đôi nét về tịnh độ tông thời hiện đại

Tình trạng
Không mở trả lời sau này.

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,467
Điểm tương tác
416
Điểm
83
VNBN viết bài trong này không biết có phù hợp không. Nếu không phù hợp xin Điều hành viên di chuyển dùm, hoặc hướng dẫn để VNBN viết lại. VNBN Muốn lưu giữ bài ở chỗ này riêng cho cá nhân mình, để khi cần copy những ý liên quan cho trời lời nhanh.

I.THỰC TRẠNG PHÁP MÔN TỊNH ĐỘ

1. Thực trạng Phật Giáo nói chung.

Trước tiên, điểm qua sơ lược về thực trạng Phật Giáo nói chung. Kể khi Đức Phật nhập diệt được vài trăm năm, những người tu Phật Pháp bắt đầu phân chia Tông phái và lưu truyền sâu rộng hiện hữu cho đến ngày nay. Nhưng đại khái được chia làm hai nhóm: Nam Truyền và Bắc Truyền. Hệ Nam Truyền ứng với Kinh Luật được các vị A LA HÁN kết tập lại bằng ngôn ngữ miền nam Ấn Độ và hệ Bắc Truyền ứng với Kinh Luật xuất hiện muộn hơn với ngôn ngữ miền bắc Ấn Độ, trong đó Hệ kinh luật Bắc Truyền có hệ A HÀM tương ứng với hệ Kinh Luật Nam Truyền và các Kinh khác nói về việc tu hành của Bồ Tát, cứu độ của chư Phật.

Khoảng 2000 năm nay, tuy có sự đả kích qua lại giữa Nam Truyền và Bắc Truyền của một bộ phận người tu nhưng các Cao Tăng giữa hai hệ phái vẫn giữ hòa khí, đoàn kết thân ái vì ít ra có chung ngũ bộ kinh và chung một Thế Tôn là Đức Thích Ca Mâu Ni Phật.

Gần đây, với sự xuất hiện của một số học giả phương Tây nghiên cứu nguồn góc kinh luật Phật Giáo và phong trào không tin tưởng Trung Quốc, một số học giả cho rằng Kinh Luật Bắc Truyền là ngụy tạo. Dẫn đến tình hình tông phái đối chọi càng trở nên gay gắt. Hiện nay, một số vị sư rầm rộ phong trào gầy dựng lại Đạo Phật gốc là Nam Truyền, không công nhận Đạo Phật từ Trung Quốc.

Thực chất, người ta có quyền nghi ngờ những gì chưa rõ nhưng chưa có một minh chứng nào chắc chắn khẳng định rằng Kinh Luật Luận Bắc Truyền là ngụy tạo, vì các lí do sau:

- Tất cả Kinh Luật đều do kết tập lại, thời Phật tại thế chưa có chữ viết, lời Phật dạy được các Đệ Tử ghi nhớ và thuật lại. Đệ Tử của Đức Phật rất đông không phải chỉ có các vị A LA HÁN.

- Đức Phật thuyết giảng Kinh sâu rộng về không gian và thời gian: Ngài có đủ lục thông, không chỉ thuyết giảng ở pháp hội ở trái đất này mà ngay cả ở các cõi trời. Do đó, đệ tử của Ngài không chỉ có loài người.

- Ngoài phần A Hàm tương ứng ngũ bộ kinh Nam Truyền, Kinh Điển Bắc Truyền chủ yếu nói về sự tu tập để chứng Phật Quả, tức chứng Đạo Quả như Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã chứng: tu tập, giáo hóa chúng sanh cho đến khi viên mãn mọi thứ và tự mình giác ngộ, khai thị cho chúng sanh, thống lãnh một cõi Phật Độ. Tu hành để làm một vị Phật thì không hề mâu thuẫn với tu hành làm một vị A LA HÁN. Do đó, dùng hệ Nam Truyền bác bỏ hệ Bắc Truyền hoàn toàn không có cơ sở, giống như kiểu lấy râu ông này cấm vào cầm bà kia.

- Trí tuệ phàm phu có hạn, chỉ có những vị có khả năng nhập - xuất Niết Bàn thì mới đủ tư cách bác bỏ Kinh Luật Luận.

Riêng VNBN tin tưởng cả Nam và Bắc đều là Phật Pháp, chỉ khi học tập nghiêm túc, tự thân nghiên cứu, chớ đừng nghe học giả này nói học giả kia nói hay phong trào. Nếu là một Phật Tử chân chính thì cần phải tự thân nghiên cứu học hỏi cho thấu đáo mọi thứ và đừng quên rằng là một phàm phu có quyền nghi ngờ nhưng không đủ tư cách bác bỏ Kinh Luật. Xin phép trích một đoạn Kinh:

"Này các người Kalama, đừng tin vì nghe nói lại, đừng tin vì theo phong tục, đừng tin vì nghe tin đồn, đừng tin vì kinh điển truyền tụng, đừng tin vì lý luận, đừng tin vì công thức, đừng tin vì có suy tư đầy đủ về những dữ kiện, đừng tin vì có thẩm sát và chấp nhận lý thuyết, đừng tin vì thấy thích hợp, đừng tin vì Sa môn là thầy mình."
Tất cả những người bác bỏ Kinh Luật Bắc Truyền đều mắc lỗi đã nêu trong đoạn Kinh trên. Tất cả họ đều tin vào cái này (lý luận, tin đồn, suy tư đầy đủ về những dữ kiện, có thẩm sát và chấp nhận lý thuyết, Sa môn là thầy mình) để bác bỏ cái khác.

Cuối cùng kết thúc mục này, VNBN xin nhắc lại rằng: Không ai làm sụp đổ Phật Giáo mà là chính một số người được gọi là Phật Tử.

2. Thực trạng pháp môn Tịnh Độ.

Có lẽ pháp môn Tịnh Độ bị đả phá nhiều nhất. Thứ nhất, do những người dùng hệ Kinh Luật Nam Truyền để đả phá. Thứ hai, do những người dùng tư tưởng Thiền Tông để đả phá. Thứ ba, do chính sự tu tập không đến nơi đến chốn và những truyền bá sai lầm của một số người tu Tịnh Độ.

Tại Việt Nam hiện nay có phong trào khôi phục Đạo Phật gốc, họ muốn xây dựng Đạo Phật riêng của Việt Nam, loại bỏ Phật Giáo truyền qua trung gian Trung Quốc. Vì vậy, tình hình không thuận lợi cho pháp môn Tịnh Độ.

Trước thực trạng này cũng gây ảnh hưởng tiêu cực đến một số người đang tu Tịnh Độ và những người chưa tu. Tuy nhiên, với những người tu học có sự nghiên cứu thấu đáo thì chẳng có ảnh hưởng gì. Những xảo luận không thể qua mặt được họ và hơn thế nữa họ lại thấy rõ được niềm tin của chính mình là xác thực.

Bất kì pháp môn nào cũng có niềm tin. Vì có niềm tin (do nhiều nhân duyên) thì người tu mới có sự tu học và thực hành. Tịnh độ cũng vậy nhưng so với các pháp môn khác thì nhìn chung niềm tin ở pháp môn Tịnh Độ là khó hình thành nhất bởi các lí do sau:

- Thế giới Cực Lạc là một thế giới khác không chung với Thế giới ta bà chứa trái đất này. Nếu không nhờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giới thiệu thì chẳng có ai biết.

- Lịch sử Đức Phật A Di Đà và 48 đại nguyện xảy ra trong quá khứ xa xôi.Nếu không nhờ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni giới thiệu thì chẳng có ai biết.

