ngủ ngon như vậy.

A Na Luật nghe Phật quở liền quỳ xuống chấp tay thưa:

- Bạch Thế Tôn! Xin từ bi lượng thứ cho sự ngu si giải đãi của con. Từ nay về sau, cho đến lúc chết con không ngủ trở lại nữa!

Đối với đệ tử biết nhận lỗi sám hối thì đức Phật rất hoan hỷ. Kể từ khi A Na Luật phát nguyện, Đức Phật thường cổ động an ủi và khuyên tôn giả nên gắng dụng công vì việc tu hành mà muốn thành tựu thì không thể buông lơi và dĩ nhiên cũng không thể quá gấp rút. Từ đó về sau A Na Luật dụng công chăm chỉ từ sáng đến tối và từ đêm đến ngày không ngừng nghỉ.

Khi tu hành mà không ngủ một lúc, hoặc một hai ngày thì chẳng sao, nhưng lâu ngày chày tháng, tuy sức người có thể miễn cưỡng cầm cự được, nhưng sắc thân tứ đại sẽ bị kiệt quệ và mang bịnh. Quả thật ít lâu sau, vì không ngủ nghê gì cả, hai mắt của A Na Luật bị sưng húp làm cho nhức nhối khó chịu.

Đức Phật biết tôn giả chuyên cần dụng công đến sưng mắt nên Ngài rất lo lắng. Một hôm Đức Phật cho gọi A Na Luật vào rồi dạy:

- A Na Luật! Ta nói với ông tu hành mà gấp rút thì không xong mà thái quá thì cũng không được.

A Na Luật thưa:

- Con đã từng phát nguyện trước Đức Thế Tôn nên con không thể làm trái lời nguyện.

Phật dạy:

- Ông đừng quan tâm đến vấn đề phát nguyện, con mắt mới quan trọng.

Tuy Đức Phật từ bi nói như vậy, nhưng A Na Luật vẫn không chịu ngủ. Đức Phật lại tìm phương tiện nói:

- Này A Na Luật! Tất cả chúng sinh phải có thức ăn mới sống, còn lỗ tai dùng âm thanh làm thức ăn, lỗ mũi dùng mùi hương làm thức ăn, lưỡi dùng vị nếm làm thức ăn, thân dùng xúc chạm làm thức ăn và con mắt dùng ngủ nghỉ làm thức ăn. Ông không ngủ không được vì con mắt sẽ thiếu nhu cầu mà ngay cả Niết Bàn cũng cần đến thức ăn huống chi con mắt.

A Na Luật thưa:

- Niết Bàn ăn những gì?

- Niết Bàn cần dùng thiền duyệt pháp hỷ làm thức ăn vì thiền duyệt sẽ đưa đến được cảnh giới vô vi tịch tịnh.

A Na Luật bạch Phật:

- Bạch Thế Tôn! Con không ngủ cũng chẳng hại gì, xin Ngài cứ yên tâm!

Lòng từ bi của Phật, A Na Luật rất cảm kích, nhưng tôn giả không muốn làm trái lời nguyện. A Na Luật cứ thức mãi đến lúc đôi mắt sưng đỏ, Đức Thế Tôn thấy thế bèn cho mời ngự y Kỳ Bà đến trị bịnh cho tôn giả. Kỳ Bà khám bịnh xong bảo A Na Luật chỉ cần ngủ trở lại thì mắt sẽ lành ngay, nhưng A Na Luật vẫn kiên quyết không ngủ. Chẳng bao lâu hai mắt của tôn giả trở thành mù lòa không còn thấy gì cả.

A Na Luật đã chứng minh rằng với quyết tâm sắt đá và tâm nguyện tu đạo kiên cố cho dù phải hy sinh đôi mắt mà vẫn không lùi bước để trái với lời nguyện của mình. Đức phật chỉ nói một câu mà tôn giả đã phụng hành như thế thì đủ biết lòng cung kính của tôn giả đối với Đức Phật như thế nào.



Đức Phật Vá Y Cho A Na Luật

Từ khi trở thành mù lòa thì cuộc sống của A Na Luật bỗng trở thành vô cùng khó khăn, ngay cả những việc bình thường như vá y hay đi khất thực.

Trong tăng chúng có nhiều vị tỳ kheo khỏe mạnh thì mỗi khi đi khất thực về thường đem phần cơm dư chia cho các tỳ kheo bịnh thành thử đối với việc ăn uống thì A Na Luật cũng tạm yên tâm. Từ khi bị mù lòa, không trông thấy mọi vật khiến A Na Luật không còn bị ngoại cảnh làm lay động nên tôn giả một lòng chỉ chú tâm tinh tấn mà tu đạo.

Một hôm, ba y của A Na Luật đã rách nát và mấy lần tôn giả định vá lại, nhưng con mắt không thấy đường thì làm sao xỏ kim. Đang lúc còn đang bâng khuâng thì gặp lúc A Nan đi ngang qua. A Nan thấy vậy mới nói:

- Này anh A Na Luật! Ba y của anh rách hết rồi sao không vá lại. Đức Phật có dạy là y phục mới hay cũ không cần, nhưng cần phải chú trọng cho tề chỉnh sạch sẽ.

A Na Luật trả lời:

- Thưa anh A Nan! Tôi đã thử vá mấy cái y, nhưng con mắt tối đen không xỏ chỉ được, nếu anh có rãnh đến giúp tôi một phen được chứ?

A Nan rất hoan hỷ nhận lời và hẹn ngày đến vá y.

A Nan về đến tịnh xá Kỳ Viên định tìm thêm một vị tỳ kheo nữa để giúp A Na Luật, nhưng thiên nhĩ của Đức Phật đã nghe hai người đối đáp nên khi vừa gặp A Nan thì Ngài liền hỏi:

- Này A Nan! Sao ông không nói với ta đi vá y giúp A Na Luật?

A Nan nghe Phật hỏi bất ngờ vội thưa:

- Bạch Thế Tôn! Ngài là bậc tôn quý, những việc vụn vặt của đệ tử chúng con không dám làm bận rộn Thế Tôn. Con và các tỳ kheo đều muốn giúp A Na Luật vá y nên con đang dự định đi.

Phật dạy:

- A Nan ! Ông đừng nên nói thế, ta cũng như các ông cũng là một phần tử trong tăng đoàn. Ta sẽ đi với ông vậy ông khỏi đi tìm nhiều người làm chi.

Đức Phật nói lời ấy khiến A Nan vô cùng cảm động. Mục Kiền Liên đứng kế bên cũng cảm kích lòng từ bi sâu thẳm của Đức Phật. Các vị đều nguyện theo Phật đến giúp A Na Luật.

Phật đến núi Ba La La và nói với A Na Luật:

- A Na Luật! Ông đem hộp kim chỉ ra đây. Ta đến để giúp ông vá y.

Nghe tiếng Đức Phật, A Na Luật bất ngờ hoang mang và trong đôi mắt mù lòa bỗng ứa vài giọt lệ nên không biết phải nói thế nào đây.

Đức Phật xâu kim và lấy vải trong hộp ra đo cắt. A Nan giúp phụ may luôn. Trong vòng một ngày, Đức Phật đã vá xong ba y cho A Na Luật.

Một người là tôn sư, là bậc Thế Tôn phước đức viên mãn, còn một người là đệ tử, là tỳ kheo mù lòa, trong tình sư đệ tương quan. Thầy thì từ bi bác ái, còn đệ tử cung kính đã biểu hiện tình sư đệ của nhà Phật và nêu lên một tấm gương sáng chói ngàn đời.



Nguyên Nhân Làm Nữ Nhân Bị Đọa Lạc

Tuy A Na Luật bị mù lòa đôi mắt, nhưng tâm thì rất sáng suốt lạ thường vì vậy đối với những sinh hoạt hằng ngày thì tôn giả gặp nhiều điều không vừa ý. Đức Phật từ khi giúp tôn giả vá ba y thì Ngài càng quan tâm nhiều hơn. Chính Đức Phật đã dạy cho tôn giả tu tập môn:” Kim Cang Chiếu Minh Tam Muội” và chẳng bao lâu A Na Luật chứng được thiên nhãn thông. Bấy giờ, tôn giả cảm thấy hoàn toàn hân hoan cảm kích không lời nào tả cho hết. Thấy vậy, Đức Phật càng hoan hỷ và từ đó Ngài mới được yên lòng.

Nhờ có thiên nhãn nầy đã giúp cho tôn giả có thể thấy rõ mọi vật ở khắp nơi ngay cả tam thiên đại thiên thế giới. A Na Luật mất nhục nhãn mà được thiên nhãn làm cho tất cả chúng tăng hết lòng ái mộ và kính trọng. Việc chứng được thiên nhãn thông chẳng những do chí nguyện kiên quyết tu hành của tôn giả mà một phần cũng do sức từ bi của Phật gia hộ. Từ đó, A Na Luật không còn lo lắng về việc vá y nữa, chẳng những thế bây giờ tôn giả có thể nhìn thấy nhiều nơi mà người khác không thể thấy được. Đặc biệt trong kinh A Di Đà có nói tôn giả dùng thiên nhãn để thấy được thế giới Cực Lạc ở Tây phương. Vì thế sau nầy, chúng sanh có thể tin tưởng vào cõi Cực Lạc của Phật A Di Đà để cầu được vãng sinh.

Thiên nhãn của tôn giả chẳng những thấy được thế giới Cực Lạc, mà cũng có thể thấy mọi sinh hoạt ở dưới đia ngục. Một hôm, tôn giả nhìn thấy rất nhiều phụ nữ bị đọa trong địa ngục, bèn đến hỏi Phật:

- Bạch Thế Tôn! Hôm nay con thấy rất nhiều phụ nữ bị sa đọa vào địa ngục. Theo con thấy người phụ nữ rất dễ tin theo lời Phật dạy cũng như người nữ nhiều lòng nhân hơn nam giới thì cớ sao họ lại bị đọa địa ngục nhiều hơn?

Phật dạy:




- Này A Na Luật! Trong Phật pháp, người nữ dễ tin theo lời Phật dạy là sự thật, nhưng người nữ bình thường dễ tạo tội nhiều hơn. Người nữ có ba thứ tâm lớn hơn nam giới:

1)Thứ nhất, mỗi sáng sớm thức giấc, tâm tham lam của họ rất nặng vì họ mong rằng tất cả tài bảo trên thế giới đều gom vào nhà họ.

2)Thứ hai, lúc ban trưa, tâm tật đố của họ tăng rất mạnh vì họ cảm thấy rằng toàn thể nhân loại đều làm chướng ngại cho mình.

3)Thứ ba, lúc xế chiều tâm dâm dục của họ lẫy lừng vì lúc nào cũng mong có người dựa kề bên mình.

A Na Luật! Tâm tham lam, tật đố và dâm dục của nữ nhân rất dễ chiêu cảm họ phạm tội. Đó là nguyên nhân khiến họ đọa địa ngục rất nhiều.

A Na Luật chứng thánh quả và đạt được thiên nhãn nên trở thành bậc đệ tử thượng thủ trong tăng đoàn. Nhưng khi bàn về thiên nhãn thông với Xá Lợi Phất thì tôn giả Xá Lợi Phất vẫn răn dạy A Na Luật như thường. Một hôm A Na Luật đến hỏi Xá Lợi Phất:

- Thưa tôn giả! Tôi dùng thiên nhãn thanh tịnh có thể thấy được ba ngàn đại thiên thế giới. Tôi được chánh niệm tinh tấn không lay động, hiện tại thân thể tôi khinh an như dạo chơi trong trời đất tịch mịch và tâm tôi đã lìa chấp trước cũng như không còn tán loạn. Xin hỏi tôn giả đó có phải là ly phiền não đắc giải thoát không?

Xá Lợi Phất là bậc thượng thủ đệ nhất trong tăng đoàn, thường hay thay Phật thuyết pháp nên khi nghe A Na Luật nói thế bèn bày tỏ ý kiến:

- Tôn giả A Na Luật! Vừa rồi ông nói nhờ có thiên nhãn nên thấy rõ ba ngàn đại thiên thế giới, đó là tâm ngã mạn. Ông nói ông có chánh niệm bất động, đó là tâm kiêu ngạo. Ông nói tâm ông lìa chấp trước, không còn tán loạn, đó là tâm cuồng vọng. Theo sự hiểu biết của tôi, cần phải xa lìa tâm ngã mạn, tâm kiêu ngạo, tâm cuồng vọng thì mới thật là lìa phiền não đắc giải thoát.

Đối với lời dạy của Xá Lợi Phất, A Na Luật chẳng những không giận mà còn rất cảm kích. Tôn giả biết rằng lời nói của Xá Lợi Phất là lời nói của bậc chân chánh thấy đạo. Điều nầy chứng tỏ A Na Luật là một người rất khiêm tốn vậy.



Tu Nơi Rừng Sâu Tịch Mịch

Năm đó nhân vào mùa an cư kiết hạ thứ mười, Đức Phật trụ tại nước Câu Diệm Di và chúng đệ tử lúc ấy nổi lên chia rẽ lẫn nhau một cách mãnh liệt. Thấy thế, Đức Phật phải đem chuyện nhẫn nhục của vua Trường Thọ để nhắc nhở cho mọi người. Phật dạy:” Đem oán hận để trả thù cho oán hận thì oán hận kia không bao giờ dứt, chỉ có từ bi nhẫn nại mới dập tắt lửa oán thù”.

