Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên)Tiểu dẫn, Phẩm tựa 1, Phẩm 2.

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113


Dạ, con cám ơn thầy đã giảng giải,

Như lời trên thì thầy có thể nói rõ hơn về Niết Bàn mà Phật dạy là Niết Bàn như thế nào ?

Mong thầy vì con và đại chúng vì mà diễn nói.

Kính.

ở đây xin ngài vienquang thỉnh bộ kinh đại bát niết bàn vào diễn đàn ạ. Để cho những người chưa rõ thế nào là phật tánh đọc được mà khai ngộ vậy. Xin ngài phát từ bi tâm
Kính thưa Các Bạn Đạo Kính mến.

Viên Quang vô cùng cảm kích, khi được các Bạn tin tưởng mà yêu cầu trùng tuyên Bộ Đại Kinh Niết Bàn.

Mô Phật, theo yêu cầu của các Bạn Viên Quang sẽ cố gắng tập trung tài liệu và trùng tuyên lại, để cùng với các Bạn thảo luận hầu tìm vị ngọt chánh pháp.

* Viên Quang dự kiến sẽ dùng bộ kinh :

ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG
Từ phẩm I đến phẩm XXIII
của Pháp Sư Thích Từ Thông


để giải trình với quý Đạo hữu.

* Cũng sẽ chia ra nhiều mục như khi trình bày Đại Trí Độ Luận.

* Khi trình bày sẽ viết ở chuyên mục Thảo luận chuyên đề, để các Bạn cùng thảo luận, và chỉnh sửa.

* Sau khi thảo luận xong một đoạn nào đó, Viên Quang sẽ di chuyển về chuyên mục Giáo lý (ở đây không còn thảo luận nữa).

* Vì đây là bộ kinh lớn. Sức học của Viên Quang có hạn, nên kính xin các Bậc cao minh từ bi dạy bảo và đính chính cho, để công việc Phật sự này được có công đức.

Xin trân trọng cảm ơn. Và kính mời các Đạo Hữu đón xem và góp ý.

Viên Quang xin cung kính .
 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên)

* Giới thiệu đôi nét về Hoà Thượng Pháp Sư Thích Từ Thông.



Chín chục năm rồi há ít sao?
Có gì để chỉ thực là ta?
Bèo mây vô định đâu là xứ...?
Thế sự phù hư rõ thật hay!


(mùng 1 tết Bính Thân)
HT. TTT


HT Thích Từ Thông sanh ngày 1 tháng 3 năm đinh mão 1927, là người gốc ở Tỉnh Trà Vinh, miền Tây Nam Bộ. Năm nay ngài được 90 tuổi và sức khoẻ vẫn khang kiện minh mẫn.

Theo lời kể của ngài, thì ngài đã phát tâm đi tu từ thưở nhỏ. Đến khoảng năm 17 tuổi ngài về Saigon và theo học các trường Phật học. Lúc đó Đại Lão HT . Thích Trí Tịnh là Giáo Thọ Sư và là gương sáng cho ngài, trong bước đường hành đạo.

Đến khi ở Miền nam, mở được trường Trung Cấp Phật học, thì ngài được Giáo hội PG mời làm Trưởng Ban giáo Dục Tăng ni, kiêm Hiệu trưởng trường Trung Cấp Phật học tại chùa Vĩnh Nghiêm, đường Nam Kỳ khởi Nghĩa, Q 3. TP. HCM. Sau đó trường được di dời về ĐC: Số 01, Đường 08, Đ Đỗ Xuân hợp, P.Phước Bình, Quận 9, TP. HCM . Hiện nay ngài vẫn tại vị và đã hơn 27 năm dài làm Phật sự này.

Tuổi càng ngày càng lớn, do sức khoẻ giảm súc, HT thường chỉ đạo công việc nhà trường từ xa và về ngụ tại Liễu Liễu Đường. - Địa chỉ : đồi Tà Dương, xã Phú Sơn, huyện Lâm Hà , tỉnh Lâm Đồng.

Trong suốt cuộc đời tu, HT chỉ chuyên nghiêng cứu, giảng dạy, và luận giải kinh luận.

Các tác phẩm Phật học của HT như: Chứng đạo ca trực chỉ đề cương, Thủ Lăng Nghiêm kinh trực chỉ đề cương, Như Lai Viên giác kinh trực chỉ đề cương, Kim Cang Bát nhã kinh trực chỉ đề cương, Duy thức trực chỉ đề cương, Kinh A di Đà luận giải, Pháp hoa kinh thâm nghĩa đề cương v.v... trong đó bộ Đại Bát Niết Bàn kinh trực chỉ đề cương là qui mô nhất.

Ngoài trứ tác kinh luận. HT cũng giảng dạy bằng cách ghi âm (Mp3) và truyền tải trên mạng Internet, như các địa chỉ ghpgvn-haitrieuam.org, LIELIEUDUONG.ORG. v.v...về các bài kinh trên, ngoài ra còn dạy về pháp tham thiền v.v...

Ngoài Pháp hiệu là Thích Từ Thông, HT còn truyền dạy pháp thiền Như Huyễn Tam Ma Đề, và ngài cũng có Đạo hiệu là Như Huyễn Thiền Sư.

Phần lớn tác phẩm Phật học của HT được làm giáo án để giảng dạy trong các trường Cao Trung cấp Phật học.

Hiện HT đang tại thế, nên để tìm thông tin về ngài rất khó có. May mắn cho viên quang là có được duyên theo học trực tiếp, làm môn sinh của HT (khoảng năm 1994), tại Thiền viện Quảng Đức, Q3 TP.HCM, với bộ kinh Như Lai Viên giác (còn các bộ kinh khác, chỉ được học qua băng giãng).

Vì đây chỉ là ghi lại những gì đã nghe và nhớ, nên có thể thông tin không được chính xác, kính mong Quý Thiện Tri thức bổ sung thêm (vì sau đó chúng ta sẽ triển khai và tìm hiểu bộ kinh Bát Niết Bàn qua lời giảng của HT.Thích Từ Thông - Viên Quang trùng tuyên -).

NAM MÔ CHỨNG MINH SƯ BỒ TÁT.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên)

* Giới thiệu tổng quan phần Trực chỉ của HT. Thích Từ Thông.

Tiểu Dẫn

Phẩm 1 Tựa

Phẩm 2 Thuần Đà

Phẩm 3 Ai Thán

Phẩm 4 Trường Thọ

Phẩm 5 Kim Cang Thân

Phẩm 6 Danh Tự Công Đức

Phẩm 7 Tứ Tướng

Phẩm 8 Tứ Y

Phẩm 9 Tà Chánh

Phẩm 10 Tứ Thánh Đế

Phẩm 11 Tứ Đảo

Phẩm 12 Như Lai Tánh

Phẩm 13 Văn Tự

Phẩm 14 Điểu Dụ

Phẩm 15 Nguyệt Dụ

Phẩm 16 Bồ Tát

Phẩm 17 Đại Chúng Sở Vấn

Phẩm 18 Hiện Bệnh

Phẩm 19 Thánh Hạnh

Phẩm 20 Phạm Hạnh

Phẩm 21 Anh Nhi Hạnh

Phẩm 22 Quang Minh Biến Chiếu Cao Quý Đức Vương Bồ Tát

Phẩm 23 Sư Tử Hống Bồ Tát


ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG
Từ phẩm I đến phẩm XXIII
Pháp Sư Thích Từ Thông
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên)

Kính Thầy VQ, tác phẩm bày là luận hay dịch thuật?
Trên mạng thấy có bản dịch của HT. Thích Trí Tịnh và cũng có nhiều bản dịch nữa.
* Ý nghĩa đề cương.

Kính thưa Quý ĐH.

Đại Bát Niết Bàn kinh trực chỉ đề cương, là bản cương yếu tóm tắc và cô động những phần tinh hoa, yếu quyết của kinh Đại Bát Niết Bàn. Trong đó, Hoà Thượng có giảng giải thật sâu sát, nên gọi là "Trực chỉ", nghĩa là chỉ thẳng chớ không có quanh co úp mở (vì sợ mích lòng) gì cả.

Đọc và học phần trực chỉ đề cương này, chúng ta phải cố gắng xả đi cái ngã chấp, cái sở tri chướng của chúng ta đi, thì mới có thể nghe nổi, bằng không thì lại thấy đau khổ, vằn vặt vì mỗi lời giảng sẽ như chất thuốc sát trùng, nó xoáy vào chỗ "mục ghẻ", mà chúng ta không chịu trị lành (vì sợ đau). Nếu chịu nghe học, thì cơ may chúng ta sẽ được lành lặn chỗ u nhọt và sẽ là người lành bệnh.

Đại Bát Niết Bàn kinh trực chỉ đề cương này, HT viết ra, lúc đầu chỉ làm giáo án để dạy cho các trường Cao Cấp và trung Cấp Phật học, chủ yếu là dạy cho Tăng Ni sinh. Nghĩa là rất kén chọn đối tượng nghe , (vì tánh chất siêu việt của nó). Nhưng trên thật tế khi ra giảng dạy, thì số Phật tử theo nghe và học với HT tác phẩm này lên đến hàng ngàn vị Phật tử. Thường pháp thoại này được HT giảng dạy ở Chùa Vĩnh Nghiêm và Hội trường Cơ Bản Phật học ở đường Đỗ Xuân hợp, Q9 TP.CHM.

Mến.



(1 góc Hội trường, buổi HT. Thích Từ Thông giảng ở Trường cơ bản Phật học)

Tâm sự thêm: Thật ra, Viên quang chỉ là đứa học trò dở của HT. Lại theo học với HT chưa đươc lâu, đối với sự thông thái của ngài, thì Viên Quang triệu triệu lần chưa được một. Lẽ ra với sức học của mình, thì không nên bạo phổi mà trùng tuyên (vì sẽ làm thiếu sót, lệch lạt sự mầu nhiệm của Kinh và Ý chỉ của HT). Nhưng vì sự quá mong mỏi thử sức, hầu tìm sự tiến bộ nơi mình, nên đành không sợ xấu hổ mà nêu lên sự dốt yếu của mình. Kính lạy Hoà thượng Tôn sư từ bi hỷ xả, kính các Bậc Tôn túc từ bi chỉ dạy, kính các Bạn đồng học hoan hỷ bổ túc.

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên)

ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG
Từ phẩm I đến phẩm XXIII
Pháp Sư Thích Từ Thông​

* TIỂU DẪN

ĐẠI BÁT NIẾT BÀN là một thuật ngữ, Phạn ngữ gọi MA HA BÁT NIẾT BÀN NA (Mahaparinirvana). Các nhà Phật học tiền bối dịch có nhiều nghĩa:

Đại nhập diệt tức
Đại diệt độ
Đại viên tịch nhập

Từ ngữ để diễn đạt về MA HA BÁT NIẾT BÀN NA thì có khác như thế, nhưng ý nghĩa thì không có gì chống trái mà cùng gặp nhau ở điểm:

Niết bàn là cảnh giới sở chứng ở nội tâm của con người dứt hết phiền não, dứt hết sinh tử, viễn ly các tướng, viễn ly các hành, an trú tâm thanh tịnh, vắng lặng và vắng lặng một cách trọn vẹn, tận cùng trọn vẹn. ĐẠI NHẬP DIỆT TỨC hay DIỆT ĐỘ, chúng ta có thể khái niệm nhận thức như thế, thiết tưởng tạm đủ mà không cần thiết sử dụng ngôn ngữ quá dài dòng.

