4 Pháp Ấn

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,481
Điểm tương tác
1,744
Điểm
113
Phần IV

* Bản thể (Chân Như).


Một trong các ý nghĩa quan trọng của Chân Như là "Bản Thể".

Bản Thể là gì ?

Trích: VŨ TRỤ VẠN HỮU BẢN THỂ LUẬN

(Lời đầu của luận giả )

Không gian vô biên khắp cả mười phương là vũ, thời gian vô cùng tận quá khứ, hiện tại và vị lai là trụ.

Hữu vi, vô vi, sắc tâm, nhiễm tịnh, tất cả vạn pháp đều gọi là vạn hữu.

Tất cả vạn pháp từ xưa cho tới nay tịch diệt vắng lặng, vốn không sanh diệt, tồn tại không lay chuyển, cùng một thể với hư không trong mọi thời, cùng một chân như pháp tánh, cái đó gọi là bản thể.

Vạn hữu từ tướng trạng mà nói; bản thể từ phương diện lý tánh mà nói, cũng gọi là thật tướng của chư pháp.

Chúng ta ai cũng sẳn có tánh giác ngộ vắng lặng viên dung, linh hoạt thông suốt, chẳng mê chẳng lầm, vô danh vô tướng. Mọi người đều có đủ thể tính bản giác, cho đến đại thể vũ trụ vạn hữu cũng vậy.

Do mê chân tìm cái vọng (chân là chân tướng, chân lý, chân như, chân không, chân thật, chân tế, chân giác, chân tính, chân trí, thánh trí, thật trí, thật tế, thật tướng, thật tánh, pháp tánh, pháp giới, bản 22 TỤÊ QUÁN NẺO VỀ CHÂN NHƯ thể, nhất thể, nhất như, nhất vị, nhất tướng, không tướng, Niết-bàn, bình đẳng, cứu cánh).

Vọng là tướng hư dối, là bị ô nhiễm bởi sáu trần. Từ đó chịu chìm đắm trong vòng sanh tử.

Đức Thế Tôn vì muốn chúng sanh ngộ nhập trí tuệ chân thật nên thị hiện trong thế giới Ta bà, lao nhọc bốn mươi chín năm tuyên dương Chánh pháp, khai mở quyền thật, tùy căn cơ trình độ mà giáo hóa. Chính là muốn chúng sanh lìa xa huyễn hóa, dẹp bỏ cấu nhiễm, diệt hết phiền não, phá hết vọng chấp, giác ngộ tự tâm, trở về bản thể thanh tịnh vốn có.

Ba tạng kinh điển, năm thời giáo pháp, chính là phương tiện dạy đạo.

Từ các phương tiện quyền xảo, khiến người giải hết mê hoặc và trói buộc, dần dần ngộ được bản thể tự tánh.
Bài luận trên đã diễn tả bao quát về ý nghĩa "Bản thể".

Có một số ý nghĩa về Bản thể "phi Phật giáo" mà ở bài này không hướng đến, như:

+ Có trường phái hiểu Bản thể là nguyên cội gốc nó là cái gì đó !

- Như có người cho rằng Bản thể nó là Tiểu ngã do Đại Ngã sanh.

- Như có người cho rằng Bản thể nó là do Thượng Đế sanh.

- Như có người cho rằng Bản thể nó là đất, nước, gió, lửa sanh.

- Như có người cho rằng Bản thể nó là hư vô.

- Như có người cho rằng Bản thể nó là do súc sanh sanh.

- v.v...

theo Aristotle: bản thể là một hữu thể độc lập và duy nhất luôn có sự hiện hữu của cả chất thể lẫn hình thể.- Định nghĩa về Triết học này cũng không nằm trong phạm trù Bản Thể- Chân Như của Phật giáo.

Bản-thể-của-Phật còn gọi là Như Lai Tạng, Phật Tính, Pháp Giới, Chân Như... (tiếng Phạn là Tathagatagarbha), là một khái niệm quan trọng của Đại Thừa Phật Giáo. Tathagatagarbha được ghép từ hai chữ Tathagata và garbha: Tathagata có nghĩa là như thế, Đức Phật thường tự xưng mình chỉ là như thế, hiện ra nơi đây là như thế, dịch ra tiếng Hán là Như Lai; chữ garbha có nghĩa từ chương là "nguyên nhân" hay "bên trong" (của một thứ gì đó)..., tiếng Hán dịch là chủng tử.
https://thuvienhoasen.org/a16449/ban-the-cua-phat
Có một người đệ tử hỏi Thầy mình như sau: "Thế con có hàm chứa bản-thể-của-Phật hay không?".

Vị Thầy tức khắc trả lời ngay: "Không, mi không hề hàm chứa bản-thể-của-Phật".

Người đệ tử hỏi vặn lại: "Con nghe nói rằng tất cả mọi thứ đều hàm chứa bản-thể-của-Phật kia mà... Tại sao con lại không có?"

Vị Thầy lại trả lời tiếp như sau: "Côn trùng, súc vật, đất đá..., tất cả đều hàm chứa bản-thể-của-Phật - chỉ trừ có mi là không có".

Người đệ tử tỏ vẻ lo lâu: "Thế thì tại sao con lại không có?"

Vị Thầy bèn giải thích như sau: "Chỉ vì mi đã nêu lên câu hỏi" (nêu lên thắc mắc trong đầu là cách tự tách rời mình ra khỏi sự thắc mắc của chính mình, tức là tự tạo ra chủ thể và đối tượng, nói cách khác là tự tách rời mình ra khỏi hiện thực).

Thắc mắc của người đệ tử đã cho thấy rằng người ấy không thấu triệt được một cách thật ý thức rằng chính mình đang hàm chứa sẵn Bản-thể-của-Phật (vì cứ tưởng rằng bản-thể-của-Phật là một thứ gì đó khác với mình).

 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,983
Điểm tương tác
622
Điểm
113
Kính Thày VQ:

Có một lần coi băng Thúy NGa nghe được một bài hát của nhạc sĩ Nhật Trung: Một Đời Tôi Đi Tìm Tôi. Lời lẽ của bài hát ấy, thật là chân thành, mộc mạc, nhưng cũng là lý lẽ sống chung và gần gũi với tất cả mọi người:

một đời tôi đi tìm tôi

một đời tôi đi tìm em

tìm đâu thấy

trọn giấc mơ tôi hoài mong

Đã là người thì ai cũng không ít lần phải trải qua những thăng trầm trong cuộc sống: buồn vui, sướng khổ, được mất, biển đổi .. và con người luôn phải tự mình đi vào với những biến cố ấy với chính tâm của mình. Và cũng không ít lần, có lẽ, chắc ai trong chúng ta cũng phải công nhận: là đối diện với biến cố ấy, nỗi khổ ấy, chúng ta không biết ĐÂU MỚI LÀ NƠI BẮT ĐẦU ? .. và TA PHẢI LÀM GÌ với tâm của mình ? và Tâm của Ta có là gì để mà ta sử dụng ?

Câu trả lời này đã được đức Phật Thích Ca trả lời từ mấy ngàn năm trước. Bằng phương pháp quán sát những hoạt động tâm lý và vật chất của con người, ngài khám phá ra một số nhân tố cụ thể và luôn luôn xuất hiện như là một mẫu số chung của tâm con người khi đối diện với những biến cố trong đời sống, và những nhân tố cụ thể đó sau này được định nghĩa là NHƯ LAI TẠNG.

Có lẽ, vì đây là khám phá riêng và độc đáo của phật môn, nên hầu như chỉ có hàng đệ tử chân chính của ngài mới hiểu được và biết cách sử dụng những khám phá này của ngài.



Trí Huyền Thiền Sư, trong một bài thơ đối đáp khi Từ Đạo Hạnh hỏi ngài về Chân Tâm có viết về những đặc tính của Chân Tâm Thường Trú này như sau:

Ngọc lý bí thanh diễn diệu âm

cá trung mãn mục lộ thiền tâm

hà sa cảnh thị bồ đề đạo

nghĩ hướng bồ đề cách vạn tầm

*[ những âm thanh huyền bí trong viên ngọc phát ra là những âm thanh kỳ dị

trong đó ý thiền hiện ra rành rành

cảnh giới nhiều như cát bui đấy đều là cõi bồ đề

nhưng nếu dụng tâm đi tìm thì sẽ xa vô cùng ]



Bốn câu thơ không dài, nhưng trong đó đã chứa đựng nội dung tình yêu và trí tuệ của hiện tượng giác ngộ mà người bình thường không trải qua những thực nghiệm tâm, thực hành phạm hạnh để quán sát và tìm kiêm chơn tâm, chắc có lẽ khó có sự tình cờ nào có thể làm ra hiện tượng ấy. Và nều không có những vị tỳ kheo chân chính của ngài hướng dẫn bằng những lời trực chỉ tâm đắc như vậy, chắc cũng khó mà tự tìm ra [smile].

- Tâm đứng ở vị trí nguồn gốc là Chơn Tâm sẽ thấy đại dụng của tâm. Diệu đức như hà sa thảy nơi nguồn tâm mà ra. - Đạo Tín

- Tâm đứng ở vị trí tâm là Thức dù có suy nghĩ, suy tính cỡ nào vẫn xa CHƠN TÂM ấy, muôn trùng.

Và đi đâu cũng vậy, lúc nào cũng vậy, chính cái LÝ nhin thấy VIÊN NGỌC làm lộ thiền tâm ấy chính là: TRỰC CHỈ CHƠN TÂM



Thời nhà Đường bên Trung Quốc, đại hành Phật Đạo, ngay cả những cư sĩ tại gia cũng có người chứng được thiền cơ, nên cũng có một bài thơ hẳn ai nghe cũng sẽ thấy lạ lạ:

Tằng kinh thương hải nan vi thuỷ,

Trừ khước Vu Sơn bất thị vân.

Thủ thứ hoa tùng lãn hồi cố,

Bán duyên tu đạo, bán duyên quân.



đã đi bốn biển rồi ... ta còn màng gì nước [vì nước không thiếu]

đã thấy VU SƠN rồi ta còn màng gì mây [ vì mây cũng không thiếu]

hoa đẹp cũng chẳng màng ngó lại [vì trong lòng đã có EM đẹp như hoa]

Nửa vì TA đang tu,

Nửa vì Ta đã có Em [tức là nửa vì đang là một người chồng ]


Bài thơ này của nhà thơ Nguyên Chấn viết sau khi vợ ông đã qua đời. Nội dung của nó nói đến sự sung mãn của niềm vui: nước, mây, hoa trong nội tâm.

Đối với số lượng đại dụng của Chơn Tâm: thì mỗi một thức mạng xảy ra trong đời như trăng trong nước, như hoa trong gương, như nhạn quá trương không, như vó ngựa bóng câu qua mành, hay như hiện tượng vạn pháp, hiện tượng hư không hoa, pháp hoa

mà vị trí "TUYỆT ĐỐI" được tách rời ra khỏi vạn tâm thức chính là Chơn Tâm:

- đứng ở vị trí NGUỒN GỐC, thì ĐẠI DỤNG của Tâm sẽ hóa muôn ngàn ... và dẫn tới sự SUNG MÃN của niềm vui trong nội tâm = SUNG MÃN HỶ [smile].


KLL
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,481
Điểm tương tác
1,744
Điểm
113
Phần IV.

* Chơn Không- Diệu Hữu.


Chơn Không là cái "Không- Chơn Thật", Diệu Hữu là cái " Có -Diệu huyền".- Là một nghĩa khác của Chân Như.

+ Nếu nói - cái "Không - Chơn Thật", Diệu Hữu là cái " Có - Diệu huyền".- thì té ra có một cái "Không - giả tạo" và cái " Có - Phàm tục " ư ?

- Đúng vậy.

Trong văn học Bác Nhã của Nhà Phật

- Từ ngữ "Sắc" nghĩa là Vật chất, là sắc tướng thường dùng lẫn lộn với từ ngữ "Hữu" nghĩa là Có.

- Và từ ngữ "Không" chẳng những mang ý nghĩa đối lập với Có mà còn mang nhiều ý nghĩa tầng bậc khác nhau !

Có 3 Tầng Bậc SẮC - KHÔNG:

1. Sắc Không Đối Đải.
2. Sắc Không Bất Dị.
3. Sắc Không Tuyệt Đãi.

1. Sắc Không Đối Đải. - Là đối với Phàm phu vô trí chỉ thấy Sắc (có) đối với Không (không có).- Đây là "cái thấy sai lầm" do ý thức vọng tưởng phân biệt theo Nhị Nguyên. Người tà kiến chấp Không, chỉ ngang nơi đây mà khởi chấp

2. Sắc Không Bất Dị.- Là đối với người tu Quán Tánh không, thấy được Sắc và Không chẳng khác nhau. Vì Sắc do nhân duyên tụ - tán mà thành,thực Tướng là Không; mà Không cũng do nhân duyên tụ - tán mà thành, thực Tướng là Không.- Do bản chất chỉ có tụ - tán chớ không có Thật pháp,thực Tướng là Không. Nên Sắc chẳng khác Không ( Bất Dị) Sắc tức là Không.

3. Sắc Không Tuyệt Đãi. Là Tự Tánh Không, là Chơn Không, là Bất Nhị Pháp, là Nhất tướng, là Vô tướng, là Niết Bàn Tướng... nơi đây bặt ngôn ngữ bặc suy lường . Không phải do suy luận mà thấy Không.- Đây là chỗ Tuyệt Đối Không, là Chân Như.

* Hai Pháp Không là : Sắc Không Bất Dị, và Sắc Không Tuyệt Đãi, là 2 Pháp tu Quán Không, mà người tà kiến Chấp Không, chẳng thể có được.

* Cái Không thứ 3, tức là Sắc Không Tuyệt Đãi. mới là Chơn Không mà ở đây giới thiệu.


(còn tiếp)
 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,983
Điểm tương tác
622
Điểm
113
Kính Thày VQ:

[[[[KLL tiếp tục kính trình bày hiểu biết của mình, nếu có gì không đúng với Phật Lý, kính xin thày tận tình chỉ dạy, KLL nguyện học hỏi thêm

** KLL viêt bài này hồi đêm qua trước khi đi ngủ, nhưng gần sáng đột nhiên chợt nhìn ra chỗ vi tế khúc mắc của mình, định bật dậy sửa liền ghê . Nhưng thôi, kính xin trình thày trước. Và đoạn mà KLL muốn sửa ... thì chắc khi chút xíu rảnh, KLL nguyện sẽ sửa.

là cũng vẫn mô hình đó: nhưng lại phân thành hai phần,

phần đầu: SẮC KHÔNG ĐỐI ĐÃI: thật ra ý nghĩa câu này xảy ra trước khi hành giả nhận ra tâm là nguồn sinh ra tất cả các tướng: bao gồm thanh tịnh và nhiễm ô. Mặc dù ở trong tục thế, vẫn đói ăn, mệt ngủ, và vẫn có nhiều biện pháp đối đãi có biểu hiện SẮC - KHÔNG, nhưng có nhiều khi, chấp ngã xảy ra khiến cho bí đường: bết tắc không biết tâm đâu mà sử dụng.

