giải mã truyện Tây Du.

Bình Đẳng Giác

Moderator
Staff member
Tham gia
4 Thg 10 2015
Bài viết
538
Điểm tương tác
223
Điểm
43

GỦI BÌNH ĐẲNG GIÁC

Theo Bình Đẳng Giác các tình tiết "mà ngô thừa ân gửi gắm không phải là nên án chuyện ăn hối lộ nơi cửa Phật hay phỉ báng Phật pháp" thì hiểu như thế nào là đúng ? Xin vui lòng nói rõ hơn để người chưa hiểu có dịp hiểu cho đúng tránh tình trạng hiểu sai dẫn đến nói sai, làm sai, lầm lạc mà không biết.
Rất mong Bình Đẳng Giác dành thời gian giúp đỡ.
Xin cảm ơn nhiều.
Con chào bác những câu hỏi mà bác đưa ra trích trong tập cuối qua miền cực lạc của bộ phim tây du ký 1996 theo con có thể trả lời bằng câu .được ý thì quên lời,chớ chấp lời nghịch ý mới cho biết ít phần hihi.con thấy đạo hữu trang linh đang bost giải mã tây du ký chúng ta cùng nhau theo dõi chắc sẽ rõ ràng hơn
 

tranglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
24 Thg 3 2015
Bài viết
239
Điểm tương tác
76
Điểm
28
Giải mã truyện Tây du- Lê Anh Dũng

Ngọn gió trong lò

http://www.maxreading.com/sach-hay/giai-ma-truyen-tay-du/ngon-gio-trong-lo-39984.html



Tề thiên sau khi thua trận, thiên binh áp giải về trời trị tội. Trị cách gì cũng không giết được. Thái thượng Lão quân tâu cùng Thượng đế: “Hay là để thần mang nó về bỏ vào lò bát quái, đốt nó bằng thứ lửa văn vũ mà thần thường dùng để luyện linh đơn...” [TDK I 1982: 165, 166]

Lão quân mang Tề thiên về cung Đâu suất, ném vào lò bát quái. “Nguyên lò này gồm tám cung của các quẻ: Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài. Đại thánh chui ngay vào nằm dưới cung Tốn. Tốn là gió, có gió thì không có lửa.” (...) “Thời gian thấm thoát, chẳng mấy chốc đã được bốn mươi chín ngày, đủ số ngày luyện.” [TDK I 1982: 165, 166]

Câu chuyện được kể tỉ mỉ với những chi tiết rườm rà. Đây là cả một vấn đề sinh tử đối với những người muốn học đạo trường sinh, tu theo đạo Lão. Đoạn văn diễn tả một giai đoạn cơ bản của thực hành thiền hay luyện nội đan. Có ba chi tiết phải chú ý: (1) bốn mươi chín ngày; (2) lò bát quái; (3) cung Tốn.

Thất thất và cửu cửu

Tại sao Tây du bảo phải đợi đến bốn mươi chín ngày mới gọi là “đủ số ngày luyện”? Bốn mươi chín tức là thất thất (7x7). Nó ám chỉ trong quá trình tu tập thiền định (đạo Lão và Cao đài gọi là tịnh luyện), có một giai đoạn người hành giả phải giam mình trong chốn tư phòng, hoặc thiền thất, thiền đường (Cao đài còn gọi là tịnh thất, tịnh trường), hoặc vào chốn vắng vẻ núi non, như mấy ông đạo ở Thất sơn dựng cốc.

Theo đạo Phật, bốn mươi chín ngày cũng rất quan trọng cho linh hồn người chết. Vì sau khi hồn lìa khỏi xác, linh hồn chưa ra trước Diêm đình để các phán quan xét xử. Thời gian “tại ngoại hậu tra” (bail) dài bốn mươi chín ngày, và linh hồn được phép tạm trú ở một khu vực (cảnh giới) mà Phật giáo gọi là antarabhava, dịch là trung hữu hay trung âm, trung ấm [Soothill 1962: 10]. Đây là lúc để thân nhân cõi thế lo cầu siêu cho người quá cố, để linh hồn ấy tiêu tai giải nghiệp, ngõ hầu khi ra tòa án âm phủ sẽ dễ dàng được cứu rỗi, được cho về cõi trên, hoặc luân hồi vào đường tốt. Lễ cầu siêu bảy lần bảy ngày, kể từ ngày chết.

Ở đạo Lão và Cao đài giai đoạn này kéo dài, và gọi là cửu cửu (9x9) tức tám mươi mốt ngày. Cho nên khi Đường tăng về tới chùa Lôi âm, Quan âm Bồ tát cộng sổ, thấy mới có tám mươi nạn, phải... “lập kế” để Đường tăng chịu thêm một nạn chót, cho đủ... chỉ tiêu. Tây du kể: “Bồ tát xem qua quyển sổ một lượt, bèn truyền bảo: Trong đạo Phật ‘chín chín tám mươi mốt mới về nguồn’, thánh tăng đã chịu tám mươi nạn, còn thiếu một nạn nữa mới đủ số.” [TDK X 1988: 181]

Đi từ kinh đô Tràng An nước Đại Đường (đất phàm, con người luân hồi) đến chùa Lôi âm nước Thiên Trúc (đất phật, chân nhân giải thoát), Đường tăng phải trải qua tám mươi mốt nạn và vượt qua mười vạn tám ngàn dặm (108.000 = 9x12.000). Ý nói rằng, quá trình tu luyện để siêu hoá từ phàm nên thánh phải gồm những “công đoạn” bắt buộc.

Một trăm lẻ tám ngàn dặm là bội số của 9. Cây tích trượng của Đường tăng có chín vòng. Cây đinh ba Bát giới dùng làm vũ khí có chín răng. Xâu sọ người Sa tăng đeo ở cổ cũng gồm chín cái. Xâu chuỗi lớn của nhà sư thông thường cũng gồm một trăm lẻ tám hột [1]; hoặc có khi ngắn hơn là năm mươi bốn hột (9x6), hoặc hai mươi bảy hột (9x3) là bội số của chín, hoặc mười bốn hột (7x2) là bội số của bảy.[2]

Giới đạo sĩ dù theo trường phái nội đơn (thiền) hay ngoại đơn, đều theo quá trình chín lần khổ luyện này mà thuật ngữ đạo Lão gọi là cửu chuyển công thành, hay cửu chuyển đan thành. Cao đài cũng vậy, cửu cửu là giai đoạn thiền (hay tịnh luyện) rất cơ bản, hành giả bước vào bực sơ thiền phải qua đó mới có thể chuyển lên những bực cao hơn, cho nên kệ sơ thiền Cao đài có câu rằng:

Cửu cửu công phu chẳng chí bền,

Con đường tu luyện khó lòng nên...

Cũng như đạo Phật, ở Cao đài hành giả không quan trọng hóa việc cầu siêu (thất thất vong: lễ bốn mươi chín ngày) vì hành giả phải tự giải thoát cho mình bằng chứng ngộ. Cầu siêu vì thế là để cho ai còn trong ràng buộc luân hồi. Lễ cầu siêu của đạo Phật là thất thất, thì ở Cao đài là cửu cửu, cứ chín ngày cầu siêu cho người chết một lần, tính từ ngày chết. Cũng với quan niệm về chín từng trời, tín đồ Cao đài tin rằng, cứ qua một lần cúng cửu, linh hồn nhẹ nghiệp hơn và thăng lên được một từng trời tương ứng.

Con số 9 còn là một tượng số khá phổ biến trong thiền nhà Phật.[3]

Tại sao Phật, Lão, và Cao đài chú trọng con số 9? Và ở Tây du, tại sao Đường tăng muốn thành tựu công viên quả mãn phải trải qua chín lần chín tai nạn (ám chỉ là sự khổ luyện đớn đau của hành giả), phải vượt qua chín lần mười hai ngàn dặm?

Số 9 là số thành và là số dương lớn nhất (lão dương). Tu luyện là chuyển âm trược (phàm phu) thành dương thanh (tiên phật), mà số 9 là số thuần dương cho nên số 9 gắn liền với thiền đạo và thiền gia, đạo sĩ. Nhưng... nói như vậy thì hơi lẹ quá, nên cũng cần thử lướt sơ qua một chút về Dịch học, để hiểu thêm cái lò bát quái của Lão quân nó tròn vuông lớn bé cỡ nào, và lò bát quái ấy đặt ở cung Đâu suất hay là ở một nơi nào khác nữa.

Số 5, số 9 và cung Tốn trong Dịch

Dịch là âm dương. Âm là chẵn; dương là lẻ. Lẻ loi nên gọi cơ; chẵn đôi nên gọi ngẫu.[4] Dịch chia mười con số từ 1 đến 10 làm hai loại, gồm: [a] năm số dương (1, 3, 5, 7, 9); và năm số âm (2, 4, 6, 8, 10).

Số 5 theo ngũ hành có vị trí nằm ở trung ương như sau:

2
3 5 4
1
Số 5 được gọi là số sinh, vì nó sinh ra các số khác. Trong bát quái, số 5 ứng với quẻ Tốn. Tề thiên bị hầm, bị ninh trong lò bát quái mà vẫn cứ sống nhăn, đó là nhờ ẩn mình trốn tại cung Tốn. Tốn là cửa sinh. Đọc truyện Phong thần, hay Phong kiếm xuân thu (chuyện Tôn Tẫn, Bàng Quyên), ai cũng nhớ người xưa đánh giặc thường lập trận đồ, bày cửa tử và cửa sinh. Đối phương kéo quân vô cửa tử thì chỉ còn có nước đại bại, mất mạng.

Tại sao số 5 là số thành? Trong năm số 1, 2, 3, 4, 5 bày theo ngũ hành nói trên, thử làm bốn bài toán cộng như sau:

5+1 = 6 ; 5+2 = 7 ; 5+3 = 8 ; 5+4 = 9

Bốn kết quả 6, 7, 8, 9 là số thành, và 9 là số thành lớn nhất (ngụ ý viên mãn, hoàn hảo). Số 9 lại là tổng số của ba số dương: 1+3+5 = 9. Cho nên chín được gọi là số lão dương hay thuần dương. Mà dương là quân tử, chính nhân (âm là tiểu nhân, tiện nhân). Do đó ngôi vua được gọi là cửu trùng (chín tầng, chín bệ), và Bà Huyện Thanh Quan (Trấn Bắc hành cung hoài cổ) ngậm ngùi:

Chín tầng sen rớt rơi hương ngự,

Năm lớp mây phong sắc áo chầu.

Ở Trung Quốc, đời Tấn, cha con Vương Hi Chi (321-379) và Vương Hiến Chi đều là danh gia về thư pháp, được tôn là Thảo thánh Nhị vương. Thuở nhỏ, để mài mực luyện chữ, Hiến Chi đã gánh nước đổ đầy 18 chum (2x9) lớn.[5]

Ở Hy Lạp, nhà triết học kiêm toán học Pythagore cũng khám phá ra số 9 là huyền diệu, nên bảo rằng: Chín là số hoàn hảo, và bình phương của ba (3x3 = 9), một tam hợp hòa hài trọn vẹn, rất mực đề huề (Neuf est le nombre parfait en tant que carré de trois qu’est la trinité de l’harmonie complète).

Lò bát quái

Trở lại với cái lò bát quái trên cung Đâu suất của Lão quân. Ở Á Đông có tới ba loại bát quái. Bát quái dùng để ninh, hầm Tề thiên thuộc mô-đen nào?

Trong dân gian, trước cửa nhà thường có treo tấm bùa bát quái để trừ tà ma, xua yêu quỷ. Thầy bói cũng có khi xài loại bát quái này. Nó gồm tám quẻ xếp đặt như sau (kể theo chiều kim đồng hồ): Càn, Cấn, Khảm, Chấn, Khôn, Đoài, Ly, Tốn. Bát quái này không phải loại dùng để hầm Tề Thiên.

Theo Dịch, vua Phục Hy thời thượng cổ đã nghĩ ra sơ đồ Tiên thiên bát quái hay Tiên thiên cơ ngẫu. Tiên thiên tức là lúc vừa có trời đất, vũ trụ mới hình thành. Sơ đồ của Phục Hy gồm vị trí tám quẻ như sau:

- đi ngược chiều kim đồng hồ (tức là theo chiều dương) Càn, Đoài, Ly, Chấn;

- đi xuôi chiều kim đồng hồ (tức là chiều âm) Tốn, Khảm, Cấn, Khôn.

Theo sơ đồ Tiên thiên bát quái, con người nguyên thủy còn thuần lương, tâm người tâm phật như nhau. Phục Hy biểu tượng bằng quẻ Càn (dương) ở trên, quẻ Khôn (âm) ở dưới. Âm dương chính vị, hòa hài.

Lò bát quái của Lão quân không đúc theo mô-đen của Phục Hy. Ngô Thừa Ân kể rằng: “Nguyên lò này gồm tám cung của các quẻ Càn, Khảm, Cấn, Chấn, Tốn, Ly, Khôn, Đoài.” [TDK I 1982: 165]

Té ra lò bát quái của Lão quân đúc theo Hậu thiên bát quái hay Hậu thiên cơ ngẫu, là mô-đen của Văn vương. Hậu thiên là lúc trời đất, con người, vũ trụ đã không còn đúng tiêu chuẩn chất lượng của thời nguyên sơ khởi thủy. Con người gần quỷ ma, xa tiên phật. Tâm người tâm phật đôi nẻo đôi nơi, hai phương trời cách biệt! Theo sơ đồ của Văn vương, các quẻ xếp theo chiều âm (xuôi chiều kim đồng hồ), con người có xu hướng biến chất hơn là thăng hoa.



Sơ đồ này cho thấy hai quẻ Càn (dương) và Khôn (âm) nằm lệch một bên, không chính vị. Bên dưới là quẻ Khảm (nước, thủy, âm) và trên là quẻ Ly (lửa, hỏa, dương). Kinh Dịch, quẻ chót (quẻ 64) lấy Ly trên hiệp Khảm dưới thành ra quẻ Hỏa thủy Vị tế. Vị tế là chưa xong. Kết thúc kinh Dịch, làm thành quẻ chót, tại sao lại bày ra chuyện dở dang?



Cuối bộ Tây du, Đường tăng đem kinh về Trường An, kinh bị rớt xuống sông Thông Thiên; lúc phơi kinh ai dè lại bị mất hết mấy trang chót [TDK X 1988: 189], thì lại vẫn là chuyện dở dang!

Mà con người cũng là một dang dở đó thôi. Đã đành làm kiếp người thì cao trổi hơn vật thú, nhưng người chưa bằng phật tiên. Trên nấc thang Chân-thiện-mỹ, giá trị con người mới ở nửa vời. Nếu tiến hóa thêm, con người sẽ hoàn thiện là hiền thánh, là tiên phật, là chân nhân. Còn nếu thoái hóa, người tuy bề ngoài mang hình hài thân xác con người xinh đẹp, sang trọng, nhưng bên trong thì tâm hồn đã rữa nát, ngang loài cầm thú. Ông Darwin chắc cũng đành lắc đầu than thở: Cốt khỉ hoàn cốt khỉ!

Phép tu đạo Lão khi xưa và Cao đài ngày nay chính là biến Hậu thiên bát quái trở lại nguyên vị Tiên thiên bát quái, đưa con người hư hao trở lại con người Nhân bản mà cuộc đời tôn xưng là Phật, Chúa, Tiên, Thánh, Thần. Biến cải Hậu thiên ra Tiên thiên, trong đạo Lão và Cao đài gọi là chiết Khảm điền Ly; tức là tách hào hai dương ở quẻ Khảm bên dưới sơ đồ Hậu thiên mà đưa vào quẻ Ly ở bên trên, đưa hào hai âm ở quẻ Ly xuống cho quẻ Khảm, thì Khảm-Ly (Hậu thiên) đổi lại Khôn-Càn (Tiên thiên), âm dương trở lại chính vị. Cao đài gọi đây là con đường phản bổn hoàn nguyên. Lão giáo gọi là phục kỳ bản, phản kỳ chân.



Đạo đức Thiên tôn (Lão tử) cầm Bát quái hậu thiên (thế kỷ XIX)

Lò bát quái đặt ở đâu?

Lò bát quái trong Tây du như vậy là một ẩn ngữ, nói lên sự tu luyện của con người. Lò đặt ở đâu? Tại cung Đâu suất chăng? Không phải thế! Lò bát quái ấy nằm trong thân xác con người, đặt ở chỗ mà đạo gia gọi là Đơn điền, là Phương thốn [xem bài Trăng sao cửa động đá đầu non]. Bức hình Tẩy tâm thối tàng đồ của đạo Lão kèm theo đây cho thấy vị trí lò bát quái trong thân hành giả luyện nội đan.



Tẩy tâm thối tàng đồ, mượn trong [Max Kaltenmark 1965: 161]

Lửa nào đốt lò bát quái?

Lửa để đốt lò bát quái, theo Tây du ký, là “thứ lửa văn lửa vũ”. Văn là chi, vũ (võ) là chi? Thuật ngữ này có thể hiểu theo hai nghĩa.

Hiểu cạn, văn ám chỉ kinh điển; phải học kinh, trì chú để trợ lực; vũ (võ) ám chỉ phép hành công tọa thiền, và kèm một số môn ngoại công phu (physical exercises) để hộ trợ như Bát đoạn cẩm (tám bài luyện tập), Thập nhị cẩm đoạn (mười hai bài luyện tập), v.v... Cho nên người tu thiền cũng cần văn ôn võ luyện, phải văn võ song toàn.

Hiểu sâu xa hơn, lửa văn lửa vũ ám chỉ việc thực hành công phu thiền định của hành giả, gọi đích danh là luyện hỏa hầu. Thiền Lão và thiền Cao đài có bốn giờ công phu là thời Tý, Ngọ, Mẹo, Dậu, trong đó hai thời Tý Ngọ là để luyện hỏa hầu. Tổ sư Hi di Trần Đoàn bảo: “Hỏa hầu là công phu giờ Tý và giờ Ngọ, hai thời ấy luyện tập và trì thủ không kể đêm ngày.” [Tý Ngọ công phu thị hỏa hầu, lưỡng thời hoạt thủ vô hôn trú.]

Nếu hiểu lửa ở đây là lửa trong nội thân, để luyện “hỏa hầu” thì hành giả có lúc vận công nhu nhuyễn, giống như đốt lửa riu riu, đó là dùng lửa văn; hoặc có lúc vận công tích cực hơn, giống như đốt lửa cho ngọn hừng lên, đó là dùng lửa vũ (võ). Giống như bà nội trợ giỏi khéo nấu cơm, hành giả cũng phải tùy lúc mà nổi lửa cho đúng cách.