ĐẠI VIÊN TỊCH NHẬP có nghĩa: NIẾT BÀN là cảnh giới sở nhập của con người tu hành hằng sống. Con người có Niết bàn, "nhập" được Niết bàn, nhìn dáng vẻ và nếp sống bên ngoài thì ai cũng tưởng họ là một người bình thường như những người bình thường khác. Sự thực, đời sống của con người được ĐẠI VIÊN TỊCH này, vô lượng công đức lành họ đều thành tựu viên mãn. Thân, khẩu, ý, nghiệp của họ hoàn toàn thánh thiện, không có biểu hiện sai trái lỗi lầm. Đó là ý nghĩa của chữ VIÊN. Người bình thường, luôn sống trong ưu tư sầu muộn, phiền não nung nấu, sôi sục trào dâng, đau khổ suốt tháng quanh năm không có được một phút giây an ổn. Trái lại, người nhập NIẾT BÀN là người luôn luôn an trú trong vắng lặng, trong an ổn thảnh thơi, không một niệm khổ tâm hay một gợn phiền não dấy động trong CHƠN TÂM THƯỜNG TRÚ vốn thanh tịnh, vốn tịch diệt viên mãn của chính mình.

Nói tóm lại, vô lượng công đức lành nào cũng viên mãn. Vô lượng phiền não ưu bi nào cũng vắng lặng. Đó là ý nghĩa của ĐẠI VIÊN TỊCH NHẬP.

ĐẠI BÁT NIẾT BÀN NA là một, nhưng kinh nói về ĐẠI BÁT NIẾT BÀN NA thì tên gọi có nhiều:

Đời Bắc Lương, Pháp sư Đàm Vô Sấm dịch, nhan đề ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH, 41 quyển.

Đời Tấn, Pháp Sư Pháp Hiển dịch, nhan đề: PHẬT NÊ HOÀN KINH, 2 quyển.

Đời Đường, Pháp Sư Nhã Na Bạt Đà La dịch, nhan đề: ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH HẬU PHẦN, 2 quyển

Đời Tùy, Pháp Sư Quán Đảnh dịch, nhan đề: ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH SỚ, 33 quyển...

Còn nhiều nữa nhưng ở đây xin lược để tránh phiền, vì những cái không quan trọng, không cần thiết cho một hành giả.

Đọc, học kinh Niết Bàn và tu tập theo kinh Niết bàn hành giả sẽ nhận thức rõ, Niết bàn của Đạo Phật là cảnh giới có thật, không phải là một "thế giới do tưởng tượng", do gởi gắm tâm hồn mình nơi một "cõi nước" nào đó, hoặc gần hoặc xa. Đó là điều khó thứ nhất.

Đọc, học kinh Niết Bàn cần có sự đầu tư nhiều về tư duy, bồi dưỡng phát huy trí tuệ, thường củng cố định tâm, tinh tấn vận dụng quán chiếu trong cuộc sống bình nhật. Đó là nhân tố, là điều kiện để thấy Niết bàn và nhập Niết bàn. Đó là cái khó thứ hai.

Đọc, học và chứng nhập Niết Bàn, nhìn hiện tượng vạn pháp, nhận thức vũ trụ nhân sinh không còn giống như cái nhìn, cái nhận thức của chính họ ở thời gian trước đó. Giáo lý mà Phật dạy cho họ thời gian trước, họ thấy không phải mà còn ngược lại hoàn toàn. Đó là cái khó thứ ba.

Đọc, học và chứng nhập Niết Bàn, hành giả sẽ sáng tỏ đôi mắt, rửa sạch được bụi bặm rớt trong đôi mắt từ bấy lâu nay. Hành giả biết rõ Phật thường trụ, Pháp thường trụ, Tăng thường trụ. Phật không phải chết như Đức Thích Ca đã từng chết ở rừng Ta La song thọ như mọi người vẫn thường nghĩ. Đó là cái khó thứ tư.

Đọc, học kinh Niết Bàn, người đệ tử Phật phải học, hiểu về PHÁP THÂN PHẬT. Trụ chấp ỨNG HÓA THÂN PHẬT, thì không nên nghe, đọc, học kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN. Vì có học cũng không hiểu. Hiểu sai lạc sanh tâm bất mãn bất bình thì lại mắc cái tội phỉ báng chánh pháp Đại thừa, thiệt thòi, lỗ lã hơn nhiều. Đó là cái khó thứ năm.

Đọc, học kinh Niết Bàn và nhập Niết bàn, hành giả thấy rõ tất cả mọi người đều có khả năng thành Phật, mọi người sẽ được thành Phật. Kể cả những người mà người đời cho là bất nhân thất đức, tạo nhiều tội ác nặng nề. Đó là cái khó thứ sáu.

Đọc, học kinh Niết Bàn có những cái khó như thế, người đọc, học, nghe kinh Niết bàn cần kiên trì, nhẫn nại, phấn đấu tư duy, nhận thức để vượt qua !

Tôi soạn bộ kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN này, dựa trên bản dịch của Hòa Thượng GIÁO THỌ SƯ của tôi, Thượng TRÍ hạ TỊNH, vị ân sư đã đào tạo, uốn nắn, dạy dỗ tôi từ hơn 50 năm trước. Bản dịch của Hòa Thượng được tái bản nhiều lần, lưu truyền khắp nước Việt Nam. Các tòng lâm tự viện đều có tôn thờ và thọ trì đọc tụng. Lần tái bản năm 1991 do Thành hội Phật Giáo Thành phố Hồ Chí Minh xuất bản, có lẽ là lần tái bản gần đây nhất.

Soạn bộ kinh này tôi lấy tên ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG. Nó được xem là một giáo tài hay một giáo án để tôi triển khai cho những hàng hậu học đang học các lớp CAO ĐẲNG NỘI MINH, cho những ai có chí hướng thượng Đại Thừa và các Phật tử tại gia có cùng chí hướng.

Ý nguyện, thiện chí của tôi là như thế, nhưng cho đến bây giờ, việc làm này tôi hứa với lòng và gởi đến những ai được đọc bộ giáo tài này, rằng: tôi làm đến đâu, biết đến đó. Có hoàn thành trọn bộ và như ý hay không, tôi xin khất, không dám hứa.

Hiện nay, mùa thu năm Canh Thìn, tháng 9 năm 2000, tuổi đời của tôi đã vượt quá "Cổ lai hy". Đó là cái lý do tôi không dám hứa và cũng là lý do để tôi xin được các bậc cao minh lượng tình xá cho những gì sơ suất nếu có trong tác phẩm này.

Để kết thúc lời tiểu dẫn, chúng ta cùng ôn lại nguồn tư tưởng trác tuyệt Đại thừa của bậc long tượng tiền bối.

"Thân tại hải trung hưu mích thủy,
Nhật hành lãnh thượng mạc tầm sơn"

Dịch nghĩa:

"Lội trong nước chớ ngây thơ tìm nước
Đi trên non đừng phí sức tìm non"


Viết tại Thao Hối Am
Mùa thu, năm Canh Thìn, tháng 9 năm 2000
Phật lịch 2544
Thích Từ Thông Hòa Thượng


 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên)

* 7 cách lập đề kinh.

Thông thường, kinh điển Phật giáo có 7 cách để lập đề kinh. Đó là:

1. Đơn nhơn: Là lấy tên 1 vị Phật, hoặc Bồ tát nào đó, để làm đề kinh. Ví dụ kinh A Di Đà.

2. Đơn dụ : Lấy 1 dụ, để làm đề kinh. Ví dụ : như Kinh Phạm Võng lấy dụ là Phạm võng (lưới trời)

3. Pháp dụ: Lấy Pháp và Dụ để làm đề kinh. Ví dụ : Như kinh kim cang bát nhã Ba la mật. Bát Nhã là Pháp và Kim cang là Dụ.

4. Nhơn pháp: Lấy nhân và Pháp để làm đề kinh. Ví dụ : Kinh Văn Thù vấn Bát Nhã kinh.

5. Nhơn dụ : Lấy nhân và Dụ để làm đề kinh. Ví dụ : Như lai sư tử hống kinh.

6. Nhơn pháp dụ (tên người và pháp): ĐẠI PHẬT ĐẢNH, NHƯ LAI MẬT NHÂN, TU CHỨNG LIỄU NGHĨA, CHƯ BỒ TÁT VẠN HẠNH, THỦ LĂNG NGHIÊM KINH.

7. Đơn pháp: Lấy 1 pháp để làm đề kinh. Ở đây là Kinh Niết Bàn, lấy pháp Niết Bàn làm đề kinh.


(Trích từ Bài giảng kinh Niết Bàn 02)
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên). Tiểu dẫn

* Tam Đức Niết Bàn.

Niết Bàn là một thuật ngữ Phật học. Nó mang nhiều ý nghĩa, nhưng tựu chung có 3 nghĩa chánh, còn gọi là Tam Đức:

* Giải thoát đức, còn gọi là Đoạn Đức.

* Bát Nhã Đức, còn gọi là Trí Đức.

* Pháp Thân Đức, còn gọi là Ân Đức.

1/. Giải Thoát đức, còn gọi là Đoạn Đức. Là giải thoát khỏi ngã chấp. Là một đức tánh của một vị A la Hán, hoàn toàn đoạn dứt tham, sân, si, đoạn dứt sanh tử ưu bi khổ não.- Đây là Diệt Đế, quả của Đạo đế, vị này "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lại đời này nữa".

2/. Bát Nhã Đức, còn gọi là Trí Đức. Đây là sự chứng ngộ, thể nhập Tịch Diệt Vô vi, đã thấy được thật tướng các pháp là Tánh không, đã tương ưng hoàn toàn Bát Nhã Ba la mật.

3/. Pháp Thân Đức, còn gọi là Ân Đức. Là đã thể nhập Tự Tánh thanh tịnh, bất sanh, bất diệt, Chơn như tịch diệt, trùm khắp pháp giới.- Đây là Pháp Thân tỳ lô giá Na. Vì Pháp Thân trùm khắp pháp giới, nên hằng làm lợi lạc chúng sanh mà không cần làm gì cả.

Bất cứ vị Phật nào cũng đủ cả 3 đức này, mới được gọi là Như Lai Thế Tôn, có đủ 10 hiệu, được Đại niết Bàn.


 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên). Tiểu dẫn

* Niết Bàn- Bất khả tư nghì.

Niến Bàn không phải do ai cho mà được, không phải do lạy lục van xin mà có, không phải do năn nỉ liên tục mà thành ...

Niết Bàn không thể tìm thấy ở trong bất cứ không gian nào, dù là Đông, Tây, Nam, Bắc, không ở bất cứ thời gian nào, dù là quá khứ, hiện tại, vị lai v.v... nhưng không ở đâu, không lúc nào là không có Niết Bàn.