- phần sau chia thành hai đoạn: giai đoạn khi phân biệt các Tướng đều Tự Tâm Sinh làm nên hiện tượng thân sắc, và sự phân biệt SẮC bắt đầu, cho tới giải thoát xứ thứ ba như liệt kê trong kinh Đại Niết Bàn: Quán "SẮC" = TỊNH. Và như thế hìn thành định nghĩa: Sắc Không Bất Dị. Như vậy, chúng ta sẽ dời tất cả đoạn A. B. vào chung thành đoạn B. Đoạn C. tạm giữ lại vậy cũng tạm ổn.

vì vậy đoạn B: sẽ bao gồm ba giải thoát đầu:

i. Tự mình có sắc, thấy các sắc; đó là sự giải thoát thứ nhất.

ii. Quán tưởng nội sắc là vô sắc, thấy các ngoại sắc; đó là sự giải thoát thứ hai.

iii. Quán tưởng (sắc là) tịnh, chú tâm trên suy tưởng ấy ; đó là sự giải thoát thứ ba.

và có lẽ, có một chút "TÂM KHÔNG của Không Vô Biên Xứ" ở trong đó:

iv. Vượt khỏi hoàn toàn sắc tưởng, diệt trừ các tưởng hữu đối, không tác ý đến những tưởng khác biệt, với suy tư "hư không là vô biên", chứng và trú Không vô biên xứ ; đó là sự giải thoát thứ tư. [vì khi đó trong tâm, đã đủ chứa vô biên số lượng các tướng SẮC thanh tịnh .. và cũng có nghĩa, tất cả các sắc tướng thanh tịnh = đã bắt đầu có sự nhận thức khởi đầu .. từ từ chuyển nền tảng sang tựa TÂM làm không ... smile]


Lỗi VI TẾ này là bản thân mình cũng thường có thói quen: "CHẤP NGÃ", "CHẤP PHÁP" = cứ dính chặt vào các nghĩa mà KLL vốn đã biết. Nhưng thực chất, tất cả đều đã có tâm, nên nếu để tâm tự xảy ra thì đúng là giải thích những định nghĩa này sẽ chính xác và phù hợp với ý nghĩa của Hòa Thượng định nghĩa hơn.

Kính Thày. [smile] ]]]]



Hôm no, lần đầu tiên nhìn thấy ba định nghĩa này, KLL cũng thấy hơi bỡ ngỡ, cũng cần thêm vài ngày để nghiệm ra ý nghĩa của ba định nghĩa này, nhưng hôm nay, chắc là hiểu rồi. Có lẽ, muốn hiểu ba định nghĩa này chúng ta phải mượn một mô hình:

- để quán về 4 NIỆM XỨ, và

- một nguyên tắc gọi là: ĐƯỜNG VÀO THÂNH TỊNH tức là con đường lia bỏ những món thanh tịnh mà hỏng chắc ăn: ly dục, ly sắc, vô ngã, vô pháp .. để cho sự thanh tịnh từ nguồn gốc là tâm càng ngày càng thanh tịnh hơn.


Quán 4 Niệm Xứ :

Ở định nghĩa đầu, chúng ta có lẽ nên tập trung quán hai niệm xứ này thôi, chắc là cũng đủ hiểu ý nghĩa của câu trên.

- Quán Thân = Thân Sắc = Bất Tịnh

- Quán Tâm Trên Tâm = Tâm biến đổi vô thường, và các thức sinh diệt liên tục.


A. Sắc Không Đối Đãi: Khởi Đầu của việc dùng TÂM "KHÔNG" đối đãi với cái "TÂM SẮC" thường không được thanh tịnh

Tất cả các tướng đều tự TÂM SANH.

Thập Nhị Nhân Duyên ghi nhận quá trình sinh ra của tất cả mọi thân sắc trong tam giới bằng quy trình: Vô Minh --> Hành --> Thức --> Danh/Sắc --> Lục, Nhập, Xúc, Tho, Ái, Thủ, Hữu --> SANH

cho nên .. tất cả mọi thân sắc, đều tự tâm sinh ra.


Kinh Đại Niết Bàn, Phẩm Kiều Trần Như lại miêu quả quá trình, "Các ThứC" nảy sinh và dựa vào cái "thấn sắc" được sinh ra đó để tiếp tục được: Thọ, Ái, Thủ Hữu, Sanh Thành mà xảy ra hiện tượng CHẤP NGÃ, CHẤP THÂN SẮC.

Nguyên do: là tại vì Thân Sắc cho chúng ta những cảm thọ lạc, thọ vui, thọ hỷ, an toàn, khinh an, vv.

Và chỗ Không An Toàn của mỗi Thân Sắc:

Ở cuối của mỗi một quá trình duyên khởi, khi nhân duyên của một thân mạng, một thân sắc tan rã, thân sắc đó cũng bị tan rã, và sẽ bị xả bỏ. Do đó, mà xảy ra sự đối đãi của "TÂM" đối với "THÂN SẮC" = cũng là TÂM cần được xả bỏ đó.

Và dựa vào mô hình: QUÁN TÂM [Tâm = thân sắc] TRÊN TÂM [tâm tại gốc, nơi sinh ra tất cả mọi thanh tịnh], chúng ta có thể nhìn thấy đó là ý nghĩa định nghĩa trên:

->> SẮC KHÔNG ĐỐI ĐÃI khi TÂM của con người là nguồn gốc sinh ra tất cả mọi thanh tịnh


B. SẮC KHÔNG BẤT DỊ

Phật đạo là thanh tịnh đạo. Dù là phải xả bỏ một tâm không thanh tịnh, để có được thanh tịnh, thì tâm thanh tịnh mà chúng ta gọi là TÂM "KHÔNG" đó cũng là SẮC. Kinh Thủ Lăng Nghiêm miêu tả hiện tượng qua đoạn kinh sau:

Tất cả thế gian
sống, chết nối nhau
sống theo đường thuận
chết theo đường khác
khi vừa mệnh chung
chưa dứt hơi ấm
thiện, ác một đời
đồng thời hiện ra
cái thuận của sống
cái nghịch của chết
hai luồng tập khí
xen kẽ lẫn nhau.


** Cho nên, "chết" là thân sắc bất tịnh đang xả bỏ cũng là TÂM. Mà "sống" = đường khác = thân sắc đang xảy ra tiếp nối, thành tựu, là không đó cũng là tâm. Vì đó mà gọi là: Sắc Không Bất Dị. Vốn không có cái gì khác ngoài tâm. Nhưng ở đây, cái "TÂM THANH TỊNH" cũng gọi là sắc, chứ không dùng đó để đồng hóa với cái TÂM KHÔNG THANH TỊNH được gọi là SẮC như ở bước đầu.

** Vấn đề này có lẽ không nên định nghĩa là: Tự nhiên mà có, mà thật ra, là do TÂM CHUYỂN và có DỤNG TÂM mà có. Tâm Dụng càng linh hoạt, tác ý càng như lý thì sự thanh tịnh càng xảy ra dễ dàng và có lẽ, đó là ý nghĩa chính của Bát Nhã Ba La Mật Đa Tâm Kinh

Quán Tự Tại Bồ Tát: hành thâm bát nhã ba la mật đa [thực hành trí tuệ vượt qua bờ bên kia thâm sâu]

thời chiếu kiến: ngũ uẩn giai không

Xá Lợi Tử:

- sắc bất dị không,
- không bất dị sắc,
- sắc tức thị không,
- không tức thị sắc.

Thọ, tưởng, hành, thức diệc phục như thị.


Cho nên, có lẽ, chúng ta phải nên hiểu rằng: đây không phải là loại bỏ SẮC mà là "DỤNG TÂM" để luôn có "SẮC THANH TỊNH" = KHÔNG xảy ra.



C. Sắc Không Tuyệt Đãi

Con đường thanh tịnh càng đi càng sâu, càng vào sâu, thì các loại chấp ngã, chấp pháp từ từ được vô hiệu hóa bởi năng lực của tâm sinh ra những tâm tương ưng thanh tịnh.

Có một đoạn pháp ngữ của Thiền Sư Cảm Thành của phái Vô Ngôn Thông thật là hay:

Một lần có vị Tăng đến hỏi: "Thế nào là Phật?".

Sư đáp: "Khắp hết mọi nơi."

Lại hỏi: "Thế nào là tâm Phật?".

Sư đáp: "Chẳng từng che giấu."

Lại thưa: "Người học không hiểu".

Sư bảo: "Đi quá xa rồi".


*** thiền sư đã đạt tới cảnh giới thanh tịnh xảy ra khắc nơi .. và ngài cũng hiểu rõ, chính đó cũng là chỗ mà nơi PHÁP CHẤP và NGÃ CHẤP xuất hiện. Hiện tượng pháp chấp và ngã chấp sẽ dẫn tới chỗ "bế tắc", tâm bị phân tán, và cái nghĩ = không thể đắc được hữu vô, không thể tự đi tới thanh tịnh, cho đến khi chính pháp chấp và ngã chấp được xả bỏ.

Cảnh giới của Bát Địa: Vô Công Dụng Đạo là nơi câu sanh ngã chấp được đoạn trừ.

Cảnh giới Kim Cang Địa: là nơi câu sanh pháp chấp được đoạn trừ.

Duy Thức Học có ghi nhận về hai loại NGÃ CHẤP xảy ra ở thức thức bảy, thức Mạt Na sau khi đã nhìn thấy hiện tượng: BÌNH ĐẲNG TÁNH TRÍ do tâm là gốc xảy ra .. còn phải đi sâu và TÂM QUÁN để loại bỏ thêm hai món:

- Câu Sanh Ngã Chấp,

- Câu Sanh Pháp Chấp,

Câu Sanh Ngã Chấp: là loại ngã chấp được sinh ra khi mà thân được sinh ra [tức là chỗ MẠN = tựa vào hóa NGÃ ] và xuất hiện dưới hai hình thái của tâm: thường liên tục, và gián đoạn. Đây là đoạn CHẤP NGÃ = có khi rất vi tế và rất khó loại trừ nếu mà "TÂM KHÔNG PHẢI LÀ NGUỒN SINH RA VÔ LƯỢN NGHĨA". Khi tâm không có gì chắc ăn, thì người ta TỰA NGÃ.

Câu Sanh Pháp Chấp cũng xảy ra như vậy là chỗ "MẠN" tựa và hóa ngã thành hiện tượng Pháp Chấp.


Và hiện tượng tuyệt đãi đó, cũng được miêu tả trong một đoạn pháp ngữ của Thiền Sư Cửu Chỉ của Thiền Phái Vô Ngôn Thông:

Phàm tất cả các pháp môn vốn từ tánh của các ngươi,

tánh tất cả các pháp vốn từ tâm của các ngươi.

Tâm pháp nhất như, vốn không hai pháp.

Phiền não trói buộc, tất cả đều không. Tội phước phải quấy, tất cả đều huyễn. Không cái nào chẳng phải quả, chẳng phải nhân. Không nên ở trong nghiệp mà phân biệt báo, không nên ở trong báo mà phân biệt nghiệp, nếu có phân biệt thì chẳng tự tại.

Tuy thấy tất cả pháp mà không có chỗ thấy, tuy biết tất cả pháp mà không có chỗ biết.

Biết tất cả pháp lấy nhân duyên làm gốc.

Thấy tất cả pháp lấy chánh chân làm tông.


Tuy chuyên nơi thật tế mà rõ thế gian đều như biến hóa. Rõ thấu chúng sanh chỉ là một pháp, không có hai pháp.

Chẳng rời cảnh nghiệp mà phương tiện khéo léo, ở trong cõi hữu vi hiện bày pháp hữu vi mà không phân biệt.

Tướng vô vi là do hết dục, dứt ngã, quên niệm mà nhận lấy vậy.


Rồi Sư đọc kệ rằng:
Giác liễu thân tâm bản ngưng tịch
Thần thông biến hóa hiện chư tướng
Hữu vi vô vi tùng thử xuất
Hà sa thế giới bất khả lượng.
Tuy nhiên biến mãn hư không giới
Nhất nhất quan lai một hình trạng
Thiên cổ vạn cổ nan tỷ huống
Giới giới xứ xứ thường lãng lãng.

Dịch thơ:
Giác ngộ thân tâm vốn lặng yên,
Thần thông các tướng biến hiện tiền.
Hữu vi vô vi từ đây có,
Thế giới hà sa không thể lường.
Tuy nhiên đầy khắp cõi hư không,
Mỗi mỗi xem ra chẳng tướng hình.
Muôn đời ngàn đời nào sánh được,
Chốn chốn nơi nơi thường rạng ngời.

KLL
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,481
Điểm tương tác
1,744
Điểm
113
Phần IV

* Quán Không Tướng.

Kính các Bạn. Quán KHÔNG. có nhiều phương pháp, tuỳ theo hệ phái.- Như ĐH KLL đã giới thiệu ở trên.

Ở đây VQ xin giới thiệu pháp quán KHÔNG của Phái thiền Tam Luận Tông (căn cứ theo kinh Đại Bát Nhã).

Xin phân đoạn pháp quán này thành 3 bước.

+ Bước A: Quán vạn Pháp Duyên sanh Vô ngã.

+ Bước B: Quán chư Pháp Tánh không.

+ Bước C: Quán Thật tướng Tịch Diệt.

(Sau đây xin mới các Bạn vào đây dạo chơi trong mùa xuân mới.)

 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,481
Điểm tương tác
1,744
Điểm
113
Phần IV

A/. Quán vạn pháp duyên sanh vô ngã.


Hay còn gọi là Quán DUYÊN KHỞI.

Trung Quán Luận- Phẩm Quán Tứ Đế - Tổ Long Thọ dạy:

Thị cố Kinh trung thuyết,
Nhược kiến nhân duyên pháp,
Tốc vi năng kiến Phật,
Kiến Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

Dịch: Cho nên, trong Kinh nói:
Nếu thấy pháp nhân duyên,
Thì mau chứng Phật quả,
Chứng Khổ, Tập, Diệt, Đạo.

Thế nào là Duyên khởi ?

1. ĐỊNH DANH:
Duyên khởi tiếng Pàli là: Paticcasamuppàda
Tiếng Phạn là: Pratityasamutpàda. Pratitya (hay Pàli: Paticca) có nghĩa là tùy thuộc vào, dựa vào, là duyên; Samutpàda (hay Pàli: Samuppàda) có nghĩa là đứng dậy, khởi sinh, là khởi.
Các nhà Phật học Trung Hoa dịch nghĩa là Duyên khởi. Duyên có nghĩa là nương nhau, là điều kiện để điều gì đó thành tựu; khởi là sinh khởi, là phát khởi. Duyên khởi có khi cũng gọi là Duyên sinh.
Như vậy, Duyên khởi tức là do nương nhau, tùy thuộc vào nhau mà sinh khởi, hay nói cách khác là do duyên, do các điều kiện tập hợp lại mà các pháp sinh khởi.

2. BA YẾU NGHĨA CỦA DUYÊN KHỞI:

Ở đây chúng ta cần thấy rõ một điều là duyên khởi không phải là quy luật, điều luật hay phạm trù từ bên ngoài áp đặt lên các pháp. Chính sự sinh thành và hoại diệt của các pháp tự nó mang ý nghĩa duyên khởi. Đức Phật do trí tuệ giác ngộ bản thể của vạn hữu nên liễu tri được sự thật về ý nghĩa duyên khởi này và Ngài đã đem chỗ thực chứng của Ngài để khai thị cho chúng sinh. Qua đó chúng ta thấy có ba yếu nghĩa của duyên khởi như sau:

1. Thường tại: Vì sự sinh thành và hoại diệt của tự thân các pháp mang ý nghĩa duyên khởi, cho nên, duyên khởi chính là yếu tính của các pháp, các pháp chính là duyên khởi. Nơi nào có sự sinh thành và hoại diệt của các pháp thì nơi đó có duyên khởi. Như thế, duyên khởi thường tại như là các pháp thường tại. Cho dù có đức Phật ra đời khai thị hay không thì các pháp vẫn có đó, duyên khởi vẫn có đó. Thường tại ở đây không phải là thường hằng bất biến theo ý nghĩa thực có chủ thể mà là sự hiện hữu trong vận hành dịch biến liên tục vốn không có tự tánh.