- Sự thù thắng vi diệu của Thế Giới Cực Lạc và phương tiện tiếp dẫn qua việc niệm danh hiệu là Phật Lực Từ Bi của Đức Phật A Di Đà, nếu không có căn duyên với Đức Phật A Di Đà thì người đó khó có thể tin nổi.
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,467
Điểm tương tác
416
Điểm
83
tt

VNBN xin phép nói lại: đây là bài viết của cá nhân VNBN, không phải của ai và bài viết này VNBN lưu lại làm kỷ niệm của mình ở diễn đàn này cho bản thân VNBN, CHỨ KHÔNG CÓ Ý DẠI DỖ AI CẢ! :mozilla_frown:

II. GIÁO LÝ - TÔNG CHỈ PHÁP MÔN NIỆM PHẬT

Nghiên cứu thấu đáo pháp môn niệm Phật không phải dễ, vì để nghiên cứu về giáo lý Tịnh Độ Cực Lạc thì phải nghiên cứu tất cả các Kinh Luận chủ chốt trong kho tàng Phật học. Nghĩa là phải tìm thấy một sự thông suốt từ đầu cho đến cuối và không mâu thuẫn với tất cả các Kinh còn lại trong hệ thống kinh tạng. Bởi vậy, đó cũng là nguyên nhân nhiều người thấy có quá nhiều mâu thuẫn và nghịch lí so với tông môn khác, những người không dung thông được cộng với sự đả phá của các tác giả nghiên cứu lịch sử nên đã đâm ra bác bỏ pháp môn Tịnh Độ.

Giáo lý về Tịnh Độ gồm: Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ Phật, Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật và Kinh Niệm Phật Ba La Mật. Những người không tin nhận các Kinh này thì có nói cách mấy họ cũng không chấp nhận vì họ đã sẵn định kiến (do tin theo lý luận của các học giả lịch sử) các Kinh Điển trên là ngụy tạo. Việc có người không tin, phỉ báng thì cũng khó mà tránh khỏi, ngay cả 7 tỷ người ở trái đất này cũng không phải 100% tin rằng có Đức Phật Thích Ca Mâu Ni mà họ chỉ xem đó là một truyền thuyết hoặc chuyện thần thoại.

1. Tổng quan về các pháp môn nhà Phật

Nhà Phật có bao nhiêu pháp môn đi nữa thì tóm lại được chia làm hai nhóm: pháp môn trực tiếp và pháp môn gián tiếp (trợ đạo).

Pháp môn trực tiếp là những pháp môn có Thiền làm chủ đạo như tất cả pháp thiền Phật Giáo, Thiền với Mật Chú, Thiến với niệm Phật. Nhờ có Thiền mà liễu đứt các pháp chướng ngại, tâm niệm được thăng hoa lên tầng tâm linh cao hơn mà không phải trong chờ vào ai.

Pháp môn gián tiếp, là những pháp môn giúp người ta tái sanh vào cõi mà họ mong muốn như pháp tái sanh vào các cõi trời như cõi trời đâu suất gặp Bồ Tát Di Lặc, pháp mật chú cầu sanh sang các Tịnh Độ như Cực Lạc, Thế giới Tịnh Lưu Ly,... và tất nhiên pháp niệm trì danh hiệu Đức Phật A Di Đà cũng là pháp môn gián tiếp. Tại sao gọi là gián tiếp? Là vì những pháp này giúp hành giả tái sanh chứ chưa phải giải thoát nhưng nhờ tái sanh vào một thế giới thuận lợi họ được sự hổ trợ tối đa về mặt tu hành nên dễ dàng liễu đạo.

Chúng ta làm một thí dụ về pháp môn trực tiếp và gián tiếp. Pháp môn trực tiếp ví như việc trồng một loại cây trồng, theo nghĩa trực tiếp là cứ trồng nó vào môi trường tự nhiên với một vài trợ giúp nào đó rồi để tự nó chống chọi, xoay sở mà đâm chòi nảy lộc. Còn với pháp môn gián tiếp, cây trồng đó sẽ được đem vào ống nghiệm trồng, bồi dưỡng cho đến khi đầy đủ rễ, thân, kháng thể,... tức là đủ khả năng sống trong môi trường tự nhiên thì mới lấy ra đem trồng.
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,467
Điểm tương tác
416
Điểm
83
tt

2. Các thế giới và nguyên tắc của sự giải thoát


Trong hệ Kinh A Hàm hoặc Nam Truyền hầu như không nhắc đến thế giới khác ngoài thế giới ta bà này. Đơn giản, không có nhân duyên để Đức Phật nhắc đến, mãi đến các việc của Bồ Tát thì Đức Phật mới tuyên thuyết nhằm tạo nhiều phương tiện để chúng sanh tu tập giải thoát tùy theo căn duyên của họ.

Về thế giới ta bà này bao gồm ba cõi: Dục giới, sắc giới và vô sắc giới ( 5 cõi khổ và 28 cõi trời). Càng lên cao thì sự an vui càng tăng, ở các cõi trời trên cùng hầu như chẳng còn sự khổ. Trong hệ Nam Truyền, muốn ra khỏi ba cõi này phải chứng quả A LA HÁN và có các bước đệm là ba thánh quả: sơ quả, nhị quả, tam quả. Riêng tam quả thì hành giả được tái sanh lên cõi sắc cứu kính rồi tu tập chứng A LA HÁN quả tại đây. Theo hệ Bắc Truyền thì ngoài các vị A LA HÁN, chúng phàm phu ngoại đạo còn có các Bồ Tát sinh sống, nhưng không phải tầng trời nào cũng có Phật Pháp.

Một vị đã chứng A LA HÁN thì dù ở cõi dục giới, sắc giới hay vô sắc giới thì vị ấy vẫn là giải thoát khỏi 3 cõi, chẳng còn bó buộc trong 6 nẻo luân hồi. Điều này cũng có nghĩa là, nguyên lý giải thoát không bó buộc trong không gian. Một vị đã đạt tam quả tái sanh cõi trời sắc cứu kính không còn các sự khổ của thân tâm trói buộc nhưng vẫn tu hành chứng A LA HÁN. Tóm lại, việc tu hành Phật Pháp giải thoát không bị giới hạn trong không gian, miễn là ở đâu có Phật Pháp đang được lưu truyền thì đều có thể tu giải thoát.

Thế giới chúng ta đang sống không phải vô duyên vô cớ mà có, nó có nhân duyên hình thành, trong nhân duyên này chỉ cần chỉnh một thông số thì thành ra một thế giới khác. Có vô số nhân duyên, tùy theo sự thích hợp tạo ra vô số các thế giới nhưng được chia làm hai nhóm: nhóm chủ yếu dành cho chúng sanh luân hồi (Uế Độ) và nhóm dành các vị A LA HÁN, Bồ Tát sinh sống và có thể có phàm phu đồng cư ngụ (đang trợ đạo)-nhóm này được gọi là Tịnh Độ. Trái đất này thuộc nhóm dành cho chúng sanh luân hồi. Ngoài ra có vô số, các thế giới khác cũng dành cho chúng sanh luân hồi. Cực Lạc là một thế giới Tịnh Độ trong vô số các thế giới Tịnh Độ.

Như đã nói, sự giải thoát triệt để không phụ thuộc vào không gian và thời gian cho nên với giả định có bao nhiêu thế giới đi nữa thì bất kì một thế giới nào cũng "có thể" tu tập giải thoát. Nghĩa là về khả năng giải thoát ở mọi thế giới là như nhau, còn thực hiện được hay không là tùy vào điều kiện riêng của mỗi thế giới, hoặc căn cơ cao tự giác ngộ, hoặc có sự lưu truyền của giáo pháp Phật Pháp để nương tựa tu tập.

Vượt qua ba cõi không có nghĩa là vượt qua mọi Tịnh Độ. Vì trong mỗi Tịnh Độ lại có nhiều tầng bậc trong đó, tùy theo định lực và công đức (độ thoát chúng sanh). Một vị có định lực vượt ra ba cõi nhưng công đức chưa nhiều thì vẫn ở mức thấp hơn so với một vị có công đức vượt trội với cùng định lực. Riêng chỉ có Phật Quả mới đủ toàn vẹn công đức nên siêu vượt mọi Tịnh Độ nhưng đến đây không có nghĩa là chấm hết mọi nhân duyên. Chứng Phật Quả là chính là chấm dứt việc dùng thân đồng loại với dân chúng các thế giới Tịnh-Uế độ để giáo hóa, bước vào thời kì thị hiện tức thì độ sanh.

