Kinh Thủ Lăng Nghiêm.- Trùng tuyên và thảo luận. Chương 1, 2, 3

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,446
Điểm tương tác
1,727
Điểm
113
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Cung kính Quí Chư Tôn Đức và Đại chúng.

Trong kho tàng kinh điển giáo lý của Đức Thế Tôn có rất nhiều Pháp Bảo. Trong Đó bộ " Kinh Thủ Lăng Nghiêm" rất được chư tiền hiền- trưởng bối quan tâm chú giải . Cũng được người học Phật vô cùng hâm mộ và để tâm tu học.

Duyên mai, trước đây Viên Quang cũng có một thời gian ngắn có dip nghe qua và đọc bộ "Kinh Thủ Lăng Nghiêm Trực chỉ đề cương" do Hòa Thường Ân Sư.- Pháp Sư Thích Từ Thông- Triển khai và giảng dạy.

Mặc dù sức tiếp thu của mình rất hạn chế, kinh điển quá sâu mầu, bản thân mình khó có thể hiểu thấu được hoàn toàn diệu nghĩa. Nhưng tinh thần tìm hiểu và muốn tu học mãi luôn ham thích. Do vậy hôm nay VQ kính cẩn đảnh lễ Hòa Thượng Ân Sư và Đại chúng. Kính mong được phép TRÙNG TUYÊN BÀI GIẢNG và mạo muội kính thỉnh Đại chúng cùng tham gia thảo luận.- Để nếu VQ sai sót thì được đính chính bổ sung và Quí́ Đạo Hữu sẽ có được cơ duyên cùng nhau chia sẻ cho người hậu học để kiếm thêm công đức.

Nguồn tài liệu dùng để nương tựa và trùng tuyên VQ trích tại


Kính mong Quí chư Tôn Đức và Đại chúng tham gia chỉ dạy và thảo luận.

Nam Mô hoan Hỷ Tạng Bồ Tát Ma ha Tát.
 

Hoa Vô Tướng

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
9 Thg 4 2018
Bài viết
372
Điểm tương tác
148
Điểm
43
Cảm ơn thầy @vienquang6 !

Con rất hoan hỉ khi thầy trùng tuyên bộ kinh này. Người xưa có nói mỗi lần nêu lên là một lần mới. Lành thay nay nghĩa kinh lại hiện nơi đây.

Chúc thầy công đức viên mãn.
 

Hoa Vô Tướng

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
9 Thg 4 2018
Bài viết
372
Điểm tương tác
148
Điểm
43
Ha ha...

Phật Pháp vô Biên vốn là bất tận

Không có khởi đầu chẳng có kết thúc. Duyên khởi vô sanh tất cả là diệu dụng. Tùy duyên tự tại Hòa hợp ngay đây. Đói ăn, khát uống ngày nào cũng ăn, sự học vô bờ lúc cần thì học. Tùy duyên vô ngại thì an vui, gặp duyên sinh sự thì tự chướng ấy là cái pháp xưa nay như vậy.

Thỉnh thầy @vienquang6 trùng tuyên kinh "Thủ Lăng Nghiêm". đói gặp thì ăn cũng cần duy trì qua ngày. Ngày xưa con đọc kinh này mới khế hợp cùng Thiền Tông nay thấy thầy muốn trùng tuyên quả thật là vui mừng.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,446
Điểm tương tác
1,727
Điểm
113
CHƯƠNG THỨ NHẤT

TỒNG KHỞI

Đề kinh
Nhơn duyên và thời điểm Phật nói kinh Thủ Lăng Nghiêm

ĐỀ KINH

Thủ Lăng Nghiêm, Trung Hoa dịch: Nhất Thiết Sự Cứu Cánh Kiên Cố. Đó là tên một đại Thiền định. Hành giả thành tựu được thứ Đại Thiền định này sẽ có sức trí tuệ giác ngộ Cứu Cánh, một nghị lực Kiên Cố đối với hiện tượng vạn hữu, với Nhất Thiết Sự trên cõi đời này.

Đề kinh nầy nói đầy đủ thì có 19 chử: Đại Phật Đảnh, Như Lai Mật Nhơn, Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm.

Thủ Lăng Nghiêm là tên gọi tắt qua cái từ trọng tâm 19 chữ của đề kinh.

*****************************************

Tư duy:

Thế nào là "Kinh" ?

Ví như trong nghề dệt vải, người ta dùng những sợi chỉ đan kết với nhau theo 2 hướng: chìu ngang.- Gọi là QUYỀN, chị̀u dọc.- Gọi là KINH.

Kinh: Nghĩa đen là sợi tơ thẳng, xuyên suốt lời dạy của Đức Phật, giữ vững không để mất đạo lý của Phật dạy, trên thì phù hợp với Chân lý, dưới thì phù hợp với căn cơ, trình độ người nghe.

Kinh Phật sở dĩ gọi là khế kinh, vì chúng xuyên suốt như sợi chỉ kinh, trong tấm vải, chúng khế hợp với đạo lý do Phật dạy, đồng thời cũng khế hợp với căn cơ người nghe.

Sao mới được gọ̣i là
KHẾ HỢP VỚI CHÂN LÝ TRONG ĐẠO PHẬT (* Khế Lý) ?

Đó là những kinh điển phù hợp với Tam Pháp Ấn, Hoặc Tứ Pháp Ấn.

a/. Tam Pháp Ấn là:

1/. Chư Hành vô thường Ấn.
2/. Chư Pháp Vô ngã Ấn
3/. Niết Bàn Tịch Diệt Ấn.

b/. Tứ Pháp Ấn là: Gồm 3 Pháp ấn trên cộng với
Nhất Thật Tướng Ấn.

(xin xem thêm Tứ Pháp Ấn)

Theo

TRUNG QUÁN KIM LUẬN (Ấn Thuận) dạy:

Các hành giả Đại thừa từ sự thể ngộ tất cả pháp vốn chẳng sanh mà hiển bày hiển bày sự thật về tất cả pháp bản tánh vốn không tịch, chỉ thẳng vào chân tướng chứng ngộ của Hiền Thánh.

Do đó, tam pháp ấn của đức Thích Tôn, trong không tịch nhất quán thì gọi nhất thật tướng ấn.

Nhất thật tướng ấn tức Tam pháp ấn, chân lý vẫn không khác.

(hết trích)

Tóm lại: Những kinh nào không mang nội hàm Tam Pháp Ấn, hoặc Tứ Pháp Ấn đều không phải là Kinh Phật.

*************************

Dẫn

TRUNG QUÁN LUẬN
Đại Sư Ấn Thuận - TT. Thích Nguyên Chơn dịch Việt
Nhà xuất bản Tổng hợp Thành Phố Hồ Chí Minh 2008

Chương Ba
DUYÊN KHỞI SANH DIỆT
VÀ BẤT SANH BẤT DIỆT


....Các học giả Đại thừa từ trong sự thể ngộ vô vi, vô sanh mà trực ngộ được nội dung Chánh giác, tức Niết-bàn vô vi bất sanh bất diệt. Vì thế nói vô thường tức đã liễu tri tánh thường bất khả đắc. Đây là nói trên lập trường “không” tương ưng với Duyên khởi mà thuyết minh, vì thế tất cả pháp là tất cả bản tánh không tịch. Từ tánh thường bất khả đắc hiển hiện tướng nhân quả sanh diệt tương tục, từ sự tướng vô thường mà liễu ngộ tính thường không tịch. Ngã tánh bất khả đắc, tức hiện tướng nhân duyên hòa hợp vô ngã, từ tướng hòa hợp vô ngã này, mà liễu ngộ ngã tánh không tịch. Tánh sanh diệt bất khả đắc, tức sanh chẳng phải thật sanh, diệt chẳng phải thật diêt. Vì thế tướng Duyên khởi đây có nên kia có, đây sanh nên kia sanh tất nhiên sẽ trở về đây diệt nên kia diệt, đây không nên kia không; cũng do sự tướng đây diệt kia diệt, đây không kia không này mà thể ngộ được sanh diệt không tịch.

