4 Pháp Ấn

Vo Minh

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
27 Thg 12 2017
Bài viết
420
Điểm tương tác
228
Điểm
43


Kính ĐH Vô Minh:

Bậc A- la- hán nhập Diệt Tận Định, Diệt Thọ Tưởng Định đạt tới chỗ đoạn trừ được tất cả mọi dòng suy nghĩ, mọi cảm thọ nơi thân và tâm.

Chúng ta nên hiểu là Diệt tận phiền não, vô minh nơi thân và tâm.- Chớ không phải không biết gì như người chết. Như bài luận sau đây:



Nghĩa là Bậc A- la- hán tuy không trú vào tri kiến lập tri, nhưng vẫn có sự thấy biết bằng Tuệ. Đối với sự kiến Tánh, vị ấy là "Thể nhập" chớ không phải quan kiến. Nghĩa là người kiến tánh chỉ là "Thấy" còn vị A- la- hán là "Sống bằng sự thật ấy".

Mến.


Bạch THẦY Viên Quang kính.

Thầy chưa Kiến tánh nên Thầy thấy có cái Tánh để Thấy! Thầy thấy có cái Thể để Nhập nên Thầy phạm vào Tứ Cú của Thầy:

1- "có, không"
2- "không phải có, không phải không"
3- "cũng có, cũng không"
4- "cũng không phải có, cũng không phải không".

Kết luận:

Thầy xưa nay vốn đã biết Bản Lai Không Một Vật là Thể của Thầy là Bộ Mặt Xưa Nay của Thầy thì Thấy có cần soi gương để Thấy, hay tu hành để Nhập thành cái gì là A La Hán không?

Kính

Thành thật cảm ơn
 

Vo Minh

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
27 Thg 12 2017
Bài viết
420
Điểm tương tác
228
Điểm
43
Kính Bạn Hiền VM:

[[[[[ từ từ thôi .. đừng gấp .. con đường "VÔ LƯỢNG NGHĨA" dài lắm ... nhưng không thể NÓI HAI LỜI .... vì nói HAI LỜI = LƯỠNG THIỆT .. cũng giảm đi rất nhiều pháp số ... có khi còn thêm ỷ ngôn, vọng ngữ, thất khẩu nữa .... với lại chúng ta còn ở đây hết mà ... từ từ LƯỢM TỪNG NGHĨA MỘT qua những năm những tháng, tuần, ngày ... [smile] ]]]]

mà nếu trừ bớt đi một pháp số "NHÂN" như vậy, thì số lượng pháp số cũng giảm đi mỗi lần cả chục ngàn pháp ... không xong

250 * 4 * 3 * 7 [3 nghiệp thân, lưỡng thiệt, vọng ngôn, ỷ ngữ, thất khẩu] * 4 [tham, sân, si, mạt na] = 84,000 pháp môn

nếu bớt đi bốn pháp số nhân lớn .. cộng bớt luôn cả mạt na . thì hỏng xong .. hỏng có thể nào nhìn thấy hết được ... chỗ mà CÂU PHẦN GIẢI THOÁT và TUỆ GIẢI THOÁT đâu ... mà đúng không ? [smile]


mà đúng không bạn Hiền VM ... cám ơn bạn đã ở đây chịu nói chuyện với tui hoài .. ha hahahahahaha

:lol: :lol:
Mod khuclunglinh kính.

Sanh Tử không phải là việc lớn của Mod khuclunglinh.
Xóa đói giảm nghèo mới là việc Sanh Tử Luân Hồi của Mod khuclunglinh.

Xin Mod cứ từ từ gieo Nhân gặt Quả thêm vài ngàn kiếp đi nha.

Kính

Thành thật cảm ơn
 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,979
Điểm tương tác
620
Điểm
113
Mod khuclunglinh kính.

Sanh Tử không phải là việc lớn của Mod khuclunglinh.
Xóa đói giảm nghèo mới là việc Sanh Tử Luân Hồi của Mod khuclunglinh.

Xin Mod cứ từ từ gieo Nhân gặt Quả thêm vài ngàn kiếp đi nha.

Kính

Thành thật cảm ơn

Kính bạn Hiền VM:

Lời bạn dạy .. KLL xin lãnh nhận.



A. CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG của CƠN GIẬN = TÁC Ý NHƯ LÝ với năng lượng của cơn giận

Một người tu tâm, NỔI GIẬN không đúng cách = cũng là một đại kỵ ... không khéo vô tình trưởng dưỡng luôn TÂM SỞ THẤT TÂM [smile .. tên này lạ nhỉ .. ha ha]

Một người tu tâm, NỔI GIẬN ĐÚNG CÁCH .. phát tâm dũng mãnh VỀ NGUỒN ĐƯỢC CHỈ cũng là một điều rất là tốt: năng lực của một cơn giận vẫn có thể hóa trí.





B. À, hồi xưa có một nhà tâm lý học khi nghiên cứu về vấn đề NỔI GIẬN có phỏng vấn một cô kia.

Hỏi: tại sao chị hay nổi giận ?

Đáp: tôi nổi giận để tôi thấy mình mạnh mẽ hơn.


Lời Bàn:

Đó là cách giận khôn, biết biến CƠN GIẬN của mình thành sức mạnh.




C. Mật Tông Tâm Pháp cũng có ghị nhận phương pháp: CHUYỂN HÓA NĂNG LỰC của cơn giận sang thành năng lực TU TUỆ. [smile]

Nằm như thể đã chết.

Giận dữ như điên nhưng làm như thể đã chết.



***tất cả thế gian, SỐNG CHẾT nối nhau .. Sống theo đường thuận .. CHẾT theo đường khác ... CHẾT theo đường khác .. CHẾT theo đường khác ---> Thì thấy SINH TỬ NHỊ KHÍ xuất hiện .. biết "TA" là ai liền ..

*** và cái chỗ SỐNG CHẾT nối nhau đó .. cũng là một trong bốn đặc tính thường thấy của TÂM: THÀNH TỰU ... thành tựu dòng tiếp nối luân chuyển .. dòng tương tục ... nối nhau và trong đó ..


có thể ĐỨNG ĐÓ [smile] LẮNG NGHE ĐỦ NÉT CUỒNG VỌNG khi SINH TỬ NHỊ KHÍ, THUẬN NGHỊCH NHỊ KHÍ xuất hiện bằng cách quan sát: ba tánh, ba lượng, ba cõi, ba cảnh, chín duyên, chín địa [cũng tức là CỬU "ĐỆ" ĐỊNH ... smile], 51 tâm sở, Thể, Tương Nghiệp


có thể ĐỨNG ĐÓ [smile] LẮNG NGHE ĐỦ NÉT CUỒNG VỌNG khi SINH TỬ NHỊ KHÍ, THUẬN NGHỊCH NHỊ KHÍ xuất hiện bằng cách quan sát: ba tánh, ba lượng, ba cõi, ba cảnh, chín duyên, chín địa [cũng tức là CỬU "ĐỆ" ĐỊNH ... smile], 51 tâm sở, Thể, Tương Nghiệp



*** Chín Địa:

a) Dục giới: 1. Ngũ thú tạp cư địa.

b) Sắc giới: 2. Ly, sanh, hỷ lạc địa.

3. Định, sanh, hỷ lạc địa.

4. Ly hỷ, diệu lạc địa.

5. Xả niệm thanh tịnh địa.

c) Vô sắc giới: 6. Không vô biên xứ địa.

7. Thức vô biên xứ địa.

8. Vô sở hữu xứ địa.

9. Phi tưởng phi phi tưởng xứ địa. - Duy Thức Học, Thích Thiện Hoa



Cho nên .. cái ĐẠI DỤNG của việc BIẾT ĐI SÂU VÀO NỘI QUÁN .. cũng là phải biết SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG VỐN CÓ -->> để đi sâu vào nội quán [smile]


Phân biệt được: TÂM - VẬT rõ ràng rành mạch rồi .. con đường vẫn còn rất dài .. là dòng tâm thức đổ ầm ầm đó mà

TÂM - VẬT --> Có-Không, Thật-Giả --> Nhị Nguyên, Nhất Nguyên --> Bất Nhị, Bất Nhất -> Tứ Cú


Chỗ Tuyệt Bách Phi này .. đúng là chỗ mà ai cũng nói: ĐƯỜNG THẠCH ĐẦU TRƠN .. [smile] ... hay là để tui kể bạn câu truyện thuần lý ấy:

Sư đến tham vấn Thạch Đầu Hi Thiên và hỏi:

"Ba thừa mười hai phần giáo con còn hiểu sơ, đến như thường nghe phương Nam nói 'chỉ thẳng tâm người, thấy tính thành Phật' thật con mù tịt. Cúi mong Hoà thượng từ bi chỉ dạy."

Thạch Đầu bảo: "Thế ấy cũng chẳng được, không thế ấy cũng chẳng được, thế ấy không thế ấy đều chẳng được, ngươi làm sao."

Sư mờ mịt không hiểu, Thạch Đầu liền bảo: "Nhân duyên của ngươi không phải ở đây, hãy đến Mã Đại sư."
- Dược Sơn Duy Nghiễm


Con Đường VÔ LƯỢNG NGHĨA là con đường TỰ GIÁC, TỰ NGỘ. Phật đạo tu hành tại tâm nên vô lượng nghĩa cũng TỪ TÂM mà hiển lộ. Hỏng có cách nào CƯỠNG CHIẾM được "VẺ ĐẸP" đó đâu.

bạn Hiền VM nghĩ đúng không ?


mà đúng không ?

KLL
 

Vo Minh

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
27 Thg 12 2017
Bài viết
420
Điểm tương tác
228
Điểm
43
Kính bạn Hiền VM:

Lời bạn dạy .. KLL xin lãnh nhận.



A. CHUYỂN HÓA NĂNG LƯỢNG của CƠN GIẬN = TÁC Ý NHƯ LÝ với năng lượng của cơn giận

Một người tu tâm, NỔI GIẬN không đúng cách = cũng là một đại kỵ ... không khéo vô tình trưởng luôn TÂM SỞ THẤT TÂM [smile .. tên này lạ nhỉ .. ha ha]

Một người tu tâm, NỔI GIẬN ĐÚNG CÁCH .. phát tâm dũng mãnh VỀ NGUỒN ĐƯỢC CHỈ cũng là một điều rất là tốt: năng lực của một cơn giận vẫn có thể hóa trí.





B. À, hồi xưa có một nhà tâm lý học khi nghiên cứu về vấn đề NỔI GIẬN có phỏng vấn một cô kia.

Hỏi: tại sao chị hay nổi giận ?

Đáp: tôi nổi giận để tôi thấy mình mạnh mẽ hơn.


Lời Bàn:

Đó là cách giận khôn, biết biến CƠN GIẬN của mình thành sức mạnh.




C. Mật Tông Tâm Pháp cũng có ghị nhận phương pháp: CHUYỂN HÓA NĂNG LỰC của cơn giận sang thành năng lực TU TUỆ. [smile]

Nằm như thể đã chết.

Giận dữ như điên nhưng làm như thể đã chết.



***tất cả thế gian, SỐNG CHẾT nối nhau .. Sống theo đường thuận .. CHẾT theo đường khác ... CHẾT theo đường khác .. CHẾT theo đường khác ---> Thì thấy SINH TỬ NHỊ KHÍ xuất hiện .. biết "TA" là ai liền ..

