Hiện tượng Hồng hóa của cao tăng

Vô Năng

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
7 Thg 2 2017
Bài viết
143
Điểm tương tác
50
Điểm
43
Bên cạnh toàn thân xá lợi hay xá lợi sau khi hỏa tán, thì hồng hóa là một trường hợp đặt biệt khác xuất hiện khi một số cao tăng viên tịch.

Tại Tây Tạng, người ta đã ghi nhận được nhiều trường hợp thân thể các lạt ma đắc đạo hóa cầu vồng, biến thành ánh sáng sau khi viên tịch. Hình thức viên tịch kỳ lạ này được gọi là “hồng hóa”.

Được coi là mái nhà của thế giới, Tây Tạng là một trong những nơi có hoàn cảnh tự nhiên tồi tệ nhất trên toàn cầu. Mỗi năm, gần một triệu người đến hành hương tại vùng đất thần bí này, để trải nghiệm những cảm giác kinh tâm động phách và những khoảnh khắc khó quên trong cuộc đời họ. Tất nhiên, sự kiện thần bí đứng đầu ở Tây Tạng chắc hẳn là thời khắc viên tịch của các vị cao tăng đắc đạo, còn gọi là hiện tượng hồng hóa (hóa thành cầu vồng). Người ta đã xác nhận sự tồn tại của hiện tượng này, nhưng cho đến nay vẫn chưa có ai giải thích được nó.

Những hiện tượng thần kỳ sau khi người tu luyện viên tịch lưu lại xá lợi tử cho đến hóa thành cầu vồng trong Phật giáo Tây Tạng đã được lưu truyền khá nhiều trong dân gian. Dù cho từng có người đã tận mắt chứng kiến nó, nhưng vì tuân theo nền giáo dục vô thần của Đảng Cộng sản Trung Quốc (ĐCSTQ) nên mới ôm giữ một thái độ bán tín bán nghi đối với loại hiện tượng này.

Hồng hóa là một dạng thức viên mãn đắc đạo của các vị lạt ma Tây Tạng. Khi đó, cơ thể sẽ hóa thành cầu vồng. (Ảnh: Ancient Code)

Hồng hóa là một dạng thức viên mãn đắc đạo của các vị lạt ma Tây Tạng. Khi đó, cơ thể sẽ hóa thành cầu vồng. (Ảnh: Ancient Code)

Trên Internet, một cựu bí thư của ĐCSTQ tại khu tự trị Tây Tạng đã chứng kiến quá trình hồng hóa của một vị Phật sống, khiến nhiều sự việc liên quan cũng lần lượt được hé mở. Sau khi trải qua nhiều thập kỷ mà không có tín ngưỡng trong tâm, mọi người đã bắt đầu nhìn kỹ lại, phủi sạch phong trần, mở ra những ký lưu tồn từ xa xưa, để tìm lại tín ngưỡng chân chính đối với Thần Phật.

Năm 1952, tại Đức Cách Ích Long Nhân của Tây Tạng, xảy ra sự việc lạt ma Tác Nam Lãng Kiệt viên tịch hồng hóa. Trên mạng lưu truyền rằng Trương Quốc Hoa, một cựu bí thư của Ủy ban khu tự trị Tây Tạng, đã tận mắt chứng kiến sự kiện kỳ lạ này. Truyện kể rằng Trương Quốc Hoa đã được một vị Phật sống nói cho biết:

“Hai ngày nữa Ngài ấy sẽ rời khỏi Tây Tạng”.

Hai ngày sau họ Trương đã đến tận nơi mục sở thị. Ông đã thấy vị Phật sống đang ngồi ở trung tâm đại lễ đường. Họ Trương không hiểu vì sao không ai ra đón tiếp, nên ông đã cùng người của mình đứng đó dõi theo. Chỉ thấy các vị sư khác trong ngôi chùa này đang ngồi cạnh nhau, vây quanh Đức Phật sống. Đức phật sống từ chỗ ngồi bay lên cao, rồi lại trở về vị trí ban đầu. Liên tục như vậy cho đến lần thứ ba thì phát ra một tiếng động lớn, giống như một tiếng sấm lớn giáng xuống điện đường. Chỉ thấy Đức Phật sống biến mất, và một đám mây đỏ tản đi, không lưu lại chút dấu vết nào.