Các hành giả Đại thừa từ sự thể ngộ tất cả pháp vốn chẳng sanh mà hiển bày hiển bày sự thật về tất cả pháp bản tánh vốn không tịch, chỉ thẳng vào chân tướng chứng ngộ của Hiền Thánh. Do đó, tam pháp ấn của đức Thích Tôn, trong không tịch nhất quán thì gọi nhất thật tướng ấn. Nhất thật tướng ấn tức Tam pháp ấn, chân lý vẫn không khác. Luận Đại Trí Độ 22 ghi : “Pháp hữu vi là vô thường, vì niệm niệm sanh diệt, đều thuộc nhân duyên, không tự tại, vì không tự tại cho nên vô ngã. Vô thường, vô ngã, vô tướng cho nên tâm không vướng mắc, vô tướng không vướng mắc, cho nên được tịch diệt Niết-bàn”. Luận còn ghi: “Quán vô thường tức quán nhân duyên không. Như quán sắc, niệm niệm vô thường tức biết là không… không tức vô sanh vô diệt. Vô sanh diệt và sanh diệt kỳ thật là một mà nói có rộng hẹp”. các pháp sanh diệt không dừng, nên vô tự tánh, vô tự tánh tức vô sanh vô diệt. Vì theo bản tánh của sanh diệt tức bất sanh bất diệt, đây là Duyên khởi bất sanh bất diệt. Như thế, thông qua những hiện tượng sanh diệt mà nắm chắc được bản tánh và Duyên khởi của sanh diệt, cả hai chẳng khác nhau. Y cứ vào đây để hiểu rõ được Tam pháp ấn tức không tịch, Tam pháp ấn là nhất ấn....
(hết trích)


Bổ sung nghĩa chữ kinh theo HT Tuyên hóa.
“Kinh.” “Kinh,” tiếng Ấn Ðộ gọi là Tu đa la (Sutra), Trung Hoa dịch là “khế kinh.” “Khế” là khế hợp—trên thì khế hợp với giáo lý của chư Phật, dưới thì khế hợp với căn cơ của chúng sanh—phàm là “khế lý, khế cơ” thì gọi là “kinh.”

“Kinh” có nghĩa là gì? “Kinh” là con đường. Tại sao gọi là “con đường”? Tất cả kinh điển đều có thể giúp chúng ta từ phàm phu đạt đến các quả vị Thánh nhân và quả vị Phật, cho nên “kinh” ví như con đường vậy.

“Kinh” có bốn ý nghĩa, trước kia tôi đã giảng rồi, nhưng có nhiều người chưa được nghe qua, nay tôi sẽ giảng lại. Bốn ý nghĩa đó là: 1) Quán; 2) Nhiếp; 3) Thường; và 4) Pháp.

1) Quán. “Quán” là “quán xuyên sở thuyết nghĩa”—những nghĩa lý mà Phật thuyết ra được nối kết trong kinh giống như dùng một sợi dây xâu kết lại thành chuỗi vậy.

2) Nhiếp. “Nhiếp” là “nhiếp trì sở hóa cơ.” “Cơ” nghĩa là gì? Ðó là đối với chúng sanh nào thì thuyết pháp gì cho thích hợp, thuyết pháp gì thì độ được chúng sanh nào; cho nên nói: “Tùy người thí giáo, tùy bệnh cho thuốc.” Vì người này nên thuyết pháp này, đó gọi là “tùy người thí giáo.” “Tùy bệnh cho thuốc,” tức là thấy chúng sanh mắc bệnh gì thì cho thuốc trị bệnh đó. Như thế cũng gọi là “quán cơ đậu giáo,” xét theo căn cơ mà thuyết giảng giáo pháp thích ứng.

3) Thường. “Thường” là gì? “Cổ kim bất biến viết thường”—xưa nay không thay đổi gọi là “thường.” Kinh điển thì từ xưa đến nay không hề thay đổi, một chữ cũng không bỏ, một chữ cũng không thêm; vì không thay đổi nên gọi là “thường.”

4) Pháp. Còn “pháp” nghĩa là gì? “Tam thế đồng tuân viết pháp.” Tam thế là ba đời—đời quá khứ, đời hiện tại và đời vị lai. Chúng sanh trong ba đời đều phải tuân theo giáo pháp trong kinh mà tu Ðạo, mà thành Phật, mà giáo hóa chúng sanh—tất cả đều phải y theo pháp mà làm. Bởi đầy đủ bốn ý nghĩa “quán, nhiếp, thường, pháp” nên gọi là “kinh.”

“Kinh” ví như cục nam châm có khả năng hút sắt. Chúng sanh ví như thỏi sắt, sắt gặp phải nam châm liền bị hút vào—đó là ý nghĩa của chữ “nhiếp” vừa nói ở trên.
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,446
Điểm tương tác
1,727
Điểm
113
* ĐỀ KINH (tt)

Ngoài tính chất "Khế Lý" trong kinh điển PG nêu trên, thì chúng còn mang tính chất KHẾ CƠ.
* Khế Cơ có 2 trường hợp:

c/. Khế hợp với Căn cơ : Căn cơ là căn bản, là chủng tánh của chúng sanh:

Chúng sanh có 5 loại căn cơ chủng tánh: (trích)

1. Đại thừa chủng tánh :Đây cũng gọi là Bồ Tát chủng tánh, Hạng này có đủ ba phần chủng tử:

+ Một là kiến đạo chủng, đây là chủng tử Diệu quan sát trí và Bình Đẳng tánh trí, hai trí này mỗi mỗi đều có chủng tử của căn bản trí và hậu đắc trí.

+ Hai là Trung phần chủng tử, đây cũng là chủng tử của hai trí trước, vì nó hơn kém không đồng, nên phân làm hai phần sai biệt.

+ Ba là Thượng phẩm chủng tử : tức là chủng tử của Phật quả. Đây là chủng tử tương ứng với bốn trí của tự tánh thanh tịnh niết Bàn.

2. Nhị thừa quyết định chủng tánh : Chủng tánh này có hai. Độc giác quyết định chủng và Thanh văn quyết định chủng. Hai hạng này đều có ba phần chủng tử là : Kiến đạo chủng, Tu đạo chủng và Vô học đạo chủng. Sao gọi là Nhị thừa quyết định? Bởi hai hạng này hướng về tịch diệt lấy đó làm vui, quyết định nhập vào vô dư Niết Bàn, không cần tiến lên Phật quả, chẳng nghĩ đến việc độ sanh.

3. Bất định chủng tánh: Đây là hạng người có đủ chủng tánh ba thừa, đi theo đường lối tiệm ngộ, trước trãi qua các thừa sau mới vào Đại thừa, tiến trình hạng này có hai lối : Từ thanh văn hay Duyên giác vào Bồ Tát thừa, hoặc từ Độc giác vào Bồ Tát thừa, vì hạng này không nhất định lấy cảnh Vô dư Niết Bàn làm tiêu điểm chung cuộc nên gọi là Bất định chủng tánh vậy.