2. Tất yếu: Các pháp do duyên hòa hợp mà sinh, do duyên ly tán mà diệt. Chính vì vậy, không thể có sự kiện rằng không có duyên mà các pháp hiện khởi. Các pháp không thể tự hiện khởi, vì không một pháp nào tự nó có thể đơn độc sinh thành, tất cả các pháp đều do các duyên hòa hợp mà thành, một pháp cũng vậy, muôn pháp cũng vậy. Cho nên, duyên khởi là yếu tính ắt có trong tất cả các pháp. Nói đến sự có mặt của pháp là phải nói đến sự có mặt của duyên khởi.

3. Y tha: Y tha tức là nương vào, dựa vào, tùy thuộc vào cái khác. Một pháp sinh khởi là do nhiều pháp hợp lại mà thành. Nếu pháp không thể hợp lại, không tùy thuộc vào nhau thì không thể sinh khởi ra pháp nào cả. Thí dụ, nước là do Hydrogen và Oxygen (H2O) kết hợp lại mà thành. Trong hợp chất nước này bắt buộc Hydrogen và Oxygen phải nương vào nhau, tùy thuộc vào nhau mới có thể hình thành được. Nếu chúng không hòa hợp được, nghĩa là không nương vào nhau, không tùy thuộc vào nhau được thì nước không sinh ra. Nhưng khi Hydrogen và Oxygen hòa hợp lại làm một để thành nước thì cả hai đều không còn có thể giữ nguyên tự thể riêng của chúng nữa, điều ấy cũng chứng minh rằng chúng không có tự tánh.

https://chuahoanghiem.com/forum/phim-truyen-nhac-phat-giao/107-co-va-khong-chu-phap-tung-duyen-sinh.html
Trong Kinh Phật Tự Thuyết (Tiểu Bộ I, tr. 291), nguyên lý Duyên khởi đã được Thế Tôn tóm tắt:

-- Do cái này có mặt nên cái kia có mặt.
-- Do cái này không có mặt nên cái kia không có mặt.
-- Do cái này sinh nên cái kia sinh.
-- Do cái này diệt nên cái kia diệt.

Trong kinh Ðại Duyên (Trường Bộ III), khi Tôn giả A-nan ca ngợi giáo lý Duyên khởi thâm thúy, thì Thế Tôn lại nhấn mạnh hơn: "Này Ananda, chính vì không giác ngộ, không thâm hiểu giáo pháp Duyên khởi này mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một tổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja, không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sinh tử." (tr. 56)

(Ðể hiểu rõ Duyên khởi hơn, chúng ta tìm hiểu thêm bằng Giáo lý 12 Nhân Duyên, giáo lý này thuyết minh sự duyên khởi hình thành con người- VQ ):

Thế Tôn định nghĩa: "Do vô minh, có hành sinh; do hành, có thức sinh; do thức, có danh sắc sinh; do danh sắc, có lục nhập sinh; do lục nhập, có xúc sinh; do xúc, có thọ sinh; do thọ, có ái sinh; do ái, có thủ sinh; do thủ, có hữu sinh; do hữu, có sinh sinh; do sinh, có lão tử, sầu, bi, khổ, ưu, não sinh, hay toàn bộ khổ uẩn sinh. Ðây gọi là Duyên khởi (hay Duyên sinh)." (Tương Ưng Bộ Kinh II, tr. 1-2).

-- Lão, tử (Jaràmarana): "Cái gì thuộc các loài chúng sinh bị già, yếu, suy nhược, răng rụng, tóc bạc, da nhăn, tuổi thọ lớn, các căn chín muồi thì gọi là già. Cái gì thuộc các loài chúng sinh bị từ bỏ, hủy hoại, tiêu mất, các uẩn tàn lụn, thân thể vứt bỏ, tử vong thì gọi là chết." (Ibid. tr. 3).

-- Sinh (Jàti): "Cái gì thuộc các loài chúng sinh bị sanh, xuất sinh, giáng sinh, đản sinh, xuất hiện các uẩn, thành tựu các xứ thì gọi là sinh." (Tương Ưng II, tr. 3).

-- Hữu (Bhava): "Dục hữu, sắc hữu và vô sắc hữu, gọi là hữu." (Tương Ưng II, tr. 3).

-- Thủ (Upàdàna): "Có bốn thủ: dục thủ, kiến thủ, giới cấm thủ và ngã luận thủ." (Ibid, tr. 3).

-- Ái (Tanhà): "Sắc ái, thanh ái, hương ái, vi ái, xúc ái, pháp ái; hay: dục ái, sắc ái và vô sắc ái." (Ibid, tr. 3).

-- Thọ (Venada): "Có sáu thọ, thọ do nhãn xúc sinh, thọ do..., và thọ do ý xúc sinh." (Ibid, tr. 3).

-- Xúc (Phassa): "Có sáu xúc: nhãn xúc, nhĩ xúc, tỷ xúc, thiệt xúc, thân xúc và ý xúc." (Ibid, tr. 3).

-- Sáu xứ (chabbithàna): "Gồm sáu nội xứ (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân và ý căn) và sáu ngoại xứ (sắc, thanh, hương, vị, xúc và pháp)." (Ibid, tr. 4).

-- Danh sắc (Nàma-rùpa): "Danh gồm xúc, tác ý, thọ, tưởng và tư (có nơi trình bày Danh gồm có thọ, tưởng, hành và thức uẩn). Sắc là tứ đại và các pháp do tứ đại sanh." (Ibid, tr. 4).

-- Thức (Vinanàna): "Nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức và ý thức." (Ibid, tr. 4).

-- Hành (Sankhara): "Gồm có thân hành, khẩu hành và ý hành."

-- Vô minh (Avijja): "Không hiểu rõ Tứ đế gọi là vô minh (Tương Ưng II, tr. 4). Có thể phát biểu cách khác rằng, không hiểu Duyên khởi, vô ngã là vô minh."

Từ mười hai chi phần nhân duyên của Duyên khởi như vừa được trình bày, chúng ta có thể đi đến một số kết luận:

1. Tất cả các pháp hữu vi đều do duyên sinh. Sự có mặt của một pháp thực ra chỉ là sự có mặt của nhơn duyên sinh ra nó; sự hoại diệt của một pháp cũng chỉ là sự hoại diệt nhơn duyên sinh ra nó. Các pháp không có thật sinh hay thật diệt.

Tiếp tục lập luận như thế với tất cả các duyên, không dừng lại một nơi nào cả, ta sẽ thấy không có một bóng hình hữu ngã nào xuất hiện trong pháp giới Duyên khởi này cả. Nói một cách ngắn ngọn, tất cả do duyên sinh nên vô ngã.

Duyên khởi nói lên sự thật vô ngã và phủ nhận tự ngã, nên phủ nhận mọi câu hỏi và mọi câu trả lời về bản chất của các pháp, về nguyên nhân đầu tiên của vũ trụ.

(Trích Phật học khái luận- TT thích Chơn Thiện)
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,481
Điểm tương tác
1,744
Điểm
113
Phần IV.

B/. Quán chư Pháp Tánh Không.


Trong kinh Bát nhã Phật dạy :

" Núi Tu Di tuy kiến cố, tồn tại lâu dài, nhưng cũng là Tánh không. Dùng trí huệ quán chiếu, thì rõ biết hết thảy các sự vật đều là Tánh KHÔNG cả. Nói rộng, hết thảy các pháp hữu vi và Vô vi đều là bất khả đắc, dẫn đến các nhân duyên sanh pháp cũng đều là bất khả đắc cả. Tất cả đều là Tánh Không."

Để Quán chiếu Tánh Không. Tổ Long thọ ở Đại Trí Độ Luận, triển khai thành 18 Không, trong đó có pháp quán Tất Cánh Không, (Rốt ráo không).

+ Tất Cánh Không:

- Nghĩa là các pháp do duyên sanh. Mà tìm cùng tận các duyên để sanh pháp cũng là Không.- Nên gọi là Rốt Ráo Không.

Ở đây chúng ta quán Tất Cánh Không và chia pháp quán này thành 2 mục:

a). Quán Nhân Duyên Không.

b). Quán BÁT BẤT TRUNG ĐẠO.
 
Last edited:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,481
Điểm tương tác
1,744
Điểm
113
Phần IV.

a). Quán Nhân Duyên Không.


Nhân Duyên Không. Nghĩa là các nhân, các duyên là phần tử để cấu thành các pháp cũng không.

Thường chúng ta chấp có "Ngã" có "Pháp". Đức Phật chỉ ra "Ngã" và "Pháp" chỉ là tướng "Duyên hợp" nghĩa là chúng không thật có, chúng chỉ nương gá các duyên mà chúng ta thấy có.

Thí dụ 1:

1. Con người là do 5 yếu tố cấu thành. Đó là: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức (5 Uẩn). Sắc là phần vật chất, thọ là sự cảm nhận của tâm lý, tưởng là sự suy tưởng, hành là sự vận hành của nghiệp, thức là sự nhận thức.

Khi học đến đó chúng ta biết được Nhân Vô ngã. Nhưng chúng ta lại nhận 5 Uẩn là thật có. Ở đây Đức Phật dạy cả 5 Uẩn cũng đều không có.- Vì chúng là tướng duyên hợp.

Thí dụ 2.

2. Quán 12 nhân duyên, thì sở dĩ có sanh tử là vì chúng ta có Vô minh. Vì vô minh, nên có Hành, có thức, có danh sắc v.v... nhẫn đến có lão tử ưu bi khổ não.

Thực ra bản chất tất cả các pháp đều là do duyên mà sanh, cái này có là vì cái kia có, cái này sanh là do cái kia sanh, không có bất cứ cái gì không nương cái khác mà có (kể cả vô minh).- Cho nên trả lời là do cái "A", thì sẽ lại hỏi sao lại có cái 'A' đó, và khi nói về nguyên nhân cái A đó là B, thì B lại cũng có nhiều nguyên nhân là C, D v.v... Đó là nguyên lý "Duyên sanh Vô ngã". Kinh Phật gọi là TRÙNG TRÙNG DUYÊN KHỞI.

Kinh Bát Nhã dạy: " hết thảy các pháp hữu vi và Vô vi đều là bất khả đắc, dẫn đến các nhân duyên sanh pháp cũng đều là bất khả đắc cả. Tất cả đều là Tánh Không. "

Nghĩa là :

* Truy cùng đuổi tận, thì các pháp KHÔNG CÓ "NHÂN ĐẦU TIÊN TỰ CÓ" . Các pháp SANH CHỈ LÀ GIẢ SANH THỰC CHẤT LÀ VÔ SANH.- VÌ KHÔNG CÓ NHÂN ĐỂ SANH .

* Truy cùng đuổi tận, thì VÔ MINH KHÔNG CÓ "NHÂN ĐẦU TIÊN TỰ CÓ" . Vô minh SANH CHỈ LÀ GIẢ SANH THỰC CHẤT LÀ VÔ SANH.- VÌ KHÔNG CÓ NHÂN ĐỂ SANH .

Tổ Trúc Lâm nói:

ÂM:

Nhất thiết pháp bất sanh
Nhất thiết pháp bất diệt
Nhược năng như thị giải
Chư Phật thường hiện tiền.
Hà khứ lai chi liễu dã.


DỊCH:

Tất cả pháp chẳng sanh
Tất cả pháp chẳng diệt
Nếu hay hiểu như thế
Chư Phật thường hiện tiền.
Nào có đến đi ấy vậy.


* Kinh Bát Nhã nói: Vô vô minh, diệc vô minh tận., nghĩa là"Không có vô minh, cũng không có lúc hết vô minh" .- Vì thật chất Vô minh là Chơn không.

Như trong Tín Tâm Minh dạy:

“Nhãn nhược bất thùy
Chư mộng tự trừ
Tâm nhược bất dị
Vạn pháp nhất như”.

“Nhãn nhược bất thùy, chư mộng tự trừ.” Con mắt nếu không ngũ thì các mộng tự dứt. “Tâm nhược bất dị, vạn pháp nhất như.”

Tâm mình nếu chẳng khác thì thì muôn pháp nhất như.

Thí dụ như:

Ví như có người, chăm chú nhìn vào hư không. Do nhìn lâu con mắt mõi mệt sanh ra thấy có "Hoa đốm". Lúc hoa đốm đó hiện ra, nhưng thật là hư không không có hoa đốm, Hoa đốm dụ cho Vô minh. Hư không dụ cho Sắc không tuyệt đãi. Hoa đốm không thật có . Thật tế Hoa đốm là Hư Không, nên nói Vô minh là bản chất là Chơn Không. Chẳng những Vô minh là Chơn không mà cả 12 nhân duyên cũng đều như vậy.

Tổ Huyền Quang dạy:

"Muội Thiên Chân tùy huyễn vọng, xã thật tế nhận không hoa".

Nghĩa là.- Do chúng sanh mê muội đi tánh Thiên Chân mà chạy theo huyễn vọng (vô minh giả có), đành bỏ đi Cái Thật tánh Phật của mình (Sắc không tuyệt đãi) mà nhận hoa đóm huyễn vọng vô minh làm tâm".(Do đó mà xa Đạo).

Khi quán thấy nhân duyên Không, thì các nhận thức sai lầm về sanh tử không còn. Đây cũng là chủ trương Thiền của THIÊN THAI TAM QUÁN: Quán Không, Quán Giả, Quán Trung.

1. Không: quán niệm rằng tất cả mọi hiện tượng đều nương nhau mà có, cho nên chúng không có bản chất chân thật, tất cả đều là không.

2. Giả: quán niệm rằng tất cả mọi sự vật đều biến đổi luôn luôn (vô thường), không có tính đồng nhất; tuy chúng có hiện hữu, nhưng sự hiện hữu của chúng chỉ là giả tạm, không có gì tồn tại vĩnh viễn.

3. Trung đạo: quán niệm rằng tất cả mọi hiện tượng vừa là không mà cũng vừa là giả, đồng thời, không phải là không mà cũng không phải là giả. Ba phép quán này, nếu quán niệm một cách có thứ tự – trước hết là quán niệm về không, thứ đến là về giả, sau cùng là về trung – thì gọi là "thứ đệ tam quán”.

Đại sư Trí Giả của tông Thiên Thai đã phát triển ba phép quán trên đây đến chỗ viên dung, không ngăn cách, không thứ tự trước sau, vượt tất cả khái niệm: trong một phép quán gồm đủ cả ba phép quán, cho nên gọi là "nhất tâm tam quán” – hay cũng gọi là "viên dung tam quán”, "bất thứ đệ tam quán”, "bất khả tư nghị tam quán”.

http://www.chuabavang.com.vn/phat-hoc/mot-tam-ba-phep-quan-nhat-tam-tam-quan.html
Gút lại: Nhân Duyên sanh pháp thực chất là "Không". Hết thảy các pháp hữu vi và Vô vi đều là bất khả đắc, (Không thể có được) dẫn đến các nhân duyên sanh pháp cũng đều là bất khả đắc, là Không.- Đó là ý nghĩa Nhân Duyên Không.

 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,983
Điểm tương tác
622
Điểm
113
Kinh Thày VQ

[KLL nếu có viết gì sai Phật Lý, vẫn một lòng kính xin thày chỉ dạy tận tình .. KLL nguyện xin học hỏi ]


Quán Nhân Duyên Không, theo KLL hiểu nó vốn khó là bởi vì ý nghĩa của danh từ đó, khó hiểu quá khiến cho hành giả quán không như lạc vào ma trận. Đó là bởi vì chỗ: "KHÔNG" đó không được cụ thể và rõ ràng ở một số vấn đề:

i. TÂM: Nơi hiện tượng Vạn Pháp Bắt Đầu

Từ TÂM duyên KHỞI làm nên hiện tượng vạn pháp. Nên nếu không hiểu từ TẦM --> PHÁP cấu trúc ra sao, đương nhiên sẽ không biết nguồn gốc của PHÁP từ đâu ra ? Và mỗi khi một pháp bị hoại, không còn đủ nhân duyên xuất hiện: người đi TÌM PHÁP, CẦU PHÁP, cầu mong đoạt lại sự thanh tịnh cũng không biết đâu là nơi bắt đầu.