Đạo giáo có câu nói rằng: “Vũ hóa thăng thiên”. Tuy nhiên, trong hiện thực, thân thể các vị tăng nhân có thể biến thành ánh sáng cầu vồng, đây là điều thường thấy đối với các vị cao tăng tu luyện trong Mật tông. Hiện tượng này được gọi là “Hồng hóa”, là một kỳ quan hiếm gặp. Hồng hóa xảy ra vào lúc lâm chung, lúc đó cơ thể vị sư đang đả toạ sẽ liên tục phát sáng. Trong quá trình phát sáng, thân thể sẽ liên tục thu nhỏ lại dần cho tới khi biến mất. Cuối cùng, chỉ còn lại móng tay và tóc. Trong quá trình cơ thể thu nhỏ, một ánh sáng màu đỏ sẽ xuất hiện phía trên đỉnh đầu. Đây là cảnh giới cao nhất mà người tu hành Tạng Mật muốn đạt được – thân thể biến thành ánh sáng cầu vồng. Tất nhiên vẫn còn những loại trạng thái khác nữa, ví như cơ thể khi phát sáng sẽ bị thu nhỏ lại đến một mức độ nhất định thì không thể thu nhỏ hơn nữa. Còn sót lại là một hình hài cứng như sắt – điều này rất giống với hiện tượng co rút của cơ thể người.

Thân thể thu nhỏ lại sau khi trải qua quá trình hồng hóa một phần của một vị lạt ma. (Ảnh: kknews.cc)

Thân thể thu nhỏ lại sau khi trải qua quá trình hồng hóa một phần của một vị lạt ma. (Ảnh: kknews.cc)

Theo “Cát Thác đại sử” của phái Cát Thác thuật lại (Cát Thác là một trong những trường phái chủ yếu của phật giáo Tây Tạng), đền Bạch Ngọc Cát Thác được xây dựng lần đầu tiên bởi hiệp hội đức Cát Đan Ba (1122-1192). Cho đến năm 1883, đức Lạt ma Ban Mã Đăng đã đắc được thân hình hồng hóa ở đây. Trong bảy trăm năm qua đã có không biết bao nhiêu người tu luyện viên mãn đạt được thân thể hồng hóa tại nơi này.

Theo ghi chép của đền Đa Mang của Đức Ba Kham, kể từ khi ngôi đền được xây dựng vào năm 1653 ở huyện Lô Hoắc, Cam Tư, tỉnh Tứ Xuyên, đã có 16 người đạt được thân hồng hóa trong đền thờ. Cả ba người trong số họ đều đạt được hồng hóa toàn bộ nhục thân. Những người khác thì còn lưu lại một chút tóc và móng tay.

Theo “Tiểu sử của đức Ban Mã Đăng”: sau khi ông viên tịch trong lều vào một ngày năm 1883, người ta đã không được phép mở lều trong vòng 7 ngày. Trong suốt 7 ngày đó, hàng trăm đệ tử đã nhìn thấy những luồng ánh sáng rực rỡ phát ra từ trong lều. Sau đó, họ chỉ nhìn thấy còn sót lại mười móng chân, mười móng tay và tóc ở trong lều của vị lạt ma.

Đức Phật sống Tác Lãng Đốn Châu của Viện Tôn giáo thuộc Viện Khoa học Xã hội Tây Tạng cũ đã kể cho mọi người biết những thông tin bí ẩn về hiện tượng hồng hóa của một số vị Phật sống ở Trung Quốc thời cận đại.

Năm 1883, trong các đệ tử của cao tăng Đôi Quỳnh Lâm Ba và Nhân Tăng Bạch Mã Mã Đôi Đoài của Phật giáo Tây Tạng ở chùa Mẫn Châu Lâm, đã có 14 vị tăng nhân đã đạt được trạng thái thân thể hồng hóa khi viên tịch. Một trong số họ là một vị đệ tử tên Nhưỡng Nhật Khắc. Sau khi hồng hóa, người ta chỉ thấy lưu lại một chút móng tay, hiện vẫn còn được lưu giữ trong tu viện Đa Khang.

7169

Một cảnh trong video ghi lại quá trình hồng hóa của Lạt ma A Sắc A Quýnh tại Tỉnh Tứ Xuyên. Ảnh 1. (Ảnh: eagle visiontimes)

7170

Một cảnh trong video ghi lại quá trình hồng hóa của Lạt ma A Sắc A Quýnh tại Tỉnh Tứ Xuyên. Ảnh 2. (Ảnh: eagle visiontimes)

7171

Một cảnh trong video ghi lại quá trình hồng hóa của Lạt ma A Sắc A Quýnh tại Tỉnh Tứ Xuyên. Ảnh 3. (Ảnh: eagle visiontimes)

Năm 1935, cao tăng Đa Khang Lâm Luân, Trát Ba, Trát Tây được ghi nhận đạt trạng thái thân thể hồng hóa.

Năm 1945, Phật sống Đại Phủ Trát cũng hồng hóa tại chùa Trà Lãng.

Năm 1951, Phật sống Bố Các Tư đã hồng hóa tại chùa Trà Lãng.