Lời Phật dạy đã làm nhiều người cảm động mà từ bỏ tâm sân hận, nhưng vẫn còn một số ít không chịu nhường nhịn và hòa giải với mọi người. Khi ấy Đức Phật lại nhớ đến đức nhẫn nhục khiêm tốn của A Na Luật, Ngài bèn đi bộ một mình đến khu rừng Ba Lợi Da Sa La thuộc nước Bạt Kỳ để thăm A Na Luật đang tu tập trong đó.

Trong rừng Ba Lợi Da Sa La, ngoài A Na Luật còn có Bạt Đề và Kiếp Tần La cùng tu một chỗ. Cả ba đều là anh em chú bác với nhau, khi còn tại gia họ rất thân thiện, nay đã xuất gia thì họ càng thân thiện hơn. Ba vị có một lời minh ước là luôn luôn tuân theo lời chỉ dạy của Đức Thế Tôn để tu hành cho mau đạt thành chánh quả.

A Na Luật hiện tại là một vị A La Hán, còn Bạt Đề và Kiếp Tân Na cũng đã khai ngộ trong mùa an cư kiết hạ của năm đầu xuất gia. Họ nay đã trở thành ba vị thánh giả cùng sống chung một nơi và cùng sinh hoạt an tịnh hòa nhã trong một khu rừng sâu tịch mịch.

Ba vị cùng đính ước chung là bình thường không ai nói chuyện với ai và cứ năm ngày thì họ hợp mặt để luận bàn đạo lý một lần. Họ trình bày cũng như trao đổi sự tu hành tâm đắc, hay cần sửa đổi bất cứ sinh hoạt cuộc sống hằng ngày. Thường ngày, các vị đi vào làng khất thực, nếu vị nào trở về trước thì trải sàng tòa, châm nước trong lu, sắp đặt bồn nước rửa chân và để vải chùi chân bên lu nước. Thọ trai xong, nếu thức ăn còn dư thì để một nơi cao ráo để người về sau nếu ăn không no sẽ lấy thức ăn đó để ăn tiếp.

Sau khi thu dọn gọn ghẽ, tự mình rửa tay rửa chân, sửa sang tọa cụ và vào trong tịnh thất niệm Phật hay tọa thiền. Người về tiếp theo, nếu ăn chưa no thì ăn tiếp thức ăn người trước để lại. Nếu có lợi dưỡng khác thì cũng để dành như vậy, ăn rồi rửa chén bát, lau khô cất riêng một nơi, quét dọn chỗ ngồi ăn, dẹp cất y bát, rửa chân tay, trải tọa cụ tọa thiền tu tập như người trước. Cho đến xế chiều, người xuất thiền trước bèn đến lu xem trong lu còn nước hay hết. Nếu hết thì xách thêm, một người xách không nổi thì đưa tay ra dấu, kêu thêm người giúp. Hai người im lặng khiêng nước xong, im lặng trở về phòng. Và cứ như thế, sinh hoạt của các vị trong chốn rừng u tịch đều đặn trôi qua.

Đức Phật không thích chỗ sân si ồn ào chợt nhớ đến A Na Luật nên đi đến khu rừng hòa bình của ba vị tôn giả. Ngoài bìa rừng có người canh giữ, ông ta không biết Đức Phật vì bình thường Ngài đi giáo hóa các nơi đều có đệ tử theo sau. Hôm nay, đức Phật đi một mình, nên trong lúc bất ngờ thì ông ta không ngờ đó là Đức Phật quang lâm, bèn cản lại:

- Xin Ngài đừng vào đây, trong rừng nầy có ba vị thánh đang tu tập.

Đức Phật mĩm cười, từ tốn trả lời:

- Ông hãy vào nói với họ có người đến thăm chắc chắn họ rất mừng khi thấy ta.

Người giữ rừng vào trước báo tin, A Na Luật nhìn ra thấy chính là Phật Đà quang lâm thì rất mừng rỡ. Ba người vội vàng ra nghinh tiếp, A Na Luật đỡ y bát, Bạt Đề trải tòa, còn Kiếp Tân Na múc nước rửa chân. Đức Thế Tôn được sự đón tiếp thành kính của ba vị đệ tử, Ngài rửa tay chân xong liền an tọa rồi hỏi thăm về cách sinh hoạt và sự tu tập của ba vị. Ba vị thật tình trình bày và Đức Thế Tôn nghe xong thì hoan hỷ khen ngợi:

- Các ông tu hành hòa hợp như thế, cuộc sống đầy an lạc, không tranh cãi trầm tịch. Mỗi người nhất tâm nhất đức mà tu tập thì thật trên đời không có cái nào đẹp hơn.

Đức Phật khen xong lại nói thêm về sự tu hành của Ngài trong kiếp quá khứ để khích lệ ba người. Từ một nơi gây gỗ đến một nơi yên tỉnh hòa bình làm Đức Phật rất hoan hỷ và đối với sự thăm hỏi bất ngờ của Đức Thế Tôn càng làm cho A Na Luật thật vui mừng và phấn khởi.



Cảm Hóa Kẻ Cướp

Sau khi chứng thiên nhãn, tôn giả A Na Luật không phải hoàn toàn ở trong chốn rừng núi để lo tu tập cho riêng mình mà trong tâm tôn giả luôn luôn muốn báo đáp ân đức của Phật đã cho tôn giả niềm vui Phật pháp bằng cách đi hoằng pháp lợi sanh ở những nơi chưa có đệ tử Phật đến.

Bề ngoài A Na Luật có vẻ lạnh lùng, nhưng trong tâm thì nhiệt tình vô hạn. Tôn giả không kể là hoàng cung vua chúa, hay gia trang của trưởng giả cho đến núi sâu, rừng thẳm cũng đều thấy hình bóng của A Na Luật một thời giảng kinh thuyết pháp độ sanh.

Như tại làng Ma Na Đề thuộc nước Chiêm Bà có người đau nặng, sau khi nghe tôn giả thuyết pháp liền dứt hết lo buồn phiền não và sau đó hết bịnh. Từ việc đem lại niềm vui cho bệnh nhân, tôn giả cũng phải đối đầu với bọn hung ác trên đường hành đạo.

Ngày xưa khi A na Luật xin ngủ đêm tại một nhà thường dân, đã bị thiếu nữ trong nhà dụ dỗ lôi kéo, từ đó tôn giả phát nguyện không ghé nhà ai ban đêm. Điều nầy đối với một vị tỳ kheo đi hóa đạo thật là bất tiện mặc dù A Na Luật đã quen với nếp sống đơn giản là ngày ăn một bữa và đêm ngủ dưới bóng cây.

Một hôm, A Na Luật đang du hóa tại một làng quê đến chiều tối thì đi qua khu rừng kế bên để tọa thiền. Đêm hôm ấy trên không trăng soi mờ nhạt, mặt đất in bóng cây lưa thưa và gió thổi lao xao, tôn giả khép mắt ngồi yên đợi cho trời sáng. Đêm càng sâu càng vắng và bóng dáng tôn giả chìm lẫn trong rừng cây tịch mịch. Bỗng từ xa có nhiều tiếng người xì xào bước về phía tôn giả. Khi khoảng cách giữa họ và tôn giả không còn xa mấy, thì tôn giả nhận ra đây chính là bọn cường hào thảo khấu vừa đi cướp bóc về. A Na Luật thở dài một tiếng làm kinh động bọn đạo tặc đang chuẩn bị chia chác với nhau. Vì tiếng thở dài của tôn giả làm cho bọn cường tặc biết có người nghe lén hành động đạo tặc của chúng nên chúng lên tiếng hỏi ngay:

- Các bạn! Chúng ta bị lộ rồi, thật là xui xẻo, chúng ta phải giết ngay tên nầy mới được.

Cả bọn rút dao ra, cầm lăm lăm trên tay sáng ngời và tiến gần đến chỗ ngồi A Na Luật. Tôn giả liền nói lớn:

- Các ngươi muốn giết ta thì hãy đến giết đi, nhưng khi ta chết rồi thì các ngươi cũng không toàn mạng.

Bọn cướp nghe nói kinh hãi, đưa mắt nhìn nhau, chẳng biết phải đối phó ra sao. Sau cùng tên đầu đảng xem xét lại một lúc rồi mới nói:

- Ông là ai? Lại chen vào phá hoại việc làm của chúng ta đêm nay?

A Na Luật nghiêm trang trả lời:

- Ta là sa môn, đang tịnh tọa tại chỗ nầy. Nếu nói rằng ta thấy các ngươi làm quấy thì được, còn nói ta phá hoại việc làm của các ngươi thì không đúng.

Tên đầu đảng hỏi:

- Ông sẽ đi tố cáo chúng ta phải không?

Tôn giả đáp:

- Ta chẳng cần đến quan phủ tố cáo làm gì. Tuy ta không báo cáo các ngươi và quan tại địa phương không biết hành động của các ngươi, nhưng nhân quả báo ứng chẳng tha cho các ngươi bao giờ. Ta xót thương cho các ngươi sau nầy chịu nhiều quả khổ bi thảm. Thật đáng tiếc thay!

Lời nói của tôn giả đánh thức lương tâm của bọn cướp khiến chúng vứt bỏ hết khí giới, lòng hung ác biến đi và được thế bằng bản chất thuần lương trung hậu. Tất cả lãnh thọ lời dạy của tôn giả và đồng phát nguyện quy y Phật để trở lại cuộc sống của những người dân lương thiện, tử tế.

Phật Dạy Bát Đại Nhân Giác

Đối với A Na Luật thì việc hoằng pháp lợi sanh rất quan trọng cho việc phát huy Phật giáo đến khắp mọi người, nhưng tôn giả không bao giờ sao lãng việc tu học cho chính mình. Một hôm, tôn giả ở lại nước Chi Đề và đang tịnh tọa tại làng Sấu Thủy Chử thì chợt tư duy về ý nghĩa chữ Đạo. A Na Luật tự hiểu rằng: Đạo chẳng phải do tham dục mà đạt được mà cần phải do tri túc mới đạt đến. Đạo không thể tìm cầu ở những nơi ồn áo náo nhiệt mà chỉ ở những nơi vắng vẻ an nhàn mới thấy được đạo. Cầu đạo thì phải cần tinh tấn, chánh niệm cũng như phải tu học và trí tuệ mới mong đạt được.

Lúc tôn giả đang tu duy về chữ Đạo, thì Đức Thế Tôn ở tại vườn Lệ Dã thuộc nước Bà Kỳ Sấu dùng tha tâm thong biết được tâm sở cầu của tôn giả bèn đặc biệt ngự đến làng Sấu Thủy Chử để khen A Na Luật đã tư duy chân chánh và khởi niệm chân chánh. Một lần nữa, tôn giả lại được vinh hạnh tự thân Đức Phật quang lâm đến chỗ cư ngụ của mình.

A Na Luật đem vấn đề suy nghĩ của mình ra trình và thỉnh Phật ấn chứng. Tôn giả thưa:

- Bạch Thế Tôn! Sống trong tăng đoàn vì lục hòa mà không nghĩ đến lợi riêng và quên bản ngã thì điều ấy chúng con làm được cũng như đối với chúng sanh phải hết lòng từ bi nhân ái thì điều ấy chúng con đã biết. Nhưng, Bạch Thế Tôn! Chúng tại gia rất đông và hàng đệ tử xuất gia đi vào xã hội để hoằng pháp lợi sanh cũng rất đông thế thì làm thế nào để họ cũng được giác ngộ, tấn nhập Niết Bàn. Xin Đức Phật từ bi khai thị.

Đức Thế Tôn bèn hoan hỷ giảng Bát Đại Nhân Giác:

- A Na Luật! Ông hỏi điều ấy rất hay. Ông đã nghĩ đến vấn đề cho người tu học Bồ Tát đạo, ta sẽ vì ông nói Bát Đại Nhân Giác cho hàng đệ tử Phật chí thành tụng niệm cả ngày lẫn đêm:

Ø Điều thứ nhất: Các ông đối với thế gian và nhân sinh nên quán vô thường, vô ngã, nỗi khổ, lý không và bất tịnh. Nên rời xa sanh tử để cầu được giác ngộ.

Ø Điều thứ hai: Các ông cần phải biết căn nguyên của nỗi khổ vốn là đối với tham dục thế gian không chịu rời bỏ. Các ông nên ít muốn vô vi thì thân tâm mới được tự tại.

Ø Điều thứ ba: Các ông cần xét kỹ tâm không biết chán đủ của mình, suốt ngày do tham cầu mà tạo tội. Nếu có thể an bần thủ đạo, tri túc thường lạc, lấy trí tuệ làm sự nghiệp thì cuộc sống mới được bình an.

Ø Điều thứ tư: Các ông không được làm biếng hay trễ nãi trong khi làm việc lành và đối với sự lợi ích cho người không nên thối tâm. Phải tiêu diệt phiền não, hàng phục ma chướng mới có thể ra khỏi lao ngục của ba cõi.

Ø Điều thứ năm: Các ông cần phải nhận định cho rõ ràng là sanh tử luân hồi rất đáng sợ nên cần phải chuyên tâm tu học để thấu triệt đạo lý nầy rồi phát tâm giáo hóa chúng sanh để đem an lạc đến cho họ.

Ø Điều thứ sáu: Các ông phải biết rằng người nghèo khổ rất nhiều lòng oán hận. Bồ tát phải đem tài vật cứu tế cho họ, dùng tinh thần an ủi họ và dạy họ không nên ghi nhớ hận thù cũng như không nên oán trách người khác.