Cũng vì vậy mà trong Kinh Trường Bộ, Kinh Đại Duyên, đức Phật nói:

Này Ananda, giáo pháp Duyên khởi này thâm thúy, thật sự thâm thúy.

Này Ananda,

chính vì không giác ngộ,

không thâm hiểu giáo pháp này

-->> mà chúng sanh hiện tại bị rối loạn như một ổ kén, rối ren như một ống chỉ, giống như cỏ munja và lau sậy babaja (ba-ba-la) không thể nào ra khỏi khổ xứ, ác thú, đọa xứ, sanh tử
- Kinh Trường Bộ I, Kinh Đại Duyên

Cho nên, không biết làm sao với tâm của minh khi có khổ vốn là một điên đảo tâm. Không biết nơi đâu hạnh phúc bắt đầu.

Và cũng vì vậy, hiện tượng quán nhân duyên không, quán "như hư không hoa", theo ý KLL, nói cho cùng vẫn chỉ là làm cho rõ ràng: Nguồn Gốc của Hiện Tượng Vạn Pháp là từ đâu đến.

Khi chúng ta ví Như Lai Tạng: như là Không, là Hư Không

- rồi qua quá trình duyên khởi

-->> thì đó chính là nơi, hiện tượng Vạn Pháp bắt đầu .. vạn hoa được kiến tạo từ đó, chứ không phải "tự CÁC PHÁP" có cái gì khác "ĐỂ LÀM RA CÁC PHÁP", có phải chăng đó là ý nghĩa chính của việc QUÁN NHÂN DUYÊN KHÔNG ?

Và vì vậy, phải chăng chúng ta QUÁN NHÂN DUYÊN KHÔNG để nhận ra: chỗ nào mới là nơi KHÔNG ĐẦY ĐỦ ? .. để từ từ tự chuyển đổi dòng ý thức để ĐẶT TÂM đúng chỗ.

Ý dẫn đầu các pháp
Ý tạo tác làm chủ
- Kinh Pháp Cú


B. Vạn Pháp: Làm Xuất Hiện "HUYỄN THÂN", "HUYỄN TÂM" ... và đặc biệt là các thân do duyên "THỦ HỘ" làm ra ... bởi vì: Ý THỨC là chỗ sai lầm, không đặt tâm đúng chỗ .. cho tới khi Ý THỨC được tu tập và thăng hoa thành DIỆU QUÁN SÁT TRÍ


Vấn đề này có lẽ rất dễ nhận ra khi chúng ta cứ đi hỏi từng người một: TÂM là gì ? .. rồi cứ lấy một cuốn sổ để mà ghi nhận lại. [smile]

- Chắc chắn chúng ta sẽ ghi nhận được, và mỗi người định nghĩa thân và tâm khác nhau. Khi mỗi một pháp, một hạt vi trần đều có thân và tâm tương ưng, thì số lượng thân và tâm tương ưng khác nhau đếm được chắn chắn cũng phải là hằng hà xa số.

Và đó chính là hiện tượng "HUYỄN THÂN", "HUYỄN TÂM" = được sinh ra bởi hiện tượng vạn pháp đối với sự nhận biết của CÁC THỨC khiên chúng ta có thể liệt kê ra một số lượng thân và tâm khổng lồ và khác nhau.

-->> có lẽ, chính hiện tượng này mà đức Phật nhìn vào và nói: đó là một sự ĐIÊN ĐẢO VĨ ĐẠI, cho dù tất cả chỉ đến từ một nguồn gốc là CHƠN TÂM.


Này Ananda, như vậy

do duyên thọ, -->> ái sanh;

do duyên ái -->> tìm cầu sanh;

do duyên tìm cầu -->> lợi sanh;

do duyên lợi -->> quyết định (sở dụng của lợi) sanh;

do duyên quyết định -->> tham dục sanh;

do duyên tham dục -->> đam trước sanh;

do duyên đam trước -->> chấp thủ sanh;

do duyên chấp thủ -->> hà tiện sanh;

do duyên hà tiện -->> thủ hộ sanh;

do duyên thủ hộ --> phát sanh một số ác, bất thiện pháp như chấp trượng, chấp kiếm, tranh đấu, tranh luận, đấu khẩu, khẩu chiến, ác khẩu, vọng ngữ.


10. Trước đã nói: "Do duyên thủ hộ, phát sanh một số ác, bất thiện pháp, như chấp trượng, chấp kiếm, tranh đấu, tranh luận, đấu khẩu, khẩu chiến, ác khẩu, vọng ngữ". Này Ananda, phải hiểu như thế nào câu nói: "Do duyên thủ hộ, phát sanh một số ác, bất thiện pháp, như chấp trượng, chấp kiếm, tranh đấu, tranh luận, đấu khẩu, khẩu chiến, ác khẩu, vọng ngữ"? Này Ananda, nếu thủ hộ không có bất cứ loại nào, bất cứ chỗ nào, nếu không có thủ hộ cho tất cả, nếu thủ hộ diệt thời một số ác, bất thiện pháp như chấp trượng, chấp kiếm, tranh đấu, tranh luận, đấu khẩu, khẩu chiến, ác khẩu, vọng ngữ có thể hiện hữu được không?
- Kinh Trường Bộ I, Kinh Đại Duyên


Đơn cử một vấn đề đơn giản như là: oan oan tương báo. Chỉ vì chúng ta cứ bận rộn với duyên "thủ hộ" để rồi một thân huyễn, một tâm huyễn đã phát sanh rồi cứ ở đó .. đấu tranh, tranh luận, đấu khẩu, ác chiến, tính toán ...

để mà truy tìm, tầm cầu hạnh phúc

thì đó đã là đi SAI ĐƯỜNG.

HẠNH PHÚC = vị mặn của từng giọt nước biển, vị giải thoát của từng pháp trong hiện tượng vạn pháp .. vốn là TỰ TÂM SINH

một khi chúng ta vô tình, theo thói quen, tánh khí mà vẫn "thường vô tinh mắc phải" [smile] tự chúng ta cũng lâm vào phiền não, và những lúc đó, những biểu hiện thăng trầm, thị bịnh của tâm cũng xuất hiện như là: NĂM TRIỀN CÁI.

- Tham

- Sân

- Hôn trầm

- Trạo Cử

- Nghi.

Và những biểu hiện này của TÂM cũng không khó gì để mà quán sát bởi vì khi an trụ nơi tìm cầu không đúng chỗ, sai lầm nhân quả -->> sẽ dấn đến hiện tượng tính toán, suy tư quá nhiều, tâm hoạt động quá độ .. làm nên sự mệt mỏi, khó chịu, bất an ... và khi cái tham, và sân tìm cầu nơi không đúng chỗ vẫn cứ xảy ra hoài .. thì đúng như là hiện tượng "DUYÊN THỦ HỘ" sinh ra như lời đức Phật đã giảng trong Kinh Đại Duyên trên.

Do đó, có lẽ chúng ta nên quán "không" để xem thử: PHÁP và TÂM đâu mới là cội nguồn của hạnh phúc ? [smile]

- chỗ chúng ta dễ tổn thương không hạnh phúc, dễ hư hoại là PHÁP .. vì khi duyên không đủ, bị ngăn ngại, không thể xảy ra, mà cứ bám trụ mãi ở đấy: thì có khác gì là lập tri kiến nơi vô minh mà truy cầu hạnh phúc.

- và chỗ chúng ta khó tổn thương chính là nguồn gốc là TÂM vốn là cái nguốn sinh ra hiện tượng vạn pháp.


Có lẽ vì thế mà cổ đức thường khuyên chúng ta một câu: nghĩ tìm là trái.

Phải chăng, khi phải nghĩ tìm, có lẽ là lúc chúng ta đang mắc phải: CÁI "HUYỄN THÂN", "HUYỄN TÂM" của một pháp .. và đã đánh mất nơi bắt đầu, chính là "TÂM".

Tâm vì thế được ví như là "VỐN CÓ SẴN LỬA RỒI" chỉ cần biết cách làm sao làm ra lửa nên Thiền Sư Khuông Việt mới viết lên bài thơ:

Mộc trung nguyên hữu hoả
Hữu hoả, hoả hoàn sinh
Nhược vị mộc vô hoả
Toản toại hà do manh.

Trong cây vốn có lửa
Có lửa, lửa mới bừng
Nếu bảo cây không lửa
Cọ xát do đâu bùng.

Nói kệ xong, Sư ngồi kiết già mà mất, thọ 82 tuổi

*** đây là bài kệ cuối cùng thiền sư Khuông Việt viết [smile]


KLL
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,481
Điểm tương tác
1,744
Điểm
113
Phần IV

2/. Quán Bát bất trung Đạo


Kính cảm ơn ĐH KLL đã chỉ ra TÂM: Nơi hiện tượng Vạn Pháp "bắt đầu" ?
Thực ra khi quán về "TÂM", chúng ta nên chia ra 2 phần:

Chân Như Tâm và Vọng Tâm.

a. Chân Như Tâm. Tức là Chân Tâm, là Chân Như Bổn giác nó là cội nguồn, Nhưng nó lại Không Sinh Bất cứ cái gì.

...RẤT LÀ KHÓ HIỂU !!!

Làm sao chúng ta biết ta có TÂM ?

Ví như dòng điện: Khi chúng ta thấy đèn sáng, thấy mô tơ chạy, thấy bị điện giật v.v... thì chúng ta biết có Điện.

Cũng vậy. Khi qua mắt ta Thấy, qua tai ta nghe, qua mũi ta ngưỡi được, lưỡi ta nếm được, qua não ta suy nghĩ được. Ta biết ta có TÂM.

Tâm có 2 Phần TỊCH và CHIẾU.

Ở phần Chân Như Tâm này, chúng ta quán về Phần TỊCH

( phần CHIẾU sẽ nói thêm ở phần Vọng Tâm)

Ở Đại Trí Độ Luận dạy:

Lời tựa: Muôn sự muôn vật đều do sinh sinh mà được hình thành. Thế nhưng cội gốc của sinh sinh lại là vô sinh. Từ vô thỉ đến nay và mãi mãi về sau, tính vô sinh ấy vẫn thường bất động. Do duyên khởi biến hóa mà giả danh có các sự vật. Thật ra, tất cả các sự các vật đều là hư vọng, là không thật có, là vô tự tính. Phàm phu do chìm đắm trong mê muội, mà khởi các vọng chấp cho rằng các sự vật là thật có.

Trong kinh A Hàm, Phật dạy rằng: “Các sự thấy nghe hay biết của chúng sinh đều do nhiễm trước nơi cảnh sở duyên mà có”. Chúng sinh do bị vô minh ngăn che tâm trí, nên khởi sinh các tà kiến chấp, vì vậy mà bị các pháp sai sử.

Chỉ có trí huệ Bát Nhã mới làm tan biến được mà vô minh u ám, mới hiển bày được thật tướng của các pháp. Dùng trí huệ Bát Nhã soi chiếu đến tận gốc rễ sẽ liễu ngộ được lý siêu việt chân thường, dẫn đến chỗ tuyệt tư cảnh giới. Trái lại, nếu dùng danh tự ngôn ngữ mà diễn đạt thì sẽ trái với chỗ thậm thâm vi diệu; còn nếu dùng lý trí mà tư duy, thì sẽ mất đi chỗ y chỉ.

Ở nơi Tam tạng Pháp Bảo, hàng Thanh Văn cũng không liễu tri đến chỗ thâm diệu; còn người tạp học thì phải chịu thúc thủ chẳng sao bước vào được cửa Không, chỉ ví như cá muốn hóa rồng, phí công mà chẳng sao được như nguyện, đành phơi mang trước cửa Long cung.
Chúng ta nên dùng Bát Bất Trung Đạo để Quán Chân Như Tâm.

Bát bất gồm có 8 loại không. Đó là: Bất sinh bất diệt, bất đoạn bất thường, bất nhất bất dị và bất khứ bất lai.

Đây là 8 loại lập luận để thấy con đường trung đạo. Nghĩa là không phải cái nầy mà cũng chẳng phải cái kia.

Hoà Thượng Thích Như Điển có bài viết về Bát Bất như sau:

Thông thường chúng ta chấp có, chấp không, chấp còn chấp mất, chấp sinh chấp diệt, chấp đến chấp đi v.v... Vì lẽ ta dùng con mắt bình thường của thế gian để xem và phán xét như thế. Còn Bồ Tát nhìn sự vật của tâm thức trước và sau rỗng không vô định, chẳng có giới hạn bởi thời gian và không gian; cho nên mới đưa ra lập luận ấy.

Thế nào là bất sinh bất diệt? Nghĩa là ta vốn chẳng sinh ra và cũng chẳng mất đi. Cái mà gọi là sinh đó, thật ra nó chỉ là một hiện tượng. Vì ta thấy có một con người, một sự vật hiện hữu ở đời nầy. Rồi sống một thời gian trên cõi thế để rồi một ngày nào đó ta phải ra đi; gọi việc ấy là mất; nhưng mất cái gì và còn cái gì? - Cái được gọi là mất đó thật sự ra nó cũng chỉ là một sự trả lại cho đất trời vạn vật; cho đất, nước, gió, lửa mà thôi. Vì khi ta sinh ra ta đã vay mượn của thiên nhiên vạn vật thì khi ta chết đi ta chỉ trả lại mà thôi. Do vậy mà dưới mắt Bồ Tát chẳng có sự sinh và chẳng có sự diệt. Ta mất chỗ nầy, ta sẽ hiện hữu ở nơi khác và từ nơi khác sẽ đến chốn nầy để tồn tại một thời gian; rồi một ngày nào đó sự hiện hữu ấy cũng phải thay đổi vậy.

Bất đoạn bất thường; nghĩa là chẳng mất mà cũng chẳng còn. Cái chẳng mất ấy chính là tâm thức của ta. Tâm ta giống như một dòng điện. Dòng điện ấy luôn luôn tồn tại ở mọi nơi, mọi chỗ và mọi hình thức khác nhau; nhưng khi một bóng đèn cháy rồi, ta không còn thấy ánh sáng nữa, ta gọi là mất; nhưng thực sự ra ánh sáng ấy vẫn còn, nó đang hiện hữu trong dòng điện ấy. Bằng chứng là nếu ta thay một bóng đèn khác thì nó sẽ sáng lên. Ánh sáng ấy nói là thường cũng không đúng, mà nói là mất cũng không đúng. Vì lẽ ánh sáng ấy chỉ thay đổi, xê dịch tùy thời mà thôi. Tâm thức ta cũng giống như vậy. Khi ta còn cảm giác thì bảo rằng ta biết. Khi hơi thở hết rồi thì gọi là chết, mà ngay cả hơi thở ấy cũng vay mượn của đất trời, chứ đâu có cái gì là của ta. Nó không có chủ thể thật sự. Khi hít không khí vào để nuôi buồng phổi, rồi thở không khí ra để tạo sự tuần hoàn. Khi không còn hít thở được nữa thì ta bảo rằng đã dứt sự sống. Tâm thức ấy thực sự ra không hoàn toàn là một tâm thức độc lập. Nếu ta là người thì tâm ta là người. Nếu ta là vật thì dòng tâm thức ấy sẽ thay đổi thành sự nhận biết của con vật, chứ không thể là sự nhận biết của con người được. Do vậy nếu nói tâm ấy thường còn là điều không đúng.