Bởi vì:" Niết bàn là cảnh giới sở chứng ở nội tâm của con người dứt hết phiền não, dứt hết sinh tử, viễn ly các tướng, viễn ly các hành, an trú tâm thanh tịnh, vắng lặng và vắng lặng một cách trọn vẹn, tận cùng trọn vẹn. '

Nếu có thể so sánh Niết Bàn và các cảnh giới tịnh Độ trong các kinh điển Đại thừa. Thì Niết Bàn tợ như kinh Duy Ma Cật, nói: " Tùy kỳ tâm tịnh tức Phật độ tịnh", hay như Tịnh Độ tông nói Tự tánh Di Đà, duy tâm tịnh Độ. Nghĩa là muốn thấy, muốn có Niết Bàn, thì phải tu tập, phải trao dồi 3 đức :

* Giải thoát đức, còn gọi là Đoạn Đức.

* Bát Nhã Đức, còn gọi là Trí Đức.

* Pháp Thân Đức, còn gọi là Ân Đức.

3 Đức này tương hổ cho nhau. Có trí huệ, thì tất cả 3 nghiệp do trí huệ hành, nên đoạn dứt được vô minh, tham, sân, si. Do đoạn dứt được vô minh, tham, sân, si nên thể nhập pháp thân làm lợi lạc cho chúng sanh mà được giải thóat an lạc Niết Bàn hoàn toàn. vì Ngã là Vô ngã, chúng sanh là vô chúng sanh.

Cổ đức nói:

"Thân tại hải trung hưu mích thủy,
Nhật hành lãnh thượng mạc tầm sơn"


Dịch nghĩa:

"Lội trong nước chớ ngây thơ tìm nước
Đi trên non đừng phí sức tìm non"
 
Chỉnh sửa cuối:

trừng hải

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
30 Tháng 7 2013
Bài viết
973
Reaction score
480
Điểm
63
Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên). Tiểu dẫn

* Niết Bàn- Bất khả tư nghì.

[/COLOR]
Kính Thầy Viên Quang

Bởi vì Bát Niết Bàn là do thành tựu ba đức như Thầy liệt kê là Đoạn đức, Trí đức và Ân đức trong Đoạn đức, Trí đức thì do công phu tu học, tu hành nhưng Ân đức vốn viên mãn tròn đầy Thường, Lạc, Ngã, Tịnh chính là pháp thân Phật Tỳ lô giá na nên có thể nói ai là người có Tín Tâm thì có thể "y lý tuyên ngôn" Niết Bàn là CÓ.

Kính, trừng hải
 
Last edited by a moderator:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên). Tiểu dẫn

* Niết Bàn- Bất khả tư nghì.(tt)

Kính Thầy Viên Quang

Bởi vì Bát Niết Bàn là do thành tựu ba đức như Thầy liệt kê là Đoạn đức, Trí đức và Ân đức trong Đoạn đức, Trí đức thì do công phu tu học, tu hành nhưng Ân đức vốn viên mãn tròn đầy Thường, Lạc, Ngã, Tịnh chính là pháp thân Phật Tỳ lô giá na nên có thể nói ai là người có Tín Tâm thì có thể "y lý tuyên ngôn" Niết Bàn là CÓ.

Kính, trừng hải
Kính Bác Trừng Hải.

HT Thích Từ Thông nói:

Đọc, học kinh Niết Bàn và tu tập theo kinh Niết bàn hành giả sẽ nhận thức rõ, Niết bàn của Đạo Phật là cảnh giới có thật, không phải là một "thế giới do tưởng tượng", do gởi gắm tâm hồn mình nơi một "cõi nước" nào đó, hoặc gần hoặc xa. Đó là điều khó thứ nhất.
Như vậy rõ Niết Bàn là CÓ.

Nhưng Niết Bàn không thể tìm thấy ở trong bất cứ không gian nào, dù là Đông, Tây, Nam, Bắc, không ở bất cứ thời gian nào, dù là quá khứ, hiện tại, vị lai v.v.... Nên Biết Bàn cũng là KHÔNG CÓ.

Niết Bàn chỉ có với những ai cảm nhận được Tam Đức:

* Giải thoát đức, còn gọi là Đoạn Đức.

* Bát Nhã Đức, còn gọi là Trí Đức.

* Pháp Thân Đức, còn gọi là Ân Đức.

Nhưng Niết Bàn cũng là Không có đối với những ai còn trú ở tri thức thế gian.

Kính bạn nguyenjobvn.

Mô Phật,

Trí đức của Niết Bàn, do "công phu tu học" mà thành ! Đệ tử ngu si không rõ, khi chưa tu tập thì Trí đức này ở đâu ? Là chưa có chăng ?

Kính Ngài chỉ giáo !

Nam mô Bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Kính Bạn, khi chưa tu tập thì Trí Đức ở tại Vô minh. Đây là do nghiệp biến hoá.

Muốn ở Vô minh mà lại được Trí Đức, thì phải dùng các pháp Thanh Văn biến hoá, Bích Chi Phật biến hoá, bồ Tát biến hoá v.v... thì lại được Trí Đức. (Thần thông, biến hoá là đó)

 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên) Phẩm tựa 1.

ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG
Pháp Sư Thích Từ Thông​

Phẩm TỰA. 1.

Ông A Nan thuật:

Một hôm nọ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trụ ở rừng Ta La song thọ, cùng với số chúng Đại Tỳ kheo đông hằng trăm ức người.

Bấy giờ nhằm ngày rằm tháng hai, Đức Phật phổ cáo trước Đại chúng rằng: Như Lai Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là chỗ nương tựa an ổn cho chúng sanh. Như Lai có lòng từ lớn, xem tất cả chúng sanh như La Hầu La. Hôm nay, Như Lai sắp nhập Đại Niết bàn, trong Đại chúng còn có điều gì nghi ngờ chưa rõ thì nên thưa hỏi. Đây là khoảng thời gian còn lại cuối cùng, giờ phút nhập Đại Niết bàn của Như Lai không còn lâu.

Lời tuyên bố của Đức Phật đã loan truyền nhanh chóng khắp cả trời người. Do sức thần, ánh sáng của Phật soi chiếu khắp các cõi lục phàm, tứ thánh. Tất cả thế giới chư Phật trong mười phương đều được tiếp xúc với ánh sáng và chứng biết là Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sắp nhập Đại Niết Bàn. Tất cả có cùng một tâm trạng bàng hoàng, xúc động, tiếc thương.

Thế gian trống rỗng !
Thế gian trống rỗng !
Mặt trời sắp tắt !
Thế gian không còn ánh sáng !

Hàng người trời tự nhủ: Chúng ta nén cơn xúc động, mau đến thành Câu Thi Na, rừng Ta La Song Thọ, đảnh lễ cầu xin Đức Phật trụ thế thêm một thời gian..

Hàng hàng lớp lớp người, cùng tâm trạng kính quí và tiếc thương, sắm sửa lễ vật trân tu thượng vị, tốt đẹp báu mầu, đem đến chỗ Phật, thành tâm đảnh lễ dưới chân Phật, tác bạch cúng dường Phật và chúng tăng. Ai ai cũng mong Phật thọ nhận phẩm vật cúng dường của mình, trước giờ Như Lai nhập Đại Niết bàn.

Đoàn một, Đại Tỳ kheo Tăng, Đại Tỳ kheo Tăng tính trên trăm vạn người, đều là bậc Vô lậu A La Hán. Đứng đầu là Tôn giả Ma Ha Ca Chiên Diên, Tôn giả Bạc Câu La...Đây là những bậc A La Hớn trồng sâu gốc rễ Đại thừa, thành tựu Không tuệ. Các ngài đến cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu trăm ngàn vòng, rồi chắp tay cung kính ngồi qua một bên.

Đoàn hai, Tỳ kheo Ni. Đoàn Tỳ kheo Ni sáu trăm ức người đều là bậc Đại A La Hán. Đứng đầu là Thiện Hiền Tỳ kheo Ni, Ưu Bà Nan Đà Tỳ kheo Ni.v.v...Họ là những bậc điều phục các căn thanh tịnh, có oai đức lớn, thành tựu Không tuệ, nội bí Bồ tát, ngoại hiện Thanh văn tướng. Tất cả đều cúi đầu đảnh lễ dưới chân Phật, đi nhiễu trăm ngàn vòng, cung kính chắp tay ngồi qua một phía.

Đoàn ba, Đại Bồ tát. Thành viên đoàn Đại Bồ tát đông một hằng sa. Địa vị các Ngài ở vào Thập địa, thường an trú hạnh Không tịch của Đại thừa, giữ gìn bảo hộ và phát triển Đại thừa. Đứng đầu là Hải Đức Bồ tát, Vô Tận Ý Bồ tát.v.v..Chư Bồ tát đồng đến chỗ Phật cúi đầu đảnh lễ, vấn an, nhiễu Phật trăm ngàn vòng, rồi cung kính lui ngồi qua một phía.

Đoàn bốn, Ưu Bà tắc. Thành viên của đoàn đông hai hằng sa. Họ là những vị toàn phần Ưu bà tắc, thọ trì ngũ giới không sứt mẻ, đầy đủ oai nghi, kiến giải sâu rộng. Thường tư duy quán chiếu chánh pháp, thâm nhập Đại thừa. Đứng đầu là Oai Đức Ưu Bà tắc, Thiện Đức Ưu Bà tắc v.v...Nghĩ đến việc trà tỳ nhục thân của đức Phật, họ sắm sửa nhiều thứ: các thứ gỗ thơm, hương hoa, tàng lọng, xe cộ mỗi mỗi trần thiết cực kỳ đẹp đẽ sang trọng. Họ cũng sắm nhiều đồ ăn thức uống thượng vị hầu cúng dường Phật và chúng Tăng. Đến chỗ Phật cùng nhau một lòng thành kính tác bạch cúng dường. Chưa phải thời đức Như Lai không hứa nhận. Các vị buồn bã, chấp tay cung kính, lui ngồi qua một phía.

Đoàn năm, Ưu Bà Di. Thành viên của đoàn, ba hằng sa người. Họ là những người nữ thọ trì toàn phần ngũ giới, oai nghi đầy đủ, siêng tu chánh pháp. Đứng đầu gương mẫu có tám vạn bốn ngàn người như Thọ Đức Ưu Bà Di, Đức Mãn Ưu Bà Di v.v...Chúng Ưu Bà Di này thường quán chiếu tự thân, nhận thức được tánh chất tạm bợ mong manh và bất tịnh của tự thân. Sâu sắc chứng ngộ chân lý vô thường, vô ngã, bất tịnh và khổ của cuộc sống. Họ có quyết tâm viễn ly trần cấu, cầu chứng đắc Vô thượng Bồ đề. Nay các bà sắm sửa rất nhiều phẩm vật, đồ ăn thức uống thượng vị đem dâng cúng Phật và chúng tăng. Đến chỗ Phật đồng kính lễ dưới chân Phật, tác bạch cúng dường. Chưa phải thời, Như Lai không hứa nhận. Tất cả buồn bã, chấp tay cung kính nhiễu Phật trăm ngàn vòng rồi lui ngồi qua một phía.