Ø Điều thứ bảy: Các ông trong cuộc đời đừng để cho ngũ dục đánh ngã. Không kể là tại gia hay xuất gia, đừng chạy theo đắm nhiễm dục lạc của thế gian và cần có nếp sống thanh tịnh tinh khiết.

Ø Điều thứ tám: Các ông đừng làm kẻ ích kỷ, nên phát tâm từ bi để độ khắp tất cả chúng sanh và nguyện cho chúng sanh bớt khổ cũng như đừng vì lợi riêng mình mà cầu an lạc.

Ø Nhân lời thưa hỏi của tôn giả A Na Luật mà Đức Phật đã giảng tám điều cần yếu cho người tu học Bồ Tát đạo. Chúng sanh theo đó mà tu hành để cải thiện sinh hoạt hằng ngày khiến cho nếp sống của họ trở nên an lạc và tự tại.



Lời Sau Cùng Với Đức Phật

Sự hoạt động tích cực của tôn giả bên ngoài tăng đoàn như thế nào thì bên trong Đức Phật cũng đãi ngộ tôn giả như thế ấy. Tôn giả cùng các vị đại đệ tử của Phật như Xá Lợi Phất, Mục Kiền Liên… là những tấm gương sáng cho Phật giáo trải dài mấy ngàn năm trong lịch sử.

Khi giác hạnh của Đức Phật đã viên mãn thì Ngài đã 80 tuổi và Đức Thế Tôn quyết định nhập diệt tại thành Câu Thi Na bên rừng cây Long Thọ thì tôn giả A Na Luật và tôn giả A Nan đều có mặt bên cạnh.

Lúc ấy nhằm ngày rằm tháng hai, Đức thế Tôn nằm nghiêng giữa hai cây Long Thọ có hoa đỏ thắm phủ trên thân Ngài trên đỉnh núi phía Tây với trăng tròn chiếu sáng. Các đệ tử vây quanh bốn bên và quỳ lớp lớp từ trong ra ngoài để nghe Đức Phật thuyết giảng lần cuối cùng. Ngài dặn dò cặn kẽ các đệ tử nên giữ trì giới, hoằng pháp lợi sanh, tinh tấn tu tập, nêu cao đức tính nhẫn nhục và giữ gìn khẩu nghiệp. Cuối cùng, như còn lo ngại cho hàng đệ tử về sau, Đức Phật dạy:

- Này các tỳ kheo! Đối với pháp ta đã giảng dạy, các ông cố gắng noi theo chớ đừng quên lãng. Ta ví như ông lương y chẩn bịnh cho thuốc mà lành bệnh hay không chẳng phải lỗi ở thầy, ta cũng như người dẫn đường tài giỏi để dẫn người đi đến đường lành, còn đi hay không chẳng phải là lỗi ở người hướng dẫn. Này các tỳ kheo! Những pháp như tứ diệu đế, mười hai nhân duyên ta đã nói đó đều là chân lý mà ta đã chứng ngộ và nó sẽ là ngọn đèn sáng cho thế gian và cũng là chiếc thuyền vượt qua biển khổ. Người nào hiểu rõ không còn nghi ngờ đối với các pháp đó là đã vào đạo. Nay ta sắp nhập diệt, nếu các ông còn có điều gì nghi ngờ hãy mau ra thưa hỏi, ta sẽ giải thích cho.

Đức Phật đã tha thiết hỏi đi hỏi lại ba lần trong đêm vắng lặng, nhưng đại chúng đều lặng thinh không một lời thưa hỏi. Thật ra đại chúng đều là những đệ tử theo Phật lâu năm nên đối với các pháp căn bản không còn chỗ nào không hiểu. Lúc ấy, tôn giả A Na Luật là người đủ tư cách đại diện cho tăng đoàn, bèn quỳ gối mặt rồi chắp tay cung kính mà bạch Phật rằng:

- Bạch Thế Tôn! Đệ tử chúng con đều đã hiểu sâu pháp tứ diệu đế và mười hai nhân duyên là chân lý của vũ trụ nhân sinh. Trên thế gian nầy, mặt trời có thể lặn, mặt trăng có thể nóng, tuyết sơn có thể biến thành biển cả và đại địa có thể thành gò đất, nhưng giáo pháp tứ diệu đế và mười hai nhân duyên của Phật thì không bao giờ thay đổi.

Đức Phật an tịnh nghe A Na Luật thưa xong thì trên gương mặt lộ vẻ hoan hỷ vì câu trả lời của A Na Luật đã đáp ứng được sự lưu tâm của Ngài trong suốt 49 năm hành cước hóa độ chúng sanh. Sau khi Đức Phật nhập diệt thì tôn giả cùng với 500 vị đại A La Hán lo kết tập kinh điển trong núi Kỳ Xà Quật, nhưng không thấy nói đến sự tích của tôn giả về sau kể cả việc quan trọng như tôn giả nhập diệt ở đâu và khi nào? Thật là một điều đáng tiếc!

Tôn giả A Na Luật có ý chí kiên cường không lay chuyển. Cho dù có mù đi đôi mắt mà không hề thối tâm khiến cho đại chúng hết lòng cảm phục. Mất nhục nhãn mà được thiên nhãn giúp cho tôn giả tu hành và truyền đạo vô cùng an tường tự tại. Tôn giả A Na Luật quả thật xứng danh là vị thượng thủ trong giáo đoàn.
(theo Lê Sỹ Minh Tùng )
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Giải thích thuật ngữ.
Kinh văn:

A Nan ! Các vật gần xa đó, tuy khác nhau, nhưng đều do tánh thấy thanh tịnh (hiện lượng, đệ nhất sát na) của ông.

(hết trích)

* "SÁT NA " NGHĨA LÀ GÌ ?

Sát na là thuật ngữ nhà Phật hay sử dụng, chỉ đơn vị ngắn nhất của thời gian; hay nói cách khác, sát na chỉ thời gian chớp nhoáng của mỗi biến đổi.
Danh từ sát na (Khana) được dùng để chỉ thời gian chớp nhoáng của mỗi biến đổi. Theo Abhidhamma Mahàvibhàsa (Đại Trí Luận) những sự biến đổi của hiện tượng giới được giải thích một cách rõ ràng như sau: "Vạn pháp luôn luôn biến đổi, không một vật gì có thể tồn tại trong hai sát na liên tiếp". Một ngày 24 giờ được tính bằng sáu ngàn bốn trăm tỷ, chín vạn, chín ngàn, chín trăm tám mươi sát na.
Vào thế kỷ thứ 5, Ngài Phật Âm (Buddhaghosa) đã viết trong Visuddhimagga (Thanh Tịnh Đạo) như sau:
"Theo nghĩa rốt ráo, mỗi sát na của sự sinh tồn rất ngắn ngủi, chớp nhoáng như một ý niệm phát khởi. Giống như một bánh xe, khi lăn chỉ tiếp xúc với mặt phẳng tại một điểm, khi dừng cũng chỉ tựa trên một điểm, cũng vậy mỗi sát na sinh tồn của chúng sanh chỉ tồn tại trong một tâm niệm, khi tâm niệm chấm dứt, thì đời sống chúng sanh ấy cũng chấm dứt. Ở quá khứ, chúng sanh ấy chỉ sống trong một tâm niệm quá khứ chứ không sống trong một tâm niệm hiện tại và vị lai; trong hiện tại chúng sanh ấy chỉ sống trong một tâm niệm hiện tại, không sống trong một tâm niệm quá khứ, vị lai; trong vị lai chúng sanh ấy chỉ sống trong một tâm niệm vị lai chứ không sống trong tâm niệm quá khứ và hiện tại."
theo: https://hoaanhdao1973.violet.vn/entry/show/entry_id/9374750

* đệ nhất sát na là gì ?

Khi CĂN và TRẦN tiếp xúc với nhau. Điểm tiếp xúc vào thời điểm sát na đầu tiên đó là : "đệ nhất sát na"


* Hiện lượng là gì ?

Lượng (zh. 量, sa. pramāṇa, en. cognition, de. Erkenntnis), là một thuật ngữ quan trọng trong Nhân minh học của đạo Phật, có nghĩa là "nhận thức, lượng biết đối tượng." Người ta phân biệt ba loại lượng:

1. Hiện lượng (zh. 現量, sa. pratyakṣapramāṇa): là năng lực nhận thức cảm tính, trực tiếp thông qua các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân. Trong hiện lượng, người phân biệt hai loại:

1. Chân hiện lượng (zh. 真現量), là trí biết không tỏ ra sự phân biệt bao gồm ba đặc điểm:a) Hiện thức (zh. 現識; chỉ các giác quan), chỉ các thức của mắt, tai, mũi, lưỡi và thân hiện tại khởi tác dụng;b) Hiện cảnh (現 境), chỉ các cảnh, các đối tượng của các giác quan như sắc, âm thanh, hương, vị và vật được chạm xúc;c) Bất tư lự (zh. 不思慮), nghĩa là trong lúc đối cảnh thì trí biết và vật đều hiện diện rõ ràng đồng thời trí vừa đối vật thì biết ngay, nhưng chưa tỏ ra ý phân biệt. Chân hiện lượng ở đây chính là hiện lượng hoặc gọi ngắn là "lượng" (en. valid cognition, de. gültige Erkenntnis) trong Nhân minh học (zh. 因明學, sa. hetuvidyā).Hiện lượng đúng, có giá trị phải chú trọng đến năm trường hợp sau:

  1. Không nương "ức tưởng", suy ức quá khứ, tưởng tượng vị lai;
  2. Không dựa vào "ảo giác", ví dụ như không được cho là "mặt trăng chạy theo mình", "bờ chạy" thay vì thuyền đi;
  3. Không dựa vào "thố giác", nghĩa là không cho rằng sợi dây là con rắn;
  4. Không nương vào "loạn giác", không nhắm, dụi mắt mà cho là có hoa đốm;
  5. Không nương vào cái "tư lự", cái "hiểu biết phân biệt", so sánh danh tướng sự vật.
Các trường phái đạo Phật cho rằng có bốn loại Chân hiện lượng, đó là:
  1. Căn hiện lượng (zh. 根現量, sa. pratyakṣa), nhận thức trực tiếp qua những giác quan;
  2. Ngũ câu ý thức hiện lượng (zh. 五俱意識現量, sa. mānasapratyakṣa), tức là ý thức với năm căn cùng lúc nhận thức năm trần;
  3. Tự chứng phần hiện lượng (zh. 自證分現量, sa. svasaṃvedāna), tức sự nhận biết của thức tự chứng phần;
  4. Định tâm hiện lượng (zh. 定心現量, sa. yogipratyakṣa, dịch sát nghĩa là "hiện lượng của một Du-già sư"), tức là sự nhận biết cảnh tượng trong lúc thiền định của một thiền giả (Du-già sư). Định tâm hiện lượng này có giá trị hơn hết so với ba loại hiện lượng trên bởi vì qua đó, nội dung của Tứ diệu đế, tính Không, tính Bất nhị của Niết-bàn, Luân hồi trở thành đối tượng nhận thức trực tiếp và Thiền giả sẽ tự biết, tự chứng minh được sự chân chính của tất cả lý thuyết Phật giảng. Cái hiểu biết gián tiếp, trợ mượn đã trở thành một niềm tin vững chắc.
2. Tự (tợ) hiện lượng (zh. 似現量), là trí nhận thức có phân biệt, có cùng điểm a) và b) của chân hiện lượng nhưng khác nhau ở điểm c), tức là có tư lự. "Có tư lự" ở đây được hiểu là lúc đối cảnh, trí người nhìn thấy sự vật có phân biệt vật này, tên nọ…
2. Tỉ lượng (zh. 比量, sa. anumāṇapramāṇa, en. inference, de. Schlussfolgerung): là khả năng nhận thức lý tính, gián tiếp thông qua các quá trình của tư duy, trừu tượng như phán đoán, suy luận, chứng minh, bác bỏ. Tỉ lượng chính là cái biết bằng so sánh. Do sự kiện đã được biết, được thấy mà suy ra những gì chưa trực tiếp biết đến, thấy đến. Ví dụ như "cách núi thấy khói biết có lửa, cách tường thấy sừng biết có trâu". Có hai loại tỉ lượng:


  1. Chân tỉ lượng (zh. 真比量): là trí suy luận đúng đắn, có hai điểm a) và b) đồng với chân hiện lượng nhưng c) là ý phân biệt chính chắn và d) luận thức đầy đủ;
  2. Tự tỉ lượng (zh. 似比量): là suy luận không đúng, những đặc điểm a)-c) của chân tỉ lượng thiếu, không được đáp ứng. Ngoài ra, tự tỉ lượng còn vướng phải ba lỗi sau:
  3. Nhìn cái không phải có;
  4. Không nhìn thấy cái có;
  5. Nhìn sai cái có.
3. Phi lượng (zh. 非量, sa. abhāvapramāṇa): Theo định nghĩa của sư Pháp Xứng thì đây là loại nhận thức không thuộc về cả hai loại trên và ghi nhận là "vượt quá và bên trên" của hiện lượng và tỉ lượng và được xác định là hoàn toàn thiếu vắng nhận thức (Eng. mere absence of cognition).
Nhận thức về không gian, thành tố thứ năm trong ngũ đại (Đất, Nước, Lửa, Gió và Không gian), là một ví dụ cho loại nhận thức này.
Có tác giả còn gọi khái niệm này là giả nhận thức (pseudo-perception). Tuy nhiên, cũng có một số tác giả Nhân Minh Luận ghép khái niệm này vào thành một thành phần của hiện lượng.

theo https://vi.wikipedia.org/wiki/Lượng_(Phật_giáo)

Như vậy
"Hiện lượng đệ nhất sát na" nghĩa là biết bằng TRÍ TRỰC NHẬN không thông qua ý thức suy lường.
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Giải thích thuật ngữ.