Như vậy tâm ấy sẽ đi về đâu? - Đó chỉ là một sự biến tướng của sự nhận thức. Khi làm chúng sanh thì tâm ấy là chúng sanh. Khi làm A La Hán thì tâm ấy sẽ chuyển đổi; khi làm Bồ Tát thì tâm ấy lại càng mạnh mẽ hơn để lao vào đời mà cứu độ chúng sanh. Khi thức đã chuyển thành trí trọn vẹn thì tâm ấy là Niết Bàn, Vô Ngã, Chơn Như, Tịch Tịnh. Cũng là một dòng nước; nhưng khi chảy đến chỗ đất lở thì ta thấy đục và khi chảy đến chỗ cát hoặc sỏi đá ta thấy trong. Sở dĩ ta thấy trong hay đục là do nhận thức chấp trước của mình mà có, chứ thật ra nước không trong mà cũng chẳng đục. Do vậy mà tâm nầy cũng chỉ thế thôi.

Bất nhất bất dị nghĩa là không phải một mà cũng chẳng phải khác. Điểm nầy hơi khó. Vì lẽ ít có loại triết học nào giống như triết học của Trung Quán. Đa phần các học thuyết khác đều dựa vào một đấng thần linh để làm chủ tể sinh ra vạn vật và có mọi quyền năng bắt buộc loài người phải tuân theo; nhưng ở giáo lý của Đức Phật không có điều đó. Có nghĩa là không ai sinh ra loài người cả. Ngoại trừ nghiệp lực của con người đã tự tạo trong quá khứ và chính nghiệp nầy đã và sẽ dẫn ta đi lên thiên đường hay xuống địa ngục mà thôi. Trong truyện Kiều phần hết có 4 câu thơ thật hay có thể diễn tả được tính cách nầy.

"Đã mang lấy nghiệp vào thân
Cũng đừng trách bởi trời gần trời xa
Thiện căn vốn tại lòng ta
Chữ tâm kia mới bằng ba chữ tài"
Chỗ khác biệt của Giáo Lý Phật và Bà La Môn giáo là ở đây:

+ Bà La Môn Giáo: thì Đại Ngã sanh ra Tiểu Ngã, khi tu hành thì đem Tiểu Ngã về với Đại Ngã là Thành Đạo. Nghĩa là CÓ SANH, CÓ DIỆT, CÓ ĐẾN, CÓ ĐI.

+ Phật giáo: Thì Chơn Như Bất sinh bất diệt, bất đoạn bất thường, bất nhất bất dị và bất khứ bất lai.

Khi nhận ra, khế hợp được Chân Như thì chính mình là Chân Như, mà KHÔNG SANH, KHÔNG DIỆT, KHÔNG ĐẾN, KHÔNG ĐI.

Bởi vậy đối với Chân lý:

Không có quả Phật để chứng đắc.- Vì mình chính là Phật, nên không thêm, không bớt.

Không có Cảnh Niết Bàn, Cực Lạc ở nơi nào khác để về.- Vì Pháp giới Nhất Chân.

Kinh tiểu Bát Nhã dạy:

Nầy Xá Lợi Tử, tướng không của các pháp ấy chẳng sinh chẳng diệt, chẳng nhơ chẳng sạch, chẳng thêm chẳng bớt.
Cho nên trong cái không đó, nó không có sắc, không thọ tưởng hành thức.
Không có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý. Không có sắc, thanh, hương vị, xúc pháp. Không có nhãn giới cho đến không có ý thức giới.
Không có vô minh,mà cũng không có hết vô minh. Không có già chết, mà cũng không có hết già chết.
Không có khổ, tập, diệt, đạo.
Không có trí cũng không có đắc, vì không có sở đắc.
Khi vị Bồ Tát nương tựa vào trí tuệ Bát Nhã nầy thì tâm không còn chướng ngại, vì tâm không chướng ngại nên không còn sợ hãi, xa lìa được cái điên đảo mộng tưởng, đạt cứu cánh Niết Bàn.
Các vị Phật ba đời vì nương theo trí tuệ Bát Nhã nầy mà đắc quả vô thượng, chánh đẳng chánh giác.
 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,983
Điểm tương tác
622
Điểm
113
Kính Thày VQ:

Độ khoảng hơn 15 năm trước, lúc đó tình cờ coi bộ phim chưởng, Bố Y Thần Tướng, ở trong đó có một vị đại sư tên là Bất Cầu niệm đoạn kinh Kim Cang:

Phàm sở hữu tướng
hư thị giai vọng

nhược kiến chư tướng phi tướng
tức kiến Như Lai


** Bữa đó, cách hai ngày sau khi cô bé lớn của KLL chào đời, KLL xin nghỉ ở nhà chăm con. Và trước đó, thì cũng đã biết qua hai câu nói của HT Thích Từ Thông trong một bài Kinh Giảng của ngài:

Chí lạc mạc như độc thư

chí yếu mạc như giáo tử


** đọc sách là một niềm vui, dạy con thì phải dạy điều thiết yếu. Nhưng KLL muốn dạy con mình điều gì bây giở ?? [smile]


Và cũng kể như ngày đó, là ngày đầu tiên KLL lên đường tim cái gọi là CHƯ TƯỚNG PHI TƯỚNG đó.

- Nếu có cái gì sanh ra được, thì đã không còn là Chơn Tâm [smile]

Nhưng cả câu nói này, cũng phải tốn gần mười năm KLL mới lãnh hội nổi ... và từ đó mới hiểu được hai câu này của Tam Tổ Tăng Xán trong Tín Tâm Minh:

Nhất không đồng Lưỡng
tề hàm vạn tượng


Có lẽ, khi chúng ta nói NHẤT đồng với "cái LƯỠNG" nào đó, tức cũng là đã xảy ra hiện tượng mà Thiền Sư Cảm Thành gọi là: đã đi quá xa rồi, không còn là CHƠN TÂM nữa.

Một lần có vị Tăng đến hỏi: "Thế nào là Phật?".

Sư đáp: "Khắp hết mọi nơi."

Lại hỏi: "Thế nào là tâm Phật?".

Sư đáp: "Chẳng từng che giấu."

Lại thưa: "Người học không hiểu".

Sư bảo: "Đi quá xa rồi".

Đó, khi tất cả cả tướng đều là biến hiện của CHƠN TÂM, thì đúng là chỗ: CHƠN TÂM chẳng từng che giấu, ở khắp mọi nơi .. tề hàm vạn tượng.

Và cũng vẫn cái chỗ không hiểu, chính là chỗ dính mắc: vì đó chính là hiện tượng LY TÂM đã xảy ra.


Phật Đạo tu hành tại tâm

- Có phải chăng là khi nào NĂNG LỰC CHỮA LÀNH THANH TỊNH thật sự từ TÂM mà có .. thì mới là chỗ "TÂM TỨC LÀ PHẬT" bởi vì khi đó, TÂM chính là nguồn gốc, là chỗ tựa của hiện tượng vạn pháp ?


Kinh Đại Niết Bàn, phẩm Kiều Trần Như có một đoạn nói về: CŨNG HAI CŨNG MỘT cũng kỳ lạ và khó hiểu luôn, một khi chúng ta không hiểu rõ NGUỒN NĂNG LỰC của TÂM.

- Tuy Nhất với Nhị: Chơn Tâm và Vạn Tướng là hai .. nhưng Tướng là Chơn Tâm, Chơn Tâm là Tướng, vốn là Hai, vốn là Một,

và nếu "gom lại thành một tự tính" = gọi là KHÔNG thì chắc chắn,

-->> NGHĨA của câu nói này phải có người thật sự LƯỢM ĐƯỢC NHIỀU NGHĨA lắm mới hiểu [smile]

bởi vì Các Tướng vẫn còn,

nhưng Tự Tính = Không = Thanh Tịnh như ngọn đèn soi

và Tâm = chính là nguồn năng lượng làm nên sự thanh tịnh của ngọn đèn soi đó.

Có lẽ vì vậy mà Lục Tổ Huệ Năng khi vừa liễu ngộ đã thốt lên:

Đâu ngờ, tự tính xưa nay vẫn thanh tịnh


A. Đoạn Kinh Đại Niết Bàn về Năng Lực của TÂM: như ngọn đèn SOI

** và có lẽ, phải thực hành được .. như là vị A La Hán dưới đây, cũng được đức Phật giảng hiểu ra được pháp tứ đế, mới nhận ra được, .. nguyên lý của Tứ Đế cũng là: cũng hai cũng một.

À thì ra LIỄU NHÂN và SINH NHÂN là hai là một .. cũng một cũng hai.



Ðức Phật nói rằng: - Này ông Bà la môn! Sao gọi là tác nhân?

- Thưa ông Cù Ðàm! Từ tính sinh ra đại, từ đại sinh ra mạn, từ mạn sinh ra mười sáu pháp. Ðó là đất, nước, lửa, gió, không, năm trí căn; mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, năm nghiệp căn; tay, chân; miệng, tiếng, nam nữ hai căn, tâm bình đẳng căn. Mười sáu pháp đó từ năm pháp sinh ra là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Căn bản của hai mươi mốt pháp này có ba: Một là nhiễm, hai là thô, ba là đen (hắc). Nhiễm gọi là ái, thô gọi là sân, đen gọi là vô minh. Này ông Cù Ðàm! Hai mươi bốn pháp này đều nhân tính sinh ra!


Này ông Bà la môn! Trong pháp của các ông có hai nhân chăng:
Ðáp rằng: - Có!

Ðức Phật hỏi: - Cái gì là hai?
Bà la môn đáp: - Một là Sinh nhân, hai là Liễu nhân!

- Ðức Phật hỏi: - Sao là Sinh nhân? Sao là Liễu nhân?

Bà la môn đáp: - Sinh nhân thì như đất bùn làm ra cái bình. Liễu nhân thì như đèn soi vật!

Ðức Phật nói rằng: - Hai thứ nhân này nhân vào tính là một. Nếu là một thì có thể khiến cho sinh nhân tác động đến liễu nhân và có thể khiến cho liễu nhân tác động đến sinh nhân chăng? -

Chẳng vậy! Thưa ông Cù Ðàm!

Ðức Phật nói rằng: - Giả sử, nếu sinh nhân chẳng tác động đến liễu nhân và liễu nhân chẳng tác động đến sinh nhân thì có thể được nói rằng là tướng của nhân không?

Vị Bà la môn nói rằng: - Tuy chẳng tương tác nhưng có tướng của nhân!

- Này ông Bà la môn! Cái liễu (rõ) của liễu nhân tức là đồng với liễu chăng? - Chẳng đồng! Thưa ông Cù Ðàm!


Ðức Phật nói rằng: - Pháp của ta tuy từ vô thường chứng được Niết Bàn mà chẳng phải vô thường. Này Bà la môn! Niết Bàn được từ liễu nhân nên Thường Lạc Ngã Tịnh,

còn cái được từ sinh nhân nên vô thường, vô lạc, vô ngã, vô tịnh. Vậy nên lời nói của Như Lai có hai.


Như vậy lời nói hàng hai mà không có hai.

Vậy nên Như Lai gọi là Vô Nhị Ngữ.

Như lời nói của ông, từng nghe từ bên những người trí kỳ cựu trước, Phật ra đời không có lời nói hàng hai, lời nói này hay lắm! Lời nói của tất cả các đức Phật ba đời mười phương không sai. Vậy nên nói rằng, Lời của Phật không hai! Không sai là sao? Là có thì đồng nói có, không thì đồng nói không nên gọi là một nghĩa. Này Bà la môn! Như Lai Thế Tôn tuy gọi là hai lời nhưng được hiểu là một lời. Sao là hai lời mà hiểu (rõ) là một lời? Như mắt thấy sắc là hai lời, sinh ra thức là một lời... cho đến ý và pháp cũng lại như vậy!

Bà la môn nói rằng: - Thưa ông Cù Ðàm! Ông khéo có thể phân biệt nghĩa của lời nói như vậy mà tôi nay chưa lý giải sự phát ra hai lời mà hiểu được một lời!

Bấy giờ đức Thế Tôn liền vì ông ấy tuyên nói bốn pháp Chân Ðế: - Này ông Bà la môn! Khổ Ðế thì cũng hai cũng một... cho đến Ðạo đế cũng hai cũng một.

Bà la môn bạch rằng: - Thưa đức Thế Tôn! Con đã biết rồi! Ðức Phật dạy rằng: - Này thiện nam tử! Sao là biết rồi?

Vị Bà la môn bạch rằng: - Thưa đức Thế Tôn! Khổ Ðế thì tất cả phàm phu hai, thánh nhân một... cho đến Ðạo đế cũng lại như vậy! Ðức Phật dạy rằng: - Hay thay! Ông đã hiểu rồi!



Vị Bà la môn bạch rằng: - Thưa đức Thế Tôn! Con nay nghe pháp rồi, rồi Chính Kiến. Hôm nay con sẽ qui y Phật bảo, Pháp bảo và Tăng bảo. Nguyện xin đấng Ðại Từ cho phép con xuất gia! Bấy giờ đức Thế Tôn bảo ông Kiều Trần Như rằng: - Ông phải vì ông Xà Ðề Thủ Na này cạo bỏ râu tóc, cho ông ấy xuất gia. Ông Kiều Trần Như liền nhận lời dạy bảo của đức Phật, vì ông ấy xuống tóc. Khi ông Kiều Trần Như xuống tay thì có hai thứ rơi xuống theo: Một là râu tóc, hai là phiền não. Tức thời ở tại chỗ ngồi ông Xà Ðề Thủ Na đắc quả A la hán.


KLL
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,481
Điểm tương tác
1,744
Điểm
113
Phần IV

2/. Quán Bát bất trung Đạo (tt)


b/. Sanh Diệt Tâm (Vọng Tâm):

Ở trên đã nói về Bát bất trung Đạo là đặc tánh TỊCH của Chân Như Tâm. Nhưng Chân Như Tâm lại cũng có đặc Tánh CHIẾU.- Đó là: Khi qua mắt ta Thấy, qua tai ta nghe, qua mũi ta ngưỡi được, lưỡi ta nếm được, qua thân cảm xúc được qua não ta suy nghĩ được. Nó hình Thành KIẾN, VĂN, GIÁC, TRI. Chúng lấy Ý THỨC làm chủ đạo .Nên còn gọi là TÂM Ý .- Chính Tâm này sanh ra các Pháp, như bài kệ kinh Pháp Cú:

1. "Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo;
Nếu với ý ô nhiễm,
Nói lên hay hành động,
Khổ não bước theo sau,
Như xe, chân vật kéo ".

2. "Ý dẫn đầu các pháp,
Ý làm chủ, ý tạo,
Nếu với ý thanh tịnh,
Nói lên hay hành động,
An lạc bước theo sau,
Như bóng, không rời hình ".

Tâm Ý này rất vi tế (Ở Duy Thức Luận có nói rõ).

Tuy Vọng Tâm này thuộc về CHIẾU. Nhưng nếu chúng ta TUỲ CHIẾU thì sẽ bị sanh tử luân hồi. Nếu chúng ta biết PHẢN CHIẾU thì sẽ trở lại Chân Như Tâm, được Vô Sanh.- Quán Bát Bất Trung Đạo cũng là Quán Bình Đẳng Tánh Không.

Tóm lại: Chân Như có 2 đặc tính Tịch và Chiếu. Tịch là Chơn Không, Chiếu là Diệu Hữu.

 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,983
Điểm tương tác
622
Điểm
113
Kính Thày VQ:

[[[ KLL nếu có nói điều gì sai Phật Lý, vẫn thật lòng kính xin thày tận tình chỉ dạy, KLL nguyện xin học hỏi]]]

Lúc trước, KLL có đọc một bài viết về Mặc Chiếu và Khán Tịnh của HT Thích Duy Lực, tuy nhiên, lúc đó vì hỏng hề hiểu gì về Chơn Tâm, nên thật lòng không hiểu. Cho tới khi học được các nhận thức về Như Lai Tạng, và Thất Đại Hoàn Nguyên trong bài giảng về Kinh Thủ Lăng Nghiêm của HT Thích Từ Thông và được Lão Ca chỉ phương pháp tự quan sát nơi các thức sinh diệt và lập thành.