Tóm lại, nguyên tắc cho sự giải thoát không lệ thuộc không gian, thời gian. Hễ nơi đâu có chư Phật thị hiện thì nhất định nơi đó đang hiển bày các pháp để tu tập giải thoát. Chứng A LA HÁN QUẢ thì vượt qua Uế độ, chứng Phật Quả thì vượt cả Tịnh và Uế độ.
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,467
Điểm tương tác
416
Điểm
83
tt

3. Sự hình thành và đặc điểm của Tịnh Độ Cực Lạc

Tất cả những điều này được nói trong Kinh A Di Đà, Kinh Vô Lượng Thọ Phật, Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật, Kinh Niệm Phật Ba La Mật, đặc biệt là Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật.

a. Sự hình thành thế giới Cực Lạc

Thế giới Cực Lạc không phải tự nhiên mà có, sự hoại diệt thế giới này thì sanh ra thế giới khác. Nhưng sự hình thành các Tịnh Độ phần lớn nhân duyên là do các đại nguyện của chư Phật trước khi thành Phật.

Đức Thích Ca Mâu Ni không ước nguyện xây dựng thế giới mà là tâm nguyện xả thí đầu, mắt, tai,... để giáo hóa chúng sanh. Đức Di Lặc Bồ Tát tâm nguyện các điều thiện, ước nguyện thế giới đủ thập thiện cho nên khi Ngài Di Lặc Bồ Tát giáng sanh, chúng sanh ta bà này chỗ ngày giáng sanh đều đủ thập thiện... Rồi Đức Phật Dược Sư cũng có các đại nguyện và khi Ngài thành Phật thì giáng sanh vào thế giới đúng như Ngài đã ước nguyện.

Thế Giới Cực cũng vậy, do 48 đại nguyện của Đức A Di Đà góp mà tạo thành.

Đại nguyện của chư Phật không phải là nguyện suông, chỉ khi các nguyện đã thành thì đồng thời các Ngài mới được thành Phật-viên mãn công đức độ sanh. Trước khi các Ngài chưa thành Phật thì các nguyện về việc giáo hóa chưa thành sự thật. Khi thành Phật thì đồng nghĩa với các nguyện thành hiện thực và có hiệu lực. Đức Phật A Di Đà thành Phật đến nay khoảng 10 kiếp và còn rất lâu xa mới nhập diệt, 48 đại nguyện tất nhiên đã trở thành hiện thực. Vì đã có hiệu lực nên chúng ta sẽ tận dụng sự thành tựu của được 48 nguyện này để tu tập giải thoát.

Chẳng hạn, Đức Địa Tạng Bồ Tát phát tâm nguyện: khi nào còn địa ngục thì Ngài không chịu thành Phật. Có người sẽ thắc mắc, địa ngục biết chừng nào mới hết, thế làm sao Ngài ấy thành Phật. Có người để hợp lí cho việc trả lời nên giải thích đấy chỉ hình thức, Ngài ấy chứng Đạo nơi tâm là Thành Phật. Câu trả lời chứng tỏ người này chỉ dừng ở Lý Tánh chưa rõ về sự tình. Thật ra là như sau: Chúng sanh không có duyên thì không thể độ, cho nên địa ngục không có duyên với Ngài Địa Tạng thì không tính, chỉ tính những địa ngục mà Ngài ấy biết tới thôi. Như vậy, không phải vô hạn, những chúng sanh có duyên với Ngài rồi cũng tiến hóa lên hết, chỉ là nhanh hay chậm tùy theo sự giáo hóa của Ngài và căn duyên của chúng sanh, hơn nữa các thế giới và địa ngục không phải trường tồn cũng sẽ hoại diệt. Rồi các chúng sanh này đều ra khỏi địa ngục hết. Vậy là Ngài sẽ thành Phật.

Hoặc, Ngài Văn Thù Bồ Tát có nguyện 24 đại nguyện. Trong đó có nguyện "Tôi nguyện giáo hóa vô số chúng sanh ở các thế giới đều đặng thành Phật thuyết pháp trước tôi, và trong khi thuyết pháp, làm sao cho tôi đều xem thấy tất cả" và "Tôi nguyện hóa độ chúng sanh đều thành Phật hết rồi, tôi mới hiện lên hư không mà nhập diệt". Nghĩa là khi chưa thành Phật thì Ngài sẽ giúp cho chúng sanh có duyên với Ngài nhanh chóng thành Phật, số còn lại muốn theo Ngài thì sẽ gặp Ngài lúc Ngài Thành Phật tại thế giới mà Ngài đã ước nguyện, khi số này thành Phật hết rồi, chỉ còn lại một mình Ngài trong thế giới đó, rồi Ngài mới nhập diệt.

Các vị Bồ Tát này đã được chư Phật thọ ký chắc chắn thành Phật đúng với các đại nguyện. Đức Phật Thích Ca và Đức Phật A Di Đà lúc chưa thành Phật phát các đại nguyện với các chư Phật quá khứ đều đã thọ ký chắc chắn thành Phật. Và các Ngài đã thành Phật như chúng ta biết rồi. Trong Kinh Pháp Hoa, Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cũng đã thọ ký cho hầu hết các vị A LA HÁN cũng sẽ thành Phật với các danh hiệu và các thế giới tương ứng.
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,467
Điểm tương tác
416
Điểm
83
tt

b. Đặc điểm của thế giới Cực Lạc

Trong Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật có nói các pháp quán, cũng là sự miêu tả sơ bộ về Cực Lạc thế giới.

* Về điều kiện
-Tất cả đều làm từ bảy báo, không có khiếm khuyết, không có các sự xấu uế, không có các sự khổ. Đâu đâu cũng là hiển hiện của Phật, Pháp, Tăng. Đâu cũng âm thanh của Đạo Pháp, muốn nghe thuyết giảng đều gì cũng được như ý.

-Các loại thứ ăn đều hóa hiện ra theo ý niệm của dân chúng, đều là tịnh vật.
-Thời gian nơi đó lấy các hoa sen đủ thứ sắc màu làm dấu hiệu.
-Thế giới Cực Lạc có nhiều tầng bậc, trong đó có tầng Thánh Phàm cùng cư ngụ để câu hội Phật Pháp, có tầng chỉ dành cho các Đại Bồ Tát mới thấy.

* Về dân chúng
- Không có ba đường ác, chỉ có dạng trời, người.
- Tất cả đều có 32 tướng tốt 80 vẻ đẹp.
- Tất cả đều có ngũ thông, xem thấy các thế giới như trên lòng bàn tay, các kiếp trước,...
- Không có tâm niệm xấu ác và các sự khổ. Tâm lúc nào cũng an vui như một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc.
- Ngoài chúng sanh mới sanh gồm 9 hạng (Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật), thì có rất đông các Bồ Tát, các vị A LA HÁN.
- Chư Phật hiện tiền tại đó giáo hóa dân chúng là Đức Phật A Di Đà, có hai vị theo hầu là Bồ Tát Đại Thế Chí và Bồ Tát Quan Thế Âm.
- Tho mạng dài lâu như thọ mạng của hiện thân Đức Phật A Di Đà, đối với các Bồ Tát muốn đi nơi thế giới khác giáo hóa chúng sanh thì được như tâm nguyện.

* Về Phật sự
- Bắt đầu ngày mới, dân chúng cùng dường chư Phật mười phương.
- Câu hội, nghe pháp, tu tập miên mật dưới sự thẩm định của các vị Bồ Tát và Đức Phật A Di Đà cho đến khi nào đạt đạo quả thì tùy tâm nguyện.