Trực chỉ:

"Tánh thấy tức là nhãn thức.
Nhãn thức là một trong tám thức tâm vương. Tánh thấy thanh tịnh, sáng suốt nhiệm mầu, vì tiếp thu trần cảnh, nó chỉ thu nhận "tánh cảnh" và "hiện lượng" cho nên tự tánh của cái thấy vốn không có tội lỗi gì. Nó là hiện tượng biểu hiện của chơn tâm, nó gần với bản chất thanh tịnh của chơn tâm hơn các hiện tượng khác, nên ví nó như vành trăng thứ hai do mắt nhặm mà thấy, chứ nó không hư ảo, đảo điên như bóng trăng in đáy nước. "

(hết trich)

* TÁNH CẢNH là gì ?

Là cảnh chân thực. Khi cảnh trần như sắc, thanh, v.v… được năm thức đầu (nhãn thức, nhĩ thức v…) nhận thức trực tiếp và chưa bị ý thức khái niệm hóa thì đó chính là cảnh, là cảnh chân thực.
Tính cảnh là một khái niệm của môn Duy Thức học (Tâm lý học Phật giáo)

(theo http://vuonhoaphatgiao.com/tu-dien-phat-hoc/tanh-canh/ )
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
Giải thích thuật ngữ.

* TÂM và VẬT đều là "hiện tượng" biểu hiện phát xuất từ Thể tánh tịnh minh, Như Lai Tàng bản thể.

Trực chỉ:


TÂM và VẬT đều là "hiện tượng" biểu hiện phát xuất từ Thể tánh tịnh minh, Như Lai Tàng bản thể.

Không gian cộng thời gian là bản thể Như Lai tàng vậy.

(hết trích)

* Ở đây có 2 phạm trù đối lập là : HIÊN TƯỢNG và BẢN THỂ.

Bản thể là nền tảng là cội gốc là cái HÌNH của vạn vật.

"Hiện tượng là cái ngọn ngành, cái bóng dáng của vạn vật. từ nơi bản thể mà có ra.* "hiện tượng" biểu hiện phát xuất từ Thể tánh tịnh minh, Như Lai Tàng bản thể."

* Như Lai Tàng là gì ?

theo kinh Như Lai Tạng,

Như Lai tạng cũng chính là Pháp thân, đang bị phiền não cáu bẩn che lấp nên gọi là chúng sanh. Nhưng khi xa lìa phiền não, tu Bồ tát hạnh thì gọi là Bồ tát, tiếp theo trừ sạch hết phiền não vi tế nhất thì tam thanh tịnh hoàn toàn, gọi đó là Phật. Như vậy, Như Lai tạng và phiền não đã cùng tồn tại bên nhau từ vô thỉ, nhưng trên thực chất, nó không tương ưng với phiền não. Mà Như Lai tạng chỉ tương ưng với vô lượng đức tướng của Như Lai. Từ vô lượng kiếp nó cộng tồn với pháp tịnh, pháp nhiễm nhưng pháp tánh thì thường hằng bất biến, nó làm cơ sở căn bản để chúng sanh có thể đạt thành Như Lai trí, đó là trạng thái sau khi thoát li tất cả các phiền não, vĩnh viễn không còn bị pháp nhiễm làm ô uế nữa.
(hết trích)

Trước khi tìm hiểu Như Lai tạng là gì, chúng ta cần biết qua Chân như là gì?Chân như (Tathatā): “chân nghĩa là chân thật, như là như thường không thay không đổi. Duy thức luận nói: “chân là chân thật, rõ ràng, không hư vọng; như là thường như vậy, cố định không thay đổi. So với tất cả các pháp thì nó luôn chân thật, luôn giữ được tánh chất của nó”.[1] Nó còn có tên gọi khác là: tự tánh thanh tịnh tâm, Phật tánh, pháp thân, Như Lai tạng, thật tướng, pháp giới tánh, viên thành thật tánh. Kinh Bát Nhã đã định nghĩa những phẩm tính của Chân như như sau:

“Thiên Vương nên biết, Chân như sâu xa, chỉ dùng trí biết, không dùng ngữ ngôn. Tại vì sao vậy? Chân như các pháp, siêu vượt văn tự, lìa sự nói năng, tất cả ngữ ngôn nói không thể đến. Nó lìa hí luận, dứt sự phân biệt, không thử không bỉ, lìa tướng có – không, lìa sự tầm tư, vượt cảnh tìm kiếm, không tưởng không tướng, vượt qua tưởng - tướng, lìa xa ngu phu, vượt bỏ ngu phu, diệt các ma sự, lìa khỏi chướng ngại, dùng thức không biết, trụ nơi vô trụ, thánh trí tịch tĩnh, là vô phân biệt, là Trí hậu đắc, không ngã – ngã sở, cầu không thể được, không thủ không xả, không nhiễm không chấp, thanh tịnh không cấu, tối thắng bậc nhất, tánh thường bất biến. Nếu Phật xuất thế hay không xuất thế, nó vẫn thường trụ”.[2]Như Lai tạng là gì? Chân như khi còn ở trong phiền não thì gọi là Như Lai tạng; khi Chân như đã thoát khỏi phiền não gọi là pháp thân.

Phật tánh (Buddhadhātu) có nghĩa là bản chất hoặc bản tánh của Phật. Tất cả chúng sanh đều có bản tánh này như đức Phật, chính nhờ bản tánh này mà trong tương lai chúng sanh sẽ được thành Phật. Đây chính là “cái nhân” để thành Phật nên chữ “tánh” (dhātu) cũng đồng nghĩa như “nhân” (hetu). Khi chúng sanh chưa thành Phật thì bản tánh này gọi là “Như Lai tạng”. Có thể nói tư tưởng này xuất hiện sớm nhất trong kinh “Như Lai tạng”: “Này Thiện nam tử, tuy chúng sanh đang ở trong các thú và phiền não, nhưng có Như Lai tạng thường tại, không bị nhiễm ô, đầy đủ các đức tướng như ta không khác”.[3] Kế đến là tư tưởng “tất cả chúng sanh đều có Phật tánh” trong kinh “Đại Bát Niết bàn” (Mahā-parinirvāṇa-sūtra) và các kinh khác như kinh Đại bảo tích (Mahā-ratnakūṭa-sūtra), kinh Lăng Già (Laṅkāvatāra-sūtra), kinh Thắng Man (Śrīmālā-siṃhanāda-sūtra). Trong các luận Đại thừa cũng có bàn rất kĩ vấn đề này, như là Bảo tánh luận[4] (Ratna-gotravibhāga-śāstra), Phật tánh luận (Buddhadhātuśāstra), Đại thừa Khởi tín luận (Mahāyāna-śraddhot- pāda-śāstra)…


* Không gian cộng thời gian là bản thể Như Lai tàng vậy.

Trong các biểu tượng PG thường dùng là con số 7. Con số 7 cũng tượng trưng cho vũ Trụ.

" Thượng Hạ tứ phương viết Vũ
Cổ vãng kim lai viết Trụ ".

nghĩa là Bốn phương trên dưới gọi là Vũ, xưa qua nay lại không cùng gọi là Trụ .

Tượng trưng cho Không gian có 4: Đông, tây, nam, bắc. Thời gian có 3: Quá khứ, hiện tại, vị lai.

Vũ Trụ thuật ngữ nhà Phật gọi là Pháp Giới. Như vậy câu " Không gian cộng thời gian là bản thể Như Lai tàng". Ý chỉ cả pháp giới vũ trụ là hiện tượng của Chân Như, Lấy Như Lai Tàng (chân Như) làm Bản Thể.
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* TÁNH THẤY KHÔNG LỚN NHỎ ĐỨT NỐI CHỈ DO TIỀN TRẦN NGĂN NGẠI MÀ THÔI.
Chánh văn:

Ông A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Nếu tánh thấy là tôi, không phải ai khác, khi Như Lai và tôi xem cung điện Tứ Thiên Vương, mặt trời, mặt trăng cùng lúc thấy khắp cõi Ta bà, khi trở về tịnh xá chỉ thấy khu đất già làm, đến trai đường chỉ còn thấy giới hạn của một căn phòng.

Thưa Thế Tôn ! Tánh thấy vốn khắp cùng một cõi, mà nay ở trong nhà chỉ thấy một gian phòng. Vậy tánh thấy lớn rút lại thành nhỏ hay do tường nhà ngăn chặn làm cho đứt đoạn ? Điều đó, tôi chưa hiểu, xin Phật từ bi chỉ dạy !

Phật bảo: A Nan ! Tất cả các hiện tượng xa gần lớn nhỏ trong ngoài của thế gian đều thuộc tiền trần, ông không nên nói tánh thấy có giãn ra hay rút lại. Tánh thấy vốn khắp trùm phổ biến ví như hư không. Đặt cái đồ vuông thì dung tích hư không vuông, để cái vật tròn thì dung lượng khoảng hư không tròn. Nếu muốn hư không, không vuông, không tròn, chỉ cần bỏ đi những cái đồ khí mảnh ấy mà không cần có ý nghĩa phải loại bỏ tướng vuông tròn của hư không. Như lời ông hỏi: Khi vào phòng cái thấy bị rút lại, hay bị vách nhà ngăn đứt ? Nghĩa đó không đúng. Nếu vào phòng nhỏ, cái thấy bị rút lại, vậy khi trông xa phải kéo giãn ra ? Nếu vào nhà bị vách cắt đứt, khi xoi một lỗ nhìn ra cái thấy phải có dấu nối ?

A Nan ! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ đến nay lầm mình là vật, bỏ mất bổn tâm, bị vật xoay chuyển cho nên trong đó thấy lớn thấy nhỏ. Nếu chuyển được vật thì đồng với Như Lai, thân tâm tròn đầy sáng suốt, ngồi ở một chỗ mà đầu mảy không hàm chứa mười phương quốc độ.


* *

TRỰC CHỈ

"Tánh kiến giác minh, Giác tinh minh kiến, thanh tịnh bản nhiên, chu biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm ứng sở tri lượng, tuần nghiệp phát hiện". Đó là ý tứ của một đọan kinh sau, Đức Phật dạy về ý nghĩa công dụng của thất đại. Rằng tánh thấy vốn là "giác minh" nó là cái "tinh kiến", nghĩa là tánh thấy không trải qua "tỷ lượng" và "phi lượng" sai lầm, mà luôn luôn ở trong phạm vi "hiện lượng". Nó thanh tịnh bản nhiên, nó khắp cùng pháp giới, đáp ứng yêu cầu tâm tưởng chúng sanh, theo nghiệp của mỗi loài mà biểu hiện. Ví như hư không, tùy đồ vật: Cốc, ly, chum, chóe mà biểu hiện theo hình thể vuông tròn sâu cạn mà thể tánh hư không thanh tịnh bản nhiên, khắp đầy thế giới, không hạn cuộc trong một hình thức khuôn khổ nào.

Chúng sanh dứt sạch mê lầm Ngã Pháp, phản chiếu hồi quang, xoay về Thể tánh tịnh minh, thể nhập Như Lai Tàng vốn có, chuyển vật, làm chủ lấy mình, bấy giờ chợt thấy rằng: Vật tâm bất nhị, chúng sanh Phật không hai. Một là tất cả, tất cả là một. Ngay nơi chỗ ngồi, mỗi đầu mảy lông hàm chứa cõi nước mười phương chư Phật.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Pháp giới Nhất Chân- Bất Nhị.
TRỰC CHỈ

" Dứt sạch mê lầm Ngã Pháp, phản chiếu hồi quang, xoay về Thể tánh tịnh minh, thể nhập Như Lai Tàng vốn có, chuyển vật, làm chủ lấy mình, bấy giờ chợt thấy rằng: Vật tâm bất nhị, chúng sanh Phật không hai. Một là tất cả, tất cả là một. Ngay nơi chỗ ngồi, mỗi đầu mảy lông hàm chứa cõi nước mười phương chư Phật. "
(hết trích)
Tư duy:

Khi hành giả đã dứt trừ được 2 chấp: Ngã và Pháp. Tức là chấp lấy 7 Đại Địa, thủy, hỏa, phông, không, kiến, thức hoặc 5 Uẩn Sắc, thọ, tưởng, hành, thức làm Tự Ngã. Chấp các Pháp Trần làm Ngã Sở hữu (cái của ta). Thì thấy ra:

* Pháp giới Nhất Chân- Bất Nhị.

Vì sao ? Vì Tất cả Ngã và Pháp đều là : "Tánh Pháp giác minh, Giác tinh minh Pháp, thanh tịnh bản nhiên, chu biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm ứng sở tri lượng, tuần nghiệp phát hiện" .

Nghĩa là Chân Tánh của Ngã và Pháp đều là biểu hiện của Chân Như. Bản Thể của chúng là NHƯ.

Vì là Chân Như nên Tánh của chúng là tự nhiên mà Thanh tịnh (không bao giờ biến đổi) không có nhiễm ô tham, sân, si v.v...chúng trùm khắp Vũ trụ (Pháp giới).

Trùm khắp vũ trụ mà luôn trong trạng thái ẩn tàng. Khi đủ duyên ( tùy chúng sanh tâm) mà ứng hiện muôn sai ngàn khác theo duyên nghiệp (hiện tượng) mà phát hiện.