Đoàn sáu, Dòng Ly Xa. Thành Tỳ Ly và quyến thuộc, các Quốc vương lân cận, quần thần và quyến thuộc. Thành viên các đoàn này đông không kể xiết, họ là những người hộ trì chánh pháp Đại thừa và kính mộ Đại thừa. Đứng đầu trong nhóm Ly Xa Tử là Tịnh Vô Cấu Ly Xa Tử, Tịnh Bất Phóng Dật Ly Xa Tử v.v....

Các Quốc vương và nhóm dòng Ly Xa, vì muốn cúng dường cho dịp lễ trà tỳ nhục thân của đức Phật, họ sắm sửa nhiều thứ gỗ thơm, dầu thơm, hoa đẹp, tràng phan, lọng báu, lụa là, vải vóc, trang hoàng nhiều thớt xe voi, xe tứ mã lộng lẫy cực kỳ. Họ chở trên xe các thức ăn, nước uống tinh khiết, thượng vị đem đến chỗ Phật và tăng chúng. Chưa phải thời, đức Phật không hứa nhận. Mọi người buồn bã, lui ngồi một phía. Nhờ sức thần Phật, bỗng nhiên mọi người bay lên cao, cách đất bảy cây Ta La, ai nấy im lặng mà trụ giữa hư không.

Đoàn bảy, Đại thần và Trưởng giả. Thành phần Đại thần, Trưởng giả đông không kể xiết. Đây là những người ham mộ Đại thừa, họ dẹp bỏ những tà giáo dị học, đứng đầu là Nhật Quang Trưởng giả, Hộ pháp Trưởng giả v.v...Họ sắm sửa vô số lễ vật, trân tu thượng vị để dâng cúng Phật và chúng tăng. Đến chỗ Phật, tác bạch cúng dường. Chưa phải thời, đức Phật không hứa nhận. Mọi người đều buồn bã. Do nhờ sức thần Phật họ bay lên cao cách bảy cây Ta La. Tất cả đều lẳng lặng mà trụ giữa hư không.

Đoàn tám, Thiên nữ. Thành viên Thiên nữ số đông cũng không sao kể xiết. Đứng đầu là Tứ Thiên Vương Thiên nữ. Vô số Long vương. Đứng đầu là Bạc Nan Đà Long vương. Vô số Dạ Xoa vương. Vô số Càn Thát Bà vương. Vô số Khẩn Na La vương. Mỗi mỗi đoàn đều có Thượng thủ lãnh đạo. Họ sắm sửa lễ vật nhiều vô số đem nhau đến chỗ Phật cung kính tác bạch cúng dường. Chưa phải thời, đức Phật không hứa nhận. Tất cả buồn bã, chấp tay cung kính lui ngồi qua một phía.

Đoàn chín, Thiên tử và Thiên vương. Thiên tử và Thiên vương số thành viên đông không kể xiết. Đứng đầu là Tứ Thiên vương. Tháp tùng đoàn Thiên tử, Thiên vương còn có vô số Long vương......vô số Càn Thát Bà vương, A Tu La vương....Ca Lâu La vương...với hàng thượng thủ của các đoàn. Tất cả có cùng một nguyện vọng, dâng cúng Phật một bữa ăn trước khi đức Phật nhập Đại Niết bàn. Họ sắm sửa toàn những thức ăn , thức uống tối hảo thượng vị đem đến rừng Ta La song thọ, cung kính nhiễu Phật trăm ngàn vòng, rồi tác bạch cúng dường lên Phật và toàn thể chúng tăng. Chưa phải thời, đức Phật không hứa nhận. Mọi người không toại nguyện, buồn bã, lui ngồi qua một phía cung kính chắp tay.

Đoàn mười, Vô Biên Thân Bồ Tát từ thế giới Ý Lạc Mỹ Âm ở phương Đông. Đây là đoàn đại biểu Phật giáo quốc tế hải ngoại. Các Bồ tát này phải di chuyển một lộ trình xa xôi: cách đây vô lượng, vô số A tăng kỳ hằng hà sa vi trần thế giới (đại khái là: tỉ tỉ năm ánh sáng cũng chưa sánh được với đường xa của con số nói trên). Đó là thế giới của đức Hư Không Đẳng Như Lai.

Hư Không Đẳng Như Lai biết đức Phật Thích Ca Mâu Ni sắp nhập Niết bàn bèn sai đệ tử thượng túc của mình đến Ta Bà thế giới phương Tây cúng dường lễ bái Phật Thích Ca. Vô Biên Thân Bồ tát cũng như đoàn Bồ tát tùy tùng, còn có điều chi chưa thỏa mãn trên đường tu học Bồ tát đạo nhơn cơ hội này thưa hỏi, đức Phật Thích Ca sẽ giải thích cho. Các Bồ tát lãnh ý chỉ ra đi....

Các thế giới đoàn Bồ tát đi qua cũng như thế giới Ta Bà đoàn Bồ tát sắp đến bỗng nhiên rực rỡ hào quang. Núi sông, đất liền, cỏ cây, hoa lá đều chuyển thành màu sắc tươi mát đẹp đẽ chưa từng có. Duy có hàng trời người tự thấy mình như mất hết uy đức và hào quang.

Đại chúng có số giao động và run sợ. Biết rõ tâm niệm ấy, Bồ tát Đại Trí Văn Thù trấn an: Đại chúng đừng lo sợ, đấy là điềm báo trước đoàn Bồ tát ở thế giới Ý Lạc Mỹ Âm, đứng đầu Bồ tát Vô Biên Thân sắp đến thế giới Ta Bà này để ra mắt Như Lai và cúng dường trước khi Thích Ca Mâu Ni ĐẠI BÁT NIẾT BÀN.

Đến trước Phật, đoàn Bồ tát hải ngoại bạch với Như Lai, nói lời vấn an thăm hỏi Thích Ca Mâu Ni Như Lai. Bấy giờ Vô Biên Thân Bồ tát dâng phẩm vật cúng dường. Chưa phải thời, đức Phật không hứa nhận. Các Bồ tát cung kính ngồi sang một phía.

Toàn thể hải hội do sức thần Phật, đại chúng đồng xem thấy thế giới chư Phật ở phương Nam, phương Tây và phương Bắc. Lại thấy thế giới chư Phật ở Đông Nam, Tây Nam, Đông Bắc và Tây Bắc. Thế giới chư Phật ở thượng phương và hạ phương. Mười phương thế giới hợp thành một thế giới. Mỗi thế giới chư Phật có một Vô Biên Thân Bồ tát làm thượng thủ. Lần lượt các đoàn Bồ tát đến rừng Ta La Song Thọ cúi đầu làm lễ ra mắt, vấn an Như Lai, dâng phẩm vật, tác bạch cúng dường Phật và đại chúng. Chưa phải thời, đức Như Lai không hứa nhận. Liệt vị Bồ tát cung kính ngồi qua một phía.

Bấy giờ từ diện Phật phát ra ánh sáng (hào quang theo nghĩa quen gọi). Giây phút ánh sáng lại thu vào miệng Phật. Nhiều người cùng cho đó là điềm Như Lai Thế Tôn sắp nhập Niết bàn, tiếng sùi sụt, tiếng than khóc thì thào: Khổ thay ! Đau thương thay ! Sao đức Thế Tôn rời bỏ bốn tâm vô lượng, không nhận sự cúng dường của trời người ! Ôi ! Mặt trời tuệ từ đây tắt mất. Thuyền chánh pháp nay lại sắp chìm. Thế gian trống rỗng ! Khổ thay ! Khổ thay !


TRỰC CHỈ

* NHƯ LAI ĐẠI NIẾT BÀN, một sự kiện tối quan trọng về mặt tư tưởng và giáo lý của đạo Phật.

PHẬT THÍCH CA MÂU NI nhập ĐẠI NIẾT BÀN, không ai được hiểu ý nghĩa đó một cách đơn giản giống như là: "Đức Phật Thích Ca chết".

Cái từ NHƯ LAI ở vào thời điểm sắp nhập Đại Niết Bàn này, không được hiểu qua hình tướng một ông Phật có đi, đứng, nằm, ngồi, nói, nín, động, tĩnh như mọi người bình thường nghĩ, mà phải hiểu là: NHƯ LAI PHÁP THÂN. Kinh Kim Cang Bát Nhã định nghĩa: "Như Lai giả, vô sở tùng lai, diệc vô sở khứ", NHƯ LAI là bản thể CHÂN NHƯ của vạn pháp, NHƯ LAI hiện hữu không có mối khởi đầu, không có điểm chấm dứt.

Kinh gọi là PHÁP THÂN TỲ LÔ GIÁ NA PHẬT, đó là: "Phật pháp thân, biến nhất thiết xứ".

* ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, Trung hoa dịch: ĐẠI NHẬP DIỆT TỨC. "Diệt" là dứt sạch hết vô minh trong cửu giới. "Tức" là viễn ly vọng tưởng điên đảo của lục đạo tứ sanh. ĐẠI NHẬP DIỆT TỨC có nghĩa là: Đi vào cảnh giới "tịch diệt" vĩnh hằng vĩ đại. Nói cách khác, trở về cảnh giới "đại tịch diệt", "cứu cánh thanh tịnh".

Hiện tượng bong bóng, bọt hòa tan về bản thể nước của nó, không ai nói bong bóng, bọt đã mất. NHƯ LAI đi vào cảnh giới "đại tịch diệt CHƠN NHƯ", thì cũng không ai được hiểu rằng "Đức NHƯ LAI đã chết".

Phàm phu mà tu tập, năng quán chiếu, tư duy chánh pháp cũng nhập được Niết bàn nhưng chỉ có vài phút giây ngắn ngủi.

Đại A La Hán, thường được nhập Niết bàn ngay trong bình nhật cuộc sống.

Đại Bồ tát và Phật thì luôn luôn an trú trong Niết bàn.

ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, dành riêng cho NHƯ LAI THẾ TÔN đề cập khi chấm dứt cuộc hành trình hóa độ chúng sanh.

"Tỳ Gia thành lý bất tằng sanh
Ta La thọ gian bất tằng diệt..."

* Một sai lầm lớn lao có dụng ý. Đọc phẩm TỰA kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN, ta thấy mười đoàn thể gồm hết "tứ thánh" và "lục phàm". Đoàn thể nào đến viếng thăm cũng áo não, khóc than, buồn khổ. Dâng cúng thức ăn, món uống đến Như Lai cũng với vẻ buồn khổ, áo não, khóc than. Họ tưởng chừng sự kiện nhập Đại Niết bàn của Như Lai, giống hoàn cảnh và tâm trạng của phàm phu: Một lần ra đi là một lần vĩnh viễn chia ly....vậy.

Sự sai lầm đó, là lý do đức Phật không thọ nhận tài vật, thực phẩm cúng dường.

Sự sai lầm đó, khiến ta cắt nghĩa không khó khăn: Rằng tại sao mười đoàn thể khó nhọc, xa xôi mang quà, chở phẩm vật đến cúng dâng Phật mà Phật không thọ nhận của ai hết, chỉ vì "CHƯA PHẢI THỜI".

"CHƯA PHẢI THỜI" cũng có nghĩa: đại chúng chưa hiểu NHƯ LAI. Chưa hiểu Như Lai nên Như Lai chưa hứa nhận.

Như Lai nhập Niết bàn, nào phải Như Lai chết chóc gì đâu !

