Kinh Thủ Lăng Nghiêm.- Trùng tuyên và thảo luận. Chương 1, 2, 3.

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
2/. Thấy không có Sanh tử.

Trong một góc nhìn khác của Hành giả tu Phật. Do quán chiếu NHÂN DUYÊN- QUẢ BÁO mà thấy ra rằng: không thật có Sanh tử.

Thế nào mà Do quán chiếu NHÂN DUYÊN- QUẢ BÁO mà thấy ra rằng: không thật có Sanh tử. ? Đó là chúng ta gút lại các Hệ Luận của Luật Nhân Quả:

HL1/. Cái gì có QUẢ là nhất định có NHÂN.- Ví như có Tử (quả) là bởi vì có Sanh (nhân).

HL2/. Nếu không có NHÂN, thì cũng chẳng bao giờ có quả.- Ví như Hư Không. Không do nhân nào sanh nên cũng không quả chết.

HL3/. Cái nào có NHÂN thật, thì kết ra QUẢ Thật.- Ví như Bồ Đề Niết Bàn.

HL4/. Cái nào có NHÂN là giả, thì QUẢ cũng là giả. Ví như trong giấc chiêm bao thấy trồng cây mộng, thì kết ra quả mộng.

(còn tiếp)
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
2/. Thấy không có Sanh tử. (tt)
Quán chiếu sự Vô Sinh. Tổ long Thọ ở Trung quán Luận. Phẩm Phá Nhân Duyên. dạy như sau:

tứ môn bất sinh.
Chư pháp bất tự sinh 諸法不自生
Diệc bất tùng tha sinh 亦不從他生
Bất cộng bất vô nhân 不共不無因
Thị cố tri vô sinh. 是故知無生

Các pháp không tự sinh
Cũng không phải tha sinh
Không cộng không vô nhân
Nên đều là vô sinh.

(Trung quán luận)

HT. Thích Duy Lực Giải thích.:

Các pháp từ nhân duyên mà sanh, duyên sanh thì chẳng có tự tánh (duyên hợp mới có, duyên lìa thì không) tức là nghĩa vô sanh vậy. Các pháp 27 phẩm trong luận này đều là nhân duyên tương đối, nên đều có thể dùng bài kệ thứ hai để phá trừ. Các pháp từ nhân duyên sanh thì chẳng phải tự sanh (các pháp chẳng tự sanh). Tha cũng có tự thể của nó, nên Tha cũng đồng như Tự (cũng chẳng từ tha sanh). Vậy Tự với Tha đều chẳng thể thành lập, thì lấy gì để cộng. Lại pháp đã từ nhân duyên sanh thì chẳng phải vô nhân (chẳng cộng, chẳng vô nhân), cho nên biết tất cả pháp đều vô sanh. Người chứng ngộ tức là ngộ cái pháp "vô sanh" này vậy.

**********************
Tư duy:

Đức Phật dạy: "Tất cả Pháp đều do nhân duyên mà sanh".

Tất cả Pháp. tức là không ngoại trù bất cứ Pháp nào.- cũng là do duyên sanh. Như vậy CÁI NHÂN ĐỂ SANH RA PHÁP CŨNG LÀ DO DUYÊN SANH. SUY RA CÁC PHÁP TRÙNG TRÙNG DUYÊN SANH, MÀ KHÔNG THỂ TÌM THẤY "CÁI NHÂN" KHỞI THỈ. DO VẬY SUY RA CÁC PHÁP VÔ NHÂN- DO VÔ NHÂN NÊN VÔ QUẢ- VÔ NHÂN QUẢ NÊN BẤT SANH BẤT DIỆT.

Do vậy Trung quán Luận mới nói : Nên đều là vô sinh.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
2/. Thấy không có Sanh tử. (tt)

Kính các Bạn.

Thấy không có Sanh tử. - Là thấy ở mặt BẢN THỂ. Mà không nói ở mặt HIỆN TƯỢNG.

Lời tựa ĐT ĐL có nói việc ấy như vầy:

Muôn sự muôn vật đều do sinh sinh mà được hình thành. Thế nhưng cội gốc của sinh sinh lại là vô sinh. Từ vô thỉ đến nay và mãi mãi về sau, tính vô sinh ấy vẫn thường bất động. Do duyên khởi biến hóa mà giả danh có các sự vật. Thật ra, tất cả các sự các vật đều là hư vọng, là không thật có, là vô tự tính. Phàm phu do chìm đắm trong mê muội, mà khởi các vọng chấp cho rằng các sự vật là thật có.
Trong kinh A Hàm, Phật dạy rằng: “Các sự thấy nghe hay biết của chúng sinh đều do nhiễm trước nơi cảnh sở duyên mà có”. Chúng sinh do bị vô minh ngăn che tâm trí, nên khởi sinh các tà kiến chấp, vì vậy mà bị các pháp sai sử.
Chỉ có trí huệ Bát Nhã mới làm tan biến được màn vô minh u ám, mới hiển bày được thật tướng của các pháp. Dùng trí huệ Bát Nhã soi chiếu đến tận gốc rễ sẽ liễu ngộ được lý siêu việt chân thường, dẫn đến chỗ tuyệt tư cảnh giới. Trái lại, nếu dùng danh tự ngôn ngữ mà diễn đạt thì sẽ trái với chỗ thậm thâm vi diệu; còn nếu dùng lý trí mà tư duy, thì sẽ mất đi chỗ y chỉ.
Ở nơi Tam tạng Pháp Bảo, hàng Thanh Văn cũng không liễu tri đến chỗ thâm diệu; còn người tạp học thì phải chịu thúc thủ chẳng sao bước vào được cửa Không, chỉ ví như cá muốn hóa rồng, phí công mà chẳng sao được như nguyện, đành phơi mang trước cửa Long cung.
(hết trích)


Kính các Bạn. Bản Thể của các Pháp là Vô Sinh.- Vì không thể tìm được "Cái Nhân khởi thỉ" để SANH được thành lập. Vì thế Luận nói: "cội gốc của sinh sinh lại là vô sinh".- Điều này có thể thấy ra Khi hành giả bước vào tu quán TÁNH KHÔNG.

Kinh hoa Nghiêm. _phẩm Tu Di sơn Đảnh Kệ Tán có đoạn:

Lúc ấy:

Công-Đức-Huệ Bồ-Tát thừa oai-lực của Phật quan-sát khắp mười-phương rồi nói kệ rằng:
Các pháp không chơn-thật
Vọng chấp là chơn-thật
Cho nên các phàm-phu
Luân-hồi ngục sanh-tử.
Nơi ngôn từ thuyết pháp
Tiểu trí vọng phân-biệt
Vì thế sanh chướng-ngại
Chẳng rõ được tự-tâm
Đâu biết được chánh-đạo
Họ do huệ điên-đảo
Thêm lớn mọi điều ác.
Chẳng thấy các pháp không
Hằng thọ khổ sanh-tử
Người này chưa có được
Pháp-nhãn thanh-tịnh vậy.
.....................
Tất cả các pháp-tánh
Không sanh cũng không diệt
Lạ thay đấng Đạo-Sư
Tự-giác hay giác-tha.
Ngài Thắng-Huệ đã nói
Pháp của Như-Lai ngộ
Chúng tôi nghe Ngài nói
Biết được Phật chơn-tánh.
..................

Quan-sát nơi các pháp
Ðều không có tự-tánh
Tướng nó, vốn sanh-diệt
Chỉ là danh thuyết giả.


Tất cả pháp vô-sanh
Tất cả pháp vô-diệt
Nếu hiểu được như vậy
Chư Phật thường hiện tiền.

(hết trích)

Tóm lại:

* Thấy có Sanh tử Vô Thường dao động là Thấy ở mặt HIỆN TƯỢNG. Dùng Ý Thức chạy theo Hiện tượng là Vọng Tâm Vãng khách.

* Thấy Không sanh tử Chơn thường Bất động là thấy ở mặt BẢN THỂ. Dùng Chân Trí sống khế hợp với Chân Như là Chân Tâm Thường Trú mà ở đây Đức Phật đang dạy.
 
Last edited:

Kim Cang Thoi Luan

Moderator
Staff member
Tham gia
13 Thg 8 2018
Bài viết
631
Điểm tương tác
157
Điểm
43
7221


*Căn Bản Trung Quán Luận của ngài Long Thọ, ngài Thánh Thiên chú giải:
Khổ nếu có tự tánh
Tức không có tu đạo

Nếu đạo nên tu tập
Tức không có tự tánh.
-----------
*Các pháp nếu nhất định có tự tánh thì không có việc tu đạo. Vì sao?
-Vì pháp “nếu thật có” tức là “thường hằng”.
-Thường hằng thì không thể tăng thêm.
-Nếu đạo có thể tu thì đạo tức không có tự tánh.
 

Kim Cang Thoi Luan

Moderator
Staff member
Tham gia
13 Thg 8 2018
Bài viết
631
Điểm tương tác
157
Điểm
43
Trong kinh Đại Bát Nhã đức Phật đã nói rằng: Dù quả vị giải thoát thấp nhất là Tu Đà Hoàn. Nếu bạn không thông đạt Bát Nhã Trí thì không thể nào đạt được. Bát Nhã cũng như bà mẹ chung sinh ra các bậc thánh. Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát chỉ là phương tiện khác nhau; giống như người cha khác nhau.
 

Kim Cang Thoi Luan

Moderator
Staff member
Tham gia
13 Thg 8 2018
Bài viết
631
Điểm tương tác
157
Điểm
43
KINH MA HA BÁT NHÃ BA LA MẬT, Phẩm thứ nhất: Đại Bồ Tát muốn đầy đủ đạo huệ, muốn dùng đạo huệ để đầy đủ đạo chủng huệ, muốn dùng đạo chủng huệ để đầy đủ nhất thiết trí, muốn dùng nhất thiết trí để đầy đủ nhất thiết chủng trí, muốn dùng nhất thiết chủng trí để dứt tập khí phiền não, đều phải tu tập Bát nhã ba la mật.

Đại Bồ Tát phải học tập Bát nhã ba la mật như vậy.

Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn lên địa vị Bồ Tát, muốn hơn bực Thanh Văn, Duyên Giác, muốn trụ bực bất thối chuyển, muốn có lục thần thông, muốn biết chí hướng của tất cả chúng sanh, muốn có trí huệ hơn tất cả của tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật, muốn được những môn đà la ni, những môn tam muội, đều phải học Bát nhã ba la mật.