Nhưng hôm qua, thấy thày đưa ra hai đặc tính của Tâm: Tịch và Chiếu. Phải chi cách đây 10 năm thày Từ Thông hay Thày giảng mà KLL thấy câu này thiệt là hay quá.


A. Tâm ở dạng Chiếu Sáng: Thức

Có một lần đọc về đặc tính của tánh sân trong Duy Thức Học và nhìn thấy một đặc tính của tánh sân bao gồm: chiếu sáng, không che giấu.


Chúng ta thử cùng nghĩ lại lúc chúng ta giận coi, khi đó chúng ta sẽ nói cho người ta biết: TÔI là vậy đó, không vậy thì không được.

- thì đó là đặc tính chiếu sáng, không che đậy của tâm mỗi khi tánh sân xuất hiện.


Nhưng dù là che giấu, hay không che giấu, là che đậy hay không che đậy, chúng ta vẫn sống với nhận thức về TÂM chỉ khi nó chiếu sáng thôi. Chúng ta có thể đơn cử một số thí dụ, và hiện tượng này thường thấy nhất là ở trong thi ca, những bài thơ, những bản tình ca.


i. Kiếp Cầm Ca

Khi biết em mang kiếp cầm ca .. đêm đêm phòng trà dâng tiếng hát cho người người

Lân múa hay nhờ tiếng pháo. Nghệ sĩ hát hay nhờ tiếng vỗ tay. Và sau khi ánh đèn sân khấu chợp tắt, người nghệ sĩ, ngồi đó, một mình trong bóng đêm; lẻ loi cô quạnh. Và đó thường là tâm sự lẻ loi cô độc của những người nghệ sĩ, đặc biệt là khi họ không hành nghề một thời gian. Họ sẽ nhớ ánh đèn sân khấu, những khuôn mặt rạng rỡ chờ họ xuất hiện, tiếng vỗ tay, tiếng khen, vv.

Và như vậy, họ đang sống với một PHÁP: khi mà TÂM xuất hiện với dạng CHIẾU SÁNG, PHÁT QUANG của tâm chứ không hề sống khi tâm ở dạng tịch tĩnh.


ii. Tâm Sự của những người Con Gái lấy chồng .. rồi khi không hạnh phúc không biết về đâu

là con gái là hoang mang mùa hạ
là cả đời than thở nửa vầng trăng
là nỗi buồn em bỏ xứ: thiết tha
là nỗi nhớ: một đời sông nước lạ

là con gái: chỉ âm thầm biết dạ
có ngờ đâu nẻo quê ngoại chập chùng
một sáng buồn vương nặng kín tâm tư
dừng chân ngó lối mòn trong dĩ vãng [bài này KLL viết .. smile]

Đó, chúng ta cũng nhìn thấy, là những người con gái mới lớn, tới tuổi cập kê, lấy chồng .. rôi bước dồn theo bước, dạ lần theo dạ .. càng bước càng xa quê ngoại, càng đi xa luôn cả chính mình, tới độ tới một hôm nhìn lại:

- không còn biết mình là ai .. đã đi đâu .. tại sao làm vậy ? .. và không biết sẽ làm gì ?

Đó là vì chúng ta rất là quen sống với CÁC PHÁP, và chỉ sống với sự CHIẾU SÁNG của TÂM mà chúng ta chỉ định nghĩa: chính sự chiếu sáng, phát quang đó mới là TÂM. Nhưng đó là TÂM ở dạng tâm "THỨC" thôi.


iii. Những Lối Sống và những Lời Thở Than: khi ta là Sóng

Có lẽ, thi sĩ Xuân Quỳnh miêu tả hiện tượng sống với SÓNG .. sống là SÓNG, sống là Thức hay nhất.

dữ dội và dịu êm
ôn ào và lặng lẽ
SÓNG không hiểu nổi mình [smile]
--> sóng tìm ra tận bể

Ôi cơn sóng ngày xưa
và ngày sau với vẫn thế
nỗi khát vọng tình yêu
bồi hồi trong ngực trẻ


Dường như mỗi cơn sóng đều tự thấy nó vốn đầy đủ:

- dữ dội và dịu êm

- ồn ào và lặng lẽ

Nhưng cũng dường như, cơn sóng nào cũng tự biết: có một cái gì đó tồn tại vốn khó hiểu, mới mẻ, sinh động, nhưng không phải là cái gì đó vốn là nền tảng.

Có thể nào, chúng ta chỉ quen sống như những người trẻ: THỨC. Chỉ sống với dạng "THỨC" của TÂM để mà chúng ta không hề biết:

- Ta là ai ? và,

- Ta từ đâu đến ?

Để rồi, chúng ta là SÓNG mà lại cứ tìm ra tận bể để mà tìm BIỂN.



B. Tam Tánh và Chơn Tâm Tịch Tĩnh : CÁI THẬT ở bên trong nội tâm

Chơn tâm, tồn tại ở dạng tịch tĩnh: bất tăng bất giảm, bất cấu bất tịnh .. không phải tự nhiên, không phải nhân duyên .. là nơi tất cả vạn pháp hoàn, là chỗ tất cả pháp khởi nguyên, là con người vô sanh trước khi có những con người.

Theo Duy Thức Học, tàng thức, khi không còn bị ngã ái của Mạt Na và Ý Thức xông ướp nữa, sẽ trở thành: Như Lại Tạng, Phật Tánh. Hiện tượng bể khổ tồn tại khi chúng ta CHẤP VỌNG CÁI THẬT ở bên ngoài, mà không coi cái ở bên trong: TÂM của chúng ta là cội nguồn của HẠNH PHÚC.

Vấn đề chấp mắc và sai lầm của các Thức khi chiếu tâm ra bên ngoài có thể diễn giải và hiểu được bằng hiện tượng TAM TÁNH

a) Y tha khởi tánh: Nghĩa là ngoại cảnh tuy không, nhưng Nội thức lại có; ngoại cảnh lại y nơi Nội thức kia mà sanh (Y tha khởi); nếu không có Nội thức thì ngoại cảnh chẳng có. Do đây suy xét, trong thế gian nào là núi, sông, đất liền, người và vật v.v… không có một cảnh nào chẳng y Nội thức biến hiện.

b) Biến kế sở chấp tánh: (vọng chấp) –Nghĩa là các cảnh vật đều từ Nội thức biến hiện không thật, mà không trở lại điên đảo so đo chấp các cảnh ấy ngoài tâm và thật có. Nếu có người nói các cảnh đó là giả, thì nhứt định không tin, cũng như tôi vừa rồi ở trong chiêm bao thấy giảng đường, người và vật v.v… quyết định nói là thật; đợi đến khi thức giấc rồi mới tin đó là giả.

c) Viên thành thật tánh: Nghĩa là nhận thức đúng với lẽ thật. Như người khi thức tỉnh mới biết cảnh chiêm bao là giả.



Cổ tích Phật Giáo có kể một câu truyện về sự KHÉO LÉO của Đức Phật khi hướng dẫn người khác đang mắc phải Vọng Chấp, do Thức Mạt Na và Ý Thức biến Tạng Thức thành Ngã Ái Chấp Tàng. Và Đức Phật sử dụng phương pháp thực dụng và khéo léo của ngài:

- biến Tạng Thức trở thành Bạch Tịnh Thức, Như Lai Tạng.



Chuyện kể lại một bà cụ không may có một đứa con bị mất sớm. Bà chấp cảnh đứa con còn sống làm an vui, nên đau lòng không dứt.

Bà ôm xác người con tới xin Đức Phật cứu sống lại con của bà. Thời gian tiếp tục trôi, thân xác đứa con đã từ từ rã mục, nhưng biến kế sở chấp, vọng chấp của bà KHÔNG TAN.

Thế là đức Phật mới bảo bà:

- Bà cứ đi khắp các nơi, kiếm được nhà nào có người thân 5 đời mà còn sống, bà cứ xin bộ quần áo của người về cho ta, ta sẽ cứu sống được con bà.

Thế là bà cụ vâng lời ra đi, bà đi lang thang hết nhà này tới nhà nọ, xóm này tới xóm kia, càng đi càng xa

- và càng đi, bà càng nhận ra, là đâu có nhà nào có người thân 5 đời mà vẫn còn sống đâu ..

- nhưng họ vẫn sống bình thường ...


Và từ từ, tâm trí và vọng chấp của bà xoay chuyển .. thức mạt na và ý thức không còn xông ướp NGÃ ÁI vào TẠNG THỨC khiến cho Tạng Thức trở thành Ngã Ái Chấp Tàng nữa ...

cho tới một hôm, bà quyết định trở về. Khi gặp đức Phật bà đã thôi không còn lời cầu xin đó nữa, vì khi đó

---> TÁNH VIÊN THÀNH THẬT của TÀNG THỨC đã phát động .. và đó chính là PHẬT TÁNH đã hiển lộ.





*** Nhà Duy thức học nghiên cứu đến chỗ cùng tột, mới đặt được cái tên của Thức thứ Tám (A lại da) này. Chúng phàm phu và ngoại đạo nói rằng: “Tôi” hay “thân thể Tôi”, tức là chỉ cho thức A lại da. Thức này tức là Phật tánh, cũng kêu là Như Lai tạng.

Do Thức thứ Bảy “chấp Ta”, nên nó biến thành tạp nhiễm, thì kêu là “A lại da” hay “Ngã ái chấp tàng”.

Nếu Thức thứ Bảy không chấp “Ta” thì nó lại thanh tịnh, nên gọi là “Như Lai tạng” hay “Phật tánh”. - Duy Thức Học, Thích Thiện Hoa

KLL

*****************************************



Kính ĐH KLL vấn đề này VQ đồng cảm với Bạn.

Mến
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,481
Điểm tương tác
1,744
Điểm
113
Phần IV.

* C/. Quán Thật tướng Tịch Diệt.


Kính các Bạn. Thật Tướng là Vô tướng, Tịch Diệt là Niết Bàn. Những Tri kiến này không thể dùng ngôn ngữ diễn tả được, không thể thấy bằng Tri kiến phàm phu được. Do đó phải dùng phương tiện Quán Tri kiến mà từ đó chúng ta lần vào !

Kính mời các Bạn cùng Quán Tri kiến.

Thế nào là Tri- Kiến ? Tri là biết, kiến là thấy. Nói tri kiến là đại biểu cho diệu dụng của Tâm: tức là kiến, văn, giác, tri.

Tri kiến có 2 mặt: Tri kiến lập tri và Tri kiến vô kiến


1/. Tri kiến lập tri :

Như kinh Niết Bàn Phật dạy:

kinh văn: Này Ca Diếp ! Luận về thấy, có hai cách: Một, thấy dáng mạo. Hai, thấy đích thực rõ ràng.

* Thế nào là thấy dáng mạo ? Chẳng hạn như thấy khói đằng xa gọi rằng thấy lửa nơi đó, dù không thấy lửa nhưng chẳng phải hư vọng. Thấy sừng trâu thập thò bên lùm lau sậy xa xa bèn nói là thấy trâu. Dù không thấy trâu, nhưng chẳng phải hư vọng. Như thấy cây mọc chồi non, bèn nói là thấy nước, dù chẳng thấy nước, nhưng cũng chẳng phải hư vọng. Như thấy người nữ thai nghén bèn nói là thấy dục, dù không thấy dục nhưng không phải là hư vọng. Như thấy thân nghiệp và khẩu nghiệp, bèn nói là thấy tâm, dù chẳng thấy tâm, nhưng cũng chẳng phải hư vọng. Thấy như vậy gọi là thấy dáng mạo.

* Thế nào là thấy đích thực rõ ràng ? Như trường hợp mắt trông thấy vật sắc. Mắt thấy vật sắc là thấy đích thực rõ ràng. Như người có mắt sáng tự xem trái quít để trên bàn tay. Đại Bồ tát thấy Đạo, thấy Bồ đề, Niết bàn rõ ràng cũng như vậy. Dù rõ như vậy, nhưng Bồ tát vẫn không có tướng thấy. Do nghĩa đó, trước đây Như Lai bảo Xá Lợi Phất: Rằng tất cả những gì sa môn, Bà la môn, Phạm thiên, ma vương, phàm phu hiểu, thấy, biết, Phật và Bồ tát cũng đều hiểu, thấy, biết. Những điều tất cả hạng người trên không hiểu, thấy, biết, Phật và Bồ tát đều hiểu, thấy, biết. Những điều người thế gian biết, thấy, hiểu, Phật và Bồ tát cũng đều biết, thấy, hiểu. Những điều người thế gian không biết, không thấy, không hiểu, họ không tự biết là họ không biết, không thấy, không hiểu. Như Lai thì tất cả đều biết, đều thấy, đều hiểu mà Như Lai không tự nghĩ rằng ta biết, thấy và hiểu hết. Bởi vì nếu còn có tướng thấy, biết, hiểu thì vướng phải "Tri kiến lập tri", không còn là Phật và Bồ tát mà gọi đó là phàm phu.
Kinh Thủ Lăng Nghiêm Phật dạy: Tri kiến lập tri tức Vô minh bổn, Tri kiến Vô kiến tư tức Niết Bàn.

Tại sao chúng sanh lại vướng phải "Tri kiến lập tri" ?
 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,983
Điểm tương tác
622
Điểm
113
Kính Thày VQ:

[[[ KLL nếu có nói điều gì sai Phật Lý, vẫn thật lòng kính xin thày tận tình chỉ dạy, KLL nguyện xin học hỏi]]]

Câu hỏi của Thày chiều qua KLL thấy, định trả lời, nhưng vì sợ mình quá nóng lòng [smile], nên đành tịnh khẩu một đêm rồi hôm nay mới trả lời.


Phật đạo tu hành tại Tâm. Nên KLL vẫn dựa vào mô hình tâm để trả lời câu hỏi này bằng hai dòng giáo lý khác nhau của Đức Phật:

A. Lý Duyên Khởi: Sự Xông Ướp các hạt chủng tử trong Tạng Thức làm nên Tâm Phan Duyên, Vô Minh.

B. Đệ Nhất Nghĩa Đế: Chơn Tâm Thường Trú




A. Lý Duyên Khởi: Sự Xông Ướp các hạt chủng tử trong Tạng Thức làm nên Tâm Phan Duyên, Vô Minh.

Chúng ta sống ở đời là cuộc sống có sự tương quan với thế giới vạn tượng. Từ nhỏ đã phải học hỏi rất nhiều nhân duyên:

- học nói, học chữ, học lễ phép, học gia đạo, đạo đức, học cách tương giao với người ngoài, thầy cô, gia đình, bè bạn

- học gói, học mở, học làm, học đủ mọi nhân duyên tự nhiên khoa học và nhân văn


i. Tay Phải Tay Trái:

Có người thì viết bằng tay phải. Từ nhỏ đến lớn, xông ướp, chạm đụng cây viết bằng tay phải quen rồi, tới giờ kêu viết bằng tay trái. Cũng không viết được. Đó là cái Tay Phải đã bị xông ướp bởi nhân duyên là học viêt, tay trai thì không. Vậy tay nào HỮU DỤNG hơn ? [smile]

Nhưng chúng ta làm việc gì cũng phải có trần lao, và cũng có lợi ích. Nếu không có lợi ích, thì không có bỏ trần lao và nếu không có trần lao, thì lợi ích sẽ không nhiều. Thí dụ như những người làm nghề viết thư pháp, hay ký giả, thông dịch viên nhiều khi vào phòng họp không được mang máy ghi âm, máy ảnh gì hết, chỉ được viết tốc ký.



ii. Nghề Nghiệp: Nhất nghệ tinh, nhất thân vinh ..