4. Ngoại đạo chủng tánh : Hạng này từ kiếp trước đã tu theo ngoại đạo nên trong tàng thức đã có hạt giống ngoại đạo, ưa thích ngoại giáo và bài bác chánh pháp. Những vị có chủng tử chánh pháp mà lạc vào ngoại đạo, nếu gặp thiện hữu tri thức có thể trở lại chánh giáo, trái lại nếu những kẻ có hạt giống ngoại đạo tuy hoàn cảnh được ở trong Đạo Phật nhưng lòng tin của họ không vững, gặp ngoại đạo liền hướng theo, vì thiếu chánh kiến nên họ diễn giải kinh điển thường bị sai lầm.

5. Thế gian chủng tánh : Đây cũng gọi là vô tánh, vô tánh là không chủng tánh gồm chánh pháp hoặc ngoại đạo mà chỉ có chủng tánh thế gian, người có chủng tánh thế gian hay nói cách khác là hạt giống đời, thì đối với Đạo lòng tin rất nông cạn. Dù có diễn giải về Đạo họ cũng lấy sự học hiểu của đời làm căn bản, không thể thâm nhập và làm mất ý nghĩa thuần túy của Đạo. Tuy nhiên vì đối với Đạo không có nhận thức và tin tưởng cố định, nên hạng này dễ dẫn nhập vào chánh pháp hơn kẻ ngoại đạo.

(theo PHDS của Thích Nữ Đức Trí ) - hết trích-

d/. Khế hợp với thời cơ: Nghĩa là giáo lý phải phù hợp với thời gian, thời đại, Quốc độ của chúng sanh đang sinh sống.

Có đủ các yếu tố Khế cơ này, thì mới đúng là kinh Phật.
 
Last edited:

Vô Năng

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
7 Thg 2 2017
Bài viết
146
Điểm tương tác
50
Điểm
43
Các hành giả Đại thừa từ sự thể ngộ tất cả pháp vốn chẳng sanh mà hiển bày hiển bày sự thật về tất cả pháp bản tánh vốn không tịch, chỉ thẳng vào chân tướng chứng ngộ của Hiền Thánh.
không tịch nhất quán?

Tam pháp ấn:
Theo Kinh Tương Ưng Tập III - Thiên Uẩn, Chương Một: Tương Ưng Uẩn
Này các thầy, cái gì được thấy, được nghe, được nghĩ đến, được biết, được tìm cầu, được ý tư duy, cái ấy là thường hay vô thường?
- Là vô thường, bạch Thế Tôn.
- Cái gì vô thường là khổ hay vui?
- Là khổ, bạch Thế Tôn.
- Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, nếu không chấp thủ cái ấy, thì có thể khởi lên suy nghĩ: «Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi?

- Thưa không, bạch Thế Tôn (vô ngã).

=>Tam Pháp Ấn bao gồm: Vô Thường, Khổ, Vô Ngã.

Tứ Pháp Ấn:
Theo Kinh Tăng Nhất A Hàm, 4 Pháp, 31. Phẩm Tăng Thượng, kinh số 4
Bấy giờ, Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:
“Ở đây, này Tỳ-kheo, có bốn vị bà-la-môn, tụ tập một nơi, muốn được khỏi chết. Mỗi người quay tìm chỗ chạy mà không khỏi chết. Một người ở hư không, một người vào biển lớn, một người vào lòng núi, một người xuống đất, đồng chết hết. Thế nên, các Tỳ-kheo, muốn được khỏi chết, nên tư duy bốn pháp bổn. Thế nào là bốn?
Tất cả hành vô thường; đó là pháp bổn thứ nhất, hãy niệm tưởng tu hành. Tất cả hành là khổ, đó là pháp bổn thứ hai, hãy nên tư duy. Tất cả pháp vô ngã; đây là pháp bổn thứ ba, hãy nên tư duy. Niết-bàn là diệt tận; đây là pháp bổn thứ tư, hãy nên cùng tư duy. Như thế, này các Tỳ-kheo, hãy cùng tư duy bốn pháp này. Vì sao thế? Vì sẽ thoát sanh, già, bệnh, chết, sầu lo não khổ. Đây là nguồn của khổ. Như thế, các Tỳ-kheo, hãy học điều này.”

=> Tứ Pháp Ấn bao gồm: Tất cả hành vô thường, Tất cả hành là khổ, Tất cả pháp vô ngã, Niết-bàn là diệt tận. (hay gọi tắt: Vô Thường, Khổ, Vô Ngã, Niết Bàn)
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,446
Điểm tương tác
1,727
Điểm
113
* ĐỀ KINH (tt)

* Thủ Lăng Nghiêm Đại Định.

Thủ Lăng Nghiêm, Trung Hoa dịch: Nhất Thiết Sự Cứu Cánh Kiên Cố. Đó là tên của một đại Thiền định.

Thế nào là "Nhất Thiết Sự Cứu Cánh Kiên Cố" ? Nghĩa là loại thiền định có khả năng làm cho Tất cả sự việc xảy ra trên thế gian đều rốt ráo không làm lay động tâm tư của hành giả, làm cho hành giả được Như Như Bất Động. Từ này tương đương với từ PHÁP VƯƠNG (Phật).

"Nhất Thiết Sự".- Nghĩa là Tất cả sự.

Tất cả sự trên thế gian tuy nhiều.- Nhưng không ngoài 6 Trần: Sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.

- SĂC Có:

Nhan Sắc: đó là sắc đẹp của Nam nữ.

Hình Sắc: Các dạng thức dài, vắn, vuông, tròn v.v...

Hiển Sắc: Các màu xanh, đỏ, trắng, vàng v.v....

- THANH có: Lôi thanh, điểu thanh, chung thinh, Phạm Thinh v.v...

- HƯƠNG có: Hòa hợp hương, Thanh hương, ố hương v.v...

- VỊ có: Thượng vị, tạp vị v.v...

- XÚC có: Ái xúc sanh ưa thích, ố xúc sanh nhàm chán v.v...

- PHÁP có: Mộng, tưởng. suy tư, trầm tư, mặc tưởng v.v...

Những tác động phụ thuộc của 6 trần là do vọng tưởng, do nghiệp, do vô minh mà sanh ra. Chúng nó làm rối loạn, làm chúng sanh chìm đắm trong thất Tình- lục dục:

Thất tình gồm: Hỷ, Nộ, Ái, Ố, Ai, Lạc, Cụ. tức là: mừng, giận, thương, ghét, buồn, vui, sợ.

Lục dục gồm:
1. Sắc dục: ham muốn nhìn thấy sắc đẹp.
2. Thinh dục: ham muốn nghe âm thanh êm tai.
3. Hương dục: ham muốn ngữi mùi thơm dễ chịu.
4. Vị dục: ham muốn món ăn ngon miệng.
5. Xúc dục: ham muốn xác thân sung sướng.
6. Pháp dục: ham muốn ý nghĩ được thỏa mãn.

Chính Thất tình lục dục nó khuấy động, làm cho Chân Tâm Thường Trú, Thể Tánh tịnh minh của chúng ta bị che mờ.

Nay Đức Phật chỉ dạy Thủ Lăng Nghiêm Đại Định này, hầu làm cho hành giả được Nhất Thiết Sự Cứu Cánh Kiên Cố.

Nghĩa là làm cho hành giả được tự tại vô ngại (như Vua) trong các Pháp kể trên. Khi được Tự tại rồi.- Thì đó là PHÁP VƯƠNG, là vua của các Pháp không còn bị các pháp sai sử.

Mà pháp vương chính là thành phật vậy.


tóm lại: Thủ Lăng Nghiêm Đại Định là phương pháp tu tập Thiền Định, để hành giả được thành Phật đó.
 