Năm 1952, cảnh hồng hóa thật ngoạn mục của lạt ma Tác Nam Lãng Kiệt tại Đức Cách Ích Long Nhân của Tây Tạng, đã được viên Bí thư Trương Quốc Hoa nói trên đích thân chứng kiến và thuật lại.

Sau khi ĐCSTQ đến đây, nó đã đàn áp Phật giáo Tây Tạng. Khi các vị Phật sống, Kham Bố và Lạt ma viên tịch trong thời kỳ hỗn loạn này, nhục thân hồng hóa của họ đã khiến những người chịu nhận nền giáo dục vô thần của ĐCSTQ vô cùng trầm trồ kinh ngạc.


Vào năm 1958, do ảnh hưởng của tình hình ở Tây Tạng vào thời điểm đó, Phật sống Á Đương Lang Mộc tại chùa Trà Lang đã bị bắt nhầm vào trại lao động. Có một lần ông ở trong phòng mấy ngày không thấy ra, khiến nhân viên quản giáo chú ý, khi mở cửa đi vào thì phát hiện thấy Phật sống đã viên tịch. Cơ thể ông thu nhỏ lại như một cánh tay. Đức Phật sống còn có thể độn thổ, đến rồi đi mà không ai hay biết.

7172

Trái: Cơ thể lạt ma Tashi Lamo khi còn sống. Phải: Cơ thể vị lạt ma hồng hóa một phần sau khi viên tịch. (Ảnh: Gaia)

Cũng trong năm 1958, ở quận Hồng Nguyên, tại trung tâm quận tự trị A Bá Tây Tạng Khương Tộc ở phía tây bắc tỉnh Tứ Xuyên, một hội nghị phán xét công khai đã được tổ chức tại thảo nguyên Khương Đường để phê phán Tài Vượng Chân Nhân Kham Bố. Họ đặc biệt cử người đến bắt ông. Vì đi bộ bất tiện nên ông đã cưỡi bò mà đi, vừa đi vừa tụng kinh trên đường. Khi đi bộ đến một nơi gọi là Tát Đa Đống Nam, thì bất ngờ gặp một trận cuồng phong bao phủ bầu trời. Dân quân choáng váng, nên họ đã lấy quần áo che phủ đầu và ngồi xổm trên mặt đất. Sau khi cơn cuồng phong dừng lại, họ nhìn lên thì thấy bò vẫn còn đó, nhưng không thấy Kham Bố đâu cả.

Vào lúc này, trên không trung chợt truyền đến tiếng tụng kinh của Kham Bố. Nhưng chỉ nghe thấy tiếng mà không thấy người, thanh âm ngày càng lớn hơn cho đến khi cuối cùng hoàn toàn biến mất. Do những hạn chế về tư tưởng của thời đại và hoàn cảnh lúc đó, dân binh hộ tống không dám nói sự thật sau khi trở về. Họ chỉ báo cáo lại là người đã chết giữa đường, nên họ đã đào đất mai táng thi thể ngay tại trận.

Mãi về sau những người dân quân áp giải mới dám tiết lộ tình huống chân thực khi đó. Câu chuyện này đã lan rộng khắp các khu vực Tứ Xuyên – Tây Tạng và Thanh Hải. Học viện của hai vị Phật sống Tenzin Gyatso và Nặc Ba Kham Bố tất cả đều biết rõ sự tình.

Vào năm 1969, Đức Phật sống Nga Vi Lộ ở huyện Nhưỡng Đường cùng với Phật sống Na Hy Kham Bố Nhạc ở huyện Ban Mã đã viên tịch ở đền Tu Quả và đền Tri Khâm. Sau khi viên tịch cơ thể họ đã thu nhỏ chỉ còn khoảng 30 cm. Sau khi hỏa táng, chỉ thấy còn sót lại các hạt xá lợi tử ngũ sắc lấp lánh ánh quang.

Tại thị trấn Cam Khung, huyện Ngõa Tát, tỉnh Thanh Hải có một vị Phật sống tên là Ngũ Thế Hoa Nhật. Ông đã bắt đầu đi cầu đạo ở tuổi 19. Lúc 39 tuổi, Đại Cách mạng Văn hóa quét qua, khiến ông bị bức hại và giam trong nhà tù. Lúc đó, ông ở cùng phòng với vị Phật sống Ca Long Gia Triết. Một đêm nọ, ông đưa còng tay bị xích tới trước mặt Phật sống Ca Long Gia Triết, nói rằng ông sắp vãng sinh. Vào thời điểm đó, Phật sống Gia Triết thấy tinh thần của Phật sống Hoa Nhật rất tốt nên không chú tâm lắm. Sau khi tỉnh dậy vào sáng hôm sau, chỉ thấy còn sót lại cái còng tay trong phòng, thậm chí không có móng tay và tóc. Toàn bộ nhà tù khi đó đều tràn ngập mùi hương, mùi thơm lưu lại rất lâu sau đó.

