Đại Cương Kinh Lăng-Nghiêm

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
Phật-Học Tùng-Thư
I.- KINH
TRIẾT LÝ ĐẠO PHẬT
Hay Là
ĐẠI-CƯƠNG KINH LĂNG-NGHIÊM
Dịch-giả : THÍCH THIỆN-HOA
HƯƠNG-ĐẠO XUẤT-BẢN
Tái bản, năm 1969

Giảng lần đầu tiên tại Phật-Học-Đường Nam-Việt ngày 7 tháng 11 năm 1954 (12-10.Giáp-ngọ)
Lưu ý: Người muốn tu Thiền, nên đọc kỹ đoạn NGŨ-ẤM-MA trong kinh nầy.


BÀI THỨ NHẤT

A.- PHẦN DUYÊN KHỞI
B.- PHẦN CHÁNH-ĐỀ
I- Nguyên-nhơn Phật nói kinh.
II- A-Nan cầu Phật dạy phương-pháp tu-hành lần thứ nhứt.
III-Phần lược-giải :
1.- Định-danh và giải-nghĩa tên kinh.
2.- Nội-dung kinh Lăng-Nghiêm.


THAY LỜI TỰA
Giữa cơn nắng hạn lại gặp mưa rào, đang lúc loạn-ly, lòng người đau-khổ, lại được cam-lồ pháp-vị làm cho tâm-hồn người bớt sự khổ-đau, thì còn may-mắn gì hơn!
Chúng tôi là cư-sĩ của Phật-Học-Đường Nam-Việt tại chùa Ấn-Quang, không biết có phúc-duyên gì, mặc dù sanh trong đời Mạt-pháp, mà vẫn gặp Chánh-pháp của Phật-Đà.
Trên ba năm nay, chúng tôi thường đến Phật-học-đường Nam-Việt học hỏi về giáo-lý với quý vị Pháp-sư. Càng học thấy càng hay; như người ăn mía: càng nhai lại càng ngọt. Say-sưa với đạo-vị, mà quên bớt những sự đau-khổ giữa lúc loạn-ly.
Càng học lại thấy giáo-lý càng cao thâm. Quý hoá thay! Năm nay chúng tôi được Ngài Thích Thiện-Hoa, Trưởng-ban Hoằng-pháp Phật-giáo Nam-Việt, kiêm Đốc-giáo Phật-học-đường Nam-Việt ban cho một vật báu vô-giá: Giảng về đại-cương kinh Lăng-Nghiêm.
Hay làm sao! Và thú-vị làm sao! Chúng tôi không thể miêu-tả ra hết được.
Chúng tôi thường nghe nói: Kinh Lăng-Nghiêm là một bộ kinh Đại-Thừa, vừa quí giá nhứt, mà cũng vừa cao siêu nhứt. Trước đây thỉnh-thoảng chúng tôi củng có thỉnh những bản của các nhà dịch khác để xem, nhưng khó hiểu quá ! Ngoài cái khó về văn-chương và danh-từ triết-lý chuyên-môn lại còn nghĩa lý rộng sâu như biển, thật khó nắm lấy đại-cương!
Hôm nay được nghe giảng Đại-cương, thật chẳng khác nào bầu thế-giới bao-la, mà được thâu vào một bản-đồ nhỏ hẹp, rất dễ ngắm xem.
Chúng tôi được nghe lời Phật dạy:
"Mình chưa được độ mà muốn độ người , đó là tâm Bồ-tát;
Mình đã được giác-ngộ, rồi đem ra khai-sáng cho người là hạnh của Như-Lai".
Chúng tôi tự nghĩ rằng:" Mình đã là con của Phật, phải học theo hạnh Bồ-tát: mỗi khi được điều lợi gì, thì đều phải chia sớt cho mọi người".
Nghĩ thế, nên chúng tôi yêu-cầu Thầy Đốc-giáo Phật-học-đường Nam-Việt viết lại thành bài, và chung cùng nhau in ra phát-hành; trong số đó, có ấn-tống 1.000 quyển ( khi in lần thứ nhứt).
Như thế, trước để đền đáp hồng-ân của Tam-Bảo, và công-trình giáo-huấn của chư Tăng, sau mong cho mỗi người đọc hiểu, đều ngộ được chân-tâm của mình, cùng chúng tôi đồng tu đồng chứng.
Mong thay! Và vui lắm thay!


Chợ Lớn, ngày 15 tháng 1 năm Ất mùi (1955)
T.M Cư-sĩ Phật-Học-Đường Nam-Việt
Phật-tử Minh-Phúc
 
Chỉnh sửa cuối:

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
BÀI THỨ NHẤT

A.- Phần Duyên-Khởi
Người đến đô-thành lạ, nếu chẳng có bản-đồ, thì không sao khỏi lầm đường lạc nẻo. Người đi trong biển khơi diệu-vợi, sóng dồi gió dập, lênh-đênh giữa biển, nếu không có kim chỉ-nam, thì không dễ gì vượt qua mấy vạn trùng-dương, trở về xứ-sở. Người đi đánh giặc, nếu không có binh-thơ đồ-trận, không hiểu chiến-thuật chiến-lược, thì không sao thắng được giặc, đem trở lại trật-tự an-ninh cho nước nhà, và giữ-gìn non sông cẩm-tú. Kẻ làm thợ nếu chẳng có mực thước, thì không sao làm thành những món đồ có giá-trị.
Người tu-hành cũng thế, nếu không hiểu lối thẳng, khúc quanh, chổ đèo ải gay-go, nơi hố hầm nguy-hiểm trong đường lối tu-hành, lớp-lang chứng đạo, thì không sao khỏi lạc vào nẻo tà, sa nơi ác-đạo.
Kinh Lăng-Nghiêm là một bộ kinh quý-báu vô cùng, chỉ đường lối tu-hành một cách rành-mạch, nào là giáo, lý, hạnh, quả đều rõ-ràng. Người tu phải trải qua bao nhiêu địa-vị, trong khi tu gặp những điều nguy-hiểm thế nào, và phải làm sao mới tránh khỏi những điều nguy-hiểm ấy, thì trong kinh Lăng-Nghiêm Phật dạy hết sức rành-rõ.
Nói đến kinh Lăng-Nghiêm, hàng Phật-tử ai lại chẳng nghe tiếng là một bộ kinh Đại-Thừa, vừa hay nhứt, mà cũng vừa quý nhứt. Người tu-hành hiểu được kinh Lăng-Nghiêm, chẳng khác nào người bộ-hành có bản-đồ, kẻ thuỷ-thủ có kim chỉ-nam, người thợ có giây mực, cây thước, kẻ chiến-sĩ có binh-thư đồ-trận.
Vì kinh Lăng-Nghiêm quý-giá như thế, nên thuở xưa các vị vua Ấn-Độ cho là một quốc-bảo, giữ-gìn nghiêm-nhặt không cho truyền-bá ra ngoài. Trong lúc ấy, bên Tàu, có Ngài Thiên-Thai Trí-giả Đại-sư, được nghe kinh Lăng-Nghiêm quý-báu như vậy, nên mỗi ngày hai lần sớm chiều xây mặt về phía Tây (Ấn-độ) quỳ lạy cầu khẩn cho kinh Lăng-Nghiêm được sớm truyền bá qua Tàu, để lợi-ích quần-sanh.
Cách 100 năm sau, có Ngài Bát-Thích-Mật-Đế, người Ấn-độ, đã nhiều lần tìm cách đem kinh Lăng-Nghiêm đến truyền-bá tại Trung-Hoa, nhưng không kết-quả, vì luật nước nghiêm-cấm, kiểm-soát rất chặc-chẽ.
Đến lần cuối-cùng, Ngài viết kinh trong miếng lụa mỏng, rồi cuốn lại, xẻ thịt bắp-vế nhét vào, băng lại làm như người có ghẻ, mới đem được ra khỏi nước.
Chúng ta cũng nên nhớ tưởng lại cái công "Vị pháp vong xu" của Ngài Bát-Thích-Mật-Đế. Thử nghĩ : một cây cỏ cắt vào da còn đau; một mụt ghẻ con, còn biết nhức; huống chi xẻ một đường dài nơi bắp thịt, nhét cho được một cuốn lụa con, trải qua bao nhiêu ngày, từ Ấn-Độ sang đến Trung-Hoa. Nếu không may bị tiết-lộ thì phải tử-hình. Như thế chúng ta đủ thấy sự quý-báu của kinh Lăng-Nghiêm là dường nào! Tâm vì đạo quên mình của Bồ-tát Bát-Thích-Mật-Đế đáng cho chúng ta trọn đời bái phục.
Khi Ngài Bát-Thích-Mật-Đế đem kinh Lăng-Nghiêm này qua Tàu, đến đất Nam-thuyên, gặp quan Thừa-tướng tên Phòng-Dung, là bực bác-học uyên-thâm, lại có lòng mộ Phật, nên Ngài trình bày với Thừa-tướng, về giá-trị của kinh Lăng-Nghiêm mà Ngài đã hy-sinh mang đến.
Quan Thừa-tướng Phòng-Dung nghe rồi hết sức mừng-rỡ, cho là đặng một vật báu chưa từng có. Nhưng khi đem cuốn lụa ra thì, vì bị máu mủ bám vào lâu ngày, nên mất cả chữ nghĩa.
Một bà có công lớn trong việc này, là Phu-nhân của Thừa-tướng Phòng-Dung. Bà đem cuốn lụa ấy nấu với một chất thuốc hoá-học, thì máu mủ đều theo nước mà tan đi, chỉ lưu lại các nét mực, nên còn thấy để phiên dịch.
Quan Thừa-tướng thỉnh Ngài Bát-Thích-Mật-Đế dịch chữ Phạn ra chữ Tàu. Ngài Di-Già-Thích-Ca dịch từ-ngữ, còn quan Thừa-tướng nhuận-sắc. Nên kinh Lăng-Nghiêm chẳng những nghĩa-lý rất hay, mà văn-chương cũng là tuyệt-diệu. Từ xưa các học-giả không những trong đạo Phật, mà cả đạo Nho, các đại-gia văn-chương, một phen xem đến kinh Lăng-Nghiêm, đều kính phục và vô cùng khen ngợi cái nghĩa-lý cao-siêu, và văn-chương tuyệt-diệu của kinh.
 
Chỉnh sửa cuối:

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
B.- Phần Chánh-Đề

I.- NGUYÊN-NHÂN PHẬT NÓI KINH LĂNG-NGHIÊM
Theo lệ thường, mỗi năm đến ngày rằm tháng bảy, là ngày mãn hạ, chư Tăng cùng nhau tự-tứ, để rửa sạch những hành-vi lỗi-lầm và những tư -tưởng không tốt, cho giới-thể được thanh-tịnh. Vì trong ba tháng kiết-hạ an-cư, chư Tăng đều thúc-liễm thân tâm, trau-giồi giới-hạnh, tích công luỹ đức, nên đến ngày mãn hạ, các hàng Phật-tử cư-sĩ đều đua nhau sắm đủ các món trai-diên, thỉnh chư Tăng đến cúng dường, để gieo trồng cội phúc.
Hôm ấy, nhằm ngày huý-nhật của Tiên-Hoàng, nên vua Ba-Tư-Nặc sắm đủ các món trân-tu mỹ-vị rất linh-đình, rồi chính vua thân-hành đến rước Phật và chư Tăng về cúng-dường.
Cũng hôm ấy, các hàng trưởng-giả cư-sĩ đều sắm đủ thức cơm chay, cung thỉnh chư Tăng đến cúng-dường. Phật bảo ngài Văn-Thù chia ban, để đi đến từng nhà thọ cúng.
Trong lúc ấy, ông A-Nan vì đã chịu người thỉnh riêng trước, nên trở về chẳng kịp để dự vào hàng chúng Tăng thọ cúng.
Ông mang bình-bát đi vào thành, oai-nghi tề-chỉnh, bộ điệu chẫm rãi, qua từng nhà một để khất-thực. Với tâm bình-đẳng, ông muốn làm phước-điền cho tất cả mọi người, không phân-biệt bực quý-phái hay hạng bình-dân. Ông chỉ mong gặp những người chưa biết làm phước, hôm nay phát tâm cúng-dường, để họ được ương trồng hạt giống lành, đặng ngày sau hưởng quả.
Vì lòng từ-bi bình-đẳng không lựa chọn, nên ông tuần-tự trải qua các xóm làng. Không may ông gặp nhà tín-nữ ngoại-đạo, tên Ma-Đăng-Già, dùng phép huyễn-thuật là thần chú của Ta-tỳ-ca-la Tiên Phạm-thiên, bắt vào phòng, dùng đủ lời dịu ngọt, vuốt-ve mơn-trớn, ép-uổng về tình-duyên !...
A-Nan bị nạn, hết sức buồn rầu, chắp tay niệm Phật hướng về đức Chí-Tôn cầu cứu !... Phật biết A-Nan mắc nạn, nên khi thọ trai xong không kịp thuyết-pháp, liền trở về Tịnh-Xá ngồi kiết-già, trên đảnh phóng hào-quang trăm báu, trong hào-quang ấy có hoa sen ngàn cánh, trên hoa sen có đức Hoá Phật ngồi kiết-già, nói thần-chú Lăng-Nghiêm ( mỗi buổi khuya các chùa đều tụng).
Phật bảo Ngài Văn-Thù đem thần-chú ấy đi đến chỗ nàng Ma-Đăng-Già, để phá trừ tà-chú, cứu nạn cho A-Nan.