Vô Năng

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
7 Thg 2 2017
Bài viết
146
Điểm tương tác
50
Điểm
43
So sánh Pháp Ấn trong "Trùng Tuyên" và kinh văn:
1. Sai nội dung
2. Sai thứ tự
3. Pháp ấn thứ 4 không có căn cứ kinh văn. Nghi ngờ không phải Phật thuết. Lập luận cho rằng pháp ấn này đồng với Tam pháp ấn chưa thuyết phục vì không có căn cứ kinh văn.

Nhận xét: kinh văn Tiểu Thừa và Đại Thừa đều thống nhất nội dung và thứ tự của 3 Pháp Ấn đầu. Tuy nhiên bản "Trùng Tuyên" lại không nhất quán với kinh văn.

Lưu ý:
Tứ y cứ:
  • Y theo pháp, không y theo người
  • Y theo nghĩa, không y theo lời
  • Y theo trí, không y theo thức
  • Y theo kinh liễu nghĩa, không y theo kinh chẳng liễu nghĩa.
Nguồn: Đại bát niết bàn, phẩm thứ 8

----

Này các Kàlàmà, chớ có tin vì nghe báo cáo, chớ có tin vì nghe truyền thuyết; chớ có tin vì theo truyền thống; chớ có tin vì được kinh điển truyền tụng; chớ có tin vì lý luận suy diễn; chớ có tin vì diễn giải tương tự; chớ có tin vì đánh giá hời hợt những dữ kiện; chớ có tin vì phù hợp với định kiến; chớ có tin vì phát xuất từ nơi có uy quyền, chớ có tin vì vị Sa-môn là bậc đạo sư của mình.


Nhưng này các Kàlàmà, khi nào tự mình biết rõ như sau: "Các pháp này là bất thiện; Các pháp này là đáng chê; Các pháp này bị các người có trí chỉ trích; Các pháp này nếu thực hiện và chấp nhận đưa đến bất hạnh khổ đau", thời này Kàlàmà, hãy từ bỏ chúng!


Nguồn: Tăng chi bộ, chương 3 - Ba Pháp, Phẩm lớn, 65 - Các Vị Ở Kesaputta
 

Vô Năng

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
7 Thg 2 2017
Bài viết
146
Điểm tương tác
50
Điểm
43
Hỏi:
1. Theo Chánh Pháp Phật thuyết thì có hết thảy bao nhiêu loại định?
2. Thủ Lăng Nghiêm Đại Định này so với Chánh Định trong Bát Chánh Đạo hay Kim Cang Định trong kinh Kim Cang thì có gì khác nhau?
3. Vì sao lại phải phân ra?
4. Có phải Thủ Lăng Nghiêm Đại Định mới thành Phật, các loại Định khác thì không thể?
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,446
Điểm tương tác
1,727
Điểm
113
Cảm ơn Bạn Vô Nang tham gia thảo luận.

Vâng, thưa Bạn. 3 Pháp Ấn của kinh Tương Ưng Bộ- Tập 3 là chính xác.

Còn NHẤT CHÂN- THẬT TƯỚNG ẤN.

* Nhất Chân: Là Tất cả là Bất Nhị, là một Bản thể Chân Như.

* Thật Tướng là Vô Tướng, là các Pháp do duyên sanh.

* NHẤT CHÂN- THẬT TƯỚNG là nội sung chính của Bát Nhã Ba la mật.

NHẤT CHÂN- THẬT TƯỚNG Ấn Đây là căn cứ theo kinh Bát Nhã Ba la Mật. Phẩm 32- Bảo Tháp Đại Minh.

như sau: "

Ngài Thích Đề hoàn Nhơn thưa: Bạch Thế Tôn ! Theo như lời Thế Tôn dạy thì thiện nam, thiện nữ nghe Bát nhã Ba- la- mật, rồi biên chép, thọ trì, đọc tụng, chánh ức niệm, tôn trọng, cung kính cúng dường, tán thán Bát nhã Ba- la- mật, trọn chẳng ly Bát nhã Ba- la- mật, trọn chẳng ly Tát bà nhã tâm có phước đức thù thắng hơn nhiều. Vì sao ? Vì hết thảy các thiện pháp như 10 thiện đạo, 4 thiền, 4 vô lượng tâm, 4 vô sắc định, 37 phẩm trợ đạo, 3 giải thoát môn, 4 Thánh đế, 6 thần thông, 8 bối xả, 9 thứ đệ định, 6 pháp Ba- la- mật, 18 không, các tam muội, các đà la ni, 10 lực, 4 vô sở úy, 4 vô ngại trí, đại từ, đại bi, 18 bất cộng pháp, nhất thiết trí, đại chủng trí, Nhất thiết chủng trí đều từ Bát nhã Ba- la- mật xuất sanh ra cả.

....... Bạch Thế Tôn ! Bát nhã Ba- la- mật là pháp ấn của 3 đời chư Phật. Tất cả Thanh Văn, Bích Chi Phật, Bồ tát và Phật đều y như pháp ấn này mà qua được "bờ bên kia" vậy. "
(hết trích)

Kính
 
Last edited:

Kim Cang Thoi Luan

Moderator
Staff member
Tham gia
13 Thg 8 2018
Bài viết
570
Điểm tương tác
136
Điểm
43
Hy vọng Thầy chủ diễn đàn có thể trùng tuyên 600 quyển đã được dịch Kinh Đại Bát Nhã Ba La Mật của ngài Huyền Trang, hay Kinh Bát Nhã do ngài La Thập đại sư dịch, đã được dịch ra Việt văn.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,446
Điểm tương tác
1,727
Điểm
113
Hỏi:
1. Theo Chánh Pháp Phật thuyết thì có hết thảy bao nhiêu loại định?
2. Thủ Lăng Nghiêm Đại Định này so với Chánh Định trong Bát Chánh Đạo hay Kim Cang Định trong kinh Kim Cang thì có gì khác nhau?
3. Vì sao lại phải phân ra?
4. Có phải Thủ Lăng Nghiêm Đại Định mới thành Phật, các loại Định khác thì không thể?

Trả lời câu hỏi của bạn Vô Năng.

Câu 1: Theo Chánh Pháp Phật thuyết thì có hết thảy bao nhiêu loại định?

Đáp: Theo Chánh Pháp Phật thuyết thì có vô số các loại định. gọi là Vô lượng tam Muội.

Câu 2: Thủ Lăng Nghiêm Đại Định này so với Chánh Định trong Bát Chánh Đạo hay Kim Cang Định trong kinh Kim Cang thì có gì khác nhau?

Đáp: Thủ Lăng Nghiêm Đại Định này so với Chánh Định trong Bát Chánh Đạo hay Kim Cang Định trong kinh Kim Cang thì có khác nhau. Căn bản là Thủ Lăng Nghiêm Đại Định này xuất phát từ Kinh Thủ Lăng Nghiêm . Cũng tương ưng với trường hợp trên. Bộ kinh nào sẽ triển khai loại Tam Muội đó. ví dụ niệm Phật Tam Muội v.v...

Câu 3: Vì sao lại phải phân ra?

Đáp: Vì Đức Phật dùng đối trị tất đàn, vì đối trị căn cơ chủng tánh của chúng sanh mà trong một Phật thừa phân biệt nói thành vô số Tam muội.

4. Có phải Thủ Lăng Nghiêm Đại Định mới thành Phật, các loại Định khác thì không thể ?

Đáp: Ví như một cái chợ buông bán nhiều thứ hàng hóa. Ai bán món nào thì quảng cáo món đó là ngon, là bổ, là rẻ. Nay VQ đang bán rau, củ, quả (thủ lăng nghiêm), thì quảng cáo món rau, củ, quả (thủ lăng nghiêm) đó là ngon, là bổ, là rẻ. thiết nghĩa đâu có lỗi gì ?
Xin mời các Bạn vào mua...