Theo [Đái Nguyên Trường 1970: 68], mục từ “văn vũ hỏa hầu” viết: “Hỏa hầu như nấu cơm, lúc mới đốt thì nước nguội, gạo sống, vậy ắt phải dùng lửa vũ mãnh liệt cho cơm mau chín. Nếu lửa khi chậm khi mau không đều đặn, khi đốt khi ngưng thì cơm ấy sống sượng không đều, vị lại không ngon. Nếu đã dùng lửa lớn (vũ) nấu qua thì hãy dùng lửa văn nấu chậm. Khi cơm chín tức thì tắt lửa. Nếu như vẫn dùng lửa lớn như cũ ắt phải lo sợ rằng thừa hơi nóng, bốc thẳng lên nắp nồi và cháy khét sinh vị đắng. Luyện đan thì vận dụng lửa văn lửa vũ cũng y như vậy. Như khi luyện tinh một trăm ngày tiểu chu thiên thì nên dùng lửa vũ; khi luyện khí mười tháng đại chu thiên thì nên dùng lửa văn. Nhưng nấu cơm là chất liệu hữu hình cho nên thời gian ít và dễ dàng, còn tu luyện kim đơn là thứ vô hình vô chất, nếu hỏa hầu không phù hợp thì khó thành công. Cho nên phải cầu minh sư dạy bảo, không để một chút xíu sai biệt nào cả. Kinh dạy luyện đơn không bao giờ nói sai vậy.” [6]

Tốn là gió

Bị nấu liên tục bốn mươi chín ngày trong lò bát quái, nhờ Tề thiên núp vào cung Tốn nên an toàn tánh mạng. Tốn là gió. Điều này ám chỉ hành giả khởi công phu phải dựa vào hơi thở. Điều thân (tư thế thích hợp khi ngồi thiền), điều tức (hô hấp để hơi thở một vô một ra cho đúng cách), điều tâm (giữ cho tâm an định, không bị phóng tán như ngựa khỉ lăng xăng), đấy chính là ba “công đoạn” cơ bản của thiền gia hay hành giả.

Đạo Lão và Cao đài cho rằng Tam bảo gồm có Tinh, Khí, Thần. Khí theo nghĩa hẹp có thể hiểu tạm là hơi thở. Ở sinh mạng, khí là sự sống; hơi thở dứt đi, mạng sống đoạn lìa. Ở tu thiền (tịnh luyện), người ngồi thiền (hành giả) phải để tâm, ý vào hơi thở luân lưu nhằm cột lại cái tâm viên ý mã [xem bài Trăng sao cửa động đá đầu non].

Vì Khí với người tu quan trọng như thế, nên cũng đừng lấy làm lạ khi bước vô bửu điện của một thánh thất Cao đài bất kỳ, đối diện với Thiên nhãn là bàn thờ Hộ pháp, thấy nơi ấy chỉ tượng trưng bằng một chữ Khí (chữ Nho viết thảo).



Chữ Khí, thư pháp Lê Anh Minh

Tóm gọn lại, câu chuyện nấu Tề thiên trong lò bát quái là ẩn ý gì?

1. Tề thiên là cái lý trí phàm phu phân biện (nhị nguyên). Lão quân đòi “giết” Tề thiên trong lò bát quái tức là dùng công phu thiền pháp để diệt cái tâm điên đảo (phàm tâm tử, đạo tâm sanh); lấy hơi thở (điều tức) để kềm lại, cột lại cái tâm viên ý mã ưa lăng xăng xạo xự.

2. Tề thiên nhờ núp ở cung Tốn bốn mươi chín ngày nên không chết, vì ở cung Tốn “có gió mà không có lửa”. Bốn mươi chín ngày chưa phải là trọn vẹn quy trình hành pháp của thiền gia (Đường tăng còn phải lặn lội cho tới một trăm lẻ tám ngàn dặm mà!). “Có gió” tức là mới ở khởi đầu, dùng hơi thở (điều tức) để kềm tâm định ý... nhưng tâm ý vẫn còn có thể bay nhảy nếu quên chú ý vào một hơi thở vô, một hơi thở ra. “Không có lửa” tức là chưa đến giai đoạn cực kỳ quan trọng hiểm nghèo: luyện hỏa hầu. [Yoga gọi là luồng hỏa xà (kundalini), tượng hình con rắn lửa. Luyện thành công thì thông suốt hai mạch Nhâm, Đốc; còn luyện hỏng thì... “tiêu”, mà truyện chưởng Kim Dung và phim chưởng Hong Kong gọi tên là “tẩu hỏa nhập ma” (lửa chạy đường tà).]

3. Lò bát quái nấu kim đơn của Lão quân chính là lò lửa luyện nên vàng mười; thân phàm phu huyết nhục qua trui luyện thành công sẽ trở nên kim thân bất hoại. Mỗi con người đều sẵn có trong cơ thể một lò bát quái. Đường tăng là người đã chụm lửa đốt lò bát quái, mang lò ấy để đi ngược dòng đời thế tục, tìm về cõi phật, thành phật thành tiên.

Vậy thì tất cả những gì linh thiêng, mầu nhiệm đều không ở đâu xa. Máy Tạo hóa huyền vi đã tàng ẩn trong chính mảnh thân nhỏ bé của mỗi con người. Quả thực, truyện Tây du được kể bằng lối nói úp úp mở mở, nhưng lắng lòng thật kỹ thì nghe như đâu đó có Ngô Thừa Ân cất lên lời tha thiết rằng: Con người ơi, anh chính là một huyền nhiệm!


*********************************************

CHÚ THÍCH

[1] [Soothill 1962: 438] giải thích hai chữ “sổ châu” như sau: “A rosary; to tell beads, which consists of various numbers, generally 108.”
[2] [Từ hải 1948: 607] viết: “sổ châu giả, yếu đương tu mãn nhất bách bát khỏa, như kỳ nan đắc, hoặc ngũ thập tứ khỏa, hoặc nhị thập thất, hoặc thập tứ khỏa, diệc giai đắc dụng.” (Chuỗi hạt nên đủ một trăm lẻ tám hột, nếu khó được như thế, thì hoặc năm mươi bốn hột, hoặc hai mươi bảy hột, hoặc mười bốn hột, đều có thể dùng được.) Lê Anh Minh dịch.
[3] Theo [Đoàn Trung Còn 1963: 357-365], từ thuật ngữ cửu bộ kinh cho đến cửu trụ tâm, tổng cộng là hai mươi hai mục từ về số 9; trong đó liên quan đến thiền thì có: cửu thiền, cửu thứ đệ định, cửu trụ tâm.
Theo [Soothill 1962: 15-20], từ thuật ngữ cửu, rồi cửu thượng duyên hoặc, cho tới cửu trai nhật, tổng cộng có đến sáu mươi bảy mục từ về số 9; trong đó liên quan đến thiền thì có: cửu trụ tâm, cửu tâm luân, cửu tưởng quán, cửu thứ đệ định, cửu chủng đại thiền.
[4] Vì ngẫu là cặp, nên trai gái cưới nhau, được chúc lành nên duyên giai ngẫu. Giai ngẫu là tốt đôi. Trước kia, danh từ luật pháp Việt Nam gọi chồng hoặc vợ là phối ngẫu (spouse), tức là một người kết cặp với người khác (phối hợp, phối kết) cho đủ một đôi (ngẫu).
[5] Lê Anh Minh, “Tản mạn về thư pháp”, tuần san ... thứ Bảy, số 421, ngày 06-3-1999, tr. 30.
[6] Nguyên văn: “Hỏa hầu như chử phạn, sơ khởi hỏa thời thủy lãnh, mễ sinh, tất dụng mãnh liệt chi vũ hỏa, sử kỳ tốc thục. Nhược hoãn cấp bất điều, thời thiêu thời hiết, tắc sở chử chi phạn, sinh ngạnh bất quân, vị diệc bất mỹ. Nhược dĩ dụng mãnh hỏa chử qua, tắc nghi dụng văn hỏa hoãn chử, thục tức chỉ hỏa. Như nhưng dụng mãnh hỏa, tắc hữu đĩnh cái phún dật chi ngu, cập thiêu tiêu vị khổ chi hoạn. Luyện đan văn vũ hỏa hầu chi vận dụng diệc nhiên. Như bách nhật tiểu chu thiên luyện tinh thời nghi dụng vũ hỏa; thập nguyệt đại chu thiên luyện khí thời nghi dụng văn hỏa. Đản phạn thị phanh chử kỳ hữu hình chi chất, cố thời đoản nhi dị, nãi vô hình vô chất chi vật, nhược hỏa hầu bất đắc kỳ nghi, hãn hữu thành công giả. Cố tất cầu minh sư chỉ điểm, bất dung hào phát chi sai thù, đơn kinh phi hư ngôn giả.” (Lê Anh Minh phiên âm và dịch nghĩa)
 

tranglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
24 Thg 3 2015
Bài viết
239
Điểm tương tác
76
Điểm
28
Giải mã truyện Tây du- Lê Anh Dũng

Núi cao chi mấy núi ơi


http://www.maxreading.com/sach-hay/giai-ma-truyen-tay-du/nui-cao-chi-may-nui-oi-39985.html


Tề thiên sau khi nhảy ra khỏi lò bát quái của Lão quân, như mãnh hổ thoát cũi sổ chuồng, mặc sức vận dụng hết phép thần thông tài nghệ đánh phá cung Trời đến nỗi:

Thiên cung đại náo phen này,

Thiên binh thần tướng bó tay chịu lùi.

“Thượng đế bèn sai ngay Du dịch Linh quang và Dực thánh Chân quân sang phương Tây mời Phật tổ tới bắt yêu quái.” Gặp Phật, Tề thiên hỏi, thì “Như lai cười, nói: Ta là Phật A di đà Thích ca Mâu ni...” [TDK I 1982: 169]

Để ý cách xưng hô ở đây rất thâm thúy. Tại sao phải dùng đến bốn danh xưng: Phật tổ, Như lai, A di đà, Thích ca?

Di đà và Thích ca

- Phật (Buddha) theo tiếng Sanskrit là Đấng giác ngộ, không còn mê muội, sai lầm nữa, là Đấng có thể cứu vớt người khác, và đã tự cứu được mình. Nên, khi cõi trời cần được cứu, thì chỉ có Phật mới cứu được. Đúng người đúng việc.

- Như lai (Tathâgatha) nghĩa là thường trụ, bất biến. Kinh Kim cang chép rằng Phật vốn không do đâu mà tới; tới cũng chẳng đi về đâu. Chính vì vậy, người tu thành phật mà thật ra thì không có chỗ thành phật, vì phật vốn đã ở sẵn nơi tự thân con người. Phật không có ở ngoài người, không phải từ bên ngoài đi tới người. Như lai là thật tướng. Cái gì nói ra từ Như lai, đó là Chân lý.

- A di đà là Phật quá khứ so với Thích ca Mâu ni. Đã có Di đà thuyết pháp trước khi Thích ca thuyết pháp. Vậy tại sao ở cửa miệng Chân lý (Như lai) lại nói điều tưởng như là sai chân lý: Đã là Di đà thì Di đà, chứ lẽ đâu vừa là Di đà vừa là Thích ca?

Di đà và Thích ca là một. Chúng sanh với phật là một. Phật đã thành từ thiên cổ và phật sẽ thành từ trong nhân loại, từ trong chúng sanh mai hậu là một. Đây là triết lý thượng thừa của đạo lý phương Đông. Mặc dù nói qua tưởng như hàm hồ, ngụy biện.

Trời và người

Cuộc đấu lý giữa Tề thiên và Phật tổ cũng rất thú vị. Phật nói Thượng đế đã tu 1750 kiếp, mỗi kiếp 129.600 năm, còn con khỉ “mới từ súc sinh lên làm người” tại sao lại dám đòi ngang bằng Trời (Tề thiên)! [TDK I 1982: 172]

Trước tiên, phải nói người viết truyện có sơ sót ở con số này. Theo Phật giáo, một kiếp (kalpa) mà gọi là tiểu kiếp dài 168.000.000 năm, trung kiếp 336.000.000 năm, đại kiếp 1.344.000.000 năm!

Trở lại với việc Tề thiên tranh cãi với Phật tổ. Khi bị Phật... mắng vì dám đòi làm Trời, Tề thiên nói tỉnh bơ: “Thượng đế tuy tu luyện lâu lắm, nhưng cũng không nên ngồi mãi ngôi ấy.” [TDK I 1982: 172]. Lời lẽ rất phạm thượng! Phạm thượng mà không hề hủy báng Trời, lại rất đúng đạo lý nữa chứ! Đúng đến mức có lẽ Ngọc hoàng cũng không giận.

Ở đời, ông thầy giỏi là người dạy ra học trò còn giỏi hơn thầy. Con hơn cha, nhà có phúc. Thích ca thành Phật rồi đâu có thèm giữ độc quyền làm Phật cho riêng Thích ca. Thích ca khuyến khích rằng mọi người đều có khả năng để làm ông Phật như Thích ca.

Ngày nay trong Cao đài vẫn cho rằng con người tiến hóa từ con thú đi lên, nhưng chưa đủ, người lại phải còn tiến hóa thêm để hoàn thiện là tiên là phật, thậm chí là Trời. Cho nên Cao đài chủ trương con người đến thế gian từ Trời và còn phải rán học hỏi không ngừng để sẽ tiến hóa lên làm Trời:

Tu hành là học làm Trời,

Phải đâu muôn kiếp làm người thế gian.

Vì vậy, phải dám nói rằng, khi Tề thiên đòi... đảo chánh, soán ngôi Ngọc hoàng, thì Ngọc hoàng lại vẫn yêu thương Tề thiên hơn ai hết.

Bàn tay trùm vạn dặm

Cuộc tỉ thí giữa Tề thiên và Phật tổ là cuộc tỉ thí không cân sức. Phật tổ thách thức: “Ta đánh cuộc với nhà ngươi, nếu nhà ngươi có tài nhảy một cân đẩu vân ra khỏi được lòng bàn tay phải của ta, thì nhà ngươi thắng.” [TDK I 1982: 173]

Tề thiên là trí, dù có thông minh sáng suốt đến đâu chăng nữa thì cũng vẫn còn trong chướng ngại của thế gian trí, trong hạn chế của phàm phu trí. Đó là lý do của nghịch lý Tây du: chỉ cần một cân đẩu vân là có thể vượt qua mười vạn tám ngàn dặm dễ dàng, thế mà Tề thiên dù cố gắng đến đâu vẫn cứ phải quẩn quanh trong lòng bàn tay Phật tổ!

Phật là Pháp vương (Dharma Lord, Vua Pháp) nên bàn tay của Phật nắm trọn vạn pháp. Cân đẩu vân là cái trí phàm. Tề thiên là một pháp trong vạn pháp thì làm sao lọt ra khỏi bàn tay của Phật! Trên nguyên tắc, Tề thiên chưa đấu thì đã thua rồi, nào phải đợi đến lúc so tài.

Ngũ hành năm ngọn

Khi biết mình thua, toan... xù vụ đánh cuộc. Tề thiên “vội vàng tung người nhảy vút đi, nhưng bị ngay Phật tổ lật bàn tay túm chặt lấy, mang ngay ra ngoài cửa Tây thiên, biến năm ngón tay thành năm quả núi: Kim, Mộc, Thủy, Hỏa, Thổ, gọi là núi Ngũ hành, nhẹ nhàng đè chặt Đại thánh xuống dưới.” [TDK I 1982: 175]

Bàn tay vốn có năm ngón dài ngắn không đều. Theo thuật đoán số mệnh qua bàn tay, người ta cho rằng trong bàn tay có đủ cả ngũ hành: ngón cái là kim; ngón trỏ, mộc; ngón út, thủy; ngón vô danh, hỏa; ngón giữa, thổ. [Thông thường, khi cưới vợ lấy chồng, người ta đeo nhẫn vàng ở ngón vô danh (ngón áp út), phải chăng ngụ ý muốn lấy lửa (hỏa) để thử “tuổi” vàng, để coi hôn nhân có bền được cùng năm tháng hay không?]

Mượn hình tượng bàn tay năm ngón ứng với ngũ hành để từ đó chuyển sang hình tượng ngọn núi Ngũ hành nhốt Tề thiên, quả là cả một tài tình của Ngô Thừa Ân! Núi Ngũ hành là chi? Tề thiên là chi?

Theo Phật giáo, thân con người vốn do năm yếu tố cấu tạo thành, gọi là ngũ đại, gồm có đất, nước, gió, lửa, và hư không. Mỗi người đều có ngũ căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân). Mỗi căn đều có một ý thích riêng, do đó con người có ngũ tình: mắt thích xem cái đẹp, hấp dẫn, khêu gợi; tai thích nghe cái êm dịu, du dương, thích nghe nịnh hơn là lời nói phải; mũi thích hít mùi thơm ngon; lưỡi thích nếm thích ăn những gì hợp khẩu vị; thân lại thích sự hưởng thụ sung sướng an nhàn, v.v... Do có ngũ căn mà con người có năm thứ ham muốn (ngũ dục); những thứ đó cứ đè chặt tâm linh, tinh thần con người, rất khó gỡ ra. Do đó, con người dễ xuôi theo cái xấu cái ác mà khó vươn lên cái đẹp cái thiện.

Theo Nho giáo và Lão giáo, con người do sự phối hợp của âm dương, của năm yếu tố kim, mộc, thủy, hỏa, thổ (ngũ hành) tạo nên. Sách Lễ ký miêu tả “thành phần cơ cấu” con người như sau: “Nhân giả, kỳ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỷ thần chi hội, ngũ hành chi tú khí.” (Người là cái đức của trời đất, nơi gặp gỡ của âm dương, nơi tụ hội của thần minh, là tinh hoa tốt đẹp của ngũ hành hiệp lại.) Chính vì vậy, luôn luôn có sự liên hệ giữa thân xác và ngũ hành, chẳng hạn như biểu sau đây:

ngũ hành kim mộc thủy hỏa thổ
ngũ tạng phổi gan thận tim dạ dày
(phế) (can) (thận) (tâm) (tì)
Đông y xây dựng lý thuyết cũng căn cứ trên ngũ hành âm dương. Thuật luyện nội đan (thiền) của Lão giáo và Cao đài cũng vận dụng sự tương quan âm dương, ngũ hành với thân xác.