*** và cái chỗ SỐNG CHẾT nối nhau đó .. cũng là một trong bốn đặc tính thường thấy của TÂM: THÀNH TỰU ... thành tựu dòng tiếp nối luân chuyển .. dòng tương tục ... nối nhau và trong đó ..


có thể ĐỨNG ĐÓ [smile] LẮNG NGHE ĐỦ NÉT CUỒNG VỌNG khi SINH TỬ NHỊ KHÍ, THUẬN NGHỊCH NHỊ KHÍ xuất hiện bằng cách quan sát: ba tánh, ba lượng, ba cõi, ba cảnh, chín duyên, chín địa [cũng tức là CỬU "ĐỆ" ĐỊNH ... smile], 51 tâm sở, Thể, Tương Nghiệp


có thể ĐỨNG ĐÓ [smile] LẮNG NGHE ĐỦ NÉT CUỒNG VỌNG khi SINH TỬ NHỊ KHÍ, THUẬN NGHỊCH NHỊ KHÍ xuất hiện bằng cách quan sát: ba tánh, ba lượng, ba cõi, ba cảnh, chín duyên, chín địa [cũng tức là CỬU "ĐỆ" ĐỊNH ... smile], 51 tâm sở, Thể, Tương Nghiệp



*** Chín Địa: chín địa:

a) Dục giới: 1. Ngũ thú tạp cư địa.

b) Sắc giới: 2. Ly, sanh, hỷ lạc địa.

3. Định, sanh, hỷ lạc địa.

4. Ly hỷ, diệu lạc địa.

5. Xả niệm thanh tịnh địa.

c) Vô sắc giới: 6. Không vô biên xứ địa.

7. Thức vô biên xứ địa.

8. Vô sở hữu xứ địa.

9. Phi tưởng phi phi tưởng xứ địa. - Duy Thức Học, Thích Thiện Hoa



Cho nên .. cái ĐẠI DỤNG của việc BIẾT ĐI SÂU VÀO NỘI QUÁN .. cũng là phải biết SỬ DỤNG NĂNG LƯỢNG VỐN CÓ -->> để đi sâu vào nội quán [smile]


Phân biệt được: TÂM - VẬT rõ ràng rành mạch rồi .. con đường vẫn còn rất dài .. là dòng tâm thức đổ ầm ầm đó mà

TÂM - VẬT --> Có-Không, Thật-Giả --> Nhị Nguyên, Nhất Nguyên --> Bất Nhị, Bất Nhất -> Tứ Cú


Chỗ Tuyệt Bách Phi này .. đúng là chỗ mà ai cũng nói: ĐƯỜNG THẠCH ĐẦU TRƠN .. [smile] ... hay là để tui kể bạn câu truyện thuần lý ấy:

Sư đến tham vấn Thạch Đầu Hi Thiên và hỏi:

"Ba thừa mười hai phần giáo con còn hiểu sơ, đến như thường nghe phương Nam nói 'chỉ thẳng tâm người, thấy tính thành Phật' thật con mù tịt. Cúi mong Hoà thượng từ bi chỉ dạy."

Thạch Đầu bảo: "Thế ấy cũng chẳng được, không thế ấy cũng chẳng được, thế ấy không thế ấy đều chẳng được, ngươi làm sao."

Sư mờ mịt không hiểu, Thạch Đầu liền bảo: "Nhân duyên của ngươi không phải ở đây, hãy đến Mã Đại sư."
- Dược Sơn Duy Nghiễm


Con Đường VÔ LƯỢNG NGHĨA là con đường TỰ GIÁC, TỰ NGỘ. Phật đạo tu hành tại tâm nên vô lượng nghĩa cũng TỪ TÂM mà hiển lộ. Hỏng có cách nào CƯỠNG CHIẾM được "VẺ ĐẸP" đó đâu.

bạn Hiền VM nghĩ đúng không ?


mà đúng không ?

KLL
Mod khuclunglinh kính.

Nầy Tu-Bồ-Đề! Nơi ý của ông nghĩ thế nào?

Các ông chớ cho rằng đức Như-Lai nghĩ như vầy:

Ta phải hóa-độ chúng-sanh. Nầy Tu-Bồ-Đề! Ông đừng nghĩ như thế.

Bởi vì sao? Vì thiệt không có chúng-sanh nào đức Như-Lai độ cả.

Nếu có chúng-sanh mà đức Như-Lai độ đó, thời đức Như-Lai còn có tướng ngã, nhơn, chúng-sanh, thọ-giả.

Enjoy it while is last.

Kính

Thành thật cảm ơn
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,466
Điểm tương tác
1,741
Điểm
113
Phần III

* Kết luận phần III.


Hoà Thượng Pháp sư Thích Từ Thông, Phần Trực chỉ- Kinh Kim Cang Bát Nhã Ba la Mật, nói:

Pháp Phật là bất định pháp. Khư khư chấp cố định một pháp nào là không hiểu Phật, là kẻ vu oan giá họa Phật.

Pháp tà bỏ đi đã đành, pháp chánh cũng không được khư khư bảo thủ.

Mà có lúc cần phải bỏ nốt nó đi. Một thầy thuốc đại tài không bao giờ tuyên bố một "diệu dược thần phương" nào cố định. Phật là "vô thượng y vương" luôn luôn gia giảm phương thang pháp dược, tùy đối tượng, tùy tâm bệnh của mỗi người mà cắt thuốc.

Ta hãy học tập cái nhìn Phật pháp qua nhận thức của các bậc tiền bối như sau:

"Lãm ngũ thời bát giáo, kỹ cương kinh luật luận, chân tam muội hải".

"Chiếu thất đại tứ khoa, khai hợp văn tư tu đệ nhất nghĩa thiên".


Phải hiểu Phật pháp bằng tri kiến bao quát suốt thông, ta mới sử dụng pháp dược đúng yêu cầu của chúng sanh tâm bịnh.

Sở dĩ Phật phủ nhận sự thuyết pháp của mình, nhằm ngăn ngừa những tư tưởng chấp mắc, bảo thủ ở pháp Như Lai nói.

Cùng hấp thụ nước của một trận mưa mà cỏ cây lùm rừng sanh trưởng khác nhau. Phật nói một thứ VÔ VI PHÁP, nghe ra có kẻ chứng THÁNH, còn người chỉ chứng đến bậc HIỀN. Đó không phải: PHẬT PHÁP BẤT ĐỊNH PHÁP là gì!

"Thuyết pháp giả vô pháp khả thuyết". Gọi là thuyết pháp mà Như Lai chẳng nói pháp gì, Phật sẽ dạy rõ ở một chương sau
.
Không có Pháp gì để thuyết, không có quả gì để chứng. Vậy vì sao lại có "Tánh" gì để Kiến ?

Nói có Chứng, nói không có Chứng, nói có Tánh, nói không có Tánh.- Đó là Đức Phật TUỲ CƠ ĐẬU GIÁO- CHUYỂN ĐẠI PHÁP LUÂN.- Đó là Vô Lượng Nghĩa mà người đệ tử cần học (Như ĐH KLL đã nói).

Tóm lại:

4 Quả Thanh Văn, là do nổ lực tu trì mà chứng được.

Các quả vị này không do ai ban tặng. Cũng không do van xin, lạy lục, mà có được.

Kinh giáo nào mang dấu ấn Niết Bàn Tịch Tịnh này là kinh Phật, ngoài ra là không phải,- Đây là:

[MOVRIGHT]Đệ Tam Pháp Ấn- Niết Bàn Tịch Diệt .[/MOVRIGHT]
 

Vo Minh

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
27 Thg 12 2017
Bài viết
420
Điểm tương tác
228
Điểm
43
* Tổng quan.(tt)

+ Pháp Ấn gì ?

- Ấn là con dấu để chứng nhận. ví dụ như các cấp chính quyền dùng con dấu trong các công văn để biểu hiện đây là quyền lực không bị giả mạo. con dấu có nhiều cấp bậc như phường, quận, Thành phố, Quốc gia từ nhỏ đến lớn. Pháp Ấn cũng vậy kinh văn nào mang dấu ấn của Tam Pháp Ấn hoặc Tứ Pháp Ấn là biểu hiện Phật pháp không bị giả mạo, đẳng cấp từ tiểu thừa đến Đại thừa.

- Tam Pháp Ấn gồm:

1/. Chư Hành Vô Thường.

2/. Chư Pháp Vô Ngã.

3/. Niết Bàn tịch tĩnh.

Riêng Ấn thứ 3 Niết Bàn tịch tĩnh. được giải rộng ra thành Ấn thứ 4

4/. Nhất Chân Thật tướng Ấn, hay NHƯ NHƯ Thật Tướng Ấn.

4 Pháp Ấn này cũng là phiên bản "rút gọn" của Tứ Diệu Đế.- Nên là nền tảng, là căn bản , là cốt lõi của Đạo Phật.- Vô Thường, Vô Ngã nhiếp về Khổ Đế và Tập Đế. Niết Bàn, Như Như nhiếp về Diệt Đế và Đạo Đế.

Người nắm giữ Tứ Pháp Ấn là Tăng Đoàn đệ tử Phật, là trưởng tử của Như Lai, được Tổ Tổ tương truyền và dùng đó mà Hoằng Pháp lợi sanh.

Tóm lại:

Phật là mục tiêu đi đến của người đệ tử Phật.

Tăng là người nắm giữ và truyền thừa 4 Pháp Ấn.

Pháp là 4 Pháp Ấn, là phương tiện để thực hiện tiến trình thành Phật.
https://thuvienhoasen.org/p16a161/03-pham-ai-than-thu-ba

03. PHẨM AI THÁN THỨ BA
TAM PHÁP ẤN
Vô thường, Khổ, Vô Ngã.
Ba môn tu tập này không có thiệt nghĩa”.

Như đức Phật từng dạy tất cả các pháp không ngã và không ngã sở, các Tỳ-kheo phải tu tập.

Tu như đây thời trừ ngã mạn, rời ngã mạn thời chứng Niết-bàn.
Người hay tu tập pháp quán vô-ngã không bao giờ có các kiến-chấp”.


Các Tỳ-kheo bạch Phật:
Bạch Thế-Tôn! Chẳng những chúng con tu pháp quán vô-ngã tưởng, mà chúng con cũng tu tập các pháp quán khác như : khổ, vô thường.


Đức Phật bảo các Tỳ-kheo:
”Lóng nghe ! Lóng nghe! Vừa rồi các thầy trình bày ví dụ người say đó, các thầy chỉ biết danh tự mà chưa hiểu thấu “thật nghĩa”.

Thế nào là “thật nghĩa”?


Như người say kia thấy nhà cửa núi sông vốn thiệt không xoay lộn, mà tưởng cho là xoay lộn.
Cũng vậy, bị những phiền não vô minh trùm đậy nên chúng sanh khởi tâm điên đảo:

Ngã cho là vô ngã, thường cho là vô thường, tịnh cho là bất tịnh, lạc cho là khổ.

Vì mắc phải phiền não trùm che, nên dầu nghĩ tưởng như vậy mà không thấu rõ thật nghĩa”, như người say kia đối với sự không xoay lộn mà tưởng cho là xoay lộn.

"Ngã” chính là thật nghĩa của “Phật”
“Thường” chính là thật nghĩa của”Pháp-Thân”
“Lạc” là thật nghĩa của “Niết-bàn”
“Tịnh” là thật nghĩa của “Pháp”.




Các thầy sao lại nói người có Ngã thời kiêu-mạn cống-cao lưu chuyển sanh tử.
Nếu các thầy nói rằng, tôi (Đức Phật)cũng tu tập pháp quán vô thường, khổ, vô ngã.