Mến
 

Kim Cang Thoi Luan

Moderator
Staff member
Tham gia
13 Thg 8 2018
Bài viết
570
Điểm tương tác
136
Điểm
43
*Kính lễ đức từ phụ A Mi Đà Phật.

*Kính lễ đức Văn Thù Sư Lợi Bồ Tát.

Bộ kinh Thủ Lăng Nghiêm là nhân duyên A Nan Đà tôn giả gặp kiếp nạn. Từ đó nghĩa lý uyên áo được mô tả trong kinh văn này, có lẽ đây là kim chỉ nan cho những người tu thiền, những chương vấn như ngũ ấm ma v.v… Nhưng những người tu thiền đã vì duyên gì đó, quên bẵng rằng trong đó Phật, Bồ Tát nhắc khéo, kéo cái tâm khỉ vượn của lũ phàm chúng ta như sau, chương Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông dạy: Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật, niệm Phật, hiện tiền tương lai nhất định thấy Phật.


Giác Minh Diệu Hạnh Bồ Tát nói: Các ông chỉ biết hễ hàn khí xâm nhập tâm bào thì gọi là chứng trúng hàn, [chứ chẳng biết] nếu tà xâm nhập tâm thì gọi là bịnh tổn mạng. Các vị chỉ nghĩ thân bịnh mới là bịnh, lo điều trị; còn cái tâm mắc bịnh nặng thì chẳng cần tìm thầy thuốc giỏi, chẳng cầu diệu dược, mặc lòng chịu khổ chẳng hay biết chi. Ðáng buồn thay!
 

Kim Cang Thoi Luan

Moderator
Staff member
Tham gia
13 Thg 8 2018
Bài viết
570
Điểm tương tác
136
Điểm
43
PHÁP HÀNH PHẬT BỒ TÁT DẠY.

Đại Thế Chí Bồ Tát Niệm Phật Viên Thông Chương: Ngài Ðại-thế-chí Pháp-vương-tử cùng với năm mươi hai vị Bồ-tát đồng tu một pháp môn, liền từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ nơi chân Phật mà bạch Phật rằng: “Con nhớ hằng hà sa kiếp trước, có đức Phật ra đời, tên là Vô Lượng Quang; lúc ấy mười hai đức Như-lai kế nhau thành trong một kiếp, đức Phật sau hết, hiệu là Siêu Nhật Nguyệt Quang, dạy con pháp Niệm Phật Tam-muội. Ví như có người, một đằng chuyên nhớ, một đằng chuyên quên, thì hai người ấy, dầu gặp cũng không là gặp, dầu thấy cũng là không thấy; nếu cả hai đều nhớ nhau, hai bên nhớ mãi, khắc sâu vào tâm niệm, thì đồng như hình với bóng, cho đến từ đời này sang đời khác, không bao giờ cách xa nhau. Thập phương Như-lai thương tưởng chúng sinh như mẹ nhớ con, nếu con trốn tránh, thì tuy nhớ, nào có ích gì; nếu con nhớ mẹ như mẹ nhớ con, thì đời đời mẹ con không cách xa nhau. Nếu tâm chúng sinh nhớ Phật, tưởng Phật, thì hiện nay hay về sau, nhất định thấy Phật; cách Phật không xa thì không cần phương tiện, tâm tự khai ngộ như người ướp hương thì thân thể có mùi thơm, ấy gọi là hương-quang trang-nghiêm. Bản nhân của con là dùng tâm niệm Phật mà vào Vô-sinh-nhẫn, nay ở cõi này [Sa Bà] tiếp dẫn những người niệm Phật về cõi Tịnh-độ. Phật hỏi về Viên thông, con thu nhiếp tất cả sáu căn, không có lựa chọn, tịnh niệm kế tiếp, được vào Tam-ma-địa (chánh định), đó là thứ nhất”.

Chú thích: Vô Lượng Quang, Siêu Nhật Nguyệt Quang đều là nằm trong 12 danh hiệu của đức từ phụ A Mi Đà Phật.
 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,969
Điểm tương tác
608
Điểm
113
Kính bạn VN một ly trà [smile]

*** kính thày VQ .. nếu KLL nói có gì sai .. vẫn kính xin thày tận tình chỉ dạy.


Bạn đặt bốn câu hỏi này hay quá .... cho xin nghen .. [smile]

Câu trả lời cho bốn câu đó ... có 1 số trình tự phải đi qua [smile]


i. Định --> Đỉnh Cao --> Sự Đứng Yên

Có lẽ có 1 khái niệm dễ hiểu nhất về định là SỰ TẬP TRUNG --> VÀO 1 ĐIỂM --> LÀM ĐIỀU MÌNH THÍCH LÀM [smile]

Tiến sĩ Kabat Zinn nói rõ về sự để ý của các lực sĩ khi họ thực hành sự để ý vào hơi thở và cử động chân tay –

hay nói khác đi là họ thực hành thiền hoạt động – khi tập dượt thì một trạng thái yên ổn, thoải mái và nhất tâm xuất hiện như sau:

“Tâm của người lực sĩ lúc đó ở trong trạng thái --> chuyên chú vào --> một điểm [nhất điểm ]

Người chạy bộ hoặc người bơi lội khi đạt được trạng thái ấy thì có cảm tưởng mình có thể chạy mãi hoặc bơi mãi không ngừng. Tâm họ yên ổn, tỉnh táo trong sự tĩnh lặng và hoàn toàn trở thành một với thân thể.”

theo Vi Diệu Pháp đó là Tâm Sở Nhất Hành - (ekaggatā cetasika).

Eka
là một,

agga là cao tột.

Vậy ekaggatā là điểm cao tột, nên ekaggatā còn được dịch là nhất điểm -

Khi ekaggatā phát triển vững vàng, có sức mạnh trở thành Định (samādhi), đó là đỉnh cao của pháp chỉ tịnh nghiệp xứ (samatha kammaṭṭhāna).

Ekaggatā dịch là Nhất hành vì có trạng thái không chao động,

đồng thời trợ giúp cho tâm cùng các tâm sở đồng sanh

--> cùng “đứng yên” như nó.

Tức là tâm cùng các tâm sở có một hành tướng là yên lặng trong cảnh.

Ví như ngọn lửa không chao động khi không có gió, hoặc ví như mặt nước yên lặng, không bị sóng làm gợn lăn tăn. Khi có gió ngọn lửa vẫn đứng yên, hoặc nước đã kết thành băng, gặp gió vẫn không xao động,

--> đó là khi tâm sở Nhất hành đã phát huy đầy đủ sức mạnh --> gọi là Định.