Đại Bồ Tát muốn dùng tâm tùy hỉ để hơn trên những sự bố thí, trì giới, tam muội thiền định, trí huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, giải thoát tam muội của tất cả những người cầu Thanh Văn, Bích Chi Phật, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Đại Bồ Tát thật hành phần ít bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí huệ, mà muốn do sức phương tiện hồi hướng để được vô lượng vô biên công đức, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Đại Bồ Tát muốn thật hành Đàn na ba la mật, Thi la ba la mật, Sằn đề ba la mật, Tỳ lê gia ba la mật, Thiền na ba la mật, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Đại Bồ Tát muốn đời đời thân thể giống như thân Phật đủ ba mươi hai tướng đại nhơn, tám mươi tùy hình hảo, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn sanh nhà Bồ Tát, muốn được bực đồng chơn, muốn chẳng rời Phật, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn đem những thiện căn cúng dường chư Phật và cung kính tôn trọng tán thán tùy ý thành tựu, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn làm cho chúng sanh thỏa nguyện về những thứ uống, ăn, y phục, giường nệm, đèn đuốc, phòng nhà, xe cộ, thuốc men, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn làm cho chúng sanh ở hằng sa thế giới đứng vững nơi sáu môn ba la mật, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn gieo một thiện căn ở trong phước điền của Phật còn mãi đến khi được vô thượng chánh đẳng chánh giác vẫn không hết, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn chư Phật ở mười phương ca ngợi danh hiệu của mình, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn vừa phát ý thời thân liền đến hằng sa thế giới ở mười phương, muốn vừa phát âm thời tiếng vang đến hằng sa thế giới ở mười phương, đều phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn thế giới của chư Phật chẳng dứt diệt, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Đại Bồ Tát muốn an trụ nơi nội không, ngoại không, nội ngoại không, không không đại không, đệ nhất nghĩa không, hữu vi không, vô vi không, tất cánh không, vô thỉ không, tán không, tánh không, tự tướng không, chư pháp không, vô sở đắc không, vô pháp không, hữu pháp không, vô pháp hữu pháp không, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn biết nhơn duyên, thứ đệ duyên, duyên duyên và tăng thượng duyên của các pháp, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn biết pháp như, pháp tánh và thiệt tế của các pháp, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Đại Bồ Tát phải như vậy mà an trụ trong Bát nhã ba la mật.

Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn đếm biết số vi trần của những hòn núi, của những quả đất trong Đại Thiên thế giới, muốn phân tích một sợ lông làm trăm phần rồi lấy một phần lông chấm hết nước của những suối ao, sông ngòi, biển cả trong Đại Thiên thế giới mà không kinh động đến loài thủy tộc, muốn thổi một cái liền tắt ngọn lửa cháy khắp Đại Thiên thế giới như hỏa tai lúc kiếp tận, muốn lấy một ngón tay ngăn dừng những cơn gió lớn có thể làm tan nát Đại Thiên thế giới đến tất cả những núi Tu Di như thổi tan đống cỏ mục, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn một lần ngồi kiết già có thể làm cho thân thể khắp tất cả không gian trong Đại Thiên thế giới, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn lấy một sợ lông vít những núi Tu Di trong Đại Thiên thế giới ném qua khỏi vô số thế giới phương khác mà không kinh động đến chúng sanh trong đó, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn đem một suất ăn, một bộ y phục, một nén hương, một cành hoa, một cây đèn, một tràng phan, một bảo cái mà có thể cúng dường đầy đủ khắp chư Phật cùng chư Tăng trong hằng sa thế giới ở mười phương, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn làm cho chúng sanh trong hằng sa thế giới ở mười phương đều đủ giới hạnh, tam muội, trí huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, cùng làm cho được quả Tu Đà Hoàn, quả Tư Đà Hàm, quả A Na Hàm, quả A La Hán, nhẫn đến được vô dư Niết Bàn, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật lúc bố thí nên biết rõ rằng: Bố thí như vậy được quả báo rất lớn, bố thí như vậy được sanh vào giòng quý hiền, bố thí như vậy được sanh lên trời Tứ Vương, trời Đao Lợi, trời Dạ Ma, trời Đâu Suất, trời Hóa Lạc, trời Tha Hóa, bố thí như vậy được nhập sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, phi hữu tưởng, phi vô tưởng xứ, nhơn bố thí nầy được bát thánh đạo phần, nhơn bố thí nầy được quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến quả Phật, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát thật hành Bát nhã ba la mật, lúc bố thí, do nơi sức huệ phương tiện nên có thể đầy đủ Đàn na ba la mật, Thi la ba la mật, Sằn đề ba la mật, Tỳ lê gia ba la mật, Thiền na ba la mật và Bát nhã ba la mật”.

Ngài Xá Lợi Phất thưa: “Bạch Đức Thế Tôn! Thế nào là đại Bồ Tát lúc bố thí, do nơi sức huệ phương tiện nên đầy đủ sáu ba la mật?”

Đức Phật nói: “Nầy Xá Lợi Phất! Do vì người bố thí, kẻ thọ và tài vật đều bất khả đắc nên có thể đầy đủ Đàn na ba la mật. Vì có tội cùng chẳng tội đều chẳng dính mắc nên đầy đủ Thi la ba la mật. Vì tâm bất động nên đầy đủ Sằn đề ba la mật. Vì thân tâm tinh tấn nên đầy đủ Tỳ lê gia ba la mật. Vì chẳng tán loạn chẳng say đắm nên đầy đủ Thiền na ba la mật. Vì biết tất cả pháp đều bất khả đắc nên đầy đủ Bát nhã ba la mật.

Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn được công đức của chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn đến bờ kia của pháp hữu vi và pháp vô vi, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn biết pháp như, pháp tướng và biên tế vô sanh của các pháp quá khứ, hiện tại, vị lai, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn đứng trước tất cả hàng Thanh Văn, Duyên Giác, muốn hầu hạ chư Phật, muốn làm nội quyến của chư Phật, muốn được quyến thuộc lớn, muốn được quyến thuộc Bồ Tát, muốn thanh tịnh báo đại thí, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn những tâm xan lẫn, phá giới, sân khuể, giải đãi, tán loạn, ngu si đều chẳng phát khởi, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn làm cho tất cả chúng sanh đứng vững nơi phước bố thí, nơi phước trì giới, nơi phước tu tập thiền định, nơi phước khuyến đạo, nơi tài phước và pháp phước, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn được ngũ nhãn thời phải học Bát nhã ba la mật. Đây là ngũ nhãn: nhục nhãn, thiên nhãn, huệ nhãn, pháp nhãn và Phật nhãn.

Đại Bồ Tát muốn dùng thiên nhãn thấy chư Phật trong hằng sa thế giới, muốn dùng thiên nhĩ nghe pháp của chư Phật ở mười phương tuyên nói, muốn hiểu biết tâm của Phật, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn nghe được pháp của chư Phật ở mười phương tuyên nói, nghe xong nhớ mãi đến khi thành Vô thượng Bồ đề vẫn không quên, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn thấy thế giới của chư Phật ở quá khứ, thấy thế giới của chư Phật vị lai và thế giới ở mười phương của chư Phật hiện tại, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn nghe mười hai bộ kinh, từ khế kinh trường hàng đến luận nghị kinh mà hàng Thanh Văn nghe cùng chẳng nghe, nghe xong đều muốn đọc tụng, thọ trì trọn vẹn, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Chánh pháp của chư Phật quá khứ, hiện tại, vị lai trong hằng sa thế giới đã tuyên nói, hiện nay nói và sẽ nói, được nghe xong đều muốn tin lãnh thọ trì, thật hành và giảng nói lại cho người khác, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn đem quang minh chiếu khắp những chỗ mà mặt nhựt mặt nguyệt chẳng chiếu đến trong hằng sa thế giới ở mười phương, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn làm cho tất cả chúng sanh trong hằng sa thế giới ở mười phương, những nơi không có danh hiệu Phật, Pháp, Tăng, đều được chánh kiến nghe danh hiệu Tam Bảo, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn làm cho chúng sanh trong hằng sa thế giới ở mười phương, do năng lực của ta mà kẻ mù được thấy, kể điếc được nghe, kẻ rách được lành, kẻ đói khát được no đủ, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn làm cho chúng sanh trong hằng sa thế giới ở mười phương, do năng lực của ta mà những loài trong ba ác đạo đều được thân người, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Muốn làm cho chúng sanh trong hằng sa thế giới ở mười phương, do năng lực của ta mà được đứng vững nơi giới, định, huệ, giải thoát, giải thoát tri kiến, được quả Tu Đà Hoàn nhẫn đến quả Vô thượng Bồ đề, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Đại Bồ Tát muốn học oai nghi của chư Phật, muốn nhìn ngó như tượng vương, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Đại Bồ Tát nguyện rằng khiến cho tôi lúc đi, chân tôi cách đất bốn ngón tay không đạp trên đất, tôi sẽ được vô lượng chư Thiên cõi Dục, cõi Sắc, từ Tứ Thiên Vương đến Sắc Cứu Cánh Thiên cung kính vây quanh cùng đi đến dưới cội bồ đề. Tôi sẽ ngồi dưới cội bồ đề và chư Thiên sẽ trải tòa cho tôi. Muốn được như vậy, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Lại nguyện lúc tôi thành Phật, chỗ tôi đi đứng ngồi nằm đều sẽ là Kim cang. Muốn được vậy, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát nếu muốn ngày xuất gia liền thành đạo Vô thượng Bồ đề, liền chuyển pháp luân có vô lượng vô số chúng sanh xa lìa trần cấu ở trong các pháp được pháp nhãn thanh tịnh, có vô lượng vô số chúng sanh vì chẳng thọ tất cả pháp nên được vô lậu giải thoát, có vô lượng vô số chúng sanh được bất thối chuyển Vô thượng Bồ đề, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Đại Bồ Tát muốn lúc thành Phật sẽ dùng vô lượng vô số Thanh Văn làm Tăng, lúc nói một thời pháp, tất cả chư Tăng nầy liền được quả A La Hán, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Đại Bồ Tát muốn lúc thành Phật, sẽ dùng vô lượng vô số Bồ Tát làm Tăng, lúc nói một thời pháp, tất cả chư Tăng nầy đều được bất thối chuyển, được vô lượng thọ mạng đầy đủ quang minh, thời phải học Bát nhã ba la mật.
Đại Bồ Tát muốn lúc thành Phật, trong thế giới không có danh từ tam độc, dâm dục, sân khuể, ngu si, tất cả chúng sanh đều thành tựu chánh trí huệ, thiện thí, thiện giới, thiện định, thiện phạm hạnh, thiện từ bi, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Đại Bồ Tát muốn lúc thành Phật, sau khi nhập Niết Bàn, chánh pháp không diệt tận, cũng không có danh từ diệt tận, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Đại Bồ Tát muốn lúc thành Phật, chúng sanh ở hằng sa thế giới ở mười phương nghe danh hiệu của ta quyết định sẽ được Vô thượng Bồ đề, thời phải học Bát nhã ba la mật.

Nầy Xá Lợi Phất! Đại Bồ Tát muốn được những công đức như vậy, thời phải học Bát nhã ba la mật.
 

Kim Cang Thoi Luan

Moderator
Staff member
Tham gia
13 Thg 8 2018
Bài viết
631
Điểm tương tác
157
Điểm
43
Muốn đối trị si mê chấp thật của vô minh, nhân duy nhất là nhân trí tuệ. Ngoài nhân này chính yếu ra, không thấy nhân khác đối trị được.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* LUÂN HỔI SANH TỬ KHÔNG PHẢI LÀ HIỆN TƯỢNG HỌA GỞI TAI BAY. BỔ ĐỀ NIẾT BÀN KHÔNG PHẢI CẢNH GIỚI SIÊU NHIÊN DO ĐẤNG SIÊU NHÂN NÀO BAN TẶNG(^)

Chánh văn:

Phật bảo: A Nan ! Rằng tất cả chúng sanh vô thỉ đến nay, điên đảo nhiều cách, giống nghiệp tự nhiên gắn bó với nhau như chùm nho chen chúc trái. Những người tu hành không thành vô thượng Bồ Đề mà lại thành ngoại đạo, chư thiên, ma vương hoặc Thanh Văn, Duyên Giác đều do không biết hai thứ căn bản cho nên tu tập sai lầm, chẳng khác nào nấu cát mong được thành cơm, dù trải qua nhiều kiếp như vi trần, rốt cuộc vẫn không kết quả.