Núi Ngũ hành là bàn tay hóa ra, bàn tay là một phần của thân xác, vậy núi Ngũ hành chính là cách ám chỉ thân xác con người. Tề thiên vốn dĩ thần thông mà chịu bị nhốt trong núi Ngũ hành. Ngô Thừa Ân muốn nói xa nói gần rằng: khi còn mang xác phàm nặng nề trọng trược thì chưa thể khai phóng cho phần thần diệu linh thiêng trong tự thân nội thể con người hiển lộ. Do đó, Tề thiên từ cõi người bay đi bay về cõi phật như... đi chợ, nhưng không thể cõng Đường tăng bay vù một lèo tới chùa Lôi âm cho tiện, và Đường tăng cứ phải lẽo đẽo đi qua muôn dặm hồng trần.

Muốn đạt được thần thông, tự do khai phóng, muốn được ngang bằng Trời (Tề thiên), bắt buộc phải cởi bỏ xong xác phàm. Cho nên trước khi vào đến Linh sơn, tại bến Lăng Vân, lúc bước chân xuống thuyền bát nhã, Đường tăng phải bỏ xác trôi sông, còn cái người đứng trên đò với Tiếp dẫn Phật tổ là một Đường tăng khác, một bậc chơn nhơn đã siêu thoát [TDK X 1988: 162].

Lá bùa sáu chữ

Lại nói về việc giải cứu Tề thiên thoát ra khỏi núi Ngũ hành [TDK II 1982: 72-73]. Ngô Thừa Ân đã cốt ý muốn rằng chỉ có Tam tạng mới cứu được Tề thiên, chỉ có Tam tạng mới giúp nổi Tề thiên hất tung cả núi Ngũ hành. Tại sao lại là và chỉ là Tam tạng? Mà Tam tạng có nghĩa gì?

- Tam tạng (tripitaka) là ba kho báu của nhà Phật. Con người muốn giải thoát, phải nương nhờ vào ba kho bảo vật này, gồm có:

- Kinh tạng (sutra pitaka): là các kinh, tức là giáo lý của đức Phật.

- Luận tạng (abhidharma pitaka): là các lời bình luận để giảng giải kinh Phật. (Cũng giống như ở Nho giáo, có sự phân biệt giữa kinh và truyện, truyện là phần diễn giải lời kinh.)

- Luật tạng (vinaya pitaka) là giới luật, kỷ luật nhà Phật, phương tiện giúp con người kềm chế thói hư tật xấu để tu sửa thân tâm cho nên thánh thiện.

Trong việc nhốt Tề thiên dưới núi Ngũ hành cũng như cứu Tề thiên ra khỏi núi Ngũ hành đều liên quan tới một lá bùa. Lúc đầu, khi nghe Củ soát Linh quan đi tuần tra báo cáo lại rằng Tề thiên đã thò đầu ra khỏi núi, để cho Tề thiên khỏi cục cựa làm đổ núi Ngũ hành, Phật tổ bèn “rút trong tay áo ra một tờ giấy, trên có sáu chữ vàng Úm-ma-ni-bát-mê-hồng, đưa cho A nan dặn mang đi dán trên đỉnh núi.” [TDK I 1982: 180]

Tại sao phải chọn đỉnh núi mà dán? Lẽ ra phải dán chỗ nào kín gió mưa sương tuyết chứ? Phải chăng vì lá bùa này không có thể dán được chỗ nào khác hơn là ngoài đỉnh núi?

Sáu chữ vàng trên lá bùa Phật tổ cũng gọi là lục tự chơn ngôn, là thần chú, là đà la ni (dharani); cũng chính là sáu vần (syllables) Om mani padme hum, xuất phát từ Lạt ma giáo của Tây Tạng. Người ta tin tưởng rằng mỗi một âm trong sáu âm này đều có một huyền năng siêu phàm, cứu giúp con người khỏi sa vào đường luân hồi làm cầm thú, thoát kiếp súc sanh.[1]

Phân tích từng âm lại có thêm nhiều ý nghĩa khác nhau, chẳng hạn:

- Om hay Aum, có nghĩa như cung kính tuân phục, và theo ý nghĩa này nó được hiểu tương đương như chữ Amen của đạo Thiên chúa. Om là cái tên bí nhiệm để gọi Thượng đế Ba ngôi trong đạo Bà la môn. Đối với nhiều tu sĩ Phật giáo, đặc biệt là Mật tông, Om được dùng như thần chú, và là một đề tài hay đối tượng khi tham thiền quán tưởng.[2]

- Mani cũng gọi Ma ni bảo châu, ngọc Mani, tượng trưng cho sự thánh thiện, thuần khiết, do đó Mani còn dùng để tượng trưng cho Phật Thích ca và giáo lý của Phật.[3]

Theo Mật tông, sáu chữ thần bí này còn ám chỉ một cái “huyệt” nằm ngay trong đỉnh đầu con người. Cho nên mới phải dán bùa trên đỉnh núi. Sáu chữ này còn mang ý nghĩa: Ôi ngọc châu viên giác nằm tại liên hoa cung. Đạo Lão và Cao đài gọi đó là nê hoàn cung. Sách Ấu học quỳnh lâm gọi đó là Cao đài, nên chép “Cao đài viết đầu...” và còn chép “Đầu vi Cao đài” (Cao đài gọi là đầu... Cái đầu là Cao đài). [Bản in tại Thượng Hải 1912, quyển 2, chương Thân thể, tr. 21.] Trong Đạo đức kinh, tên nó là cốc thần.

Tóm lại, lá bùa sáu chữ Úm-ma-ni-bát-mê-hồng dán trên đỉnh núi Ngũ hành là ẩn dụ của các hành giả tham thiền, ám chỉ rằng trong đầu não con người có tiềm tàng một huyền năng linh diệu, nhờ đó mà con người có thể tiến hóa lên làm Phật làm Trời.

Ăn sắt uống đồng

Trở lại với chuyện nhốt Tề thiên dưới núi Ngũ hành. Tây du chép một đoạn rất... oái oăm và cắc cớ. Truyện kể rằng trước khi Như lai trở về chùa Lôi âm, thì... “Lúc ấy, Ngài lại phát tâm từ bi, niệm thần chú, gọi cả Thổ địa, Thần kỳ, cùng Ngũ phương Yết đế dặn canh giữ núi Ngũ hành, thấy khi nào Đại thánh đói thì cho ăn viên sắt, khát thì cho uống nước rỉ đồng...” [TDK I 1982: 180]

Sắt hòn và nước rỉ đồng thì ăn làm sao uống làm sao cho nổi! Nuôi... “khỉ” mà tại sao không dặn đem trái cây? Tại sao Như lai chỉ định một thực đơn loại đặc sản quái lạ như thế?! Đã vậy, lúc mở đầu chuyện ăn sắt uống đồng này, thì truyện chép rõ ràng rằng Như lai nói như vậy, và do “Ngài phát tâm từ bi”. Từ bi thấy mà... ớn!

Như lai là Chân lý. Cái gì do Như lai nói ra đều đồng nghĩa với Chân lý. Vậy, dặn cho ăn viên sắt uống nước rỉ đồng nhất định phải là lời thật, lẽ thật, việc thật, và đúng là phát sinh do lòng từ bi thật sự.

Đạo Lão có thuật luyện đan, để trường sinh bất tử, tức là bỏ xác phàm làm tiên. Câu chuyện ăn sắt uống đồng hóa ra chỉ là một ẩn dụ, nhằm nói xa nói gần đến việc tu luyện mà thôi. Phật từ bi muốn cứu người sống, nên dặn dò phải biết tham thiền luyện đạo.

Qua Tây du, Phật và Lão đều rất đề huề. Ngô Thừa Ân khéo léo vận dụng cả hai nguồn giáo lý ấy để nói về con đường gian khổ mà hành giả bắt buộc phải vượt qua để tìm thấy Người Yêu lý tưởng của mình, là Chúa, là Phật, là Thượng đế. Muốn nhìn được chân dung Người Yêu, đành phải vượt núi.

Yêu nhau mấy núi cũng trèo,

Mấy sông cũng lội, mấy đèo cũng qua.

Có điều, trong cõi người ta,

Con đường leo núi vẫn là gai chông.

Cho nên lắm khách... anh hùng,

Ngậm ngùi ngó núi chạnh lòng thở than.

Than rằng :

Núi cao chi mấy núi ơi,

Che khuất mặt trời, chẳng thấy Người Yêu!
 

tranglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
24 Thg 3 2015
Bài viết
239
Điểm tương tác
76
Điểm
28
Giải mã truyện Tây du- Lê Anh Dũng

Vạn năm chờ quả chín

http://www.maxreading.com/sach-hay/giai-ma-truyen-tay-du/van-nam-cho-qua-chin-39986.html


Tề thiên hái trộm nhân sâm. Mượn trong [Ngô Thừa Ân 1988]

Trên con đường sang phương Tây thỉnh kinh, năm thầy trò Đường tăng không thiếu những cơ hội tiếp xúc với các đạo sĩ Lão giáo, và chuyện họ đến núi Vạn thọ, ghé vào tá túc ở quán Ngũ trang là một trường hợp điển hình [TDK III 1988: 71-139].

Chùa (hay tự) là nơi nương thân của tăng ni. Quán (hay đạo quán) là chỗ náu mình của đạo sĩ. Quán Ngũ trang do quyền cai quản của Trấn nguyên Đại tiên. Ông chủ này còn có tên là Dữ thế Đồng quân.

Một hôm trước mặt học trò, Trấn nguyên Đại tiên dặn dò rằng: “Sắp tới, có một cố nhân của ta đi qua đây, hai con phải tiếp đón nồng hậu, mang hai quả nhân sâm ra mời ngài xơi, để tỏ chút tình cố cựu. (...) Năm trăm năm trước, ta với ngài ấy có quen biết nhau (...). Ngài đã từng tự tay mời trà ta, kính trọng ta. Từ đấy ta coi như bạn cũ.” [TDK III 1988: 76]

Khi mượn miệng Đại tiên nhìn nhận Đường tăng là “cố nhân”, là “bạn cũ” của ông, Ngô Thừa Ân đã tế nhị bày tỏ quan điểm Tiên Phật đề huề, Thích Lão không hai.

Thầy trò Đường tăng đến núi Vạn thọ và tạm trú trong quán Ngũ trang nhằm lúc Trấn nguyên Đại tiên đi vắng, vì phải dự buổi thuyết pháp quan trọng do Nguyên thủy Thiên tôn triệu tập. Hai đồ đệ Thanh Phong, Minh Nguyệt ở nhà vâng lời dặn dò của sư phụ, đón tiếp Đường tăng chu đáo. Đường tăng được mời thưởng thức hai trái nhân sâm, trông hao hao dạng người.

Vốn tu hành, trường trai giới sát (ăn chay trường, không giết hại sinh mạng), nhìn thấy hai trái sâm, Đường tăng hoảng vía, cho nên “run rẩy sợ hãi, lùi xa ba thước, nói: Lạ quá! Lạ quá! Năm nay được mùa, mà sao nơi đây thất bát đến nỗi phải ăn cả thịt người? Đứa trẻ này chưa đầy ba ngày mà mang cho tôi giải khát ư?” [TDK III 1988: 82]

Nài ép cách mấy, giải thích cách chi cũng không mời được Đường tăng, hai đệ tử của Trấn nguyên Đại tiên về phòng riêng bèn bảo nhau... “đại diện” Đường tăng chia đôi mỗi người một quả xơi tất.

Rủi ro, Bát giới đang ở khít vách nghe lóm chuyện hai tiểu đồng bàn bạc, biết được đấy là của quý có một không hai, lập tức xúi Tề thiên lén ăn trộm nhân sâm chia nhau ăn cho biết mùi mẽ. Đến khi việc ăn trộm đổ bể, Tề thiên giận, phá nát cây nhân sâm, đánh cho bật gốc chết khô. Sau phải cầu viện Quan âm tới cứu cho cây nhân sâm sống lại.

Chuyện dẫn từ Hồi thứ 24, sang cuối Hồi thứ 26 mới dứt. Coi như trọn đủ ba hồi. Dài dòng và... vô lý đến khó hiểu! Vô lý, vì lẽ trên đời làm gì có cây nhân sâm nào to như thế, linh diệu đến thế!

Những điều vô lý khi tả cây nhân sâm

Ngô Thừa Ân miêu tả hình dáng cây nhân sâm ở quán Ngũ trang như sau: “Một thân cây cổ thụ cực to, cành xanh thơm ngát, lá biếc um tùm, lá trông từa tựa lá chuối, dựng đứng cao hơn nghìn thước, gốc to đến bảy tám ôm. Hành giả tựa vào gốc cây nhìn lên, thấy cành phía nam lấp ló một quả sâm rất giống đứa trẻ, cuống quả dính vào ngọn cây, chân tay đung đưa, đầu mặt gật gù, gió thổi qua kẽ lá như tiếng trẻ kêu.” [TDK III 1988: 86]

Trái nhân sâm đặc sản của quán Ngũ trang còn có tên là nhân sâm quả hay thảo hoàn đơn. Theo Ngô Thừa Ân thì: “Giống cây này ba nghìn năm mới nở hoa, ba nghìn năm mới kết quả, lại ba nghìn năm nữa mới chín. Tính ra phải một vạn năm mới được ăn. Và trong một vạn năm ấy chỉ kết được ba mươi quả. Hình dáng quả này tựa như trẻ mới sinh chưa đầy ba ngày, tứ chi hoàn toàn, ngũ quan đủ cả.” [TDK III 1988: 75]

Người học thuốc, nghiên cứu nhân sâm đều thừa biết rằng không có cây nhân sâm nào to như đại thụ, không có lá nhân sâm nào giống như lá chuối, và rõ nhất là không có trái nhân sâm nào mọc đong đưa trên cành chờ hái, mà chỉ có củ (hay rễ) nhân sâm nằm dưới đất phải đào lên mới lấy được.

Lẽ thường lá nhân sâm mọc vòng, cuống dài, lá kép gồm nhiều lá chét mọc thành hình chân vịt; củ hay rễ nhân sâm không hề giống như truyện Tây du miêu tả. Cây nhân sâm từ năm thứ ba trở đi là đã đơm hoa kết trái được rồi. Quả mọng và dẹt, to bằng hạt đậu xanh, khi chín thì đỏ... Còn củ hay rễ nhân sâm thì sau sáu năm trồng cây là đã có thể đào lên dùng.

Nhân sâm: hoa, lá củ. Mượn trong [Đỗ Tất Lợi 1981: 800]

Người Việt Nam gọi nhân sâm là củ sâm vì chính là rễ sâm (radix ginseng) mới có dạng hao hao như hình người. Thực ra, khi mới đào lên thì củ sâm nhìn chưa giống dạng người cho lắm, phải qua một quá trình chế biến rất công phu như sau:

- Lấy củ: Cây sâm tối thiểu đã trồng được sáu năm thì có thể đào lấy củ. Đào củ khoảng cuối mùa Thu (trung tuần tháng Chín) hay đầu mùa Đông (thượng tuần tháng Mười). Lúc đào củ phải rán giữ để khỏi làm đứt các rễ lớn, nhỏ. Còn phải giữ nguyên độ ẩm của củ, do đó không được hong gió hay phơi nắng.

- Rửa củ: Dùng bàn chải nhỏ cọ rửa từng củ cho sạch đất. Lúc rửa phải ngâm củ trong nước.

- Hấp và sấy củ: Củ rửa sạch cho vào nồi hấp chừng một tiếng rưỡi, ở nhiệt độ 80o-90o. Sau đó sấy khô khoảng 6-7 giờ (nếu nhiệt độ 50o-60o).

- Sửa và phơi củ: Củ đã sấy khô rồi, dùng tay bứt các rễ nhỏ để dùng vào việc khác. Rễ này gọi là tu sâm (tức sâm râu hay râu sâm). Dùng tay sửa nắn lại vị trí các rễ lớn, tạo dáng dấp như một người có đủ hai tay hai chân (nên gọi là nhân sâm). Tùy theo củ sâm nhỏ lớn mà đem phơi cho khô để bảo quản được lâu. Thời gian phơi từ một tuần đến nửa tháng là xong quy trình chế biến [Đỗ Tất Lợi 1981: 799].

Trong quá trình thực hiện sáu công đoạn (đào, rửa, hấp, sấy, sửa, phơi), củ sâm đã phải tiếp xúc đầy đủ với cả ngũ hành: củ nằm trong đất (thổ), rửa và ngâm trong nước (thủy), hấp trong nồi kim loại (kim), sấy bằng lửa (hỏa), phơi nắng thì bày trong nia, hay mẹt (mộc). Như vậy, nhờ có đủ cả ngũ hành mà nhân sâm mới trở thành một thứ củ quý trần gian.

Ngược lại, “quả” nhân sâm mọc từ cây báu ở núi Vạn thọ, vốn đã có “từ khi còn hỗn độn mới chia, trời đất còn mờ mịt chưa phân” [TDK III 1988: 75], và lạ thay, thứ quả sâm này lại rất “kỵ” ngũ hành, nghĩa là phải chịu cảnh... ngũ hành tương khắc. Tây du ký nói rõ chỗ ngũ hành tương khắc như sau: “Quả này gặp kim thì rụng, gặp mộc thì khô, gặp thủy thì hoá, gặp hoả thì héo, gặp thổ thì nhập. Hái quả phải dùng đồ kim khí mới rụng được, rụng rồi phải đựng trong một cái khay lót vải, nếu không chạm vào đồ gỗ là khô ngay, ăn vào cũng vô ích không thể kéo dài tuổi thọ được. Muốn ăn phải đựng vào đồ gốm, chiêu với nước trong. Quả này gặp hỏa là héo, vô dụng, gặp thổ là chui vào đất.” [TDK III 1988: 88]

Óc tưởng tượng của người thuật chuyện Tây du như vậy là vô địch! Mà nào đã hết! Trước khi xem lại sự huyền diệu của quả sâm ở quán Ngũ trang cũng nên biết qua về dược tính của nhân sâm, để hiểu phần nào vì sao tác giả Tây du lại mượn củ sâm mà bịa ra chuyện quả sâm.

Đông y coi có bốn thứ thuốc đại bổ, theo thứ tự từ hạng nhất tới hạng tư là: sâm, nhung, quế, phụ.

- Phụ tức là phụ tử (tên khoa học: aconitum napellus).

- Quế (cinnamomum, tiếng Anh là cinnamon).

- Nhung tức là lộc nhung hay mê nhung, là sừng của con hươu (con lộc).

- Sâm (tên khoa học là panax gingeng).

Ginseng là tên phiên âm hai chữ nhân (gin) sâm (seng). Còn panax xuất phát từ gốc tiếng Hy Lạp là panakes, tương đương với chữ panacea trong tiếng Anh, ý nghĩa của nó là trị đủ bệnh, trị bá chứng (all-healing, cure-all).