Đức Phật có dạy: “Các pháp lấy định là đỉnh cao” [1] - Tỳ Kheo Chánh Minh


*** ở đây chúng ta để ý .. các loại định .. không phải là ĐẠI ĐỊNH thì có 1 chút tôi, 1 chút sắc, 1 chút thọ .. 1 chút tưởng .. 1 chút hành .. 1 chút sắc .. 1 chút danh ... 1 chút tư duy, 1 chút kiến, 1 chút mạng .. 1 chút nghiệp [smile]

*** và khi ĐỊNH xảy ra .. chúng ta thấy sự YÊN LẶNG .. ĐỨNG YÊN .... --> TRỐNG RỖNG, KHÔNG NGĂN NGẠI, KHÔNG NGẰN MÉ ...


Và nếu như ... chúng ta tiếp tục đặt sự "CHÚ TÂM" --> VÀO NƠI TRỐNG RỖNG [smile] --> CHÚ TÂM vào "KHÔNG" ==> BỔN LAI VÔ NHẤT VẬT thì sao ? [smile]

--> sẽ đi tới đâu [smile] ?



ii. Các Loại Định --> Các Đỉnh Cao --> và Những "NƠI KHÔNG GIAO ĐỘNG ĐỨNG YÊN" CÓ PHƯƠNG PHÁP --> và ĐẠI ĐỊNH

Quá trình tu chứng của đức Phật, chiếu theo kinh Nguyên Thủy thì có nhiều lần ngài dạy tới các Thứ Đệ Định ... Thiền cũng có loại định khác nhau ... giữ giới hạnh và thiền như là Kinh Sa Môn Quả

Lục Tổ Huệ Năng, trong Pháp Bảo Đàn Kinh nói tới 1 nguyên lý khác: những Đỉnh Cao của Tâm --> nơi CÁC TÂM TƯỚNG ĐỨNG YÊN ĐÓ --> đồng tồn tại với TUỆ [smile]

tức là NHẬN THỨC, TRÍ TUỆ hiểu các đỉnh cao CỦA TÂM [ĐỊNH] xảy ra như thế nào .. từ đó, ông kết hợp hai chữ - ĐỊNH TUỆ = thành 1 [smile]


Chúng ta thử nhìn vào Sơ Thiền trong Tứ Thiền:

a. Tầm --> Tứ --> Hỷ, Lạc Định [smile]

như vậy ... có sự tìm kiếm ... khi kiếm thấy .. thì ở lại ... có sự đứng yên xảy ra .. và khi đó .. hỷ lạc định xuất hiện

b. nếu những đỉnh cao đó "bớt đi NIỆM" ... bớt "đi SẮC" ... bớt đi "DANH" .. bớt đi "TÀ MẠNG", bớt đi TÀ TƯ DUY .. bớt đi TÀ MẠNG ...

thì đỉnh cao cuối cùng đó là --> PHÁP THÂN .. là NHƯ LAI TẠNG .. là CHƠN TÂM THƯỜNG TRÚ .. là THỂ TÁNH TỊNH MINH

Chúng ta để ý sự miêu tả về ĐẠI ĐỊNH [smile] tức là những mức độ đỉnh cao cùng tột ... cuối cùng ...

--> bắt đầu có sự xuất hiện của những đặc tính của Niết Bàn --> THƯỜNG, LẠC NGÃ TINH


Ở đây lúc trước có Mod Doccoden cũng hay nói tới NGUYÊN LÝ: từ trống rỗng --> vạn vật xuất hiện

SỰ ĐỨNG YÊN của ĐẠI ĐỊNH ... chính là sự trống rỗng .. không có ngăn ngại, không có ngằn mé .. ở nơi đó .. chư pháp bình đẳng .. bất tăng bất giảm .. bất cấu bất tịnh ... tùy duyên ... hóa hiện [smile]


iii. Các Loại Đinh Khác --> và SỰ ĐỨNG YÊN CÙNG TỘT --> NHƯ LAI = KHÔNG TỚI KHÔNG ĐI --> PHÁP THÂN, BẢO SỞ [ smile]

Các loại định khác của PHẬT GIÁO .. thật ra không khác khi chúng ta hiểu ra nguyên lý ĐỊNH từ đâu đến và ĐỊNH nghĩa là gì ? .. cấu trúc của "ĐỊNH" ... và làm sao để có ĐỊNH.

Thí dụ: Chánh Định được giảng trong 37 phẩm hộ đạo bồ đề .. thường dính liền với những đỉnh cao --> những sự đứng yên --> dẫn tới ĐỊNH

trong đó .. có 1 chút kiến, tư duy, ngôn, nghiệp, mạng, tinh tấn .. niêm ... trong đó --> chỉ cần chúng ta nhấn mạnh hai chữ "TINH TẤN" "KIẾN" "MẠNG" "NGHIỆP" thôi là cũng đủ thấy ... --> PHẢI ĐI TÚT LÚT MÙ KHƠI cho tất cả ---> KHÔNG LUÔN --> thì là TỚI ĐẠI ĐỊNH [smile]



iv. Lời Giới Thiệu Kinh Lăng Nghiêm của Thày Từ Thông [smile]

Hồi trước .. khi tui theo học về 1 môn học tôn giáo, khi nói với giáo sư dạy là tui có nhiều thứ chẳng hiểu gì hết .. mơ hồ, lẫn lộn khó hiểu .. thì ổng nói là: ổng cũng nhờ học hiểu phật lý mà hiểu được [smile] --> do đó, 16 năm trước tui tìm học hiểu phật lý [smile]

lúc đó may mắn là với trúng cuốn kinh này luôn .. và trúng luôn bài giảng Trực Chỉ Đề Cương của Thày Từ Thông, và cũng nhờ đọc những lời thày dạy .. mà tui hiẻu rất nhiều những vấn đề mình lúc trước không biết .. và dọc con đường đó tới nay .. cũng nhiều lần có những người bạn, thầy khác giúp tui học hiểu nhiều hơn [smile] .. có 1 lần còn gặp 1 người bạn của thày, ổng có 1 bản kinh này do thày Từ Thông ký tên tặng ổng.


Kinh Lăng Nghiêm có 19 chữ: Đại Phật Đảnh Như Lai Mật Nhân Tu Chứng Liễu Nghĩa Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm Kinh

--> nghĩa là kinh này chỉ tới chỗ ĐỨNG YÊN CÙNG TỘT --> NIẾT BÀN, NHƯ LAI [smile]



"Tu chứng định Thủ Lăng Nghiêm là tu chứng liễu nghĩa khác với kinh điển dạy tu chứng bất liễu nghĩa của Nhị thừa. Tu chứng ở đây là tu chứng đến Bảo sở, không như sự tu chứng tạm nghỉ ở Hóa thành.

Định Thủ Lăng Nghiêm rất sâu nhiệm, dùng tâm phan duyên thường tình mà nhận thức, thì khó mà thể nhận được định nầy. Ví như đem nhục nhãn --> nhìn Phật đảnh --> không sao thấy được trọn vẹn.

Tất cả Như Lai trong mười phương có Bồ Đề Niết Bàn --> đều do thành tựu đại định Thủ Lăng Nghiêm.

Định Thủ Lăng Nghiêm là cái nhân kín nhiệm của tất cả Như Lai -->cho nên gọi là Như Lai mật nhân.
Nói một cách khác: Thành tựu định nầy đồng nghĩa với thể nhập Phật tri kiến, Như Lai Viên Giác Diệu Tâm.

Tu chứng định Thủ Lăng Nghiêm là tu chứng liễu nghĩa khác với kinh điển dạy tu chứng bất liễu nghĩa của Nhị thừa.

Tu chứng ở đây là tu chứng đến Bảo sở, không như sự tu chứng tạm nghỉ ở Hóa thành.

Thành tựu định Thủ Lăng Nghiêm cũng tức là thành tựu vạn hạnh của chư Bồ Tát. Nói ngược lại: Bồ Tát thể hiện lục độ vạn hạnh được viên mãn là khi Bồ Tát đã có định Thủ Lăng Nghiêm.

Đối tượng cứu cánh của Kinh Thủ Lăng Nghiêm là: Chơn Tâm Thường Trú, Thể Tánh Tịnh Minh.