Tất cả Pháp đều là (chung Một Thể ) Nhất Chân. Nhưng vì sợ chúng sanh chấp vào cái MỘT mà mất đi ý nghĩa Chân Như nên thêm và thuật ngữ BẤT NHỊ.- Để hiểu rằng Chắng phải một, mà chẳng phải khác.

Nói cách khác:

+ Vật tâm bất nhị.- Vì Vật Bản Thể là Chân Như. Tâm Thể cũng là Chân Như. Nên Bất Nhị.

+ chúng sanh Phật không hai. Vì Phật Bản Thể là Chân Như. Chúng sanh Thể cũng là Chân Như. Nên Bất Nhị.

+ Một là tất cả, tất cả là một. Vì Một Bản Thể là Chân Như. Tất cả Thể cũng là Chân Như. Nên Bất Nhị.

+ Ngay nơi chỗ ngồi, mỗi đầu mảy lông hàm chứa cõi nước mười phương chư Phật. ".- Vì Pháp Giới Nhất Chân nên cõi nước mười phương chư Phật; mỗi đầu mãi lông là "Như" nên hàm chứa trong nhau vô ngại.- Vì Tâm Chân như là "Phóng chi tắc Ca la pháp giới. Thâu chi tắc tế nhập vi trần". Nghĩa là nói lớn thì Chân như trùm Pháp giới, nói nhỏ thì Chân Như chứa trong hạt vi trần, tức hạt bụi nhỏ nhoi.


Thiền sư Khánh hỷ có bài kệ:

Lao sanh hưu vấn sắc kiêm không,

Học đạo vô như phỏng Tổ tông.

Thiên ngoại mích tông nan định thể,

Nhân gian thực quế khởi thành tùng.

Càn khôn tận thị mao đầu thượng,

Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung.

Đại dụng hiện tiền quyền tại thủ,

Thuỳ tri phàm thánh dữ tây, đông?


Dịch:

Uổng công thôi hỏi sắc cùng không,


Học đạo gì hơn phỏng Tổ tông.

Ngoài trời tìm tông thật khó thấy,

Thế gian trồng quế đâu thành tòng.

Đầu lông trùm cả càn khôn thảy,

Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong.

Đại dụng hiện tiền tay nắm vững,

Ai phân phàm thánh với tây, đông?

(hết trích)
Ở Tin- Tâm-Minh Tam Tổ dạy:

Chẳng rõ ý huyền,
Nhọc công niệm tĩnh.
Tròn đồng thái hư,
Không thiếu không dư.
Bởi do lấy bỏ,
Vì thế chẳng như.


...

Mắt nếu chẳng ngủ,
Các mộng tự trừ.
Tâm nếu chẳng khác,
Muôn pháp nhất như.


....

Chân như pháp giới,

Không người không ta.
Muốn gấp khế hợp,
Chỉ nói không hai.
Chẳng hai đều đồng,
Bao gồm hết thảy.
Bậc trí mười phương,
Đều vào tông này.
Tông chẳng ngắn dài,
Một niệm muôn năm.
......
Không đây chẳng đây,
Mười phương trước mắt.
Rất nhỏ đồng lớn,
Quên bặt cảnh giới.
Rất lớn đồng nhỏ,
Chẳng thấy mé bờ.
Có tức là không,
Không tức là có.
Nếu chẳng như thế,
Hẳn chẳng cần giữ.
Một tức tất cả,
Tất cả tức một.
Chỉ hay như thế,

Lo gì chẳng xong.

(Tăng Xáng Đại sư)
(hết trích)
Đó là ý nghĩa Pháp giới Nhất Chân- Bất Nhị.
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Bất Tức- Bất Ly.

Kinh văn:

TÁNH THẤY VÀ VẬT BỊ THẤY VỐN LÀ TÂM TÁNH BỔ ĐỀ NHIỆM MẦU SÁNG SUỐT(^)

Không có cái nào là tánh thấy.(^)
Ông A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Nếu tánh thấy là tâm tánh nhiệm mầu của tôi, hiện ở trước mắt tôi, thì thân tâm tôi là vật gì, mà thân tâm có phân biệt, tánh thấy kia thì không phân biệt được thân tôi ?

Phật bảo: A Nan ! Ông nói tánh thấy ở trước mắt ông không đúng. Nay tôi cùng ông ngồi trong rừng Kỳ Đà, trông khắp suối rừng điện đường, trên thì mặt trời mặt trăng, trước có sông Hằng. Ông hãy đưa tay chỉ trong các tướng kia: Chỗ rậm là rừng, phát ra ánh sáng là mặt trời, ngăn ngại là vách, mênh mông bãng lãng là hư không, đến cả cỏ cây mảy mún, lớn nhỏ khác nhau, nhưng đã có hình thì không cái gì không chỉ ra được. Ông bảo rằng tánh thấy hiện ở trước mắt ông, vậy ông hãy chỉ chính xác, gì là tánh thấy ?

A Nan ! Ông nên suy nghĩ: Nếu hư không là tánh thấy, thì còn cái gì là hư không ? Nếu vật là tánh thấy, còn cái gì là vật ? Ông hãy chín chắn lựa chọn trong muôn vàn hiện tượng, tách tánh thấy nhiệm mầu thanh tịnh ấy ra và chỉ cho tôi xem cụ thể rõ ràng, như các vật mà không lầm lộn ?

A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Nay tôi ở giảng đường, trông xa đến sông Hằng… nhìn cao đến mặt trời, mặt trăng, những cái chỉ được, đều là vật chứ không có cái nào là tánh thấy.

Bạch Thế Tôn ! Lời Phật vừa dạy, chẳng những hàng Thanh Văn, sơ học chúng tôi, dù cho các Bồ Tát cũng không thể ở nơi hiện tượng vạn pháp chỉ ra cái nào là tánh thấy rời ngoài mọi vật.

Phật dạy: Đúng vậy ! Đúng vậy !

Tất cả cái nào cũng là tánh thấy.(^)
Phật bảo: A Nan ! Như lời ông nói: Rời tất cả vật, tánh thấy không có. Trong tất cả vật đã chỉ ra được, không có cái nào là tánh thấy. Giờ đây ông cùng tôi ngồi trong rừng Kỳ Đà nầy, ta hãy nhìn xem vườn rừng cho đến mặt trời, mặt trăng, và vô vàn hình tượng, trong đó không có cái thấy để ông chỉ ra được. Vậy ông hãy phát minh trong các vật đó, cái nào không phải tánh thấy.

Ông A Nan bạch Phật: Rằng, tôi trông khắp rừng Kỳ Đà, tập trung tâm ý, quan sát tư duy, nhưng không tìm ra trong đó cái nào không phải tánh thấy. Vì sao ? Nếu cây không phải tánh thấy, sao thấy được cây ? Cho đến, nếu hư không, không phải tánh thấy làm sao thấy được hư không ? Nhưng nếu hư không là tánh thấy, thì sao lại là hư không. Tôi nay suy nghĩ chín chắn và phát minh trong muôn vàn hiện tượng, không cái nào không là tánh thấy.

Phật bảo: Đúng vậy ! Đúng vậy !

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Bất Tức- Bất Ly. (tt)

TRỰC CHỈ

Đức Phật đã bao lần mở rộng lòng từ đinh ninh dạy dỗ, vậy mà ông A Nan vẫn còn mơ hồ trong nhận thức về cái tánh thấy: Rằng tánh thấy là tâm tánh hay không là tâm tánh của ông.

Sự mê mờ về tâm tánh chưa lóe tí ánh sáng khả quan nào, thì lại chồng lên một sai lầm mới. Rằng tánh thấy hiện ở trước mắt.

Xét cho cùng, ông A Nan chưa nhận rõ cái tánh thấy cũng có lý của ông. Bởi vì muốn nhận thức tinh tường vấn đề nầy, cần phải được học hiểu kỹ về Kiến Đại:

… "Tánh kiến giác minh, kiến tinh minh giác, thanh tịnh bản nhiên, chú biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng, tuần nghiệp phát hiện".

Từ trước đến đây, trong nhận thức của ông A Nan chỉ xoay sở quần quanh qua bóng dáng của pháp trần và ý thức. Ông chỉ nghe và tiếp thu mơ hồ về "kiến tinh minh giác". Thể tánh của kiến tinh là hiện lượng, phát xuất từ Như Lai tàng. Ông A Nan chưa có khái niệm vững vàng về nguồn tư tưởng sâu thẳm của môn pháp tánh học nầy. Vì vậy, ông chỉ tiếp nhận và đề cao vai trò phân biệt của ý thức minh liễu ở trong ông. Ông chưa hiểu cái ý thức minh liễu mà ông có, cũng chỉ là sản phẩm của Như Lai tàng được biểu hiện thông qua "ngũ câu ý thức". Ông chưa hiểu vấn đề "tánh kiến giác minh" "kiến tinh minh giác". Từ đó, nảy ra ý niệm hoang mang ngờ vực: Rằng tánh thấy là tâm tánh, hay không là tâm tánh ? Tánh thấy ở trước mắt, hay không ở trước mắt… ?

Qua cuộc vấn đáp trắc nghiệm giữa hai thầy trò Phật đồng ý với ông A Nan rằng:

"Không có một vật nào là tánh thấy".

Cuộc trắc nghiệm lại được tiếp theo. Rồi Phật cũng đồng ý và xác định với ông A Nan rằng:

"Không có một vật nào không phải là tánh thấy".

Sự xác định của đức Phật đối với ông A Nan rõ là mâu thuẫn lạ kỳ, làm cho ông A Nan và đại chúng dao động hoang mang cao độ. Đại chúng vẫn biết rằng: lời nói của Như Lai là chơn chánh là thành thật, không tráo trở, dối gạt phỉnh phờ. (Như Lai thị chơn ngữ giả, thật ngữ giả, bất dị ngữ giả, bất cuống ngữ giả). Và sự thật, Như Lai khai thị cho ông A Nan và đại chúng về chơn lý "bất tức bất ly" của bản thể và hiện tượng. Là hiện tượng, không có hiện tượng nào không ở trong bản thể. Một bản thể, không bản thể nào không biểu hiện thông qua hiện tượng. Hiện tượng không là bản thể, nhưng bỏ hiện tượng tìm bản thể, như bỏ sóng tìm nước không sao có nước. Bản thể không rời hiện tượng nhưng bảo hiện tượng là bản thể, như trẻ con, ngỡ sóng là nước thì không sao biết được nước là gì. Sóng không là nước, nhưng sóng không rời nước. Nước không là sóng, nhưng nước không rời sóng. Nước và sóng bất tức bất ly".

Tánh thấy và vật bị thấy vốn là tâm tánh nhiệm mầu cũng "bất tức bất ly" như vậy.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
Giải thích thuật ngữ.

* Thất Đại.

Chánh văn:

"muốn nhận thức tinh tường vấn đề nầy, cần phải được học hiểu kỹ về Kiến Đại"


+ Đại là LỚN. Ví như theo hóa học Hữu cơ. có 4 nguyên tố lớn là C - H- O- N . Các nguyên tố này là nguyên tố chính để tổ hợp lại mà hình thành Hóa chất hữu cơ.

ion1.png
Ở đây Ở đây muốn ám chỉ ĐẠI là nguyên tố chính để tổ hợp hình thành Pháp Giới.- Vũ trụ và con người.

+ Kiến Đại là một trong 7 yếu tố để hình thành Pháp Giới. Đó là: ĐỊA, THỦY, HỎA, PHONG, KHÔNG, KIẾN, THỨC. Tức là 1.đất, 2.nước, 3. gió, 4. lửa, 5. hư không, 6.tánh thấy, nghe, hay, biết và 7. Thức Tâm.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
Giải thích thuật ngữ.

* "Kiến tinh minh giác"

Chánh văn:


"Tánh kiến giác minh, kiến tinh minh giác, thanh tịnh bản nhiên, chú biến pháp giới, tùy chúng sanh tâm, ứng sở tri lượng, tuần nghiệp phát hiện".

Từ trước đến đây, trong nhận thức của ông A Nan chỉ xoay sở quần quanh qua bóng dáng của pháp trần và ý thức. Ông chỉ nghe và tiếp thu mơ hồ về "kiến tinh minh giác". Thể tánh của kiến tinh là hiện lượng, phát xuất từ Như Lai tàng. Ông A Nan chưa có khái niệm vững vàng về nguồn tư tưởng sâu thẳm của môn pháp tánh học nầy. Vì vậy, ông chỉ tiếp nhận và đề cao vai trò phân biệt của ý thức minh liễu ở trong ông. Ông chưa hiểu cái ý thức minh liễu mà ông có, cũng chỉ là sản phẩm của Như Lai tàng được biểu hiện thông qua "ngũ câu ý thức". Ông chưa hiểu vấn đề "tánh kiến giác minh" "kiến tinh minh giác". Từ đó, nảy ra ý niệm hoang mang ngờ vực: Rằng tánh thấy là tâm tánh, hay không là tâm tánh ? Tánh thấy ở trước mắt, hay không ở trước mắt… ?

(hết trích)

Tư duy:

+ Thế nào là: "Tánh kiến giác minh" ?

Nghĩa là Tánh của Sự "Thấy".

"Kiến" là đại biểu cho Kiến, văn, giác, tri. tức là nói "Thấy" mà thật ra "nghe", "hay", "biết" đều áp dụng chung cho câu trên.

Thí dụ nói: "Tánh VĂN giác minh" , hoặc "Tánh TRI giác minh" , hay "Tánh GIÁC giác minh"
đều áp dụng chung cho câu trên.