Đó là sơ lược, chi tiết rất dài, muốn rõ thêm xin xem thêm các Kinh đã nêu, đặc biệt là Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật và 48 đại nguyện.
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,467
Điểm tương tác
416
Điểm
83
4. Nhân duyên vãng sanh (tái sanh sang thế giới Cực Lạc)

Xin phép trích Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật về 9 hạng vãng sanh.
http://tangthuphathoc.net/kinhtang/365nt.html
14. Quán Tưởng Ba Phẩm ở Thượng Sanh
--------------------------------------------------------------------------------

Phật bảo ngài A-Nan và hoàng hậu Vi-đề-hy:

"Phàm hễ ai sinh về tây phương thì sẽ ở một trong chín phẩm. Ở thượng phẩm thượng sanh, nếu có chúng sanh nào nguyện sinh về cõi nước kia và phát ba thứ tâm thời sẽ vãng sanh ở phẩm trên. Những gì là ba?

1. tâm chí thành
2. tâm tin sâu
3. tâm hồi hướng phát nguyện

Những ai hội đủ ba tâm ấy thời nhất định sẽ sanh ở cõi nước kia. Lại có ba hạng chúng sanh sẽ đắc vãng sanh. Những gì là ba?

1. Lòng từ không giết hại, các giới hạnh trọn đủ.
2. Đọc tụng Đại Thừa Phương Đẳng Kinh điển.
3. Tu hành lục niệm (1), hồi hướng phát nguyện và nguyện sinh về cõi nước kia.

Nếu đầy đủ các công đức đó thì từ một ngày cho đến bảy ngày sẽ liền được vãng sanh. Bởi người ấy dũng mãnh và tinh tấn tu hành nên lúc sắp vãng sanh ở cõi nước kia, Đức A-di-đà Như Lai, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí, vô số hóa Phật, trăm ngàn Tỳ-kheo, Thanh Văn đại chúng, vô lượng chư thiên, và cung điện bảy báu hiện ra. Quán Thế Âm Bồ-Tát cầm đài kim cang và Đại Thế Chí Bồ-Tát sẽ đến trước hành giả. Đức Phật A-di-đà phóng đại quang minh chiếu sáng thân hành giả cùng chư Bồ-Tát dang tay tiếp đón. Đức Quán Thế Âm cùng Đại Thế Chí và vô số Bồ-Tát ngợi khen, khuyến tấn hành giả.

Khi hành giả thấy rồi, vui mừng hớn hở và tự thấy thân mình ở trên đài kim cang, rồi theo sau Phật. Như chừng khảy móng tay liền vãng sanh ở nước kia. Lúc đã sinh về cõi nước kia thì liền thấy sắc thân và trọn đủ các tướng của Phật, thấy vẹn đủ các sắc tướng của chư Bồ-Tát, ánh quang minh và cây báu diễn nói diệu Pháp. Nghe xong, liền ngộ Vô Sanh Pháp Nhẫn. Trải qua chừng vụt thoáng thời có thể phụng sự chư Phật khắp mười phương thế giới và lần lượt được thọ ký ở trước chư Phật. Lúc trở về bổn quốc thì chứng đắc vô lượng trăm ngàn Pháp môn đà-la-ni. Đây gọi là Thượng Phẩm Thượng Sanh.

Người sinh ở thượng phẩm trung sanh thì không nhất thiết phải thọ trì đọc tụng Phương Đẳng Kinh điển. Nhưng phải khéo lý giải nghĩa thú và tâm đối với đệ nhất nghĩa chẳng kinh chẳng động, tin sâu nhân quả và không hủy báng Đại Thừa. Rồi đem công đức ấy hồi hướng và nguyện cầu sinh về nước Cực Lạc. Khi người thực hành hạnh như vậy sắp mạng chung, Đức Phật A Di đà, Quán Thế Âm, Đại Thế Chí và vô lượng đại chúng quyến thuộc vây quanh, tay nâng kim đài vàng tím đến trước hành giả và khen rằng:

'Này Pháp tử! Ông tu hành Pháp Đại Thừa và liễu giải Đệ Nhất Nghĩa. Vì thế Ta nay đến tiếp dẫn ông.'

Bấy giờ có 1.000 hóa Phật đồng thời cầm tay tiếp dẫn. Hành giả sẽ tự thấy mình ngồi trên kim đài vàng tím và chắp tay tán thán chư Phật. Như chừng một niệm khoảnh, liền sanh trong ao thất bảo ở cõi nước kia. Kim đài vàng tím này như hoa báu lớn và trải qua một đêm thì sẽ nở.

Bấy giờ thân hành giả có màu vàng tím. Ở dưới chân cũng có hoa sen bảy báu. Phật cùng Bồ-Tát đồng thời phóng quang chiếu nơi thân hành giả, mắt liền mở sáng. Do nhân tu tập ở đời trước nên nghe khắp âm thanh đều nói toàn Đệ Nhất Nghĩa Đế sâu xa. Sau đó, liền bước xuống kim đài, chắp tay đảnh lễ Phật và tán thán Thế Tôn. Trải qua bảy ngày thì lập tức đắc quả vị bất thối chuyển nơi Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Ngay tức khắc có thể phi hành phụng sự chư Phật khắp mười phương và ở Đạo Tràng của chư Phật tu hành tam-muội. Trải qua một tiểu kiếp thời sẽ đắc Vô Sanh Pháp Nhẫn và hiện tiền được thọ ký. Đây gọi là Thượng Phẩm Trung Sanh.

Người sinh ở thượng phẩm hạ sanh cũng tin nhân quả và không hủy báng Đại Thừa. Duy nhờ phát Vô Thượng Đạo tâm, rồi đem công đức ấy hồi hướng và nguyện cầu sinh về nước Cực Lạc. Lúc hành giả sắp mạng chung, Đức Phật A-di-đà cùng Quán Thế Âm, Đại Thế Chí cùng chư Bồ-Tát, tay cầm hoa sen vàng và hiện ra 500 hóa Phật nghênh đón người ấy. 500 hóa Phật đồng một lúc nhấc cánh tay ra và khen rằng:

'Này Pháp tử! Nay lòng ông thanh tịnh và phát Vô Thượng Đạo tâm. Ta nay đến tiếp dẫn ông.'

Khi thấy việc ấy rồi, tức sẽ tự thấy thân mình ngồi trên hoa sen vàng. Tọa xong, hoa khép lại, theo sau Thế Tôn và lập tức đắc vãng sanh trong ao thất bảo. Trải qua một ngày một đêm thì hoa sen mới nở và trong vòng bảy ngày sẽ thấy được Phật. Tuy thấy thân của Phật song tâm chẳng thấy rõ các tướng tốt. Phải đợi đến 21 ngày sau thời mới thấy rõ ràng và nghe được các âm thanh đều diễn nói diệu Pháp. Sau đó, họ du hành cúng dường mười phương chư Phật và nghe các Pháp thậm thâm ở trước chư Phật. Trải qua ba tiểu kiếp thì sẽ đắc Bách Pháp Minh Môn và trụ ở Hoan Hỷ Địa. Đây gọi là Thượng Phẩm Hạ Sanh.

Trên đây gọi là Thượng Bối Sanh Tưởng, là Pháp quán thứ mười bốn. Quán như thế là chánh quán; nếu quán khác đi là tà quán."