II.- A-NAN CẦU PHẬT DẠY PHƯƠNG-PHÁP TU-HÀNH LẦN THỨ NHỨT
Khi ông A-Nan được thoát nạn, về đến chỗ Phật, cúi đầu kính lạy, buồn tủi, khóc than và bạch Phật rằng:
_ " Bạch đức Thế-Tôn ! Con từ hồi nào đến giờ có lòng ỷ lại : Con là em Phật, được Phật thương-yêu, chắc chắn Phật sẽ ban cho con thần-thông trí-huệ, hay đạo quả Bồ-đề, nên chỉ lo học rộng nghe nhiều, chẳng cần tu niệm, không ngờ ai tu nấy chứng, mặc dù con là em của Phật, nếu không tu, thì cũng bị đọa như ai ; học nhiều mà không tu, thì cũng chẳng có ích gì ! Cúi xin Phật rộng lòng từ-bi, chỉ dạy cho con phương-pháp nào mà mười-phương các đức Phật tu-hành đều được thành-đạo chứng-quả ".

III.- PHẦN LƯỢC GIẢI
1.- ĐỊNH DANH VÀ GIẢI NGHĨA TÊN KINH
Khi đó Phật an-ủi A-Nan và hứa sẽ chỉ dạy phương-pháp tu-hành để thành-đạo chứng-quả, là kinh Lăng-Nghiêm. Kinh này, đọc cho đủ là :
" Kinh Đại Phật-Đảnh , Như-Lai Mật Nhơn , Tu Chứng Liễu-Nghĩa , Chư Bồ-Tát Vạn-Hạnh , Thủ-Lăng-Nghiêm ";
gọi tắt là" Kinh Thủ-Lăng-Nghiêm" tức là kinh nói về Chơn-Tâm.

a) vì kinh này rất quý-báu, đã ít có mà lại khó gặp, hàng Tiểu-thừa Thinh-văn và Quyền-thừa Bồ-Tát không thể hiểu thấu suốt được, nên dụ như cái tướng "Vô-Kiến-Đảnh" của Phật. Vì tướng này rất quý-báu và khó thấy, hàng phàm-phu và Nhị-thừa không thể thấy được.
b) Mười phương các đức Phật đều y theo kinh này làm nhơn-địa tu-hành mà được thành-đạo chứng-quả, nên gọi là " Như-Lai Mật-Nhơn".
c) Y theo kinh này mà tu và chứng thì lối tu chứng ấy mới được rốt ráo, nên gọi rằng " Tu-Chứng-Liễu-Nghĩa".
d) Các vị Bồ-Tát tu pháp Lục-Độ-Vạn-Hạnh đều y theo kinh này, nên kinh này cũng gọi là " Chư-Bồ-tát Vạn-Hạnh".
đ) Tóm lại, "Thủ-Lăng-Nghiêm", Tàu dịch là " Đại-định kiên-cố ". Nghĩa là, cái bản-thể Chơn-tâm sẵn có của tất cả chúng-sanh và chư Phật,, nó bao-la trùm khắp cả vũ-trụ, nên gọi là "Đại". Tâm ấy thường tịch-tịnh không vọng-động nên gọi rằng "Định". Nó không bị thời-gian thay đổi, hay không-gian chuyển dời, thấu xưa suốt nay, bao giờ cũng vẫn thường như thế, ở nơi bực thánh không thêm, tại phàm cũng không bớt, như như bất-động, nên gọi rằng "Kiên-cố ".
Chữ "Kinh" theo nghĩa hẹp là đường chỉ xuôi, tức là đường canh trong tấm vải. Tấm vải nhờ có đường canh xâu kết lại các chỉ ngang, mới thành một tấm vải.
Còn theo nghĩa rộng, chữ "Kinh" là xâu tóm các lời-lẽ và nghĩa-lý của Thánh-hiền làm thành một quyển hay một bộ.
Trong đạo Phật hay ngoài đời đều có kinh-điển. Song kinh Phật có thêm chữ "Khế " nên khác hơn kinh sách ở thế-gian. Chữ "Khế " nghĩa là hợp:
a) Hợp căn-cơ trình-độ của chúng-sanh.
b) Hợp chân-lý.
Chữ kinh có nghĩa " thường-pháp", là một chân-lý không thay đổi : quá-khứ Phật nói pháp như vậy, hiện-tại Phật cũng nói pháp như vậy và vị-lai Phật ra đời cũng nói pháp như vậy mà thôi, nên gọi là "thường-pháp".
Nói một cách xác thật hơn :

" Kinh nầy chính là tâm của chúng ta".

a) Chúng ta sẵn có bản-thể chơn-tâm thanh-tịnh và như-như bất-động, thế là nơi ta có "Thủ-Lăng-Nghiêm".
b) Y theo chơn-tâm này mà khởi tu lục-độ muôn hạnh của Bồ-tát, thì chính là nơi ta có "Chư Bồ-tát Vạn-Hạnh".
c) Y theo chơn-tâm mà tu, và cũng y theo chơn-tâm này mà chứng, tu chứng như thế mới rốt-ráo, nên gọi là "Tu Chứng Liễu-Nghĩa".
d) Chúng ta y chơn-tâm này làm nhân-địa tu-hành, sẽ được thành Phật, nên gọi là "Như-Lai Mật-Nhơn"
đ) Chơn-tâm này rất quý-báu, những hàng phàm-phu, Tiểu-thừa và quyền-thừa Bồ-tát không ngộ nhập được, nên dụ như " Vô-kiến đảnh-tướng" của Phật. Chơn-tâm chúng ta bao trùm cả vũ-trụ, muôn sự muôn vật không ngoài chơn-tâm ta, đó là nghĩa chữ " Kinh".
 
Chỉnh sửa cuối:

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
Mười chín chữ đầu đề của kinh này : " Đại Phật- Đảnh, Như-Lai Mật-Nhơn, Tu Chứng Liễu-Nghĩa, Chư Bồ-Tát Vạn-Hạnh, Thủ Lăng-Nghiêm ", đã bao hàm toàn cả bộ kinh, nào là giáo, lý, hạnh, quả, thể-đại, tướng-đại và dụng-đại, nhơn-địa tu chứng đều trùm cả, mà rốt cuộc chỉ ở nơi tự tâm chúng ta sẵn đủ. Bởi ngộ được lý này, nên đức Lục-Tổ Huệ-Năng nói rằng:


Không ngờ tâm mình vốn sẵn thanh-tịnh
Không ngờ tâm mình vốn không sanh-diệt
Không ngờ tâm mình sẵn đủ các pháp
Không ngờ tâm mình vốn không lay động
Không ngờ tâm mình hay sanh muôn pháp.


Đọc đề-mục kinh chỉ có 19 chữ, chúng ta thấy đã vui thú rồi, vì chính nơi ta sẵn có kinh " Đại Phật- Đảnh, Như-Lai Mật-Nhơn, Tu Chứng Liễu-Nghĩa, Chư Bồ-Tát Vạn-Hạnh, Thủ Lăng-Nghiêm ". Chỉ vì chúng ta mê-muội nên chẳng nhận được kinh Lăng-Nghiêm của mình. Song nó cũng không mất, khi ngộ được thì sẽ thành Phật.


2.-NỘI-DUNG KINH LĂNG-NGHIÊM
Nội-dung của kinh Lăng-Nghiêm là Phật chỉ dạy cho chúng ta ngộ được chơn-tâm. Chúng ta vì không ngộ được chơn-tâm nên phải vĩnh-kiếp làm chúng-sanh, trầm-luân trong biển sanh-tử, chịu không biết bao nhiêu khổ-sở. Còn như Phật thoát-ly sanh-tử luân-hồi, được tự-do giải-thoát, thần-thông tự-tại trí-huệ vô-ngại v.v...đều do các Ngài đã ngộ chơn-tâm, nên mới được như thế.
Nói cho dễ hiểu: Phật với chúng-sanh vẫn đồng một thể-tánh chơn-tâm, nhưng các Ngài đã hoàn-toàn giác-ngộ được thể-tánh ấy, nên mới thành Phật. Trái lại, chúng-sanh vì mê-muội thể-tánh chơn-tâm, nên phải bị sanh-tử luân-hồi. Nếu chúng ta giác-ngộ chơn-tâm, thì sẽ được như Phật.
Ông A-Nan cầu Phật chỉ dạy phương-pháp nào mà mười phương các đức Phật đã tu-hành và đều được chứng quả, thì Phật chỉ dạy, phải ngộ "chơn-tâm" mà thôi. Nếu ngộ được chơn-tâm này thì thành Phật. Ngộ được chơn-tâm, như người thức giấc mộng; không ngộ được chơn-tâm, như người còn ngủ chiêm bao. Đây là phương-pháp duy-nhứt mà mười phương chư Phật tu-hành đã được thành-đạo chứng-quả.
 
Chỉnh sửa cuối:

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
BÀI THỨ HAI
Bảy đoạn Phật hỏi về tâm :
I.- A-Nan chấp tâm ở trong thân
II.- A-Nan chấp tâm ở ngoài thân
III.- A-Nan chấp tâm ẩn trong con mắt
IV.- A-Nan chấp lại tâm ở trong thân
V.- A-Nan chấp tâm tuỳ chỗ hoà-hợp mà có
VI.- A-Nan chấp tâm ở chính giữa
VII.- A-Nan chấp " không trước " làm tâm.

BÀI THỨ HAI
Bảy Đoạn Phật Hỏi Về Tâm
Trước khi muốn chỉ chơn-tâm, Phật gạn hỏi cái vọng-tâm. Khi đã hiểu vọng-tâm rồi, thì về sau Phật chỉ cái chơn-tâm mới khỏi lầm. Cũng như người, trước phân biệt được thau, đồng và vàng giả rồi, thì về sau chỉ đến vàng thiệt, họ mới nhận được chắc-chắn, nên trước Phật hỏi về cái tâm.
Phật kêu A-Nan hỏi rằng :__Trong giáo pháp ta, ông ngưỡng-mộ cái gì mà phát tâm xuất-gia ?
A-Nan thưa :__Vì thấy Phật có 32 tướng tốt đẹp lạ thường, con sanh lòng hâm-mộ nên phát tâm xuất-gia.
Phật hỏi :__Ông nói : " Vì thấy 32 tướng tốt của Phật, sanh lòng hâm-mộ "; vậy ông lấy cái gì để thấy, và lấy cái gì để hâm-mộ ?
A-Nan thưa :__Con lấy mắt để thấy và dùng tâm hâm-mộ .
Phật hỏi :__Ông nói :" Lấy con mắt để thấy và cái tâm hâm-mộ ", vậy ông có biết cái tâm và con mắt ở chỗ nào không ?
Ông từ hồi nào đến giờ, nhiều kiếp sanh-tử luân-hồi, cũng vì tâm và mắt ! Nếu ông không biết nó ở chỗ nào, thì không bao giờ hàng-phục được phiền-não trần-lao.
Cũng như vị Quốc-vương, bị giặc đến xâm-chiếm, đem binh dẹp trừ, nếu không biết giặc trú ngụ ở chỗ nào thì không bao giờ dẹp được giặc.

I.- A-NAN CHẤP TÂM Ở TRONG THÂN
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn, không những một mình con hiểu, mà tất cả chúng-sanh cũng đều cho " con mắt ở trên mặt, còn tâm ở trong thân".
PHẬT BÁC
Phật hỏi :__Ông ngồi trong giảng-đường này, trước hết ông thấy cái gì ? và vì sao ông thấy được cây cối ngoài vườn ?
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn, con ngồi trong giảng-đường, trước thấy Phật cùng chư Tăng, và nhờ mở các cửa, nên con nhìn ra ngoài, thấy được cây cối, cảnh vật bên ngoài.
Phật hỏi :__Có ai ngồi trong nhà, không thấy các vật trong nhà, mà lại thấy được cảnh vật bên ngoài không ?
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn, người ngồi trong nhà, mà không thấy các vật trong nhà, lại thấy cảnh vật bên ngoài là không có lý.
Phật nói :__Tâm ông cũng thế, nếu thật ở trong thân ông, thì trước hết nó phải thấy tim, gan, ruột, phổi hoặc móng tay ra, tóc dài, gân chuyển, mạch động ở trong, rồi sau do mở mắt, ông mới thấy đặng các cảnh vật bên ngoài. Cũng như người ngồi trong giảng-đường này, trước hết phải thấy Phật cùng chúng Tăng và những vật trong giảng-đường, rồi sau dòm ra ngoài, mới thấy núi sông cây rừng v.v...
Vậy có ai trước thấy tim, gan, ruột phổi ở trong thân, rồi sau mới thấy các vật ở bên ngoài không ? Nếu không, thì ông nói : " Tâm ở trong thân " là phi-lý.
 