Vô thường, Khổ, Vô Ngã. Ba môn tu tập này không có thiệt nghĩa”.

Như-Lai sẽ nói ba pháp tu đặc thắng
Thật nghĩa cho Thế Gian

Thật nghĩa cho Xuất Thế Gian.​

còn tiếp.....
 

Vo Minh

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
27 Thg 12 2017
Bài viết
420
Điểm tương tác
228
Điểm
43
Phần III

* Kết luận phần III.




Không có Pháp gì để thuyết, không có quả gì để chứng. Vậy vì sao lại có "Tánh" gì để Kiến ?

Nói có Chứng, nói không có Chứng, nói có Tánh, nói không có Tánh.- Đó là Đức Phật TUỲ CƠ ĐẬU GIÁO- CHUYỂN ĐẠI PHÁP LUÂN.- Đó là Vô Lượng Nghĩa mà người đệ tử cần học (Như ĐH KLL đã nói).

Tóm lại:

4 Quả Thanh Văn, là do nổ lực tu trì mà chứng được.

Các quả vị này không do ai ban tặng. Cũng không do van xin, lạy lục, mà có được.

Kinh giáo nào mang dấu ấn Niết Bàn Tịch Tịnh này là kinh Phật, ngoài ra là không phải,- Đây là:

[MOVRIGHT]Đệ Tam Pháp Ấn- Niết Bàn Tịch Diệt .[/MOVRIGHT]
Bạch THẦY Viên Quang kính.

Nói Vô Lượng Nghĩa là để đừng phạm vào Tứ Cú.

Nói có Chứng, nói không có Chứng, nói có Tánh, nói không có Tánh. Đó là vấn đề phạm vào Tứ Cú "có, không", "không phải có, không phải không", “cũng có, cũng không", "cũng không phải có, cũng không phải không".

Thứ có không càn loạn bất tử ấy !


Còn những người đệ tử (Như ĐH KLL đã nói) phạm vào Tứ Cú mới cần học Vô Lượng Nghĩa.

Còn bậc Thầy như Ngài xưa nay vốn đã biết Đức Phật chỉ muốn người học Phật kiến tánh Đệ Nhất Nghĩa Không.

Xin được trích dẫn nhận xét của người Kiến tánh như Lục Tổ Huệ Năng mà đó chính bậc Thầy như Ngài đăng lại

Kính

Thành thật cảm ơn

* Hữu vi không.
* Vô Thỉ Không.
* Tánh không.
* Không không.
* Đệ Nhất Nghĩa Không.


Kinh văn: Hữu vi không, nghĩa là tất cả các pháp hữu vi thảy đều không. Bao gồm hết nội không, ngoại không, nội ngoại không. Thường, Lạc, Ngã, Tịnh không. Chúng sanh, thọ mạng không. Nói chung, tất cả các pháp do duyên sanh đều không.

Vô thỉ không là thế nào ? Bồ tát quán thấy sanh tử vô thỉ không tịch. Thường, Lạc, Ngã, Tịnh cũng không tịch, không có biến đổi. Phật tánh, vô vi pháp cũng đều không tịch như vậy. Đấy gọi là quán Vô thỉ không.

Tánh không là sao ? Bồ tát quán tất cả pháp bổn tánh vốn không. Ấm, nhập, xứ, giới; thường, vô thường; khổ, lạc; ngã, vô ngã; tịnh, bất tịnh; tất cả pháp tìm rốt ráo chẳng thấy bản tánh. Quán chiếu như thế gọi là "tánh không quán".

Thế nào gọi là vô sở hữu không ? Như người không con cô độc một mình. Như nhà trống không, không có cái gì. Như người nghèo cũng không hề có tài sản.....Đấy gọi là Bồ tát quán vô sở hữu không.

Đệ nhất nghĩa không, Bồ tát quán như thế nào ?

Bồ tát quán rằng: Ví tự thân, nhãn căn của tự thân, lúc sanh ra không từ đâu đến, lúc diệt mất không đi đến đâu. Trước không, nay có. Có rồi lại không. Suy cho cùng tột thật tánh của nó "không có gì". Không tự thân, không nhãn căn, không có chủ thể tồn tại. Thân vô tánh, nhãn căn vô tánh. Tất cả pháp cũng vô tánh như vậy. Có nghiệp, có báo, không thấy tác giả. Tư duy, quán chiếu như vậy gọi là Bồ tát quán ĐỆ NHẤT NGHĨA KHÔNG.

Không không là thế nào ? Không không là chỗ mịt mù mờ tịt của ngoại đạo, là chỗ mà Thanh văn, Duyên giác vẫn mê mờ. Hàng Bồ tát thập trụ nhận biết một phần ít như vi trần đối với đại địa. Đó là vấn đề "có, không", "không phải có, không phải không", “cũng có, cũng không", "cũng không phải có, cũng không phải không". Thứ không càn loạn bất tử ấy !

Tư duy:

+ Thế nào là Đệ Nhất Nghĩa ?

- Ví như nói :"Phật là bậc Nhất Thiết Chủng Trí" , nghĩa là bậc suốt biết tất cả, Phật có một "Cái Trí" siêu tuyệt , là do tu hành vô lượng kiếp mà chứng đắc được Trí vô ngại này.

....... Người hiểu biết như vậy là CHƯA ĐƯỢC ĐỆ NHẤT NGHĨA. Vì sao ? Vì Vốn Không có gì là Trí cả. Phật cũng không phải do tu hành mà được quả vị Phật. Bởi vì Tất cả chúng sanh vốn đã là Phật rồi, đã đầy đủ vô lượng Trí huệ, Như Lai đức tướng rồi. Như trong Pháp Bảo Đàn Kinh. Sau khi ngộ Đạo Lục Tổ nói:

Bồ Đề bổn vô thọ,
Minh cảnh diệt phi đài,
Bổn lai vô nhất vật,
Hà xứ nhạ trần ai.

Nghĩa là:
Bồ Đề (sự giác ngộ) vốn không có cội gốc (bặt ngôn ngữ, tuyệt suy lường),
Tâm Trí huệ cũng không tìm ra duyên tác.(uyên nguyên tĩnh lặng).
Vốn từ vô thỉ đã thanh tịnh.
Thì có chỗ nào ô nhiễm được để tu hành.

- Đây là Đệ Nhất Nghĩa.

- Lại ví như có người nói :" Tôi do tu hành các pháp môn, diệt trừ hết tham, sân, si mà tôi đã được thanh tịnh, vô vi, an lạc".- Đây chưa phải là Đệ Nhất Nghĩa, chỉ mới là Hữu Dư Niết bàn.- Vì Niết bàn, Chơn Cực Lạc, không phải do tu mà đựoc. Như Đức Lục Tổ Huệ Năng sau khi chứng Đạo đã tán thán Niết bàn, cực Lạc như sau:


Nào ngờ tự tánh vốn tự thanh tịnh
Nào ngờ tự tánh vốn bất sinh diệt
Nào ngờ tự tánh vốn tự cụ túc
Nào ngờ tự tánh vốn vô diêu động
Nào ngờ tự tánh năng sinh vạn pháp.

- Đây mới là Chơn Niết bàn, chơn Cực Lạc.

* Nhưng nếu người tu còn trụ chấp vào ý niệm Đệ Nhất Nghĩa này thì không vào được Chân Như.- Phải phủi bỏ luôn ý niệm Đệ Nhất Nghĩa. Như vậy mới vào ĐỆ NHẤT NGHĨA KHÔNG. Vào được Đệ Nhất Nghĩa Không là thể nhập Chân Như, nên luận nói :" Đây là lý KHÔNG vào bậc nhất, tột cùng của chư Phật và chư Đại Bồ tát, khác với lý KHÔNG còn hạn hẹp của hàng Thanh Văn. Vào Đệ Nhất Nghĩa Không chẳng thấy Không, cũng chẳng thấy chẳng Không."

Luận Đại Trí Độ nói:
Đệ Nhất Nghĩa Không là Thât Tướng của hết thảy các pháp, chẳng thể phá, chẳng thể hoại. Vì sao ? Vì hết thảy các pháp ở nơi Thật Tướng, đều là KHÔNG, chẳng có thể thọ, chẳng có thể chấp vậy. Nếu có thọ, có chấp là hư dối, là chẳng phải thật.

....... Lại nữa, Đệ Nhất Nghĩa Không là nghĩa Niết bàn giải thoát.

....... Trong A Tỳ Đàm nói :"Trí duyên tận tức là Niết bàn. Ở trong Niết bàn cũng chẳng có tướng Niết bàn. Niết bàn KHÔNG tức là Đệ Nhất Nghĩa Không" .


 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,466
Điểm tương tác
1,741
Điểm
113
PHẦN IV.

* Nhất Chân Thật Tướng Ấn.


Muốn hiểu được Nhất Chân như, trước phải tu và hiểu Tam Pháp Ấn của Nhị thừa Đạo như đã nói ở trên.

Nếu chưa tu, chưa hiểu Tam Pháp Ấn của Nhị thừa Đạo, mà muốn Thật hiểu được Nhất Chân Thật Tướng Ấn. Thì giống như câu chuyện ở kinh Bách dụ như sau:

Phú ông cất lầu

Thuở xưa có một người nhà giàu rất ngu si, không biết việc gì cả. Một hôm chàng đi đến nhà một phủ ông khác, đó là một nhà lầu ba tầng, xinh đẹp không đâu bằng, lòng chàng rất ham thích và tự nghĩ:

- Tiền của ta ít hơn người nầy, nhưng lẽ nào không cất được 1 trong 3 tầng ấy sao?

Đoạn chàng về nhà liền cho mời một nhà kiến trúc đến hỏi rằng:

- Ông có thể cất lầu ba tầng không?

Nhà kiến trúc đáp:

- Được, tôi đã làm nhiều nơi rồi.

Chàng nói:

- Tốt lắm, ông nên làm ngay cho tôi một tòa lầu ba tầng, giống như của bạn tôi.

Nhà kiến trúc đem công nhân khởi sự ban đất, đắp nền, xây đá, lên tường.

Cách ít hôm, anh chàng nhà giàu đến xem xét, không thấy tầng lầu thứ ba, bèn hỏi nhà kiến trúc:

- Hiện tại ông đang là gì đó?

Nhà kiến trúc trả lời:

- Tôi làm nhà lầu ba tầng cho ông đây.

Chàng lại hỏi:

- Tại sao cất tầng lầu ba mà lo xây tầng dưới, không chịu cất nơi tầng trên cho tôi?

Nhà kiến trúc trả lời:

- Phải cất từ tầng lên, không cất hai tầng dưới làm sao có thể cất được tầng thứ ba?

Không suy nghĩ kỹ, lập tức chàng ngăn răng:

- Không, không, tôi không cần làm hai tầng dưới, tôi chỉ muốn làm nơi tầng thứ ba thôi, ông nên làm cho tôi một tầng chót trên cho mau chóng.

Nhà kiến trúc nghe xong cười to, đôi ba phen giảng rõ cho chàng nghe, nhưng chàng quá cố chấp, kiên quyết yêu cầu nhà kiến trúc chỉ làm tầng thứ ba.

Nhà kiến trúc không có cách gì làm cho chàng hiểu rõ được, đành phải đình công việc cất nhà.

** Chuyện nầy tỉ dụ: Đệ tử của Phật không chịu cung kính thừa sự tam bảo, thiết thật tu: "giới, định, huệ" nền tảng tam học khởi tu, chỉ giải đải, biếng nhác, tưởng lầm là không cần phải trải qua tam quả: Sơ quả Tụ Đà Hoàn, nhị quả Tu Đà Hàm, tam quả A Na Hàm, mà muốn lập tức chứng quả thứ tư là quả A La Hán, đệ tự ấy cùng với phủ ông muốn cất tầng thừ ba đều là hạng ngu si không tướng!