Xét về từ nguyên cũng đủ rõ giới thầy thuốc đã coi nhân sâm là linh dược thần diệu cho con người. Sách thuốc cổ từng cho rằng nhân sâm bổ ngũ tạng (tim, gan, bao tử, phổi, thận), giúp nhẹ mình, tăng tuổi thọ, trị bệnh đường ruột. Theo Đỗ Tất Lợi, các cuộc thí nghiệm ở Nga, Nhật, Trung Quốc vào giữa thế kỷ 20 cũng cho thấy nhân sâm làm giảm mệt mỏi, hưng phấn, tăng hô hấp, tăng sức đề kháng của cơ thể, giảm lượng đường trong cơ thể, và tăng cường sinh lực!

Tuy nhiên, cho dù nhân sâm thực sự có là panax đến đâu thì cũng chưa ai dám bạo miệng như Ngô Thừa Ân khi miêu tả dược tính của quả nhân sâm núi Vạn thọ, quán Ngũ trang, quả quyết rằng: “Ai có duyên được ngửi quả này một lần, thì sống lâu ba trăm sáu mươi tuổi; ăn một quả, sống mãi bốn vạn bảy nghìn (47.000) năm.” [TDK III 1988: 75]

Vốn dĩ nhân sâm trong dân gian đã là huyền thoại cho nên Ngô Thừa Ân đã thừa gió bẻ... sâm, bằng cách khuếch đại nên câu chuyện hoang đường, biến củ thành trái, biến rễ thành quả, tức là đem cái dưới đất mà đặt lên ngọn cây. Nói cách khác, đây là nghịch chuyển, nghịch hành. Hiểu như vậy, là bắt đầu nắm được chiếc chìa khóa để giải mã câu chuyện hư cấu này.

Những sợi chỉ mỏng manh

Họ Ngô đã tạo nên những tình tiết nho nhỏ hỗ trợ cho chủ đề chính của câu chuyện. Đó là những sợi chỉ mỏng manh nhưng sẽ giúp người đọc Tây du lần phăng ra manh mối của trái nhân sâm.

Thoạt đầu, mới vào chuyện liền giới thiệu tên núi là Vạn thọ. Mà Vạn thọ đồng nghĩa với truờng sinh bất tử.

Lại nói quả nhân sâm còn có tên là thảo hoàn đơn [TDK III 1988: 75]. Đơn (đan) gợi nhớ đến nghĩa luyện đơn, nấu thuốc (thiền) của đạo Lão. Đã vậy, muốn ngầm mách nhỏ người đọc Tây du hãy hiểu câu chuyện này qua lăng kính đạo Lão cho nên vừa vào chuyện là đã nhắc ngay đến đại tiên, đạo quán.

Nói quả nhân sâm ba nghìn năm mới nở hoa, ba nghìn năm mới kết quả, ba nghìn năm mới chín, tức là nói đến chín nghìn năm. Số chín ám chỉ cửu chuyển công thành hay cửu chuyển đơn thành trong phương pháp tu luyện của đạo Lão [xem bài Ngọn gió trong lò].

Nói nhân sâm có hình đứa trẻ mới sinh chưa đầy ba ngày [TDK III 1988: 75] là ngụ ý nhắc đến anh nhi, xích tử (new-born child).

Anh nhi cũng là thánh thai (holy embryo). Nhân sâm trong câu chuyện này tượng trưng cho tinh trùng của người. Sống theo nếp đời trần tục, nam nữ phối hợp thì tinh cha huyết mẹ sẽ tạo nên phàm thai (human embryo), sản sinh con nít. Đó là con đường mà tinh đi xuống để nối dõi tông đường, bảo tồn giống nòi. Đi xuống như vậy thì cây nhân sâm cho củ dưới đất.

Sống theo đời tu hành thiền định của Lão, Phật và Cao đài thì khởi đầu phải tập giữ thân thanh tịnh bằng cách trường trai, ăn thuần rau quả (nên quả nhân sâm có tên thứ hai là thảo hoàn đơn, thảo là cây cỏ); kế đó, tiến lên một nấc cao hơn là diệt dục, tránh giao hợp, giữ gìn tinh huyết để có đủ “nguyên liệu” mà đốt lửa bắc lò bát quái [tức là tham thiền luyện đạo, xem bài Ngọn gió trong lò]. Cũng phải dứt hết những lo nghĩ, những việc làm nào khiến cho hao thần tổn khí.

Theo đạo Lão và Cao đài, tinh, khí, thần là ba món báu (tam bửu) của hành giả tu thiền. Lão giáo và Cao đài coi việc giữ gìn tinh, khí, thần là quan trọng nên luôn dạy hành giả phải bảo tinh, dưỡng khí, tồn thần. Đề cao tam bửu hơn nữa thì nói đến nguyên tinh, nguyên khí, nguyên thần. Vậy, đâu phải khơi khơi mà Ngô Thừa Ân bèn đặt tên cho chủ nhân quán Ngũ trang là Trấn nguyên Đại tiên. Trấn hiểu là gìn giữ; còn nguyên lại gợi nhớ đến nguyên tinh, nguyên khí, nguyên thần.

Tu theo đạo Lão (cũng như Cao đài) cần giữ nguyên tinh để tham thiền tịnh luyện, tạo thành thánh thai, trường sinh bất tử. Đó là đi ngược lại thói tục đời thường, đó là nghịch chuyển công phu, cho nên Tây du mới bảo cây nhân sâm mọc trái lên ngọn.

Nói nhân sâm kỵ ngũ hành thì phải hiểu là ngũ hành hậu thiên, ám chỉ thân xác con người [xem bài Núi cao chi mấy núi ơi]. Sự chung đụng xác thịt trong vòng tình dục sẽ chỉ tạo ra phàm thai chứ không biến tinh ra thánh thai. Ngược lại, nhờ diệt dục, trường trai mà cơ thể, thân xác được tinh khiết, thanh tịnh; đó là điều kiện tối thiểu để luyện đạo cho thành công. Cho nên Ngô Thừa Ân mới đặt tên quán là Ngũ trang. Trang là trang nghiêm. Tất cả ngũ quan (mắt, tai, mũi, miệng, thân thể), ngũ tạng (tim, gan, tì, phổi, thận) đều trong sạch. Nói theo Phật, ngũ căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý), ngũ uẩn (sắc, thọ, tưởng ,hành, thức) đều không còn làm người tu hành điên đảo nội tâm; người tu dứt bỏ xong dục vọng, mê luyến, sân giận, v.v... thì khi ấy thân xác ngũ hành (Phật gọi là ngũ đại) biến đổi nên cõi thanh tịnh, trang nghiêm, là Ngũ trang quán. Chỉ với những điều kiện như vậy mới tác thành nổi “quả nhân sâm”. Quả cũng là kết quả.

Con đường tu luyện để đắc đạo đương nhiên rất khó. Vì bắt buộc phải đi ngược dòng thế tục. Cho nên Tây du bảo rằng đúng mười ngàn năm mới được ăn được quả nhân sâm [TDK III 1988: 75]. Còn khi đã “hái” được “quả” nhân sâm rồi thì đắc đạo, thành tiên thành phật, trường sinh bất tử, không còn phải chịu cảnh luân hồi sinh tử nữa. Thế nên, kết thúc chuyện nhân sâm quán Ngũ trang, núi Vạn thọ, Ngô Thừa Ân nhắn nhủ rằng:

Có duyên ăn thảo hoàn đơn,

Sống lâu ma quỉ tai ương lo gì.

[TDK III 1988: 139]

Người có được “nhân sâm”, ấy là người đắc đạo. Đắc nhưng mà vẫn không có chỗ được. Vì có ai cho ai đâu mà nói được nói đắc! Căn tiên cốt phật (chủng tử) vốn đã tự có, tự hữu, hằng hữu ở mỗi con người, đâu phải từ bên ngoài đem vào trong thân mà có. Vì thế Ngô Thừa Ân mới bảo rằng cây nhân sâm đã hiện hữu từ lúc vũ trụ còn hỗn mang, khi chưa tạo thiên lập địa [TDK III 1988: 75], tức là tiên thiên.

Theo Phật, người đắc đạo chưa vội vào niết bàn mà còn chung sống với phàm phu cõi tục để cứu đời, tùy duyên hóa độ. Phật gọi đó là bồ tát. Theo Đạo đức kinh, đó là bậc thánh nhân, biết “hòa kỳ quang, đồng kỳ trần”, tức là dù đã giác ngộ, nhưng vẫn đem cái sáng (quang) của mình hòa cùng cái sáng phàm tục của đời, tuy thân thoát ra vòng trần cấu mà vẫn không nỡ riêng mình rời bỏ trần gian. Triết lý đó, cả Phật, Lão và Cao đài xưa nay đều cùng chủ xướng.

Hiểu Phật và Lão cho đến kẽ tóc chân tơ, cho nên Ngô Thừa Ân mới dám trộn lộn cả chuyện phật lẫn chuyện tiên thành một bộ Tây du. Họ Ngô lại kín đáo nói tới cái chủ trương người đắc đạo tuy thoát tục mà không lìa tục của Lão, Phật, bằng cách bảo rằng chủ nhân cây nhân sâm ở quán Ngũ trang nơi núi Vạn thọ còn có tên là Dữ thế Đồng quân [TDK III 1988: 75], tạm hiểu là bậc cùng sống chung lẫn lộn với thế nhân cõi tục.

Bằng hình tượng ngôn ngữ vạn thọ, ngũ trang, trấn nguyên, dữ thế đồng quân, thảo hoàn đan; bằng tượng số chín ngàn năm đơm hoa kết quả và trái chín; bằng biểu tượng nhân sâm giống trẻ con mới đẻ, tất cả những điều ấy, qua óc tưởng tượng phong phú, tài nghệ hư cấu tuyệt kỹ của Ngô Thừa Ân, tác giả đem cái chuyện luyện đan nấu thuốc, tham thiền tịnh luyện ẩn náu sau câu chuyện tưởng chừng chỉ để mà giải trí mua vui. Trong cái giả tưởng lại hàm tàng cái phi giả tưởng. Sau lớp hư cấu là chân lý giải thoát bằng tu chứng của Phật và Lão. Để đạt đến sự chứng đắc ấy, con đường nhiêu khê chi xiết! Ai đâu dám lấy thời gian mà đặt cuộc cho sự viên thành? Ôi, một vạn năm mới chờ ăn được... quả chín! Con đường ngược chiều, con đường phản bổn hoàn nguyên, là con đường của Đường tăng đi về vĩnh cữu thường hằng, mà Ngô Thừa Ân ví von là vin cành hái trái.
 

tranglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
24 Thg 3 2015
Bài viết
239
Điểm tương tác
76
Điểm
28
Giải mã truyện Tây du- Lê Anh Dũng

Bốn biển không yên cơn lửa trẻ.

http://www.maxreading.com/sach-hay/giai-ma-truyen-tay-du/bon-bien-khong-yen-con-lua-tre-39987.html

Hồng hài nhi

Già đầu mà có khi thua con nít. Trong những cái trớ trêu của Tây du, vẫn không loại trừ điều ấy. Mào đầu câu chuyện nghịch lý này, Ngô Thừa Ân liền dùng ngay hai chữ “trẻ thơ” để nói đến Hồng hài nhi: “Trẻ thơ bỡn cợt lòng thiền rối...” [TDK IV 1988: 224]. Nhưng đứa trẻ này quả thật chẳng phải tay vừa, “thằng bé” đã làm “Lão Tôn” điêu đứng, chẳng thể trị nổi!

Ngọn lửa trớ trêu

Chuyện đánh nhau với Hồng hài nhi phải kéo dài từ Hồi thứ 40 qua đến hai hồi 41 và 42 mới xong. Hồng hài nhi quả rất đáng sợ. Bề ngoài, y được miêu tả là một đứa trẻ nhỏ, “mình không áo giáp, chỉ mặc độc chiếc quần gấm thêu thắt ngang lưng, đi chân không”. [TDK V 1988: 7]

Lai lịch Hồng hài nhi kể ra cũng khá rõ ràng. “Nó là con trai Ngưu ma vương. Mụ La sát nữ nuôi nấng nó. Nó đã tu ba trăm năm ở Hỏa diệm sơn. (...) Tên lúc bé của nó là Hồng hài nhi, hiệu là Thánh anh Đại vương." [TDK IV 1988: 224]. Y lại còn có quan hệ chú cháu với Tề thiên vì lẽ xưa kia cha Hồng hài nhi là Ngưu ma vương và năm yêu quái khác có kết nghĩa anh em với Tề thiên; họ Ngưu làm anh cả, Tề thiên đứng hàng thứ bảy, tức là em út [TDK V 1988: 9].

Hồng hài nhi lại sở trường về chơi lửa; “đồ nghề” chuyên dùng của đứa nhỏ này còn có thêm năm chiếc xe nhỏ. Cách y nổi lửa cũng lạ đời. Thoạt tiên y cho bày xe theo phương vị ngũ hành: bên ngoài là bốn chiếc ứng với kim, mộc, thủy, hỏa; trung ương đặt một xe ứng với thổ. Thế rồi “yêu tinh đứng trên cỗ xe nhỏ ở chính giữa, một tay vung cây giáo lửa nhọn, một tay nắm thành nắm đấm, tự đấm hai quả vào mũi mình.” Sau đó y lại “đọc thần chú, phun từ trong miệng ra một vệt lửa: từ hai lỗ mũi, khói đen nồng nặc cũng tuôn ra. Rồi mắt hắn cứ chớp chớp, lửa đỏ lại bùng lên. Lửa cháy ngùn ngụt trùm cả năm chiếc xe nhỏ.” [TDK V 1988: 7, 11]

Lửa của “thằng bé” cũng khác thiên hạ! Có bài thơ tả lửa ấy như sau:

Ngụt ngụt ngùn ngùn lửa bốc lên,

Bừng bừng cuồn cuộn khắp trăm miền.

(...) Lửa trời lửa đất đều không phải,

Ấy lửa tam muội của ma vương.

Năm cỗ xe kia hợp ngũ hành,

Ngũ hành sinh hóa lửa kia thành.

Can mộc phát sinh tâm hỏa vượng,

Tâm hỏa khiến cho tỳ thổ bình.

Tỳ thổ sinh kim, kim sinh thủy,

Thủy sinh ra mộc thật tài tình.

Sinh sinh hóa hóa đều do hỏa,

Cháy khắp không gian vạn vật vinh.

[TDK V 1988: 11-12]

Chính vì lửa ấy dị thường, nên Tề thiên dù mời được bốn anh em Long vương ở khắp bốn biển đông tây nam bắc đến làm mưa trợ giúp, cũng chẳng ăn thua gì! Truyện kể: “Mưa sầm sập trút xuống, nhưng không dập tắt nổi ngọn lửa của yêu quái. (...) Mà trái lại, khác nào lửa đổ thêm dầu, càng mưa, lửa càng bốc to.” [TDK V 1988: 20]. Cuối cùng chỉ có Quan âm Bồ tát mang bình tịnh thủy đến mới trị được Hồng hài nhi, thu phục y làm Thiện tài Đồng tử [TDK V 1988: 56, 218].

Ai người đốt lửa?

Khi đã thấy ngọn lửa của Hồng hài nhi là trớ trêu thì chính những tình tiết đầy trớ trêu ấy lại gợi ra cho người đọc hằng loạt nhiều câu hỏi liên quan. Thực vậy:

Tại sao tu ba trăm năm nhưng vẫn là đứa con nít? Tại sao trót làm thân yêu tinh mà còn xưng “Thánh anh”? Tại sao yêu ấy tên là Hồng hài nhi? Và tại sao yêu tinh lại có quan hệ chú cháu với Tề thiên?

Lửa của Hồng hài nhi là thứ gì mà nước mưa bốn biển của bốn Long vương chẳng những không dập tắt lại còn như lửa đổ thêm dầu, càng mưa, lửa càng bốc to? Vậy mà, Quan âm Bồ tát trị được. Chỉ với bình tịnh thủy. Tại sao phải nhờ tới Quan âm?

Tại sao khi đốt lửa phải bày trận ngũ hành, và lửa phát ra từ trung ương? Tại sao lúc “mồi lửa” thì chẳng dùng bùi nhùi, diêm quẹt mà phải tự đấm hai quả vào mũi mình? Tại sao lại có cây giáo lửa nhọn? Tại sao lửa lại phun ra từ trong miệng, hai lỗ mũi, thậm chí cả từ đôi mắt?

Những câu hỏi liên tiếp ấy chính là chiếc chìa khóa giải mã câu chuyện về Hồng hài nhi.

Câu chuyện được dẫn dụ rất khéo. Trước hết, nói cha của yêu tinh là Ngưu ma vương, anh kết nghĩa với Tề thiên, Tề thiên với yêu tinh có tình chú cháu. Đặt ra mối quan hệ “bà con” như vậy để thấy yêu tinh dữ dằn (cái ác, cái xấu) không ở đâu xa, nó trong chỗ “thân thích”, gần gũi với mình. Ý này rất quan trọng, vì thông thường không ai dè chừng kẻ dữ lại là người nhà.

Nói Hồng hài nhi là con mụ La sát nữ để miêu tả cái “độc” của yêu tinh. Theo Phật giáo, la sát (tiếng Sanskrit: rakchasas) là ác quỷ ăn thịt người, chúng xuất hiện khắp nơi, cả trên biển lẫn trên đất liền. Giống cái gọi là la sát nữ (rakchasis).

Phật bảo trên đời có ba thứ độc (tam độc: tham, sân, si). Món thứ hai, sân độc, hàm nghĩa rằng giận rất độc hại. Giận cũng đi kèm với nóng nảy, nên Phật ví giận như lửa, gọi là sân hỏa (lửa giận). Lửa của Hồng hài nhi, hiểu theo nghĩa hình nhi hạ là lửa giận. Trong lịch sử, điển tích kim cổ đông tây, không thiếu những chuyện chỉ vì nóng giận mà người giết người! Vậy, quỷ la sát ăn thịt người đâu phải hoang đường, và đó chính là lý do Tây du dựng chuyện con trai quỷ la sát nữ sở trường chơi lửa. Cũng thế, nóng giận tuy không hình không dạng mà giết người không thua gươm giáo, nên vũ khí cầm tay của Hồng hài nhi là một ngọn giáo lửa.