Chỉnh sửa cuối:

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
II.- A-NAN CHẤP TÂM Ở NGOÀI THÂN
A-Nan bạch Phật :__Bạch Thế-Tôn, cứ theo lý-luận trên thì con hiểu : tâm ở ngoài thân. Vì nếu tâm ở trong thân, sao không thấy được các vật ở bên trong, mà chỉ thấy cảnh-vật bên ngoài. Vậy nên con biết tâm ở ngoài thân. Cũng như cái đèn đốt ngoài nhà, nên chẳng sáng được trong nhà. Nghĩa này đúng rồi, chắc không còn lầm-lạc nữa.
PHẬT BÁC
Phật hỏi A-Nan :__Cái tâm của ông, nếu ở ngoài thân, thì thân và tâm ông không dính-dấp với nhau. Vậy trong lúc tâm biết, thân phải không biết; còn khi thân biết, thì tâm phải không biết.
Cũng như ta với các thầy Tỳ-Kheo, vì thân-thể khác nhau, nên khi ta thọ-trai, các thầy không no được.
Vậy ông thử xem cánh tay của ta đây, trong lúc mắt (thân) ông vừa thấy, tâm ông có biết liền không ?
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn, trong lúc mắt con vừa thấy, thì tâm con liền phân-biệt.
Phật hỏi :__Nếu mắt ông vừa thấy, tâm ông liền biết, thì thân và tâm không thể rời nhau được. Như thế thì ông nói :" Tâm ở ngoài thân" cũng không phải.

III.- A-NAN CHẤP TÂM ẨN TRONG CON MẮT
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn, theo lời Phật bác :" Tâm không phải ở trong thân, vì nó chẳng thấy được bên trong; cũng không phải ở ngoài thân, vì mắt (thân) vừa thấy, tâm liền biết, rõ-ràng thân tâm không rời nhau".
Cứ theo lý-luận này, thì con hiểu :Tâm núp trong con mắt; cũng như con mắt của người mang kiến, nên chỉ thấy các cảnh vật bên ngoài, mà không thấy được bên trong.
PHẬT BÁC
Phật hỏi A-Nan :__Nếu tâm ông núp trong con mắt, cũng như con mắt người mang kiến; vậy tôi hỏi ông:" Người mang kiến, trong khi họ thấy cảnh- vật, họ có thấy được cái kiến mang đó không ?"
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn, thấy được.
Phật hỏi :__Nếu tâm ông cũng như con mắt người mang kiến, thì vậy sao người mang kiến có thể thấy được cái kiến mang, còn tâm ông sao lại không thấy được con mắt của ông ?
Nếu tâm ông thấy được con mắt của ông, thì con mắt của ông thành ra cảnh bị thấy, nó phải ở ngoài thân ông mới phải.
Nếu thân, tâm ngoài nhau, thì làm sao mắt ông vừa thấy, tâm ông liền phân-biệt được ?
Nếu tâm ông không thấy được con mắt của ông, thì sao ông lại tỷ-dụ như con mắt người mang kiến ?
Thế nên ông nói :" Tâm núp trong con mắt, như con mắt người mang kiến núp sau cái kiến", cũng không phải.

IV.-ÔNG A-NAN CHẤP TRỞ LẠI, TÂM Ở TRONG THÂN
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn, bây giờ con nghĩ : Nhắm mắt thấy tối, là tâm thấy trong thân (gan ruột); nhờ cửu-khiếu, thất-huyệt (các giác-quan) trống hở, nên mở mắt thấy sáng là tâm thấy các cảnh-vật ngoài thân. Chẳng biết nghĩa này có đúng không ?
PHẬT BÁC
Phật hỏi A-Nan :__Ông nói :" Nhắm mắt thấy tối là thấy trong thân "; vậy thì khi ông thấy tối, cảnh tối đó có đối trước mắt ông hay không ?
Nếu cái tối không đối trước mắt, thì không thành cái nghĩa thấy. Còn có đối trước mắt, thì thấy tối là thấy trước, sao ông lại nói thấy trong ?
Nếu ông cho thấy tối là thấy trong thân (gan ruột) thì khi ở trong nhà tối không có ánh sáng, ông thấy tối đó, cũng là thấy gan ruột của ông sao ?
Lại nữa, nếu nhắm mắt thấy tối, ông cho là thấy trong thân, mở mắt thấy sáng là thấy ngoài thân, vậy sao ông không thấy được cái mặt ?
Cái mặt ở ngoài, ông mở mắt còn không thấy, thì khi nhắm mắt thấy tối, làm sao chắc là thấy trong thân ?
Nếu ông thấy được cái mặt ông, thì con mắt với tâm hiểu biết của ông, phải ở ngoài thân ông.
Nếu tâm và mắt ở ngoài thân, thì nó không phải là tâm mắt của ông rồi.
Nếu ông cho tâm, mắt (ngoài thân ông) đó cũng là ông, vậy thì nay ta thấy được mặt ông, thế thì ta đây cũng là tâm, mắt của ông sao ?
Lại nữa, trong lúc con mắt ông biết, thì thân ông phải không biết, khi thân ông biết, thì con mắt ông phải không biết (vì ông chấp nó rời nhau).
Nếu ông cho cả hai đều biết, thì một mình ông phải có hai cái biết (tâm), vậy khi tu-hành chứng quả, ông sẽ thành hai vị Phật sao ?
Thế nên phải biết : Ông nói :" thấy tối là thấy trong thân" cũng không phải.

V.- A-NAN CHẤP TÂM TUỲ CHỖ HOÀ-HIỆP MÀ CÓ
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn, con thường nghe Phật dạy tứ-chúng :" Do tâm sanh, nên các pháp mới sanh. Do các pháp sanh, cho nên tâm mới sanh". Nay con suy-nghĩ, thì cái "suy-nghĩ" đó là tâm của con; tuỳ hoà-hiệp chỗ nào, thì tâm liền theo đó mà có, không phải ở trong, ngoài và chính giữa.
PHẬT BÁC
Phật hỏi A-Nan :__Ông nói :"Tuỳ hoà-hiệp chỗ nào, thì tâm liền theo đó mà có "; như thế thì cái tâm của ông không có thật thể.
Nếu tâm ông không có hình thể (tức là không có) thì lấy cái gì mà hoà-hiệp ? Còn nó có hình-thể, thì ông thử lấy tay mặt đánh qua tay trái, ông biết đau liền. Vậy cái tâm biết đau này, là từ trong thân chạy ra hay từ bên ngoài chạy vào ?
 
Chỉnh sửa cuối:

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
Nếu ông nói : " nó từ trong thân chạy ra", thì trước hết nó phải thấy gan ruột trong thân của ông. Còn nếu nó từ ngoài hư-không chạy vào, thì trước hết nó phải thấy cái mặt của ông.
A-Nan thưa :__Con mắt thì thấy, còn cái tâm thì biết; Phật nói :" cái tâm thấy", nghĩa đó không phải .
Phật hỏi :__Nếu con mắt thấy thì những người chết, con mắt vẫn còn, sao họ không thấy vật ?
Nếu người chết, mà vẫn còn thấy vật, thì sao gọi là người chết ?
Lại nữa, nếu cái tâm hiểu biết của ông có thật thể, thì có một thể hay nhiều thể, ở khắp cả thân ông, hay không khắp cả thân ?
Nếu tâm ông có một thể, và ở khắp cả thân, thì khi ông lấy tay đánh thử một chỗ trên thân ông, đáng lẽ cả thân đều biết đau hết, vì tâm ở khắp cả thân và đồng một thể.
Nếu cả thân đều biết đau, thì cái đau đó lẽ ra không có ở nhứt-định chỗ nào.
Nếu cái đau có chỗ nhứt-định, thì ông nói :" cái tâm một thể và ở khắp cả thân", cũng không phải. Còn nói " tâm ông có nhiều thể", thì thành ra nhiều người; vậy cái nào là tâm của ông ?
Nếu tâm ông không ở khắp thân-thể, vậy ông đồng thời vừa đụng trên đầu, và cũng vừa đụng dưới chân, khi ấy, nếu đầu biết đau, thì chân phải không biết, còn chân biết đau, thì đầu phải không biết.
Nhưng thật-tế thì, đầu và chân của ông cả hai đều biết đau.
Thế nên ông nói :" tuỳ hoà-hiệp chỗ nào, thì tâm tuỳ theo đó mà có ", cũng không phải.


VI.- A-NAN CHẤP TÂM Ở CHÍNH GIỮA
A-Nan bạch phật :__Con nghe Phật cùng với ngài Văn-Thù v.v... khi luận về " thật tướng" (chơn tâm), Phật dạy rằng :" Tâm chẳng ở trong và cũng không ở ngoài ".
Nay con suy-nghĩ : Nếu tâm ở trong thân, sao chẳng biết được bên trong ? Còn nói tâm ở ngoài, thì sao thân tâm lại biết nhau ? Như thế thì "tâm" chắc ở chính giữa.
PHẬT BÁC
Phật hỏi :__Ông nói " tâm ở chính giữa ", vậy cái "chính giữa" đó ở chỗ nào ? Phải có nhứt-định và rõ-ràng, ở nơi thân, hay ở nơi cảnh ?
Nếu ở nơi thân, thì ở một bên thân, hay ở giữa thân ?
Nếu ở một bên thì không phải " chính giữa " ; còn ở chính giữa thân, thì đồng với ở trong thân, như đã nói trước. Nghĩa là : tâm phải thấy trước tim, gan, ruột, phổi ở bên trong.
Còn như ở về cảnh, thì có thể nêu (cái giữa) ra được, hay không nêu ra được ?
Nếu không nêu ra được, thì đồng như không có; còn nêu ra được, thì không thể nhứt-định chỗ nào là chính giữa. Vì sao ? Như người lấy cây cắm chính giữa, nếu người ở phía đông thì xem thấy cây ấy cắm ở phía tây; còn người ở phía nam, thì xem thấy cây cắm ở phía bắc.
 
Chỉnh sửa cuối:

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
<?xml:namespace prefix = o ns = "urn:schemas-microsoft-com
<o:p></o:p>

<o:p>Cái cây cắm nêu đó đã không nhứt-định chỗ nào là chính giữa, thì cái tâm của ông cũng phải lộn-lạo không định. <o:p></o:p>
A-Nan thưa :__Con nói "chính giữa " không phải hai chổ ấy. Như Phật thường nói :"con mắt đối với sắc-trần, sanh ra nhãn-thức ". Một bên con mắt thì có phân-biệt, một bên sắc-trần lại không phân-biệt, cái thức sanh chính giữa, đó là chỗ của tâm ở .<o:p></o:p>
Phật hỏi :__Ông nói :" tâm ông sanh chính giữa căn và trần-cảnh ". Vậy thì cái tâm-thể này, gồm cả căn và cảnh hay không gồm cả hai .<o:p></o:p>
Nếu gồm cả hai, thì căn với cảnh lộn-lạo (căn không thành căn, và cảnh không thành cảnh; vì vừa biết mà cũng vừa không biết). Song trần-cảnh thì không có tri-giác, còn căn lại có tri-giác, hai bên đối lập riêng khác, vậy lấy chỗ nào làm giữa.<o:p></o:p>
Còn như không gồm cả căn và cảnh, thì tâm không có thật-thể. Vậy lấy cái gì làm chính giữa ?<o:p></o:p>
Thế nên phải biết : Ông nói " tâm ở chính giữa " cũng không phải.


<o:p></o:p>
VII.- A-NAN CHẤP CÁI "KHÔNG TRƯỚC " LÀM TÂM<o:p></o:p>
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn, ngày trước con thấy khi Phật cùng với ông Đại-Mục-Kiền-Liên, Tu-Bồ-Đề v.v... nói pháp, Phật có dạy rằng :<o:p></o:p>
" Cái tâm hiểu biết phân-biệt, không ở trong thân, không ở ngoài thân, không ở chính giữa, không ở chỗ nào cả; " không dính mắc (vô trước) tất cả, " đó gọi là tâm".<o:p></o:p>
Vậy nay con lấy cái " không dính mắc" đó làm tâm, chẳng biết có được hay không ?<o:p></o:p>
PHẬT BÁC<o:p></o:p>
Phật hỏi :__Ông nói lấy cái "không dính mắc tất cả " làm tâm. Vậy tôi hỏi ông : Tất cả các vật-tượng trong thế-gian này, nào là hư-không, thế-giới v.v... Vậy các vật-tượng ấy có, mà ông không dính mắc (trước) hay là không, mà ông không dính mắc ?<o:p></o:p>
Nếu các vật-tượng ấy không có, thì cũng như lông rùa, sừng thỏ : nó đã không, thời có gì mà dính mắc.<o:p></o:p>
Nếu còn có cái " không dính mắc " thì ông không thể nói rằng "không dính mắc được". Vì cái gì không có hình tướng thì không, còn cái gì có hình tướng là có. Nếu có hình tướng thì phải bị "dính mắc".<o:p></o:p>
Thế nên ông nói :" không dính mắc tất cả làm tâm " cũng không phải.