7173


Người ta nói rằng có một vị lạt ma tên Kham Bố già. Trong Cách mạng Văn hóa, ông đã bị Hồng vệ binh kéo ra khỏi phòng. Vì ông quá già để đi bộ nên Hồng vệ binh đã trói ông vào lưng ngựa để đưa đi. Ông vẫn giữ thần thái ung dung vừa đi vừa ca hát suốt quãng đường. Đó là bài hát “Di ca” mà trước khi viên tịch các tôn giả dùng để gột sạch những thứ dơ bẩn, tẩy tịnh thân tâm. Khi đi đến nơi thì họ phát hiện ông đã lặng lẽ viên tịch trên lưng ngựa.

Năm 1980, A Đạt Lạp Mỗ ở huyện Cống Giác khu Xương Đô Tây Tạng cùng chị gái Ngọc Lạp của huyện Sát Duy. Khi họ chết, cơ thể họ bị thu nhỏ lại chỉ còn khoảng 20 cm và 50 cm. Thân thể của cả hai vị đều cứng như thép.

Năm 1993, sau khi Phật sống La Kết viên tịch và hỏa táng ở chùa Trà Lang, người ta thấy xá lợi tử ngũ sắc còn sót lại.

Tại chùa Linh Long, thôn Nhân Đạt Hương Tạp, huyện Lô Quắc, tỉnh Tứ Xuyên có Phật sống A Thố, từ nhỏ ông đã xuất gia tại chùa Ling Long. Trong Cách mạng Văn hóa, ông bị buộc phải rời khỏi chùa về cư trú ở thôn làng. Mặc dù tình hình quản thúc rất nghiêm ngặt, nhưng ông không bao giờ hoàn tục. Ban ngày, ông tham gia lao động với dân làng, vào ban đêm ông vẫn bí mật tu Pháp môn của mình.

Sau khi chế độ bao cấp kế hoạch hóa gia đình xuất hiện, Phật sống A Thố được một nhà dân làng hỗ trợ lương thực. Kể từ đó, ông không ra khỏi nhà và niệm kinh tu Pháp cả ngày. Năm 1997, ông qua đời ở tuổi 78. Sau bảy ngày viên tịch, cơ thể ông thu lại còn khoảng 1/3. Khi hỏa táng, trên bầu trời xuất hiện cầu vồng, hỏa táng xong kiểm tra thấy có hơn 300 hạt xá lợi tử. Đức Phật sống Khúc Cát Ni Mã cùng hàng trăm người đã chứng kiến việc này.

Đức Phật sống Tác Lãng Đốn Châu của Viện Nghiên cứu Tôn giáo Khoa học Xã hội Tây Tạng cũ đã giảng cho mọi người một số hiện tượng hồng hóa bí ẩn của các vị Phật sống thời Trung Quốc cận đại. Ông kể lại rằng, lúc đạo sư Nam Khai Đa Cát của ông qua đời trong khi ngồi thiền định, thì từ thân thể ông liên tục phát ra những tiếng động lạ thường cùng những ánh sáng phát quang tuyệt đẹp rực rỡ. Một âm thanh vang vọng rất lớn tới mức kinh thiên động địa, cuối cùng chỉ còn sót lại rất nhiều xá lợi tử quý giá.

Học giả Phật giáo Tây Tạng nổi tiếng Đôi Quýnh Đa Cát đã viết trong cuốn sách “Ninh mã nguyên lưu” như sau: Có vô số những người viên mãn ở miền Bắc và miền Nam. Bất kể người tu hành của phái mật giáo nào sau khi tu luyện mật Pháp đạt đến cảnh giới rất cao, lúc lâm chung đều sẽ xuất hiện hiện tượng hồng hóa. Nhục thân của họ sẽ biến thành ánh sáng cầu vồng, bay lên bầu trời, tiến vào vô số cung điện nơi vùng đất tịnh thổ của Phật giáo.

Qua nhiều năm tu luyện, cơ thể của người tu hành hội tụ năng lượng to lớn. Khi đối diện với cái chết,ìnăng lượng đó sẽ chuyển hóa nhục thân thành một chất sáng tối nguyên sơ tổ thành thân thể. Cơ thể dung hòa trong ánh sáng và sau đó hoàn toàn biến mất. Do sự khác biệt giữa các Pháp môn tu luyện, quá trình hồng hóa của người tu luyện cũng sẽ khác nhau. Có hai kiểu khá phổ biến:

Một kiểu là người tu trước khi lâm chung, thì muốn ở một mình trong phòng, cơ thể không di động trong bảy ngày sau khi chết. Lúc đó căn phòng sẽ tràn ngập ánh sáng cầu vồng kỳ lạ. Vào ngày thứ tám, mọi người sẽ mở cửa phòng, và thấy cơ thể của người tu đã biến mất, chỉ còn lưu lại tóc và móng tay. Một kiểu khác cũng là ở một mình, nhưng cho phép các đệ tử thân cận ngồi bên cạnh. Người tu ngồi đả tọa như bình thường, thân thể tự bốc cháy biến thành ánh sáng cầu vồng bay lên trời.