"Ta La thọ gian bất tằng diệt..."

Từ vô số kiếp đến nay, thực sự Như Lai không có đói khát, Như Lai chẳng có uống ăn.

"Tỳ Gia thành lý bất tằng sanh !"

Sự kiện Thích Ca Mâu Ni nhập Niết bàn là sự kiện tương quan đến mười phương thế giới. Nói cách khác: Sự kiện mười phương thế giới tương quan trách nhiệm chung. Số đại biểu các phái đoàn đông vô lượng, vô số bất khả thuyết hằng sa vi trần thế giới...không phải riêng người của nước Ấn độ, của thành Tỳ Gia Ly thời xưa.

Giáo lý: PHÁP GIỚI BẤT NHỊ (pháp giới trong mười phương cùng chung một bản thể, không hai) của đạo Phật, giải thích rất dễ hiểu bởi sự kiện này.

* NHƯ LAI ĐẠI NIẾT BÀN là việc hiểu, thấy, biết và hành động của người Đại thừa. Người không có chủng tánh Đại thừa thì dù ở kế cận rừng Ta La Song Thọ cũng chưa hẳn họ có tương quan đừng nói chi đến việc cung kính cúng dường tôn trọng. Cho nên không lấy làm lạ, tất cả đoàn với số đông như vậy mà đoàn nào cũng toàn là người phát tâm Đại thừa, tu tập Đại thừa và bảo hộ Đại thừa. Rõ là: thầy sao trò vậy !

Tuy vậy, người trí cũng không chủ quan, không lạc quan với số người Đại thừa đông đảo ấy. Người trí hiểu rõ ngày rằm tháng hai, NHƯ LAI ĐẠI NIẾT BÀN. Còn số người ở nhà không hay không biết và chưa hề nghe NHƯ LAI, PHẬT là ai ? Số người ấy còn đông đảo hơn số mười đoàn đại biểu đến viếng Phật.

* ...TÙNG THỊ TÂY PHƯƠNG QUÁ THẬP VẠN ỨC PHẬT ĐỘ HỮU THẾ GIỚI DANH VIẾT CỰC LẠC, KỲ ĐỘ HỮU PHẬT HIỆU A DI ĐÀ KIM HIỆN TẠI THUYẾT PHÁP..."

Trong kinh A Di Đà, Phật Thích Ca dạy Xá Lợi Phật:...Từ đây (cõi Ta bà) đi qua HƯỚNG TÂY, trải mười muôn thế giới Phật, có một thế giới tên CỰC LẠC. Đức giáo chủ là Phật A Di Đà, đang thuyết pháp hiện nay...

Do lời dạy đó người ta hiểu thế giới Ta bà ở vào hướng Đông. Không sai.

Đúng chân lý, vấn đề Đông Tây không có chuẩn nhất định. Tây phương Ta bà Giáo chủ Thích Ca Mâu Ni. Không sai.

Thế giới Ý Lạc Mỹ Âm ở phương Đông, Bồ tát Vô Biên Thân đến, thế giới Ta bà thành Tây phương. Không sai.

Nhận thức về vũ trụ, thế giới của đức Phật Thích Ca hai mươi lăm thế kỷ trước: "Hằng hà sa số..." cho đến ngày nay, sau hai mươi lăm thế kỷ, khoa học thiên văn tìm hiểu và xác định những điều mà đức Phật đã xác định từ xưa.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên). Tiểu dẫn

* Pháp Thân Phật Bất sanh diệt.

Giờ phút linh thiêng

Gió lặng chim ngừng

Trái đất rung động bảy lần

Khi bất diệt đi ngang dòng sinh diệt

Bàn tay chuyển Pháp

Trong hương đêm tinh khiết

Ấn cát tường nở trắng một bông hoa

Thế giới ba ngàn đồng thanh ca ngợi Văn Phật Thích Ca


(Đêm nguyện cầu. HT Thích Nhất Hạnh)


Kính các Bạn. Lời tiểu dẫn. HT. Thích Từ thông có đoạn:

Đọc, học và chứng nhập Niết Bàn, hành giả sẽ sáng tỏ đôi mắt, rửa sạch được bụi bặm rớt trong đôi mắt từ bấy lâu nay. Hành giả biết rõ Phật thường trụ, Pháp thường trụ, Tăng thường trụ. Phật không phải chết như Đức Thích Ca đã từng chết ở rừng Ta La song thọ như mọi người vẫn thường nghĩ. Đó là cái khó thứ tư.

Đọc, học kinh Niết Bàn, người đệ tử Phật phải học, hiểu về PHÁP THÂN PHẬT. Trụ chấp ỨNG HÓA THÂN PHẬT, thì không nên nghe, đọc, học kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN. Vì có học cũng không hiểu. Hiểu sai lạc sanh tâm bất mãn bất bình thì lại mắc cái tội phỉ báng chánh pháp Đại thừa, thiệt thòi, lỗ lã hơn nhiều. Đó là cái khó thứ năm.
Vậy chúng ta nên hiểu:

* Hoá Thân Phật huyễn hiện ra sao ?

* Pháp Thân Phật Bất diệt như thế nào ?

Mời Các Bạn cùng thảo luận.


Xin cảm ơn các Bạn, tham gia thảo luận.

Ầy, theo con thì Pháp thân giống cái đèn pin.

Ánh sáng từ đèn phát ra nhờ có cục pin bên trong. Thế thì cho cục pin là trí huệ đi.

Có thân có huệ rồi thì trí huệ bao nhiêu sẽ tính theo lượng pin còn ít hay nhiều.

Chiếu ra ánh sáng tuỳ theo đối tượng chiếu vào mà hiện hình khác nhau.

Hình này chắc là hoá thân rồi. Hề hề

Mộ Phần.
Vâng. Đúng như lời các bạn nói: Pháp thân giống như đèn pin, hoá thân giống như cái bóng ảo hiện.

Vâng. Phật cũng như đèn, hoá Phật như cái bóng. Chúng ta cũng vậy mà thôi Chân tâm giống như đèn, huyễn thân như chiếc bóng.

Thế thì :

* Hoá thân là cái bóng của ta và cái bóng Phật cũng là giả hợp do 5 uẩn kết thành, nên cũng có sanh, già, bệnh, chết.

* Pháp thân thì thường trụ bất sanh ,bất diệt.

Nếu ai không biết được điều này, mà chỉ trụ chấp vào hoá thân của Phật là Thái tử Tất Đạt Đa, sanh ra, có vợ, có con, đi tu, thành Phật, rồi Chết..., mà không biết đến Pháp thân Phật là bất sanh, bất diệt, thì xem kinh này chỉ sanh thêm phỉ báng, mà không có ít lợi gì.- Vì đây là Kinh Điển Đại Thừa Phật giáo.- Đó là cái khó mà HT muốn nói.


Kính
 

Vấn Đạo

Member
Tham gia ngày
25 Tháng 3 2015
Bài viết
115
Reaction score
15
Điểm
18
Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên) Phẩm tựa 1.

* Vấn đề số chúng ở rừng Ta la.

Kính quý Thầy và quý Đạo hữu.

Khi đọc đoạn tựa kinh ĐẠI BÁT NIẾT BÀN ở trên. Vấn Đạo thấy có một số điểm rất là khó hiểu, nếu gượng ép tri thức, thì lại thấy ra một màu huyễn hoặc, siêu nhiên...

Như đoạn kinh nêu:

Một hôm nọ, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trụ ở rừng Ta La song thọ, cùng với số chúng Đại Tỳ kheo đông hằng trăm ức người....
và hơn 10 đoàn người, mỗi đoàn nhiều như số các sông Hằng... đều đến rừng Ta La để gặp Phật...
* Theo như sự tính toán số lượng. thì:"Một ức" bằng "mười vạn" chính là "100 ngàn" X 100 = 10.000 Tỳ kheo

* 10 đoàn người, mỗi đoàn số lượng như số các sông Hằng. như vậy ước lượng khoảng mỗi đoàn là > 1 tỷ người X 10 = 10 tỷ + 10.000 như vậy là hơn 10 tỷ người !

Theo ghi chép về Địa lý: Ấn Độ chỉ có trên 1,2 tỷ người.

* Như vậy thời đó tất cả người dân Ấn Độ có rủ nhau kéo đến, thì cũng không đáp ứng được con số này ?

* Cho rằng là chỉ được 1/10 là 1 tỷ người ! Thì làm sao đứng được ở khu rừng Ta La nhỏ bé ?

Kính các vị. Việc này phải lý giải như thế nào ?

Xin từ bi chỉ giáo...

Kính.
 
Last edited by a moderator:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên) Phẩm tựa 1.

* Cách sử dụng ngôn ngữ trong kinh điển PG.

Thế gian tất đàn.

Kính các bạn.

Trong các nền văn học cổ kim; sử dụng ngôn ngữ là cả một nghệ thuật.

Người ta có thể biến hoá ra nhiều cách sử dụng ngôn từ. Có những cách như:

+ Nói ngoa ngữ
. Ví dụ như nói:

Răng đen hạt nhót,chân đi cù lèo
Tóc rễ tre,chải lược bồ cào
Xù xì da cóc,hắc lào tứ tung
Trên đầu chấy rận như sung
Rốn lồi quả quýt,má hồng trôn niêu
Cô tưởng mình là cô mỹ miều
Chồng con chả lấy,để liều thân ru ?
Hai nách như ổ chuột chù
Mắt thì dán nhấm,lại gù lưng tôm.
Trứng rận bằng quả nhãn lồng,
Miệng cười tủm tỉm như sông Ngân Hà.
Con rận bằng con ba ba,
Đêm nằm nó gáy cả nhà thất kinh.
Hàng xóm vác gậy đi rình,
Hóa ra rận đực nóng mình bò ra.
Bánh đúc,cô nếm nồi ba
Mía tre tráng miệng, hết vài trăm cây.
Giã gạo vú chấm đầu chày.
Xay thóc cả ngày, được một đấu ba
Đêm nằm nghĩ hết gần xa,
Giở mình một cái, gẫy mười ba thang giường.


(Tục ngữ ca dao Việt Nam.)

+ Nói lời diễn ý. Như nói: Con xin trăm lạy, ngàn lạy xin ông tha cho. (Thật ra chỉ lạy vài ba lạy mà nói trăm ngàn để diễn tả ý thiết tha).

+ Nói ẩn ngữ
. Ví như trong kinh Pháp hoa nói về thí dụ "hạt châu trong chéo áo" hay "3 xe nhà lửa".

Kinh điển là đỉnh cao nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ. Thế gian có cách nói thế nào, nhà Phật vẫn sử dụng cách ấy để nói.- Đậy gọi là sử dụng Tứ tất đàn.

Tứ tất đàn là bốn phép thành tựu viên mãn Phật đạo. Trong cuộc đời thuyết pháp của đức Thế Tôn, Ngài luôn diệu dụng tứ tất đàn làm cho chúng sinh mau chứng ngộ. Đó là:

1) Thế giới tất đàn: Những điều Như Lai phương tiện tùy thuận chúng sinh mà nói (như người, vật, nhà, xe, núi, voi, mưa nắng v.v...)