Đâu có nghề nào tới thông thạo mà không tốn nhiều trần lao và nước mắt đâu. Rất nhiều tâm huyết và đâu tư đã bỏ vào sự xông ướp để hình thành những nghệ nhân đó. Và những lợi ích họ có được, cũng làm nên cái vinh dự, vinh quang của họ.

iii. Rồi những Quân Nhân, Chí Sĩ: họ được dạy lòng yêu nước, chính nghĩa của dân tộc, những bộ nhân duyên mang lại lợi ích chung cho một nhóm người, và họ sẵn sàng xả mạng để bảo vệ lợi ích đó.

Tới độ, có nhiều người tới khi rời quân ngũ rồi, họ chịu không nổi, vì như là đánh rơi mất chính bản thân mình: có nhiều người nảy sinh ý định tự tử luôn [smile]


Quá trình xông ướp được đức Phật miêu tả bằng quy trình Thập Nhị Nhân Duyên bằng hai bước:

- Duyên Khởi

- và Tâm Tương Ưng với Duyên Khởi đó xảy ra


và sợi dây gắn liền Duyên Khởi đó với Tâm Tương Ưng đó, chính là: Ngũ Uẩn, Lục Nhập, Thập Nhị Xứ, Thập Bát Giới, Thất Đại, tức là "TẠNG THỨC" hay là NHƯ LAI TẠNG, cái tâm chơn chất, tinh khôi vốn chưa chịu sự xông ướp nào.


Như vậy, đứng ở vị trí này, chúng ta nhìn thấy DUYÊN KHỞI xông ướp TẠNG THỨC làm nên những "NHÂN NGÃ do NHÂN DUYÊN TẠO NÊN KHÁC NHAU" ... là nên hiện tượng vô minh bởi vì:

- khi duyên diệt, do sợi dây "ái thủ hữu xúc thọ" đã hình thành khiến chúng ta tưởng mình là NHÂN DUYÊN LUÔN. Hiện tượng tựa vào, ỷ mạn của TÂM khiên cho TÂM có thể bị nhân duyên ràng buộc và sai sử đó gọi là TÂM NHIỄM Ô, TÂM PHAN DUYÊN, chỉ là để phân biệt nó với cái tâm chưa bị xông ướp.


iv. Các Chân Lý Tục Đế: [smile]

Đây là chỗ có thể gọi là bi hài, khóc ra cười được bởi vì có nhiều khi, chính cái tâm PHAN DUYÊN được hình thành đó, lại chính là các CHÂN LÝ TỤC ĐẾ.

- một cô gái vừa lấy chồng: vừa bái hôn anh chồng bị bắt làm quân sai, đi một hồi chết queo, mất tích. Cô ta được làng ấp quan huyện ban cho cái bản LIỆT NỮ THỦ TIẾT THỜ CHỒNG, rồi cả đời dâng hiến cả tình yêu và con người bị trói buộc trong đó chẳng hạn.

- một vị tướng, can đảm anh dũng chiến đấu cho lợi ích của dân tộc và chết độ. ... khi thành thất thủ, bịnh bại thì thủ tiết TƯỚNG CHẾT theo thành. Những hiện tượng đó, chúng ta tôn vinh, trở thành những chân lý tục đế, và lợi ích và nghĩa chung, nhưng đó là bảo vệ: CÁI GỌI là TÂM PHAN DUYÊN khiến nhiều người cho rằng, trong đó có TỰ TÁNH, TỰ NGÃ luôn [smile].


Nhân Ái có LỢI, DỤNG TẦM CẦU. Lợi ích khiến chúng ta tạo nên những hệ thống lợi ích, làm cho những hệ thống đó bền vững tồn tại trong một thời gian, để rồi, chính chúng ta cũng nhầm lẫn cho rằng: TÂM TƯƠNG ƯNG ở trong TẠNG THỨC với hiện tượng nhân duyên là THƯỜNG và CÒN.

Những sự sai lầm đó, làm nên đủ những loại sai lầm về tri kiến mà đức Phật đã giảng trong kinh Trường Bộ I, Kinh Phạm Võng cũng là kinh đầu tiên trong bộ kinh này.


B. Đệ Nhất Nghĩa Đế: CHƠN ĐẾ


i. Chơn Tâm = Tạng Thức theo quan điểm Duy Thức Học

1. Bốn điểm quan yếu của học thuyết Duy thức: Đó là

a. tất cả hiện hữu chỉ là do thức, duy thức (vijnanapti-màtratà);

b. tất cả do vì tạng thức (àlayavijnanana) hiện khởi;

c. thức có ba tự tánh (tri-svabhàva), mà sau khi phân tích, thật ra lại là ba vô tự tánh;

d. tương liên giữa ba tự tánh và ba thân Phật (trikàya).


III. CHỨNG NGHIỆM CÓ BA TÁNH

a) Y tha khởi tánh: Nghĩa là ngoại cảnh tuy không, nhưng Nội thức lại có; ngoại cảnh lại y nơi Nội thức kia mà sanh (Y tha khởi); nếu không có Nội thức thì ngoại cảnh chẳng có. Do đây suy xét, trong thế gian nào là núi, sông, đất liền, người và vật v.v… không có một cảnh nào chẳng y Nội thức biến hiện.

b) Biến kế sở chấp tánh: (vọng chấp) –Nghĩa là các cảnh vật đều từ Nội thức biến hiện không thật, mà không trở lại điên đảo so đo chấp các cảnh ấy ngoài tâm và thật có. Nếu có người nói các cảnh đó là giả, thì nhứt định không tin, cũng như tôi vừa rồi ở trong chiêm bao thấy giảng đường, người và vật v.v… quyết định nói là thật; đợi đến khi thức giấc rồi mới tin đó là giả.

c) Viên thành thật tánh: Nghĩa là nhận thức đúng với lẽ thật. Như người khi thức tỉnh mới biết cảnh chiêm bao là giả.
- Duy Thức Học, Thích Thiện Hoa



ii. Phương Pháp của Đức Phật trong Kinh Trường Bộ, Kinh Sa Môn Quả:

Trong Kinh Sa Môn Quả, đức Phật trinh bày con đường giác ngộ bằng ba giai đoạn:


1. phòng hộ các căn, trì giới, chánh niệm tỉnh giác để làm thanh tịnh các triền cái


2. quán các bậc thiền Sắc Giới: Ly sanh, Định sanh, Lạc không Hỷ Sanh, Xả Niệm Thanh Tịnh


3. Sử dụng cái tâm Tịnh Tĩnh, dễ sử dụng đó, kiến tạo ra các thân sắc .. và sử "cái tâm tinh khôi chơn chất đó" đoạt vô lượng nghĩa để đắc TAM MINH


85. Với tâm:
- định tĩnh,
-thuần tịnh,
- không cấu nhiễm,
- không phiền não,
- nhu nhuyến,
- dễ sử dụng,
- vững chắc,
bình thản như vậy,

-->> Tỷ-kheo chú tâm, hướng tâm đến sự hóa hiện một thân do ý làm ra.

Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ý làm ra, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào.




Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến các thần thông. Vị ấy chứng được các loại thần thông, một thân hiện ra nhiều thân, nhiều thân hiện ra một thân; hiện hình, biến hình đi ngang qua vách, qua tường, qua núi như đi ngang hư không; độn thổ, trồi lên ngang qua đất liền, như ở trong nước; đi trên nước không chìm như trên đất liền; ngồi kiết già đi trên hư không như con chim; với bàn tay, chạm và rờ mặt trăng và mặt trời, những vật có đại oai lực, đại oai thần như vậy; có thể tự thân bay đến cõi Phạm thiên.

89. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến thiên nhĩ thông. Tỷ-kheo với thiên nhĩ thanh tịnh siêu nhân có thể nghe hai loại tiếng, chư Thiên và Người, xa và gần.

91. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến tha tâm thông. Tỷ-kheo sau khi đi sâu vào tâm của chúng sanh, của loài người với tâm của mình, vị ấy biết được như sau:


93. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến túc mạng minh. Vị ấy nhớ đến các đời sống quá khứ, như một đời, hai đời, ba đời, bốn đời, năm đời, mười đời, hai mươi đời, ba mươi đời, bốn mươi đời, năm mươi đời, một trăm đời, hai trăm đời, một ngàn đời, một trăm ngàn đời, nhiều hoại kiếp, nhiều thành kiếp, nhiều hoại và thành kiếp. Vị ấy nhớ rằng: "Tại chỗ kia ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ kia, ta được sanh ra tại chỗ nọ. Tại chỗ ấy, ta có tên như thế này, dòng họ như thế này, giai cấp như thế này, thọ khổ lạc như thế này, tuổi thọ đến mức như thế này. Sau khi chết tại chỗ nọ, ta được sanh ra ở đây". Như vậy Tỷ-kheo nhớ đến nhiều đời sống quá khứ cùng với các nét đại cương và các chi tiết.

95. Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến trí huệ về sanh tử của chúng sanh. Vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh, siêu nhân, thấy sự sống và chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng, chúng sanh người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng: "Này các Hiền giả, những Tôn giả này làm những điều ác hạnh về thân, lời và ý, phỉ báng các bậc Thánh, theo tà kiến, tạo các nghiệp theo tà kiến. Những người này sau khi thân hoại mạng chung, phải sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Hiền giả, còn những chúng sanh nào làm những thiện hạnh về thân, lời và ý, không phỉ báng các bậc Thánh, theo chánh kiến, tạo các nghiệp theo chánh kiến, những người này, sau khi thân hoại mạng chung, được sanh lên các thiện thú, cõi trời, trên đời này. Như vậy vị ấy với thiên nhãn thuần tịnh siêu nhân thấy sự sống chết của chúng sanh. Vị ấy biết rõ rằng chúng sanh, người hạ liệt kẻ cao sang, người đẹp đẽ kẻ thô xấu, người may mắn kẻ bất hạnh, đều do hạnh nghiệp của chúng.

97. "Với tâm định tĩnh, thuần tịnh, không cấu nhiễm, không phiền não, nhu nhuyến, dễ sử dụng, vững chắc, bình thản như vậy, Tỷ-kheo dẫn tâm, hướng tâm đến lậu tận trí. Vị ấy biết như thật "đây là khổ", biết như thật "đây là nguyên nhân của khổ", biết như thật "đây là khổ diệt", biết như thật "đây là con đường đưa đến khổ diệt", biết như thật "đây là những lậu hoặc", biết như thật "đây là nguyên nhân của lậu hoặc", biết như thật "đây là sự diệt trừ các lậu hoặc", biết như thật "đây là con đường đưa đến sự diệt trừ các lậu hoặc". Nhờ hiểu biết như vậy, nhận thức như vậy, tâm của vị ấy thoát khỏi dục lậu, thoát khỏi hữu lậu, thoát khỏi vô minh lậu. Ðối với tự thân đã giải thoát như vậy, khởi lên sự hiểu biết: Ta đã giải thoát. Vị ấy biết: Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm; sau đời hiện tại, không có đời sống nào khác nữa.



Như vậy, chính đức Phật cũng đề nghị một phương pháp giác ngộ rất là THIỀN TÔNG:

- DỤNG CHƠN TÂM ... khiến cái ĐẠI DỤNG của CHƠN TÂM trở thành linh hoạt ... để mà làm nên hiện tượng GIÁC NGỘ.


KLL
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,481
Điểm tương tác
1,744
Điểm
113
Phần IV.

1/. Tri kiến lập Tri (tt).


- DỤNG CHƠN TÂM ... khiến cái ĐẠI DỤNG của CHƠN TÂM trở thành linh hoạt ... để mà làm nên hiện tượng GIÁC NGỘ.
Cảm ơn Bạn KLL đã chỉ ra chỗ "then chốt".

Kính thưa các Bạn. " Tri kiến lập Tri" có nghĩa là "Thấy biết mà vựng lập trên thấy biết".

Như phần trước chúng ta đã quán sát: Tâm có 2 phần TỊCH và CHIẾU. Tịch là Chân Tâm, Chiếu là Vọng Tâm. Tịch là Vô Thức, Chiếu là Ý Thức v.v...

Nhưng chúng sanh chỉ chấp lấy phần Chiếu, phần Vọng, phần Ý Thức làm tự Ngã, chấp lấy kiến, văn, giác, tri làm Tâm mà quên mất đi phần Vô Thức, phần Chân Tâm, phần Tịch Diệt.- Do đó các sự thấy, nghe, hay, biết tự nó là một thể "Bất toàn", nên không bao giờ nhìn đúng Chân Lý. Có câu nói: "Một nữa ổ bánh mỳ là bánh mỳ, nhưng một nữa Chân lý không phải là Chân lý: ! " Do vậy Phật dạy: Tri kiến lập Tri là gốc của Vô Minh.

Muốn trở lại Chân như Tâm, thì chúng ta phải "Phản vọng quy Chơn", phải "Giải trừ Ý Thức", phải có Giới định tuệ, phải sống bằng TRÍ (Y Trí bất y Thức). Tức là Tri kiến Vô Kiến.

 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,983
Điểm tương tác
622
Điểm
113
Kính Thày VQ:

[[[ KLL nếu có nói điều gì sai Phật Lý, vẫn thật lòng kính xin thày tận tình chỉ dạy, KLL nguyện xin học hỏi]]]


Tóm lại: Chân Như có 2 đặc tính Tịch và Chiếu. Tịch là Chơn Không, Chiếu là Diệu Hữu.

- Câu này Thày nói làm KLL phải suy tư tới mấy ngày để tìm phương pháp trình bày định nghĩa của các LOẠI ĐỊNH VÔ SẮC và kính trình Thày và các bạn cùng đồng duyệt [smile].



A. Đặc Tính Đặc Thù Các Loại Vô Sắc Định: Không Vô Biên Xứ, Thức Vô Biên Xứ, Vô Sở Hữu Xứ, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ = tất cả mọi DIỆU HỮU từ MỘT NGUỒN MÀ RA

Tổ Đạo Tín nói:

- diệu đức như hà sa thảy từ nơi NGUỒN tâm mà ra.


Hệt như phương pháp đức Phật đã chỉ trong Kinh Trường Bộ I, Kinh Sa Môn Quả:

85. Với tâm:
- định tĩnh,
-thuần tịnh,
- không cấu nhiễm,
- không phiền não,
- nhu nhuyến,
- dễ sử dụng,
- vững chắc,
bình thản như vậy,

-->> Tỷ-kheo chú tâm, hướng tâm đến sự hóa hiện một thân do ý làm ra.

Vị ấy tạo một thân khác từ nơi thân này, cũng là sắc pháp, do ý làm ra, đầy đủ các chi tiết lớn nhỏ, không thiếu một căn nào.



Có lẽ, chỗ khó hiểu ở đây, là đây dường như là một phương pháp có một HƯỚNG ĐI hoàn toàn khác với các Phương Pháp Tu các Đệ Định:

- Không Vô biên xứ: đứng ở vị trí một cái không bị hoại lại thấy một cái không khác .. một hai ba bốn .. tới muôn ngàn cái không mà hiện tượng đó bất tăng, bất giảm, vì luôn luôn là vậy nên gọi là Không Vô Biên Xứ. Duy Thức học định nghĩa khác đi một tí, chỉ cái "NGUỒN" nơi tất cả "CÁI KHÔNG xuất hiện" nên gọi tên cũng khác đi một tí là: HƯ KHÔNG VÔ VI.

- Thức Vô Biên Xứ: đứng ở vị trí một cái thức bị hoại lại thấy một cái thức khác .. một hai ba bốn .. tới muôn ngàn cái thức mà hiện tượng đó vẫn bất tăng, bất giảm, vì luôn luôn là vậy nên gọi là Thức Vô Biên Xứ.