Theo số liệu thống kê của “Tiền dịch quang minh sử ” do viện Phật học tối cao của miền Nam Ấn Độ biên soạn.

Đại sư Liên Hoa Sinh trong thời gian ở Tang Đa có 25 đệ tử đạt thành tựu lớn kèm theo các loại Thần thông biến hóa như Đa Cát Đăng Quýnh, đồng thời có 108 đệ tử thành tựu quang thân (thân ánh sáng) ở chùa Da Ba Mật Thừa.

7174

Trái: Lạt ma Rangjung Rigpe Dorje. Phải: Thân thể vị lạt ma đạt trạng thái hồng hóa trong Nghi thức Vương miện đen.

Có hơn một trăm người đạt được hồng hóa ở Hoa Khánh Khúc Ốc Nhật. Ở Dokang vẫn tiếp tục truyền thừa dòng tu Mạt Quả Hoa Mật Thừa tại các chùa chiền địa phương, có 113 nữ tu đạt được quang thân. Ngoài ra còn có 25 vị Không Hành Mẫu cũng đắc được quang thân. Thời kỳ hồng đại trước đây cũng có nhiều người tu đạt được những thành tựu to lớn.

Tuy nhiên, tất cả những người tu luyện đều biến thành ánh sáng cầu vồng, biến mất không còn lưu lại chút gì. Nên không thể không biết ơn các đệ tử đã tường thuật lại sự việc này. Ghi chép trong nội bộ và hồ sơ của các nhà sử học, đã khiến hậu thế hiện nay ít nhiều có thể tưởng tượng được cảnh tượng tạ thế ngoạn mục kinh tâm động phách vào lúc các hành giả đắc đạo.

So sánh ra thì có thể thấy rằng, mặc dù không phải tất cả trường hợp đều là trọn vẹn hồng hóa, mà còn có trường hợp cơ thể co cứng lại. Điều này đã được truyền thừa lại rất nhiều từ thế hệ này sang thế hệ khác bởi các đệ tử đời sau.

Con người đã nghiên cứu Kinh Phật theo nhận thức riêng của họ, mà Kinh Phật lại bao hàm trong đó nhiều loại lĩnh vực, bao quát các ngành khoa học xã hội, y học tôn giáo, nhân chủng học, sinh học, vật lý, thiên văn học, tâm lý học, v.v…, nó giống như một công trình khổng lồ bao gồm nhiều lĩnh vực khoa học, là một dự án tiết lộ những bí ẩn của sinh mệnh. Đây cũng là ngọn lửa nhen nhóm nên một nền văn minh mới, là dự án khổng lồ mang tính bước ngoặt khai sáng cho khoa học kỹ thuật ngày nay.

Phóng viên Tuệ Minh, Đài phát thanh Hy vọng
Yên Tử biên dịch

Nguồn: https://www.dkn.tv/khoa-hoc-cong-nghe/ghi-nhan-nhieu-truong-hop-vien-tich-ky-la-cua-cac-lat-ma-tay-tang-than-the-phi-thang-hoa-cau-vong.html
 

Vô Năng

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
7 Thg 2 2017
Bài viết
143
Điểm tương tác
50
Điểm
43
Bên lề:
Một số tư tưởng bài Trung trong giới tăng nhân Việt, cho rằng "Cao Tăng" "Thánh Tăng" vốn chỉ là hình ảnh bịp bợp, lừa đảo của Phật giáo Đại Thừa. Kiểu như "Made in China", hàng Tung của là hàng giả.
Câu hỏi đặt ra là, lừa người, nhưng có lừa được nhân quả, trời đất?
Xuất hiện điềm lành khi sanh ra và chết đi, trời đất xuất hiện dị tượng. Và cả xá lợi?
Chẳng phải mọi thứ hết sức rõ ràng?

Những suy nghĩ và tư tưởng như vậy lại được dễ dàng chấp nhận, và được phổ biến rộng rãi.
 