2) Vị nhân tất đàn: Như Lai tùy căn cơ trình độ của mỗi người mà dạy phép này phép khác khiến họ dễ tiếp thu, mau tiến hóa.

3) Đối trị tất đàn: Như Lai tùy thuận chỗ mê lầm của chúng sinh mà nói những pháp đối trị như lương y tùy bệnh cho thuốc.

4) Đệ nhất nghĩa tất đàn: Khi thấy cơ duyên của chúng sinh đã thuần thục Ngài không dùng phép tương đối như trên nữa mà khai thị trung đạo thuyết cái thật tướng của các pháp khiến họ sớm đạt chân lý.

Ở đây là "Phổ vị thế giới tất đàn".

Bởi vậy khi nghiêng cứu kinh điển, chúng ta cần phải tư duy để tâm cầu các nghĩa lý sâu mầu, nghĩa đen, nghĩa bóng, nghĩa ẩn, cầu vô lượng nghĩa...


 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Thảo luận kinh Đại Bát Niết Bàn. Phẩm TỰA. 1.

* Tình yêu trong Phật giáo.

Trong kinh Phật dạy rằng: Như Lai có lòng từ lớn, xem tất cả chúng sanh như La Hầu La.

* Điều này chúng ta cũng có thể hiểu: Phật thương La Hầu La, như thương tất cả chúng sanh.

Trong chúng ta, ai cũng biết La Hầu La là con đẻ của Phật khi còn làm vương tử Tất Đạt Đa.

Theo lời Phật dạy. tình yêu có nhiều thể loại. Đại khái như:

a/. ÁI NHIỄM:

Nhiễm là làm cho dơ bẩn. Do bị tham ái chi phối cho nên tâm hồn trở nên dơ bẩn.

Nhuốm yêu. Tiếng nhà Phật chỉ lòng yêu thích sâu đậm, như thắm nhuộm vào rồi, không phai lại được.
Chương Tương Ưng Sáu Xứ. Kinh Nikaya.IV: Phẩm Channa có dạy:

Ái nhiễm, này các Tỷ-kheo, là bệnh tật; ái nhiễm là mụt nhọt; ái nhiễm là mũi tên. Do vậy, này các Tỷ-kheo, Như Lai sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.
Do vậy, này các Tỷ-kheo, nếu Tỷ-kheo có ước vọng gì, hãy ước sống không ái nhiễm, không bị mũi tên làm bị thương.
Chớ có nghĩ đến mắt, chớ có nghĩ đến trong mắt, chớ có nghĩ đến từ mắt, chớ có nghĩ đến: “Mắt là của tôi”. Chớ có nghĩ đến các sắc, chớ có nghĩ đến trong các sắc, chớ có nghĩ đến từ các sắc, chớ có nghĩ đến: “Các sắc là của tôi”. Chớ có nghĩ đến nhãn thức, chớ có nghĩ đến trong nhãn thức, chớ có nghĩ đến từ nhãn thức, chớ có nghĩ đến: “Nhãn thức là của tôi”. Chớ có nghĩ đến nhãn xúc, chớ có nghĩ đến trong nhãn xúc, chớ có nghĩ đến từ nhãn xúc, chớ có nghĩ đến: “Nhãn xúc là của tôi”. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là tôi”.
Chớ có nghĩ đến tai … Chớ có nghĩ đến mũi …
Chớ có nghĩ đến lưỡi … Chớ có nghĩ đến thân …
Chớ có nghĩ đến ý, chớ có nghĩ đến trong ý, chớ có nghĩ đến từ ý, chớ có nghĩ đến: “Ý là của tôi”. Chớ có nghĩ đến các pháp, chớ có nghĩ đến trong các pháp, chớ có nghĩ đến từ các pháp, chớ có nghĩ đến: “Các pháp là của tôi”. Chớ có nghĩ đến ý thức, chớ có nghĩ đến trong ý thức, chớ có nghĩ đến từ ý thức, chớ có nghĩ đến: “Ý thức là của tôi”. Chớ có nghĩ đến ý xúc, chớ có nghĩ đến trong ý xúc, chớ có nghĩ đến từ ý xúc, chớ có nghĩ đến: “Ý xúc là của tôi”. Do duyên ý xúc, khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; chớ có nghĩ đến cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến trong cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến từ cảm thọ ấy, chớ có nghĩ đến: “Cảm thọ ấy là của tôi”.
Chớ có nghĩ đến tất cả, chớ có nghĩ đến trong tất cả, chớ có nghĩ đến từ tất cả, chớ có nghĩ đến: “Tất cả là của tôi”.


* Ái nhiễm thiên về yêu thích bản ngã. Người muốn được Niết Bàn phải xả ly.

b/. Ái dục: là Sắc Dục làm Chướng Ngại Ðường Ðạo.

Ðức Phật dạy: "Trong các thứ ái dục, không gì đáng ngại bằng sắc dục. Lòng ham thích sắc đẹp to lớn không gì sánh bằng. May thay, chỉ có một mình nó mà thôi. Nếu có hai thứ như thế thì khắp thiên hạ không ai có thể tu Ðạo được cả!"
Kinh Phật Bốn Mươi Hai Chương - Chương 24.

Như pháp thoại sau:

Một chàng cư sĩ đã có vợ và con, ý thức được sự khổ não của đời sống gia đình, nên anh thỏa thuận với vợ để được xuất gia. Cô vợ đồng ý, anh ta được Phật tế độ và nhờ Phật chỉ dạy phương pháp diệt trừ ái dục. Sau đó, anh một mình tiến vào rừng sâu, thực hành hạnh buông xả suốt ba năm, nhưng không thành công, mà luôn khởi ý niệm thương nhớ về vợ con ngày càng mãnh liệt. Buồn quá, anh quyết định hoàn tục, trở về đời sống gia đình, vui vẻ sống bên con, bên vợ.
Phật biết điều này, nên Người dùng thần lực đến gặp và khéo léo phương tiện để giúp đệ tử mình vượt qua đam mê luyến ái dục vọng. Kẻ bị tù đày làm súc sinh, quỷ đói hoặc bị đọa địa ngục nhưng có ngày ra khỏi, người vô minh, mê muội, vướng vào tiền bạc nhà cửa, luyến ái vợ con, biết chừng nào mới hết khổ đau bởi luân hồi, sinh tử. Nói xong, Phật dùng kệ để nhắc lại phương pháp hành trì:
Như chặt cây mà không bứng rễ
Cành nhánh vẫn mọc lại bình thường
Muốn trừ ái dục si mê
Bứng ngay rễ ý an nhiên thanh nhàn.
Vị đệ tử sau khi nghe lời Phật dạy, thường xuyên quán chiếu tinh cần, nên một thời gian sau chứng quả giác ngộ giải thoát.

* Ái dục là lòng thương mến vợ con.- Người muốn được Niết Bàn phải xả ly.

c/. ÁI KIẾN TỪ BI

Tâm chưa giác ngộ, thấy chúng sinh khổ mà sinh lòng bi, gọi là ái kiến đại bi. Lòng bi này là thiện, nhưng cũng dễ sinh ràng buộc.- Người muốn được Niết Bàn phải xả ly.

Như vậy, muốn có được Niết Bàn, thì Đạt giả phải thương tất cả, mà không thương ai cả. Không thương ai cả mà thương tất cả.- Đó là xả ly 3 cách thương yêu tai hại nêu trên, là thực hành yêu thương bằng 4 vô lượng tâm TỪ- BI- HỶ- XẢ.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên) Phẩm tựa 1.

Kính Thầy Viên Quang 6

"Thương tất cả mà không thương ai cả. Không thương ai cả mà thương tất cả", có nghĩa là gì?
Tất cả là tổng của mọi tha nhân cho nên, yêu thương mỗi một tha nhân không dư sót mới gọi là "thương tất cả"; nhưng "không thương ai cả" nghĩa là không có một tha nhân nào được yêu thương trong tổng tha nhân thì không thể gọi là "thương tất cả"?

Phải chăng, nghĩa ấy là "Thương tất cả mà không thương ai cả, bởi lòng yêu thương ấy phổ biến bình đẳng cho vạn loại hữu tình phi thời không. Cho nên, tâm ấy là đại, tình yêu thương đó là vô lượng, xứng danh là TỨ VÔ LƯỢNG TÂM".

Kính, trừng hải
Hề hề

Thương tất cả, mà không thấy có ai được thương cả ! Cũng không phải là không có ai !

Mộ Phần.
Kính các Bạn: Đúng như Bác Trừng Hải nói: "Thương tất cả mà không thương ai cả, bởi lòng yêu thương ấy phổ biến bình đẳng cho vạn loại hữu tình phi thời không. Cho nên, tâm ấy là đại, tình yêu thương đó là vô lượng, xứng danh là TỨ VÔ LƯỢNG TÂM".

Ở đây ý là chỉ có Chung tình, không có Tư tình. Không còn bóng dáng của Ngã tướng.

Mến.
 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Kinh Đại Bát Niết Bàn (trùng tuyên) Phẩm tựa 1.

* Pháp Thân bất diệt.

10 đoàn người đến rừng Ta La để cúng dường Phật trước khi Phật Niết Bàn, là đại diện cho các tầng lớp, các phương diện nhận thức của hàng đệ tử Phật. Tất cả đều không được Phật nhận sự cúng dường.- Vì chưa phải thời ! Vậy thế nào mới là phải thời ? Biết được Pháp Thân Phật bất sanh, bất diệt mới là phải thời, mới xứng cúng dường Phật Niết Bàn.

Thế nào là Pháp Thân ? Pháp thân còn gọi là Như Lai. Pháp thân không phải là một cái sanh thân có sanh có diệt, có thành trụ hoại không như thân mà chúng ta thường thọ dụng.

+ Pháp: Là hiện tượng vạn pháp trong vũ trụ, lớn như quả địa cầu, như núi non, trời biển. Nhỏ như cây kim, sợi chỉ như đầu cọng lông. Mỗi mỗi đều có tự tánh của nó để khi nhìn vào thì liền biết mà không lẫn lộn với cái khác. Mỗi cái như vậy gọi là 1 pháp.

+ Thân: Ở đây tích tụ, là tổng hợp các tánh của các pháp để làm thân. Gọi là Như Lai Pháp Thân.

Có câu: Nhất bổn tán vạn thù, vạn thù quy nhất bổn. Ví dụ như chất bột để làm chiếc bánh in. Nén lại thì thành cái bánh in, nghiền nát ra lại thành bột.

Pháp Thân Như Lai là bản thể Chân Như tổng hợp của hiện tượng vạn pháp.

* Tại sao bản thể Chân Như tổng hợp của hiện tượng vạn pháp lại gọi là Pháp Thân Như Lai ?

- Là chữ Như Lai là chỉ cho tánh thanh tịnh bản nhiên không có tội lỗi, ưu bi khổ não, không có sanh, lão, bệnh, tử, không đến không đi .... Do vậy Như Lai Niết Bàn, không phải là hiện tượng chết đi rồi mất, mà là sanh rồi diệt, diệt rồi sanh trong thể tánh Chân như Bất sanh, bất diệt.

* Không chỉ riêng Như Lai là rốt ráo thanh tịnh, mà vạn pháp trên cõi đời này tất cả đều rốt ráo thanh tịnh. Thế thì vạn vật ngàn sai muôn khác. Nhưng tất cả đều đồng một tánh là Tánh Thanh Tịnh.