Công dụng của Thủ Lăng Nghiêm là hàng phục phiền não trần lao để trở về Chơn Tâm Thường Trú, Thể Tánh Tịnh Minh ấy.
" - Kinh Thủ Lăng Nghiêm Trực Chỉ Đề Cương, Thích Từ Thông

Chúng ta chú ý 1 chút ... lời giới thiệu này cũng hiểu .. kinh Lăng Nghiêm .. nói tới "ĐỈNH CAO CÙNG TỘT CUỐI CÙNG" rùi [smile] --> NHƯ LAI = KHÔNG TỚI KHÔNG ĐI --> là ĐẠI ĐỊNH vậy đó

Ví như đem nhục nhãn --> nhìn Phật đảnh --> không sao thấy được trọn vẹn. (không có "TUỆ NHÃN", "PHÁP NHÃN" "THIÊN NHÃN" thì đúng là khó thấy phật đảnh .. smile]

Cho nên tui thấy thầy Từ Thông cũng kết hợp chữ TUỆ và chữ ĐỊNH [smile] --> cũng giống giống như là Lục Tổ làm vậy đó [smile]

KLL
 

Hoa Vô Tướng

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
9 Thg 4 2018
Bài viết
372
Điểm tương tác
148
Điểm
43
Ha ha...

Chào @khuclunglinh huynh!

Nói đến định huệ của Lục Tổ là trong động thường định tức là nghĩa vạn tượng tổng trì. Biến hóa tự tại nơi một bàn tay.

Nhớ trong ngữ lục có một đoạn công án đại khái như sau:

Tổ hỏi: thường nghe đại đức giảng kinh lăng nghiêm xin hỏi 2 chữ đầu kinh là gì?

Đáp: Như Thị

Hỏi: Như Thị đã là toàn bộ bản kinh vậy đoạn sau là thế nào?

Đáp:. ...!!!

Có tổ khác đáp thay rằng: Lại chia làm 3 đoạn rồi!!

Yến son tâm điểm hẹp, chưa cho suy nghĩ chủ khách phân - Lâm tế ngữ lục

Thoại đầu tức cảnh giới gốc chưa phân chủ khách nơi tưởng thức vốn là thực tại không thể phủ định là cảnh giới gốc là mẹ của ngàn thánh. Trí biết việc này thì tự hợp với chân như viên tròn chẳng thiếu không dư gọi là tự tại thọ dụng. Quán chân như thuần thục thì tất cả khế hợp quyền trí và thật trí bát nhã đều là chân như không hai không khác.

Bộ Kinh Lăng Nghiêm được chư cổ đức tán thán là bộ kinh Khai Tuệ cho hành giả rất là hi hữu ngày trước khi đọc phẩm văn thù nghĩa tức là và chẳng phải là liền phát tuệ thật là xâu xa thẳng tắp xuyên suốt quá trình học hỏi nơi tiểu đệ, tới nay mới biết ý nghĩa khai tuệ nơi kinh này là như thế nào. Nếu nói về lý thì tất cả chư Phật đều y kinh và định lăng nghiêm mà thành tựu vậy.

Chân Kinh vốn vô ngôn sự hiện hữu nghĩa kinh lăng nghiêm theo tri thức thông thường chưa phải là rốt giáo. Tên kinh có đoạn Bạch Tán Cái - Lọng Trắng trùm Trời đây tức là niết bàn vô ngôn vậy. Định thủ lăng nghiêm là thường định. Định đã thường tức kinh lăng nghiêm là thường trụ . Kinh này rất vi tế thâm sâu có thể khai tuệ cho hành giả theo Phật Pháp.

Rất vui lại gặp hội giảng nghĩa kinh này.
 

Vo Minh

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
27 Thg 12 2017
Bài viết
415
Điểm tương tác
228
Điểm
43
Phướng động làm Tâm nhân giả động!
ĐỊNH nào động? Sao Tâm nhân giả lại động?

Phướng động bởi gió! Sao Tâm nhân giả lại động bởi ĐỊNH???

ĐỊNH mà nói ra được là bị ĐỘNG rồi.
 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,969
Điểm tương tác
608
Điểm
113
Kính bạn HVT 1 ly trà [smile]

ƯNG VÔ SỞ TRỤ --> NHI SANH --> KỲ TÂM [smile]

khi chúng ta lãnh hội được trong "HƯ VÔ" có --> NIỀM VUI VÔ VÀN [smile] --> thì bắt đầu ... CON ĐƯỜNG TRỞ VỀ --> NÚI VẪN LÀ NÚI rùi đó [smile]

Hồi xưa ... trong những tảng đá trước mộ của những người tây phương ...thường hay có 1 câu: In nihil ab nihilo quam cito recidimus

tạm dịch là TỪ HƯ VÔ --> PHÚT CHỐC --> TA LẠI TRỞ VỀ HƯ VÔ [smile]

Hiện Tượng Vô Thường .. Vô Ngã .. cũng vậy ... thoáng xem, nhiều người thấy PHẬT PHÁP --> ôi sao mà ảm đạm phiền não quá .. ở trong đó có bao nhiêu sự tiếc nuối về những giá trị yêu thương ... chưa muốn bỏ .. đã phải bỏ .. vẫn muốn thường --> đã vô thường [smile --> ÁC ]

thật ra, ... khi nhìn thấy trong đó .. ƯNG VÔ SỞ TRỤ --> NHI SANH KÌ TÂM [smile] --> nhìn thấy chính ở trong dòng biến đổi luôn chuyển muôn vàn đó --> có hiện tượng VẠN PHÁP [smile] thì chúng ta hiểu được ...

TỰ BẢN THÂN MÌNH ... có biết bao nhiêu niềm vui ... có vô lượng thọ


Cho nên ... KHI BẮT ĐẦU THẤY điều đó ... là bắt đầu [smile] --> hiểu được ĐẠI Ý --> ĐẠI DỤNG của PHẬT PHÁP [smile]

Điển hình như hồi xưa có người hỏi:

- Đại tạng Tiểu Tạng từ đâu ra ? ... thì có người trả lời

- Đại Tạng Tiểu Tạng từ --> ĐÂY RA [smile]

Hoặc điển hình như ĐỆ NHẤT GIÁC NGỘ trong KINH BÁT ĐẠI NHÂN GIÁC nói tới:

- tứ đại khổ không ... ngũ ấm vô ngã, hư nguỵ vô chủ --> tâm thị ÁC NGUYÊN --> hình vi tội tẩu ... nghe thoáng "đoạn vào" thì thấy ẢM ĐẠM KHỔ SẦU QUÁ ...

nhưng ở CON ĐƯỜNG TRỞ VỀ .. CON ĐƯỜNG RA --> thì như Mãn Giác Thiền Sư [smile], ở trong ổng như là có nụ cười "VÔ BIÊN" khó hiểu .. của hiện tượng ĐÁ CƯỜI [smile]

Hiên ngang đi giữa đất trời

đưa tay vỗ đá .. đá cười --> HOÁT NHIÊN



dường như ... Mãn Giác Thiền Sư cũng như là Ngài Duy Ma Cật ... có khả năng đối với "tứ đại khổ không" .. với tâm ngăn ngại của mình, với vọng tâm không thật của mình

--> có KHẢ NĂNG --> LẬP TỨC --> HOÁT NHIÊN ... ĐOẠT LẠI BỔN TÂM [smile]

do đó .. có lẽ chúng ta không nên sơ hãi .. hay lo lắng khi thảo luận về phật pháp .. nhứt là khi ĐỊNH TUỆ đã được kết thành 1 khối và chúng ta cũng cảm nhận lợi ích ... nhứt là khi lại được sự hướng dẫn tận tình của Thày Từ Thông và đệ tử của thày là thày VQ [smile - đến giờ "KLL" vẫn rất tri ân ngài với tinh thần PHÁP XẢ .. đã hướng dẫn KLL qua rất nhiều những khúc mắc về những nguyên lý nền tảng thật sự của phật pháp qua bài giảng Thủ Lăng Nghiêm Trực Chỉ Đề Cương của thầy

ờ mà đúng không ?