Last edited:

thantanmadai

Member
Tham gia
24 Thg 7 2019
Bài viết
131
Điểm tương tác
12
Điểm
18
Ngạo Thuyết
Quản trị viên · 12 tháng 10
Phật Giáo Bài Tàu
Phật Giáo Bài Tàu, Điểm Sáng Học Phật Hay Sự Sụp Bẫy Nhân Ngã Ở Người Học Phật?
Phật Giáo Bài Tàu, Phải Chăng Đây Là Sự Dối Trá Hay Đơn Giản Chỉ Là Sự Mê Lầm Nông Nổi Ở Người Học Phật Tiểu Thừa?
...
Trước sự bành trướng lãnh thổ, lãnh hải ngang ngược của Trung Cộng mà chóp bu là lòng tham lam vô độ của Đại Tổng Quản Ma Ma Tập Cận Bình, điều này đã chạm đến lòng tự tôn dân tộc ở các quốc gia lân cận đất nước Trung Quốc. Phong trào Bài Tàu trên diện rộng đã đang và sẽ lan nhanh ở phạm vi thế giới.
Ôi dào! NT thi thoảng vẫn dùng chiêu "Gậy ông đập lưng ông" và cả chiêu "Chỉ tang mạ hòe" mà chợt nhớ một danh gia hành giả Trung Hoa, Lão Tử đã viết rằng:
Thái thượng, bất tri hữu chi; Kì thứ, thân nhi dự chi; Kì thứ, uý chi; Kì thứ, vũ chi.
Tín bất túc yên, hữu bất tín yên. Du hề, kì quí ngôn. Công thành sự toại, bách tính giai vị: Ngã tự nhiên.
Nhà cầm quyền trị nước giỏi nhất thì dân không biết là có người lãnh đạo; Nhà cầm quyền trị nước thấp hơn một bậc thì dân yêu quí và khen ngợi; Nhà cầm quyền có khả năng trị nước thấp hơn nữa thì sẽ làm cho dân sợ, lòng người rối loạn; Nhà cầm quyền mà khả năng lãnh đạo thấp kém nhất thì bị người dân xem thường, không tôn trọng.
Nhà cầm quyền mà không đủ thành tín thì dân không còn tin tưởng, ủng hộ. Nhà cầm quyền hiểu đạo tỏ ra nhàn hạ, bình thản, không làm gì mà phải biết quí trọng lời nói. Nhà cầm quyền giỏi nhất thì thường hay thành toàn mọi việc, khi mọi việc hoàn thành mà người dân vẫn không rõ biết cứ nghĩ rằng “Do tự nhiên mà được việc”.
Với những biểu hiện vô đạo, trái đức của Tập Cận Bình và Tập đoàn Đảng cộng sản Trung Hoa thì NT tin rằng người dân Trung Hoa sẽ nhất mực xem thường cùng với việc kinh sợ đến nhờm gớm chế độ cộng sản độc tài Trung Hoa.
Cũng lại như vậy với lối hành xử Thượng đội tướng cướp họ Tập, Hạ đạp dân đen đất Việt của giới lãnh đạo Việt Nam thể hiện qua việc tắc trách ở dự án đường sắt Cát Linh - Hà Đông, sự đớn hèn biểu hiện ở các buổi tọa đàm về biển Đông trên trường quốc tế cũng như cách hành xử nhùng nhằng cho thấy ước muốn hai tay dâng dự án đường cao tốc Bắc Nam cho nhà thầu Trung Quốc,... NT tin rằng nếu sự tự do, dân chủ ở Việt Nam là có thật thì giới lãnh đạo đương nhiệm của nước nhà sẽ nếm cú đấm chẳng thiếu, quả đạp chẳng thừa cùng với mọi điều phỉ nhổ đến từ người dân Việt Nam.
Và nếu một ai đó hỏi NT nhận định thế nào về giới lãnh đạo đất nước Việt Nam hiện nay. Trước những câu hỏi có nội dung như thế NT thật sự chẳng buồn trả lời. Và nếu nhất thiết phải trả lời thì NT sẽ đáp gọn "Ta Khinh".
...
Lạc trôi một chút giờ chúng ta lại quay lại với chính đề của chủ đề hôm nay.
Hưởng ứng trào lưu Bài Tàu đang lan rộng người học Phật Việt Nam ngày nay cũng ra sức Bài Tàu.
Phải chăng việc Bài Tàu ở người học Phật Việt Nam là một sự sáng suốt, trí tuệ, phát khởi từ sự khách quan bài trừ đẩy lùi vô minh, chấn hưng nền Phật Giáo chân chính?
Đáng tiếc là không phải như vậy! Thực tế việc Bài Tàu ở Phật giáo đang phát khởi, xây dựng dựa trên tâm nhân ngã liên quan đến mối oán cừu truyền kiếp giữa Phật giáo Bắc Tông (gượng nói là Phật giáo đại thừa) và Phật giáo Nam Tông (gượng nói là Phật Giáo Tiểu Thừa).
...