Những gì là hai thứ căn bản ?

Một, là căn bản sanh tử vô thỉ. Như ông hiện nay và tất cả chúng sanh cũng thế, hằng ngày sử dụng cái tâm phan duyên mà lầm cho là tự tánh của chính mình.

Hai, là căn bản Bồ Đề, Niết Bản vô thỉ. Như ông hiện nay, cái tánh thanh tịnh bản minh vốn có, nó nhậm vận tùy duyên, nhưng ông và tất cả chúng sanh lại bỏ sót mất đi, cho nên tuy cả ngày sống ở trong tánh thanh tịnh bản minh mà không hay không biết. Đành oan uổng lặn lội trong lục đạo chuyển luân !


TRỰC CHỈ

Chúng sanh mà gọi là chúng sanh, sự thật họ không phải là chúng sanh, Như Lai gọi chúng sanh vậy thôi. Khi mê thì gọi chúng sanh, hết mê thì mọi người đều là Phật. Mê thì vô minhh hiển, Phật chất ẩn. Giác thì Phật chất hiển vô minh ẩn và tự hóa giải diệt vong.

Căn bản Bồ Đề, Niết Bàn từ vô thỉ chúng sanh nào cũng sẵn có. Thế mà chúng sanh mãi luân hồi trong sanh tử khổ đau. Sự thật, luân hồi sanh tử không phải là hiện tượng họa gởi tai bay mà là do sự vô minh bất giác của con người chiêu cảm lấy, thông qua những bất thiện nghiệp của thân khẩu ý của con người. Bồ Đề, Niết Bàn không phải cảnh giới siêu nhiên do đấng siêu nhân nào ban tặng, mà nó sẽ hiện hữu khi con người phải giũ sạch hành động bất giác vô minh sai trái ấy. Con người hoàn toàn có khả năng cải tạo những tư tưởng hành động của mình. Muốn được vậy phải tu học Thủ Lăng Nghiêm tam muội để tạo điều kiện cho chân tâm thường trú sẵn có hiện ra.

Căn bản Bồ Đề, Niết Bàn cũng như căn bản luân hồi sanh tử, vốn không phải là cảnh giới khổ vui cố định do ai đó tạo ra, để khi sử dụng uy quyền, tùy hứng thưởng cho chúng sanh nào trông thấy dễ thương và phạt những chúng sanh nào nhìn qua mà lòng mình không hạp nhãn.

Nền giáo lý trác tuyệt thượng thừa đã phát hiện:

… "Thật tánh vô minh là Phật tánh
Ảo hóa thân nầy tức pháp thân
Pháp thân nhận rõ không vương chấp
Phật tánh chơn thường lộ bản nguyên
Ngũ uẩn mây thưa chi để dạ
Bọt bèo tam độc bận lòng chi…"

(Vô minh thật tánh tức Phật tánh
Ảo hóa không thân tức pháp thân
Pháp thân giác liễu vô nhất vật
Bản nguyên tự tánh thiên chơn Phật
Ngũ uẩn phù hư không khứ lai
Tam độc Thủy bào hư xuất một…)


HUYỀN GIÁC THIỀN SƯ.
 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
3,108
Điểm tương tác
661
Điểm
113
Kính thày VQ một ly trà:

*** nếu KLL có nói gì sai với Phật Lý .. vẫn kính xin thầy VQ tận tình chỉ dạy .. KLL nguyện học hỏi theo

Ý THỨC --> VẬT LỘN VỚI THỨC MẠT NA --> để CHUYỂN TÀNG THỨC --> Tu Tập trừ trên Căn Bản "TRÍ"

theo KLL hiểu thì Phật đạo tu hành tại tâm .. nên hiểu rõ tâm mình bao hàm những gì trước ... sau đó .. mới có thể từ những "chủng tử, vi trần" trong tâm .. mà nhận ra "tự tánh", hoạt động, mẫu số chung của chúng --> khi đã biết TÂM là gì rồi, con đường học phật đạo sẽ thêng thang --> bởi vì nhiều thứ để tu học quá [smile]


cho nên ... trong bộ phim Đạt Ma Tổ Sư của Tổng Hội Phật Giáo Đài Loan phát hành thì phải, lúc 1:54:00+ trở đi .. có 1 vị đệ tử của Đạt Ma Tổ Sư ...trả lời Di Kiến Vương

LÚC THẤY KHẮP --> thì NHỎ NHƯ HẠT VI TRẦN [smile - những hạt chủng tử .. của tâm trong tạng thức]

NGƯỜI BIẾT NÓ --> là PHẬT

KẺ KHÔNG BIẾT --> là TA [smile]

Chúng ta không thường biết tới "TÂM" và "nội dung" của Tâm như vậy .. cho nên .. thực hành phương pháp nhìn thấy rõ bản thân tâm như vậy ... và quá trình xông ướp tạo ra những "bản năng" "nhân cách" như vậy trong chính mình [smile] --> để chúng ta biết các cảnh, cách cõi .. sướng khổ, thật giả, có không, sanh tử Niết Bàn --> đều từ một nguồn tâm mà ra [smile]

Ở mảnh đất gọi là Tâm Địa, Tâm Tạng, Hữu Phần, Căn Bản Trí --> có 51 Tâm Sở ... không có tên đặt theo hình tướng như là:

- ông bác sĩ,

- ông luật sư ..

- thằng ăn trộm .. kẻ ăn cướp

mà là ở dạng những chủng tử như là những nguồn năng lượng, như là các tâm --> tham dự, hoạt động, hành động, khởi dậy --> dẫn tới việc tạo ra các tướng, chư tướng, từ các tâm sở đó

Tâm Sở Tham --> chắc chắn và có lẽ sẽ tham dự vào ham làm, ham việc, tham không xin, trộm cướp, chôm chỉa, hay là cây nhãn nhà hàng xóm có chùm nhãn gần bờ rào hỏng lấy hỏng được [smile]

và Tâm sở Trí Tuệ --> chắc chắn và có lẽ sẽ có sự tham dự làm ra hình tướng .. hiền lành, tăng ni, cư sĩ, ... hòa thượng .. pháp sư, ... phật tâm

như vậy khi những tâm sở bất thiện do cảnh, căn thân, chủng tử khơi dậy ... thì sự phân biệt của Ý THỨC, TỈNH THỨC của Ý THỨC, TÁC Ý NHƯ LÝ cũng bằng tâm sở tác ý cũng dẫn tới sự đánh thức lại những tâm sở đối lập tương ưng thiện .. hoặc cao hơn là tâm sở TRÍ TUỆ ..

theo KLL hiểu thì Thức Mạt Na .. theo Duy Thức có tên gọi là "Tình Thức" .. bởi vì Tình mà chấp ngã, chấp pháp .. làm nên hiện tượng CÂU SANH NGÃ CHẤP và PHÁP CHẤP .. nghĩa câu sanh là đồng sanh khởi với sự sanh khởi của vạn pháp .. .như vậy Thức Mạt Na --> là ông chủ bỏ "ngã chấp và pháp chấp" vào trong hiện tượng vạn pháp [smile]

Ý Thức khởi từ Ý Căn tức là Thức Mạt Na .. nên cũng có nhiều ảnh hưởng của Mạt Na... nhưng trong Ý Thức, có sự phân biệt làm nên sự linh lợi, tối khôn ngoan của Ý THỨC ... bởi vì sự phân biệt của Ý Thức có năng lực vươn tới đủ tam tánh, tam lượng, tam cảnh --> tương ưng với 51 tâm sở ... đánh thức và khơi dậy những đối tượng của sự phân biệt --> và cũng là nền tảng của sự tỉnh thức --> và Tác Ý Như Lý

Ý Thức --> là Tâm Vương duy nhất trong Bát Tâm Vương có thể thông hết tam tánh, tam lượng, tam cản, tương ưng với 51 tâm sở ..

khi 1 Tâm Vương hoạt động .. thì những tâm sở tương ưng với hoạt động với tâm vương đó được Tâm Sở Tác Ý hỗ trợ và đánh thức dậy ..

thường nói Vua .. mà có quần thần tốt .. sẽ là 1 vị vua tốt [smile]

nếu Ý Thức Tâm Vương --> mà không có "nền tảng" quần thần tốt từ Tạng Thức, Căn Bản Trí ... bao hàm những tâm sở thiện, những chủng tử thiện đã "được huân tập" ... "sẵn có" ... phù hợp --> thì SỰ PHÂN BIỆT của Ý THỨC cũng không có sự lanh lợi, tốt lành ... và sự tạo tác của Ý Thức .. cũng không có lợi ích




như Tham, Sân Si được khơi dậy .. thì những tâm sở thiện có thể hóa giải được là vô tham, vô sân vô si [smile]

nếu những chủng này .. không có sự xông ướp, huân tập .. trước tiên do sự phân biệt của Ý Thức, và tống truyền bằng Mạt Na vào Tạng Thức, thì cũng không có sự thức dậy của những chủng từ này .. làm "nền tảng" cho sự TỈNH THỨC và TÁC Ý NHƯ LÝ [smile] trong quá trình chuyển hóa, huân tập những chủng tử thiện hảo, trí truệ trong tàng thức và là nền tảng của chuyển thức, chuyển trí

Hồi học kinh Thủ Lăng Nghiêm .. tới phần này KLL cũng có 1 số trải nghiệm vất vả .. khó là không biết sử dụng Ý THỨC để làm gì [smile]

Nhưng hồi đó .. cũng may có 1 người bạn tặng 1 cuốn Duy Thức Học .. bảo KLL nên "VẬT LỘN" với nó --> mà đúng thiệt là vậy [smile]

KLL cũng phải ráng vật lộn với nó .. nhưng tới khi đọc tới Tàng Thức = Biển --> thì dường như lúc đó ... bắt đầu hiểu nội dung của Trực Chỉ của HT Từ Thông [smile]

Hạo hạo tam tàng bất khả cùng

uyên thâm thất lãng cảnh vi phong

thọ huân, trì chủng căn thân khí

khứ hậu lai tiên .. tác chủ ÔNG


Vơi vơi ba tàng không cùng tột

Vực sâu, bảy sóng, cảnh làm gió

Chịu huân, trì chủng và thân cảnh

Đến trước đi sau làm chủ Ông.