Tục ngữ nói: “No mất ngon, giận mất khôn.” Hết khôn thì dẫu già đầu vẫn cứ nói năng, cư xử giống y đứa trẻ nhỏ dại không hiểu biết, thiếu suy xét. Vì lẽ đó Ngô Thừa Ân mới dựng chuyện thủ phạm đốt lửa là một đứa con nít. Khi nào bừng bừng lửa giận, người ta vùng vằng quăng ném, cung tay đá chân, hình ảnh đó ở Hồng hài nhi tượng trưng bằng cái kiểu tự đấm hai đấm vào mũi mình! Chưa hết, khi nóng giận quá mức, không kềm chế nổi, người ta mắt lộ ánh hung quang, hơi thở cũng hổn hển gấp gáp, và miệng thì buông ra những lời nặng nề, đau đớn, tổn thương kẻ khác. Do đó Tây du kể rằng lửa của yêu tinh bốc ra ở cả mắt, mũi, và miệng!

Mỗi khi nổi lửa Hồng hài nhi phải bày trận ngũ hành. Lão giáo coi ngũ hành là những yếu tố tạo nên con người. Nho giáo (sách Lễ ký) cũng bảo con người là kết tụ tinh hoa của ngũ hành: “Nhân giả, kỳ thiên địa chi đức, âm dương chi giao, quỷ thần chi hội, ngũ hành chi tú khí.” (Người là cái đức của trời đất, nơi gặp gỡ của âm dương, nơi hội tụ của thần minh, là tinh hoa tốt đẹp của ngũ hành.)

Tương tự, Phật giáo coi con người là thân tứ đại (đất, nước, gió, lửa). Tứ đại hiệp với hư không (akâsa) thành ra ngũ đại. Bằng hình tượng trận lửa ngũ hành, kẻ đốt lửa thì đứng ở trung ương, Tây du ngụ ý rằng sân hỏa phá hoại công đức người tu hành khởi lên từ chính bên trong nội tâm mỗi người mà ra, nó chẳng đâu xa lạ, thế nên kẻ đánh yêu và yêu tinh mới có dây mơ rễ má bà con với nhau, kêu nhau là... chú cháu!

Lửa gặp nước thì tắt. Nhưng bốn Long vương đem nước bốn biển vẫn không dập tắt lửa Hồng hài nhi nhằm ngụ ý rằng lửa sân giận khó dẹp. Khi đã “bốc hỏa”, nổi giận đùng đùng rồi, khó ai có thể tự chủ kềm chế được cơn giận. Chỉ có Quan âm mới trị xong bởi vì sở trường bửu bối của Quan âm là tịnh thủy (nước thanh tịnh). Vậy, chỉ có lòng thanh tịnh mới chế ngự lửa giận mà thôi.

Ngoài ra, còn thêm hai nguyên cớ nữa:

(1) Hồng hài nhi là con của La sát nữ, vậy yêu này chánh hiệu... tiểu la sát, la sát con. Kinh Pháp hoa (Diệu pháp liên hoa), phẩm Phổ môn, dạy rằng khi gặp loài la sát bức hại hãy niệm danh Quan âm sẽ được giải cứu.

(2) Lửa của Hồng hài nhi là lửa giận (sân hỏa). Cũng kinh Pháp hoa, phẩm Phổ môn, dạy rằng muốn trừ tam độc (tham, sân, si) phải cầu đến oai lực Quan âm.

Như thế, khi đưa hình tượng Quan âm vào truyện, Ngô Thừa Ân cũng đã thể hiện trung thực truyền thống kinh điển nhà Phật.

Về mặt hình nhi thượng, đạo Lão, đạo Phật, và Cao đài dụng công phu hàm dưỡng giống nhau. Phật gọi thiền thì Lão và Cao đài kêu tịnh. Thiền và tịnh xưa nay đều rất kiêng sợ lửa giận. Nhưng cũng đồng thời là lửa, biết khéo dùng thì nấu cơm đặng. Không biết dùng thì... cháy nhà!

Cũng thế, nếu hành giả biết luyện rèn để chuyển hóa lửa giận khí huyết trở thành lửa tam muội nấu “kim đơn” giống như Thái thượng Lão quân dùng lửa văn lửa vũ đốt lò bát quái luyện thuốc [xem bài Ngọn gió trong lò], thì con người sẽ đắc đạo. Theo Lão giáo, khi ấy con người tạo được thánh thai, là anh nhi, là xích tử. Đó là lý do yêu tinh không mang họ Ngưu của bố đẻ, mà Ngưu ma vương và La sát nữ lại nấu chè đặt tên con trai là Hồng hài nhi. Hồng là đỏ; hài nhi là trẻ còn... bú. Vậy Hồng hài nhi đích thị là con nít còn đỏ hỏn (xích tử), mình trần trụi, chân không dép giày, còn chiếc quần gấm thêu thắt ngang lưng có khác gì tấm tả quấn sơ cho trẻ mới đẻ. Cho nên tuy cốt tử yêu tinh, thuộc dòng dõi la sát hung ác, nhưng vẫn cứ đàng hoàng tự xưng là “Thánh anh” (trẻ thánh), và tu đã ba trăm năm mà vẫn cứ mang hình hài trẻ nít.

Từ bỏ lối văn nghiêm trang nghi thức của kinh điển Phật, Lão mà dùng phương pháp ẩn dụ để kể chuyện đánh nhau, đấu phép, bắt yêu, trừ quái... Ngô Thừa Ân quả là một đại gia bất hủ trong làng ngụ ngôn. Thấu đáo được từng ẩn ngữ tinh tế của Ngô mới thực sự hiểu vì sao Tây du ký là một tuyệt phẩm vượt không gian và phi thời gian.
 

tranglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
24 Thg 3 2015
Bài viết
239
Điểm tương tác
76
Điểm
28
Giải mã truyện Tây du- Lê Anh Dũng

* Sáu bảy mười ba.

http://www.maxreading.com/sach-hay/giai-ma-truyen-tay-du/sau-bay-muoi-ba-39988.html

Trên con đường sang phương Tây thỉnh kinh, thầy trò Đường tăng không chỉ đụng độ yêu tinh ma quái mà còn có khi chạm trán cùng giặc cỏ cướp đường. Mào đầu Hồi thứ 14, Tây du nói:

Viên tâm qui chính,

Lục tặc vô tung.

Nghĩa là:

Lòng vượn theo đường chính,

Sáu giặc mất tăm hơi.

[TDK II 1982: 69]

Qua đến Hồi thứ 72, lại dẫn chuyện rằng:

Bàn ty động thất tinh mê bổn,

Trạc cấu tuyền Bát giới vong hình.

Nghĩa là:

Động Bàn ty bảy tinh mê gốc,

Suối Trạc cấu Bát giới quên hình.

[TDK VIII 1988: 29]

Hai hồi ấy nhắc đến lục tặc và thất tinh. Lục tặc là sáu tên cướp. Thất tinh là bảy đứa yêu tinh. Sáu bảy mười ba. Tuy rằng chuyện trước cách chuyện sau đến những năm mươi tám hồi dài, nhưng trước với sau vẫn chỉ là một chuyện. Ngô Thừa Ân muốn nói tới thập tam ma (mười ba con ma), tức là bè lũ sáu giặc cướp bảy yêu tinh cùng cấu kết với nhau để phá hoại tấm lòng thanh tịnh của con người, làm con người mê mờ đi vào đường quấy, xa lìa chơn lý, xa chánh đạo.

Sáu tên cướp

Tây du kể rằng sau khi nghỉ đêm tại nhà một cụ già họ Trần, Tam tạng và Tề thiên lên đường đi thỉnh kinh. “Thầy trò đi được lúc lâu, bỗng ven đường nghe soạt một tiếng, thấy sáu người xông ra, đứa nào cũng giáo dài, kiếm ngắn, dao sắc, cung cứng, quát vang...” [TDK II 1982: 81]

Tề thiên hỏi lai lịch, bọn cướp tự giới thiệu: “Nhà ngươi không biết, bọn ta nói cho mà nghe: Chúng ta, một người gọi là mắt thấy mừng, một người gọi là tai nghe giận, một người gọi là mũi ngửi thích, một người gọi là lưỡi nếm nghĩ, một người gọi là ý thấy muốn, một người gọi là thân vốn lo.” [TDK II 1982: 82]

Biết chúng là ăn cướp, Tề thiên đòi chia của, thế thì: “Sáu tên cướp nghe nói, thằng mừng thì mừng, thằng giận thì giận, thằng thích thì thích, thằng nghĩ thì nghĩ, thằng muốn thì muốn, thằng lo thì lo, cả lũ xông lên hò hét loạn xị...” [TDK II 1982: 82]

Như vậy sơ yếu lý lịch của lũ cướp đường trắng trợn này đã rõ. Chúng vốn là sáu căn (lục căn) của mỗi người, gồm: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý).

Bản lý lịch trích ngang của chúng còn cho thấy tuy năng khiếu sở trường hay “tay nghề chuyên môn” của từng tên rất khác nhau, nhưng đều giống nhau ở một căn bản chung: đối cảnh sinh lòng.

Sáu căn hàng ngày hàng giờ tiếp cận với ngoại cảnh thì sinh lòng biến đổi theo cảnh. Biến theo cảnh hoài thì tâm điên đảo, giống như nước trong bị vẩn bụi dơ bẩn.

Có sáu thứ bụi trần (lục trần) từ bên ngoài đột nhập vào tâm con người (lục ngoại nhập) thông qua lục căn, và tương ứng với lục căn là: sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp.

1. Nhãn – Sắc: mắt thấy màu sắc, hình dạng vừa lòng thì tham, trái ý thì chê. Mắt gặp sắc tướng sinh ra kiến (thấy).

2. Nhĩ – Thinh: tai nghe âm thanh ngọt ngào thì mê đắm, âm thanh chói tai thì ghét. Tai gặp âm thanh sinh ra văn (nghe).

3. Tỷ – Hương: mũi ngửi mùi thơm tho thì thích thú, hít phải hơi hôi hám thì chẳng ưa. Mũi gặp hương sinh ra khứu (ngửi).

4. Thiệt – Vị: lưỡi nếm vị ngon béo thì khoái, nhấp phải đắng cay thì ớn. Lưỡi gặp vị sinh ra vị (nếm).

5. Thân – Xúc: Thân xác thịt da cọ xát với da thịt hay lụa là êm ái thì mê, chạm phải sần sùi nhám nhúa thì chán. Thân xác do chung đụng mà sinh ra giác (cảm giác).

6. Ý – Pháp: ý gặp tư tưởng (pháp) thì sinh ra phân biệt, chê khen, ưa ghét, tính toán... Ý gặp pháp sinh ra tri (hiểu biết).

Giải thích căn do, duyên cớ của lục tặc, Cao đài cũng cho rằng: “... hễ có lục dục thì có lục trần, mà có lục trần thì mới sanh lục tặc.” [Đại thừa chơn giáo 1950: 356]

Theo Phật, lục căn gặp lục trần sinh ra lục thức, làm cho tâm con người đối đãi thị phi theo kiểu nhị nguyên (tương đối). Muốn đạt đạo, tức là thủ đắc được chân lý nhất nguyên (tuyệt đối), thì phải biết đối trị với lục dục là sáu điều ham muốn của con người mà lục thức đã gieo rắc lên mảnh tâm điền của mỗi người.

Thiền Phật, Lão và Cao đài quan niệm sở dĩ sáu tên ăn cướp xông vô nhà được là vì nhà vắng chủ. Hành giả biết làm chủ bản tâm, củng cố địa vị chủ nhà (chủ nhân ông) thì làm sao có nạn lục trần đột nhập để sinh ra lục tặc. Chính vì thế, khi giáp mặt lũ cướp, lập tức Tôn hành giả khẳng định liền vai trò chủ nhân ông của mình: “Ồ, các ngươi là sáu thằng giặc cỏ, không nhận ra người xuất gia này là chủ của các ngươi sao mà lại dám chận đường?” [TDK II 1982: 82]

Như đã nói, con người là một hình ảnh hai cuộc đời [xem bài Đường tăng! Anh là ai?]. Không chế ngự đặng thì lục căn sinh lục dục, lục tặc. Chế ngự đặng thì lục tặc trở nên lục thông là sáu món thần thông. Cao đài dạy: “Vả lại lục dục là sáu con quỷ, tức là sáu đứa du côn, nhưng nếu biết cách thâu phục chúng nó đặng thì sáu con quỷ ấy trở nên lục thông là đắc đạo.” [Đại thừa chơn giáo 1950: 354].

Diễn tả sự đối trị của hành giả trước lục tặc, Ngô Thừa Ân mượn tay Tề thiên tiêu diệt trọn lũ cướp sáu tên: “Sáu tên cướp bỏ chạy tán loạn. Hành giả nhanh nhẹn đuổi theo tóm gọn, đập chết hết.” Sau đó Tề thiên báo cáo cùng Đường tăng: “Xin mời sư phụ lên đường, lũ cướp đã bị lão Tôn giết hết rồi.” [TDK II 1982: 83] Ở đây họ Ngô hàm ý: muốn lên đường tìm chơn lý tuyệt đối (thỉnh kinh) thì trước hết phải đại hùng đại lực, nhất tâm diệt xong lục dục. Do đó, sự truy quét của Tề thiên là dứt khoát, quyết liệt, không khoan nhượng.

Tuy nhiên con người vốn dễ dàng có khuynh hướng thỏa hiệp với cái xấu của bản thân. Lý trí thì bảo phải quyết liệt: “Hành giả nói: Thưa sư phụ, mình không đánh chết họ, họ cũng đánh chết mình.” Nhưng tình cảm bản năng yếu đuối lại không nở dứt bỏ những ràng buộc của đam mê ham muốn, sở dục tư riêng, cho nên: “Tam tạng nói (...) bọn chúng tuy là giặc cướp chặn đường (...) chỉ đuổi chúng đi là xong, việc gì phải giết?” [TDK II 1982: 83]

Sự tranh cãi giữa hai thầy trò đã phản ánh hiện thực cuộc đời: có rất nhiều anh Tam tạng đi thỉnh kinh, nhưng chỉ rất ít chàng tới được chùa Lôi âm gặp Phật. Nguyên do thành công hay thất bại là chỗ dám giết hay buông tha. Vì sự ngậm ngùi thiên cổ đó mà khi được hỏi rằng người tu hành chân chính nên hiếu sinh hay hiếu sát, một thiền sư đã trả lời rất nghiêm túc: Hiếu sát! Phải hiểu là sát lục tặc để cho lòng trống tâm không, cảnh thế sự đời thôi chẳng còn vướng víu buộc ràng.

Cũng vậy, khi Tổ sư Vương Trùng dương dạy đạo cho vợ chồng Mã Ngọc và Tôn Huyên Trinh, đã khuyên hai ông bà: “Sát sanh thăng thiên đường, phóng sanh sa địa ngục.” [Thất chơn nhơn quả 1974: 37]. Nghĩa là muốn giải thoát thì phải giết chết phàm tâm; còn thả lỏng phàm tâm thì phải chịu luân hồi.

Bảy con yêu tinh



Bảy yêu nữ động Bàn ty

Bảy con yêu nữ nõn nà xuất hiện ở Hồi thứ 72 không giống như các giặc cái khác ở truyện Tây du: chúng không hề đòi hỏi Tam tạng cung ứng cho chúng cái khoản... dịch vụ tình yêu. Trước sau chúng chỉ muốn “hầm lão hòa thượng béo ấy lên ăn...” [TDK VIII 1988: 41]

Cách xử trí của Tề thiên với bảy con yêu nữ lần này cũng khác. Thông thường hễ gặp yêu tinh quỷ quái là Tề thiên lập tức vung thiết bảng chực giết chết ngay tức khắc. Với xê ri bảy ả, Tề thiên lại tỏ thái độ hoàn toàn thay đổi:

“Hành giả nghĩ: Ta mà đánh chúng (...) cả lũ toi mạng hết, như thế đáng thương lắm! (...) không nên đánh chúng, chỉ cần dụng một kế tuyệt hậu, bắt chúng không dám rời đi đâu còn hay hơn nhiều.” [TDK VIII 1988: 43]

Tưởng sao, kế tuyệt hậu của Tề thiên hóa ra là dở. Tề thiên lý luận với Bát giới: “Bọn chúng định tắm xong sẽ quay về hầm sư phụ ăn thịt. Tôi theo bọn chúng tới đó thấy chúng cởi quần áo xuống tắm, định đánh chết chúng, nhưng sợ bẩn cây gậy và mất danh dự, bèn chẳng hề dùng tới gậy, biến thành một con chim ưng đói, quắp quần áo chúng mang đi. Bọn chúng chắc phải chịu thẹn thùng xấu hổ, dìm người trong nước, không dám lên đâu. Chúng ta mau đi cứu sư phụ để lên đường.” [TDK VIII 1988: 44]

Không giết, chỉ cắp quần áo mặc ngoài. Ẩn ý ở đây là hời hợt, bì phu. Cách xử lý như vậy không rốt ráo, chẳng dứt khoát. Tề thiên nói “Tôi thì chẳng đánh.” (tr.45) bởi vì Tề thiên nghĩ rằng “cả lũ toi mạng hết, như thế đáng thương lắm!” (tr. 43)

Trái lại, Bát giới tỏ ra rất vững vàng quan điểm, lập trường: “Bát giới cười nói: Sư huynh làm việc gì cũng không đến cùng. Đã thấy yêu tinh sao không giết chết chúng để còn đi cứu sư phụ (tr. 43). Theo em, trước hết đánh chết yêu quái, sau giải cứu sư phụ. Đó là kế nhổ cỏ nhổ cả rễ (tr. 45).”

Chính vì ngay từ đầu Tề thiên đã có ý nương tay cho nên không diệt được bảy nữ yêu, tuy tạm cứu được Tam tạng (Hồi thứ 72), nhưng rồi về sau lại bị chính lũ yêu đó hãm hại cả mấy thấy trò thêm lần nữa ở quán Hoàng hoa (Hồi thứ 73).

Sự toan tính chần chừ, thiếu dứt khoát, không rốt ráo của Tề thiên là dễ hiểu. Vì vũ khí tấn công của bảy yêu nữ rất đặc biệt: “Bỗng thấy bảy cô gái cởi khuy áo, để lộ eo bụng trắng phau như tuyết, làm phép từ trong rốn ùn ùn nhả những sợi tơ ra như một tấm lưới mù mịt một khoảng trời, trùm kín lấy Hành giả.” [TDK VIII 1988: 63]

Nhận định của Tề thiên với loại vũ khí này như sau: “Vật cứng còn có thể đánh đứt, thứ này mềm đánh chỉ lún xuống thôi. Khéo nó biết, nó quấn chặt lấy mình, lại hóa dở.” [TDK VIII 1988: 38]

Chính vì bảy yêu nữ sở trường vũ khí chuyên dụng như vậy nên Ngô Thừa Ân mới chuyển chỗ ở của chúng về động Bàn ty. Bàn viết với bộ chu (thuyền) nghĩa là quanh quất, lòng vòng. Ty là tơ; sợi tơ nhu nhuyễn, mềm mại mà khó dứt. Ý ở đây đã rõ: tơ là tơ tình, không thể dứt ngay, ngụ ý là díu dan vấn vít. Chế ngự cái tình cảm con người không phải chuyện dễ, vì con người ưa luyến tiếc, khoan nhượng với tình cảm bản thân.