Mặc dù hệ phái Phật giáo Nam Tông mang danh nghĩa hệ phái Phật học chánh thống được sáng lập và truyền thừa từ thời Phật Thích Ca. Nhưng do bị gắn mác tiểu thừa nên ở Việt Nam Phật giáo Nam Tông bị xếp ở chiếu dưới và ít được sự quan tâm, ủng hộ từ đại chúng học Phật.
Nắm bắt yếu điểm thời gian ra đời pho giáo lý Bắc Tông sau thời Phật Thích Ca hoằng pháp 400, 500 năm người học Phật Nam Tông không ngừng khẳng định và công kích kinh điển Bắc Tông không do Phật thuyết. Và khi trào lưu Bài Tàu lan tỏa người học Phật Nam Tông đã "âm thầm" quy chụp kinh điển Bắc Tông là kinh sách do Phật giáo Trung Hoa ngụy tạo ngõ hầu dễ dàng hơn trong việc bài xích Phật giáo Bắc Tông, giành giật lại vị trí chiếu trên.
Kinh Phật Bắc Tông đã được người học Phật Nam Tông mang ra đốt và nhóm người học Phật non nớt, ấu trĩ cùng với sự cực đoan quá khích đó huênh hoang tự tâng bốc rằng đang ra sức hoằng dương Phật pháp. Một lối hành xử kém cỏi đến đáng thương ở những người học Phật lạc lối.
Tâm hạnh hẹp hòi, nhỏ nhen như thế há dễ được "đặt để" là tâm Phật, là tâm của người học Phật. Trên bước đường hành đạo, truyền đạo Phật Thích Ca đã từng chịu muôn điều sỉ vả, tai tiếng,... Phật đã bao giờ hành xử cực đoan, quá khích như thế chăng?
Đừng gượng đáp rằng vì Phật là Phật nên Phật mới có thể làm được như thế, tôi không phải là Phật, tôi yêu Phật nên tôi không thể nhắm mắt làm ngơ khi thấy Phật giáo Trung Hoa hủy hoại Phật giáo nguyên thủy chánh thống?
Ồ! Thế à! Thế chẳng phải là bạn đang ra sức gìn giữ những pho kinh Phật nguyên thủy trong tay, trong tấm lòng hoằng dương chánh pháp đấy sao? Nếu bạn đang ra sức gìn giữ những pho kinh Phật, tấm lòng của Phật thì chẳng ai có thể hủy hoại chúng trừ phi là chính bạn.
Bạn là người học Phật chăng? Vậy bạn hãy nên học tánh hạnh Phật! Hãy từ bỏ lối hành xử ma cô, chợ búa kém cỏi.
Thái tử Tất Đạt Đa nhờ tấm lòng rộng mở mà trở nên một bậc Toàn Giác. Do vậy bạn chẳng thể chứng ngộ với một một tấm lòng hẹp hòi, thiếu khuyết sự bao dung.
Vả lại như Ngạo Thuyết đã từng trình bày nơi nội dung sách Giải Mã Đạo Phật, nay NT xác lập lại lời rằng kinh điển Bắc Tông vốn thật không phải do Phật Thích Ca thuyết. Song đấy là tâm huyết của một vị Giác Giả thứ hai của nhân loại với tâm hạnh thật sự bất khả tư nghị.
...
Người học Phật Nam Tông đừng vì sự tự tôn gìn giữ kinh Phật chánh thống của Phật Thích Ca mà tự đâm mù mắt huệ chính mình. Chớ nói kinh điển Bắc Tông không có Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế bởi lẽ hệ phái Phật giáo Bắc Tông không từng bài xích, phủ định giáo lý Phật giáo Nam Tông. Do đó Phật giáo Bắc Tông là sự kế thừa từ nền tảng giáo lý Phật giáo Nam Tông. Vì thế giáo lý kinh điển Bắc Tông ôm trọn Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế và hơn thế nữa, đó là trí tuệ Bát Nhã giúp người học Phật dễ dàng hơn trong việc chạm đến sự viên dung giác ngộ giải thoát hoàn toàn.
...
Nương theo trào lưu Bài Tàu người học Phật theo đường lối Nam Tông ra sức hợp lý hóa kinh điển Bắc Tông là ngụy kinh được sản xuất từ Trung Quốc ngõ hầu tẩy chay, xóa sổ Phật giáo Bắc Tông. Đây là một việc làm vụng về, kém cỏi và ấu trĩ.
Lập luận kinh điển Bắc Tông xuất xưởng ở Trung Quốc là không đủ cơ sở. Vả lại cho dù kinh sách Bắc Tông có ra đời nơi đất nước Trung Hoa thì đã sao. Bởi lẽ nội dung kinh điển Bắc Tông vẫn còn đó Bát Chánh Đạo, Tứ Diệu Đế.