Lúc đó anh bạn đó nói với KLL 1 vấn đề: con người khác với loài vật ở một bộ óc siêu việt .. bởi vì trong đó .. cái gì cũng chứa được ...

và anh ta nói: Tàng Thức .... cũng là nơi chứa đựng SỰ SIÊU VIỆT ĐÓ --> [smile]

nhưng 1 thời gian sau thì KLL bắt đầu hiểu ...đặc biệt là cũng may mắn từ cuốn Duy Thức Học đó .. mò tới được 1 cuốn sách khác --> và cũng có 1 thời gian, KLL đi ngủ .. ăn nằm mỗi tối trước khi ngủ với nó .. đó chính là Bát Thức Quy Củ Tụng của HT Thích Thắng Hoan .. cứ từ từ lấy ra đọc vài trang .. suy tứ những vấn đề đó .. rùi lại lâu lâu thử vài trang khác .. lại cảm thấy có lợi ích nên trình lên để mọi người đồng duyệt [smile]

với câu hai: "uyên thâm thất lãng cảnh vi phong " thì HT dùng 1 câu trong kinh Lăng Già:

“Tạng Thức hải thường trú

cảnh giới phong sở động

chủng chủng chư Thức lãng

đẳng chước nhi chuyển sanh”


nghĩa là Biển tàng Thức thì thường trú, gió cảnh giới biến động khiến cho các thứ Sóng Thức cuồn cuộn lưu chuyển sanh ra.

KLL
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Chân Tâm & Vọng tưởng.

Trực Chỉ:

Thông thường người ta quan niệm: Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, năm cơ quan vật chất ấy hợp lại thành một con người. Con người vật chất ấy được gọi là thân. Còn cái tác dụng tư duy phân biệt, không rờ mó nắm bắt được, người ta gọi nó là tâm, cũng có trường hợp gọi là ý thức. Ông A Nan đại diện cho Phật tử chúng ta, đóng vai trò một người có quan niệm nhận thức thông thường đó, để cùng Phật luận bàn tìm hiểu cái tâm. Nhưng sự tranh luận giữa Phật và ông A Nan ở đây, không phải nhằm để xác định các dạng nhận thức tư duy ấy là tâm hay là ý thức. Bởi vì tâm hay ý thức, với giáo lý đạo Phật, không có gì cần phải tranh luận. Mỗi khi thuyết pháp Phật đề cập vấn đề tâm, ý, bàn bạc ở các kinh là một việc thông thường. Đức Phật há chẳng răn dạy đệ tử mình hãy đề cao cảnh giác, Tâm viên ý mã, đó sao ?

Vấn đề Phật muốn dạy ông A Nan và Phật tử chúng ta là: Hãy phát hiện chơn tâm thường trú sẵn có của mình. Nó là căn bản Bồ Đề Niết Bàn đó. Không phát hiện được chân tâm thường trú, dù có lý luận: Rằng nó là cái nầy, nó là cái kia, nó ở trong thân, nó ở ngoài thân hoặc ở chặng giữa… đều không đem lại lợi ích gì. Giả sử có nói đúng thực đi nữa, cái đó cũng vẫn là căn nguyên của tai họa, là động cơ của mọi phiền não: Tham, sân, si, mạn… cái hiện tượng tư duy mà ta gọi là tâm hay ý ấy vốn là vọng tưởng. Mà vọng tưởng thì không chơn. Nó là vang bóng của tiền trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Rời tiền trần, cái gọi là tâm hay ý thức ấy sẽ tan biến mất theo. Cho nên trọng tâm tranh luận giữa Phật và ông A Nan không phải ở chỗ tìm kiếm cái tâm qua hình dáng: lớn, nhỏ, rộng, hẹp, dài, ngắn, vuông, tròn… cũng không phải cần thấy cái tâm qua màu sắc: xanh, vàng, đỏ, trắng, hồng, lục hay sô-cô-la… mà tranh luận để phát hiện cái trong sáng, cái thanh tịnh, cái giải thoát an lành, cái giác ngộ bất động, cái tự tại như như vốn có ở trong mọi con người. Những cái đó, dù con người đang bị phiền não vô minh che phủ, mà bản chất tiềm tàng cố hữu của nó ở trong tâm thể mọi người thì vô thỉ vô chung không lúc nào gián đoạn.

Do vậy, Phật nói rõ với ông A Nan rằng: Không phải tôi bảo ông phủ nhận cái tánh thấy nghe nhận thức không phải là tâm; nhưng ông hãy chín chắn nghĩ suy, làm thế nào rời cái vọng tưởng đến đi, ông phải còn một cái: cái không vọng tưởng đến đi. Cái đó nó ở luôn với ông, nó ở trong ông, nó thật là của ông đấy. Còn muốn gọi nó là tâm hay là ý thức, không quan trọng, việc đó tùy người và hồi sau sẽ còn phân giải…
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Lại gạn hỏi cái Tâm.

Chánh văn:

Phật bảo: A Nan ! Ông muốn biết đường tu Xa ma tha để ra khỏi sống chết, ông hãy trả lời tôi.

Phật liền đưa cánh tay co năm ngón bảo A Nan rằng: Ông có thấy gì không?

Ông A Nan thưa: Tôi thấy Như Lai đưa cánh tay và co ngón tay lại thành cái nắm tay, nó phản ánh tác động vào tâm và con mắt của tôi. Tôi và đại chúng đều do con mắt mà thấy.

Phật bảo: A Nan ! Ông trả lời với tôi: Rằng: Như Lai co ngón tay làm thành nắm tay, phản ánh tác động vào tâm và con mắt của ông. Con mắt của ông thì thấy việc đó tất nhiên. Còn ông lấy cái gì làm tâm để nhận biết cái nắm tay tôi ?

- Bạch Thế Tôn: Như Lai gạn hỏi tâm tôi, tôi dùng tâm suy nghĩ để trả lời Phật, thì rõ là cái suy nghĩ ấy là tâm tôi vậy.


Phật bảo: Sai rồi ! A Nan ! Cái suy nghĩ ấy không phải là tâm của ông.

Trong dáng vẻ kinh ngạc, ông A Nan đứng dậy chấp tay thưa:

- Bạch Thế Tôn ! Cái suy nghĩ ấy không phải tâm tôi thì gọi nó là cái gì ?

Phật bảo: Đó là cái tưởng tượng tướng hư vọng của tiền trần. Chính cái đó làm mê lầm chân tánh của ông. Từ vô thỉ đến nay, ông nhận tên giặc ấy làm con, bỏ mất tâm tánh bản lai thường trú, nên phải chịu luân hồi.

Ông A Nan thưa: Tôi là em của Phật, vì tâm yêu thương Phật nên mới xuất gia. Tôi cúng dường chư Phật mười phương, phụng sự thiện tri thức, phát tâm đại dũng mãnh, làm tất cả pháp sự khó làm, đều dùng cái tâm ấy. Giả sử có hủy báng Phật pháp, đoạn diệt thiện căn, bất tin tam bảo cũng đều dùng đến cái tâm ấy. Nay Phật phát minh cái suy nghĩ đó không phải là tâm, thì tôi thành ra không có tâm, như gỗ, như đất. Bởi vì, ngoài cái suy nghĩ nhận biết ấy ra, tôi không còn có gì nữa ! Sao Như Lai lại bảo cái đó không phải là tâm ? Tôi kinh sợ quá ! Và cả đại chúng nầy không ai là không hoang mang dao động ! Xin Phật rủ lòng từ chỉ dạy cho chúng tôi những điều chưa liễu ngộ ?


******************

Tư duy:

Có học tăng đến hỏi Thiền Sư Diên thọ rằng:

- Hỏi : Bài Kệ của ngài Trường Sa rằng :

Sao người học Đạo chẳng biết Chơn ?

Chỉ vì xưa nay nhận Thức-thần.

Nguồn gốc sanh tử từ vô thủy,

Si mê cho là Bổn-lai-nhân
.

Vậy lìa Tánh-thức riêng có Chơn-tâm ư ?

Đáp : Trong kinh Thủ Lăng Nghiêm, Phật vì A-nan phân tích kỹ càng, ngươi còn chẳng tin. A-nan cho tư tưởng suy tìm là Tâm, đã bị Phật quở. Tư tưởng suy tìm là Thức, nếu dùng ý thức suy nghĩ, hành theo danh tướng thì sanh phiền não, ấy gọi là Thức, chẳng gọi là Tâm. “Ý” tức là ghi nhớ, tưởng nhớ cảnh xưa, sanh khởi nơi vọng đều là vọng-thức, chẳng dính dáng với Tâm. Bản-tâm phi hữu phi vô, hữu vô đều chẳng nhiễm, cho đến mê, ngộ, Thánh, phàm, đi, đứng, nằm, ngồi, đều là vọng-thức, chẳng phải Tâm vậy. Tâm xưa vốn chẳng sanh, nay cũng chẳng diệt. Nếu biết Tự-tâm như thế thì chư Phật cũng vậy, nên Duy-ma-cật nói : “Trực-tâm là đạo-tràng”, vì chẳng hư giả.
(hết trích)

Kính các Bạn. Khi tu và học Thủ lăng Nghiêm tam muội. Chúng ta cần lưu ý và nhận rõ Vọng và Chân. Để không nhận giặc làm con mà bị mất hết của báu.
 
Last edited:

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
3,108
Điểm tương tác
661
Điểm
113
Kính Thày VQ một ly trà:

*** nếu KLL có nói gì sai với Phật Lý.. vẫn kính xin thày VQ tận tình chỉ dạy .. KLL nguyện học hỏi theo

hôm qua ... KLL có xem lai Kinh Trường Bộ và Kinh Trung Bộ, Đại Kinh Phương Quảng thấy có vài đoạn kinh rất phù hợp với đoạn trực chỉ này của Thày Từ Thông và lời giải thích của Thày VQ nên kính trình mọi người đồng duyệt

Vô Tướng Tâm Giải Thoát/Không Tâm Giải Thoát --> Đồng Nghĩa Danh Sai Biệt --> TU TẬP THÀNH CỖ XE (tam thừa) --> VÔ TƯỚNG TÂM ĐỊNH --> Không Nghi Lời Hòa Thượng Trong Thiên Hạ [smile]



I. Vô Tướng Tâm Giải Thoát/Không Tâm Giải Thoát --> Đồng Nghĩa Danh Sai Biệt

Kinh Trung Bộ, Đại Kinh Phương Quảng, phẩm tâm giải thoát đức Phật có liệt kê một số nhân duyên tới tâm giải thoát và Tác Ý Như Lý của Tâm Giải Thoát

Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để chứng nhập vô tướng tâm giải thoát?

-- Này Hiền giả, có hai duyên để chứng nhập vô tướng tâm giải thoát:

không có tác ý nhất thiết tướng

tác ý vô tướng giới.


Này Hiền giả, do hai duyên này mà chứng nhập vô tướng tâm giải thoát.

-- Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để an trú vô tướng tâm giải thoát?

-- Này Hiền giả, có ba duyên để an trú vô tướng tâm giải thoát:

không tác ý nhất thiết tướng,

tác ý vô tướng giới,


một sự sửa soạn trước.

Này Hiền giả, do ba duyên này mà an trú vô tướng tâm giải thoát. -- Này Hiền giả, có bao nhiêu duyên để xuất khởi vô tướng tâm giải thoát?

-- Này Hiền giả, có hai duyên để xuất khởi vô tướng tâm giải thoát:

tác ý nhất thiết tướng và

không tác ý vô tướng giới.


Này Hiền giả, do hai duyên này mà xuất khởi vô tướng tâm giải thoát.


Và này Hiền giả, thế nào là vô sở hữu tâm giải thoát?

Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo vượt lên mọi Thức vô biên xứ, nghĩ rằng: "Không có vật gì" chứng và trú Vô sở hữu xứ. Như vậy, này Hiền giả, gọi là Vô sở hữu tâm giải thoát.


Và này Hiền giả, thế nào là không tâm giải thoát?

Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo đi đến khu rừng, hay đi đến gốc cây, hay đi đến chỗ nhà trống và suy nghĩ như sau: "Ðây trống không,

không có tự ngã hay

không có ngã sở".

Như vậy, này Hiền giả, gọi là không tâm giải thoát.


Và này Hiền giả, thế nào là vô tướng tâm giải thoát?

Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo --> không tác ý với nhất thiết tướng --> đạt và an trú vô tướng tâm định.

Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô tướng tâm giải thoát. Như vậy là có pháp môn và do pháp môn này những pháp ấy nghĩa sai biệt và danh sai biệt.


-- Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát này, vô sở hữu tâm giải thoát này, không tâm giải thoát này và vô tướng tâm giải thoát này,

những pháp này --> nghĩa sai biệt --> và danh sai biệt ,

hay nghĩa đồng nhất và danh sai biệt.


-- Này Hiền giả, vô lượng tâm giải thoát, vô sở hữu tâm giải thoát, không tâm giải thoát và vô tướng tâm giải thoát này,

có một pháp môn, này Hiền giả,

do pháp môn này, các pháp ấy nghĩa sai biệt và danh sai biệt.

Và này Hiền giả, lại có một pháp môn, do pháp môn này, các pháp ấy có nghĩa đồng nhất và danh sai biệt.

Này Hiền giả, thế nào là có pháp môn, do pháp môn này các pháp ấy có nghĩa sai khác và có danh sai khác?

Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới,

--> vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.


Với tâm câu hữu với bi... với tâm câu hữu với hỷ... an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả
,

cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư.

Như vậy, cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân.

--> Như vậy, này Hiền giả, gọi là vô lượng tâm giải thoát.




II. Tu Tập Thành Cỗ Xe (3 cỗ xe tam thừa) --> VÔ TƯỚNG TÂM ĐỊNH (Kinh Trường Bộ, Kinh Phúng Tụng)

Này các Hiền giả, lại nữa ở đây vị Tỷ kheo nói như sau:

“Ta đã tu tập vô tướng tâm giải thoát, --> làm cho sung mãn --> làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần. Tuy vậy thức của tôi vẫn chạy theo các tướng”.

Vị ấy cần phải được nói như sau: “Chớ có như vậy, chớ nói như vậy, Ðại Ðức! Chớ có hiểu lầm Thế Tôn, vu khống Thế Tôn như vậy không tốt. Thế Tôn không nói như vậy”.

Này các Hiền giả, sự kiện không phải như vậy. Trường hợp không phải như vậy.

Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, --> mà thức vẫn chạy theo các tướng, --> sự kiện không xảy ra như vậy.

Nếu tu tập vô tướng tâm giải thoát, làm cho sung mãn, làm thành cỗ xe, làm thành căn cứ, an trú, chất chứa và khéo léo tinh cần, mà thức vẫn chạy theo các tướng, sự kiện không xảy ra như vậy.

Này các Hiền giả, vô tướng tâm giải thoát -->
có khả năng giải thoát tất cả tướng.


Và này Hiền giả, thế nào là vô tướng tâm giải thoát?

Ở đây, này Hiền giả, vị Tỷ-kheo --> không tác ý với nhất thiết tướng --> đạt và an trú vô tướng tâm định.



III. Không Nghi Lời Hòa Thượng Trong Thiên Hạ [smile]

Phần giới thiệu của Trực Chỉ có nói đến Tỳ Kheo Giới, giới Cụ Túc ... như vậy .. hòa thượng trong thiên hạ là những người thọ giới, thọ pháp --> thực hành "tâm giải thoát" làm cho sung mãn và làm thành cỗ xe. Trong Kinh Pháp Hoa, đức Phật ví Tâm Sanh Tử Luân Hồi như là Căn Nhà Lửa .. và Tâm Giải Thoát .. là ba Cỗ Xe đi ra khỏi căn nhà lửa đó: đó là cỗ xe tam thừa .. Thinh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát

Tổ Đức Sơn cũng là người tu hành, cũng thọ giới .. nhưng khi chưa phá được kiến chấp thì ngài VẪN NGHI LỜI hòa thượng trong thiên hạ -->

*** [smile... có lẽ thời ngài Đức Sơn ở .. tu hành vẫn có những nhà sư, hòa thượng tu hành chân chính .. nên họ hiểu ... nhưng nói thì ngài Đức Sơn chẳng tin ... smile]


cho nên mới có đoạn pháp thoại giữa Đức Sơn và Long Đàm

Một đêm, sư đứng hầu. Long Đàm bảo:

"Đêm khuya sao chẳng xuống?"

Sư kính chào bước ra, lại trở vào thưa:

"Bên ngoài tối đen."

Long Đàm thắp đèn đưa Sư. ->> Sư toan tiếp lấy --> Long Đàm liền thổi tắt --> Sư bỗng nhiên đại ngộ, tất cả kiến chấp đều tan vỡ, quỳ xuống lễ bái. [smile]

Long Đàm hỏi:

"Ngươi thấy gì?"

Sư thưa:
"Từ nay về sau chẳng còn nghi lời nói chư Hoà thượng trong thiên hạ."

*** do vậy, theo mấy đoạn kinh trên, chắc chắn và có lẽ cũng chẳng nghi được Hòa Thượng trong Thiên Hạ khi chúng ta nhìn thấy Giới họ đã thọ, tu tập tâm giải thoát của họ đã thành cỗ xe --> sung mãn --> "câu hữu tứ phương" [smile]

KLL
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Phật khai thị TÁNH THẤY .

Chánh văn:

CÁI TÁNH THẤY CỦA MẮT CHỈ LÀ HIỆN TƯỢNG(^)

Ông A Nan và đại chúng chưa nhận rõ thế nào là chơn tâm thường trú, lòng còn bối rối ngẩn ngơ.

Phật bảo: A Nan ! Trong thế gian những người tu học tuy đã được chín thứ thiền định, nhưng không diệt hết được mê lầm chỉ thành A La Hớn đều do lầm chấp cái vọng tưởng tử sanh là chơn thật. Thế nên, ông nay tuy học rộng nghe nhiều mà không thành chánh quả.

Ông A Nan khóc lóc bạch Phật: Từ khi tôi phát tâm theo Phật xuất gia, thường ỷ lại lòng thương của Phật, tự nghĩ rằng rồi đây Như Lai sẽ ban cho tam muội, chia sớt đạo quả cho. Giờ đây mới biết: Thân tâm không ai có thể thay thế cho ai. Từ lâu tôi đã bỏ mất bản tâm của tôi rồi. Thân tuy xuất gia mà tâm chưa vào đạo. Như đứa con hoang cùng khổ, bỏ cha bỏ nhà ra đi. Ngày nay mới biết, tuy được nghe Phật pháp nhiều mà không tu hành, thì chẳng khác gì người không nghe, như nói ăn mà không ăn rốt cuộc không thể nào no được.

Kính Bạch Thế Tôn ! Chúng tôi hiện nay còn bị hai chướng buộc ràng, do vì không biết tâm tánh vắng lặng thường nhiên, xin Như Lai thương xót kẻ nghèo cùng rách rưới, phát minh cho cái tâm nhiệm mầu, sáng suốt và khai mở con mắt đạo cho chúng tôi !

Bấy giờ đức Như Lai từ tướng cát tường hải vân trước ngực phóng ra ánh sáng rực rỡ soi khắp thế giới chư Phật mười phương và chiếu khắp đảnh các Như Lai trong hằng sa cõi nước, rồi xoay về chiếu đến đảnh ông A Nan và đại chúng.

Phật bảo: A Nan ! Trước ông trả lời: rằng ông thấy cái nắm tay của tôi, vậy cái nắm tay do đâu mà có ? Và ông lấy cái gì để thấy ?

Bạch Thế Tôn ! Cái nắm tay có là do bàn tay Phật co các ngón tay lại. Tôi thấy nắm tay của Phật là do con mắt của tôi.

Phật bảo: Nếu không có bàn tay thì không có nắm tay. Nếu không có con mắt (mắt bị đui) thì không có cái thấy. Hai sự việc đó có giống nhau chăng ?

Bạch Thế Tôn ! Đúng vậy. Nếu không có bàn tay thì không có nắm tay; nếu không có con mắt thì không có cái thấy.

Phật bảo A Nan ! Ông nói như vậy là không đúng. Không có bàn tay thì tuyệt nhiên không có nắm tay, chứ không có con mắt (đui) không phải hoàn toàn không thấy. Ông thử hỏi những người đui xem họ có thấy gì không ? Chắc hẳn họ sẽ trả lời với ông: Rằng họ thấy tối đen trước mắt. Lấy nghĩa đó mà suy nghĩ tiền trần tự tối, chứ cái tánh thấy nào có hao kém gì ?

Bạch Thế Tôn ! Những người đui trước mắt chỉ thấy tối đen, sao gọi rằng thấy ?

Phật bảo: Dù thấy tối đen cũng vẫn là thấy còn thấy sáng hay thấy tối là do tiền trần sáng tối, tánh thấy vẫn y nhiên. Nếu vì tối mà cho là không thấy, vậy thì khi người ta ngồi trong nhà tối không thấy gì hết, chỉ thấy trước mắt tối đen, bỗng nhiên được đèn sáng thấy rõ các vật, chẳng lẽ ông bảo đó là cái đèn thấy hay sao ? Vậy nên suy biết: đèn làm tỏ rõ các vật, nhưng thấy như vậy là mắt chứ không phải đèn. Mắt làm tỏ các sắc, nhưng thấy là tâm, chứ không phải là mắt.

Trực chỉ:

Vấn đề nắm tay và cái thấy; cái thấy là mắt hay là tâm, làm cho người đọc kinh Thủ Lăng Nghiêm, không thể không phân vân, kiểm tra lập trường nhận tức của mình. Ông A Nan mệnh danh là con người đa văn đệ nhất, thế mà còn lúng túng chưa ngã ngũ được bằng nhận thức của mình huống hồ Phật tử chúng ta chẳng mấy tí đa văn, giải quyết sự kiện ấy còn khó khăn vạn bội. Phật tử đừng xem thường vấn đề thấy, nghe, ngửi, nếm… và vấn đề tâm vật trong đời sống hằng ngày.

Bảo rằng con mắt thấy thì sai lầm, vì thiển cận. Bảo rằng không phải con mắt thấy, càng ngớ ngẩn ngô nghê. Bảo rằng tâm thấy, thì đó là phương tiện của Như Lai chứ chưa hẳn vậy. Bởi vì: "Quá khứ tâm bất khả đắc, hiện tại tâm bất khẳ đắc, vị lai tâm bất khả đắc". Vậy thì tâm thấy là cái tâm nào ?