- Câu này mang ý nghĩa:

* Cái Tánh của "Thấy", "nghe", "hay", "biết".- tự nó thường Giác, thường Minh (nghĩa là không ô nhiễm, không bị tham, sân, si ... che lấp).

+ Thế nào là: "kiến tinh minh giác" ?


Nghĩa là: Sở dĩ Cái Tánh của "Thấy", "nghe", "hay", "biết".- tự nó thường Giác, thường Minh. Là bởi vì Khởi thỉ cái gọi là "kiến tinh", tức là sự "Thấy" , "nghe", "hay", "biết".- Lúc 6 căn và 6 trần giao thiếp với nhau sẽ khởi "Thấy" , "nghe", "hay", "biết". ở đệ nhất sát na. Cái đệ nhất sát na lúc khởi thỉ này gọi là KIẾN TINH, hoặc VĂN TINH, hoặc GIÁC TINH, hoặc TRI TINH. Ngay tại đó THẤY CHỈ LÀ THẤY, NGHE CHỈ LÀ NGHE MÀ KHÔNG BỊ XEN TẠP Ý THỨC CỐ CHẤP ĐỊNH KIẾN.- LÚC ĐÓ NÓ THƯỜNG MINH, THƯỜNG GIÁC NÊN GỌI LÀ "minh giác".

Trong sự "kiến tinh minh giác" này chỉ có HIỆN LƯỢNG mà không có TỶ LƯỢNG và PHI LƯỢNG.

Sở dĩ sau này.- sự "Thấy" , "nghe", "hay", "biết" bị nhiễm ô là do Ý Thức tác động.- Lúc đó là đệ nhị sát na, còn gọi là Ngũ câu ý thức.

+ Thế nào là "ngũ câu ý thức" ?

Nghĩa là 5 thức trước: Nhãn, Nhỉ, tỷ, Thiệt, Thân thức phải kết hợp với Ý thức (Câu) mới phát sanh sự "Thấy" , "nghe", "hay", "biết" của con người thường dùng.

Bởi do có Ý thức trùng trùng tác động, nên sanh yêu ghét, lấy bỏ mà Tam tổ nói trong Tín- Tâm- ninh:

"Bởi do thủ xã, vì thế chẳng NHƯ".
 
Last edited:

Hoa Vô Tướng

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
9 Thg 4 2018
Bài viết
661
Điểm tương tác
224
Điểm
43
Dạ!

Kính thầy @vienquang6 !

Tư duy theo lời thầy con thiết nghĩ hành giả tu học cũng nên phân biệt được lời Phật dạy như thế nào gọi là " điên đảo tưởng" lại như thế nào Phật gọi là " Chánh biến Tri".

Dù rằng điên đảo tưởng cũng là biến nhưng lại không gọi là " Chánh Biến Tri".

Như đoạn trên " Chánh biến Tri" để chỉ cho :
* Cái Tánh của "Thấy", "nghe", "hay", "biết".- tự nó thường Giác, thường Minh (nghĩa là không ô nhiễm, không bị tham, sân, si ... che lấp).
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
Giải thích thuật ngữ.

* Sắc- Tâm đều là biểu hiện của Như Lai Tàng.

Tư duy: Câu kinh trên. Cũng đều áp dụng cho cả Sắc (vật Chất) và Tâm (Kiến đại và thức Đại). Ở đây cụ thể là Thất Đại: ĐỊA, THỦY, HỎA, PHONG, KHÔNG, KIẾN, THỨC. Tức là 1.đất, 2.nước, 3. gió, 4. lửa, 5. hư không, 6.tánh thấy, nghe, hay, biết và 7. Thức Tâm.- 1.đất, 2.nước, 3. gió, 4. lửa, 5. hư không qui về SẮC. 6.tánh thấy, nghe, hay, biết và 7. Thức Tâm qui về TÂM.

Như đoạn kinh văn sau đây:

"Ở trong như lai tạng, tánh của sắc là chân không, tánh của không là chân sắc, xưa nay vốn thanh tịnh, trùm khắp pháp giới, tùy theo căn tánh và lượng hiểu biết của chúng sinh mà khởi hiện các tướng trạng sai khác. Sắc tùy nghiệp cảm mà phát hiện, nhưng thế gian không biết, lầm cho là nhân duyên, hoặc là tự nhiên; đó đều là những phân biệt, so đo của tâm thức, chỉ là lời nói thường tình, hoàn toàn không có ý nghĩa chân thật. "
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
Giải thích thuật ngữ.

* Pháp Tánh học & Pháp tướng học là học những gì ?

Chánh văn:


"Từ trước đến đây, trong nhận thức của ông A Nan chỉ xoay sở quần quanh qua bóng dáng của pháp trần và ý thức. Ông chỉ nghe và tiếp thu mơ hồ về "kiến tinh minh giác". Thể tánh của kiến tinh là hiện lượng, phát xuất từ Như Lai tàng. Ông A Nan chưa có khái niệm vững vàng về nguồn tư tưởng sâu thẳm của môn pháp tánh học nầy. Vì vậy, ông chỉ tiếp nhận và đề cao vai trò phân biệt của ý thức minh liễu ở trong ông. Ông chưa hiểu cái ý thức minh liễu mà ông có, cũng chỉ là sản phẩm của Như Lai tàng được biểu hiện."
(hết trích)

Tư duy: Pháp Tánh học & Pháp tướng học là gì ?

Trong các lĩnh vực nghiêng cứu của những người Học Phật, có 2 Phạm trù lớn:

Pháp Tướng Học. Pháp Tánh Học.

1/. Pháp Tướng Học: Là phần học thuật chuyên về nghiêng cứa quán chiếu Phần CHIẾU của Tâm, phần Hiện tượng của Tâm hay gọi là TƯỚNG PHẦN của Tâm.

+ Đại biểu của phần học thuật này là bộ Kinh Lăng già Tâm Ấn và bộ Duy Thức Luận.

+ Đại khái ở Pháp Tướng Học Tôn chỉ là TAM GIỚI DUY TÂM- VẠN PHÁP DUY THỨC.

Nghĩa là 3 cõi Dục, Sắc và Vô Sắc (hay là 3 lĩnh vực Vật chất, tình cảm, tư duy) do Tâm làm chủ. Tất cả Pháp .- gồm 100 Pháp - Do Thức biến hiện.

+ Tâm Thức có 8 món:

Thức – hay tác dụng nhận thức, tức là cái BIẾT, là những dòng tiếp nối của cảm giác hay tri giác phân biệt. Khi các giác quan (CĂN) tiếp xúc với đối tượng của chúng (CẢNH hay TRẦN) thì liền phát sinh cái biết (THỨC). Vậy thức được phát hiện từ căn cứ của nó là căn và trần, và nương tựa trên căn cứ đó mà tồn tại. Theo Duy Thức Học, thức có tám tác dụng – tức là có tám thức:

1. Nhãn thức: cái thấy, tức là cái biết sinh ra khi mắt (nhãn căn) tiếp xúc với cảnh vật (sắc trần).

2. Nhĩ thức: cái nghe, tức là cái biết sinh ra khi tai (nhĩ căn) tiếp xúc với âm thanh (thanh trần).

3. Tị thức: cái ngửi, tức là cái biết sinh ra khi mũi (tị căn) tiếp xúc với mùi (hương trần).

4. Thiệt thức: cái nếm, tức là cái biết sinh ra khi lưỡi (thiệt căn) tiếp xúc với các thức ăn uống (vị trần).

5. Thân thức: cái cảm xúc, tức là cái biết sinh ra khi thân thể (thân căn) đụng chạm mọi vật (xúc trần).(1)

6. Ý thức: cái biết sinh ra khi ý căn (mạt-na thức)(7) tiếp xúc với pháp trần(7).

Câu định nghĩa trên có vẻ thật giản dị, thực ra, phạm vi hoạt dụng của ý thức rộng rãi vô cùng. Nó có quyền năng rất lớn, có thể trấn ngự các thức khác, hoạt động tự do tự tại, có thể tạo lập và thay đổi bản chất của đời sống cá nhân lẫn tập thể. Chính nó xoay con người lưu chuyển trong vòng sinh tử luân hồi, hay đưa con người thẳng đến bến bờ giải thoát; bởi vì chính nó là ý nghiệp, là thức đóng vai trò tạo nghiệp, là động cơ chủ yếu đưa tới các hành động thuộc về thân thể và ngôn ngữ.

Ý thức được nhận diện dưới hai hình thức: liên hiệp với năm thức trước(ngũ câu)đơn độc (độc đầu).

7. Mạt-na thức (tức là ý, hay ý căn, cũng gọi là “thức thứ bảy”): cái biết chấp ngã, cái biết phân biệt ngã với phi ngã. Mạt-na vừa là thức mà cũng vừa là căn (làm chỗ nương tựa cho ý thức). Nó được phát sinh từ thức thứ tám là a-lại-da, nương tựa trên a-lại-da để tồn tại, rồi lại lấy a-lại-da làm đối tượng nhận thức. Vì vậy, thức a-lại-da vừa là căn mà cũng vừa là đối tượng của thức mạt-na. Khi lấy a-lại-da làm đối tượng nhận thức, mạt- na đã bám sát lấy a-lại-da và cho đó là cái ngã chân thật; do đó, tính chất của mạt-na là chấp ngã

8. A-lại-da thức: cái biết chứa đựng, gìn giữ và biến hiện – cũng gọi là “thức thứ tám”.

Thức a-lại-da là nền tảng của mọi tác dụng nhận thức và mọi hiện tượng tâm sinh vật lí.
Nó không phải là cái mà người ta thường gọi là “linh hồn” (được chứa đựng trong một thể xác). Nó không có hình thái, không có dung tích, và không có một nơi nhất định nào dung chứa nó. Hoạt dụng của nó rất thâm mật, trí óc phàm tục không thể nào rõ thấu được. Cái mà Tâm Lí Học hiện đại gọi là “tiềm thức”, “vô thức”, hay “đà sống” mới chỉ là những khái niệm gần gũi với a-lại-da; vì thực ra, a-lại-da còn sâu kín, rộng lớn và sinh động hơn nhiều. Nó chính là bản thể, là bản chất hiện hữu của sinh mạng và của cả môi trường trong đó sinh mạng tồn tại.

Thức a-lại-da được nhận biết qua ba tác dụng: chứa đựng, gìn giữ và biến hiện.

+ Kết quả tu trì của Duy Thức Tông:

8 Thức chuyển thành 4 Trí là diệu dụng của Pháp tướng học:

I 5 Thức trước gồm: Nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân Thức (măt, tai, mũi, lười, thân)

Khi đã giác ngộ thì năm thức cảm giác này được chuyển thành "thành sở tác trí"

II. Ý Thức . Khi đã giác ngộ thì ý thức được chuyển thành diệu quan sát trí.

III. Nếu ý thức đã có khả năng tạo ra nghiệp nhân xấu để tiếp tục bồi đắp cho bản chất sai lầm của Thức mạt-na, thì chính ý thức cũng có khả năng làm cho mạt-na trở nên trong sạch, thánh thiện.

Ý thức có thể quán chiếu tính KHÔNG của ngã và pháp để ngăn chận bốn loại phiền não gốc rễ (si, kiến, mạn, ái), không cho hiện hành và tác động trên mạt-na, làm cho thức này mất dần sức mạnh chấp ngã – tức là làm trong sạch dần bản chất ô nhiễm. Và nếu công phu cứ được tiếp tục mãi thì đến một lúc nào đó, mạt-na sẽ hoàn toàn được trong sạch hóa, không còn bám lấy thức a-lại-da làm đối tượng chấp ngã nữa, rồi cái ảo tưởng về “thật pháp ở bên ngoài ngã” cũng tiêu mất, lúc đó, từ cái bản chất là một thức, mạt-na sẽ chuyển thành một loại tuệ giác gọi là chuyển thành "bình đẳng tánh trí.".

IV. thức a-lại-da chuyển thành "đại viên cảnh trí,"
theo: https://thienphatgiao.org/12/tam-thuc-bat-thuc/
(hết trích)

Hành giả tu tập Pháp Tướng học. Khi đã chuyển 8 Thức thành 4 Trí, tức là được Toàn Trí, cũng là Toàn giác nghĩa là Thành Phật vậy.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
Giải thích thuật ngữ.

* 2. Pháp Tánh học .

Còn gọi là Pháp Tánh Không tuệ học. Là phần học thuật chuyên về nghiêng cứu quán chiếu Phần TỊCH (vắng lặng) của Tâm, phần Bản Thể của Tâm hay gọi là TÁNH PHẦN của Tâm.- tức là CHÂN NHƯ TÂM.

+ Đại biểu dẫn xuất phần học này là các Bộ kinh Đại Bát Nhã, Kinh Kim Cang Bát Nhã, Đại Trí Độ Luận và Trung quán Luận (của tổ Long Thọ).

+ Tôn chỉ của Pháp Tánh học là Vạn Pháp Không Tánh, là Chân Như.

+ Không tuệ Nghĩa Trí Tuệ là Tánh Không. Nghĩa là các Pháp do duyên sanh không có tự tánh, Cái duyên để sanh các Pháp cũng là duyên sanh không có tự tánh. Do trùng trùng duyên khởi nên các Pháp Bản Thể là CHƠN KHÔNG, là NHƯ . Là CHƠN KHÔNG, là NHƯ nên các Pháp có 8 điều chẳng phải (bát bất).

Bát bất. gồm có 8 loại không. Đó là:

Bất sinh bất diệt, bất đoạn bất thường, bất nhất bất dị và bất khứ bất lai.