<o:p></o:p>
LƯỢC GIẢI<o:p></o:p>
Đã bảy lần Đức Phật gạn về tâm, ông A-nan đều nói không trúng. Vậy nên biết : Nếu chưa ngộ được thể tánh chơn-tâm, thì dù cho nói cách nào cũng sai cả. Chẳng khác nào như trong Nhiếp-Đại-Thừa luận có cái dụ :" kẻ mù rờ voi ". Người rờ nhằm cái chân thì nói con voi như cột nhà, người rờ nhằm lỗ tai, thì nói voi như ki hốt rác, người rờ nhằm đuôi, thì nói voi như cây chổi quét nhà v.v... Mặc dù rờ trúng, nhưng nói và nghĩ thế nào cũng sai cả. Phải thấy chơn-tướng của con voi, thì nói mới không sai.<o:p></o:p>
Chúng ta cũng nên lưu ý : Trong kinh này, Ngài A-Nan đại-diện cho tất cả chúng-sanh mê-lầm hiện-tại, cũng như tương-lai mà đứng ra thưa hỏi, thỉnh cầu Đức Phật chỉ dạy.<o:p></o:p>
Có những đoạn Ngài trình bày hoặc thưa hỏi rất thấp, là đại-diện cho những chúng-sanh mê-lầm bực hạ-căn. Có những đoạn Ngài trình bày hoặc thưa hỏi rất thâm-thuý, là đại-diện, cho những chúng-sanh căn-tánh bực-thượng. Vậy chúng ta không nên căn-cứ lời trình bày trên mặt văn-tự mà phê-phán trình-độ của Ngài.<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
<o:p></o:p>
</o:p>

 
Chỉnh sửa cuối:

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
BÀI THỨ BA
I.-A-Nan cầu Phật dạy phương-pháp tu-hành, lần thứ hai.
II.-Phật gạn hỏi lại tâm lần thứ hai.
III.-A-Nan chấp cái "Suy-nghĩ phân-biệt " làm tâm.
IV.-A-Nan cầu Phật chỉ dạy phương-pháp tu-hành, lần thứ ba.
V.- Phật chỉ cái "thấy" thường còn .
VI.- Phật chỉ "cái thấy " là tâm, không phải con mắt.
VII.- Phật chỉ tâm lần thứ hai.
VIII.- A-Nan cầu Phật chỉ dạy ở nơi thân này cái nào "chơn" và cái nào "vọng".
IX.- Vua Ba-Tư-Nặc đứng dậy hỏi Phật .
X.- Phật chỉ tâm lần thứ ba.
XI.- Phật chỉ " cái thấy" không sanh diệt.

BÀI THỨ BA
I.-A-NAN CẦU PHẬT DẠY PHƯƠNG-PHÁP TU-HÀNH LẦN THỨ HAI
Ông A-Nan đã bảy lần chỉ tâm đều không trúng, vì ông chấp vọng-tưởng làm tâm, nên bị Phật bác cả. Lần thứ hai ông đứng dậy chấp tay kính lạy, cầu phật chỉ dạy phương-pháp tu-hành để thoát ly sanh-tử luân-hồi.

A-Nan thưa rằng :__Bạch Thế-Tôn! Con là em Phật, tuy đã xuất-gia, mà vẫn còn ỷ-lại lòng thương yêu của Phật, chỉ lo học rộng nghe nhiều, không chuyên tu-niệm, nên không chứng được đạo-quả, chẳng hàng-phục nổi tà-chú của ngoại-đạo Ta-Tỳ-Ca-La; trái lại, còn bị Ma-Đăng-Già bắt vào phòng dâm ... phải nhờ Phật cứu độ. Vậy cúi xin Phật từ-bi chỉ dạy cho con phương-pháp tu-hành, để phá trừ ác-kiến và chứng thành đạo-quả.

Thưa thỉnh xong, A-Nan và đại-chúng đều kính-cẩn và trông chờ lời Phật chỉ dạy.

II.- PHẬT GẠN HỎI TÂM LẦN THỨ HAI
Lúc bấy giờ Phật gạn hỏi lại cái "tâm" lần thứ hai, và bảo ông A-Nan phải phân-biệt rành-rõ cái nào là chơn-tâm và cái nào là vọng-tâm.

Phật dạy :__Ông nay muốn đặng đạo vô-thượng Bồ-Đề, thì điều cần nhứt là phải hiểu rõ hai món căn-bản :
__ 1 căn-bản của sanh-tử luân-hồi là vọng-tâm .
__ 1 căn-bản của Bồ-Đề, Niết-Bàn là chơn-tâm .
Nếu ông nhận lầm căn-bản của sanh-tử (vọng-tâm) làm nhơn tu-hành, thì không bao giờ giải-thoát được. Cũng như người nhận giặc làm con, thì chỉ thêm bị phá hại gia-sản của mình mà thôi. Và cũng như người nấu cát làm cơm, dầu trải bao nhiêu năm cũng chẳng thành cơm được.
Vậy nay ông muốn biết đường lối tu-hành để ra khỏi sanh-tử luân-hồi, thì ông hãy nghe tôi hỏi đây :
Phật liền đưa bàn tay, co lại năm ngón và hỏi ông A-Nan rằng :__Ông có thấy không ?
A-Nan đáp :__Bạch Thế-Tôn, thấy .
Phật hỏi :__Ông thấy cái gì ?
A-Nan đáp :__Con thấy phật đưa bàn tay co năm ngón lại.
Phật hỏi :__Ông lấy cái gì để thấy và lấy cái gì làm tâm ?

III.- A-NAN CHẤP CÁI "SUY-NGHĨ PHÂN-BIỆT " LÀM TÂM
A-Nan-thưa :__Con lấy "mắt" để thấy và cái " biết suy-nghĩ, phân-biệt" làm tâm.
Phật quở :__Dốt lắm, A-Nan ! Cái đó không phải là tâm của ông.


LƯỢC GIẢI
Chúng ta nên lưu-ý : Thông-thường ai cũng đều cho cái "suy-nghĩ phân-biệt " là tâm của mình, mà Phật lại nói "không phải tâm". Vậy chúng ta cần phải chín-chắn suy-xét chỗ đó.
 
Chỉnh sửa cuối:

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
A-Nan hoảng hốt, đứng dậy thưa Phật :
___Bạch Thế-Tôn, cái "suy-nghĩ, phân-biệt " này, nếu không phải là tâm của con thì gọi nó là cái gì ?
Phật dạy :__Nó là "vọng-tưởng " (vọng-tâm). Bởi các ông từ hồi nào đến giờ, lầm nhận "vọng-tưởng" làm "chơn-tâm", cho nên nhiều kiếp trầm-luân. Như người nhận giặc làm con, nên bị giặc phá hại.
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn, con vì thương Phật nên mới xuất-gia, thì con chỉ dùng cái tâm này mà thương Phật. Con phụng-thờ các đức Phật trong mười phương và làm tất cả các điều công-đức, cũng dùng cái tâm này. Dầu cho con có làm các điều tội-lỗi, huỷ-báng Phật-Pháp, đoạ vào địa-ngục đi nữa, thì con cũng dùng cái tâm này. Ngày hôm nay Phật nói "nó" không phải tâm của con, như thế thành ra con không có tâm; nếu không có tâm, thì con đồng như cây, đá rồi ! Cúi xin đức Thế-Tôn từ-bi chỉ-giáo.
Phật dạy rằng :__Này A-Nan, nếu ông chấp cái "suy-nghĩ phân-biệt" là tâm của ông, thì khi rời cảnh-vật hiện-tiền, cái tâm "hiểu biết phân-biệt" ấy, cũng vẫn còn, thế mới phải là tâm của ông. Nếu rời cảnh-vật hiện-tiền, mà tâm hiểu biết phân-biệt ấy mất đi, thì không phải là chơn-tâm của ông rồi.
Dầu cho ông diệt hết năm tri-giác bên ngoài là thấy, nghe, hay, biết (5 giác-quan), chỉ còn lưu lại cái " thầm thầm phân-biệt" bên trong (Thức thứ sáu) thì đó cũng là cái vọng-tưởng phân-biệt (Ý-thức thứ sáu) là bóng dáng pháp-trần, không phải chơn-tâm của ông.
Này A-Nan, tôi không bắt buộc ông phải chấp cái "suy-nghỉ phân-biệt" đó là không phải tâm của ông; tôi chỉ bảo ông nên chín-chắn suy-xét : Nếu rời cảnh-vật hiện-tiền, mà cái "suy-nghĩ phân-biệt" này vẫn còn, thì mới phải thật là chơn-tâm của ông.
Còn nếu rời cảnh-vật hiện-tiền, mà cái "suy-nghĩ phân-biệt" này cũng mất luôn đi, thì rõ-ràng nó là cái " vọng-tưởng phân-biệt" ( vọng-tâm) bóng dáng của sáu trần, chớ không phải là "chơn-tâm thường-trụ" của ông vậy.
Nếu ông nhận cái " hư-vọng phân-biệt sanh-diệt " (vọng-tưởng) này làm tâm của ông, thì khi cảnh-vật hiện-tiền qua rồi, tâm ấy cũng theo cảnh-vật mà diệt đi. Lúc bấy giờ thành ra ông không có tâm rồi. Nếu không có tâm, thì ông lấy gì để tu-hành, và thành đạo chứng-quả.
Ông phải biết rằng : Trong thế-gian tất cả người tu-hành, không được thành đạo, đều do chấp lầm cái " vọng-tưởng sanh-diệt " (vọng-tâm) này làm chân-thật.
Chính ông ngày nay cũng thế, nên tuy học nhiều mà không được quả Thánh.

IV.- A-NAN CẦU PHẬT CHỈ DẠY PHƯƠNG-PHÁP TU-HÀNH LẦN THỨ BA
A-Nan cùng Đại-Chúng, nghe Phật nói như vậy, đều ngẩn-ngơ và im-lặng.
Lúc bấy giờ ông A-Nan cúi đầu lạy Phật, quỳ gối chắp tay, vừa khóc-lóc vừa bạch Phật rằng :
__Con từ khi xuất-gia theo Phật đến nay, vì ỷ-lại là em của Phật, tin chắc sẽ nhờ oai-thần Phật ban cho đạo-quả, chẳng cần tu-hành cực-nhọc; không ngờ ai tu nấy chứng, không thể thay thế cho nhau được.
Hôm nay con mất "bản-tâm" đi rồi, thân tuy xuất-gia mà tâm chẳng vào đạo, chẳng khác nào đứa cùng-tử bỏ cha trốn đi.
Nay con mới biết học nhiều mà không tu, cũng như người không học, và cũng như người nói đến đủ các thức ăn, rốt cuộc trong bụng vẫn đói.
Bạch Thế-Tôn, chúng con vì hai chướng phiền-não và sở-tri ràng-buộc, nên không ngộ được chơn-tâm. Cúi xin đức Thế-Tôn thương xót kẻ bần-cùng, chỉ dạy cho con phương-pháp tu-hành, để phát-minh được tâm-tánh.

V.-PHẬT CHỈ CÁI THẤY THƯỜNG CÒN
Khi ấy Phật kêu A-Nan, dạy rằng :__Vừa rồi ông nói "thấy năm ngón tay của ta co nắm lại ". Vậy vì sao có nắm tay ? và nhờ cái gì mà có cái thấy ?
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn, nhơn bàn tay của Phật co lại năm ngón, nên mới có nắm tay, và nhờ con mắt cho nên mới có cái thấy.
Phật hỏi :__Vậy thì "không bàn tay chẳng có nắm tay, cũng như không con mắt thời chẳng có cái thấy "; so-sánh như thế có đúng không ?
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn đúng.
Phật dạy :__Không đúng hẳn ! Không bàn tay thì không có nắm tay là phải, còn không con mắt, chẳng phải cái "thấy" không có.
Ông nên ra ngoài đường hỏi thử những người mù mắt : "Các người có thấy cái gì không ?", thì họ đều trả lời với ông rằng :" Chỉ thấy tối đen". Như thế thì rõ ràng : người mù không con mắt, mà cái "thấy" cũng vẫn còn.
Đây là cái bằng chứng : Mặc dù con mắt không có, và trần-cảnh đối trước có tối và sáng khác nhau,nhưng cái thấy lúc nào cũng có ( nói cái thấy là đại-diện cho năm giác-quan ).
A-Nan thưa :__Người mù thấy tối, thì sao gọi là thấy được ?


VI.- PHẬT CHỈ TÂM LẦN THỨ NHỨT
Phật hỏi A-Nan :__Người sáng mắt ở trong nhà tối thấy tối, cùng với người mù mắt thấy tối, vậy hai cái tối đó có khác nhau không ?
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn ! Không khác.
Phật hỏi :__Người ở trong nhà tối thấy tối, nếu có người đem đèn vào, họ thấy được các vật, vậy cái đèn thấy hay con mắt thấy ?
A-Nan thưa :__Mắt thấy chớ không phải đèn thấy.
Phật dạy :__Cũng thế, người mù mắt khi lột mây rồi, thấy được các cảnh-vật, đó là tâm thấy chớ không phải mắt thấy.
Phật dạy tiếp :__Cái đèn chỉ làm cho sáng các vật, còn cái thấy là con mắt (dụ cho tâm) chớ không phải đèn (dụ con mắt). Lên một từng nữa :
con mắt chỉ làm cho tỏ rõ các vật, còn cái thấy là tâm, chớ không phải con mắt (đây là lần thứ nhứt Phật chỉ tâm).
A-Nan và đại-chúng nghe Phật giảng dạy như thế rồi, đều im-lặng, nhưng trong tâm thật chưa hiểu, nên đều kính-cẩn chắp tay, để chờ Phật chỉ dạy thêm.