Tuy không thấy Ngô Thừa Ân nói rõ lai lịch từng nữ yêu như khi giới thiệu từng tên trong bọn sáu giặc cướp, đến đây cũng có thể sưu tra được danh tính của bảy cô nàng. Bảy chị em chính là thất tình một bọn, gồm có: mừng, giận, buồn, sợ, yêu, ghét, muốn (hỷ, nộ, ai, cụ, ái, ố, dục). Đôi khi bảy ả còn đổi tên khác đi chút xíu là: mừng, giận, lo, nghĩ, buồn, sợ, khiếp (hỷ, nộ, ưu, tư, bi, khủng, kinh).

Thất tình và lục dục, cấu kết nhau nội công ngoại kích, là mười ba con ma phá hoại tâm thanh tịnh, gây phiền não chướng ngại, cản trở người tu (hành giả).

Về hiểm họa ấy, Cao đài dạy:

“Thất tình lục dục là mối loạn hàng ngày ở trong tâm trí, không phương trừ khử. Một đám giặc liệt cường tài trí, đánh phá ruồng trong núi cao non thẳm còn dễ dẹp trừ đặng, chớ mối loạn nơi tâm khó mà diệt đặng cho yên, nhứt là ma lục dục (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý) nó phá hoại hàng ngày.” [Đại thừa chơn giáo 1950: 354]

“Con người vì bị thất tình, lục dục mà hao tổn tinh thần, tiêu mòn khí phách. Nó luống đẩy xô nhơn loại vào ao lửa núi gươm, hang sâu vực thẳm.” [Đại thừa chơn giáo 1950: 358]

Người tu thiền (hành giả) khi ấy phải biết mài gươm trí huệ mà đối địch cùng lũ thập tam ma. Cao đài dạy phải biết thu phục mười ba con ma này cho chúng cải tà qui chánh:

Muốn phản bổn huyền công tu tập,

Muốn huờn nguyên phá chấp giải mê.

Bảy tình sáu dục quay về,

Về nơi căn cội bồ đề khi xưa.

Ngô Thừa Ân ở Hồi thứ 72 tuy phớt lờ lai lịch bảy yêu nữ, nhưng lại bày ra phương châm đối trị với chúng. Lũ yêu này cư ngụ động Bàn ty và chiếm cứ suối Trạc cấu. Trên kia đã nói rõ Bàn ty là tơ tình vướng vít, làm sao dứt bỏ? Thì đây, Trạc viết với bộ thủy (nước) nghĩa là rửa ráy; cấu là nhơ bợn cặn cấu. Trạc cấu tức là hãy rửa sạch bụi bặm lòng trần.


Cũng vậy, Cao đài dạy muốn trị mười ba con ma ấy, phải hết sức kiên trì với lòng thanh tịnh (tâm không):

Thất tình lục dục sớm trừ xong,

Luyện tập ngày đêm sửa tấm lòng,

Khử diệt thất tình an tánh thiện,

Tu hành phải để chí không không.

[Đại thừa chơn giáo 1950: 360]

Núi Bàn ty nằm gần suối Trạc cấu, và Thất tinh đã được chuyển về ở đó, theo ẩn ý của Ngô Thừa Ân, có nghĩa rằng trước sau gì cũng sẽ đoạn trừ xong được thất tình. Đoạn diệt được, thì Tam tạng mới có thể tiếp tục lên đường thỉnh kinh (truy cầu chân lý tối thượng).

Hiểu trên lý thuyết là đơn giản, nhưng trong thực nghiệm tâm linh của hành giả cổ kim, có biết chăng đã không ít kiếm khách phải bẻ kiếm bên trời mà ngậm ngùi than dài thở vắn. Than rằng:

Diệt trừ sáu bảy mười ba,

Trăm năm trong cõi người ta dễ gì!
 

tranglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
24 Thg 3 2015
Bài viết
239
Điểm tương tác
76
Điểm
28
Giải mã truyện Tây du- Lê Anh Dũng

Nẻo về bên ấy.

http://www.maxreading.com/sach-hay/giai-ma-truyen-tay-du/neo-ve-ben-ay-39989.html

Có đi ắt có đến. Cuối cùng, thầy trò Đường tăng cũng đặt chân tới cảnh giới của Phật. Thấy Đường tăng mải mê ngắm cảnh đẹp, Tề thiên nhắc khéo: “Sư phụ những lúc gặp cảnh giả, phật tượng giả thì vội sụp người lạy. Bây giờ gặp cảnh thật, phật tượng thật lại chẳng xuống ngựa là cớ sao?” Tam tạng nghe vậy, vội vàng xuống ngựa, bước tới cửa tòa lầu, nhìn thấy một đạo đồng đứng nghiêng người trước cổng chùa... [TDK X 1988: 156]

Đọc chậm rãi tới đây, nếu tinh ý một chút, người đọc dừng lại tự hỏi rằng: Sao lạ vậy? Tại sao trước cổng chùa không bố trí một chú tiểu, sa di, tì kheo hay hòa thượng? Tại sao trước cổng chùa lại để một đạo đồng? Phải chăng sơ tâm nên viết lẫn lộn? Đạo đồng sao không đứng nơi đạo quán (Lão, Tiên) mà ra cổng chùa (Thích, Phật) để đón Đường tăng?

Hỏi, rồi lại đọc thêm xem cớ sự thế nào. Hóa ra, đạo đồng ấy vai vế rất lớn, “đó là Kim đính Đại tiên ở quán Ngọc chân dưới chân núi Linh sơn...” [TDK X 1988: 157]

Đầu chương nói chùa, bây giờ bảo quán!

Linh sơn là đất Phật, Đường tăng tìm Phật để thỉnh kinh Phật, ai ngờ đến cõi Phật thì lại gặp... tiên! Và ông tiên đó lãnh nhiệm vụ của Quan âm (Phật) chờ đón người thỉnh kinh Phật! Ngô Thừa Ân phải chăng phóng túng ngòi bút bất chấp sự nhất quán, nhất trí của câu chuyện?

Nhớ lại trong những hồi trước đây, có nhiều đoạn kể việc Tề thiên đập phá đạo quán, chỉ trích đạo sĩ, lấy nước tiểu giả làm “kim đơn”... [TDK V 1988: 110]. Có người sẽ lầm tưởng rằng Ngô Thừa Ân bài bác Tiên, Lão và cổ vũ riêng cho Phật, Thích. Thực sự không phải thế!

Tam giáo một nguồn

Tây du ký dung hòa Tiên, Phật và chủ trương Thích, Lão không khác nhau về con đường giải thoát. Đi Tiên thì về Phật. Đến Thích thì khởi đi từ Lão. Ẩn ý này được thể hiện nhiều chỗ trong toàn bộ Tây du. Chẳng hạn, ở đầu truyện, Tề thiên học đạo Tiên với Bồ đề Tổ sư, rồi sau quy y làm hòa thượng. Và cuối truyện, trước khi vào đất Phật, mấy thầy trò phải dừng chân nghỉ qua đêm ở quán Ngọc chân của Kim đính Đại tiên.

Có người cho rằng Phật lớn hơn Tiên. Qua Tây du người ta có thể vin vào nhiều chi tiết để cố minh chứng cho quan niệm Tiên thấp hơn Phật. Chẳng hạn: Lão quân, Ngọc hoàng (tiêu biểu cho bên Tiên) không trị được Tề thiên, mà chỉ có Phật tổ Như lai mới nhốt được Mỹ hầu vương dưới Ngũ hành sơn. Hoặc vin ngay câu chuyện Kim đính Đại tiên được cắt cử làm “receptionist” (tiếp tân) trực dưới núi Linh sơn đón khách.

Ngô Thừa Ân phải chăng đã khéo léo phủ nhận thành kiến đó một cách kín đáo? Bởi lẽ, khi Phật tổ trao kinh Phật cho Đường tăng lại ân cần dặn dò rằng: “Phải quý báu! Phải coi trọng! Bởi trong đó có phép màu đắc đạo thành tiên...” [TDK X 1988: 176]

Phật trao kinh Phật cho đệ tử Phật, để rồi theo đó con Phật tu hành sẽ đắc đạo thành... Tiên! Như vậy, theo Ngô Thừa Ân, dù Tiên hay Phật, dù Lão hay Thích, sự khác nhau chỉ là danh xưng, hình thức, cốt lõi vẫn là một. Đi xa hơn, Ngô Thừa Ân còn gồm luôn cả Nho vào một bảng giá trị của chân lý giải thoát, tuy rằng về cơ bản Nho hầu như thiên về nhập thế. Quan điểm Tam giáo đề huề, đồng đẳng của họ Ngô đã được tác giả nói ra bằng cách mượn lời Như lai khi trao kinh cho Đường tăng:

“Công đức của những quyển kinh này không có gì sánh nổi. Tuy là giới luật của cửa ta (Phật môn), nhưng cũng là nguồn dòng của Tam giáo...” [TDK X 1988: 176]

Lời tâm huyết của Như lai trên điện Lôi âm cũng là lời vua Trần Thái tông sau khi đại ngộ, đã ân cần gửi gấm trong sách Khóa hư lục:

Vị minh nhân vọng phân Tam giáo,

Liễu đắc để đồng ngộ nhất tâm.

Nghĩa là:

U mê đời lầm lẫm mà coi Tam giáo khác nhau,

Khi đạt được gốc cội rồi đều giác ngộ một tâm.

Nói thêm:

Về chủ trương dung hòa Tam giáo, ngoài Ngô Thừa Ân với Tây du ký, đời Minh còn có Tiên phật hiệp tông ngữ lục (một quyển) do đạo sĩ Ngũ Thủ dương tuyển chọn. Thủ dương là đạo hiệu, còn có hiệu là Xung hư (tử). Theo [Ngô Phong 1994: 1226], trong quyển Tiên Phật hiệp tông, Ngũ Thủ dương đã dung hòa công phu thiền định (nội đan công pháp) của Tam giáo.

Vì sao quyển sách có tên Tiên Phật hiệp tông? Theo Thủ dương, mục đích luyện đan là thành phật thành tiên, con đường luyện đan là hoàn hư mà hoàn hư là lý luận dung hợp của Nho, Thích, Lão. Ông cho rằng Tiên Phật tu đạo đồng công phu, đồng hiệu quả (đồng công đồng hiệu). Ông viết:

“Ngộ hữu Tiên khả học, tắc học Tiên tức Phật dã. Ngộ hữu Phật khả nhập, tắc nhập Phật tức Tiên dã.” (Gặp Tiên có thể theo học, học Tiên tức là học Phật vậy. Gặp Phật có thể nhập môn, vào cửa Phật tức là vào cửa Tiên đó.) Lê Anh Minh dịch.

Đường vô xứ Phật

Ngủ một đêm tại quán Ngọc chân, hôm sau mấy thầy trò chuẩn bị lên đường. Tề thiên nói với Kim đính Đại tiên: “Sư phụ tôi đang sốt ruột muốn bái Phật, phải đi ngay đừng chậm trễ nữa.”

Đại tiên cười khà khà dắt tay Đường tăng dẫn vào cửa pháp môn. Nguyên con đường này không ra lối cổng chùa, mà từ gian giữa trong quán, đi xuyên qua lối cửa sau. Đại tiên chỉ Linh sơn nói: “Nơi ấy là núi Linh thứu, thánh địa của Phật tổ đấy.” [TDK X 1988: 158]

Nói cách khác, muốn đi vô đất Phật, chỉ có con đường một chiều như trên. Không thể nào đi lộn trở ra. Con đường này đưa vào lối phía sau. Chi tiết này gợi nhớ đến lúc Mỹ hầu vương cầu đạo ở Tà nguyệt Tam tinh động, phải “đi vào bên trong, đóng cửa giữa lại, rồi đi vào lối cửa sau, ở chỗ kín ấy sư phụ sẽ truyền đạo cho.” [TDK I 1982: 55]

Học tu theo Lão hay Phật, đi vào con đường thiền, tức là hành giả chọn con đường hướng nội (đi vào trong). Đi ra (hướng ngoại), chỉ gặp âm thanh sắc tướng; nói theo Phật, đó là huyễn ảo. Đạo đức kinh, Chương XII có câu: “Vị phúc bất vị mục.” (Vì bụng chứ không vì mắt.) Đó là ám chỉ hành giả phải quay vào, quay vô trong, đừng nhìn ra ngoài, như thế mới gặp được chân, bỏ được giả.

Theo truyền thống phương Đông, giáo pháp chỉ bày con đường tu thiền phải mật truyền, giống như Bồ đề Tổ sư dạy Hầu vương ở cửa sau, nơi chỗ kín nhiệm. Kinh kệ, cúng bái, cầu siêu, sám hối, lập đàn, v. v... là hình nhi hạ học, là ngoại giáo công truyền (exoterism), dành cho đại chúng.

Trái lại, con đường đi tìm trăng sao cửa động (tìm tâm) của hành giả cô đơn, âm thầm lặng lẽ, là hình nhi thượng học, là nội giáo tâm truyền (esoterism), hay nói theo Bồ đề Đạt ma ở Trung Quốc vào thế kỷ thứ Sáu là giáo ngoại biệt truyền. [ Xem bài Nỗi lòng giấy trắng.]

Trên bến Lăng vân
Sau khi từ biệt Kim đính Đại tiên, mấy thầy trò Đường tăng tiếp tục đi tới bến Lăng vân và “nhìn thấy một dòng nước cuồn cuộn, sóng vỗ tung trời, rộng tới tám chín dặm, bốn phía tịnh không một bóng người.” [TDK X 1988: 159]

“Bến này nguyên chỉ có một cây cầu độc mộc.” Đường tăng không chịu qua cầu, vì lẽ cầu ấy:

Muôn trượng cao một cọng cầu vồng.

Trơn như mỡ khó đặt chân...

[TDK X 1988: 159]

Tuy nhiên Tề thiên cứ nhất định bảo: “Phải bước qua cây cầu này mới thành Phật được chứ.” [TDK X 1988: 160]

Cây cầu trớ trêu ấy thực sự nằm chính trong thân con người. Trong phép tu thiền của đạo Lão và Cao đài, hành giả phải uốn cong đầu lưỡi cho đụng vào hàm trên, tạo thành cây cầu nối liền hai bờ, là hàm dưới và hàm trên. Động tác này tạo thuận lợi cho nước miếng tiết ra nhiều. Nước miếng (tân dịch) vốn được các đạo sĩ quý báu, coi là một “vị thuốc” thiên nhiên sẵn có trong thân mỗi hành giả (nội dược), dùng để luyện nội đơn cho thành chánh quả (đắc đạo).

Giữa lúc Đường tăng còn phân vân chưa dám qua cầu, bỗng có Tiếp dẫn Phật tổ mang thuyền đến rước qua sông. Truyện Tây du tả đoạn này rất khéo: “Tam tạng quay đầu, chợt nhìn thấy phía hạ lưu có một người đang chèo thuyền bơi tới, cất tiếng gọi to: Lên đò! Lên đò!” [TDK X 1988: 160]

Đọc kỹ đoạn này, cần lưu ý trình tự sự việc. Không phải vì Đường tăng nghe tiếng gọi đò trước mà sau đó mới quay đầu lại. Chính nhờ Đường tăng quay đầu lại trước nên mới gặp người lái đò đang tới.

Đò là để đưa người qua sông, sang tới bờ bên kia (đáo bỉ ngạn). Đường tăng quay đầu lại nhìn thấy đò tức là gặp được phương tiện để sang bờ bên kia (bỉ ngạn) cũng là bờ giác ngộ (bến giác) hay cõi Phật. Bờ bên này là luân hồi sanh tử (bờ mê).

Nói rằng Đường tăng quay đầu lại thấy đò, tức là sẽ thấy bờ bên kia; ở đây truyện Tây du muốn ám chỉ bốn chữ của nhà Phật: hồi đầu thị ngạn (quay đầu lại là bờ).

Con người phàm phu hướng ngoại cứ đi hoài trong cõi hồng trần, lênh đênh trên biển khổ sóng gió chập chùng (khổ hải vạn trùng ba). Nhưng trong tự thân con người đã có sẵn chủng tử của Phật (Phật tính), do đó, một khi con người sực tỉnh dừng bước giang hồ, quay đầu lại thì không còn tiếp tục đi sâu vào biển trần nữa, bến giác sẽ hiện ra.

Do triết lý đó mà có câu chuyện mười tám ông ăn cướp, vừa mới kịp buông dao giã từ đời oan khiên nghiệp chướng, lập tức đã trở nên thập bát la hán trang nghiêm cho đời sùng mộ, kính ngưỡng.

Trở lại chuyện chiếc thuyền (hay con đò). Nó không có đáy! Đường tăng hỏi người lái đò: “Thuyền của ngài là thuyền hỏng, không đáy, qua sông làm sao?” [TDK X 1988: 161]

Thuyền có đáy là thuyền hữu hình cõi tục. Nó chỉ có thể chở khách trần đi từ bờ mê này sang bến mê kia. Thuyền có đáy dù to đến mấy, sức chở người cũng có giới hạn.

Thuyền không đáy là thuyền vô hình cõi tiên cõi phật. Nó đưa khách trần lìa bến mê sang bờ giác. Nó không đáy mà chở người vô hạn. Không có sóng dữ nào nhận chìm được.

Chính vì huyền diệu như thế nên thuyền ấy được Phật tổ tán thán rằng:

Thuyền ta đây:

Thuở hồng hoang từng nổi tiếng,

Có ta đây chèo chống giỏi giang.

Sóng to gió cả vững vàng,

Không đầu không cuối bước sang cõi lành.

Quay về gốc, bụi trần chẳng bợn,

Muôn kiếp đày, thanh thản qua sông.

Thuyền không đáy vượt trùng dương,

Xưa nay cứu vớt muôn vàn sinh linh.

[TDK X 1988: 161]

Chiếc thuyền trên bến bến Lăng vân chính danh của nó là thuyền bát nhã. Phật gọi cõi đời này là sông mê, biển khổ. Qua sông vượt biển cần phải dùng thuyền. Con thuyền đạo pháp đưa chúng sanh đến bến bờ giải thoát hay niết bàn tịnh lạc chính là trí huệ, còn gọi là bát nhã (prajna).