* Phật dạy Pháp thân để chi ? Là để cho con người biết mình là một phần tử Chân Như Bất diệt. Do vậy bản chất của con người là Thanh tịnh Bản nhiên, nên vẫn có thể sống đúng, sống hợp với thể Thanh tịnh Bản nhiên mà thọ dụng Niết Bàn Phật, chớ không phải đợi đến sau khi chết (mới có Niết Bàn).

Tóm lại:

Pháp Thân bất diệt. Như bài kệ:

Ngã kim quán mộc chư Như Lai
Tịnh trí trang nghiêm công đức tụ
Ngũ trược chúng sanh linh ly cấu
Đồng chứng như Lai tịnh pháp thân.
Tỳ Gia thành ly bất tằng sanh
Ta La thọ gian bất tằng diệt
Bất sanh bất diệt lão Cù Đàm
Nhãn trung khán kiến trùng thiêm tiết.
Kim triêu chánh thị tứ nguyệt bát
Tịnh Phạn Vương cung sanh Tất Đạt
Cữu Long phún thủy thiên ngoại lai
Bỗng túc liên hoa tùng địa phát.
Án mâu ni mâu ni, tam mâu ni tá phạ ha.

Dịch nghĩa:

Hôm nay được tắm cho Như Lai
Trí tuệ trang nghiêm công đức lớn
Chúng sanh ba cõi đang chìm đắm
Được thấy trần gian hiện pháp thân.
Trong thành Tỳ Gia chưa từng sanh
Giữa cây Ta La chưa từng diệt
Bất sanh bất diệt đức Cù Đàm
Mắt sáng rạng soi không vẫn đục.
Ngày trăng tròn tháng tư âm lịch
Cung vua Tịnh Phạn sanh Tất Đạt
Chín rồng phun nước tắm kim thân
Mỗi bước hoa sen nâng gót ngọc.
Nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật.





 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Thảo luận kinh Đại Bát Niết Bàn. PHẨM 2. THUẦN ĐÀ

ĐẠI BÁT NIẾT BÀN KINH TRỰC CHỈ ĐỀ CƯƠNG
Pháp Sư Thích Từ Thông

* PHẨM 2. THUẦN ĐÀ.

Lúc bấy giờ trong hải hội có vị Ưu Bà tắc tên Thuần Đà, là một cư sĩ, có tu tập hạnh lành, muốn trồng sâu gốc rễ Đại thừa, mong thu hoạch quả giải thoát, giác ngộ. Như mọi người, ông sắm sửa lễ vật dâng cúng dường Phật và tăng chúng. Ông tha thiết cầu xin đức Phật thương xót mà nhận phẩm vật ông dâng cúng.

Thuần Đà bạch Phật: Rằng ví như một nông dân nghèo có thửa ruộng tốt, có trâu khỏe, cày bừa sạch cỏ, giống thóc đã sẵn. Chỉ còn chờ một trận mưa. Bạch Thế Tôn ! Nông dân nghèo đó chính là con. Con cầu xin Thế tôn một trận mưa pháp.

Như Lai Thế tôn chấp nhận phẩm vật cúng dường của Thuần Đà. Thuần Đà vui mừng hớn hở. Đức Phật dạy cho Thuần Đà cách cúng dường thí thực phước quả ngang nhau: Một, cúng cho người thọ thực xong liền chứng quả Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Hai, cúng cho người thọ thực xong liền nhập Niết bàn.

Thuần Đà bạch Phật: Rằng vị thọ thí trước chưa chứng quả Phật, chưa sạch phiền não, chưa làm lợi lạc chúng sanh. Vị thọ thí sau là trời trong các trời. Vị thọ thí trước chưa đủ lục ba la mật chỉ có nhục nhãn. Vị thọ thí sau có đủ lục ba la mật, có đủ ngũ nhãn. Vị thọ thí trước thọ xong tiêu hóa, dinh dưỡng sắc lực mạnh mẽ sống còn. Vị thọ thí sau, ăn vào chưa tiêu thì lại chết mất ...Bạch Thế Tôn, thời điểm cúng dường và thọ dụng ở nhân, trước sau đã khác nhau thì hẳn phải là không đồng. Vậy tại sao Như Lai Thế tôn dạy: Hai trường hợp cúng dường thí thực ấy được phước báu đồng nhau ?

I. Phật dạy: Thuần Đà ! Như Lai từ vô thỉ, vô lượng, vô số kiếp không có những thân ăn uống, thân phiền não và thân sau cùng. Thân NHƯ LAI là thường trụ, là thân KIM CANG, là PHÁP THÂN.

Đức Phật dạy tiếp: Này Thuần Đà ! người chưa thấy Phật tánh gọi là thân tạp thực. Lúc Bồ tát thọ đồ ăn uống xong, nhập Kim cang tam muội, thức ăn tiêu hóa liền thấy Phật tánh, chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Lúc mới thành đạo, Bồ tát chưa giảng diễn mười hai bộ kinh nhưng đã thông đạt. Nay nhập Niết bàn, vì chúng sanh diễn rộng và phân biệt chi li tường tận....

Thuần Đà ! Việc làm của Bồ tát, khác mhau lộ trình đi, gặp nhau nơi mục đích đến. Khác nhau ở hình thức, đồng nhau ở nội dung. Vì vậy như Lai dạy: Hai trường hợp cúng dường thí thực ấy được hưởng quả báo đồng nhau.

II. Thuần Đà ! Thân Như Lai từ vô lượng, vô số vô biên kiếp, không có thọ sự ăn uống. Vì hàng Thanh văn mà nói: Rằng trước đó, tên Nan Đà và Đà Ba La, rồi sau đó chứng quả VÔ THƯỢNG CHÁNH ĐẲNG CHÁNH GIÁC. Nhưng chính thực, Như Lai không ăn, nay vì Đại chúng trong hải hội này mà Như Lai nhận sự cúng dường của ngươi. Thực ra, Như Lai không phải là thân tạp, Như Lai không ăn.

Đại chúng mừng rỡ khôn xiết kể. Ngợi khen và tán thán công đức, trí tuệ của ông Thuần Đà. Rằng ông Thuần Đà là đối tượng để Như Lai dạy chánh pháp. Rằng cái tên Thuần Đà (Trung Hoa dịch: DIỆU NGHĨA) đã hàm chứa ý nghĩa thông minh, có khả năng học hiểu sâu sắc chánh pháp của Như Lai.

Quý hóa thay, Thuần Đà ! Ông đã được những điều mà nhiều người không được. Ra đời được gặp Phật là khó. Có học chánh pháp, được cúng dường trước giờ phút nhập Đại Niết bàn lại càng khó hơn ! Vậy mà Thuần Đà đã được !

Nam Mô Thuần Đà !
Nam Mô Thuần Đà !

Nay ông đã đủ bố thí ba la mật.

Thuần Đà vui mừng hớn hở. Ông đảnh lễ Phật và nói bài kệ:

Đặt hạt cải đầu kim đã khó
Sanh vào đời gặp Phật khó hơn
Hẳn thiện duyên con đã sớm gieo trồng
Đấng Điều Ngự cho con mưa chánh pháp
Hoa đàm nở dễ mấy ai được thấy
Được Như Lai thọ ký khó hơn nhiều
Thấy Như Lai nhân ác thú viễn ly
Con vui sướng, bước Như Lai xin kính lễ
Nguyện Như Lai thêm tuổi thọ ở nơi đời
Thêm số kiếp, cho nhân thiên thêm nhiều đắc độ

Phật dạy: Thuần Đà ! Ông không nên sanh lòng buồn khổ. Ông là người đầy đủ phước duyên. Ông không nên thỉnh Phật ở đời dài lâu mà ông nên quan sát: Cảnh giới Nhơn Thiên vốn không bền chắc, cảnh giới chư Phật hết thảy cũng đều vô thường. Tánh và tướng của các hành pháp là như vậy.

Đức Phật nói bài kệ:

Tất cả pháp thế gian
Có sinh đều có diệt
Dầu thọ mạng dài lâu
Đến kỳ cũng phải chết
Phật nay vào Niết bàn
Thọ trì đệ nhất lạc
Pháp chư Phật đều vậy
Đại chúng chớ nên buồn

Cuộc đối thoại giữa Thuần Đà với Đại Trí Văn Thù Sư Lợi Bồ tát:

Rằng Như Lai không đồng với hành pháp vì hành pháp có sanh có diệt. Như Lai không phải hữu vi vì hữu vi thuộc về hành pháp. Người trí phải hiểu Như lai là Vô vi. Như Lai là pháp thường trụ, bất biến. Có chánh quán như vậy, ông sẽ thành tựu 32 tướng tốt, chóng thành Vô Thượng Bồ Đề.

Cuộc đối thoại tiếp diễn và cho thấy:

Cúng dường Như Lai không nên đặt vấn đề nhiều ít, ngon hay không ngon.

Cúng dường Như Lai không nên luận: Kịp thời hay trễ thời.

Cúng dường Như Lai không được nghĩ Như Lai hài lòng hay không hài lòng

Bởi vì Như Lai đã không ăn uống từ vô lượng kiếp. Vì không thọ thực cho nên không có vấn đề trễ hay kịp thời. Với Như Lai, không có hài lòng. Vì Như lai hài lòng mọi lúc và hài lòng với tất cả chúng sinh.

Hiểu như thế là khéo thâm nhập kinh điển Đại thừa.

Dù nhận thức chân lý nhưng Thuần Đà và Đại chúng vẫn buồn thảm khóc than....

Đức Thế Tôn dạy: Thuần Đà ! Ông chớ nên khóc than buồn thảm mà chi ! Ông nên quán sát: Thân này như cây chuối, như bọt nước, như huyển hóa, như ánh nắng, như thành Càn thát bà, như tia chớp, như đồ gốm chưa hầm, như hình vẽ trên nước....phải quán sát các hành pháp như ăn lẫn chất độc...

Đức Phật nói bài kệ:

Các hành pháp đều vô thường
Vì là pháp có sinh diệt
Hãy diệt ý niệm sinh diệt
Cái vui tịch diệt hiện tiền


TRỰC CHỈ

Đại thừa tư tưởng và tiểu thừa tư tưởng khác nhau ở chỗ: Đại thừa không câu nệ chấp mắc, Tiểu thừa thì trái lại. Đối với Tiểu thừa tư tưởng, Thuần Đà chỉ là "một tịnh nhân", một bạch cư sĩ: trên đường giác ngộ, giải thoát được xem như là "tuyệt phần", nghĩa là không có tư cách dự phần vào đó. Trái lại, Đại thừa tư tưởng, đỉnh cao là thời PHÁP HOA, NIẾT BÀN vấn đề nhân bản, quyền con người tuyệt đối nâng cao, tuyệt đối bình đẳng. Bình đẳng giữa nam và nữ, bình đẳng giữa tại gia và xuất gia. Dĩ nhiên, Đại thừa, Tiểu thừa không hề đặt ra ranh giới, đại, tiểu, tôn ty. Tốt xấu do người. Thiện ác do người. Giải thoát giác ngộ hay không do người, không luận giai cấp, chủng tộc, màu da, nam nữ, cho đến không quan trọng hình thức tại gia, xuất gia.