KLL
 

Ba Tuần

Moderator
Staff member
Tham gia
28 Thg 7 2016
Bài viết
1,533
Điểm tương tác
492
Điểm
83
Như lời Phật dạy: "ta chỉ nói lên sự khổ và sự diệt khổ".
Cho nên Ba Tuần nghĩ:

Nếu biết đời vô thường,
Do chấp thường nên khổ.
Ta cũng chẳng thể khác,
Nên biết là vô ngã.
Ngay đó tự an lạc,
Niết Bàn là tỉnh tĩnh.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,446
Điểm tương tác
1,727
Điểm
113
* ĐỀ KINH (tt)

Đề kinh nầy nói đầy đủ thì có 19 chử: Đại Phật Đảnh, Như Lai Mật Nhơn, Tu Chứng Liễu Nghĩa, Chư Bồ Tát Vạn Hạnh Thủ Lăng Nghiêm.

Thủ Lăng Nghiêm là tên gọi tắt qua cái từ trọng tâm 19 chữ của đề kinh.

Đề kinh này gồm cả Nhơn, Pháp và Dụ. Đại Phật Đảnh là dụ. Như Lai Mật Nhân là nhơn, Thủ Lăng Nghiêm là Pháp vậy.

*******************************

Tư duy:
Kinh điển do Đức Phật dạy. Cổ Đức phân ra làm 12 bộ.- Gọi là Thập nhị Bộ kinh gồm:
(trích)

1) Kinh (Khế kinh): những bài kinh chính căn bản Phật nói bằng văn xuôi, ngắn gọn, súc tích, khế cơ và khế lý tức là những lời Phật dạy khế hợp với chân lý với từng căn cơ của chúng sinh.

2) Trùng tụng (Ứng tụng): những bài kinh hoặc kệ tụng được đức Phật nhắc đi nhắc lại nhiều lần để các đệ tử ngài thuộc lòng.

3) Thụ ký: kinh Phật thụ ký, chứng nhận quả vị cho những đệ tử và những việc xảy ra về sau.

4) Ký chú (Phúng tụng): những bài kinh thuộc thể thơ ca không diễn xuôi

5) Tự thuyết (Tán thán): bài pháp Phật thuyết không cần sự thưa thỉnh

6) Nhân duyên (Quảng thuyết): kinh nói về nhân duyên pháp hội, nhân duyên của nhân sinh và vũ trụ.

7) Thí dụ (Diễn thuyết giải ngộ): kinh Phật dùng thí dụ để giảng thuyết những giáo lý cao thâm cho dễ hiểu.

8) Bản sự kinh (Như thị pháp hiện): kinh Phật nói “tu nhân, chứng quả” của hàng đệ tử trong quá khứ và vị lai.

9) Bản sinh kinh: kinh Phật nói về tiền thân của Phật và hàng Bồ tát dẫn đến câu chuyện của đời hiện tại, sự liên hệ giữa tiền kiếp và hậu kiếp…

10) Phương quảng (Phương đẳng): kinh điển đại thừa, nói về pháp tu rốt ráo

11) Hy pháp (Vị tằng hữu): kinh Phật nói về thần lực của Phật và hàng thánh đệ tử, nói về cảnh giới vi diệu của quả tu.

12) Nghị luận (Cận sự thỉnh vấn): kinh vấn đáp, biện luận giữa Phật và hàng đệ tử hoặc giữa các hàng đệ tử với nhau để lý giải rốt ráo chính tà…
(hết trích)
Trong 12 bộ kinh đó. Đức Phật thường dùng 3 cách để lập đề kinh:

1/. Dùng NHƠN để lập đề kinh. Ví dụ như kinh Thủ Lăng Nghiêm.-Như Lai Mật Nhân là nhơn,

2/. Dùng PHÁP để lập đề kinh. Ví dụ như kinh Ban An thủ Ý (quán niệm hơi thở) là dùng Pháp tu để lập đề.

3/ Dùng DỤ để lập đề kinh. Ví dụ như kinh Kim Cang Bát Nhã, Kinh Pháp Hoa v.v...

Kinh này Đức Phật dùng cả 3 pháp: Nhơn, Pháp và Dụ để lập đề kinh.- Đại Phật Đảnh là dụ. Như Lai Mật Nhân là nhơn, Thủ Lăng Nghiêm là Pháp.

Bổ sung 7 loại lập đề kinh:


Ðề mục của các kinh điển do Ðức Phật tuyên thuyết được phân làm bảy loại, gọi là “thất chủng lập đề.” Bảy loại lập đề này bao quát tất cả Tam Tạng, Mười hai phần kinh do Như Lai thuyết giảng, và lại được chia thành ba thứ là đơn tam, phục tam (song tam) và cụ túc nhất.

-Ðơn tam lập đề (ba loại lập đề đơn). “Ðơn tam” là đơn độc và có ba loại:

1) Ðơn nhân lập đề. Như trong đề mục Kinh Phật Thuyết A Di Ðà thì “Phật” và “A Di Ðà” đều là người—vì Phật là người, A Di Ðà cũng là người, cho nên gọi là “đơn nhân lập đề.”

2) Ðơn pháp lập đề. Như Kinh Ðại Bát Niết Bàn thì “Ðại Bát Niết Bàn” là pháp; vì chỉ dùng Pháp để đặt tên cho kinh, nên đề mục của kinh này thuộc loại “đơn pháp lập đề.”

3) Ðơn dụ lập đề. “Dụ” là tỷ dụ, ví dụ. Như Kinh Phạm Võng thì “Phạm Võng” là tỷ dụ. Bộ kinh này ví như tràng phan lưới báu của vua trời Ðại Phạm.

Ba loại đề mục trên chỉ đơn độc có một thứ là nhân (người), hoặc pháp, hoặc dụ trong tên đề, nên được gọi chung là “đơn tam lập đề.”

-Phục tam lập đề (ba loại lập đề kép). Ðây là loại đề mục được thành lập bởi hai trong ba yếu tố—nhân, pháp, dụ—và gồm có ba loại:

4) Nhân pháp lập đề. Như trong đề mục Kinh Văn Thù Vấn Bát Nhã thì “Văn Thù” là người, “Bát Nhã” là pháp. Bởi có người và có pháp—dùng tên người và tên pháp hợp lại thành tên kinh—nên gọi là “nhân pháp lập đề”.

5) Nhân dụ lập đề. Như Kinh Như Lai Sư Tử Hống thì “Như Lai” là người, “Sư Tử Hống” là ví dụ; ý nói rằng khi Phật thuyết pháp thì âm thanh hùng tráng như tiếng gầm của sư tử. Ðây gọi là “nhân dụ lập đề,” dùng tên người và ví dụ để đặt tên cho kinh.

6) Pháp dụ lập đề. Như Kinh Diệu Pháp Liên Hoa: “Diệu Pháp” là pháp, “Liên Hoa” là ví dụ, nên đề mục này thuộc loại “pháp dụ lập đề.”

-Cụ túc nhất. “Cụ túc nhất” là một loại cụ túc, đầy đủ cả ba yếu tố nhân, pháp và dụ:

7) Cụ túc lập đề (một lập đề đầy đủ). Như trong đề mục Kinh Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm thì “Ðại Phương Quảng” là pháp, “Phật” là người, “Hoa Nghiêm” là ví dụ. Bộ kinh này dùng hoa để tỷ dụ với cái nhân của thập độ vạn hạnh, lấy vạn thừa nhân hoa để trang nghiêm quả đức vô thượng. Vậy, đề mục “Ðại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm Kinh” có đầy đủ cả nhân, pháp và tỷ dụ, nên thuộc loại “cụ túc lập đề.”

Ðề mục của tất cả kinh điển đều không ngoài bảy loại trên.
 
Last edited:
Bên trên