Con thuyền bát nhã (Soami, thế kỷ XVI)

Cái trí huệ bát nhã ấy không phải Phật đem trao, ban tặng cho chúng sinh, mà bản thân chúng sinh đã có từ lâu. Nó vô thủy vô chung (không đầu không cuối). Phật chỉ giúp đỡ cho chúng sinh tìm lại cái mà họ đã có sẵn. Phật chỉ là bà đỡ, bà mụ; chúng sinh phải đẻ chứ Phật không đẻ dùm! Chính do ý đó mà trong bài kệ về thuyền bát nhã, câu 2 nói thuở hồng hoang (tiên thiên); câu 5 nói không đầu không cuối (bất sinh bất diệt); câu 3 nói có ta (Phật) đây chèo chống...

Phật là người đưa đò cho chúng sinh sang bến giác, chúng sinh phải xuống đò, phải tự bước lên thuyền mà sang sông. Nói cách khác, chúng sinh phải tự mình lên đường; Phật chỉ là người dẫn dường dắt lối, cho nên người đến đón thầy trò Đường tăng mới có pháp hiệu là Tiếp dẫn Phật tổ.

Bát nhã còn gọi là bát nhã ba la mật đa (prajna-paramita). Ba la mật đa (paramita) theo chữ Nho là đáo bỉ ngạn (qua tới bờ bên kia, bờ giác ngộ). Khi Đường tăng quay đầu lại thấy thuyền (hồi đầu thị ngạn), ấy mới chỉ là nhân. Có nhân vẫn chưa đủ, cho nên dù đã được Phật tổ bảo đảm sẽ đi qua tới bến giác, Đường tăng cứ mãi dùng dằng không muốn lên thuyền.

Phải chăng, đó cũng là tâm lý thế gian: làm phật tiên thời phần đông ai cũng muốn cũng ham, nhưng mà coi lại cõi trần, tuy bản chất (nói theo Phật) là khổ, nhưng hiện tượng (cảm nhận bằng trí phàm phu) cớ sao lại muôn màu muôn vẻ; chèng ơi, vui quá! Cho nên bỏ đi cũng chẳng đành! Bởi vậy, trong Cao đài có bài thơ làm chứng cho nỗi lòng thế nhân ở bên này sông, một chân dợm bước xuống thuyền, mà một chân còn trì vào bờ lưu luyến:

Điên đảo lòng con nỗi đạo đời,

Đời con rộn rực luyến mê chơi.

Đạo thì cũng muốn tu thành Phật,

Theo đạo thì con lại tiếc đời.

[Đại thừa chơn giáo 1950: 86]

Vậy, tuy có nhân rồi nhưng lại cần có thêm duyên. Cái duyên ấy sẽ dồn cho chúng sinh không còn phải lưỡng lự gì cả. Trong cuộc đời, đó là nghịch cảnh. Nghịch cảnh làm con người chán chường phồn hoa vật chất và hồi tâm nghĩ đến chuyện tu hành giải thoát. Ở Tây du, Ngô Thừa Ân mượn tay Tề thiên để tạo ra duyên:

“Hành giả đứng khoanh tay trước ngực, bất ngờ đẩy mạnh một cái, Tam tạng đứng không vững, rơi đánh ào một cái xuống nước, Phật tổ nhanh tay đỡ lấy, dắt xuống đò. Tam tạng vừa phủi quần áo vừa dậm chân oán trách Hành giả.” [TDK X 1988: 161]

Tâm lý của Tam tạng “oán trách Hành giả” cũng là tâm lý của Ngưu ma vương và bà La sát (Thiết phiến Công chúa), oán hờn thù ghét Tề thiên, vì Tề thiên đã trợ duyên cho Hồng hài nhi (yêu ma) trở nên Thiện tài Đồng tử nơi cõi Phật, hầu cận Quan âm. Cho nên, cái éo le cay đắng là nhiều khi làm ơn mắc oán.

Chú: Khi nghe Tề thiên nhận vợ chồng Ngưu ma vương vào vai vế anh chị, vợ Ngưu ma vương (bà La sát) liền trách mắng: “Con khỉ khốn kiếp kia, đã là tình anh em thân thiết, sao lại hại con ta?” (tr. 201). Còn Ngưu ma vương thì quát lên: “... cớ sao lại nỡ hại con ta là Ngưu Thánh anh ở động Hỏa vân, khe Khô tùng núi Hiệu? Ta đang căm giận nhà ngươi...!” [TDK VI 1988; 223]

Cũng vậy, lịch sử các tôn giáo hoàn cầu, từ Đông qua Tây, từ xưa tới nay, đều có một định lệ gần như bất di bất dịch: Anh mà đem đạo, đưa giáo lý tới cõi đời để cứu đời, thì chính người đời sẽ đóng đinh, sẽ bức tử, giam cầm, dè bỉu, chỉ trích anh thậm tệ. Bởi thế, trên đường sang Thiên Trúc gặp Phật, Đường tăng đâu phải chỉ riêng gặp tai ương với quỷ ma yêu quái, mà Đường tăng còn gặp cả những hiểm nguy giữa con người với con người, đồng loại với đồng loại. (Đường tăng ơi! Muốn đáo bỉ ngạn ư? Muốn đưa người sang sông ư? Nẻo về bên ấy chông chênh lắm!)



 

tranglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
24 Thg 3 2015
Bài viết
239
Điểm tương tác
76
Điểm
28
Nỗi lòng giấy trắng

http://www.maxreading.com/sach-hay/giai-ma-truyen-tay-du/noi-long-giay-trang-39990.html

Nghe tin báo thầy trò Đường tăng đã đến, “Phật tổ mừng lắm, lập tức xuống chiếu vàng, cho gọi tám vị bồ tát, bốn vị kim cương, năm trăm vị a la hán, ba nghìn vị yết đế, mười một vị đại diệu, mười tám vị già lam vào đứng xếp thành hai hàng, sau đó mới xuống chiếu vàng cho gọi Đường tăng vào.” [TDK X 1988: 164]

Mở đầu cho việc truyền kinh mà tả tỉ mỉ cảnh đón tiếp long trọng hiếm có như thế nhằm ngụ ý rằng đạo pháp không phải dễ duôi truyền thụ (đạo pháp bất khinh truyền).

Trong chùa Lôi âm, được diện kiến Phật tổ Như lai tại điện Đại hùng, sau một số nghi lễ cho đủ thủ tục, Đường tăng quỳ lạy và thưa rằng:

“Muôn xin Phật tổ ra ơn, ban cho chân kinh sớm mang về nước.” Như lai bèn mở miệng từ bi, động lòng thương xót, nói với Tam tạng: “Cõi đông thổ của nhà ngươi (...) người đông vật thịnh, tham lam độc ác, trí trá gian dâm, (...) bất trung bất hiếu, bất nghĩa bất nhân, lừa mình dối người (...) Nay ta có ba tạng kinh có thể siêu thoát khổ não, giải trừ tai ương (...). Các ngươi từ xa xôi tới đây, ta cũng muốn trao cho tất cả mang về, chỉ e người phương đó ngu si lỗ mãng hủy báng chân ngôn, không biết ý chỉ sâu xa trong đạo của ta.” [TDK X 1988: 165-166]

Trước khi tìm hiểu dụng ý của Ngô Thừa Ân vì sao phải dông dài như thế, cũng nên biết rằng đoạn văn trên đây của Tây du hoàn toàn phù hợp với lịch sử truyền giáo của nhà Phật.

Ba lần thỉnh pháp

Lịch sử đạo Phật ở Ấn Độ, khi chép về thời kỳ tu chứng của tu sĩ khổ hạnh Cồ đàm, cho biết rằng lúc đắc quả Phật chánh đẳng chánh giác, ngồi ở gốc cây Ajapala bên bờ sông Ni liên thiền, đức Phật đã trầm tư về vấn đề có nên đem cái đạo pháp giải thoát mà Phật đã tự chứng đắc truyền bá cho người đời hay không, thì mấy lượt ngài đã do dự.

Lần thứ nhất, đức Phật nghĩ rằng: “Đạo pháp mà Như lai đã chứng ngộ quả thật thâm diệu, khó nhận thức, khó lãnh hội, vắng lặng, cao siêu, không nằm trong phạm vi luận lý, mà tế nhị, chỉ có bậc thiện trí mới thấu hiểu (...) Như lai đã khó khăn lắm mới chứng ngộ được đạo pháp. Không cần phải phổ biến đạo pháp ngay lúc này. Người thế gian còn mang nặng tham ái và sân hận không dễ gì thấu triệt.”

Liền sau đó, một vị Phạm thiên (Brahma) ở cõi trời đọc được tư tưởng của Phật, liền cầu thỉnh Phật từ bi mà truyền đạo. Phật trả lời: “Người đời tham ái chìm đắm trong đêm tối, bị đám mây mù tham ái bao phủ, sẽ không thấy được đạo pháp bởi vì đạo pháp đi ngược dòng tham ái. Đạo pháp sâu kín, thâm diệu, khó nhận thức, và tế nhị. Vì suy gẫm như thế, Như lai chưa quyết định truyền bá đạo pháp.”

Vị Phạm thiên khẩn nài lần thứ nhì, Phật cũng đáp như thế. Mãi đến khi thỉnh pháp lần thứ ba, Phật mới đồng ý và tuyên bố: “Cửa vô sanh bất diệt đã mở cho chúng sanh. Hãy để cho ai có tai nghe đặt trọn niềm tin tưởng!” [Narada 1964: 60-63]

Trương Lương ba lần nhặt dép mới được tiên ông Hoàng Thạch công trao quyển thiên thư. Lưu Bị ba lần hạ mình tới nhà tranh (tam cố thảo lư) mới thỉnh được Khổng Minh. Cái gì khó khăn mới đạt được, càng khó thì đời càng quý, càng trọng. Cái gì dễ dàng có được thì người ta dễ duôi, coi thường. Và chỉ ai biết giá trị của quý mới rán sức đánh đổi tương xứng để đạt được bảo vật đó. Đây cũng là ẩn ý đạo pháp bất khinh truyền.

Bởi thế, muốn lấy được bảo bối của Phật, tức là thỉnh được kinh mầu nhiệm có thể cứu người thoát vòng luân hồi sinh tử, Đường tăng đương nhiên phải đánh đổi lại cho tương xứng. Đánh đổi cái gì và đánh đổi như thế nào?

Mật nghĩa việc đánh đổi bình bát

Truyện Tây du kể rằng:

“A nan, Ca diếp dẫn Đường tăng xem khắp tên các bộ kinh một lượt, đoạn nói với Đường tăng: Thánh tăng từ phương Đông tới đây, chắc có chút lễ vật gì biếu chúng tôi chăng? Mau đưa ra đây chúng tôi mới trao kinh cho.

Tam tạng nghe xong nói: Đệ tử là Huyền Trang, vượt đường sá xa xôi, chẳng chuẩn bị được quà cáp gì cả.

Hai vị tôn giả cười nói: Hà! Hà! Tay trắng trao kinh truyền đời, người sau đến chết đói mất.” [TDK X 1988: 168]

Đọc tơ lơ mơ, lắm người bảo rằng A nan và Ca diếp đòi ăn hối lộ! Thực ra, làm gì có chuyện vòi vĩnh của đút lót ở cửa Phật!

Trong mười đại đệ tử của Phật, ông Ca diếp đứng hạng ba, A nan đứng thứ mười, đều đắc quả A la hán, dứt bỏ hết các lỗi lầm (nhứt thiết lậu tận), không lẽ lại vướng lụy vì chút của cải vụn vặt của thế gian ư?

Theo lịch sử Thiền tông Ấn Độ, Phật Thích ca (Phật tổ) là Sơ tổ, Ca diếp là Nhị tổ, A nan là Tam tổ. Bậc giác ngộ đã lìa thế gian, thoát vòng sanh tử, làm sao có thể mở miệng vòi của lót tay?

Khi Hành giả (Tề thiên) khiếu nại sự việc bị đòi lễ vật, Phật tổ cười nói: “Nhà ngươi cứ bình tĩnh. Việc hai người [A nan, Ca diếp] vòi lễ các ngươi, ta đã biết rồi. Có điều kinh không phải trao cho một cách dễ dàng, không thể lấy không được.” [TDK X 1988: 172]

Rốt cuộc, khi đổi kinh vô tự để lấy kinh có chữ, Đường tăng vẫn bị đòi dâng lễ vật. “Tam tạng chẳng có vật gì dâng, đành bảo Sa tăng mang ra chiếc bát tộ vàng (...) A nan nhận lấy chiếc bát, tủm tỉm cười.” [TDK X 1988: 173]

Tại sao Tam tạng chẳng có vật gì dâng? Thực ra Tam tạng còn có hai bảo vật của Phật Quan âm tặng: chiếc cà sa báu và cây thiền trượng. Thế thì tại sao lại chỉ dâng cho A nan chiếc bình bát?

Trong đời sống xuất gia, bình bát (patra) vốn là biểu tượng của nhà tu khất thực (khất sĩ trì bát). Nhưng chiếc bình bát bằng vàng nguyên là của vua Đường tặng cho ngự đệ (em vua) kết nghĩa. Vì thế, trong tình huống này, nó còn tượng trưng cho của cải và danh vọng ở thế gian.

Ngoài ra, nói rằng Tam tạng chẳng có vật gì đem theo là ám chỉ kẻ xuất gia tu hành không còn tư hữu (tăng vô nhất vật). Để lãnh kinh báu của Phật, dâng nạp bình bát là ngụ ý: muốn thọ lãnh đạo giải thoát của Phật, con người phải xuất gia, lìa bỏ danh vọng và của cải thế tục.

Hành động của Đường tăng ở đây là ẩn dụ, có tính cách biểu tượng. Theo truyền thống đạo học thì đạo pháp không thể truyền thụ dễ duôi (đạo pháp bất khinh truyền), cho nên kẻ học đạo, muốn thọ pháp, phải đánh đổi. Đánh đổi có nhiều hình thức.

Khi Thái tử Cồ đàm tìm đạo giải thoát, Ngài đã phải đánh đổi cả ngai vàng, vợ đẹp, con thơ, cả cuộc sống nhung lụa đế vương.

Khi Thần Quang (tức Huệ Khả, Nhị tổ Thiền tông Trung Hoa) cầu đạo với Sơ tổ Bồ đề Đạt ma, và bị từ chối, Ngài đã tự mình chặt lìa cánh tay trái dâng lên thầy. Đó là ngụ ý sẵn sàng đánh đổi sinh mạng phàm phu để thọ lãnh đạo giải thoát tối thượng của thiền môn.


Phật tổ, A nan, Ca diếp (mượn trong [Léon Wieger 1927: 352])

Vì sao A nan và Ca diếp sợ người sau chết đói?

Ngoài ý nghĩa đạo pháp bất khinh truyền và phải đánh đổi như trên, cũng nên chú ý đến lời nói của A nan và Ca diếp: “Hai vị tôn giả cười nói: Hà! Hà! Tay trắng trao kinh truyền đời, người sau đến chết đói mất.” Tại sao lại là người sau chết đói? Tại sao có chuyện ăn uống nơi đây?

Xin thưa, đạo giải thoát cũng được gọi là pháp thực. Con người thân xác hữu cơ vốn cần có thực phẩm hữu cơ nuôi dưỡng thì con người tâm linh cũng cần có đạo pháp làm thực phẩm dưỡng nuôi.

Muốn cho đời này sang đời khác vẫn có được pháp thực nuôi tâm linh con người thì đạo pháp phải được trường lưu. Muốn đạo pháp trường lưu thì phải có con người xứng đáng nắm giữ đạo pháp để xiển dương và hoằng giáo. Đạo tuy thiêng liêng, nhưng bắt buộc phải có vai trò chủ sử của con người. Bởi thế, sách Nho có câu: Nhân năng hoằng Đạo, phi Đạo hoằng nhân.

Nếu dễ duôi truyền đạo pháp cho người không xứng đáng, chẳng những kẻ ấy không thể hoằng dương được chánh pháp mà còn khiến cho dòng đạo pháp suy tàn, bế tắc. Như thế, đời sau sẽ không còn hưởng được vị ngọt pháp thực nữa, nghĩa là tâm linh con người sẽ “đói”.

Chính vì lẽ sống còn này mà các bậc giáo tổ ngày xưa trước khi được lãnh trọng trách, đã phải chịu thử thách, chịu “bầm dập” đủ điều từ nội tâm tới thân xác và ngoại cảnh.

Mạnh tử đã sớm nói rõ điều trọng yếu ấy như sau: “Thế nên hễ Trời định phó thác trách nhiệm lớn lao cho người nào, trước hết phải làm cho người ấy khổ não tâm chí, lao nhọc gân cốt, đói khát cầu bơ cầu bất, nghèo nàn thiếu trước hụt sau, và làm rối loạn, điên đảo các việc làm của người ấy. Làm thế để mà phát động lương tâm của người, cho nhẫn kiên tánh tình của người, và gia tăng tài đức còn khiếm khuyết của người.” [“Cố Thiên tương giáng đại nhiệm ư thị nhân dã, tất tiên khổ kỳ tâm chí, lao kỳ cân cốt, ngạ kỳ thể phu, không phạp kỳ thân, hành phất loạn kỳ sở vi. Sở dĩ động tâm nhẫn tánh, tăng ích kỳ sở bất năng.” Mạnh tử: Cáo tử, chương cú hạ, 15.]

Trở lại với việc A nan và Ca diếp đòi lễ vật. Ngoài những ý nghĩa hàm ngụ như đã trên đây, hư cấu sự kiện này còn để gài vào một tình tiết hợp lý là lãnh kinh không chữ và đổi kinh có chữ.

Từ kinh vô tự đến kinh hữu tự (pháp vô vi ra pháp hữu vi)

Thoạt đầu, A nan và Ca diếp trao kinh không chữ (kinh vô tự), các quyển kinh toàn giấy trắng! Phật tổ dạy thầy trò Đường tăng: “Quyển trắng tinh là chân kinh không chữ, cũng là những kinh hay.” [TDK X 1988: 172]. Tuy vậy, Phật cũng đồng ý cho đổi lấy kinh có chữ. Then chốt ở đây là kinh vô tự có trước rồi sau mới có kinh hữu tự. Nó đúng với lịch sử truyền pháp của đạo Phật và nhiều tôn giáo khác ở phương Đông.

Khai sáng Phật giáo là Thích ca. Khi Thích ca đi tu, không có tụng kinh, không có lễ bái, dộng chuông, thắp nhang, đốt sớ. Thích ca đắc đạo, chứng quả vô thượng chánh đẳng chánh giác (a nậu đa la tam miệu tam bồ đề) thì Ngài vốn không có thầy. Không thầy, không kinh, biết lấy chi bám víu mà đạt đạo? Ngài chỉ nhờ giác ngộ được bổn tâm của mình. Bằng con đường tham thiền mà Ngài giác ngộ. Kinh vô tự ám chỉ pháp môn thiền. Thiền hay nội giáo tâm truyền (esoterism) dành cho những bậc đại căn đại trí.