--------------------------------------------------------------------------------
15. Quán Tưởng Ba Phẩm ở Trung Sanh
--------------------------------------------------------------------------------

Phật bảo ngài A-Nan và hoàng hậu Vi-đề-hy:

"Ở trung phẩm thượng sanh, nếu có chúng sanh nào thọ trì Ngũ Giới, thọ Bát Quan Trai, tu trì giữ các giới luật, không tạo năm tội ngỗ nghịch và không làm điều xấu ác. Sau đó, đem thiện căn ấy hồi hướng và nguyện cầu sinh về Thế Giới Cực Lạc ở phương tây. Lúc gần mạng chung, Đức Phật A-di-đà cùng chư Tỳ-kheo quyến thuộc vây quanh, phóng ánh sáng sắc vàng đến thân người đó và diễn nói: khổ, không, vô thường, vô ngã, ngợi khen xuất gia, xa lìa các khổ. Hành giả thấy xong, tâm sanh đại hoan hỷ. Rồi tự thấy thân mình ngồi trên đài liên hoa, hai gối quỳ, chắp tay đảnh lễ Phật và còn chưa kịp ngẩng đầu lên thì đã vãng sanh tới Thế Giới Cực Lạc. Hoa sen liền nở ra. Đương lúc hoa nở thì hành giả nghe các âm thanh ngợi khen Pháp Tứ Đế và lập tức đắc Đạo A-la-hán, đầy đủ Tam Minh, Lục Thông, và Bát Giải Thoát. Đây gọi là Trung Phẩm Thượng Sanh.

Ở trung phẩm trung sanh, nếu có chúng sanh nào thọ trì Bát Quan Trai chừng một ngày một đêm, thọ trì giới Sa-di chừng một ngày một đêm hoặc giới Cụ Túc chừng một ngày một đêm và uy nghi chẳng khiếm khuyết. Rồi đem công đức của giới hương huân tu đó hồi hướng và nguyện cầu sinh về nước Cực Lạc. Lúc hành giả như thế sắp mạng chung, họ sẽ thấy Đức Phật A-di-đà cùng các quyến thuộc phóng hào quang sắc vàng, tay cầm thất bảo liên hoa đến trước hành giả. Khi ấy, hành giả sẽ tự nghe trên không trung có tiếng khen rằng:

'Này thiện nam tử! Người hiền lương như ông, do tùy thuận lời dạy của tam thế chư Phật nên Ta đến tiếp dẫn ông.'

Lúc đó, hành giả tự thấy mình ngồi trên hoa sen, hoa sen khép lại và liền vãng sanh trong ao báu của Thế Giới Cực Lạc ở phương tây. Qua bảy ngày sau hoa sen mới nở. Khi hoa nở, hành giả mở đôi mắt, chắp tay và tán thán Thế Tôn. Sau khi nghe Pháp, tâm sanh hoan hỷ và đắc quả Tu-đà-hoàn. Trải qua nửa kiếp sẽ thành A-la-hán. Đây gọi là Trung Phẩm Trung Sanh.

Ở trung phẩm hạ sanh, nếu có thiện nam tử thiện nữ nhân nào hiếu dưỡng cha mẹ, xử thế nhân từ. Lúc người này sắp mạng chung mà gặp được bậc Thiện Tri Thức và vì họ rộng nói các sự an vui nơi cõi nước của Đức Phật A-di-đà cùng 48 lời nguyện của Tỳ-kheo Pháp Tạng. Khi nghe việc ấy rồi, liền bỗng mạng chung. Trong khoảnh khoắc ví như vị tráng sĩ co duỗi cánh tay, tức khắc vãng sanh đến Thế Giới Cực Lạc ở phương tây. Qua bảy ngày sau thì sẽ gặp Đức Quán Thế Âm và Đại Thế Chí. Sau khi nghe Pháp, tâm sanh hoan hỷ và đắc quả Tu-đà-hoàn. Trải qua một tiểu kiếp sẽ thành A-la-hán. Đây gọi là Trung Phẩm Hạ Sanh.

Trên đây gọi là Trung Bối Sanh Tưởng, là Pháp quán thứ mười lăm. Quán như thế là chánh quán; nếu quán khác đi là tà quán."

--------------------------------------------------------------------------------
16. Quán Tưởng Ba Phẩm ở Hạ Sanh
--------------------------------------------------------------------------------

Phật bảo ngài A-Nan và hoàng hậu Vi-đề-hy:

"Ở hạ phẩm thượng sanh, nếu có chúng sanh nào tạo các nghiệp ác, tuy không phỉ báng Phương Đẳng Kinh điển nhưng người ngu này tạo nhiều việc xấu, lòng chẳng biết hổ thẹn. Khi sắp mạng chung mà gặp được bậc Thiện Tri Thức và vì họ nói tên Kinh Đại Thừa trong 12 Bộ Kinh. Bởi nghe được các tên Kinh nên diệt trừ 1.000 kiếp cực trọng ác nghiệp. Bậc trí giả lại dạy chắp tay xưng niệm Nam-mô A-di-đà Phật. Do xưng niệm hồng danh của Phật nên diệt trừ 50 ức kiếp nghiệp tội sanh tử. Lúc bấy giờ, Đức Phật kia liền sai hóa Phật, hóa Quán Thế Âm, hóa Đại Thế Chí đến trước hành giả và khen rằng:

'Này thiện nam tử! Ông do xưng niệm danh hiệu của Phật nên các tội tiêu trừ. Ta đến tiếp dẫn ông.'

Nói lời ấy xong, hành giả liền thấy hào quang của hóa Phật tràn khắp tịnh thất của mình. Khi thấy rồi, lòng vui mừng và liền đó mạng chung, ngồi trên bảo liên hoa, theo sau hóa Phật và sanh trong ao báu. Trải qua 49 chín ngày, hoa sen mới nở. Đương lúc hoa nở, Đại Bi Quán Thế Âm Bồ-Tát và Đại Thế Chí Bồ-Tát phóng đại quang minh và ở trước người đó thuyết giảng 12 Bộ Kinh thậm thâm. Khi nghe xong thì liền tín giải và phát Vô Thượng Đạo tâm. Trải qua mười tiểu kiếp sẽ đầy đủ Bách Pháp Minh Môn và được vào Sơ Địa. Đây gọi là Hạ Phẩm Thượng Sanh."

Phật bảo ngài A-Nan và hoàng hậu Vi-đề-hy:

"Ở hạ phẩm trung sanh, nếu có chúng sanh nào hủy phạm Năm Giới, Tám Giới, hoặc giới Cụ Túc. Những người ngu này lấy trộm đồ vật của chư Tăng, ăn cắp đồ vật của hiện tiền Tăng, bất tịnh thuyết Pháp, lòng không biết tàm quý và dùng các nghiệp ác để trang nghiêm bản thân. Do gây tạo nghiệp ác nên những người tội như thế đáng lẽ phải bị đọa vào địa ngục và khi sắp mạng chung thì các ngọn lửa của địa ngục cũng đồng thời kéo đến. Nhưng nhờ gặp bậc Thiện Tri Thức với lòng đại từ bi, ngài khen nói Thập Lực uy đức của Phật A-di-đà, rộng tán dương hào quang và sức uy thần của Đức Phật kia, cũng như ngợi khen giới, định, tuệ, giải thoát, giải thoát tri kiến. Khi người ấy nghe qua thì nghiệp tội sanh tử trong 80 ức kiếp của họ sẽ được diệt trừ. Lửa hừng hực của địa ngục sẽ hóa thành làn gió mát và thổi ra các thiên hoa. Trên hoa đều có hóa Phật và hóa Bồ-Tát đến tiếp dẫn người đó.

Như chừng một niệm khoảnh thì họ liền đắc vãng sanh ở trong hoa sen của ao thất bảo. Trải qua sáu kiếp thì hoa sen mới nở. Đức Quán Thế Âm và Đại Thế Chí sẽ dùng tiếng Phạm âm để an ủi người kia và thuyết các Kinh điển Đại Thừa thâm diệu. Sau khi nghe Pháp xong, họ liền phát Vô Thượng Đạo tâm. Đây gọi là Hạ Phẩm Trung Sanh."