(trích)

Đây là 8 loại lập luận để thấy con đường trung đạo. Nghĩa là không phải cái nầy mà cũng chẳng phải cái kia. Thông thường chúng ta chấp có, chấp không, chấp còn chấp mất, chấp sinh chấp diệt, chấp đến chấp đi v.v... Vì lẽ ta dùng con mắt bình thường của thế gian để xem và phán xét như thế. Còn Bồ Tát nhìn sự vật của tâm thức trước và sau rỗng không vô định, chẳng có giới hạn bởi thời gian và không gian; cho nên mới đưa ra lập luận ấy.

Thế nào là bất sinh bất diệt? Nghĩa là ta vốn chẳng sinh ra và cũng chẳng mất đi. Cái mà gọi là sinh đó, thật ra nó chỉ là một hiện tượng. Vì ta thấy có một con người, một sự vật hiện hữu ở đời nầy. Rồi sống một thời gian trên cõi thế để rồi một ngày nào đó ta phải ra đi; gọi việc ấy là mất; nhưng mất cái gì và còn cái gì? - Cái được gọi là mất đó thật sự ra nó cũng chỉ là một sự trả lại cho đất trời vạn vật; cho đất, nước, gió, lửa mà thôi. Vì khi ta sinh ra ta đã vay mượn của thiên nhiên vạn vật thì khi ta chết đi ta chỉ trả lại mà thôi. Do vậy mà dưới mắt Bồ Tát chẳng có sự sinh và chẳng có sự diệt. Ta mất chỗ nầy, ta sẽ hiện hữu ở nơi khác và từ nơi khác sẽ đến chốn nầy để tồn tại một thời gian; rồi một ngày nào đó sự hiện hữu ấy cũng phải thay đổi vậy.

Bất đoạn bất thường; nghĩa là chẳng mất mà cũng chẳng còn. Cái chẳng mất ấy chính là tâm thức của ta. Tâm ta giống như một dòng điện. Dòng điện ấy luôn luôn tồn tại ở mọi nơi, mọi chỗ và mọi hình thức khác nhau; nhưng khi một bóng đèn cháy rồi, ta không còn thấy ánh sáng nữa, ta gọi là mất; nhưng thực sự ra ánh sáng ấy vẫn còn, nó đang hiện hữu trong dòng điện ấy. Bằng chứng là nếu ta thay một bóng đèn khác thì nó sẽ sáng lên. Ánh sáng ấy nói là thường cũng không đúng, mà nói là mất cũng không đúng. Vì lẽ ánh sáng ấy chỉ thay đổi, xê dịch tùy thời mà thôi. Tâm thức ta cũng giống như vậy. Khi ta còn cảm giác thì bảo rằng ta biết. Khi hơi thở hết rồi thì gọi là chết, mà ngay cả hơi thở ấy cũng vay mượn của đất trời, chứ đâu có cái gì là của ta. Nó không có chủ thể thật sự. Khi hít không khí vào để nuôi buồng phổi, rồi thở không khí ra để tạo sự tuần hoàn. Khi không còn hít thở được nữa thì ta bảo rằng đã dứt sự sống. Tâm thức ấy thực sự ra không hoàn toàn là một tâm thức độc lập. Nếu ta là người thì tâm ta là người. Nếu ta là vật thì dòng tâm thức ấy sẽ thay đổi thành sự nhận biết của con vật, chứ không thể là sự nhận biết của con người được. Do vậy nếu nói tâm ấy thường còn là điều không đúng.

Như vậy tâm ấy sẽ đi về đâu? - Đó chỉ là một sự biến tướng của sự nhận thức. Khi làm chúng sanh thì tâm ấy là chúng sanh. Khi làm A La Hán thì tâm ấy sẽ chuyển đổi; khi làm Bồ Tát thì tâm ấy lại càng mạnh mẽ hơn để lao vào đời mà cứu độ chúng sanh. Khi thức đã chuyển thành trí trọn vẹn thì tâm ấy là Niết Bàn, Vô Ngã, Chơn Như, Tịch Tịnh. Cũng là một dòng nước; nhưng khi chảy đến chỗ đất lở thì ta thấy đục và khi chảy đến chỗ cát hoặc sỏi đá ta thấy trong. Sở dĩ ta thấy trong hay đục là do nhận thức chấp trước của mình mà có, chứ thật ra nước không trong mà cũng chẳng đục. Do vậy mà tâm nầy cũng chỉ thế thôi.

Bất nhất bất dị nghĩa là không phải một mà cũng chẳng phải khác. Điểm nầy hơi khó. Vì lẽ ít có loại triết học nào giống như triết học của Trung Quán. Đa phần các học thuyết khác đều dựa vào một đấng thần linh để làm chủ tể sinh ra vạn vật và có mọi quyền năng bắt buộc loài người phải tuân theo; nhưng ở giáo lý của Đức Phật không có điều đó. Có nghĩa là không ai sinh ra loài người cả. Ngoại trừ nghiệp lực của con người đã tự tạo trong quá khứ và chính nghiệp nầy đã và sẽ dẫn ta đi lên thiên đường hay xuống địa ngục mà thôi.

Rõ ràng là do nghiệp và vô minh tạo tác mà thành, rồi biến đổi: chứ tuyệt đối chẳng có cái gì sanh và bị sanh, ngoại trừ nghiệp lực chi phối. Điều quan trọng ở đây là gốc vốn thiện ở cõi lòng thì kết quả của nghiệp là thiện chứ không thể trái ngược lại. Nếu có, vả chăng đó chỉ là sự vay trả chưa xong của nhiều đời; nên bây giờ phải trả tiếp đó mà thôi.
Không khác mà cũng không nhiều hay không giống. Điều ấy có nghĩa là ngoài cái nầy không có cái kia; hoặc ngược lại. Như ngoài A không có B và ngoài B không có A.
Nhứt nguyên luận hay nhị nguyên luận và tam đoạn luận của Âu Châu cũng xuất hiện đồng thời với Trung Quán Luận nhưng không thể sánh bằng và Trung Quán Luận đã vượt lên trên tất cả mọi lập luận ấy vào những thời buổi ban đầu của thế kỷ thứ 2 sau Tây lịch.
Ở Âu Châu thời ấy chỉ có một vị thần sinh ra mọi sự thưởng phạt của thế gian. Điều nầy không có trong giáo lý Phật Giáo. Như vậy nó sẽ vô lý là ai đã tạo ra vị thần kia? Hay vị thần ấy tự sinh? Nếu tự sinh thì không đúng với luật tuần hoàn của vũ trụ và của khoa học.

Nhị nguyên luận có nghĩa là cái nầy có cho nên cái kia có. Nếu cái nầy không có thì cái kia không có. Ví dụ như A sinh ra B, rồi B sinh ra C. Nếu A không có thì B sẽ không có và dĩ nhiên là không có C. Nhưng câu hỏi được đặt ra cho phái nhị nguyên luận của Âu Châu là ai sinh ra A thì họ không trả lời rõ ràng.

Tam đoạn luận thì đa phần chúng ta đều biết. Đó là triết thuyết của Socrates người Hy Lạp, đương thời đã thuyết phục được Âu Châu là:

"Tất cả mọi người đều phải chết
Tôi là người
Vậy tôi phải chết"


Đây là một sự lập luận gián đoạn và chỉ có tính cách thời gian, chứ không có tính cách phổ quát. Còn Trung Quán Luận thì không giống như 3 loại lập luận của triết học Âu Châu thuở bây giờ. Ngài Long Thọ lập luận là: Trong cái nầy nó có cái kia và trong cái kia nó có cái nầy. Ta đang sống cũng có nghĩa là ta đang đi đến chỗ chết. Và sự sống chỉ là sự tiếp nối của cái nầy và cái kia trong một thời gian nhất định nào đó, rồi nó thay đổi.

Ví dụ như trong cây bao giờ cũng có hoa và trong đá bao giờ cũng có lửa. Về mùa đông ta không thấy hoa; nhưng khi xuân đến hoa kia lại khoe sắc thắm. Vậy hoa từ đâu mà có? Do biến thể của đất trời vạn vật và thiên nhiên; nhưng hoa chỉ trổ khi có đầy đủ yếu tố thuận lợi. Phật tánh cũng giống như thế. Phật tánh ấy không ngoài mà cũng chẳng ở trong. Nhưng nếu đầy đủ yếu tố thì cái tánh Phật ấy sẽ thành Phật; chứ ta không cần đi tìm Phật ở bên ngoài.

Lửa cũng như thế, vốn tự có trong đá. Ta chỉ cần va chạm 2 hòn sỏi, cục đá với nhau thì ta sẽ có lửa. Điều kiện ắt có và đủ ở đây chính là động tác tạo lửa; cũng không phải vì ta làm cho va chạm mà có lửa. Vì lửa đã sẵn có; nhưng vì điều kiện lúc ấy đã chín muồi; nên lửa lại phát sanh. Phật tánh cũng giống như vậy. Do những tư lương Bồ Đề thành thục thì Phật tánh lại hiển lộ. Do vậy mà ta thấy có người đã thành Phật, mà có kẻ vẫn còn là chúng sanh.

Bất khứ bất lai là chẳng đến mà chẳng đi. Thân và tâm nầy thật ra cũng chẳng từ nơi nào đến mà cũng chẳng phải đi về đâu. Ví như gió thổi, mây bay. Ta ở đây thì có gió, cây bị động. Nên ta thấy có hiện tượng gió; nhưng gió bắt nguồn từ đâu và sẽ đi về đâu thì chẳng ai trả lời được. Tâm nầy cũng thế; nó hiện khi ta thức và nó ẩn khi ta ngủ. Nếu nói lúc ngủ không còn tâm thì tại sao khi ta thức, cái sự hiểu biết ấy nó lại hiện hữu và khi ta chết thì bảo là mất; nhưng cái biết ấy nó sẽ mất đi đâu và nó sẽ đi về đâu?

Vậy thì trước khi ta đến thế giới nầy, ta là ai? Và sau khi ta chết đi, ta sẽ đi về đâu? Theo lập luận của Ngài Long Thọ thì ta không đến mà ta cũng chẳng đi. Sở dĩ mà ta thấy có đến và có đi, vì ta thấy có sự hiện hữu của một con người, với thân tứ đại nầy; nhưng con người ấy nó sẽ không là gì cả so với cái to lớn của đất trời vạn vật và của không gian cũng như thời gian trong một hay nhiều kiếp lai sinh.

Trong thân thể của mình có sự vay mượn và sự hiện hữu của mẹ cha. Thế mà khi cha mẹ hay người thân mất ta bảo là không còn gì nữa. Đó là một sự ảo tưởng. Tại sao không còn? Thử hỏi dòng máu nầy, gương mặt kia từ đâu mà có, nếu không phải từ cha mẹ sinh? Do vậy mà ta bảo rằng mất; nhưng điều ấy chẳng mất; nó chẳng mất mà nó cũng chẳng còn. Vì nó phải bị chi phối bởi thời gian, nên phải chết và thay đổi dáng hình. Như vậy ta bảo rằng đi khuất hay đã mất; nhưng khuất cũng có nghĩa là sẽ hiện lại khi cần và cái mất ấy chỉ có tính cách tương đối, chứ chưa và không tuyệt đối. Vậy thì tâm nầy hay thức nầy nó chẳng từ đâu đến và khi mất đi thì nó cũng chẳng đi về đâu. Do vậy mà trong kinh Kim Cang, Phật dạy rằng:
"Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khả đắc và vị lai tâm bất khả đắc".
Nghĩa là tâm quá khứ đã chẳng được, tâm hiện tại cũng như thế và tâm vị lai thì biến đổi trong từng sát na sanh diệt. Vậy thì cái gì là có, cái gì là không? Cái gì còn và cái gì là mất? Dưới mắt của Bồ Tát thì mọi hiện tượng trong thời gian nầy chỉ là một sự biến tướng giống như người mang cặp kính nhiều màu. Khi đeo màu nầy thì ta thấy đối tượng là màu ấy. Khi ta thay đổi màu khác thì ta bảo rằng đối tượng kia đã đổi màu; nhưng trong thực tế thì đối tượng không thay đổi, chỉ có ta đang thay đổi vị thế của các cặp kính ấy.
(theo https://thuvienhoasen.org/a13377/bat-bat-trung-dao )

Tu trì theo Pháp Tánh học là Thể Nhập Chân Như là trở về với Bản Nhiên tự Tánh Thiên Chân Phật của chính mình.

- Tức Tâm là Phật.
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* "Là" hay "Không là".

Kinh văn:

BỔ TÁT VĂN THÙ CẦU PHẬT THƯƠNG XÓT… PHẬT DẠY: TÁNH THẤY KHÔNG THỂ ĐẶT VẤN ĐỀ: "LÀ" HAY "KHÔNG LÀ" (^)

Bấy giờ trong đại chúng, những vị chưa chứng quả vô học, nghe Phật khai thị chân lý thậm thâm ấy, mờ mịt chưa hiểu thế nào, sanh lòng sợ hãi, không giữ được chánh niệm.

Như Lai biết đại chúng tâm ý rối loạn, khởi lòng từ an ủi ông A Nan và đại chúng: Các thiện nam tử ! Bậc vô thượng pháp vương, lời nói chân thật, đúng như tánh chân như, không dối gạt và lừa đảo quẩn quanh như bốn thứ nghị luận bất tử của bọn Mạt Già Lê. Các ông hãy suy nghĩ chín chắn, chớ phụ lòng thương xót của tôi.