LƯỢC GIẢI
Trong đoạn này, xin nói thêm tỷ-dụ này cho dễ hiểu : Con mắt của người cũng như bóng đèn điện, còn cái "thấy" của người cũng như điện. Khi dây đứt (dụ dây thần-kinh đứt) bóng hư (dụ mắt mù) thì đèn không cháy, chớ không phải điện mất (không cái thấy). Đến khi thay bóng mới nối dây lại, thì điện cháy trở lại : không phải do bóng đèn hay do dây điện mới có điện.
Cái "thấy" của người cũng thế : khi mắt bị mây che thì chỉ thấy tối, chớ không phải cái "thấy" mất, đến khi lột mây rồi, thì cái "thấy" hiện ra, không phải do con mắt mới có cái thấy. Đoạn này Phật chỉ rõ cái " Thấy " là tâm.
 
Chỉnh sửa cuối:

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
VII.- PHẬT CHỈ TÂM LẦN THỨ HAI
Khi đó Phật đưa bàn tay lên, năm ngón co lại rồi mở ra và hỏi ông A-Nan :__Ông có thấy cái gì không ?
A-Nan thưa :__Thấy Phật đưa tay lên co vào, rồi mở ra.
Phật hỏi :__Tự cái tay của ta co mở, hay "cái thấy" của ông co mở ?
A-Nan thưa :__Tự tay Phật co mở, chớ "cái thấy" của con không co mở.
Phật khen :__Phải lắm !
Phật lại phóng một đạo hào-quang trên vai phía mặt của A-Nan : A-Nan liền xoay đầu ngó về phía bên mặt. Phật lại phóng hào-quang trên vai phía trái của A-Nan ; A-Nan xoay đầu ngó qua phía trái.
Phật hỏi :__Cái đầu của ông hôm nay tại sao xoay qua lắc lại như vậy ?
A-Nan thưa :__Vì Phật phóng hào-quang trên hai vai của con, nên con xoay qua lắc lại để xem.
Phật hỏi :__Vậy cái đầu của ông lắc, hay cái thấy của ông lắc ?
A-Nan thưa :__Tự cái đầu con xoay qua lắc lại, chớ cái thấy của con không có xoay lắc.
Phật hỏi :__Cái nào động, cái nào tịnh ?
A-Nan thưa :__Cái đầu của con có động và tịnh (dừng), chớ cái thấy của con không có động và tịnh.
Phật nói :__Phải !
Phật dạy tiếp :__Cái nào có co, có mở, có động, có tịnh, có sanh, có diệt, thì cái đó là vọng, thuộc về " khách" không phải ông . Còn cái nào không động tịnh, co mở, không sanh-diệt, thì cái đó là "chơn", thuộc về "chủ ", chính là ông. Như thế, chơn và vọng rất rõ-ràng, ông còn chưa hiểu hay sao !
Tại sao từ hồi nào đến giờ, các ông cứ nhận cái vọng-thân tứ-đại giả-hợp này, cho là thật "thân" của mình; cái vọng-tưởng sanh-diệt này, cho là thật tâm của mình; cảnh vật giả-tạm, cho là thật "cảnh " của mình, mà lại bỏ cái chơn-tâm thường còn bất-sanh bất-diệt của mình sẵn có kia đi ? Bởi thế nên các ông phải nhiều kiếp snh-tử luân-hồi, thật là rất oan-uổng !


LƯỢC GIẢI
Đoạn này Phật chỉ cái "thấy" không co mở, và không sanh, diệt, động , tịnh, đó là chơn-tâm lưu-lộ.


VIII.- A-NAN CẦU PHẬT CHỈ DẠY Ở NƠI THÂN NÀY CÁI NÀO "CHƠN", VÀ CÁI NÀO "VỌNG".
Khi ấy A-Nan và đại-chúng được nghe Phật tạm chỉ "cái thấy không động tịnh co mở là tâm", nên tất cả đều hớn-hở vui-mừng, và nghỉ rằng : Từ vô-thỉ đến nay, tự mình làm mất bản-tâm, nhận cái vọng-tưởng phân-biệt theo bóng-dáng của trần-cảnh làm Tâm, ngày hôm nay mới ngộ được Tâm mình, nên hết sức vui mừng. Cũng như đứa con nhỏ khát sữa đã lâu, nay được gặp bà từ-mẫu, nên ông và đại-chúng cầu Phật chỉ rõ ở nơi thân-tâm hiện-tiền đây, cái nào chơn-thật không sanh-diệt và cái nào hư-vọng có sanh-diệt.


IX.- VUA BA-TƯ-NẶC ĐỨNG DẬY HỎI PHẬT
Khi ấy vua Ba-Tư-Nặc đứng dậy thưa Phật :__Bạch Thế-Tôn, lúc trước chưa thọ-giáo với Phật, con nghe phái ngoại-đạo Ca-chiên-Diên và Tỳ-La-Chi-Tử đều nói : " Thân này sau khi chết rồi mất hẳn, gọi là Niết-Bàn.
Hôm nay con tuy được Phật chỉ dạy, nhưng vẫn còn hồ nghi : làm sao biết rõ và chứng chắc cái tâm này không sanh-diệt. Xin Phật từ-bi chỉ dạy cho chúng con.


X.- PHẬT CHỈ TÂM LẦN THỨ BA
Phật hỏi :__Đại-Vương ! Cái thân của ông hiện-tại đây, nó bền chắc như ngọc kim-cương, còn mãi không hư-hoại, hay là phải hoại-diệt ?
Vua đáp :__Bạch Thế-Tôn, thân con ngày nay đây, rốt cuộc rồi cũng bị hoại-diệt.
Phật hỏi :__Ông chưa chết, làm sao biết nó sẽ bị hoại-diệt ?
Vua đáp :__Bạch Thế-Tôn, cái thân vô-thường của con đây, tuy chưa chết, nhưng hiện-tiền nó đã tàn-tạ dần ! Ngày qua, rồi lại ngày qua ! Mỗi niệm qua, qua từ sát-na (tít-tắc) không dừng !...Cũng như củi đốt thành tro, cháy dần cho đến lúc tiêu-tàn ! Vì thế nên con biết, thân này nhứt định sẽ tiêu-diệt.
Phật nói :__Phải !
Phật lại hỏi :__Đại-Vương ! Thân-thể ông đâu phải tiêu-diệt liền bây giờ ?
Vua đáp :__Bạch Thế-Tôn, ngày qua tháng lại, hết hạ đến đông, nó thầm thầm già chết, cho đến ngày nay, đầu bạc răng rụng, chân lỏng gối dùn, mắt lờ tai lảng, già nua đến thế này, mà con thật không hay không biết !
Bạch Thế-Tôn, khi con hai mươi tuổi, tuy nói rằng tuổi trẻ, thật ra nhan sắc đã già hơn khi mười tuổi. Khi ba mươi tuổi lại già hơn khi hai mươi tuổi. cho đến ngày nay, sáu mươi hai tuổi, lại già hơn khi năm mươi tuổi.
Nó âm-thầm già chết, lấy trong khoảng thời-gian mười năm mà nói như vậy. Nếu chín-chắn suy-nghĩ, thì cái già, chết này, không phải hạn-định trong khoảng mười năm hay hai mươi năm, mà thật ra, nó già từng năm, từng tháng, từng ngày, từng giờ. Nếu suy-nghĩ kỹ hơn nữa, thì nó già, chết từng phút, từng giây và từng sát-na (tít-tắc) ! năm nay già hơn năm rồi, tháng này già hơn tháng trước, ngày hôm nay già hơn ngày hôm qua, giờ này già hơn giờ trước, phút này già hơn phút trước, cho đến sát-na này cũng già hơn sát-na trước. Thế nên con biết, thân này rốt cuộc rồi cũng phải tiêu-diệt.


LƯỢC GIẢI
Cũng như cái đồng hồ, vì có chạy từng giây, cho nên mới qua từng phút. Bởi có đi từng phút, nên mới chỉ đến từng giờ, và ngày v.v...Thân này già chết cũng thế .

Phật hỏi :__Đại-Vương ! Ông thấy cái thân-thể của ông âm thầm già chết như thế, nên ông lo buồn; vậy ở nơi thân thể sanh-diệt, già chết này, ông có biết được cái gì chẳng sanh-diệt già chết không ?
Vua Ba-Tư-Nặc chắp tay cung kính thưa :__Bạch Thế-Tôn, con thật không biết ?
 
Chỉnh sửa cuối:

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
XI.- PHẬT CHỈ CÁI "THẤY" KHÔNG SANH DIỆT
Phật dạy rằng :__Tôi nay chỉ cho ông thấy cái không sanh-diệt .
Này Đại-Vương, khi ông mấy tuổi mới thấy được nước sông Hằng ?
Vua đáp :__Bạch Thế-Tôn ! Khi lên ba tuổi, con được mẹ bồng đến yết-kiến Thần Kỳ-Bà-Thiên (thần trường-thọ) đi ngang qua sông này, nên lúc bấy giờ con đã thấy được sông Hằng.
Phật hỏi :__Hôm nay ông thấy sông Hằng, vậy cái "thấy" đó có khác không ?
Vua thưa :__Khi con ba tuổi thấy sông Hằng, đến lúc mười ba tuổi và nay được sáu mươi hai tuổi, thấy sông Hằng cũng đều không khác.
Phật dạy :__Ngày nay ông lo buồn cho thân ông già yếu, đầu bạc mặt nhăn, không được như lúc còn trẻ. Vậy nay sáu mươi hai tuổi, ông xem thấy sông Hằng, cùng với khi còn trẻ thấy sông Hằng, cái "thấy" đó có già trẻ gì không ?
Vua Ba-Tư-Nặc thưa :__Bạch Thế-Tôn, cái "thấy" không có già và trẻ.
Phật dạy :__Này Đại-Vương, thân-thể mặt mày ông tuy già, mà cái "thấy" vẫn không già, vậy cái nào có già, thì cái ấy sẽ bị biến đổi, tiêu diệt; còn cái nào không già, thì cái đó không biến đổi sanh-diệt. Nó đã không sanh-diệt, thì đâu có bị ông làm cho nó sanh-tử luân-hồi được.
Rõ-ràng như thế, ông không hiểu sao mà còn dẫn lời của ngoại-đạo Mạt-già-lê nói : Thân này chết rồi hoàn-toàn diệt mất ?


Vua cùng đại-chúng nghe Phật dạy rồi, đều biết rằng : Người chết rồi, là tâm bỏ thân này thọ thân khác, không phải mất hẳn. Ai nấy đều hớn-hở vui mừng vì đặng lợi-ích chưa từng có.

LƯỢC GIẢI
Đoạn này Phật chỉ cái thấy không già trẻ, sanh-diệt đó là Tâm.


BÀI THỨ TƯ
I.- A-Nan cầu Phật chỉ cái "điên-đảo".
II.- Phật dẫn tỷ-dụ để chỉ rõ cái "điên-đảo".
III.- Phật chỉ ngay cái "điên-đảo".
IV.- Phật dạy : vì mê nên có thế-giới và chúng-sanh.
V.-A-Nan đã hiểu được "chơn-tâm" song chưa dám nhận.
VI.-Phật chỉ tâm lần thứ tư.
VII.- A-Nan còn nghi hỏi Phật
VIII.- Phật chỉ tâm lần thứ năm.
IX.- Phật chỉ thêm "cái thấy" là tâm chứ không phải vật.
X.- A-Nan nghi "cái thấy" có lớn, nhỏ, đứt, nối.
XI.- Phật dạy : trần-cảnh có lớn nhỏ, cái "thấy" không lớn nhỏ.
 
Chỉnh sửa cuối:

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
BÀI THỨ TƯ
I.- A-NAN CẦU PHẬT CHỈ CÁI "ĐIÊN-ĐẢO"
Khi ấy A-Nan đứng dậy lạy Phật, kính-cẩn bạch rằng :__Nếu cái thấy, nghe, không sanh-diệt này là "tâm" của chúng con, tại sao trước kia đức Thế-Tôn lại quở chúng con "bỏ mất chơn-tâm, làm việc điên-đảo "?
Cúi xin đức Như-Lai đại-từ đại-bi chỉ dạy cho chúng con biết cái "điên-đảo" ở chỗ nào .


II.- PHẬT DẪN TỶ-DỤ ĐỂ CHỈ RÕ CÁI " ĐIÊN-ĐẢO "
Khi đó Phật xuôi cánh tay chỉ xuống đất, hỏi ông A-nan rằng :__Ông thấy cánh tay của ta như thế này, là xuôi hay ngược ?
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn, các người trong thế-gian cho như thế là ngược; còn con thì không biết thế nào là ngược và xuôi.
Phật lại hỏi ông A-Nan :__Các người trong thế-gian cho như thế là ngược, thì họ cho như thế nào mới là xuôi ?
A-nan thưa :__Đức Như-Lai đưa cánh tay lên, năm ngón chỉ thẳng lên hư-không, như thế là xuôi.
Phật liền đưa cánh tay lên, rồi kêu A-Nan mà bảo rằng :__Cũng một cánh tay này chứ không chi khác, chẳng qua chỉ đổi đầu làm đuôi, đổi đuôi làm đầu mà thôi, thế mà người thế-gian, chấp thế nầy là ngược và thế kia là xuôi; điên-đảo là đấy ! Đấy là điên-đảo !
Đem một cánh tay này mà so-sánh, để chỉ rõ thêm ra :Thân Như-Lai gọi là thân Phật (giác-ngộ), thân các ông gọi là thân điên-đảo (chúng-sanh). Vậy ông nên chín chắn xem-xét : thân ông và thân Phật, cái "điên-đảo" (chúng-sanh) ở chổ nào ?