Không chỉ giới cư sĩ tại gia Nam Tông ra sức bài bác, hủy hoại kinh sách Bắc Tông. Giới Tăng Bảo xuất gia Nam Tông cũng âm thầm "trục", "ếm" kinh sách Bắc Tông bằng những chiêu bài vụn vặt - Chỉ có kinh Nikaya mới là kinh do Phật Thích Ca tuyên thuyết.
Để loại bỏ kinh sách Bắc Tông, trào lưu dịch giải và phổ những bộ kinh Nikaya từ kinh tạng Pali được các vị Tăng Bảo danh tiếng Nam Tông cùng giới cư sĩ tại gia chung tay góp sức.
Cơ mà dù rằng lấy danh nghĩa Bài Tàu nhưng thực tế là những bản dịch giải kinh Nikaya từ tạng Pali đời mới cũng không thể thoát ly khỏi Hán Tự. Thậm chí những bản dịch kinh Nikaya mới còn luộm thuộm với nhiều hơn những Hán Tự được diễn nghĩa rối rắm vì mê.
Danh Sắc, Lục Nhập, Hạ Lạp, Sắc Thọ Tưởng Hành Thức, Tâm, Pháp, Bồ Đề, Tín, Căn,... v.v và v.v. Liệu các nhà dịch giải kinh Nikaya từ ngôn ngữ Pali có thể thoát ly được phần lớn những ngôn từ Hán Tự đó?
Hơn nữa, có một điều chắc chắn là những người dịch giải có tinh thần trách nhiệm đều sẽ phải tham cứu rất nhiều bản dịch khác nhau trong đó có cả những bản kinh Nikaya bằng chữ Hán. Và điều đó sẽ đồng nghĩa là việc dịch giải kinh Nikaya từ tạng Pali nhằm thoát ly sự ảnh hưởng của kinh sách Tàu là những lời nói ở đầu môi, chót lưỡi.
NT muốn trình bày điều gì?
Phật giáo Bài Tàu hay trào lưu Bài Tàu bằng tư tưởng là một việc làm tự huyễn hoặc lừa người, dối mình mà thôi. Mọi "vùng vẫy" nơi lưới nhị nguyên thảy đều là tâm nhân ngã, là rơi vào chiếc bẫy nhân ngã trả vay.
Do cực đoan, quá khích những người học Phật Nam Tông mãi "truy quét" Phật giáo Bắc Tông qua sự Bài Tàu nhưng cơ hồ như "cố tình" quên thực trạng các vị Tăng Bảo Nam Tông danh tiếng như sư Viên Minh, Giới Đức, Toại Khanh, Giác Nguyên,... vốn rất giỏi thơ phú Đường luật. Mặt khác, pháp học, pháp hành của các vị Tăng Bảo Nam Tông danh tiếng không thật sự sống trọn vẹn nơi bộ kinh điển Nam Tông, sự hiểu biết của họ vốn góp nhặt, tích lũy được từ Đạo Lão, Đạo Khổng, Đạo Kitô, Kinh điển Bắc Tông,... Và sự thật là họ trưởng thành hơn nhờ vào việc tham cứu Bá Đạo, trí tuệ Bát Nhã được nhắc đến trong kinh điển Bắc Tông thật sự đã "ảnh hưởng" họ rất nhiều.
Vậy mà giới Tăng Bảo danh tiếng Nam Tông không dám thừa nhận sự thật đó và họ cũng đã không lên tiếng cảnh tỉnh môn đồ người học Phật Nam Tông về ưu khuyết nơi giáo môn, những việc làm ngõ hầu nhằm gỡ bỏ sự tỵ hiềm Nam Bắc nơi người học Phật. Họ đã không làm như thế là vì lẽ gì?
Đấy có phải là "vết tích" của tâm nhân ngã nơi người học Phật còn neo ở Bến Mê?
...
Người học Phật Nam Tông thường chê trách kinh điển Bắc Tông chứa đựng điều thần thông, huyễn hóa nhưng lại không dám trực nhận rằng nơi kinh điển Nam Tông cũng đầy dẫy những phép màu, sự hiện thân của những vị Phạm Thiên hoang đường.
...
Người học Phật Nam Tông lại cho rằng kinh sách Bắc Tông không có những pháp hành giúp người chứng ngộ. Vậy pháp hành nào ở nơi pho kinh Nikaya giúp người thành Phật và vị hành giả Nam Tông nào đã thành Phật nhờ vào những chỉ dẫn có nơi kinh điển Nikaya?
Lẽ nào sự cực đoan, quá khích, lòng hẹp hòi, đố kỵ,... sẽ giúp người học Phật chứng ngộ pháp vô sanh?
Lời rằng:
Mấy ai thành Phật ở tu hành
Chỉ trói cùm thêm trí óc minh
Thấu lẽ huyền vi trong ngọc sáng
Là vầng dương hiện giữa trời xanh.
Không có mô tả ảnh.
 
Bên trên