Lại ví như,:

+ Nhị Thừa Đạo ví như Bán tự giáo.- là như 24 chữ cái A, B, C v.v...

+ Đại Thừa Đạo ví như Mãn tự giáo.- Là chữ đã ráp thành vần, như chữ BA.

Nếu có người chỉ muốn rành được Mãn tự Giáo, mà bỏ qua Bán Tự giáo, thì cũng giống như chuyện Phú ông nọ, mà Phật đã quở trách ở trên.

 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,979
Điểm tương tác
620
Điểm
113
Dạ Kính Thày VQ và Bạn Hiền VM:

[[[[bạn Hiền VM ơi ... NẾU BẠN thật sự hiểu đoạn pháp ngữ trên, thì chúng ta sẽ tiếp tục đàm thoại về nó, để cởi mở ra hết những ngõ ngách, nội dung bên trong để mọi người cùng nhau nhìn thấy HẾT VẺ ĐẸP của câu nói ấy ... LÀM GÌ CŨNG LÀM CHUNG ... dù là làm CHUYỆN VÔ DUYÊN cũng làm chung luôn ... vì có sai vẫn có THÀY VQ và nhiều vị thiện tri thức ở đây "HỘ PHÁP" cho chúng ta mà ... mà đúng không ? ...smile]]]]

[[[[Kính Thày VQ, thày là bậc trưởng thượng, nếu thấy có điều gì KLL nói không đúng và thực hành không đúng, kính xin thày cứ tận tình chỉ dạy, KLL nguyện sẽ nghe và học hỏi thêm]]]]



A. Vô thường, Khổ, Vô Ngã. Ba môn tu tập này không có thiệt nghĩa = là CHỈ TÂM THƯỜNG TRÚ

thế gian: ly sinh diệt

do: như hư không hoa [tất cả vạn hoa "hư không" từ một gốc là tâm mà ra ]

trí bất đắc hữu vô [Trí chỉ là một hiện hữu của tâm ở trong một không gian và một thời gian, là Thức .. cho nên .. Trí có sinh có diệt .. tức là HOA cũng là "TÂM" .. phải nhìn thấy GỐC chứ không phải chỉ thấy HOA .. smile]

nhi hưng đại bi tâm [và luôn luôn .. TÂM vẫn còn đó... phải hông ?]


Phật đạo là tu hành TẠI TÂM, nếu cả "TÂM" cũng nhận ra, thì coi như là chưa nhập PHẬT ĐẠO. Nếu cả những lời nói "CHỈ TÂM" mà cũng không hiểu luôn, thì coi như là cũng chưa nhập PHẬT ĐẠO, vì lấy gì để mà TU HÀNH, phải không ?


Khi mà nói như vậy thì đây là một câu nói: CHỈ TÂM ... bởi vì sao ?

- Chúng ta có thể hiểu khi tạm đặt vào đó một cái THÂN = THỨC = tức là một cái TA đang chịu sự sinh diệt, và SINH TỬ NHỊ KHÍ xuất hiện



và chúng ta có thể ngồi đó cùng quán bốn niệm xứ: THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP luôn.


Như vậy, khi SINH TỬ NHỊ KHÍ của MỘT "TÂM THỨC" xuất hiện, thì chúng ta đều quán thấy gì ?

- Thân = bất tịnh,

- Thọ = thị khổ,

- Tâm = Vô Thường

- Pháp = Vô Ngã

Như vậy, đặc tính của việc QUÁN CÁC NIỆM XỨ khi "TÂM THỨC VÔ THƯỜNG xảy ra" với các đặc tính: KHỔ, VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ .. mang đặc tính CHỈ TÂM. BỞI VÌ AI sẽ là người nhìn thấy những điều đó xảy ra: TÂM [smile]

Và đương nhiên, phải nhìn thấy cái "CHƠN TÂM" ấy, thì con đường VẠN PHÁP và VÔ LƯỢNG NGHĨA mới hiển lộ. Còn không, thì "THỨ GÌ CHỊU NỔI" và nói thiệt, là cũng không có gì "ĐỂ MÀ NÓI và TRÌNH BÀY được luôn, bởi vì: chân lý phải là cụ thể [smile].


*** Phật đạo tu hành tại TÂM. Vốn không thể nào gấp gáp không có vô lượng nghĩa mà hiểu được ý nghĩa của CHƠN NHƯ = CHƠN TÂM hết. Và đương nhiên: hông có phải là "đi LỤC SÁCH" kiếm một vài câu nói mà chính bản thân cũng không hiểu, mà có thể cưỡng chiếm vẻ đẹp của TÂM ĐỨC nổi đâu. Vì làm vậy chắc chắn sẽ xảy ra hiện tượng: NÓI HAI LỜI = LƯỠNG THIỆT [đó là chưa nói xảy ra nhiều món khác trong các pháp số nhân luôn ]. Làm vậy sẽ đánh mất hết UY PHONG và ÁNH SÁNG của TAM BẢO. Tui bảo đảm lời tui nói, khỏi cần dị nghị.


Thật ra, có lẽ chúng ta phải nên cảm nhận được sự TRANG NGHIÊM, KHÉO LÉO, và UY PHONG của TAM BẢO. Thày VQ vốn là người xuất gia, là bậc trưởng thượng và ưu ái với chúng ta lắm rồi. Ở đâu ra mà có một vị "PHÁP CHỦ", một bậc trưởng thượng tôn giáo, chịu ngồi lắng nghe dòng tâm sư đạo học của những người "CHƯA HỀ THẬT TÂM" QUY Y TAM BẢO đúng cách luôn. Phải nói đây là sự TRANG NGHIÊM và UY ĐỨC đáng được kính phục. Nhưng cũng phải nói, đó chính là NGUỒN ÁNH SÁNG TÂM ĐẠO và tấm gương thực hành đạo thật là nhân bản mà chính Phật Thích Ca ngày xưa cũng làm.


"Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: "Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ

khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành:
- những vị đệ tử chân chánh,
- sáng suốt,
- có kỷ luật,
- sẵn sàng,
- đa văn,
- duy trì Chánh pháp,
- thành tựu Chánh pháp và tùy pháp,
- sống chân chánh,
- sống theo Chánh pháp,

sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể
- tuyên bố,
- diễn giảng,
- trình bày,
- xác định,
- khai minh,
- phân tích,
- và giải thích rõ ràng Chánh pháp,


khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo,

chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu". - Kinh Trường Bồ I, Kinh Đại Niết Bàn


Và ngày nói lời tương tự như vậy với luôn cả các Tỳ Kheo Ni. Đó, đâu phải là "do tự nhiên có TỰ TÁNH" đức Phật, Chư Tổ, Chư Tăng, tôn đức có thể là "thiên nhân sư" .. hay là "điều ngự trượng phu, đúng không ? Chân lý của tâm cũng phải là CỤ THỂ, phải bao hàm đủ nội dung tình yêu và trí tuệ ở đó thì mới là VÔ LƯỢNG NGHĨA được.


Cho nên bạn Hiền VM có sẵn sàng thực hành con đường đó không. Nếu có "TUI HỎNG HIỂU đây nè" [smile], bạn Hiền VM có thể đi vào ngồi xuống giải thích tất cả mọi VẺ ĐẸP của BÀI PHÁP đó không ?

- Đó mới là chỗ đáng quý của tinh thần "Ý HÒA ĐỒNG DUYỆT", phải không .... mà đúng không ?



B. Sáu Món Vô Vi

[[[[ ngay từ đầu tui vốn đã có lòng MỞ "MỘT ĐẠI PHÁP SỐ VÔ VI" để cho chúng ta cùng duyệt và hiểu rõ thêm về NỘI DỤNG trí tuệ ở trong đó, ... nhưng tại vì "DUYÊN TỚI KHÔNG KỊP TÂM" nên bạn cũng không thèm để ý luôn ... vậy thì hôm nay làm lại thử nghen ... ]]]]

Thật cũng giống lời thày VQ dạy hôm qua: CŨNG CHỈ CÓ MỘT "VÔ VI" mà như là mưa khắp cả PHÁP GIỚI, mỗi cây mọc lên mỗi khác, mỗi người mỗi khác ... và có người hiểu nhiều nghĩa nhiều, có người không hiểu nhiều và nghĩa cũng không được bao nhiêu [smile]


1. Hư không vô vi: Chơn như hay Pháp tánh, không thể dùng Ý thức suy nghĩ hay lời nói luận bàn đựơc. Nó phi sắc, phi tâm, không sanh diệt, không cấu tịnh, không tăng giảm, nên gọi là “Vô vi” [hình bóng của Chơn Như không ... vậy tại sao là PHI TÂM ?? ... bạn Hiền VM có bao giờ nhìn thấy trăng trong nước chưa ... vậy đó, động là tan ... ].

Bởi nó không ngã, không pháp, rời các cấu nhiễm, rỗng rang như hư không, nên gọi là “ Hư không vô vi”. Đây là theo thí dụ mà đặt tên. [tức là hiện tượng THƯỜNG của CHƠN TÂM không cấu, bất tịnh, không tăng không giảm với các thức]


2. Trạch diệt vô vi:Do dùng Trí tuệ Vô lậu, lựa chọn diệt trừ hết các nhiễm ô, nên Chơn như Vô vi mới hiện. Vì thế nên gọi là “Trạch diệt vô vi”.

*** hiệt tượng vạn pháp .. cũng là TRẠCH DIỆU VÔ VI .. phải qua hiện tượng VẠN PHÁP = thấy VÔ LƯỢNG NGHĨA của "CHƠN TÂM" mới thật thấy cái ý nghĩa trạch diệt vô vi này. Thí dụ: Các Pháp Môn: dùng để tu tập loại trừ các loại tập khí nhiễm ô: như ba mươi bảy phẩm hộ đạo bồ đề, vv... cũng đều là TRẠCH DIỆT VÔ VI. Đây đâu phải chỉ là những lời nói suông, nếu chúng ta "CƯỠNG CHIẾM" vẻ đẹp thì lập tức: ba cảnh, ba lượng, ba tánh, ba giới, chín địa, chín duyên, 51 tâm sở, và thể tướng nghiệp xuất hiện, làm sao mà không QUAN SÁT được [smile].


3. Phi trạch diệt vô vi: Vô vi không cần lựa chọn diệt trừ các phiền não. Có hai nghĩa:

a) Tánh Chơn như vốn thanh tịnh, không phải do lựa chọn diệt trừ các phiền não nhiễm ô mới có, nên gọi là “Phi trạch diệt”.

b) Các pháp hữu vi tạp nhiễm, vì thiếu duyên không sanh khởi, nên pháp Vô vi được hiện. Bởi thế nên gọi “Phi trạch diệt”.

*** [[[[ phi trạch diệt vô vi không dễ làm đâu:

- tâm phản ứng,

- tâm bất tịnh, thân bất tịnh

- thọ thì khổ, pháp vô thường,

TẤT CẢ ĐỀU LÀ THẬT HẾT, thì là tiêu luôn. Người ta nhìn vào thấy có một người loay hoay phản ứng, tính toán, đo đạc, suy tư, bày trước, sao gọi là "PHI TRẠCH DIỆT VÔ VI" được ? ... mà đúng không?