LƯỢC GIẢI
Ý Phật chỉ: đồng một thể-tánh chơn-tâm, vì vô-minh vọng-động, chấp đây thật là Phật, kia thật là chúng-sanh. Đó là "điên-đảo".


III.- PHẬT CHỈ NGAY CÁI "ĐIÊN-ĐẢO"
Khi ấy A-Nan và đại-chúng ngó Phật sửng-sốt, đôi mắt không nháy, vì không biết ở nơi thân này và tâm này, cái "điên-đảo" ở chỗ nào !
Phật thấy vậy thương-xót, mới dạy tiếp :__Ta thường nói : "Các pháp đều duy tâm biến-hiện, cho đến thân và tâm ông ngày nay, cũng đều là vật ở trong chơn-tâm hiện ra". Tại sao các ông lại bỏ cái bản-thể chơn-tâm đi. Các ông vẫn ở trong ngộ (chơn-tâm) mà trở lại đành ôm lấy cái mê (vọng) làm mình (điên-đảo là đó), thật là đáng thương !


IV.- PHẬT DẠY : VÌ MÊ NÊN CÓ THẾ-GIỚI VÀ CHÚNG-SANH
__Này A-Nan, bởi vô-minh vọng-động nên biến-hiện ra có hư-không, thế-giới và chúng-sanh. Trong thân chúng-sanh vì có vọng-tưởng lẫn-lộn, nên nó vọng động leo chuyền bên trong (như vượn, như ngựa); khi các giác-quan mở ra, thì nó rong-ruổi theo trần-cảnh bên ngoài (như vượn sút xiềng, ngựa tông chuồng). Rồi các ông chấp cái tướng vọng-tưởng lăng-xăng bên trong đó, cho là tâm tánh của mình. Một phen chấp nó làm tâm, thì không sao khỏi mê lầm cho rằng "tâm ở trong thân".
Chứ đâu biết rằng : Thân này, tâm này, cho đến núi, sông, thế-giới và hư-không đều là vật trong chơn-tâm hiện ra cả.


LƯỢC GIẢI
Như người đương thức (dụ chơn-tâm), bổng chốc buồn ngủ (dụ vô-minh). Khi ngủ chiêm-bao thấy có hư-không, thế-giới, chúng-sanh và mình (dụ vô-minh sanh ra thế-giới và chúng-sanh), rồi chấp cái thân và tâm trong chiêm-bao kia là mình, mà bỏ cả cảnh thức-tỉnh rộng lớn này đi v.v.. (dụ như vì mê-muội nên nhận cái vọng-thân vọng-tâm này làm mình, nên thấy cảnh này là thật, mả bỏ cả toàn-thể chơn-tâm sáng-suốt rộng lớn kia ).

*
__Cái chơn-tâm rộng lớn như vậy, các ông lại bỏ đi không nhận, trở lại chấp cái vọng-thân, vọng-tâm này cho là thật của mình. Cũng như toàn-thể bể cả rộng khơi trong trẻo kia không nhận, trở lại chấp một hòn bọt nhỏ-nhen cho là toàn-thể bể cả, thật là điên-đảo! Các ông là một trong vô-số người mê-muội, thật đáng thương-xót !
Như, cũng một cánh tay của ta, mà chấp thế này là ngược, thế kia là xuôi, cũng đồng một loại điên-đảo !
 
Chỉnh sửa cuối:

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
V.- A-NAN ĐÃ HIỂU ĐƯỢC "CHƠN-TÂM" SONG CHƯA DÁM NHẬN
Ông A-Nan vì thấy lòng từ-bi tha-thiết của Phật thương xót hết sức nồng-hậu, chỉ dạy rất thâm-trầm, nên cảm-động rơi nước mắt, kính-cẩn bạch Phật rằng :
__Con tuy nhờ Phật chỉ dạy cho hiểu được chơn-tâm, nhưng hiện nay con vẫn còn dùng "cái tâm phân-biệt" (vọng-tâm) để nghe lời Phật nói, rồi ngộ suông cái chơn-tâm này mà thôi, nên chưa dám nhận chắc là tâm của con. Vậy cúi xin Phật thương-xót chỉ dạy cho con hết nghi-ngờ, để trở về với đạo vô-thượng.
Phật dạy :__Nếu các ông lấy vọng-tâm nghe chánh-pháp (chơn-tâm) thì chánh-pháp này cũng trở thành ra vọng, không thể nghe đặng chánh-pháp.
Các ông nên biết : Ta cũng như người dùng ngón tay chỉ mặt trăng, các ông phải nhơn ngón tay mà xem mặt trăng. Nếu chấp ngón tay cho là mặt trăng, thì chẳng những không thấy được mặt trăng, mà cũng không biết luôn cả ngón tay. Vì cho ngón tay là mặt trăng, thì không những không biết ngón tay là gì, mà cũng không biết thế nào là tốí và sáng. Vì mê chấp ngón tay là mặt trăng, thì tối và sáng làm sao rõ được.
Nay nếu các ông chấp cái "phân-biệt" (vọng) làm tâm của mình, thì cái tâm này, khi rời tiếng nói pháp của ta, cũng vẫn còn phân-biệt, thế mới phải thật là tâm của các ông (chủ). Nếu rời tiếng nói pháp của ta ra, mà các ông không còn phân-biệt nữa, thì đó là vọng (khách) chớ không phải thật tâm (chủ) của các ông rồi.
Cũng như người khách, chỉ ngủ nhờ rồi đi , chớ không ở lại được. Nếu thật là chủ nhà, thì ở luôn chớ không còn đi đâu nữa.
Cũng thế, nếu thật là tâm của ông, thì không đi đâu cả. Tại sao khi rời tiếng nói pháp của ta, thì ông không còn phân-biệt nữa ?
Không những cái "phân-biệt" về tiếng, cho đến cái "phân-biệt" về sắc, hương, vị, xúc và pháp, nếu rời sáu-trần cảnh ra, thì nó đều không còn phân-biệt nữa. Thế thì cái tâm của ông đồng là khách, có chỗ trả về. Vậy cái nào là "chủ", thật là tâm của ông ?
A-Nan hỏi Phật :__Nếu cái tâm của con có chỗ trả về (trần-cảnh qua thì tâm phân-biệt hết) thì tại sao đức Như-Lai lại nói :" cái chơn-tâm của con không trả về đâu cả ?" Xin Phật mở lòng từ-bi chỉ dạy cho.

IV.- PHẬT CHỈ TÂM LẦN THỨ TƯ
Phật dạy :__Này A-Nan, tất cả cảnh-vật trong thế-gian không ngoài : sáng, tối, trống, bít, trong, đục v.v...Nay ta đem các vật này, cái nào trả về cho bản-nguyên của cái nấy.
Như ánh-sáng thì trả về cho mặt nhựt, vì không mặt nhựt thì không sáng; còn tối thì trả về cho ban đêm, thông trả về cho trống, bít trả về cho vách, trong trả về cho tịnh, đục trả về cho bụi v.v...Cái nào trả về cho cái nấy rồi; còn cái "thấy" của ông thấy các cảnh vật đó, ông muốn trả nó về đâu ? Nếu trả về cho cái sáng, thì khi tối đến đáng lẽ ông không thấy tối. Nếu trả nó về cho cái tối, thì khi sáng đến đáng lẽ ông cũng phải không thấy sáng; còn trả về cho trống, bít v.v...cũng thế.
Rõ-ràng các cảnh-vật tuy có thiên sai vạn biệt, mà "cái thấy" của ông thật không sai khác. Như vậy, cái nào có thể trả được, thì cái đó là khách, tự nhiên không phải là ông rồi; còn cái nào ông không thể trả được, thì cái đó là chủ, quyết-định của ông chớ ai ?
Cái tâm của ông mầu-nhiệm sáng-suốt và sẵn sàng như vậy, tại sao ông lại tự mê-muội đi, trở lại nhận cái vọng làm mình, đành chịu nổi chìm trong biển khổ sanh-tử, thật đáng thương-xót !


LƯỢC GIẢI
Đoạn này Phật phân-tách các trần-tướng, cái nào trả về cái nấy, để cho rõ "cái thấy" không trả về đâu được. Đó là "chủ", là "tâm" của chúng ta vậy.
*

VII.- A-NAN CÒN NGHI HỎI PHẬT
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn, con tuy biết cái "thấy" này, không trả về đâu được, nhưng làm sao biết chắc nó là "chơn-tâm" của con ?
 
Chỉnh sửa cuối:

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
VIII.-PHẬT CHỈ TÂM LẦN THỨ NĂM
Phật dạy rằng :__Này A-Nan, nay ông thử xem trước mắt, tất cả các cảnh-vật sum-la vạn-tượng, nào là núi sông, đất nước v.v... Ông nên lựa riêng ra cái nào thuộc về cảnh-vật, còn cái nào là tâm ông.
Này A-Nan, cùng tột tầm mắt thấy của ông, ngó lên thì thấy mặt trời, mặt trăng, đó là vật chớ không phải ông; xem rộng ra, núi sông, cây-cối, cỏ hoa, người thú; cho đến gió bụi, chim-chóc cũng đều là vật chớ không phải ông.
A-Nan, tất cả các cảnh-vật, mặc dù có cao thấp, xa gần, ngàn sai muôn khác, song cũng đều là "vật bị thấy" của ông cả. Các vật loại tuy có sai khác, mà cái "thấy" của ông không khác. Thế thì cái "thấy" này chính là "tâm" của ông chớ không phải vật.

LƯỢC GIẢI
Đoạn này Phật chỉ tâm rất rõ-ràng.

IX.-PHẬT CHỈ THÊM "CÁI THẤY" LÀ TÂM CHỚ KHÔNG PHẢI VẬT
Nếu cái "thấy" này là vật, thì ông cũng có thể thấy được cái "thấy" của ta.
Nếu ông cùng ta đồng thấy một vật, (bị thấy) mà ông cho là thấy được "cái thấy" của ta, thời khi ta không thấy, sao ông chẳng thấy được cái "không thấy" của ta ? (vì cái thấy không phải vật nên chẳng thấy được nó ).
Nếu ông nói : thấy được cái "không thấy" của ta, thì ông thấy cái gì đó, chớ quyết-định không phải là thấy cái "không thấy" (tâm) của ta. Nếu ông không thấy được cái "không thấy" của ta, thì quyết-định nó là "tâm", đương nhiên không phải vật rồi.
Lại nữa, nếu cái thấy là vật, thì khi ông thấy nó, nó cũng phải thấy được ông. Như vậy, thời tâm, vật lộn-lạo; và trong thế-gian này, không thể phân-biệt được loài hữu-tình (tâm), và loài vô-tình (vật).

LƯỢC GIẢI
Đại ý đoạn này Phật nói "vật" thì bị thấy, còn "tâm" thì không bị thấy. Bởi cái thấy là "tâm", nên không thể thấy được nó.

__Này A-Nan, khi ông thấy các cảnh-vật, cái "thấy" của ông khắp-giáp tất cả, cái thấy đó không phải của ta và của người khác, thì quyết-định của ông chớ ai ?
Rất rõ-ràng như thế, tại sao ông còn nghi "chơn-tâm" của ông ? Cái "chơn-tâm" của ông như vậy, sao ông không tự nhận lấy, lại đi cầu ta chỉ "chơn-tâm" cho nữa ?

LƯỢC GIẢI
Đoạn này, Phật chỉ tâm rõ-ràng hơn hết.

X.- A-NAN NGHI "CÁI THẤY" CÓ LỚN NHỎ, ĐỨT NỐI
A-Nan thưa Phật :__Bạch Thế-Tôn nếu cái "thấy" này quyết-định là tâm của con, chớ không phải của ai, thì khi con xem vũ-trụ bao-la, thấy mặt trời, mặt trăng v.v... lúc bấy giờ cái thấy của con rộng lớn khắp giáp cả hư-không. Khi con trở vào trong nhà, thì chỉ thấy nội trong nhà thôi.
Vậy cái thấy này nó phải rút nhỏ lại, chun vào nhà, hay là khi vào nhà, nó bị tường vách cắt đứt, nên còn nhỏ như thế ? Chúng con không biết nghĩa này thế nào, xin Phật từ-bi chỉ dạy.
 