Bấy giờ Bồ Tát Văn Thù Sư Lợi Pháp Vương Tử, thương xót hàng tứ chúng, liền từ chỗ ngồi, đứng dậy đảnh lễ Phật, chấp tay cung kính thưa rằng: Bạch Thế Tôn ! Đại chúng đây không hiểu được chỗ Như Lai phát minh hai nghĩa: "Là" hay "Không là" đối với cái thấy và sắc không. Bạch Thế Tôn ! Nếu những hiện tượng sắc không tiền cảnh là cái thấy thì lẽ ra có chỗ chỉ được. Nếu không là cái thấy thì lẽ ra không thể thấy. Nay đại chúng không hiểu nghĩa ấy do đâu, nên mới kinh sợ, chớ không phải vì thiện căn nhiều đời ít ỏi. Kính mong Như Lai thương xót phát minh chỉ rõ các vật tượng ấy và cái thấy vốn là thứ gì mà rời ngoài các ý nghĩa: "Là" hay "Không là" như vậy ?

Phật bảo Bồ Tát Văn Thù và đại chúng:

Thập phương Như Lai và các đại Bồ Tát tự trụ tam ma đề, thì cái "thấy" cái "bị thấy" và các nhớ nghĩ, tưởng tượng đều như hoa đốm trong không chẳng có thật. Bản thể của chúng vốn là tâm tánh Bồ Đề nhiệm mầu, thanh tịnh sáng suốt, cho nên trong đó không có vấn đề: "Là" hay "Không là".

Văn Thù ! Nay tôi hỏi ông: Như ông là Văn Thù, còn có "là Văn Thù" hay "không là Văn Thù" nữa chăng ?

Bạch Thế Tôn, Văn Thù thưa. Thật vậy, tôi, thật Văn Thù thì không thể có "là Văn Thù". Vì sao ? Nếu có "Là" hay "Không là" hóa ra đã có hai Văn Thù. Nhưng tôi là Văn Thù không còn có Văn Thù nào khác, cho nên không thể đặt vấn đề "Là" hay "Không là".

Phật bảo: tánh thấy nhiệm mầu sáng suốt và các thứ sắc không cũng như vậy. Tất cả là biểu hiện của chân tâm thanh tịnh tròn đầy, là Bồ Đề vô thượng, trong sáng nhiệm mầu. Vì mê lầm, nhận là sắc, không, thấy, nghe, ví như mặt trăng thứ hai. Sự thật mặt trăng vốn không thêm bớt, do mắt lòa mà thấy ra như vậy. Trong đó không thể đặt vấn đề: Cái nào "là" trăng, cái nào "không là" trăng. Các ông phát minh ra cái thấy và trần cảnh bị thấy đều là vọng tưởng. Không thể trong đó, nêu ra cái nào "là" cái nào "không là". Tất cả đều là chân tánh nhiệm mầu, một thể sáng suốt thanh tịnh, cho nên vượt ngoài sự "chỉ" hay "không chỉ" được của các ông.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Bản lai diện mục.

Trực chỉ:

Lục căn của con người, ở mặt trái của nó, người ta chỉ biết qua cái công dụng thấy, nghe… tầm thường của nó. Những cái thấy nghe đó, thường làm cho con người đau đầu, nhức óc căng thẳng thần kinh hơn là làm cho con người hưởng được những phút giây thoải mái. Ít có ai phát hiện phía mặt thật của lục căn mình. Mặt thật của lục căn, thiền gia gọi là "bản lai diện mục" của chúng ta.

Bản lai diện mục của con người, vốn trong trắng hiền lành, an nhiên tự tại, chẳng vướng vô minh, không vương triền phược. Từ vật lý đến tâm lý của con người, thanh tịnh bản nhiên, chu biến pháp giới. Vì vậy, không thể đem thứ ý thức thô phù vọng tưởng để phân biệt đúng đâu là cái thấy và đâu không là cái thấy.

Pháp giới tánh hàm dung bất nhị. Như Lai tàng bản thể nhất chân. Một là tất cả. Tất cả là một. Còn lấy cái nào để chỉ cái nào ? Còn gì vô lý bằng khi người ta lấy tay chỉ đây là vàng, kia không là vàng trong toàn thân con sư tử vàng duy nhất.

(hết trích)

Oh !

Pháp giới tánh hàm dung bất nhị.
Như Lai tàng bản thể nhất chân.

Bồ đề quả thục.- Nhất Chân- Phi sắc phi không.
Bát nhả hoa khai.-Bất Nhị- Tức tâm tức Phật.

Ồ !

Pháp Giới Tánh.- vốn hàm chứa Không hai,

Như Lai Tàng- Bản Thể thật Nhất Chân.


Trái Bồ Đề chín tới.- Thấy rõ Pháp Giới Nhất Chân- chẳng phải Sắc, chẳng phải Không.

Hoa Bát Nhã vừa khai.- Biết được Vũ trụ Chẳng hai- Tức Tâm là Phật.
 
Last edited:

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
3,108
Điểm tương tác
661
Điểm
113
Kính Bạn HVT một ly trà [smile]

*** vẫn câu nói đó ... nếu KLL nói gì sai vẫn kính xin thày VQ tận tình chỉ dạy .. KLL nguyện học hỏi theo

Biến Tri: Tu Đường Tri Kiến --> Đệ Nhất Nghĩa Đế --> Chánh Biến Tri: Con Đường Vạn Pháp, Pháp Ấn

I. Biến Tri: Học Hỏi, Tu Đường Tri Kiến


Cách đây mấy ngày ... khi bạn HVT nói về sự nhân biết phân biệt giữa Điến Đảo Tưởng và Chánh Biến Tri .. lúc đó KLL chợt nhớ tới Kinh Thập Thượng, 1 kinh trong Kinh Trung Bộ .. có nói tới 1 biến tri, 2 biến tri, 3 biến tri, 4 biến tri ... 10 biến tri ....

hôm nay cảm thấy đoạn kinh này có lợi ích .. nên trình lên cho mọi người đồng duyệt ...[smile]


con người chúng ta ở đời .. ngay từ nhỏ đã phải học để trở thành người có lợi ích .. những điều chúng ta học đòi hỏi có tư duy, có tri kiến ... từ những điều phải học trong cuộc sống, học đường .. cho tới ... đều là những điều phải học ... phải TU --> TU ĐƯỜNG TRI KIẾN ... để những gì chúng ta học được, đứng từ góc độ tri kiến của việc học mà phát sinh lợi ích [smile]

Các bậc quân vương đủ loại tài năng: công thành, chiếm đất, ... những nhà học giả, tri thức, rất nhiều tri thức đều là vậy ... cái tài năng đem lại lợi ích, danh dự .. trách nhiệm của họ --> đều là TU ĐƯỜNG TRI KIẾN --> và ở trong đó ... đều có 1 CÁI NGÃ ... và cũng thường là VỌNG NGÃ

bởi vì lý do đó, phần lớn .. hay đại đa số trong số họ .. khi tuổi già sức yếu .. tới thời bịnh tật ốm đau, sống xa lìa con cháu, những niềm vui mà họ có trước đây đã tàn --> ... họ thường đau buồn, lo nghĩ, suy tư .. và thường tìm đến tôn giáo .. bởi vì trong họ còn có 1 CÁI NGÃ, NHỮNG CÁI NGÃ --> vẫn chưa được yên ... vô thường, biến động đang khiến cho CÁI NGÃ của họ cả đời tìm kiếm, trăn trở, bằng rất nhiều tri thức gom nhặt được --> CÁI NGÃ ĐÓ BỊ TỔN THƯƠNG [smile]

hỏng có cái ung dung tự tại ... "VÔ NGÃ", bất tăng bất giảm trong tự ngã của 1 thiền sư chẳng hạn [smile]

Kinh Thập Thượng nói đến nhũng PHÁP BIẾN TRI --> những ĐƯỜNG TRI KIẾN chúng ta phải học ... phải tu ... phải biết .. trước khi --> tới nội dung bao hàm sâu xa của TÂM tức là Phật --> CHÁNH BIẾN TRI ... và vì lý do đó, đức Phật nói tới: THẬP PHÁP BIẾN TRI

kinh nói đến

1 pháp biến tri là --> Xúc hữu lậu ... hữu thủ

2 pháp biến tri là --> danh và sắc

3 pháp biến tri là --> lạc thọ, khổ thọ, bất lạc thọ

4 pháp biến tri là --> đoàn thực cứng mềm, xúc thực, tư niệm thực, thức thực

5 pháp biến tri là --> ngũ uẩn [smile]

6 pháp biến tri là --> lục nội xứ [smile]

7 pháp biến tri là --> thân sai biệt - tưởng sai biệt, thân sai biệt - tưởng đồng loại (sơ thiền), thân đồng loại - tưởng sai biệt, thân đồng loại - tưởng đồng loại, không tác ý tưởng sai biệt, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ

8 pháp biến tri là --> đắc và không đắc, không có thanh danh - có thanh danh, chê và khen, lạc và khổ

9 pháp biến tri là -->
thân sai biệt - tưởng sai biệt, thân sai biệt - tưởng đồng loại (sơ thiền), thân đồng loại - tưởng sai biệt, thân đồng loại - tưởng đồng loại, không tác ý tưởng sai biệt, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi tưởng phi phi tưởng

10 pháp biến tri là --> nhãn xứ, sắc xứ, tị xứ, thân xứ, nhĩ xứ, lượng xứ, thiệt xứ, vị xứ, thân xứ và xúc xứ

Như vậy ... kinh Thập Thượng chỉ ra những "XỨ" của TRI THỨC .. những tụ nhóm, chứa nhóm của tâm làm nên hiện tượng tri thức, phân biệt, sai biệt ... và những gì chúng ta học hỏi, tu đường tri kiến .. cũng không ngoài học hỏi những tụ nhóm, chứa nhóm tri thức của TÂM


II. Đệ Nhất Nghĩa Đế --> DIỆT ĐẾ

trong Kinh Thắng Man, Thắng Man Phu Nhân thưa với đức Phật ... bốn thánh đế,

- khổ đế ... vì có khổ

- tập đế .. vì có nguồn gốc, nguyên nhân của khổ

- cho tới đạo đế --> là con đường

đều có sự liên quan đến các tướng hữu vi .. vì lý do đó ... không phải là đệ nhất nghĩa đế

" Thưa Thế Tôn ! Bốn thánh đế này, ba cái là vô thường, một cái là thường.

Bởi vì sao ? Vì ba đế nhập vào tướng hữu vi. Nhập vào tướng hữu vi là vô thường. Vô thường là pháp hư vọng. Pháp hư vọng thì không chân thật, không thường trú không là chỗ sở y.

Cho nên khổ đế, tập đế, đạo đế không phải đệ nhất nghĩa đế, không phải thường trú, không phải chỗ sở y"


"Chương 11: 1 SỞ Y

Một đế diệt khổ lìa tướng hữu vi, lìa tướng hữu vi là thường, thường là không phải pháp hư vọng. Không phải pháp hư vọng là chân thật, là thường trú là chỗ sở y.

Cho nên --> diệt đế là đệ nhất nghĩa đế."
- Kinh Thắng Man



III. Chánh Biến Tri --> Con Đường Vạn Pháp --> Pháp Ấn

Khi đường tư tưởng, ý thức (cittaprati) --> ngừng lại (shita),

... khi lời nói --> bị cắt đứt (abhilāpamārga)

... thì lúc đó, chúng ta thấy được ... tất cả các pháp đều bất động (motionless) --> VÔ NGÃ [smile]


Như vậy ... cũng bằng con đường Vạn Pháp ... từ các pháp hạnh, pháp hành, các pháp tu tri kiến, tới các pháp hữu vi, các pháp vô vi --> qua các thứ đệ định, đức Phật chỉnh sửa được nhận thức của con người qua một trình tự "BIẾN TRI" nhất định [smile].... để người ta nhận ra hiện tượng: CHƠN TÂM

khi vạn pháp quy Nhất Tâm --> diệu tượng --> ở trong trong lòng

và khi đó, sự che khuất, che kín của tạng thức (chữ tàng) biến mất .. để chỉ còn nhìn thấy .... chơn tâm thường trú khi mà 1 trong tam pháp ấn đã thật sự xuất hiện: vạn pháp vô ngã [smile]

Kinh Kim Cang có 1 phẩm tên gọi là Y Pháp Xuất Sanh ... đại ý nói tới việc: Y NƠI CHÁNH PHÁP MÀ SANH RA TẤT CẢ QUẢ VỊ

theo KLL hiểu .. thì Kinh Thủ Lăng Nghiêm, cũng bằng con đường tri thức, tri kiến đó, đức Phật chỉnh sửa lại TRI KIẾN, tuần tự thứ lớp gỡ bỏ sự chấp trước dính mắc vào những BIẾN TRI ---> dẫn tới Bốn Khoa Bảy Đại đều là biểu hiện của Như Lai Tàng ---> đó là con đường CHÁNH BIẾN TRI ... là ĐỆ NHẤT NGHĨA ĐẾ .. là DIỆT ĐẾ

*** hồi đó, tới đoạn này thì KLL cũng có phần không hiểu rõ lắm nguyên nhân của Thât Đại Hoàn Nguyên, bốn khoa bảy đại ... cho tới khi tìm thấy được 1 bản dịch kinh khác đi của HT Thích Duy Lực .. trong đó ngài dịch: là thất đại vô sanh, ngũ ấm vô sanh .. lục nhập vô sanh .. thập nhị xứ vô sanh . thì lúc đó .. mới hiểu được nội dung của đoạn này trong Kinh Thủ Lăng Nghiêm [smile]

KLL
 
Last edited:
Bên trên