4. Bất động diệt vô vi: Đệ tứ thiền đã lìa được ba định dưới, ra khỏi tam tai (đao binh tai, hỏa tai, thủy tai) không còn bị mừng, giận, thương, ghét v.v… làm chao động nơi tâm, nên gọi là “ Bất động diệt”.


5. Thọ tưởng diệt vô vi: Khi được Diệt tận định, diệt trừ hết “thọ” và “tưởng” tâm sở nên gọi là “ Thọ tưởng diệt vô vi”.

6. Chơn như vô vi: Không phải Vọng, gọi là Chơn (không biến kế sở chấp); Không phải điên đảo gọi là Như (không y tha khởi), tức là Thật tánh của các pháp (Viên thành thật). - Duy Thức Học, Thích Thiện Hoa

Trên thực tế, các pháp Vô Vi chỉ có khi nào người "học đạo" đã "CHUYỂN THÂN" và đã "HÓA THÂN" thành CHƠN TÂM và đương nhiên là các ỨNG THÂN PHẬT cũng đồng xuất hiện. Và khi đã "HÓA THÂN" được thành CHƠN TÂM rồi, thì đương nhiên là ÁNH SÁNG của hiện tượng VẠN PHÁP phải xuất hiện trên khắp đồng một PHÁP GIỚI: HOÀ QUANG ĐỒNG TRẦN mà. Bạn Hiền VM có tin điều này xảy ra không ?

Mà đúng không ?

- Và nếu bạn không tin chỉ cho rằng chỉ cần có BIẾT TIN NHẬN CHƠN TÂM đã là đủ lắm rồi .. thì Chúng Ta thử cùng nhau xem QUÁ TRÌNH "DIỆT ĐỘ LÂN CUỐI CÙNG của đức PHẬT" coi PHÁP GIỚI của MỘT VỊ PHẬT có bao lớn. Đâu phải ngẫu nhiên, mà PHÁP GIỚI hoàn chỉnh phải có các loại định khác nhau chứ: bởi vì THÂN và TÂM của CHÚNG TA vốn là -->> NHƯ VẬY ... MƯỜI NHƯ VẬY lựng" [smile]


C. Tổng thể Pháp Giới của một vị phật: NHẤT CHÂN PHÁP GIỚI [smile]

Và Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: "Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật".

Ðó là lời cuối cùng Như Lai.

8. Rồi Thế Tôn:

- nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền,
- Ngài nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền,
- Ngài nhập Tam thiền. Xuất Tam thiền,
- Ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền,
- Ngài nhập định Không vô biên xứ. Xuất Không vô biên xứ,
- Ngài nhập định Thức vô biên xứ. Xuất Thức vô biên xứ,
- Ngài nhập định Vô sở hữu xứ. Xuất Vô Sở hữu xứ,
- Ngài nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ,
- Ngài nhập Diệt thọ tưởng định.

Khi ấy tôn giả Ananda nói với tôn giả Anuruddha:

- Thưa Tôn giả, Thế Tôn đã diệt độ.

- Này Hiền giả Ananda, Thế Tôn chưa diệt độ. Ngài mới nhập Diệt thọ tưởng định.

***[sao không dừng lại ở đó ? ... smile]


9. Rồi xuất Diệt thọ tưởng định, Ngài nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ định.

Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Vô sở hữu xứ định.

Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập Thức vô biên xứ định.

Xuất thức Vô biên xứ, Ngài nhập Hư không vô biên xứ định.

Xuất Hư không vô biên xứ, Ngài nhập định Tứ thiền.

Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Tam thiền.

Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Nhị thiền.

Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Sơ thiền.

Xuất Sơ thiền, Ngài nhập định Nhị thiền.

Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Tam thiền.

Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài lập tức diệt độ.
- Kinh Trường Bộ I, Kinh Đại Niết Bàn


Ban Hiền VM ơi: chúng ta có thể GIẢM BỚT PHÁP GIỚI to lớn như vậy thành một pháp giới nhỏ xíu được sao ?

- Đó là điều chính đức Phật cũng không làm mà ... phải không ?


mà đúng không ?

- Tui ít tụng kinh Phật lắm ... nhưng hôm nay làm luôn: NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT [smile]


KLL
 

Vo Minh

Thành viên vinh dự
Thành viên vinh dự
Tham gia
27 Thg 12 2017
Bài viết
420
Điểm tương tác
228
Điểm
43
Dạ Kính Thày VQ và Bạn Hiền VM:

[[[[bạn Hiền VM ơi ... NẾU BẠN thật sự hiểu đoạn pháp ngữ trên, thì chúng ta sẽ tiếp tục đàm thoại về nó, để cởi mở ra hết những ngõ ngách, nội dung bên trong để mọi người cùng nhau nhìn thấy HẾT VẺ ĐẸP của câu nói ấy ... LÀM GÌ CŨNG LÀM CHUNG ... dù là làm CHUYỆN VÔ DUYÊN cũng làm chung luôn ... vì có sai vẫn có THÀY VQ và nhiều vị thiện tri thức ở đây "HỘ PHÁP" cho chúng ta mà ... mà đúng không ? ...smile]]]]

[[[[Kính Thày VQ, thày là bậc trưởng thượng, nếu thấy có điều gì KLL nói không đúng và thực hành không đúng, kính xin thày cứ tận tình chỉ dạy, KLL nguyện sẽ nghe và học hỏi thêm]]]]



A. Vô thường, Khổ, Vô Ngã. Ba môn tu tập này không có thiệt nghĩa = là CHỈ TÂM THƯỜNG TRÚ

thế gian: ly sinh diệt

do: như hư không hoa [tất cả vạn hoa "hư không" từ một gốc là tâm mà ra ]

trí bất đắc hữu vô [Trí chỉ là một hiện hữu của tâm ở trong một không gian và một thời gian, là Thức .. cho nên .. Trí có sinh có diệt .. tức là HOA cũng là "TÂM" .. phải nhìn thấy GỐC chứ không phải chỉ thấy HOA .. smile]

nhi hưng đại bi tâm [và luôn luôn .. TÂM vẫn còn đó... phải hông ?]


Phật đạo là tu hành TẠI TÂM, nếu cả "TÂM" cũng nhận ra, thì coi như là chưa nhập PHẬT ĐẠO. Nếu cả những lời nói "CHỈ TÂM" mà cũng không hiểu luôn, thì coi như là cũng chưa nhập PHẬT ĐẠO, vì lấy gì để mà TU HÀNH, phải không ?


Khi mà nói như vậy thì đây là một câu nói: CHỈ TÂM ... bởi vì sao ?

- Chúng ta có thể hiểu khi tạm đặt vào đó một cái THÂN = THỨC = tức là một cái TA đang chịu sự sinh diệt, và SINH TỬ NHỊ KHÍ xuất hiện



và chúng ta có thể ngồi đó cùng quán bốn niệm xứ: THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP luôn.


Như vậy, khi SINH TỬ NHỊ KHÍ của MỘT "TÂM THỨC" xuất hiện, thì chúng ta đều quán thấy gì ?

- Thân = bất tịnh,

- Thọ = thị khổ,

- Tâm = Vô Thường

- Pháp = Vô Ngã

Như vậy, đặc tính của việc QUÁN CÁC NIỆM XỨ khi "TÂM THỨC VÔ THƯỜNG xảy ra" với các đặc tính: KHỔ, VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ .. mang đặc tính CHỈ TÂM. BỞI VÌ AI sẽ là người nhìn thấy những điều đó xảy ra: TÂM [smile]

Và đương nhiên, phải nhìn thấy cái "CHƠN TÂM" ấy, thì con đường VẠN PHÁP và VÔ LƯỢNG NGHĨA mới hiển lộ. Còn không, thì "THỨ GÌ CHỊU NỔI" và nói thiệt, là cũng không có gì "ĐỂ MÀ NÓI và TRÌNH BÀY được luôn, bởi vì: chân lý phải là cụ thể [smile].


*** Phật đạo tu hành tại TÂM. Vốn không thể nào gấp gáp không có vô lượng nghĩa mà hiểu được ý nghĩa của CHƠN NHƯ = CHƠN TÂM hết. Và đương nhiên: hông có phải là "đi LỤC SÁCH" kiếm một vài câu nói mà chính bản thân cũng không hiểu, mà có thể cưỡng chiếm vẻ đẹp của TÂM ĐỨC nổi đâu. Vì làm vậy chắc chắn sẽ xảy ra hiện tượng: NÓI HAI LỜI = LƯỠNG THIỆT [đó là chưa nói xảy ra nhiều món khác trong các pháp số nhân luôn ]. Làm vậy sẽ đánh mất hết UY PHONG và ÁNH SÁNG của TAM BẢO. Tui bảo đảm lời tui nói, khỏi cần dị nghị.


Thật ra, có lẽ chúng ta phải nên cảm nhận được sự TRANG NGHIÊM, KHÉO LÉO, và UY PHONG của TAM BẢO. Thày VQ vốn là người xuất gia, là bậc trưởng thượng và ưu ái với chúng ta lắm rồi. Ở đâu ra mà có một vị "PHÁP CHỦ", một bậc trưởng thượng tôn giáo, chịu ngồi lắng nghe dòng tâm sư đạo học của những người "CHƯA HỀ THẬT TÂM" QUY Y TAM BẢO đúng cách luôn. Phải nói đây là sự TRANG NGHIÊM và UY ĐỨC đáng được kính phục. Nhưng cũng phải nói, đó chính là NGUỒN ÁNH SÁNG TÂM ĐẠO và tấm gương thực hành đạo thật là nhân bản mà chính Phật Thích Ca ngày xưa cũng làm.


"Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: "Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ

khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành:
- những vị đệ tử chân chánh,
- sáng suốt,
- có kỷ luật,
- sẵn sàng,
- đa văn,
- duy trì Chánh pháp,
- thành tựu Chánh pháp và tùy pháp,
- sống chân chánh,
- sống theo Chánh pháp,

sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể
- tuyên bố,
- diễn giảng,
- trình bày,
- xác định,
- khai minh,
- phân tích,
- và giải thích rõ ràng Chánh pháp,


khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo,

chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu". - Kinh Trường Bồ I, Kinh Đại Niết Bàn


Và ngày nói lời tương tự như vậy với luôn cả các Tỳ Kheo Ni. Đó, đâu phải là "do tự nhiên có TỰ TÁNH" đức Phật, Chư Tổ, Chư Tăng, tôn đức có thể là "thiên nhân sư" .. hay là "điều ngự trượng phu, đúng không ? Chân lý của tâm cũng phải là CỤ THỂ, phải bao hàm đủ nội dung tình yêu và trí tuệ ở đó thì mới là VÔ LƯỢNG NGHĨA được.


Cho nên bạn Hiền VM có sẵn sàng thực hành con đường đó không. Nếu có "TUI HỎNG HIỂU đây nè" [smile], bạn Hiền VM có thể đi vào ngồi xuống giải thích tất cả mọi VẺ ĐẸP của BÀI PHÁP đó không ?

- Đó mới là chỗ đáng quý của tinh thần "Ý HÒA ĐỒNG DUYỆT", phải không .... mà đúng không ?