Nói rằng tâm thấy, là ý Phật muốn dạy cho ông A Nan biết về "ngũ câu ý thức" về hiện tượng, tỷ lượng và phi lượng của bát thức tâm vương, nói theo thuật ngữ của duy thức học. Tiền ngũ thức, nhãn thức là một, tiếp xúc với ngũ trần, chỉ thông qua hiện lượng. Hiện lượng là sự lượng biết còn trong đệ nhất sát na nghĩa là chưa qua tư duy phân biệt. Sự tiếp thu tiền cảnh của tiền ngũ thức, giống như sự tiếp thu hình ảnh và âm thanh của chiếc máy quay phim màu. Hình ảnh, màu sắc và âm thanh có đủ, nhưng cuồn phim, chiếc máy, thì bình đẳng tiếp thu không mảy may phân biệt. Vậy mà ông A Nan cho rằng mắt thấy thì làm sao không bị Phật quở rầy ! Mắt, chỉ tiếp thu làm tỏ rõ các vật sắc, mà thấy biết là phải có ý thức tâm vương cộng vào.

Nghĩa là: Nhãn thức cộng với ý thức tâm vương thành nhãn câu ý thức. Đử ngần ấy điều kiện mới thành cái thấy biết của mắt. Vì vậy Như lai nói: Mắt không phải thấy mà thấy là do tâm. Tâm ở đây, chỉ cho tâm vương ý thức vậy.

Do đó, ta thấy rõ: Cái thấy của mắt, chỉ là hiện lượng thôi, cho nên chưa đầy đủ yếu tố để gọi là mắt thấy. Vì vậy:

Nói mắt thấy đã sai
Nói không phải mắt thấy càng sai
Nói tâm thấy, chỉ là Như Lai phương tiện !
Mà phải nói: cái thấy của mắt chỉ là hiện lượng !

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Đức Phật chỉ ra cái gì là khách, cái gì là Chủ để khai thị Chân Tâm.

Chánh văn:

GẠN HỎI NGHĨA KHÁCH TRẦN NHẰM CHỈ RÕ HIỆN TƯỢNG VỌNG TƯỞNG DIỆT SANH.

VÍ DỤ CHỦ VÀ HƯ KHÔNG ĐỂ KHAI THỊ BẢN THỂ CHƠN TÂM THƯỜNG TRÚ(^)

Bấy giờ đức Thế Tôn giơ cánh tay mềm mại lên, bảo ông A Nan và đại chúng: Sau khi thành đạo, lần đầu tiên ở Lộc Giả Uyển, tôi có dạy cho nhóm ông A Nhã Kiều Trần Như rằng tất cả chúng sanh không thành Vô thượng Bồ Đề và A La Hớn, do vì phiền não khách trần làm mê hoặc. Thuở đó, bọn ông do đâu mà tỏ ngộ, hiện nay được thành chánh quả ?

Ông Kiều Trần Như đứng dậy thưa: Bạch Thế Tôn ! Nay tôi đã già ở trong đại chúng, tôi được cái tên Giải, là do thuở đó tôi tỏ ngộ được ý nghĩa hai chữ khách trần. Khách là người đi đường, khi cần, họ vào quán trọ thuê phòng hoặc ở, hoặc ngủ, hoặc ăn. Ăn ngủ xong xếp hành lý lên đường, không ở luôn được, còn người chủ thì ở vĩnh viễn không phải đi đâu nữa. Từ suy nghĩ đó, tôi hiểu ra rằng: Khách có đến, đi; còn chủ thì ở luôn không đi đâu hết.

Về nghĩa chữ trần, thì vào lúc mặt trời mới lên, ánh sáng xuyên vào các kẽ hở, lỗ thủng của mái nhà, nhìn theo làn ánh sáng trong khoảng hư không yên lặng ấy, tôi thấy vô số bụi trần li ti loạn động, cuồn cuộn tuôn bay. Do đó tôi nhận ra được nghĩa chữ trần: Trần thì lay động, còn hư không thì yên lặng tuyệt nhiên !

Phật bảo: Đúng vậy.

Đoạn, Phật đưa tay lên, co năm ngón tay lại rồi mở ra và hỏi:

- A Nan ! Ông thấy gì ?

- Tôi thấy bàn tay Phật, nắm lại rồi mở ra. A Nan đáp.

- Ông thấy tay tôi có nắm có mở hay cái thấy của ông có nắm có mở ?

- Thưa ! Tay Phật có nắm có mở, chứ cái thấy của tôi làm sao có nắm mở được !

- Cái gì động ? Cái gì tĩnh ? Phật hỏi.

- Thưa ! Bàn tay của Phật không yên, chứ cái thấy của tôi còn không có tĩnh thì làm chi có động !

Phật bảo: đúng vậy.

Bấy giờ Phật dùng tay phát ra một luồng ánh sáng, chiếu qua phía bên phải của ông A Nan. Ông A Nan quay nhìn qua bên phải. Phật lại phát qua phía trái, ông A Nan quay đầu nhìn qua phía trái.

Phật bảo: A Nan ! Hôm nay vì sao đầu ông động lay qua lại như thế ?

- Bạch Thế Tôn ! Tôi vì thấy hào quang của Phật phóng ra bên phải và bên trái của tôi. Đầu tôi lay động bởi ngó theo hào quang của Phật.

- Đầu ông lay động quay bên phải bên trái. Vậy cái đầu ông động mà cái thấy của ông có động chăng ?

- Bạch Thế Tôn ! Đầu tôi tự lay động, chứ cái thấy còn không biết nó ở chỗ nào, thì lấy gì mà lay động !

Phật bảo: Đúng vậy.

Bấy giờ, Phật bảo ông A Nan và đại chúng: Rằng mọi người ai cũng có thể nhận biết: Không ở luôn là khách, chủ thì vĩnh viễn không đi đâu. Bụi trần thì lay động còn hư không yên lặng tuyệt nhiên. Có nắm có mở là tay, cái thấy thì không có nắm mở. Quay qua quay lại là đầu, tánh thấy thì không hề xoay chuyển.

Vậy mà, các ông hiện nay lấy cái động làm thân, cái động làm tâm, lấy cái động làm cảnh, bỏ mất đi tâm tánh chơn thường, bất động, yên lặng nó thường ở luôn với mình. Hằng ngày làm những việc trái ngược, nhận vật làm thân, nhận vọng tưởng làm tâm, xoay vần trong đó, tự nhận lấy sự trôi lăn trong sáu nẻo !
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* Đức Phật chỉ ra cái gì là khách, cái gì là Chủ để khai thị Chân Tâm. (tt)

TRỰC CHỈ

Đọc đến đoạn kinh nầy, người đệ tử Phật có tư duy tu tập, thiền định ít nhiều, có thể bừng tỉnh ngộ: Rằng thường trú chơn tâm không phải ở đâu xa xôi cách trở, cần phải tìm kiếm hay cầu khẩn van xin mới có. Tìm thường trú chơn tâm cũng không cần ở ngay chánh điện của ngôi chùa đồ sộ nguy nga có tượng Phật to, có đại hồng chung lớn. Tìm chơn tâm thường trú cũng không cần đóng cửa trong một vuông phòng kín và ngồi thờ thẩn với đôi mắt lim dim. Thường trú chơn tâm muốn tìm nó chỉ cần có chất liệu thiền tư. Thiền tư hay thiền định với nghĩa tư duy quán chiếu. Người đệ tử nào muốn đi trên đường Bồ Đề, Niết Bàn chỉ cần tu tập tư duy quán chiếu thân tâm, cảnh giới quanh cuộc sống hằng ngày của bản thân mình. Đức Phật đã dạy quá rõ ràng. Rằng cái thấy, cái nghe, cái ngửi, cái nếm, cái xúc, cái biết, nói chung là những tác dụng nhận thức của sáu giác quan, Phật bảo chúng không phải chơn tâm, nhưng chúng cũng không rời ngoài chơn tâm mà có. Biết sử dụng, trong vọng tâm ta tìm thấy chơn tâm thường trú. Không biết sử dụng chỉ có toàn vọng tưởng, bóng dáng của tiền trần; cũng như nước thanh bình thạnh trị thì mọi người công dân trong nước là tôi hiền con thảo. Khi thượng bất chánh thì… cũng những công dân ấy trở thành tôi loàn con giặc. Tiền trần luôn luôn thay đổi lúc có lúc không, thì sự hồi tưởng lại cái tướng của tiền trần cũng lúc sanh lúc diệt. Vì vậy, Phật gọi sự hồi tưởng bóng dáng tiền trần vào trong ký ức phân biệt chỉ là vọng tâm, là những phiền não khách trần. Vì là khách cho nên không ở được luôn. Vì là trần nên không có phút giây yên lặng. Phật dạy cho người đệ tử phương pháp tu học để sống với sự an lành, yên lặng, như hư không và quay về với vai trò người chủ, không đi đâu nữa. Vì ngoài người khách đến đi, còn có chủ không đi, ở lại. Trong sự loạn động cuồn cuộn tuôn bay của trần, còn có hư không yên lặng không hề lay chuyển. Trước sự nắm mở duỗi co qua nắm tay của Phật, còn có cái không duỗi co nắm mở đó là cái thấy của ông A Nan. Thế thì, sự nhận thức của sáu giác quan, luôn luôn thay đổi từng sát na, từng phút từng giờ, nhưng ngoài sự thay đổi luôn luôn ấy, con người còn một cái. Cái đó là gì ?… Là chơn tâm thường trú.
 

Kim Cang Thoi Luan

Moderator
Staff member
Tham gia
13 Thg 8 2018
Bài viết
631
Điểm tương tác
157
Điểm
43
7227



*Căn Bản Trung Quán Luận của ngài Long Thọ:
Nếu tất cả các pháp chẳng không tự tánh
Tức là các pháp có tự tánh; nghĩa là các pháp không có sinh diệt.

Như thế thì không có
Pháp của bốn Thánh đế.

-------------
*“Nếu tất cả các pháp mọi thứ đều có tự tánh chứ chẳng không tự tánh” tức không có sinh diệt.
-Vì không có sinh diệt tức không có pháp bốn Thánh đế. Vì sao?
--------------
Nếu không từ duyên sinh
Làm sao mà có khổ

Vô thường là nghĩa khổ
Có tự tánh, tức là không có vô thường.
-------------
*Nếu không từ duyên sinh thì không có khổ. Vì sao?
-Vì kinh nói VÔ THƯỜNG [biến chuyển] là nghĩa khổ.
-Nếu khổ có tự tánh thì làm sao có vô thường, vì nó không lìa bỏ tự tánh.
 

Kim Cang Thoi Luan

Moderator
Staff member
Tham gia
13 Thg 8 2018
Bài viết
631
Điểm tương tác
157
Điểm
43
Nhập Trung Luận của ngài Nguyệt Xứng: Những gì nhận biết bởi người mờ mắt, người không bị bệnh mờ mắt không bị ảnh hưởng.
7228


7234





Giải Thoát Trong Lòng Bàn Tay của đức pháp chủ Gelugpa ngài Pabongka Rinpoche:
Trước hết, pháp mà bạn sắp tu tập phải là do Phật nói ra, và do những bậc thánh Ấn Độ giảng giải. Sự tu tập của bạn phải là pháp tu mà từ đó những bậc hiền trí vĩ đại đã rút tỉa được những tuệ giác và thực chứng.