- Vô Sở Hữu Xứ: đứng ở vị trí một Sở Hữu đã không còn tịnh .. lại thấy một cái Vô Sở Hữu khác ... một hai ba bốn .. tới muôn ngàn cái Vô Sở Hữu mà hiện tượng đó vẫn bất tăng, bất giảm, vì luôn luôn là vậy nên gọi là Vô Sở Hữu Xứ.

- Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ: đứng ở vị trí Tưởng đã không còn tịnh .. lại thấy một cái Tưởng khác ... một hai ba bốn .. tới muôn ngàn cái Tưởng mà hiện tượng đó vẫn bất tăng, bất giảm, vì luôn luôn là vậy nên gọi là Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ.


Như vậy Vô Sắc Giới Xứ: Không, Thức, Vô Sở Hữu, Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ đều có chung một nguyên lý:

Đệ nhất ba la mật: MỘT NGUỒN LÀM RA TẤT CẢ CÁC DIỆU HỮU = Chơn Tâm = Đệ Nhất Nghĩa Đế

- tức phi đệ nhất ba la mật [là chỗ hóa hiện .. vô số diệu hữu ]

- thị danh đệ nhất ba la mật [mà lại là "CHƠN KHÔNG" .. vô sanh ]



Tuy nhiên, Định Phi Tưởng Phi Phi Tưởng là định gần với "CHƠN TÂM" nhất .. bởi vì khi Đức Phật từ các Đệ Định đi tới, .. càng tới gần tới "CHƠN TÂM" càng đi vào TẠNG THỨC .. và các điểm "TƯỞNG" = vị trí của chúng là ở ngay tại TÀNG THỨC luôn. Có lẽ, đây là nguồn gốc của DUY THỨC HỌC sau này bởi vì một trong bốn nguyên lý chính của Duy Thức: Tất cả đều chỉ là hóa hiện của Tạng Thức như đã trình bày trong các đoạn trước.

** chỗ khó hiểu này, nếu không có "quy tụ các phân thân" thành một thân, một nguồn, chắc chắn là sẽ rất khó mà định nghĩa nổi cấu trúc của các ĐỊNH VÔ SẮC bởi vì nhận thức nổi bật của các thiền vô sắc là: MỘT NGUỒN, MỘT TÂM .. MỘT CÕI, NHẤT TÂM.



** Định của Thanh Văn vì là đặt nặng ở chỗ tín thọ, tín hành để được "VỊ GIẢI THOÁT", có chủng "Vô Lậu" nhưng không có sự "QUÁN CHIẾU" để nhận ra NGUỒN GỐC --->> nên vị trí vẫn còn ở cách xa một tí [smile].

Định của Duyên Giác bởi đặt nặng chỗ "HUYỄN CÓ", tuy vẫn từ duyên khởi của tâm mà nhìn thấy hiện tượng một nguồn, nhưng có lẽ vì "thường cũng hay mê say" [smile] nên không có cái RỐT RÁO của BỜ NGUỒN GỐC tức là CHƠN TÂM -->>> nên vị trí "gần hơn một tí.

Cả hai đều vì không có sự CỤ THỂ của nguồn gốc mà các định này "KHÔNG RỐT RÁO" và đó cũng là mối quan tâm của Đức Phật trình bày trong nhiều kinh, đặc biệt là phẩm HÓA THÀNH DỤ của Kinh Pháp Hoa.


cũng như một NGUỒN CHÍNH chia ra muôn ngàn nhánh lẻ, ... chúng ta cứ lần mò hoài .. thì cũng tới "CÙNG MỘT GỐC" = tức là TẠNG THỨC, NHƯ LAI TẠNG ... CHƠN TÂM.

Và con đường ĐI VÀO từ những nhánh lẻ .. dường như khác với con đường mà đức Phật chỉ dạy trong kinh SA MÔN QUẢ:

- tức là con đường đi từ cái "CHƠN TÂM TỊNH TĨNH, BẤT TĂNG BẤT GIẢM" làm ra hiện tượng VẠN PHÁP, VÔ LƯỢNG NGHĨA.


Chắc chắn ngày xưa, đức Phật cũng khéo lắm phương tiện giảng dạy để cho các đệ tử của ngài, các vị Tỳ Kheo từ những chỗ NGỘ NHẬP KHÁC NHAU mà hiểu được hiện tượng này. Và những chìa khóa then chốt này, nếu không có những đệ tử chân chính của ngài truyền dạy lại cho người đời sau, chắc là cũng khó có ai có thể tự mình khám phá ra nổi [smile].


Ngọc lý bí thanh diễn: DIỆU ÂM

cá trung mãn mục lộ thiền tâm

hà sa cảnh thị bồ đề đạo

nghĩ hướng bồ đề cách vạn tầm - Thiền Sư Trí Huyền


KLL
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,481
Điểm tương tác
1,744
Điểm
113
Phần IV

2/. Tri Kiến Vô kiến.


Có phải là diệt đi các sự thấy, nghe, hay, biết mới là hợp cách Tri Kiến Vô kiến ? Thưa KHÔNG PHẢI VẬY.

Đức Phật truyền cho ngài Đại Ca Diếp bài kệ sau để làm Tổ thứ I Thiền Tông:

Pháp bổn pháp vô pháp
Vô pháp pháp diệc pháp
Kim phó vô pháp thời
Pháp pháp hà tằng pháp.

Dịch:

Pháp gốc pháp không pháp
Pháp không pháp cũng pháp
Nay khi trao không pháp
Mỗi pháp đâu từng pháp.


Nghĩa là cội gốc các pháp là Không Pháp. mà Không Pháp cũng là một pháp (nên đừng trú chấp vào Không).

Ở Đại Trí Độ Luận dạy quán về Không Không, để không trú chấp vào Không:

Luận: Biết hết thảy các pháp đều là KHÔNG, người tu hành lại còn phải xả luôn cả cái chấp về tướng KHÔNG ấy. Vì sao ? Vì KHÔNG cũng là KHÔNG. Như vậy gọi là tu quán Không Không.......

Phàm phu điên đảo chấp có sanh, có diệt. Người tu hành trái lại, phải biết rõ các pháp vốn chẳng có sanh, chẳng có diệt, vốn là KHÔNG. Biết như vậy rồi lại còn phải xả luôn cái chấp KHÔNG ấy mới vào được Không Không....

Nói Không nhằm phá chấp 5 ấm. Nói Không Không nhằm phá chấp về tướng KHÔNG....

Nếu KHÔNG chính là pháp Không, nhằm phá hết thảy các pháp tướng, thì sau khi phá các pháp tướng rồi vẫn còn lưu lại cái pháp KHÔNG đó. Như vậy là còn chấp tướng KHÔNG. Bởi vậy nên phải xả bỏ luôn cả pháp KHÔNG đó mới gọi là Không Không.

....... Ngoài ra quán Không Không cũng chính là duyên KHÔNG, tức là vô duyên vậy. Ví như thuốc dùng để chửa bệnh, khi bệnh đã lành thì thuốc cũng xả bỏ luôn. vì sao ? Vì nếu chẳng xả bỏ thuốc thì lại sanh bệnh khác vậy.

....... Người tu quán KHÔNG để phá trừ phiền não. Nhưng nếu vẫn thủ chấp lấy cái KHÔNG ấy thì sẽ thành bệnh. Phải xả bỏ luôn chấp KHÔNG mới được Không Không.
Do những lời dạy trên, nên biết rằng: Tri Kiến Vô Kiến không phải là Chấp Không, bởi vì trong Chân như, nếu chấp Chiếu là "Bất toàn", thì chấp Tịch cũng là "Bất toàn".

Vậy chúng ta phải dụng công như thế nào ?
 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,983
Điểm tương tác
622
Điểm
113
Kính Thày VQ:

Vậy chúng ta phải dụng công như thế nào ?

Câu hỏi của thày làm cho KLL nhớ lại một câu truyện giữa một vị thiền sư và một tên ăn cướp [smile]


Truyện kể rằng, ngày xưa có một vị thiền sư sống cuộc đời đạm bạc. Ông nghèo và đạm bạc tới độ cả bộ đồ mặc trên người cũng lủng lỗ chắp vá luôn.

Vậy mà có một hôm, đang lúc ông đang nằm ở ngoài đồng cỏ ngắm trăng thì bị một tên cướp tới kề dao vào cổ đòi cướp đồ. Vị thiền sư mỉm cười hỏi tên cướp:

- Anh thấy trên người tôi, xung quanh tôi còn có gì đáng tiền, quý giá để anh cướp chăng ?


Tên cướp nhìn quanh rôi gãi đầu trả lời:

- Tôi cũng không biết, hay ông có gì quý giá thì ông nói cho tôi biết ?


Vị thiền sư đáp:

- vào giờ phút này, vật đáng giá nhất mà tôi có phải là MẢNH TRĂNG ở trên trời kia kìa


Tên cướp tức giận, chỉ lưỡi dao vào mặt thiền sư mắng:

- CÁI LÃO ĐẦU TRỌC này, ánh trăng ở đâu cũng có tại sao ông cho là Ánh Trăng có giá trị nhất ở đây ?


Vị thiền sư trả lời:

- Tại vì bây giờ trong lòng của bần tăng, nó là một vật DUY NHẤT TÔI CÓ THỂ CÓ, KHÔNG AI CÓ THỂ CƯỚP ĐI ĐƯỢC -->> bởi vậy NÓ mới đặc biệt trân quý đối với tôi [smile]

Vị thiền sư tiếp:

nếu như thí chủ không tin, cùng bần tăng nằm xuống đi, cùng ngắm ánh trăng với lão: thí chủ sẽ hiểu được ngay.

Tên Cướp [càng gãi đầu hơn], nhưng vì không có gì để cướp nên hắn cũng chịu nằm xuống trên bãi cỏ cùng vị thiền sư TRỪNG MẮT ngắm ánh trăng ở trên trời [smile]

...

một tiếng đồng hồ trôi qua

....

....

hai tiếng đồng hồ trôi qua

... ba tiếng đồng hồ trôi qua ...

....

gã CƯỜNG ĐẠO đột nhiên nhảy dựng người lên, cung kính quỳ gối dập đầu hành lễ với vị thiền sư.


Tên Cướp mới nói rằng:

- Tôi bây giờ đã tin ông rồi. Bây giờ trong lòng tôi, ngoài mảnh trăng này ra, không có gì nữa hết [smile]



Câu chuyện này không biết có ai tin không ? ... Nhưng trong lòng chúng ta, ngoài mảnh trăng này ra, không có gì nữa hết: tất mả mọi DỤNG CÔNG chỉ là để NHÌN TRĂNG thôi. Hay là có thể nói khác đi một tí: mọi dụng công cũng chỉ để làm NGÓN TAY CHỈ TRĂNG thôi.

Đúng không Thày VQ và các bạn ?

KLL
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,481
Điểm tương tác
1,744
Điểm
113
Phần IV

+ Tri kiến Vô kiến (tt).


Trong nhà Phật, có chia sự kiến, văn, giác, tri thành 2 phần.- Là Tưởng Tri và Thắng Tri.

a/. Tưởng Tri: Là thấy biết bằng sự vọng tưởng.

Phàm phu: Thấy không ngoài mắt, nghe không ngoài tai, biết không ngoài ý thức v.v... nghĩa là chạy theo các giác quan. Sự hiểu biết này là dùng TÂM phóng ra ngoài, cái biết này là TƯỞNG TRI. - Trưởng Tri là một thể "Bất toàn" của Chân Như Tâm.

Chỗ Tưởng tri này là chỗ mà chư Tổ dạy: "Do Vì lúc "Tối Sơ" khởi một niệm sai lầm, nên theo Mộng Tưởng mà thấy có Sanh-có Diệt.".

Nghĩa là: Do sự cọ sát giữa Căn và Trần, mà sanh ra một niệm sai lầm (vọng thức). Niệm này là Nhất Niệm Vô Minh, là Mộng tưởng điên đão, nên gọi là Tưởng Tri.

Chúng sanh, khởi niệm lại chấp niệm. Chấp niệm thành chủng. Chủng tử kiên cố liên tục như bộc lưu (dòng thác).- Đó là Thức Tâm. Nhận thức tâm này làm tự ngã.- Sanh ra Chấp Ngã.- Chấp ngã là căn bản của Tưởng Tri.- Có 4 tướng: Ngã, Nhân,Chúng sanh, thọ giả.

4 tướng này chính là Vô minh, nó che lấp Chân Như, chúng ta cần giải trừ nó.

b/. Thắng tri: Là sự thấy biết thù thắng siêu việt vào Chân Như bằng Thiền Định. Nghĩa là sau khi đã "hàng phục vọng tâm", tức là hoá giải tưởng tri ở trên.

Trong kinh Kim Cang Bát Nhã Phật dạy phương pháp này, như sau:

Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba La Mật, mở đầu, mà cũng là trọng tâm của kinh này, bằng hai câu hỏi của ông Tu Bồ Đề:

"Vân hà ưng trụ?"
"Vân hà hàng phục kỳ tâm?"

Nghĩa là:

"Làm sao hàng phục vọng tâm?" và
"Làm sao an trụ chơn tâm?"

toàn bộ kinh Kim Cang Bát Nhã, Phật chỉ giải đáp hai câu hỏi trên, tóm tắt lại chỉ trong một câu:

"Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm"

nghĩa là: "Đừng sanh vọng tâm trụ chấp một nơi nào". Đây là câu "tinh ba" của bộ kinh Kim Cang Bát Nhã, mà ngày xưa đức Lục Tổ Huệ Năng nhờ đó đã được tỏ ngộ.

Phật dạy: "Đừng sang vọng tâm trụ chấp một nơi nào", tức là dạy: "Dùng trí huệ Kim Cang Bát Nhã, phá trừ rốt ráo (Ba la mật) các vô minh vọng chấp: ngã, pháp hay bốn tướng" (Ngã, Nhơn, Chúng sanh và Thọ giãi).

Khi các vô minh phiền não vọng chấp hết rồi thì chơn tâm thanh tịnh hiện ra. Đó là từ bờ mê muội triền phược của chúng sanh mà sang bờ giác ngộ giải thoát của chư Phật, tức là: "đáo bỉ ngạn (đến bờ giác ngộ).

Phật dạy: "Đừng sanh vọng tâm trụ chấp một nơi nào". Đó là phương pháp tu hành của Đại thừa đốn giáo, để "hàng phục vọng tâm" mà cũng là "an trụ chơn tâm" vậy.

Kinh dạy: "Thị cố Tu-bồ-đề, chư Bồ-tát Ma-ha tát ưng như thị sanh thanh tịnh tâm, bất ưng trụ sắc sanh tâm, bất ưng trụ thanh, hương, vị, xúc, pháp sanh tâm, ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm"

- Nghĩa là chẳng nên để tâm sanh vào 6 trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, mà nên không trụ vào bất cứ chỗ nào để an trú Tâm.

Như vậy chúng ta thấy:

Tri kiến Vô kiến là không phải không thấy biết. Mà là Thấy biết nhưng không trụ chấp vào Thấy biết.

Thiền Sư Đạo Giái có bài kệ nói về việc này:

"Ngộ sắc ngộ thinh như thạch thượng tài hoa
Kiến lợi kiến danh như nhãn trung trước tiết".


Tạm dịch:

Gặp sắc gặp thinh như hoa trồng trên đá,
Thấy lợi thấy danh như bụi rơi trong mắt.


Nghĩa là không bám víu vào 6 trần sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

Tri Kiến Vô kiến là Thắng Tri, sự thấy biết thù thắng bằng Thiền Định, sự thấy biết không trú chấp.

Ưng vô sở trụ nhi sanh kỳ tâm
 
Bên trên