Phật bảo ngài A-Nan và hoàng hậu Vi-đề-hy:

"Ở hạ phẩm hạ sanh, nếu có chúng sanh nào làm các nghiệp chẳng lành, nào là tạo năm tội ngỗ nghịch, làm mười điều ác, và làm toàn việc bất thiện. Do gây tạo nghiệp xấu nên những người ngu như thế, lẽ ra phải bị đọa vào ác đạo và trải qua nhiều số kiếp để chịu khổ vô cùng tận. Song những người ngu này lúc sắp mạng chung, nhờ gặp bậc Thiện Tri Thức ân cần an ủi, thuyết diệu Pháp và chỉ dạy niệm Phật. Tuy nhiên, do người kia bị khổ bức nên chẳng kịp niệm Phật. Khi ấy, bậc thiện hữu lại bảo:

'Nếu ông không thể thường niệm Đức Phật kia thời nên xưng danh hiệu của Đức Phật Vô Lượng Thọ. Hãy chí tâm xưng Nam-mô A-di-đà Phật và làm cho mỗi tiếng niệm không bị đứt đoạn và đầy đủ mười niệm như thế.'

Do xưng hồng danh của Phật nên trong mỗi niệm diệt trừ 80 ức kiếp nghiệp tội sanh tử. Lúc mạng chung, người đó thấy hoa sen vàng giống như mặt trời hiện ra trước mặt. Như chừng một niệm khoảnh, họ liền đắc vãng sanh về Thế Giới Cực Lạc. Họ ở trong hoa sen và khi mãn 12 đại kiếp thì hoa sen mới nở. Lúc ấy, Đức Quán Thế Âm và Đại Thế Chí sẽ dùng âm thanh đại bi và vì người đó rộng nói thật tướng các pháp và Pháp diệt trừ tội chướng. Sau khi nghe Pháp, họ sanh tâm hoan hỷ và liền phát Bồ-đề tâm. Đây gọi là Hạ Phẩm Hạ Sanh.

Trên đây gọi là Hạ Bối Sanh Tưởng, là Pháp quán thứ mười sáu."
(1) Lục niệm bao gồm: Niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm Giới, niệm Bố Thí, và niệm Thiên--tức nghĩ tưởng phước báo của cõi trời chẳng thường còn và rồi sẽ hết.
 
Last edited:

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,467
Điểm tương tác
416
Điểm
83
4. Nhân duyên vãng sanh (tiếp theo)

Qua 9 phẩm vãng sanh, nhân duyên vãng sanh gồm có ba thứ: TÍN, NGUYỆN, HẠNH.

- Tín là sự tin nhận sự hiện hữu của thế giới Cực Lạc với các đặc điểm đã nêu, tin nhận vào Phật Pháp giúp giải thoát luân hồi sanh tử.

- Nguyện là phát khởi và giữ gìn tâm nguyện vãng sanh.

- Hạnh gồm hạnh trực tiếp và gián tiếp. Hạnh trực tiếp là niệm trì danh hiệu Đức Phật A Di Đà (có 4 hình thức niệm). Hạnh gián tiếp thì nhiều: làm lành lánh dữ giữ giới, tu tập, làm việc công đức,... rồi nhất tâm hồi hướng vãng sanh.

TÍN và NGUYỆN làm nhân, HẠNH làm duyên. Có nhân, có duyên ắt được vãng sanh, thiếu một trong hai thì chẳng thể nào được.

*Bây giờ nói riêng với người có hạnh niệm Phật: niệm Phật có thể biết chắc mình vãng sanh hoặc lâm chung vãng sanh.

- Người lâm chung vãng sanh thì ít nhất phải duy trì liên tục được 10 niệm.
- Người biết chắc mình vãng sanh thì cần tu tập như trong Kinh Niệm Phật Ba La Mật, lại xin phép trích một đoạn Kinh điển để làm duyên, chi tiết thì quý vị nào cần thì tự nghiên cứu.
http://niemphat.net/Kinh/KinhNiemPhat/muoitamthuthang.htm
Đức Phật dạy rằng:
- Nầy Diệu Nguyệt cư sĩ, thế nào là niệm Phật chân chánh? Muốn niệm Phật đúng pháp và tự biết mình chắc chắn vãng sanh thì người niệm Phật phải phát khởi Mười Thứ Tâm Thù Thắng sau đây:
1. Tín Tâm
2. Thâm Trọng Tâm
3. Hồi Hướng Phát Nguyện Tâm
4. Xả Ly Tâm
5. An Ổn Tâm
6. Đà Ra Ni Tâm
7. Hộ Giới Tâm
8. Ba La Mật Tâm
9. Bình Đẳng Tâm
10. Phổ Hiền Tâm
Mười thứ tâm đó là gì, làm sao để có thì các đạo chi tiết trong Kinh và cũng theo Kinh này lại có cách khác gián tiếp đạt mười thứ tâm:
http://niemphat.net/Kinh/KinhNiemPhat/niemphatcongduc.htm
Nầy Phật tử, nay tôi nương thần lực và lòng đại bi vô hạn lượng của đức Phật Thích Ca Mâu Ni, mà tuyên thuyết công đức bất khả xưng tán của sự chấp trì danh hiệu Phật.
Mười thứ tâm thù thắng ấy, thật ra vừa là nhân vừa là quả. Nhân cùng quả thì không bao giờ rời nhau. Người tu môn niệm Phật thì phải đề khởi mười thứ tâm thù thắng, mới nhanh chóng thâm nhập Niệm Phật tam muội, hiện bày cảnh giới Cực Lạc. Hoặc ngược lại, người đặt trọn tín tâm nơi bản nguyện và cả đời chuyên nhất xưng niệm danh hiệu Phật thì dần dần đi vào Niệm Phật tam muội, tự nhiên thành tựu mười thứ tâm thù thắng nói trên.
Niệm trì danh hiệu Đức Phật A Di Đà công đức không thể hết như trong Kinh Niệm Phật Ba La Mật đã nói rõ. Quí vị muốn tìm hiểu thì hãy đọc và nghiên cứu kỹ.
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,467
Điểm tương tác
416
Điểm
83
tt

5. Đặc điểm ưu việt của Thế Giới Cực Lạc.

Đó cũng là lí do tại sao nên tái sanh vào Cực Lạc mà không nên tái sanh vào ta bà!

Dân chúng tại Cực Lạc đều tu học đến khi tự tại sanh tử (ít nhất thoát luân hồi) mới có thể đi đến thế giới khác.

Chúng sanh tái sanh vào Cực Lạc sẽ là 1 trong 9 phẩm. Tất cả các hạng trong 9 phẩm đều chứng đạo quả giải thoát tương ứng theo con đường đã chọn: hoặc là A LA HÁN, hoặc là Bồ Tát Vô Sanh Pháp Nhẫn.

Về việc chứng A LA HÁN, 9 phẩm vãng sanh đã nói, trong đó cũng có nói về người tu Bồ Tát Đạo vãng sanh nhưng chưa rõ, xem lại bản Kinh Quán Vô Lượng Thọ Phật ở đây:
http://tangthuphathoc.net/kinhtang/365nt.html

Để rõ hơn về việc tu Bồ Tát thì có các trích dẫn sau: (Nếu có thể hãy đọc từ đầu đến cuối của Kinh này để hiểu rõ hơn)
http://niemphat.net/Kinh/KinhNiemPhat/muoitamthuthang.htm
Thí dụ như làm gạch để xây nhà vậy. Tuy đã nhào trộn đất sét, bỏ vô khuôn và đã đúc ra hình dạng của viên gạch; nhưng muốn viên gạch được bền lâu, chắc chắn, không hư rã, chịu được nắng chói mưa sa thì cần phải đưa vào lò lửa nung đốt một hạn kỳ. Người niệm Phật cũng lại như thế. Tuy công phu niệm Phật trong hiện kiếp đã đặt nền tảng vững vàng cho sự nghiệp giải thoát, nhưng sau đó phải vãng sanh tịnh độ, lãnh thọ sự giáo hóa của Phật và thánh chúng cho tới khi thành tựu Vô Sanh Pháp Nhẫn. Sau đó, mới đủ năng lực hiện thân khắp mười phương hành Bồ Tát đạo, ra vào sanh tử mà không trói buộc, trở lại chốn ác trược mà chẳng nhiễm ô, cứu độ chúng sanh không có hạn lượng.
Và cũng trong phần đường link này:
Diệu Nguyệt cư sĩ, nên biết rằng được vãng sanh Cực Lạc thì không bao giờ trở lại địa vị phàm phu với thân xác ngũ uẩn nữa. Do đó, mới gọi là bất thối chuyển. Từ đó về sau, dần dần thành tựu mười thứ trí lực, mười tám pháp bất cộng, năm nhãn, sáu thông, vô lượng đà ra ni, vô số tam muội, thần thông du hí, biện tài vô ngại... đầy đủ bao nhiêu công đức vô lậu của Đại Bồ Tát, cho đến khi đắc quả Phật. Bởi vậy mà Ta, Thích Ca Mâu Ni Thế Tôn hôm nay trân trọng xác quyết rằng: Vãng sanh đồng ý nghĩa với thành Phật vì vãng sanh tức là thành Phật.
Đại nguyện của Đức A Di Đà Phật có liên quan đến Bồ Tát tiến lên Nhất Sanh Bổ Xứ (Bồ Tát chờ giáng sanh thành Phật, lần tái sanh cuối cùng):