Nếu không, một sự giảng dạy có thể được gọi là “sâu xa” mặc dù nó không do Phật thuyết và các bậc học giả hiền trí chưa từng biết tới.
Nếu bạn quán tưởng về những thứ giảng dạy kiểu đó thì bạn có nguy cơ sẽ đạt một vài kết quả mà từ trước chưa ai từng đạt, kể cả chư Phật cũng chưa từng đạt tới!

Bởi thế bạn phải xét kỹ cái pháp mà bạn sẽ dùng làm pháp tu của mình.

7230


*Căn Bản Trung Quán Luận của ngài Long Thọ:
Nếu khổ khẳng định là có tự tánh
Trước đến giờ sẽ không thấy được
Nơi bây giờ làm sao thấy
Vì tánh khổ ấy không khác tự tánh.
*Nếu trước đây khi là phàm phu không thể thấy tánh khổ, thì nay cũng không thể thấy. Vì sao?
-Vì không thấy, do có tự tánh.

7231



*Căn Bản Trung Quán Luận của ngài Long Thọ:
Nếu khổ có tự tánh
Do đâu từ “tập hợp sinh”
Vì vậy không có tập đế
Vì phá bỏ nghĩa không.

-----------
*Nếu khổ có tự tánh thì không thể lại sinh, vì trước đã có.
-Nếu như vậy thì không có tập đế, do hủy hoại nghĩa không.
 

Đính kèm

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
CHƯƠNG THỨ BA

Chánh văn:

* TRONG THÂN THỂ VÔ THƯỜNG SANH DIỆT CÒN CÓ CÁI THƯỜNG, BẤT SANH BẤT DIỆT

Ông A Nan và đại chúng nghe lời Phật dạy, thân tâm thư thái, nghĩ mình vô thỉ đến nay bỏ mất bổn tâm, lầm nhận sự phân biệt bóng dáng tiền trần làm tâm. Ngày nay được Phật khai ngộ, như em bé mất sữa bỗng được gặp mẹ hiền, đồng chấp tay lễ Phật, cầu xin chỉ cho chỗ chân vọng thực hư, ở nơi thân tâm hiện tiền phát minh hai tánh: sanh diệt và không sanh diệt.

Bấy giờ vua Ba Tư Nặc đứng dậy thưa:

- Bạch Thế Tôn: Khi chưa được gặp Phật, tôi nghe bọn Ca Chiên Diên, Tỳ La Chi Tử nói rằng: Thân này chết rồi là mất hẳn, gọi đó là Niết Bàn. Nay tuy được gặp Phật, nghe pháp, nhưng tôi vẫn còn hồ nghi, xin Thế Tôn chỉ dạy, làm thế nào để được nơi thân tâm này cái gì không sanh diệt ?

Phật bảo: Này Đại Vương ! Như Đại Vương đã biết: Cái thân vô thường, vận động, sanh diệt chuyển biến theo năm tháng của thời gian, không có một giây phút, một sát na dừng trụ. Từ thời thơ ấu đến tuổi trưởng thành, độ thanh xuân nào rồi cũng đến lúc da mồi tóc bạc… mà Đại Vương biết chắc là nó sẽ tiêu mà hoại diệt. Thưa Đại Vương ! Đó là chân lý của cuộc đời; hữu tình vô tình cùng chung một định luật sanh diệt, diệt sanh của vạn pháp hiện tượng.

Nhưng nầy ! Thưa Đại Vương ! Như Đại Vương vừa nói: Lúc 3 tuổi cùng mẹ đi cúng lễ thần Kỳ Bà Thiên, đó là lần đầu tiên Đại Vương thấy nước sông Hằng, rồi năm 13 tuổi cho đến nay Đại Vương 62 tuổi mà "cái thấy" của Đại Vương thấy nước sông Hằng vẫn y nguyên không sai khác !

Thưa Đại Vương ! Dựa trên khái niệm thời gian tương đối mà đánh giá tuổi tác con người. Hiện nay mặt Đại Vương tuy nhăn, nhưng tánh thấy của Đại Vương không nhăn; tóc Đại Vương bạc, mà cái thấy của Đại Vương không bạc. Cái có bị nhăn, bị bạc là những cái có sanh diệt, đổi thay. Cái không nhăn, không bạc, không bị chi phối bởi luật vô thường thì làm chi có thay đổi ! Có đổi thay thì có hoại diệt, không thay đổi, đồng nghĩa với bất diệt, bất sanh. Đại Vương còn sợ gì cái thuyết "đoạn kiến" của bọn Mạt Già Lê, bảo rằng: "Thân nầy chết là mất hẳn"?

Nhà vua nghe lời Phật, nhận biết về sau khi bỏ thân nầy không phải mất hẳn. Vua và đại chúng hớn hở vui mừng, được cái chưa từng có.


TRỰC CHỈ

Đọc đoạn kinh trên, tôi chợt liên tưởng đến câu thơ của Tố Như tiên sinh, một thi hào Việt Nam, thế kỷ 18 viết:

"… Rằng: những đấng tài hoa
Thác là thể phách, còn là tinh anh".

Cái "Tinh anh" mà Tố Như tiên sinh nói, ta có thể hiểu cái từ: "Linh tri", "Giác Linh", "Linh hồn" hay "Thần thức" tuyệt đại đa số loài người trên mặt đất đều tin tưởng, rằng sau khi con người chết, còn "một cái" trong những từ đó. Nhưng "cái đó" sẽ ở đâu và sẽ đi về đâu, điều đó tùy tập quán tín ngưỡng và tôn giáo mà người đó tôn thờ.

Ở đoạn kinh nầy, cái "tinh anh" không mất của con người sau khi chết, người đệ tử Phật có thể hiểu đó là: "Bản thể chơn như của hiện tượng vạn hữu", cũng gọi là "Như Lai Tàng" và ta sẽ thấy đức Phật dạy rõ ở những đoạn kinh sau: Bởi vì theo giáo lý Phật không có một hiện tượng sanh diệt nào rời ngoài bản thể chơn như của nó; cũng như không có một bản thể chơn như nào không biểu hiện qua hiện tượng vạn hữu. Những đợt sóng sanh diệt, sanh trên mặt nước phẳng lặng vốn dĩ bất sanh. Nếu sóng lặng đi rồi, mặt nước phẳng lặng như tờ hãy còn nguyên đó.

Phật khai thị cho vua Ba Tư Nặc và đại chúng: Sắc thân là một hiện tượng, một dạng vật lý cho nên bị chi phối bởi định luật vô thường sanh diệt của vạn pháp hiện tượng hữu vi. Trong cái vô thường còn có cái thường, đó là cái tánh thấy, tánh thấy cũng là một hiện tượng, nhưng là hiện tượng của một dạng tâm lý của bản thể chơn như, cho nên sự sanh diệt của hiện tượng tâm lý chỉ là sự tùy duyên biểu hiện của bản thể. Do vậy, thân già nhưng tánh thấy không già; tóc bạc mà tánh thấy không bạc… Cái có già có bạc có đổi thay rồi sẽ hoại diệt mất đi. Bản thể chân thường thì không chịu sự chi phối của hiện tượng vật lý hữu vi sanh diệt…

"Xuân đến trăm hoa nở
Xuân đi trăm hoa rụng
Sự vật đổi thay trông trước mắt
Già nua biểu hiện mái tóc nâu
Đừng tưởng xuân tàn hoa rụng hết
Trước sân, xuân nọ cành mai hãy còn"

(Xuân đáo bách hoa khai
Xuân khứ bách hoa lạc
Sự trục nhãn tiền quá
Lão tùng đầu thượng lai
Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận
Đình tiền tạc dạ nhất chi mai)

MÃN GIÁC THIỀN SƯ

Mai nở mai rụng là hiện tượng sanh diệt của hoa mai trong một thời kỳ 5 đến 7 ngày. Còn cây mai trước sân của đêm xuân hôm ấy, sẽ tiếp nối trưởng thành để rồi xuân tới và xuân tới nữa cứ lại trổ hoa mai…

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* RẰNG NGƯỢC RẰNG XUÔI CHỈ LÀ SỰ ÁP ĐẶT CHỦ QUAN, MỘT Ý THỨC CHẤP MẮC !

Chánh văn:

Ông A Nan từ chỗ ngồi đứng dậy đảnh lễ Phật, chấp tay quỳ gối và thưa:

- Bạch Thế Tôn ! Nếu tánh thấy thật không sanh diệt, cớ sao Thế Tôn lại gọi bọn chúng tôi là bỏ mất chơn tánh làm việc trái ngược ? Xin Phật mở lòng thương xót rửa sạch trần cấu cho chúng tôi !

Bấy giờ Phật duỗi cánh tay hướng xuống đất bảo ông A Nan rằng:

- Ông thấy tay tôi như thế này là xuôi hay ngược ?

Ông A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Mọi người thế gian cho như vậy là ngược, còn tôi thì không biết thế nào là ngược, thế nào là xuôi.

Nếu người thế gian cho như vậy là ngược thì họ gọi thế nào là xuôi ?

- Như Lai đưa cánh tay hướng lên trên không thì gọi là xuôi.

Bấy giờ Phật đưa cánh tay lên và bảo ông A Nan: Cái trái ngược của các ông là ở chỗ đó chỉ một việc thay đổi lẫn nhau, vậy mà người thế gian gán cho cái thấy một ý niệm Ngược, Xuôi ! A Nan ! Thân ông và thân Như Lai chẳng khác gì nhau, nhưng thân Như Lai là pháp thân thanh tịnh chánh biến tri giác, còn ông thì gọi là người làm việc trái ngược bỏ mất chân tánh. Vậy ông hãy chín chắn nghĩ suy tìm xem sự trái ngược của thân ông và thân Phật khác ở chỗ nào ?

Ông A Nan và đại chúng chăm chăm ngó Phật mắt không lay động chẳng biết thân tâm trái ngược do ở nơi đâu ?

Đức Phật khởi lòng thương xót, phát tiếng hải triều, bảo khắp đại chúng: Các thiện nam tử ! Tôi thường nói: Sắc, tâm và tâm Sở pháp đều duy tâm hiện. Thân tâm các ông chỉ là vật ở trong chân tâm minh diệu. Tại sao các ông bỏ mất đi cái chân tâm minh diệu quý báu mà nhận lấy cái mê trong ngộ ?

A Nan ! Do mê muội nhận thấy không. Cái không phải không, nhận cho là sắc. Sắc có xen tưởng thì nhận đó là thân. Cảnh sắc bên ngoài phản ánh tư tưởng bên trong rồi cho cái tác dụng nghĩ ngợi lăng xăng là tâm tánh. Một phen lầm cho đó là tâm thì quyết định cũng lầm cho "tâm ở trong thân". Do đó, không thể hiểu được rằng: Sắc, tâm, núi, sông, đất liền cho đến cả hư không đều là những vật trong Chân Tâm Minh Diệu. Thật chẳng khác trăm ngàn biển lớn sạch trong chỉ nhận một cái bọt nước rồi cho đó là nước của toàn thể đại dương. Bọn các ông là kẻ mê trong những người mê, chỉ một cánh tay tôi mà nảy sanh quan niệm Ngược xuôi, tranh biện. Như Lai gọi các ông là những người đáng thương xót.