Chỉnh sửa cuối:

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
XI.- PHẬT DẠY : TRẦN-CẢNH CÓ LỚN, NHỎ, CÁI "THẤY" KHÔNG LỚN, NHỎ
Phật dạy :__"Nầy A-Nan, trong thế-gian tất cả cảnh-vật có lớn, nhỏ, trong, ngoài, tốt, xấu v.v...đều thuộc về trần-cảnh hiện-tiền cả, chớ không phải cái thấy của ông có lớn, nhỏ, tóp lại hay nới ra.
Cũng như trong cái hộp vuông, thì thấy hư-không vuông, trong cái chén tròn, hộp vuông, nên thấy hư-không có vuông và tròn, chớ không phải hư-không thật có tướng vuông tròn.
Nếu hư-không quyết-định là vuông, thì khi để cái chén tròn, đáng lẽ không thấy hư-không tròn.
Trái lại, nếu hư-không quyết-định là tròn, thì khi để hộp vuông, đáng lẽ không thấy nó vuông.
Vậy nên biết : vuông, tròn là tại đồ vật, chớ không phải hư-không có vuông, tròn. Nếu phá hết các đồ vuông, tròn, thì ông sẽ thấy hư-không không có tướng vuông, tròn. Không phải bỏ hư-không vuông mà có hư không tròn, hay trừ hư-không tròn mà có hư-không vuông.
Cái "thấy" của ông cũng thế, không có vuông tròn hay lớn nhỏ, mà lớn nhỏ, vuông tròn là tại cảnh-vật.
Nếu ông cho khi vào nhà, cái "thấy" quyết-định phải tóp nhỏ lại, thì khi ông ra ngoài sân xem mặt nhựt, ông phải kéo giãn nó ra đến mặt nhựt hay sao ?
Lại nữa, khi vào nhà, nếu ông cho cái thấy bị cắt đứt đi, thì khi xoi vách trống ra một lỗ, thấy được bên ngoài, sao cái thấy của ông không có dấu nối ?
Nghĩa đó rất rõ-ràng như vậy, chớ có chi lạ mà ông nói không biết.
A-Nan, tất cả chúng-sanh từ vô-thỉ đến giờ vì mê mình (tâm) làm vật, bỏ mất chơn-tâm của mình, bị cảnh vật xoay chuyển (chi-phối) nên thấy có lớn nhỏ, rộng hẹp, tốt xấu v.v... Nếu ai chuyển xoay được cảnh-vật, thân tâm đặng sáng-suốt viên-mãn, thì đồng với chư Phật. Lúc bấy giờ không rời nơi đạo-tràng, (chỗ này) mà ở trên đầu một mảy lông, có thể chứa đựng khắp cả mười phương thế-giới.


LƯỢC GIẢI
Từ nơi thể-tánh chơn-tâm, vì vô-minh vọng-động, sanh ra có hư-không thế-giới, chúng-sanh cùng các cảnh-vật, nên gọi "mê mình làm vật".
Khi có cảnh-vật rồi, cứ theo đó mà phân-biệt xấu tốt, lớn nhỏ, mừng giận v.v... nên nói "bị vật chuyển xoay".
Đến khi hết vô-minh vọng-động, trở lại với thể-tánh chơn-tâm, thì các cảnh vật ấy không còn : như người thức giấc chiêm-bao, thì cảnh chiêm-bao kia hết, nên nói "xoay chuyển vật" là thế.
Lúc bấy giờ, một sợi lông hay mười phương thế-giới cũng đều là chơn-tâm cả. Đã đồng là chơn-tâm, thì không còn thấy thế-giới lớn hơn sợi lông, hay sợi lông nhỏ hơn thế-giới, vì đồng một thể-tánh nên nói :"Trên đầu một sợi lông, có thể chứa đựng mười phương thế-giới ".
Đoạn này lý thâm, phải suy-nghỉ nhiều mới hiểu.
 

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
BÀI THỨ NĂM
I.- A-nan nghi : Nếu "cái thấy" là mình, thì tâm này là ai ?
II.- Cái thấy rời tất cả tướng.
III.- Cái thấy tức tất cả Pháp.
IV.- Phật trấn-tĩnh đại-chúng.
V.- Ngài Văn-Thù đứng lên thưa hỏi.
VI.- Phật dạy :Cái thấy không có "Thị" và "Phi-thị"
VII.- A-Nan nghi : Chơn-tâm đồng với thuyết tự-nhiên của ngoại-đạo.
VIII.- Phật bác cái chấp "tâm tự-nhiên mà có".
IX.- A-Nan nghi : Tâm do "nhơn-duyên sanh".
X.- Phật bác cái chấp "nhơn-duyên sanh".
XI.- Phật dạy : Chơn-tâm không thể dùng tâm suy-nghĩ hay lời nói luận bàn được.
XII.- A-Nan trở lại nghi " nhơn-duyên sanh".
XIII.- Phật gạn hỏi lại "cái thấy" để chỉ rõ chơn-tâm.
XIV.- Phật chỉ cái "thấy" không phải vọng, song chưa phải là chơn-tâm.
XV.- Phật chỉ tâm lần thứ sáu.

BÀI THỨ NĂM
I.- A-NAN NGHI : NẾU "CÁI THẤY" LÀ MÌNH, THÌ THÂN TÂM NÀY LÀ AI ?
A-Nan thưa Phật :__Bạch Thế-Tôn ! Nếu "cái thấy" này thật là "tâm" con, thì thân tâm của con hiện nay đây là ai ? Và nếu "cái thấy" thật của con, thì nó phải hiện ở trước, khiến cho con thấy được nó.
Lại nữa, thân tâm của con hiện nay đây, biết phân-biệt được nó (cái thấy), còn nó không biết phân-biệt được thân tâm con. Xin đức Thế-Tôn mở lòng đại-bi chỉ dạy cho kẻ chưa ngộ.

II.- CÁI THẤY (TÂM) RỜI TẤT CẢ HÌNH TƯỚNG
Phật dạy A-Nan :__Ông nói "cái thấy phải ở trước mặt để ông thấy"; nói như vậy không phải, vì nếu "cái thấy" thật ở trước mặt ông, ông thấy được nó, thì "cái thấy" đó ở chỗ nào phải có nhất-định và phải chỉ ra được.
Nay ông ngồi trong rừng Kỳ-Đà, xem các cảnh-vật, đưa tay chỉ ra từng món : chỗ im-mát kia là rừng cây, cái sáng chiếu nọ là mặt nhựt, nơi ngăn-ngại này là vách, chỗ trống đó là hư-không; cho đến cỏ cây hoa lá, các vật lớn nhỏ tuy khác, song đều có hình-tướng, có thể chỉ ra được cả. Còn "cái thấy" nếu nó thật ở trước mắt ông, thì ông nên lấy tay chỉ chắc-chắn, cái nào là cái "thấy". Nếu hư-không là cái "thấy", thì cái gì là hư-không ? Còn nếu cảnh-vật là cái "thấy", thì cái gì là cảnh-vật ? Đối với các cảnh-vật sum-la vạn-tượng, ông nên chín-chắn phân-tích rõ-ràng, rồi chỉ cho ta xem, cái nào là cái "thấy" cũng như chỉ các vật, không có lầm-lộn.
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn ! Con mở tầm con mắt và đưa tay chỉ khắp tất cả, thì đều là "vật" chớ không có cái nào là cái "thấy". Dù cho bực Bồ-tát cũng không thể phân-tích ở nơi muôn vật để chỉ riêng cái "thấy" ra được; huống chi chúng con là hàng sơ-học Thinh-văn, làm sao chỉ được.
Phật dạy :__Phải lắm !

LƯỢC GIẢI
Tâm không phải các hình-tướng, cũng như vàng không phải là vòng, kiềng, xoa, xuyến v.v...

III.-CÁI THẤY (TÂM) TỨC TẤT CẢ PHÁP
Phật dạy rằng :__Này A-Nan ! Như lời ông nói: " trong các cảnh-vật, không thể chỉ riêng cái "thấy" ra được "; vậy nay ông đứng trước các cảnh-vật chỉ lại coi, cái nào không phải là cái "thấy" ?
A-Nan thưa :__Con hiện đang xem tất cả các cảnh-vật, không biết cái nào không phải cái "thấy". Nếu rừng cây kia không phải cái "thấy", thời làm sao thấy được rừng cây. Còn rừng cây là cái "thấy", thì sao gọi là rừng cây. Lại nữa, hư-không nếu không phải là cái "thấy", thì làm sao thấy được hư-không. Còn nếu hư-không tức là cái "thấy", thì sao lại gọi là hư-không. Con chín-chắn suy-nghĩ : Cái nào cũng là cái "thấy" cả.
Phật dạy :__Phải lắm !
Khi đó đại-chúng nghe lời Phật nói như vậy đều hoang-mang lo sợ, vì không biết nghĩa ấy thế nào.

LƯỢC GIẢI
Tâm đã sanh ra các pháp, thì pháp nào cũng là tâm cả; cũng như vàng đã làm ra tất cả đồ trang-sức thì món nào cũng là vàng cả.

IV.- PHẬT TRẤN-TĨNH ĐẠI-CHÚNG
Phật thấy A-Nan và đại-chúng hoang-mang, sợ-hãi, nên sanh tâm thương-xót, liền an-ủi A-Nan và đại-chúng rằng :
__Như-Lai nói chơn-thật, chẳng dối-trá, không phải như chúng ngoại-đạo Mạc-già-lê, nói-năng rối loạn không nhận-định đâu. Các ông nên bình-tĩnh và chín-chắn suy-xét lại, chớ để cho Như-Lai thêm lòng thương-xót.
 

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
V.- NGÀI VĂN-THÙ ĐỨNG LÊN THƯA HỎI
Khi ấy Ngài Văn-Thù Sư-Lợi Pháp-vương-tử thương cả bốn chúng, nên đứng dậy lạy Phật, cung-kính chắp tay và thưa rằng :
__Bạch Thế-Tôn ! Trong đại-chúng đây chưa hiểu cái nghĩa : Các cảnh vật là cái "thấy" hay không phải cái "thấy".
Bạch Thế-tôn ! các cảnh vật hiện tiền đây, nếu là cái "thấy", thì phải chỉ ra được ; còn nếu không phải cái "thấy", thì đáng lẽ không thể thấy được. Vì trong đại-chúng không hiểu nghĩa này thế nào, cho nên mới sợ-hãi, hoang-mang. Cúi xin đức như-Lai duỗi lòng từ-bi chỉ dạy cho biết : các cảnh vật hiện-tiền đây, cùng với cái "thấy" này, nguyên là cái gì ? (trong đây không có cái "phải" và "không phải" ).

LƯỢC GIẢI
Đoạn này lý thâm, nên Ngài Văn-thù mới đứng lên thưa hỏi : người học phải xét nhiều mới hiểu được.
Nói cảnh-vật và cái thấy, tức là chỉ cả vật chất với tinh-thần đồng một thể-tánh chơn-tâm. Vì chơn-tâm thì không thể suy-nghĩ và luận bàn được, phải tự ngộ mà thôi, nên nói "nguyên nó là cái gì ?" (vì không thể nói ra được ). Bởi nó rời đối-đãi thị-phi, nên nói "trong đó không có cái phải và không phải".

VI.- PHẬT DẠY : CÁI "THẤY" KHÔNG CÓ "PHẢI" VÀ "KHÔNG PHẢI" (THỊ, PHI THỊ)
phật kêu Ngài Văn-Thù và đại-chúng, dạy rằng :__Mười phương các đức Phật và các vị đại Bồ-tát an-trụ trong chơn-tâm rồi, thời không còn thấy thật có các cảnh-vật là căn,trần, thức nữa. Cái thấy cùng với cảnh-vật bị thấy, nguyên là "chơn-tâm". Đã là chơn-tâm, thì đâu còn có "phải" hay "không phải" nữa. Như ông là Văn-Thù, vậy có thể nói ông là "thật" Văn-Thù hay "không thật" văn-thù được không ?
Văn-Thù thưa :__Bạch Thế-Tôn ! Chính như thế đó, con là Văn-Thù rồi, thì không thể nói "thật Văn-Thù" được; vì nếu nói "thật Văn-Thù", thì phải có ông Văn-Thù giả (thứ hai). Song con nay đã là Văn-thù rồi, thì không thể nói "thật" hay "không thật" được.

LƯỢC GIẢI
Chơn-tâm không hai, nên không còn thị và phi đối-đãi; không thể nói "quấy" đã đành, mà nói "phải" cũng không được nữa. Bởi vì nó ngoài vòng đối-đãi, cũng như ông Văn-Thù là Văn-Thù, không thể nói "thật" hay "không thật" được.

Phật dạy :__Cái thấy cùng với cảnh-vật bị thấy cũng lại như vậy, đều là thể-tánh chơn-tâm, vọng-động mà có ra; thấy nghe và các cảnh-vật. Nó cũng như mặt trăng thứ hai, đâu có gì mà nói "phải" hay "không phải". Nghĩa là chỉ có một mặt trăng chánh, (chơn-tâm) trong đó không có cái "phải" mặt trăng hay "không phải" mặt trăng.
Nay ông thấy có cái "thấy" và "cảnh-vật bị thấy" đó là vọng-tưởng; còn đối với thể-tánh chơn-tâm, thì không còn nói phải hay không phải được. Bởi thế nên chơn-tâm nó ra ngoài cái phạm-vi "chỉ bày" và "không chỉ bày" của ông rồi.