Ðiều nguyện thứ hai mươi hai: Nếu con được thành Phật, hết thảy chúng Bồ Tát ở cõi Phật phương khác sinh về cõi nước con, sau đó sẽ tới bậc Nhất Sinh Bổ Xứ, trừ bản nguyện riêng của mỗi vị tự tại hóa hiện, vì thương xót chúng sinh mà rộng lớn, bền chắc như áo giáp, tu các công đức, độ thoát hết thảy, rồi qua khắp các cõi Phật, tu hạnh Bồ Tát và cúng dường mười phương chư Phật, khai hóa vô số chúng sinh khiến lập nên đạo Vô Thượng Chính Giác. Chư vị vượt ngoài công hạnh, thông thường ở các địa vị mà tu tập theo hạnh nguyện của đức Phổ Hiền. Nếu không được như thế thì con chẳng trụ ở ngôi Chính Giác.
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,467
Điểm tương tác
416
Điểm
83
tt

III. MỘT SỐ THẮC MẮC THƯỜNG GẶP

Người chưa hiểu rồi thắc mắc là một điều tất nhiên. Có lẽ rất nhiều thắc mắc, nhưng xin góp ý cá nhân VNBN vào một số thắc mắc (bổ sung thêm về sau)

1. Việc vãng sanh có trái với nhân quả nghiệp báo hay không?

Nhiều vị cho rằng một người tạo tội lỗi, được vãng sanh thì trái với nhân - quả. Họ cho rằng, người đó phải tái sanh ta bà để thọ quả báo chứ không thể được sanh vào cõi toàn an vui. Nghe thì có vẻ có lý nhưng xét kỹ là họ chưa hiểu rõ về nhân - quả.

Xưa kia có một người nghe lời ông thầy ngoại đạo nên đã giết 999 người, định giết Phật cho đủ 1000. Nhưng người đó được Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cảm hóa, thuyết pháp và cuối cùng chứng A LA HÁN. Tội giết 999 người này quả báo phải tính thế nào? Có một việc dễ giải thích hơn: một gã nhà giàu gây nhiều tội lỗi nhưng vẫn sống đến già, chẳng thấy quả báo gì ráo. Được giải thích là kiếp sau nào đó ông ta phải trả giá. Thế nhưng việc của vị A LA HÁN trên giải thích sao đây? Nếu nói kiếp sau nhận quả báo thì sẽ có nhiều vị không đồng ý vì giải thoát luân hồi mà đâu tái sanh nữa đâu? Nhưng theo Bắc Truyền điều này lại đơn giản được giải thích là: A LA HÁN cũng thuộc vào là Bồ Tát trong 52 bậc Bồ Tát và những tội lỗi của quá khứ sẽ là cái duyên để vị Bồ Tát này hành Đạo, giáo hóa chúng sanh trong tương lai mặc dù kiếp hiện tại vị ấy có thể sẽ nhập Niết Bàn mà chưa độ sanh liên tục.

Có một việc đáng lưu ý là tại sao nghiệp báo nặng nề đó không gây sức cản hoặc lôi kéo vị ấy vào luân hồi? Đó là tâm vị ấy rỗng rang bất động đối với các pháp ngũ dục, tham cầu cho nên nghiệp báo ngũ uẩn không thể lôi kéo vị ấy vào luân hồi.

Người vãng sanh Cực Lạc tự mình chưa đủ sức nhưng nhờ sức tiếp dẫn của Đức Phật A Di Đà nên các tội lỗi đã tạo tạm thời không tác thành được quả báo. Sau khi vãng sanh, người này sẽ chứng pháp giải thoát và vị ngày theo các nghiệp xưa mà tác tạo duyên giáo hóa chúng sanh.

Nói thêm một chút về nhân -quả!
Nhưng nếu những chúng sanh mà vị này có lỗi đã được vị Phật nào đó giáo hóa, hoặc tự tu hành chứng đạt pháp giải thoát thì có cần vị ấy giáo hóa nữa không? Dĩ nhiên là không cần nữa. Điều đó cũng giải thích rằng một số vị có thể cứu cánh lên Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát tại Cực Lạc mà không cần phải đi vào thế giới khác, là vì những chúng sanh có duyên với họ lại đồng thời có duyên với một vị Bồ Tát khác hay vị Phật nào đó và được giáo bởi các vị này. Ngoài ra, một số vị lại xong mọi nghiệp báo trả nợ đời trước khi vượt luân hồi nên họ đi lên thẳng tiến đến Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát (Nhất Sanh Bổ Xứ Bồ Tát là Bồ Tát đang chờ để giáng sanh thành Phật).

Tuy nhiên, nhân -quả, không phải người ta đòi thì mình mới trả. Chẳng hạn, giết một vị A LA HÁN sẽ đọa địa ngục rất nặng mặc dù vị A LA HÁN đó chẳng đòi mạng họ. Đó là cái tâm của họ sân hận quá độ vô tình mà không biết hối hận nên tương ứng với cảnh giới địa ngục chịu lại hành động sân hận hung dữ của nước lửa vô tình. Lưu ý là người đòi cũng chẳng đúng vì thật sự chẳng có ai là oan cả!

2. Niệm danh hiệu Phật khác có vãng sanh không?

Đức Phật A Di Đà có nguyện tiếp dẫn qua niệm trì danh hiệu của Ngài nên tất nhiên Ngài sẽ tiếp dẫn ai làm đúng như thế.

Đức Phật A Di Đà không có đại nguyện nào hứa về việc niệm danh hiệu Phật khác. Vả lại, Niệm Phật khác là đang tâm tưởng đến vị Phật đó thế thì làm sao mà cảm đến Đức A Di Đà được để tiếp dẫn. Vì vậy, chẳng thể được.
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,467
Điểm tương tác
416
Điểm
83
IV. MỤC ĐÍCH VIẾT BÀI NÀY

Đây là bài viết của VNBN với mục đích lưu lại làm kỷ niệm, cũng như là tư liệu để VNBN copy để thảo luận. Cũng là để những người muốn học Tịnh Độ xem qua cho biết phần nào rồi nghiên cứu lại thật kỹ và những vị đang tu tập hãy chỉ dẫn thêm cho VNBN. Tuyệt đối không có ý dạy dỗ ai cả vì VNBN này vẫn là một phàm phu, bài viết còn rất nhiều thiếu sót, chỉ là viết sơ bộ và có thể có những chỗ hiểu chưa đúng. Tóm lại, đây là tư liệu cá nhân của VNBN và VNBN tiếp tục chỉnh sữa các phần đã viết để thêm hoàn thiện. Nếu các bài viết này không phù hợp với diễn đàn thì tùy BQT xử lí. Có gì không như ý, xin các vị cũng rộng tình thương mà bỏ qua.

Tốt hơn hết, vẫn là xem lại Kinh Điển liên quan, học hỏi cẩm nang của những vị đã đi trước-những vị đã vãng sanh.