* *

TRỰC CHỈ

Duy thức luận nói:

"Danh sư hổ vi khách
Kỳ tánh ưng tầm tư"

Đứng bên mặt chơn tế, vạn pháp vốn không có tuổi tên. Đặt ra tên tuổi là do biến kế chấp của ý thức con người. Bên mặt tục đế, xã hội loài người không thể không đặt tên sự vật để khái niệm để nhận thức và xưng gọi. Đặt cho sự vật vạn pháp một danh ngôn để xưng gọi mà con người sống phù hợp theo tánh hiện thực khách quan của nó, thì cũng chẳng có gì tội lỗi đáng trách. Trái lại, đó còn là một yêu cầu tự nhiên của quá trình tiến hóa, cho cuộc sống loài người. Tai hại của danh ngôn là do sanh lòng chấp mắc. Chỉ một cánh tay Phật duỗi xuống mà sanh khởi ý niệm ngược xuôi. Mầm mống tranh chấp thị phi dựa trên cơ sở "biến kế" ấy phát sanh. Cái cánh tay hiện thực, thì mọi người đánh mất cái vai trò Như Thị khách quan của nó. Lấy một cánh tay Phật làm ước lệ, để chỉ rõ cho đại chúng cái tánh chất tai hại của "biến kế danh ngôn". Do "biến kế sở chấp", con người không nhận thức đúng tự tánh "y tha khởi" của sự vật hiện tượng. Vì vậy, con người không sao biết được tánh "thắng nghĩa" "chơn như" và tánh "thường như viên thành thật" của hiện tượng vạn pháp.

Cùng là thân, mà thân Phật gọi là pháp thân thanh tịnh Chánh biến tri giác. Bởi vì Như Lai làm chủ bản thân, làm chủ vạn pháp, làm chủ tâm tánh mình. Như Lai nhìn hiện tượng vạn pháp với cái Tri kiến Vô kiến. Vì vậy, Như lai là bậc Pháp Vương. Ông A Nan và tất cả chúng sanh nhận thức vạn pháp theo Tri Kiến Lập Tri cho nên Phật gọi là những người làm việc trái ngược bỏ mất chơn tánh.

"Sắc, tâm và tâm Sở pháp đều duy tâm hiện". Chữ tâm phải được hiểu là đệ bát thức Alaya. Chỉ có đệ bát Alaya mới đủ tiêu chuẩn là "Chân tâm minh diệu".

Duy thức luận nói:

"Tính duy vô phú, ngũ biến hành
………………………………
Hạo hạo tam tàng bất khả cùng
Uyên thâm thất lảng cảnh vi phong
Thọ huân trì chủng căn thân khí…"

Nếu cho rằng tâm ở trong thân, chẳng khác nhận một cái bong bóng nước cho là nước của toàn thể đại dương. Nên biết rằng sắc, thân, núi, sông, đất liền… cho đến cả hư không, đều là những vật trong Chân Tâm Minh Diệu ấy !

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,553
Điểm tương tác
1,782
Điểm
113
* LỰA BỎ TÂM VƯƠNG VÍU CẢNH DUYÊN
ĐỂ CHỈ TÁNH THẤY KHÔNG CHỖ TRẢ VỀ.

Chánh văn:

Ông A Nan nghe lời dạy bảo thâm thiết của Phật, sung sướng rơi nước mắt, vòng tay mà bạch Phật rằng: Tôi nghe diệu âm của Phật, dù nhận rõ chân tâm minh diệu vốn là tâm địa thường trú viên mãn, nhưng chỉ nhận trên pháp âm Phật nói. Tôi đang dùng tâm vương víu cảnh duyên thỏa mãn lòng ái mộ Phật. Tôi cũng chỉ nhận thức được một cách mơ hồ chưa dám nhận đó là tâm địa vốn có của mình. Mong Phật thương xót dùng viên âm dạy bảo, nhổ gốc nghi ngờ cho tôi được về với đường vô thượng giác.

Phật bảo: Bọn ông còn lấy tâm vướng víu cảnh duyên mà nghe pháp, thì pháp đó cũng chỉ là pháp tướng vướng víu tạm thời, chưa phải nhận được pháp tánh. Ví như có người lấy ngón tay chỉ trăng, người trí nương ngón tay để tìm thấy trăng, nhưng nếu cho ngón tay là trăng, thì không bỏ mất mặt trăng mà cũng bỏ mất luôn cả ngón tay nữa; vì ngón tay mà đã tưởng là trăng, thì cũng không biết thế nào là sáng, thế nào là tối ! Nay ông lấy sự phân biệt pháp âm của tôi mà cho là tâm, thì lúc không có pháp âm, lẽ ra ông phải còn phân biệt. Ví như người ngủ trọ, hết ngủ thì đi, còn chủ quán trọ thì vĩnh viễn ở luôn không đi đâu nữa. Cũng vậy, nếu thật là tâm của ông thì không đi đâu, tại sao rời âm thanh thuyết pháp của tôi, cái phân biệt của ông không còn ? Sự phân biệt về âm thanh đã vậy. Sự phân biệt sắc, hương, vị, xúc, cho đến các phi sắc phi không của pháp trần cũng vậy. Rời đối tượng phân biệt ra cái phân biệt của ông phải thường còn, thì đó mới thật là tâm tánh của ông. Trái lại, hễ đối tượng không có, phân biệt cũng không còn, thế là tâm tánh của ông có chỗ trả về, như khách đến rồi đi, không còn là địa vị chủ nhân ông thường trú.

Ông A Nan thưa: Bạch Thế Tôn ! Nếu tâm tánh tôi có chỗ trả về, vậy cái chơn tâm minh diệu Như Lai nói, vì sao lại không có chỗ trả về ? Xin Phật thương xót vì chúng tôi dạy bảo.

Phật bảo: A Nan ! Cái thấy mà ông thấy tôi, dù không phải là chân tâm minh diệu, nhưng nó là tánh thấy trong sáng chưa nhuốm trần lao. Nó như vành trăng thứ hai chứ không đến nỗi như bóng trăng đáy nước. Ông hãy chín chắn lòng nghe, nay tôi chỉ cho ông cái nghĩa không chỗ trả về.

A Nan ! Đại giảng đường này mở rộng, phương đông mặt trời lên thấy sáng suốt. Đêm ba mươi không trăng mây mù, thấy tối đen. Chỗ có cửa mở thấy thông thương. Chỗ có tường thấy ngăn bít. Chỗ có phân biệt được thấy cảnh sắc. Chỗ trống trơn thấy hư không. Chỗ bụi cát tung lên thấy mịt mù. Chỗ mưa tạnh mây tan thấy quang đãng.

A Nan ! Ông đã thấy các tướng biến hóa như vậy, nay tôi trả các tướng ấy về chỗ bản nhơn của nó. A Nan ! Cái sáng trả về cho mặt trời, vì không mặt trời thì không sáng; bản nhơn cái sáng thuộc về mặt trời, cho nên trả về cho mặt trời. Tối đen trả về cho đêm ba mươi. Thông thương trả về cho cửa. Ngăn bít trả về cho tường. Cảnh sắc trả về cho phân biệt. Hư không trả về cho khoảng trống. Mịt mù trả về cho cát bụi. Quang đãng trả về cho mưa tạnh mây tan. Sự vật thế gian tuy nhiều, nhưng không ngoài các thứ đó. Còn cái thấy mà ông thấy tám thứ đó, ông định trả nó về đâu ? Nếu ông trả về cho sáng thì lúc không có sáng lẽ ra ông không thấy được tối. Nhưng trước mắt ông, sáng và tối có sai khác mà cái thấy của ông thì không sai khác. Cái có chỗ trả về hẳn nhiên không phải là ông. Còn cái thấy không thể trả về đâu, nếu không phải ông thì là ai len vô đó ?

Vậy nên biết rằng: Tâm ông vốn nhiệm mầu, thanh tịnh sáng suốt mà ông tự mê mờ bỏ mất gốc, nhận chịu luân hồi thường bị chìm đắm trong biển sanh tử. Thế nên Như Lai gọi các ông là những người đáng thương xót !


* *

TRỰC CHỈ

Nghe mà sanh lòng hoan hỷ, sung sướng rơi nước mắt là thành tựu bước đầu: "âm hưởng nhẫn" của người đệ tử Phật. Sanh lòng ái mộ, nhận rõ chân tâm minh diệu qua pháp âm Phật, nhưng chỉ nhận một cách mơ hồ đấy là hiện tượng "nhu thuận nhẫn" được phát sanh. Chưa dám nhận chân tâm diệu minh là tâm địa vốn có của mình, vì ông A Nan bấy giờ chưa thể nhập "vô sanh pháp nhẫn".

Nghe pháp mà chỉ nghe bằng tâm vướng víu pháp âm, dù là pháp âm Phật, thì cũng chưa lắng nghe được pháp tánh thanh tịnh bản nhiên của vạn pháp vốn có ở lòng mình. Phải tự uống trà mới biết hương vị của trà ngon. Chỉ nghe nói trà ngon thì mới biết hương và vị trà không đời nào hiểu đúng. Nương ngón tay để nhìn trăng, chứ ngón tay không bao giờ là trăng được.

Dùng tâm phân biệt tiếp nhận pháp âm Phật, tâm đó không thể là chơn tâm được, vì nếu pháp âm không còn nữa thì cái tánh "thường trú" cũng đã mất theo. Chả lẽ ông A Nan lúc bấy giờ đã trở thành người gỗ đá vô tri vô giác ! Đối với sắc, hương, vị, xúc cũng vậy. Tiền trần lúc có lúc không, nhưng cái tâm thanh tịnh "vô phân biệt" của con người không vì tiền trần mà theo sanh theo diệt. Phát hiện được cái tâm thanh tịnh "vô phân biệt" vốn có của mình, Phật gọi đó là "chơn tâm thường trú". Cái đó không có chỗ trả về.

Thế gian, hiện tượng tuy nhiều, nhưng tóm thu, không ngoài tám tướng: Sáng, tối, thông, bít, sắc, không, trong, đục. Tám tướng đều có thể trả về chỗ sở nhơn phát sanh ra nó. Nhưng tánh thấy của ông A Nan nhận thấy tám tướng kia, không thể trả về đâu. Rõ ràng cái tánh thấy ấy là của ông A Nan chớ chẳng phải của ai khác. Tiền trần đối tượng có đến có đi, có sanh có diệt, như người "khách" cho nên ví "khách trần". Nhận thức chủ thể thường xuyên hiện hữu, như "chủ" cho nên gọi: "chơn tâm thường trú".

Dù vậy, sự thường trú của tánh thấy chỉ là hiện tượng biểu hiện của chơn tâm, chớ chưa phải chơn tâm, nên ví vành trăng thứ hai, chưa phải mặt trăng thật. Nói cách khác đó là chân tâm, bên mặt hiện tượng tùy duyên. Chừng nào nhận thức và thể nhập Bản Thể bất biến của chơn tâm mới gọi là người thấy được mặt trăng thật.

Ô hô ! Pháp hải u huyền trần tâm nan hội ! Chơn tâm hạo đảng như nguyệt lâm thủy diện, bát khai thủy diện, nguyệt hoàn thâm !
 
Bên trên