LƯỢC GIẢI
Suy-nghĩ không tới, nói-năng không nhằm. Đại-ý đoạn này nói: Chỉ có một chơn-tâm, không thể nói phải hay không phải, nó vượt ra ngoài sự đối-đãi và nói năng phân-biệt.
Vì vọng-động mà sanh ra có vật-chất (cảnh) và tinh-thần (tâm). Cũng như chỉ có một mặt trăng chánh, không thể nói phải mặt trăng hay không phải mặt trăng; vì loà mà thấy in tuồng có mặt trăng thứ hai.

VII.- A-NAN NGHI "CHƠN-TÂM" ĐỒNG VỚI THUYẾT "TỰ-NHIÊN" CỦA NGOẠI-ĐẠO
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn ! Ngày trước Phật ở tại núi Lăng-Già, có dạy cho ông Đại-Huệ Bồ-tát v.v...rằng : "các chúng ngoại-đạo kia thường chủ-trương thuyết "tự-nhiên sanh", còn ta thời nói "các pháp do nhơn-duyên sanh" nên không đồng với thuyết của các ngoại-đạo kia ".
Hôm nay nghe lời Phật dạy, thì con hiểu cái "chơn-tâm" này in như tự-nhiên mà có, chớ không phải "nhơn-duyên sanh"; vì nó rời tất cả các vọng-tưởng điên-đảo, không sanh, không diệt. Cúi xin Phật từ-bi chỉ dạy cho con ngộ được chơn-tâm thường-trụ này, mà không lạc vào thuyết "tự-nhiên" của các tà-đạo.

LƯỢC GIẢI
Cái chơn-tâm này, nó tuyệt đối-đãi, ngoài thị và phi. Nếu còn chấp có, không, thị và phi, nhơn-duyên hay tự-nhiên v.v... đều không trúng cả. Song chúng-sanh vì cái mê-chấp nhiều đời, cũng như cây chuối nhiều bẹ, lột hết bẹ này, thì bày ra bẹ khác. Phật vừa bác xong thị và phi, thì ông A-Nan liền chấp nhơn-duyên và tự-nhiên v.v...Than ôi ! Lưới mê nhiều đời chồng-chập, thật khó trong một lúc vẫy-vùng ra khỏi !
 

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
VIII.- PHẬT BÁC CÁI CHẤP "TÂM TỰ-NHIÊN MÀ CÓ"
Phật dạy rằng :__Ta đã dùng nhiều phương-tiện và thành-thật chỉ dạy cho ông tường tất như thế, mà ông cũng chưa hiểu ngộ, lại còn mê-muội chấp là tự-nhiên nữa.
A-Nan, nếu thật tự-nhiên, thì ông phải chỉ rõ cái "thấy" này, lấy gì làm cái thể tự-nhiên của nó ? Lấy cái "sáng" làm tự-nhiên hay lấy cái "tối" làm tự-nhiên ? Lấy cái "trống không" làm tự-nhiên hay lấy cái "ngăn bít" v.v... làm tự- nhiên ?
A-Nan, nếu lấy cái "sáng" cho là tự-nhiên cái thể của nó như vậy, thì khi tối lại, đáng lẽ ông không thấy được tối. Cho đến lấy cái "tối" v.v... làm thể tự-nhiên của nó, thì khi sáng đến, cái thấy của ông phải mất, làm sao thấy được cái sáng v.v...

IX.- A-NAN LẠI NGHI TÂM DO NHƠN-DUYÊN SANH
A-Nan thưa :__Bạch Thế-Tôn ! Cái thấy này nếu không phải tự-nhiên mà có, thì chắc do nhơn-duyên sanh. Con hiểu như vậy chẳng biết có phải không ? Xin đức Thế-Tôn từ-bi chỉ dạy.

X.-PHẬT BÁC CÁI CHẤP "NHÂN-DUYÊN SANH"
Phật bác rằng :__Ông nói "nhơn-duyên sanh".Vậy nay ta hỏi ông, cái thấy này là nhơn-duyên cái sáng mà có, hay nhơn-duyên cái tối mà có ? nhơn-duyên cái trống không mà có, hay nhơn-duyên cái ngăn bít v.v...mà có ?
A-Nan nếu nhơn-duyên cái sáng mà có, thì khi tối đến, ông phải không thấy được cái tối; còn nhơn-duyên cái tối, cái trống, cái bít v.v... cũng vậy.

XI.- PHẬT DẠY : CHƠN-TÂM KHÔNG THỂ SUY-NGHĨ VÀ LUẬN-BÀN ĐƯỢC
Phật dạy :__A-Nan ! Ông phải biết :Cái thấy (tâm) này không phải "nhơn", không phải "duyên", không phải "tự-nhiên", và cũng không phải "không tự-nhiên", không cái "phi", không cái "bất phi", không cái "thị", không cái "phi thị"; nó rời tất cả tướng, mà chính là tất cả pháp. Như thế thời ông làm sao để tâm suy-nghĩ cho tới, dùng lời nói luận-bàn cho kịp và gọi nó bằng thứ gì được. (Ly ngôn-thuyết tướng, ly tâm-duyên tướng, ly danh-tự tướng).
Nếu ông để tâm suy-nghĩ và dùng lời nói luận-bàn, thì cũng như người quơ tay chụp bắt hư-không; chỉ thêm mệt nhọc, chớ làm sao mà chụp bắt hư-không cho được.

LƯỢC GIẢI
Đến chỗ cao-siêu tuyệt-diệu thì không còn suy-nghĩ,luận-bàn được; nếu còn suy-nghĩ luận-bàn được thì không phải là cao-siêu tuyệt-diệu.
Bởi thế nên đức Thích-Ca đóng cửa thất tại nước Ma-kiệt, ông Duy-ma-cật ngậm miệng tại thành Tỳ-da, Tổ Đạt-ma ngồi tại chùa Thiếu-lâm, day mặt vô vách 9 năm, không nói một lời, đều vì cái lý đạo cao-siêu, không thể luận-bàn được.
 

bangtam

Phó Trưởng Ban Đại Biểu Thường Trực nhiệm kỳ III (
Thành viên BQT
Tham gia ngày
15 Tháng 7 2010
Bài viết
2,825
Reaction score
832
Điểm
113
XII.- A-NAN TRỞ LẠI NGHI "NHƠN-DUYÊN SANH"
A-Nan thưa Phật :__Bạch Thế-tôn ! Cái "thấy" này nếu không phải "nhơn" không phải "duyên", tại sao đức Thế-tôn thường cùng với các thầy Tỳ-kheo nói :" Cái thấy phải đủ bốn duyên mới sanh"; như nhơn hư-không, ánh-sáng, tâm và con mắt mới sanh. Vậy nghĩa này thế nào ?
Phật dạy rằng :__Này A-Nan, ta nói thuyết nhơn-duyên, là đứng về phần sự-tướng (hiện-tượng), chỉ các pháp trong thế-gian mà nói, chớ không phải chỉ cho lý tánh tuyệt đối (bản-thể) vậy.

LƯỢC GIẢI
Về phương-diện pháp-tướng (mượn danh-từ triết-học nói cho dễ hiểu, gọi là phần hiện-tượng) nói về "thức", thì Phật nói có căn, trần, thức và nhơn-duyên v.v...Còn đứng về phương-diện pháp-tánh (mượn danh-từ triết-học nói cho dễ hiểu, gọi là phần bản-thể) thì không còn danh-tướng, nói-năng kêu gọi hay suy-nghĩ được.
Bởi thế nên trong kinh, Phật nói : "Đạo ta cao-siêu không thể suy-nghĩ và luận-bàn được". Kinh này là nói về lý-tánh tuyệt-đối.

XIII.- PHẬT GẠN HỎI LẠI "CÁI THẤY" ĐỂ CHỈ RÕ CHƠN-TÂM
Phật hỏi :__Này A-Nan ! Bây giờ ta hỏi ông : Người đời thường nói "tôi thấy". Vậy thế nào là "thấy" và thế nào là "không thấy" ?
A-Nan thưa :__Người đời nhơn có ánh-sáng mới thấy được các vật, thì gọi là "thấy"; còn không có ánh-sáng, chẳng thấy các vật, thì bảo rằng "không thấy".
Phật dạy :__Nếu không có ánh-sáng mà bảo là không thấy, thì khi tối đến đáng lẽ ông cũng không thấy được cái "tối" ? Còn như ông thấy được cái "tối", thì khi đó chẳng qua không có ánh-sáng mà thôi, chớ sao lại nói "không thấy" ?
Lại nữa, nếu khi tối ông không thấy được cái"sáng", mà ông cho là không thấy, thì khi sáng ông không thấy được cái "tối", đáng lẽ cũng phải bảo là không thấy mới phải. Như vậy, thời "tối" và "sáng" cả hai đều phải bảo là "không thấy" hết.
Bởi thế, ông nên biết :"tối" và "sáng" hai món trần-tướng nó tự thay-đổi với nhau, còn cái "thấy" của ông lúc nào cũng có. Vậy thì thấy "tối" và "sáng" đều gọi là thấy cả, tại sao khi thấy tối, ông nói "không thấy" ?

XIV.- PHẬT CHỈ CÁI THẤY KHÔNG PHẢI VỌNG, SONG CHƯA PHẢI LÀ CHƠN-TÂM
(Đoạn này nguyên ở trước, nay dịch-giả đem lại đây cho thuận nghĩa).
Phật dạy A-Nan rằng :__Cái "thấy" của ông đó, không phải là vọng, song chưa phải là "chơn-tâm". Nó cũng như mặt trăng thứ hai (do loà con mắt mà có) tuy không phải bóng mặt trăng dưới nước, nhưng chưa phải là mặt trăng chánh.

LƯỢC GIẢI
Mặt trăng chánh là dụ cho chơn-tâm, mặt trăng thứ hai là dụ cho cái thấy, nghe v.v... các cảm-giác về phần trực-giác. Bóng mặt trăng là dụ cho vọng-tưởng phân-biệt.
Đại-ý đoạn này Phật nói cái "thấy" không phải vọng-tâm, nhưng cũng chưa phải là chơn-tâm, nghĩa là nó gần với chơn-tâm mà thôi. Cũng như mặt trăng thứ hai do loà con mắt mà có; nó không phải bóng mặt trăng dưới nước, nhưng cũng chưa phải là mặt trăng chánh.

Phật dạy :__A-Nan, ông phải biết : khi ông thấy sáng, thì cái "thấy" của ông không phải là cái "sáng"; khi ông thấy tối, cái "thấy" của ông không phải là cái "tối"; khi ông thấy trống không, cái thấy của ông không phải là cái "trống không"; khi ông thấy ngăn bít, cái "thấy" của ông cũng không phải là cái "ngăn bít".

LƯỢC GIẢI
Nói "cái thấy" chớ kỳ thật là chỉ chung cho cả "cái nghe, hay, biết". Nói "sáng, tối, trống, bít" là chỉ chung cho các cảnh-vật.
Đại-ý đoạn này nói : Khi thấy các cảnh-vật, thì "cái thấy" không phải là cảnh-vật.

XV.- PHẬT CHỈ CHƠN-TÂM LẦN THỨ SÁU
Phật dạy :__Ông đã hiểu rõ bốn nghĩa này rồi, ông nên hiểu thêm lên từng nữa : Khi "chơn-tâm đã khởi ra cái "thấy" (các cảm-giác), thì cái "thấy" không phải là "chơn-tâm"; cái "thấy" còn cách biệt với chơn-tâm, (vì còn một lớp mê), cái "thấy" không thể bì kịp với "chơn-tâm". (Đoạn này Phật mới chỉ chính cái chơn-tâm).

LƯỢC GIẢI
Mượn danh-từ triết-học nói cho dễ hiểu : Khi bản-thể (tâm) khởi ra hiện tượng (các cảm-giác), thì hiện-tượng không phải là bản-thể, hiện-tượng còn cách-biệt với bản-thể, hiện-tượng không thể bì kịp bản-thể. Cũng như khi nước đã biến thành sóng, thì sóng không phải hoàn-toàn là nước, sóng còn sai-biệt với nước (vì bị gió xao-động) sóng không thể bì kịp với nước.
Đành rằng "tâm" cùng với cái "thấy" v.v...không hai, nhưng vì mê nên tâm biến thành ra các cảm-giác thấy, nghe hay biết. Lúc bấy giờ cái thấy, nghe hay biết, không phải là chơn-tâm.Ngộ rồi thì cái thấy, nghe hay biết mới phải là "chơn-tâm". Song khi chưa ngộ thì không thể nói cái thấy, nghe v.v... các cảm-giác là chơn-tâm được.
Cũng như nước với sóng không khác, nhưng vì gió động nên nước biến thành sóng; lúc bấy giờ sóng không phải là nước; nước cách-biệt với sóng. Đến khi hết gió xao-động, thì sóng đó trở lại thành nước. Nhưng khi còn động thì không thể nói sóng đó là nước.

__Như thế thời, ông làm sao lại nói là "nhơn-duyên, tự-nhiên, hoà-hợp và phi hoà-hợp" được. Các ông là hàng Thinh-văn, trí-thức hẹp-hòi, không thông-hiểu được thật-tướng (chơn-tâm). Ta đã chỉ dạy nhiều lần rồi, vậy các ông nên khôn-khéo suy-nghĩ và cố-gắng tiến lên tu-hành, chớ nên giải-đãi trên con đường Bồ-đề.
 
Top