B. Sáu Món Vô Vi

[[[[ ngay từ đầu tui vốn đã có lòng MỞ "MỘT ĐẠI PHÁP SỐ VÔ VI" để cho chúng ta cùng duyệt và hiểu rõ thêm về NỘI DỤNG trí tuệ ở trong đó, ... nhưng tại vì "DUYÊN TỚI KHÔNG KỊP TÂM" nên bạn cũng không thèm để ý luôn ... vậy thì hôm nay làm lại thử nghen ... ]]]]

Thật cũng giống lời thày VQ dạy hôm qua: CŨNG CHỈ CÓ MỘT "VÔ VI" mà như là mưa khắp cả PHÁP GIỚI, mỗi cây mọc lên mỗi khác, mỗi người mỗi khác ... và có người hiểu nhiều nghĩa nhiều, có người không hiểu nhiều và nghĩa cũng không được bao nhiêu [smile]


1. Hư không vô vi: Chơn như hay Pháp tánh, không thể dùng Ý thức suy nghĩ hay lời nói luận bàn đựơc. Nó phi sắc, phi tâm, không sanh diệt, không cấu tịnh, không tăng giảm, nên gọi là “Vô vi” [hình bóng của Chơn Như không ... vậy tại sao là PHI TÂM ?? ... bạn Hiền VM có bao giờ nhìn thấy trăng trong nước chưa ... vậy đó, động là tan ... ].

Bởi nó không ngã, không pháp, rời các cấu nhiễm, rỗng rang như hư không, nên gọi là “ Hư không vô vi”. Đây là theo thí dụ mà đặt tên. [tức là hiện tượng THƯỜNG của CHƠN TÂM không cấu, bất tịnh, không tăng không giảm với các thức]


2. Trạch diệt vô vi:Do dùng Trí tuệ Vô lậu, lựa chọn diệt trừ hết các nhiễm ô, nên Chơn như Vô vi mới hiện. Vì thế nên gọi là “Trạch diệt vô vi”.

*** hiệt tượng vạn pháp .. cũng là TRẠCH DIỆU VÔ VI .. phải qua hiện tượng VẠN PHÁP = thấy VÔ LƯỢNG NGHĨA của "CHƠN TÂM" mới thật thấy cái ý nghĩa trạch diệt vô vi này. Thí dụ: Các Pháp Môn: dùng để tu tập loại trừ các loại tập khí nhiễm ô: như ba mươi bảy phẩm hộ đạo bồ đề, vv... cũng đều là TRẠCH DIỆT VÔ VI. Đây đâu phải chỉ là những lời nói suông, nếu chúng ta "CƯỠNG CHIẾM" vẻ đẹp thì lập tức: ba cảnh, ba lượng, ba tánh, ba giới, chín địa, chín duyên, 51 tâm sở, và thể tướng nghiệp xuất hiện, làm sao mà không QUAN SÁT được [smile].


3. Phi trạch diệt vô vi: Vô vi không cần lựa chọn diệt trừ các phiền não. Có hai nghĩa:

a) Tánh Chơn như vốn thanh tịnh, không phải do lựa chọn diệt trừ các phiền não nhiễm ô mới có, nên gọi là “Phi trạch diệt”.

b) Các pháp hữu vi tạp nhiễm, vì thiếu duyên không sanh khởi, nên pháp Vô vi được hiện. Bởi thế nên gọi “Phi trạch diệt”.

*** [[[[ phi trạch diệt vô vi không dễ làm đâu:

- tâm phản ứng,

- tâm bất tịnh, thân bất tịnh

- thọ thì khổ, pháp vô thường,

TẤT CẢ ĐỀU LÀ THẬT HẾT, thì là tiêu luôn. Người ta nhìn vào thấy có một người loay hoay phản ứng, tính toán, đo đạc, suy tư, bày trước, sao gọi là "PHI TRẠCH DIỆT VÔ VI" được ? ... mà đúng không?


4. Bất động diệt vô vi: Đệ tứ thiền đã lìa được ba định dưới, ra khỏi tam tai (đao binh tai, hỏa tai, thủy tai) không còn bị mừng, giận, thương, ghét v.v… làm chao động nơi tâm, nên gọi là “ Bất động diệt”.


5. Thọ tưởng diệt vô vi: Khi được Diệt tận định, diệt trừ hết “thọ” và “tưởng” tâm sở nên gọi là “ Thọ tưởng diệt vô vi”.

6. Chơn như vô vi: Không phải Vọng, gọi là Chơn (không biến kế sở chấp); Không phải điên đảo gọi là Như (không y tha khởi), tức là Thật tánh của các pháp (Viên thành thật). - Duy Thức Học, Thích Thiện Hoa

Trên thực tế, các pháp Vô Vi chỉ có khi nào người "học đạo" đã "CHUYỂN THÂN" và đã "HÓA THÂN" thành CHƠN TÂM và đương nhiên là các ỨNG THÂN PHẬT cũng đồng xuất hiện. Và khi đã "HÓA THÂN" được thành CHƠN TÂM rồi, thì đương nhiên là ÁNH SÁNG của hiện tượng VẠN PHÁP phải xuất hiện trên khắp đồng một PHÁP GIỚI: HOÀ QUANG ĐỒNG TRẦN mà. Bạn Hiền VM có tin điều này xảy ra không ?

Mà đúng không ?

- Và nếu bạn không tin chỉ cho rằng chỉ cần có BIẾT TIN NHẬN CHƠN TÂM đã là đủ lắm rồi .. thì Chúng Ta thử cùng nhau xem QUÁ TRÌNH "DIỆT ĐỘ LÂN CUỐI CÙNG của đức PHẬT" coi PHÁP GIỚI của MỘT VỊ PHẬT có bao lớn. Đâu phải ngẫu nhiên, mà PHÁP GIỚI hoàn chỉnh phải có các loại định khác nhau chứ: bởi vì THÂN và TÂM của CHÚNG TA vốn là -->> NHƯ VẬY ... MƯỜI NHƯ VẬY lựng" [smile]


C. Tổng thể Pháp Giới của một vị phật: NHẤT CHÂN PHÁP GIỚI [smile]

Và Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: "Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật".

Ðó là lời cuối cùng Như Lai.

8. Rồi Thế Tôn:

- nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền,
- Ngài nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền,
- Ngài nhập Tam thiền. Xuất Tam thiền,
- Ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền,
- Ngài nhập định Không vô biên xứ. Xuất Không vô biên xứ,
- Ngài nhập định Thức vô biên xứ. Xuất Thức vô biên xứ,
- Ngài nhập định Vô sở hữu xứ. Xuất Vô Sở hữu xứ,
- Ngài nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ,
- Ngài nhập Diệt thọ tưởng định.

Khi ấy tôn giả Ananda nói với tôn giả Anuruddha:

- Thưa Tôn giả, Thế Tôn đã diệt độ.

- Này Hiền giả Ananda, Thế Tôn chưa diệt độ. Ngài mới nhập Diệt thọ tưởng định.

***[sao không dừng lại ở đó ? ... smile]


9. Rồi xuất Diệt thọ tưởng định, Ngài nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ định.

Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Vô sở hữu xứ định.

Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập Thức vô biên xứ định.

Xuất thức Vô biên xứ, Ngài nhập Hư không vô biên xứ định.

Xuất Hư không vô biên xứ, Ngài nhập định Tứ thiền.

Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Tam thiền.

Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Nhị thiền.

Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Sơ thiền.

Xuất Sơ thiền, Ngài nhập định Nhị thiền.

Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Tam thiền.

Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài lập tức diệt độ.
- Kinh Trường Bộ I, Kinh Đại Niết Bàn


Ban Hiền VM ơi: chúng ta có thể GIẢM BỚT PHÁP GIỚI to lớn như vậy thành một pháp giới nhỏ xíu được sao ?

- Đó là điều chính đức Phật cũng không làm mà ... phải không ?


mà đúng không ?

- Tui ít tụng kinh Phật lắm ... nhưng hôm nay làm luôn: NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT [smile]


KLL

Mod khuclunglinh kính.

Tiếc quá.....tiếc quá.........[sao không dừng lại ở đó? ... smile] Nói nói "Cái gì Thường Trụ! Không đi! Không đến".



Tiếc quá.....tiếc quá.........

Trời đất bất nhân, coi vạn vật như chó rơm; thánh nhân bất nhân, coi trăm họ như chó rơm.


"Chẳng nhận được bổn tâm, học pháp vô ích,"

Tiếc quá.....tiếc quá.........

Xin được dừng ở đây với Mod khuclunglinh và Thầy

Kính
Thành thật cảm ơn
 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,979
Điểm tương tác
620
Điểm
113
Kính bạn Hiền VM:

[[[[ đi vô cũng thiếu cụ thể không rành .. đi ra thiếu cụ thể cũng không rành ... rút cuộc chỉ là: CHÚNG TA CHẲNG DÁM ĐI ĐÂU .. ha hahahahahahha]]]]

vậy thì chúng ta cứ ở đây .. uống trà chung ... bạn Hiền VM với tui có thể nói chuyện phật lý cả đời cũng không xong ...

bạn VM uống trà nhé ..... [smile]


*** lần sau .. chúng ta lại thử ĐI VÔ ĐI RA tiếp ... ha ha hahahaha

KLL
 

nguoidienhocphat1

Moderator
Staff member
Tham gia
31 Thg 8 2015
Bài viết
1,955
Điểm tương tác
331
Điểm
83
Dạ Kính Thày VQ và Bạn Hiền VM:

[[[[bạn Hiền VM ơi ... NẾU BẠN thật sự hiểu đoạn pháp ngữ trên, thì chúng ta sẽ tiếp tục đàm thoại về nó, để cởi mở ra hết những ngõ ngách, nội dung bên trong để mọi người cùng nhau nhìn thấy HẾT VẺ ĐẸP của câu nói ấy ... LÀM GÌ CŨNG LÀM CHUNG ... dù là làm CHUYỆN VÔ DUYÊN cũng làm chung luôn ... vì có sai vẫn có THÀY VQ và nhiều vị thiện tri thức ở đây "HỘ PHÁP" cho chúng ta mà ... mà đúng không ? ...smile]]]]

[[[[Kính Thày VQ, thày là bậc trưởng thượng, nếu thấy có điều gì KLL nói không đúng và thực hành không đúng, kính xin thày cứ tận tình chỉ dạy, KLL nguyện sẽ nghe và học hỏi thêm]]]]



A. Vô thường, Khổ, Vô Ngã. Ba môn tu tập này không có thiệt nghĩa = là CHỈ TÂM THƯỜNG TRÚ

thế gian: ly sinh diệt

do: như hư không hoa [tất cả vạn hoa "hư không" từ một gốc là tâm mà ra ]

trí bất đắc hữu vô [Trí chỉ là một hiện hữu của tâm ở trong một không gian và một thời gian, là Thức .. cho nên .. Trí có sinh có diệt .. tức là HOA cũng là "TÂM" .. phải nhìn thấy GỐC chứ không phải chỉ thấy HOA .. smile]

nhi hưng đại bi tâm [và luôn luôn .. TÂM vẫn còn đó... phải hông ?]


Phật đạo là tu hành TẠI TÂM, nếu cả "TÂM" cũng nhận ra, thì coi như là chưa nhập PHẬT ĐẠO. Nếu cả những lời nói "CHỈ TÂM" mà cũng không hiểu luôn, thì coi như là cũng chưa nhập PHẬT ĐẠO, vì lấy gì để mà TU HÀNH, phải không ?


Khi mà nói như vậy thì đây là một câu nói: CHỈ TÂM ... bởi vì sao ?

- Chúng ta có thể hiểu khi tạm đặt vào đó một cái THÂN = THỨC = tức là một cái TA đang chịu sự sinh diệt, và SINH TỬ NHỊ KHÍ xuất hiện



và chúng ta có thể ngồi đó cùng quán bốn niệm xứ: THÂN, THỌ, TÂM, PHÁP luôn.