Do vậy:

Cư sĩ Thuần Đà lại là đối tượng phải thời. Thuần Đà được Như Lai nhận lễ vật dâng cúng, thọ dụng trước khi nhập Niết bàn và Thuần Đà cũng được tiếp nhận những lời dạy bảo cuối cùng của Như Lai.

Kinh Đại Bát Niết Bàn rõ là kinh Đại thừa trong Đại thừa !

Nâng vai trò của một thợ thuyền ngang tầm cỡ đại chúng mười phương.

Nâng nhân cách một cư sĩ làm được những việc mà người xuất gia chưa làm được (dâng phẩm vật cúng dường Như Lai thọ nhận).

Nâng trình độ, kiến giải một cư sĩ lên ngang hàng Đại Bồ tát Văn Thù.

Nâng địa vị một cư sĩ lên hàng cao đệ đối tượng thuyết pháp, giáo dụ của Phật trước giờ phút nhập Đại Niết Bàn.

Đây cũng là giáo lý Đại thừa trong Đại thừa.

"Đại tượng bất du ư thố kính
Đại ngộ bất câu ư tiểu tiết
Nhược tương quản kiến báng thương thương
Vị liễu ngô kim vị quân quyết !
(Huyền Giác Thiền Sư)

Voi vĩ đại không đi đường ngoằn ngoèo của thỏ
Đại ngộ rồi, không câu chấp những nhỏ nhen
Nhìn trời xanh, qua ống thấy được bao nhiêu ?
Chưa hiểu rõ, ta sẽ vì chư quân mà bảo rõ !
(Từ Thông Thiền Sư dịch)

Sắc thân có đi đứng nằm ngồi, có nghỉ ngơi, ăn uống, đó là thân "tạp thực". Đó là "ảo hóa không thân". Thấy thân ảo hóa, thấy thân tạp thực không thể gọi là thấy được NHƯ LAI.

Nhược dĩ sắc kiến ngã
Dĩ âm thanh cầu ngã
Thị nhơn hành tà đạo
Bất năng kiến Như Lai

Nhìn thân sắc tướng cho là thấy Như Lai
Nghe âm thanh cho là biết Như Lai
Đó là người tà đạo
Họ không thể thấy Như Lai đích thực
(Kinh Kim Cang)

Muốn thấy Như Lai, hiểu Như Lai phải thấy, hiểu qua PHÁP THÂN thường trụ. Kim Cang bất hoại thân.

Tuy nhiên ảo hóa thân là diệu dụng hiện tượng từ Pháp thân mà duyên khởi. Ảo hóa thân và Pháp thân không phải một nhưng cũng không khác.

"Ảo hóa không thân tức Pháp thân"
(Huyền Giác Thiền Sư)
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Thảo luận kinh Đại Bát Niết Bàn. PHẨM 2. THUẦN ĐÀ

* Phật cảnh vô thường.

Phật dạy: Thuần Đà ! Ông không nên sanh lòng buồn khổ. Ông là người đầy đủ phước duyên. Ông không nên thỉnh Phật ở đời dài lâu mà ông nên quan sát: Cảnh giới Nhơn Thiên vốn không bền chắc, cảnh giới chư Phật hết thảy cũng đều vô thường. Tánh và tướng của các hành pháp là như vậy.

Đức Phật nói bài kệ:

Tất cả pháp thế gian
Có sinh đều có diệt
Dầu thọ mạng dài lâu
Đến kỳ cũng phải chết
Phật nay vào Niết bàn
Thọ trì đệ nhất lạc
Pháp chư Phật đều vậy
Đại chúng chớ nên buồn

Đức Thế Tôn dạy: Thuần Đà ! Ông chớ nên khóc than buồn thảm mà chi ! Ông nên quán sát: Thân này như cây chuối, như bọt nước, như huyển hóa, như ánh nắng, như thành Càn thát bà, như tia chớp, như đồ gốm chưa hầm, như hình vẽ trên nước....phải quán sát các hành pháp như ăn lẫn chất độc...

Đức Phật nói bài kệ:

Các hành pháp đều vô thường
Vì là pháp có sinh diệt
Hãy diệt ý niệm sinh diệt
Cái vui tịch diệt hiện tiền
Tất cả pháp, hể có sanh thì có diệt.- Đó là định luật vô thường (dù đó là cảnh giới chư Phật).

Để minh chứng điều này, chúng ta hãy duyệt lại nhiều kinh điển mà đức Phật đã dạy. như sau:

Kinh Pháp hoa:

Bấy giờ, đức Phật từ nơi tướng lông trắng giữa chặn mày phóng ra luồng hào-quang chiếu khắp cả một muôn tám nghìn cõi ở phương Đông, dưới thời chiếu đến địa ngục A-Tỳ, trên suốt thấu trời Sắc-cứu-cánh. Chúng ở cõi này đều thấy cả sáu loài chúng-sanh (18) , ở các cõi kia.

Lại thấy các đức Phật hiện tại nơi các cõi kia và nghe kinh pháp của các đức Phật ấy nói. Cùng thấy nơi các cõi kia, các hàng Tỳ-kheo, Tỳ-kheo-ni, cận-sự-nam, cận-sự-nữ, những người tu hành đắc đạo.

Lại thấy các vị đại Bồ-Tát dùng các món nhân duyên, các lòng tín giải, các loại tướng mạo mà tu hành đạo Bồ-Tát. Lại thấy các đức Phật nhập Niết-bàn, lại thấy sau khi các đức Phật nhập Niết-bàn, đem xá-lợi của Phật mà dựng tháp bằng bảy báu.
(Phẩm tự)

Lúc bấy giờ, đức Thế Tôn nói bài kệ đó rồi, bảo các đại chúng xướng lời thế nầy : "Ông Ma-Ha Ca-Diếp, đệ tử của Ta, ở đời vị lai sẽ phụng thờ ba trăm muôn ức các đức Thế Tôn, cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, rộng nói vô lượng đại pháp của các đức Phật, ở nơi thân rốt sau được thành Phật hiệu là Quang-Minh Như -Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế -gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự trượng-phu, Thiên-nhân-sư, Phật Thế -Tôn.

Nước tên là Quang Đức, kiếp tên là Đại-Trang-Nghiêm-Phật thọ mười hai tiểu kiếp. Chánh pháp trụ thế hai mươi tiểu kiếp....

Lúc bấy giờ, Thế-Tôn biết tâm niệm của các vị đệ tử lớn bảo các thầy Tỳ-kheo rằng : "Ông Tu-Bồ-Đề đây đến đời vị lai phụng thờ ba trăm năm muôn ức na-do-tha (6) đức Phật, cúng dường cung kính tôn trọng ngợi khen, thường tu hạnh thanh tịnh, đủ đạo Bồ-Tát, ở thân rốt sau được thành Phật hiệu : Danh-tướng Như-Lai, Ứng-cúng, Chánh-biến-tri, Minh-hạnh-túc, Thiện-thệ, Thế-gian-giải, Vô-thượng-sĩ, Điều-ngự-trượng-phu, Thiên-nhân-Sư, Phật Thế-Tôn.

Kiếp đó tên Hữu-Bảo, nước đó tên là Bảo-Sanh. Cõi đó bằng thẳng, đất bằng lưu ly, cây báu trang nghiêm, không có những gò, hầm, cát, sỏi., gai chông cùng tiện lợi dơ dáy; hoa báu trải đất khắp nơi sạch sẽ, nhân dân cõi đó đều ở đài báu và lầu gác quí đẹp. Hàng đệ tử Thanh-văn đông vô lượng vô biên, tính kể cùng thí dụ đều không thể biết. Các chúng Bồ-Tát đông vô số nghìn muôn ức na-do-tha.

Đức Phật thọ mười hai tiểu kiếp, chánh pháp trụ ở đời hai mươi tiểu kiếp, tượng pháp cũng trụ đời hai mươi tiểu kiếp,
(phẩm thọ ký thứ 6)

Và như Trong Kinh Bi Hoa nói về đức Phật A Di Đà rằng: "Vì người có lòng soi xét những loài yêu cầu của loài hữu tình trong thế gian mà cứu khổ như vậy, nên nay Ta đặt hiệu là: Quan Thế Âm.

Trong khi ngươi tu hạnh Bồ Tát, thì giáo hóa cả vô lượng chúng sanh cho thoát khỏi sự khổ não và làm đủ mọi việc Phật sự.

Sau khi A Di Đà Như Lai nhập Niết Bàn rồi, thì cõi Cực Lạc lại đổi tên là: "Nhứt Thiết Trân Bảo Sở Thành Tựu", y báo càng tốt đẹp hơn trước đến bội phần.

Chừng đó, đương lúc ban đêm, độ trong giây phút, có hiện ra đủ thức trang nghiêm, thì ngươi sẽ ngồi trên tòa Kim Cang ở dưới cây Bồ Đề mà chứng ngôi Chánh Giác hiệu là: "Biến Xuất Nhất Thiết Quang Minh Công Đức Sang Vương Như Lai", phước tròn hạnh đủ, muôn sự vẻ vang, đạo Pháp cao siêu, thần thông rộng lớn, rất tôn rất quý, không ai sánh bằng mà lại sống lâu đến chín mươi sáu ức na do tha kiếp, rồi khi diệt độ thì Chánh Pháp còn truyền bá lại đến sáu mươi ba ức kiếp nữa.
http://thuvienhoasen.org/a6953/su-tich-phat-a-di-da-va-7-vi-bo-tat
"
Như vậy rõ ràng là tất cả cảnh giới của 10 phương chư Phật đều vô thường biến dị.

Nhưng đều quan trọng là : Chúng ta nhận ra Thể Tánh: THƯỜNG, LẠC, NGÃ, TỊNH ở đằng sau vô thường, khổ, vô ngã, bất tịnh.

Các hành pháp đều vô thường
Vì là pháp có sinh diệt
Hãy diệt ý niệm sinh diệt
Cái vui tịch diệt hiện tiền


 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,336
Reaction score
1,690
Điểm
113
Thảo luận kinh Đại Bát Niết Bàn. PHẨM 2. THUẦN ĐÀ

* PHẬT TÁNH LÀ THƯỜNG HAY VÔ THƯỜNG ?

có lẽ đây là chủ đề muôn thuở nhưng ắt phải vậy, vì nó giúp người ta nhập phật tri kiến.

Vnbn mạo muội lập ra chủ đề này để mọi người trao đổi và tự kiểm nghiệm xem cái hiếu về phật tánh nơi mỗi người sẽ như thế nào!

Nhân từ chủ đề "thảo luận kinh đại bát niết bàn", xin phép đặt vấn đề: Phật tánh là thường hay vô thường?

Kính mời quí vị đóng góp.
( Bạn VO-NHAT-BAT-NHI cho xin chủ đề này nhé ).

Kính các Bạn.

Trước khi quán xem Phật tánh là thường hay vô thường. Chúng ta hãy xem lại:

Phật tánh là gì ?

Pháp Tánh là gì ?

Tăng tánh là gì ?

Thế nào là: Vô thường thị thường ?
 
Top