Chúc tất cả chư vị tu Tịnh Độ đều được vãng sanh Cực Lạc. VNBN xin phép tạm gác bút xem như chấm hết.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,478
Điểm tương tác
1,741
Điểm
113
Mời làm Moderators

Kính Đạo hữu VO-NHAT-BAT-NHI.

Bài viết về Tịnh Độ Tông của ĐH rất hay.

Ở diễn đàn này, hành giả tu Tịnh Độ không phải là ít. Nhưng tìm người có cá tính thì rất hiếm hoi.

Kính mong ĐH hoan hỷ giúp một tay để quản lý chuyên mục Tịnh Độ Tông. Công đức ấy chư Phật sẽ chứng minh và gia hộ.

Ngày mai VQ sẽ trình với Thầy Admin thiết lập chức năng quản lý cho ĐH.

Rất mong sự tùy hỷ công đức.

Kính
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,467
Điểm tương tác
416
Điểm
83
tt

Nhận được khích lệ của Thầy, VNBN rất hoan hỷ. Hoan hỷ không phải bài viết là hay (Người vãng sanh rồi mới là hay) mà là diễn đàn này vẫn xem trọng và bảo tồn Tịnh Độ Tông.

VNBN tâm sự chút xíu: Trong các pháp môn nhà Phật, pháp Tịnh Độ bị đả phá nhiều nhất nhưng mà nó lại là phương tiện chính để cứu độ những người yếu ớt như VNBN đây, cũng như hàng cư sĩ khó tu tập Thiền, chưa chắc giải thoát trong đời này. Chính vì lẽ đó, VNBN từ khi học qua sơ lược các pháp môn, quyết định chọn lấy Tịnh Độ để góp phần việc duy trì và phát triển giáo lý hữu ích này, nhất là trong thời pháp tâm chúng sanh ngày càng yếu ớt và điên đảo!

VNBN rất hoan hỷ để nhận nhiệm vụ mà Thầy đề xuất. Trong quá trình thực thi nhiệm vụ có gì chưa hợp lí, xin nhận xử lí thẳng tay từ BQT, đặc biệt là các vị Admin.

Kính cám ơn Thầy!
 

trừng hải

Moderator
Staff member
Tham gia
30 Thg 7 2013
Bài viết
993
Điểm tương tác
494
Điểm
63
VNBN tâm sự chút xíu: Trong các pháp môn nhà Phật, pháp Tịnh Độ bị đả phá nhiều nhất nhưng mà nó lại là phương tiện chính để cứu độ những người yếu ớt như VNBN đây, cũng như hàng cư sĩ khó tu tập Thiền, chưa chắc giải thoát trong đời này. Chính vì lẽ đó, VNBN từ khi học qua sơ lược các pháp môn, quyết định chọn lấy Tịnh Độ để góp phần việc duy trì và phát triển giáo lý hữu ích này, nhất là trong thời pháp tâm chúng sanh ngày càng yếu ớt và điên đảo!




!
Kính chào đạo hữu Vô Nhất Bất Nhị

_ Cứu cánh Tịnh Độ Tông là về cõi Tịnh độ nên pháp tu tịnh độ chỉ là phương tiện (tục đế) sao lại là Vô Hữu Bất Không hay Vô Nhất Bất Nhị??? hay có phải chăng muốn chỉ chỗ vô ngôn bất khả tư nghì "gò nỗng cũng đồng là Phật quốc" nhưng sao lại đi "xiển dương" Tịnh Độ Tôn.

_ Chúng sanh yếu ớt và điên đảo là "cái thấy" phóng chiếu từ tâm đạo hữu, bởi Đại thừa (Tịnh độ tôn cũng là ĐẠI) luôn tuyên dương Phật Tánh thường bình đẳng hay chúng sanh đều là Phật sẽ thành hay Thuyết Tam Sanh Thành Phật đều là chỗ khơi nguồn chí ĐẠI THỪA hàm tàng nơi chúng sanh???

_ Phật Pháp vốn Vô Biên Bất Sanh Bất Diệt nên làm gì có chữ MẠT??? (Phương Tiện) Pháp vốn bình đẳng nên làm gì có ĐỐN_TIỆM hay CHÍNH-PHỤ????

Xuân ở ngoài kia ư? Xuân đâu phải của chỉ riêng ta???
Xuân ở trong lòng ư? Trong lòng thì ngoài kia làm sao biết?
Xuân ở cả trong lẫn ngoài thì lại là XUÂN thường tại vậy!!!!

Mừng Xuân con khỉ, chúc đạo hữu thường an lạc, đáo...Cực Lạc quốc.
Cầu cho chúng sanh thường an lạc, đắc giải thoát, đáo Niết Bàn.
Trừng Hải





 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,467
Điểm tương tác
416
Điểm
83
Chuyên mục này không cho phép thảo luận, chỉ dành cho thành viên viết bài và đúng theo luật lệ, tinh thần của diễn đàn. Kính mong quí vị có ngõ ý thảo luận xin phép mở chủ đề ở Chuyên mục Tịnh Độ Tông và bài của đạo hữu trừng hải, VNBN đã di chuyên về chuyên mục ấy rồi. Kính mong đạo hữu qua đó.

Xin phép khóa chủ đề này lại.
 

VO-NHAT-BAT-NHI

Moderator
Staff member
Thành viên vinh dự
Tham gia
23 Thg 8 2010
Bài viết
1,467
Điểm tương tác
416
Điểm
83
V. MỘT VÀI ĐÍNH CHÍNH​

Để tránh một số vị hiểu lầm, nay VNBN xin phép đính chính một vài điểm sau:

1) Nickname: VO-NHAT-BAT-NHI là một chuỗi kí hiệu thôi, xin chư vị đừng căn cứ vào đó mà bắt bẻ thì khổ cho VNBN lắm!

2) Chữ kí: "Sau 2500 năm Phật Nhập Diệt gọi là thời kỳ Mạt Pháp, lúc này tâm tánh chúng sanh phần nhiều giải đãi việc tu hành, say mê ngũ dục, ít người chịu tu, nên ít có người chứng quả."

Cái này VNBN sao chép ở đâu thì VNBN không nhớ. Đại khái là: VNBN thấy cũng phù hợp với đại đa số con người thời nay, họ lệ thuộc nhiều vào vật chất, phá pháp, phá giới thì ngày cũng nhiều, ... Vả lại ý nghĩa câu này VNBN hiểu là lời nhắc nhở người học Phật phải cố gắng tu hành không để rơi vào vấn nạn như trên.

3) VNBN không hề kêu gọi mọi người bỏ Thiền theo Tịnh Độ. Những ai cảm thấy tu Thiền khó đạt mà muốn chắc chắn kiếp sau chắc chắn tự tại sanh tử thì có thể xem xét tu tạo nhân duyên tái sanh vào Cực Lạc. Hoặc có những người lâm chung, động vật sắp chết, hoặc đã chết nhưng chưa lâu thì hãy triển khai pháp Tịnh Độ này để họ được tái sanh Cực Lạc lợi lạc cho họ cũng như các Bồ Tát không cần phải hạ phàm tế độ họ.

4) Phàm những người tái sanh Cực Lạc thì là 1 trong 9 phẩm: thượng (3 bậc), trung (3 bậc), hạ (3 bậc). Rõ ràng đều là phàm phu nhưng tái sanh Cực Lạc đều chứng tự tại giải thoát. Do đó, nên căn cứ theo Kinh luật chớ nên đặt ra thêm điều kiện gì khác có thể sẽ gieo rắc rối cho người tu Tịnh Độ.

Chân thành cám ơn chư vị đã đọc. Có thảo luận gì thì xin mời vào chuyên mục Tịnh Độ Tông để thảo luận. Chuyên mục này thành viên tự viết bài theo nội quy nhưng không cho phép thảo luận.
 
Tình trạng
Không mở trả lời sau này.
Bên trên