Như vậy, khi SINH TỬ NHỊ KHÍ của MỘT "TÂM THỨC" xuất hiện, thì chúng ta đều quán thấy gì ?

- Thân = bất tịnh,

- Thọ = thị khổ,

- Tâm = Vô Thường

- Pháp = Vô Ngã

Như vậy, đặc tính của việc QUÁN CÁC NIỆM XỨ khi "TÂM THỨC VÔ THƯỜNG xảy ra" với các đặc tính: KHỔ, VÔ THƯỜNG, VÔ NGÃ .. mang đặc tính CHỈ TÂM. BỞI VÌ AI sẽ là người nhìn thấy những điều đó xảy ra: TÂM [smile]

Và đương nhiên, phải nhìn thấy cái "CHƠN TÂM" ấy, thì con đường VẠN PHÁP và VÔ LƯỢNG NGHĨA mới hiển lộ. Còn không, thì "THỨ GÌ CHỊU NỔI" và nói thiệt, là cũng không có gì "ĐỂ MÀ NÓI và TRÌNH BÀY được luôn, bởi vì: chân lý phải là cụ thể [smile].


*** Phật đạo tu hành tại TÂM. Vốn không thể nào gấp gáp không có vô lượng nghĩa mà hiểu được ý nghĩa của CHƠN NHƯ = CHƠN TÂM hết. Và đương nhiên: hông có phải là "đi LỤC SÁCH" kiếm một vài câu nói mà chính bản thân cũng không hiểu, mà có thể cưỡng chiếm vẻ đẹp của TÂM ĐỨC nổi đâu. Vì làm vậy chắc chắn sẽ xảy ra hiện tượng: NÓI HAI LỜI = LƯỠNG THIỆT [đó là chưa nói xảy ra nhiều món khác trong các pháp số nhân luôn ]. Làm vậy sẽ đánh mất hết UY PHONG và ÁNH SÁNG của TAM BẢO. Tui bảo đảm lời tui nói, khỏi cần dị nghị.


Thật ra, có lẽ chúng ta phải nên cảm nhận được sự TRANG NGHIÊM, KHÉO LÉO, và UY PHONG của TAM BẢO. Thày VQ vốn là người xuất gia, là bậc trưởng thượng và ưu ái với chúng ta lắm rồi. Ở đâu ra mà có một vị "PHÁP CHỦ", một bậc trưởng thượng tôn giáo, chịu ngồi lắng nghe dòng tâm sư đạo học của những người "CHƯA HỀ THẬT TÂM" QUY Y TAM BẢO đúng cách luôn. Phải nói đây là sự TRANG NGHIÊM và UY ĐỨC đáng được kính phục. Nhưng cũng phải nói, đó chính là NGUỒN ÁNH SÁNG TÂM ĐẠO và tấm gương thực hành đạo thật là nhân bản mà chính Phật Thích Ca ngày xưa cũng làm.


"Bạch Thế Tôn, đây là lời Thế Tôn đã nói: "Này Ác ma, Ta sẽ không diệt độ

khi nào những Tỷ-kheo của Ta chưa trở thành:
- những vị đệ tử chân chánh,
- sáng suốt,
- có kỷ luật,
- sẵn sàng,
- đa văn,
- duy trì Chánh pháp,
- thành tựu Chánh pháp và tùy pháp,
- sống chân chánh,
- sống theo Chánh pháp,

sau khi học hỏi giáo lý, chưa có thể
- tuyên bố,
- diễn giảng,
- trình bày,
- xác định,
- khai minh,
- phân tích,
- và giải thích rõ ràng Chánh pháp,


khi có tà đạo khởi lên chưa có thể chất vấn và hàng phục một cách khéo léo,

chưa có thể truyền bá Chánh pháp thần diệu". - Kinh Trường Bồ I, Kinh Đại Niết Bàn


Và ngày nói lời tương tự như vậy với luôn cả các Tỳ Kheo Ni. Đó, đâu phải là "do tự nhiên có TỰ TÁNH" đức Phật, Chư Tổ, Chư Tăng, tôn đức có thể là "thiên nhân sư" .. hay là "điều ngự trượng phu, đúng không ? Chân lý của tâm cũng phải là CỤ THỂ, phải bao hàm đủ nội dung tình yêu và trí tuệ ở đó thì mới là VÔ LƯỢNG NGHĨA được.


Cho nên bạn Hiền VM có sẵn sàng thực hành con đường đó không. Nếu có "TUI HỎNG HIỂU đây nè" [smile], bạn Hiền VM có thể đi vào ngồi xuống giải thích tất cả mọi VẺ ĐẸP của BÀI PHÁP đó không ?

- Đó mới là chỗ đáng quý của tinh thần "Ý HÒA ĐỒNG DUYỆT", phải không .... mà đúng không ?



B. Sáu Món Vô Vi

[[[[ ngay từ đầu tui vốn đã có lòng MỞ "MỘT ĐẠI PHÁP SỐ VÔ VI" để cho chúng ta cùng duyệt và hiểu rõ thêm về NỘI DỤNG trí tuệ ở trong đó, ... nhưng tại vì "DUYÊN TỚI KHÔNG KỊP TÂM" nên bạn cũng không thèm để ý luôn ... vậy thì hôm nay làm lại thử nghen ... ]]]]

Thật cũng giống lời thày VQ dạy hôm qua: CŨNG CHỈ CÓ MỘT "VÔ VI" mà như là mưa khắp cả PHÁP GIỚI, mỗi cây mọc lên mỗi khác, mỗi người mỗi khác ... và có người hiểu nhiều nghĩa nhiều, có người không hiểu nhiều và nghĩa cũng không được bao nhiêu [smile]


1. Hư không vô vi: Chơn như hay Pháp tánh, không thể dùng Ý thức suy nghĩ hay lời nói luận bàn đựơc. Nó phi sắc, phi tâm, không sanh diệt, không cấu tịnh, không tăng giảm, nên gọi là “Vô vi” [hình bóng của Chơn Như không ... vậy tại sao là PHI TÂM ?? ... bạn Hiền VM có bao giờ nhìn thấy trăng trong nước chưa ... vậy đó, động là tan ... ].

Bởi nó không ngã, không pháp, rời các cấu nhiễm, rỗng rang như hư không, nên gọi là “ Hư không vô vi”. Đây là theo thí dụ mà đặt tên. [tức là hiện tượng THƯỜNG của CHƠN TÂM không cấu, bất tịnh, không tăng không giảm với các thức]


2. Trạch diệt vô vi:Do dùng Trí tuệ Vô lậu, lựa chọn diệt trừ hết các nhiễm ô, nên Chơn như Vô vi mới hiện. Vì thế nên gọi là “Trạch diệt vô vi”.

*** hiệt tượng vạn pháp .. cũng là TRẠCH DIỆU VÔ VI .. phải qua hiện tượng VẠN PHÁP = thấy VÔ LƯỢNG NGHĨA của "CHƠN TÂM" mới thật thấy cái ý nghĩa trạch diệt vô vi này. Thí dụ: Các Pháp Môn: dùng để tu tập loại trừ các loại tập khí nhiễm ô: như ba mươi bảy phẩm hộ đạo bồ đề, vv... cũng đều là TRẠCH DIỆT VÔ VI. Đây đâu phải chỉ là những lời nói suông, nếu chúng ta "CƯỠNG CHIẾM" vẻ đẹp thì lập tức: ba cảnh, ba lượng, ba tánh, ba giới, chín địa, chín duyên, 51 tâm sở, và thể tướng nghiệp xuất hiện, làm sao mà không QUAN SÁT được [smile].


3. Phi trạch diệt vô vi: Vô vi không cần lựa chọn diệt trừ các phiền não. Có hai nghĩa:

a) Tánh Chơn như vốn thanh tịnh, không phải do lựa chọn diệt trừ các phiền não nhiễm ô mới có, nên gọi là “Phi trạch diệt”.

b) Các pháp hữu vi tạp nhiễm, vì thiếu duyên không sanh khởi, nên pháp Vô vi được hiện. Bởi thế nên gọi “Phi trạch diệt”.

*** [[[[ phi trạch diệt vô vi không dễ làm đâu:

- tâm phản ứng,

- tâm bất tịnh, thân bất tịnh

- thọ thì khổ, pháp vô thường,

TẤT CẢ ĐỀU LÀ THẬT HẾT, thì là tiêu luôn. Người ta nhìn vào thấy có một người loay hoay phản ứng, tính toán, đo đạc, suy tư, bày trước, sao gọi là "PHI TRẠCH DIỆT VÔ VI" được ? ... mà đúng không?


4. Bất động diệt vô vi: Đệ tứ thiền đã lìa được ba định dưới, ra khỏi tam tai (đao binh tai, hỏa tai, thủy tai) không còn bị mừng, giận, thương, ghét v.v… làm chao động nơi tâm, nên gọi là “ Bất động diệt”.


5. Thọ tưởng diệt vô vi: Khi được Diệt tận định, diệt trừ hết “thọ” và “tưởng” tâm sở nên gọi là “ Thọ tưởng diệt vô vi”.

6. Chơn như vô vi: Không phải Vọng, gọi là Chơn (không biến kế sở chấp); Không phải điên đảo gọi là Như (không y tha khởi), tức là Thật tánh của các pháp (Viên thành thật). - Duy Thức Học, Thích Thiện Hoa

Trên thực tế, các pháp Vô Vi chỉ có khi nào người "học đạo" đã "CHUYỂN THÂN" và đã "HÓA THÂN" thành CHƠN TÂM và đương nhiên là các ỨNG THÂN PHẬT cũng đồng xuất hiện. Và khi đã "HÓA THÂN" được thành CHƠN TÂM rồi, thì đương nhiên là ÁNH SÁNG của hiện tượng VẠN PHÁP phải xuất hiện trên khắp đồng một PHÁP GIỚI: HOÀ QUANG ĐỒNG TRẦN mà. Bạn Hiền VM có tin điều này xảy ra không ?

Mà đúng không ?

- Và nếu bạn không tin chỉ cho rằng chỉ cần có BIẾT TIN NHẬN CHƠN TÂM đã là đủ lắm rồi .. thì Chúng Ta thử cùng nhau xem QUÁ TRÌNH "DIỆT ĐỘ LÂN CUỐI CÙNG của đức PHẬT" coi PHÁP GIỚI của MỘT VỊ PHẬT có bao lớn. Đâu phải ngẫu nhiên, mà PHÁP GIỚI hoàn chỉnh phải có các loại định khác nhau chứ: bởi vì THÂN và TÂM của CHÚNG TA vốn là -->> NHƯ VẬY ... MƯỜI NHƯ VẬY lựng" [smile]


C. Tổng thể Pháp Giới của một vị phật: NHẤT CHÂN PHÁP GIỚI [smile]

Và Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, nay Ta khuyên dạy các ngươi: "Các pháp hữu vi là vô thường, hãy tinh tấn, chớ có phóng dật".

Ðó là lời cuối cùng Như Lai.

8. Rồi Thế Tôn:

- nhập định Sơ thiền. Xuất Sơ thiền,
- Ngài nhập Nhị thiền. Xuất Nhị thiền,
- Ngài nhập Tam thiền. Xuất Tam thiền,
- Ngài nhập Tứ thiền. Xuất Tứ thiền,
- Ngài nhập định Không vô biên xứ. Xuất Không vô biên xứ,
- Ngài nhập định Thức vô biên xứ. Xuất Thức vô biên xứ,
- Ngài nhập định Vô sở hữu xứ. Xuất Vô Sở hữu xứ,
- Ngài nhập định Phi tưởng phi phi tưởng xứ. Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ,
- Ngài nhập Diệt thọ tưởng định.