Khi Phật truyền tâm ấn cho Nhị tổ Ca diếp, cũng không có văn tự. Sử chép rằng: Ngày kia, Phật tại núi Linh Thứu, trước đông đảo đệ tử Phật bắt đầu thuyết pháp bằng cách im lặng (vô ngôn) và cầm một cành hoa đưa lên trước đại chúng (niêm hoa). Mọi người bàng hoàng chẳng hiểu ý chi. Riêng đại đệ tử thứ ba là Ca diếp nhoẻn miệng cười (vi tiếu). Phật thấy Ca diếp đã lãnh hội được, bèn truyền tâm ấn cho Ca diếp làm Nhị tổ Thiền tông với lời lẽ như sau: “Ngã hữu chánh pháp nhãn tạng, niết bàn diệu tâm, vi diệu pháp môn, thực tướng vô tướng, kim phó chúc Ma ha Ca diếp.” (Ta có kho tàng con mắt của chánh pháp, tâm huyền diệu của niết bàn, cửa pháp vi diệu, thực tướng vô tướng, nay đem trao lại cho Đại Ca diếp.)

Tổ thứ 28 của Thiền tông Ấn Độ là Bồ đề Đạt ma qua Trung Quốc làm Sơ tổ Thiền vào năm 520 cũng tóm tắt tôn chỉ lập giáo của Ngài như sau:

Bất lập văn tự,

Giáo ngoại biệt truyền.

Trực chỉ nhân tâm,

Kiến tánh thành Phật.

Tôn chỉ của Đạt ma có nghĩa là: Không thông qua chữ nghĩa, không sử dụng kinh điển giáo lý, nhắm thẳng vào nội tâm con người, hễ thấy bổn tánh thì thành Phật.

Tóm lại, kinh vô tự giấy trắng là biểu tượng của tâm pháp, của thiền môn, là nội giáo, cái mà Khổng tử gọi là hình nhi thượng học (esoterism). Ở Ấn Độ, nó có từ Thích ca, ở Trung Quốc, nó truyền từ Đạt ma.

Sau khi Phật Thích ca tịch diệt, nhập niết bàn, do nhu cầu truyền giáo, các đại đệ tử mới tổ chức ghi chép lại lời dạy của Phật. Công lao này đứng đầu là A nan. Vì khi Phật còn tại thế, ông A nan được tuyển làm thị giả hầu cận đức Phật, nên ông được nghe Phật thuyết pháp nhiều hơn ai hết, và nhờ có trí nhớ kiểu Lê Quý Đôn, nên đã nghe thì bộ nhớ ghi lại trọn vẹn, không sót một lời.

Ông nghe kinh nhiều quá thành ra... tu luyện huyền công có phần nào hơi kém cỏi hơn đồng đạo, thần thông đã thua anh em, mà chứng ngộ cũng trễ hơn anh em. Bù lại, ông được tôn là Đa văn đệ nhứt trong mười đại đệ tử; ông tuy hạng nhứt về nghe kinh nhiều, nhưng lại xếp hạng chót trong mười đại đệ tử. (Lý thuyết kém hơn thực hành chăng?)

Vậy vô vi hay kinh vô tự có trước, về sau mới có kinh hữu tự, hữu vi. Có hữu vi nên mới dựng chùa, đúc chuông, tô tượng Phật, tụng kinh, thắp nhang, đốt sớ, v.v... Con đường truyền giáo này phù hợp cho đại chúng, nó là phổ độ, là hình nhi hạ học, là ngoại giáo công truyền (exoterism).

Phật pháp truyền từ Thích ca đến Ca diếp đánh dấu bằng tâm ấn niêm hoa vi tiếu, vắng bặt ngôn ngữ. Ca diếp là Nhị tổ, truyền đến Tam tổ là A nan thì bắt đầu có tổ chức kết tập kinh điển, văn tự miên man, lời lẽ dằng dặc. Cho nên có thể thấy Ca diếp là tiêu biểu cho con đường tâm pháp nội tu (kinh vô tự giấy trắng) và A nan là tượng trưng cho giáo lý công truyền (kinh hữu tự). Hiểu như vậy mới cảm nhận được trọn vẹn chỗ tài tình của Ngô Thừa Ân, vì sao lại phải chọn đúng Ca diếp, A nan là người trao kinh cho Đường tăng trong lúc bấy giờ ở điện Đại hùng còn có tám bồ tát, bốn kim cang, mười một đại diệu, mười tám già lam, năm trăm la hán, và ba ngàn yết đế [TDK X 1988: 164].

Kinh vô tự bị đem trả lại chùa Lôi âm để đổi lấy kinh hữu tự! Đó là con đường mà tâm pháp bị hữu vi hóa, đạo pháp thất chơn truyền. Ở Trung Hoa đó là hình ảnh mà thiền (tâm pháp) từ Bồ đề Đạt ma truyền xuống Lục tổ Huệ Năng thì rẽ ngang nhánh Thần Tú (ngoại giáo). Cũng là hình ảnh của đạo Lão từ Lão tử truyền xuống tới Trương Đạo Lăng thì biến ra âm thanh sắc tướng.

Theo Phật, Lão và Cao đài, chỉ có thực hành thiền (nội tu) mới có thể giải thoát thực sự. Ngoài ra, tu kinh tu kệ thì chỉ là lý thuyết. Giáo lý chỉ có thể giúp con người sáng suốt, trang bị thêm một mớ kiến thức chữ nghĩa chứ không biến được phàm phu ra phật ra tiên. Nói cách khác, tu bằng kinh hữu tự con người chưa thể đáo bỉ ngạn để qua tới bến bờ giác ngộ. Kinh hữu tự không thể đưa con người đến rốt ráo của giải thoát. Ý chỉ sâu sắc đó được Ngô Thừa Ân diễn tả bằng việc phơi kinh ướt ở bờ sông Thông thiên [TDK X 1988: 189], bị mất hết mấy tờ cuối quyển. Đọc kinh mà không tới chung kết cũng giống như tu hành mà không đạt kết quả (không giải thoát).

Trở lại với lời cảnh tỉnh của Phật tổ trước lúc trao kinh cho Đường tăng: “... chỉ e người phương đó ngu si lỗ mãng huỷ báng chân ngôn, không biết ý chỉ sâu xa trong đạo của ta.” [TDK X 1988: 166]. Kinh giấy trắng cao siêu quá, tuy không hủy báng, nhưng đã đặt vào tay mà còn đem trả lại, cũng gần như là chê bỏ!

Không ai giao sách cho người không biết đọc. Kinh vô tự của Phật vì vậy không đọc được bằng nhục nhãn (mắt thịt). Nhục nhãn chỉ đọc đưọc kinh hữu tự không toàn vẹn (thiếu trang chót). Kinh vô tự phải đọc bằng tâm, bằng nghị lực tự thắng của hành giả cô đơn. Và như thế, nỗi lòng giấy trắng không phải để san sẻ cho đại chúng bì phu, mà chỉ hiện chữ cảm thông cho riêng ai âm thầm với trăng sao soi cửa động.
 

tranglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
24 Thg 3 2015
Bài viết
239
Điểm tương tác
76
Điểm
28
Giải mã truyện Tây du- Lê Anh Dũng

+ Dư Âm.

Toàn bộ các nhân vật, sự kiện trong Tây du ký của Ngô Thừa Ân đều là hư cấu mà Hầu vương là nhân vật hư cấu rất độc đáo.

Đối chiếu tỉ mỉ giữa lịch sử và tiểu thuyết có thể thấy TDK mô phỏng sự tích đức Phật Thích ca (PTC) và sự tích đức Lục tổ Huệ Năng chép trong Phẩm thứ Nhất (Hành do) của Pháp bảo đàn kinh [PBĐK] để hư cấu thành sự tích Hầu vương.

1. Giác ngộ lẽ vô thường
A. Theo PTC, Thái tử Cồ Đàm sẽ kế vị vua cha Tịnh Phạn để làm vua, nhưng sau khi đi qua bốn cửa thành, Thái tử giác ngộ lẽ tứ khổ (sanh, lão, bệnh, tử), đã quyết tâm từ bỏ ngai vàng, xa rời vợ trẻ con thơ, đang đêm lẻn ra khỏi hoàng cung, du phương tìm đạo giải thoát.

B. Theo [TDK I 1982: 35], Hầu vương ở núi Hoa quả, động Thủy liêm, ngồi trên ngai vua, đang hưởng thụ sung sướng, chợt giác ngộ lẽ sống chết vô thường, liền phát tâm bồ đề, lìa bỏ ngôi vua, vượt biển tìm đạo tu thành phật tiên để giải thoát luân hồi sinh tử.

2. Nhân duyên trò tìm được thầy
A. Theo PBĐK, đức Lục tổ Huệ Năng họ Lư (638-713), thuở nhỏ sớm mồ côi cha, nhà nghèo, mẹ con bán củi sống qua ngày. Một hôm Huệ Năng đem củi giao cho khách hàng xong, vừa trở gót ra về bỗng nghe có người tụng kinh Kim cang đến câu Ưng vô sở trụ nhi sinh kỳ tâm (Không nên trụ vào đâu mà sinh ra tâm của mình). Huệ Năng hỏi người ấy học kinh này từ đâu, thì được chỉ dẫn đến chùa Đông thiền, do đức Ngũ tổ Hoằng Nhẫn trụ trì.

B. Theo [TDK I 1982: 41-43], Hầu vương trên đường tìm đạo, một hôm qua rừng chợt nghe một người kiếm củi hát:

Gặp nhau Phật đạo phép mầu,

Bình tâm tĩnh tọa tụng câu Huỳnh đình...

Hầu vương hỏi thăm bài hát này học từ đâu, được người kiếm củi chỉ đến động Tà nguyệt Tam tinh, núi Linh đài Phương thốn, do Tổ sư Tu Bồ Đề làm chủ.

Lưu ý: PBĐK và TDK đều nói đến củi, duyên khởi từ củi mà phăng ra con đường đến gặp thầy học đạo. Củi là chất đốt, dùng để đun nấu; vậy củi là ẩn ngữ nhắc đến luyện hỏa hầu, đốt lò bát quái, luyện đơn nấu thuốc, tức là ám chỉ việc tham thiền của nhà Phật hay tịnh luyện của đạo Lão.

[Xem bài Ngọn gió trong lò.]

3. Thầy hỏi mục đích đi tu của trò
A. Theo PBĐK, Huệ Năng đến gặp đức Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Tổ hỏi: “Muốn cầu vật chi?” Huệ Năng đáp: “Chỉ cầu làm phật chứ chẳng cầu vật chi khác.”

B. Theo [TDK I 1982: 51], Tổ sư Tu Bồ Đề hỏi Hầu vương: “Nay nhà ngươi muốn học đạo gì?” Rồi Tổ sư giới thiệu đủ các môn phép thuật, nhưng Hầu vương khăng khăng chỉ đòi học được phép trường sinh, tức là chỉ muốn tu thành tiên phật.

[“Trường sinh” hiểu theo dân gian là sống lâu dài, không chết. Hiểu theo đạo Cao đài, chỉ có tu cho thành bậc kim tiên hay phật mới thoát ra vòng luân hồi, không còn bị luật sinh tử chi phối, và đó mới thực là trường sinh.]

4. Buổi sơ kiến thầy trò nói đến tánh
A. Theo PBĐK, Khi Huệ Năng mới đến chùa, đức Ngũ tổ chê là người gốc phương nam quê mùa không thể làm phật. Huệ Năng cãi: “Người ta có phân biệt phương nam, phương bắc nhưng phật tánh không có nam, bắc.”

B. Theo [TDK I 1982: 47], Hầu vương chân ướt chân ráo đến động Tà nguyệt Tam tinh, ra mắt Tổ sư. Tổ hỏi tánh (họ) Hầu vương là gì, Hầu vương đáp rằng không có tánh (bản tính).

5. Phải công quả trước khi thọ pháp
A. Theo PBĐK, Huệ Năng ở lại chùa của đức Ngũ tổ, được giao chẻ củi, giã gạo. Sau khi làm công quả hơn tám tháng mới được Tổ truyền pháp.

B. Theo [TDK I 1982: 49], Hầu vương ở lại động Tà nguyệt Tam tinh, chăm lo quét dọn, làm vườn, gánh nước, kiếm củi, sau bảy năm công quả mới được Tổ truyền pháp. Vậy, cả Huệ Năng và Hầu vương trước khi thọ pháp thiền (công phu) đều phải trải qua một quá trình làm công quả.

[Theo Cao đài, điều kiện này là căn bản không thể thiếu được đối với các hành giả (người tu thiền), vì nếu không có công quả làm nền móng, giải trừ nghiệp (karma) thì quá trình thực hành công phu (hành thiền) sẽ gặp nhiều chướng ngại. Do đó, pháp môn tu của Cao đài ngày nay kết hợp công quả, công phu với công trình (luyện kỷ, tu thân cho nên đạo hạnh), gọi chung là tam công.]

6. Thầy sợ trò bị đồng môn ám hại
A. Theo PBĐK, đức Ngũ tổ Hoằng Nhẫn muốn tuyển người thừa kế y bát thiền tông; giao hẹn ai làm được kệ chứng tỏ đã thấy được tánh mới được chọn làm Lục tổ. Huệ Năng làm bài kệ:

Bồ đề bản vô thụ,

Minh kính diệc phi đài;

Bản lai vô nhất vật,

Hà xứ nhạ trần ai?

Nghĩa là:

Bồ đề vốn không cây,

Cũng chẳng đài gương tỏ;

Vốn không có vật gì,

Chỗ nào đóng bụi lọ?

Bài kệ làm cả chùa xôn xao, kinh ngạc. Đức Ngũ tổ sợ Huệ Năng bị kẻ khác ám hại để đoạt quyền kế vị, liền lấy giày chùi luôn bài kệ như ngầm tỏ ý rẻ rúng, và bảo với mọi người rằng Huệ Năng vẫn chưa thấy tánh (chưa đạt đạo).

Vốn khi Huệ Năng mới đến xin học đạo đã ứng đối lanh lợi, đức Ngũ tổ phòng xa có kẻ ghen tỵ ám hại, nên phải sớm tìm cách che chở. Một hôm Huệ Năng đang giã gạo ở sau chùa, Tổ đi đến bên cạnh, nói nhỏ: “Ta thấy ý kiến ngươi có thể dùng, nhưng e sợ có kẻ ác làm hại ngươi, cho nên chẳng nói với ngươi, ngươi có biết hay chăng?”

B. Theo [TDK I 1982: 65], Hầu vương hầu như đã học xong pháp thuật của Thầy. Một hôm, do tính hiếu thắng, Hầu vương biểu diễn thần thông khoe tài với đồng môn. Tổ sư nghe huyên náo, ra mắng: “Công phu ấy có thể đùa cợt trước mặt mọi người sao? Giả sử ngươi thấy người khác có, ắt phải cầu người ta. Người khác thấy ngươi có, ắt phải cầu ngươi. Nếu ngươi sợ tai vạ, ắt phải truyền cho người ta. Nếu không truyền sẽ bị hại, tính mệnh nhà ngươi khó mà giữ nổi.”

7. Thầy ra ám hiệu hẹn giờ để bí mật truyền riêng pháp môn
A. Theo PBĐK, một hôm khác, sau khi Huệ Năng trình ra bài kệ “Bồ đề bản vô thụ...”, Tổ đến chỗ Ngài đang giã gạo, hỏi bóng gió: “Gạo giã kỹ chưa?” [ngụ ý hỏi trình độ tu hành tới đâu rồi]. Huệ Năng lĩnh hội, cũng đáp bóng gió: “Gạo giã đã kỹ lắm rồi, chỉ còn thiếu cái sàng.” [ngụ ý nói tu đã tới nơi rồi, nhưng chưa có thầy giúp ấn chứng]. Tổ nghe xong, cầm gậy gõ vào cối ba cái rồi lẳng lặng quay đi. Huệ Năng hiểu ý, canh ba lẻn vào phòng Tổ. Ngũ tổ bí mật truyền trao y bát cho Huệ Năng làm Lục tổ.

B. Theo [TDK I 1982: 55] một hôm Tổ sư giới thiệu cho Hầu vương đủ các môn học mà Hầu vương đều nhất quyết không chịu, vì chẳng phải là môn để được sống lâu. Tổ sư làm mặt giận, cầm gậy gõ vào đầu Ngộ không ba cái, quay lưng đi thẳng vào trong, đóng cửa giữa lại. Ngộ không ngầm hiểu: Tổ sư ám chỉ canh ba, đi vào bên trong, lối cửa sau, ở chỗ kín ấy sư phụ sẽ truyền đạo cho.

8. Truyền pháp xong thầy buộc trò lập tức ra đi
A. Theo PBĐK, đức Ngũ tổ mật truyền y bát cho Huệ Năng làm Lục tổ xong, lại thúc hối bảo Ngài phải đi khỏi chùa lập tức: “Nhà ngươi nên đi mau, kẻo e người ta làm hại.” Huệ Năng hỏi: “Đi nẻo nào bây giờ?”

B. Theo [TDK I 1982: 66], sau khi Hầu vương học xong các phép thuật, Tổ sư thấy Hầu vương khoe tài biến hóa với đồng môn, bèn giả mặt giận, mượn cớ mắng nhiếc. Hầu vương cúi đầu xin tha tội, Tổ sư quyết liệt đuổi đi luôn: “Ta cũng không bắt tội nhà ngươi, nhưng nhà ngươi phải đi đi thôi.” Hầu vương ứa lệ, hỏi: “Tôn sư bảo con đi đâu?”

Lưu ý: Khi từ chỗ sư phụ ra đi, hai câu hỏi của hai đệ tử cũng gần giống nhau; Huệ Năng hỏi: “đi nẻo nào?” còn Hầu vương hỏi: “con đi đâu?”

·

Tám điểm tương đồng dẫn trên cho thấy Tây du ký của Ngô Thừa Ân đã dựa vào một phần lịch sử của đạo Phật ở Ấn Độ và lịch sử Thiền tông ở Trung Quốc để hư cấu thành sự tích Hầu vương. Đó là lấy thực (lịch sử) làm hư (tiểu thuyết). Nói khác đi, Hầu vương hoàn toàn không có thật.

[Đã đăng tuần báo Giác ngộ, số 21&22 (bộ mới), ngày 24-8-1996.]


(Tác phẩm này, đến đây là kết).
 
Bên trên