Khi ấy tôn giả Ananda nói với tôn giả Anuruddha:

- Thưa Tôn giả, Thế Tôn đã diệt độ.

- Này Hiền giả Ananda, Thế Tôn chưa diệt độ. Ngài mới nhập Diệt thọ tưởng định.

***[sao không dừng lại ở đó ? ... smile]


9. Rồi xuất Diệt thọ tưởng định, Ngài nhập Phi tưởng phi phi tưởng xứ định.

Xuất Phi tưởng phi phi tưởng xứ, Ngài nhập Vô sở hữu xứ định.

Xuất Vô sở hữu xứ, Ngài nhập Thức vô biên xứ định.

Xuất thức Vô biên xứ, Ngài nhập Hư không vô biên xứ định.

Xuất Hư không vô biên xứ, Ngài nhập định Tứ thiền.

Xuất Tứ thiền, Ngài nhập định Tam thiền.

Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Nhị thiền.

Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Sơ thiền.

Xuất Sơ thiền, Ngài nhập định Nhị thiền.

Xuất Nhị thiền, Ngài nhập định Tam thiền.

Xuất Tam thiền, Ngài nhập định Tứ thiền. Xuất Tứ thiền, Ngài lập tức diệt độ.
- Kinh Trường Bộ I, Kinh Đại Niết Bàn


Ban Hiền VM ơi: chúng ta có thể GIẢM BỚT PHÁP GIỚI to lớn như vậy thành một pháp giới nhỏ xíu được sao ?

- Đó là điều chính đức Phật cũng không làm mà ... phải không ?


mà đúng không ?

- Tui ít tụng kinh Phật lắm ... nhưng hôm nay làm luôn: NAM MÔ A DI ĐÀ PHẬT [smile]


KLL
Heeeeee. Ngươi cứ sàm ngôn. Ngươi học Phật để trí tuệ ngươi khai mở nhìn rõ đúng bản chất sự vật hiện tượng chứ ko phải mù quáng mà nịnh hót vừa hại mình hại người. Ngay từ đầu người điên đã cảnh báo ngươi rồi. A di đà Phật.
+++++++++++++++++++++++++++++++

Cảnh cáo: Thành viên không được xúc phạm cá nhân người khác.- Đây là vi phạm nội quy. VQ nhắc nhở.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,466
Điểm tương tác
1,741
Điểm
113
PHẦN IV

* Về nguồn được chỉ.


Qui căn đắc chỉ,

Tùy chiếu thất tông.


Nghĩa là:

Về nguồn được chỉ

Theo chiếu mất tông.


Đó là 2 câu trong TÍN-TÂM-MINH, tác phẩm của Tam Tổ Tăng Xáng. Có ý nghĩa là:

Trở về gốc thì được yếu chỉ, theo chiếu thì mất tông, tức là mất ông chủ của mình.

Đây là Tổ dạy. Phải Thiền quán mới thấy được Chân Như, không thể dùng ý thức suy lường mà biết được.

Chiếu có hai cách:

1/. phản chiếu
2/. tùy chiếu.

+ Trở về gốc là Phản chiếu là soi trở lại tự tâm.

+ Tuỳ chiếu là theo bản năng vô minh soi ra ngoài.

* Nếu soi ra ngoài thì mất tông, soi trở lại thì được lợi ích.

Nói rằng mình trở lại mình thì dễ thấy được cái chân thật. Nếu soi ra ngoài, cứ thấy nghe, phân biệt cả ngày, phân biệt người ở ngoài thì mất ông chủ nơi mình, đó là lẽ đương nhiên không nghi ngờ gì hết.

Bây giờ tu du phản chiếu trong chốc lát, mà biết chiếu ngược soi lại mình thì thắng khước tiền không, tức là hơn hết những cái không ở trước. Nếu đè xuống là cảnh không, không bằng soi lại rõ từng niệm của mình, không theo nó là thù thắng nhất. Cho nên nói: chỉ cần trong chốc lát soi lại mình, thì cái đó thù thắng hơn cái không.

Như vậy đồng thời một chữ chiếu mà đứng ở hai mặt. Người tu khác với người thế gian ở chỗ đó. Người thế gian suốt ngày để sáu căn chạy theo sáu trần, cho nên họ quên mất chính họ. Họ chạy theo cái được mất, hơn thua, chớ không biết soi trở lại chính mình.

Người tu biết soi trở lại thấy rõ từng tâm niệm, từng hành động, từng phần một trong nội tâm không có lầm lẫn. Thấy thân này là duyên hợp giả dối, tâm thì từng niệm, từng niệm dấy khởi,sinh diệt rõ ràng. Do biết nó là giả dối, nên tâm chơn thật hiện tiền. Vì vậy phản chiếu là việc tu, còn tùy chiếu là mất ông chủ chắc chắn.

Do "Hồi quang phản chiếu" tức là Thiền Quán, luôn giữ được Chánh Niệm hiện Tiền, nên hành giả thấy được nguồn cội các pháp, nguồn cội của Tâm, nguồn cội của Ngã v.v...

Khi thấy được nguồn cội của các Pháp, thì sẽ biết được:

- Tại sao các quả vị không là chứng đắc ?

- Tại sao Quả Phật không do tu mà được ?

- Tại sao 49 năm Phật chưa hề nói một lời ?

- Tại sao Phật, Pháp, Tăng là thường trụ ?

- Tại sao Niết Bàn A- la- hán là Hữu Dư ?

- Tại sao các Pháp bất sanh, bất diệt, bất cấu, bất tịnh. bất tăng, bất giảm ?

- Tại sao v.v... và v.v... ?

Hiểu được các nghi vấn đó nghĩa là thấu triệt được các Pháp, tự tại nơi các Pháp.



Sự thấu triệt ấy gọi là "Đắc chỉ" nghĩa là nắm được yếu chỉ của Phật Pháp, là thấu được nguồn tâm, là Minh Tâm kiến Tánh, là Thể nhập Chân Như.- Đó là TÂM ẤN- Mà bài này gọi là Đệ Tứ Pháp Ấn.- Nhất Chân Thật Tướng Ấn.

Vậy chúng ta nương vào Pháp Thiền quán nào để "Nhập Chân Như Môn" ?

Sau đây mời các Bạn cùng thảo luận.
 

trừng hải

Moderator
Staff member
Tham gia
30 Thg 7 2013
Bài viết
993
Điểm tương tác
494
Điểm
63
Heeeeee. Ngươi cứ sàm ngôn. Ngươi học Phật để trí tuệ ngươi khai mở nhìn rõ đúng bản chất sự vật hiện tượng chứ ko phải mù quáng mà nịnh hót vừa hại mình hại người. Ngay từ đầu người điên đã cảnh báo ngươi rồi. A di đà Phật.
+++++++++++++++++++++++++++++++

Cảnh cáo: Thành viên không được xúc phạm cá nhân người khác.- Đây là vi phạm nội quy. VQ nhắc nhở.
Tỏ lòng kính trọng Tăng già mà nịnh hót, hại người hại mình ư!!! Đúng là suy nghĩ bệnh hoạn.

Trừng Hải
 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,979
Điểm tương tác
620
Điểm
113
Heeeeee. Ngươi cứ sàm ngôn. Ngươi học Phật để trí tuệ ngươi khai mở nhìn rõ đúng bản chất sự vật hiện tượng chứ ko phải mù quáng mà nịnh hót vừa hại mình hại người. Ngay từ đầu người điên đã cảnh báo ngươi rồi. A di đà Phật.
+++++++++++++++++++++++++++++++

Cảnh cáo: Thành viên không được xúc phạm cá nhân người khác.- Đây là vi phạm nội quy. VQ nhắc nhở.
ha ha hahaha .. TRỜI ĐẤT .. mới quay mặt một tí mà đã vậy rùi sao ?

Mà thôi .. hay là để tui tâm sự thật với mí bạn và thày luôn một lần ... tui đạt trình độ MIÊN MẬT với TÂM THỨC chắc cũng cỡ độ 10 năm rồi. Có thể nói, mỗi nhất cử nhất động đều QUÁN TÂM trên TÂM .. nhưng có nhiều lần, sự tập trung như thế cao quá dẫn tới "NHỨC ĐẦU LUÔN" [smile] ... nếu bạn quan sát những người học thiền quán miên mật thì hiểu: À .. có NHỨC ĐẦU THIỆT .. có một lần tui đọc được lời này do chính HT Thích Duy Lực nói ra làm tui bật cười .. ha hahahahahahahha

- Lúc ban đầu thì những lời, những đoạn pháp ngữ ... mà tui hay đăng trong đây đó .. từ từ lãnh hội được chân nghĩa của chúng .. CÔNG ÁN = không thành vấn đề

- sau đó .. thì bắt đầu tới những đoạn khó hơn .. đặc biệt là vấn đề CHUYỂN TÂM .. cho tới một hôm, tui đột nhiên: KHÁM PHÁ ra CHỖ ĐỨNG CỦA TÂM = chính là VỊ TRÍ THƯỜNG và là VỊ TRÍ NGUỒN GỐC

và giai đoạn đó trở đi .. thì bắt đầu kinh tạng bắt đầu đọc hiểu ... và cũng là có cơ duyên gặp MỘT VI LÃO CA ... vậy thôi đó ...


Nói thiệt là khi vào đây, tui chỉ cốt ý tìm lại vị đại huynh đã tặng tui câu nói này:

TÂM tức là TƯỚNG, TƯỚNG tức là TÁNH, TÁNh tức là KHÔNG, KHÔNG tức là CÓ [lần đó, ổng chỉ nói một lần rồi bỏ đi .. không hề quay lại ... ]

nhưng khi vào đây .. có thể nói là gặp THẦY VQ cũng là người "TRI ÂM" vì tui biết thầy cũng rất là MIÊN MẬT [... còn nắm cả MỘT KHO GIÁO LÝ TRONG TAY .... và NGÀI còn là người XUẤT GIA nữa ... biết bao nhiêu thời gian tâm tư đều học Phật Lý và TU TÂM chớ làm gì nữa ... ]

nói thiệt ra ... lần nào tui nói gì .. THẦY cũng XÁC MINH được lời tui nói ngay lập tức ...mà lần nào cũng mở đường cho nói tiếp luôn ..

vậy các bạn thử nghĩ xem: TUi có nên xem Thày VQ là bậc trưởng thượng của tui không ? -- >> CHẮC CHẮN rồi .. và tui biết thày đâu có phải vì vài lời khen chê .. mà thấy đó làm vui .. và đối với tui .. được tiếp tục học hỏi thêm về PHẬT LÝ mới là quan trọng .. còn mí chuyện khác, tui hông hề quan tâm đâu ... ngay cả cái FUNTION MOD tui cũng chưa hề đụng tay vào lần nào ... [bạn nào làm MOD cũng kiểm chứng được điều này mà ... ha ha ahhahahahahahahha]

Bạn NDHP làm tui nhớ lại lời của Bồ Đề Đạt Ma nói trong phim Bồ Đề Đạt Ma:

200 năm sau khi ta Diệt Đô, khi đó y bát truyền tới Lục Tổ không cần truyền nữa. Khi đó, pháp môn đã truyền đi khắp nơi.

NHƯNG MÀ

- người biết thì nhiều, còn người thực hành thì ít

- người thuyết đạo nhiều, mà người ngộ đạo ít

- kẻ thuyết lý nhiều mà người ngộ lý thì ít [smile]



Mà đúng không ?


*** với lại đây là mội trường DIỄN ĐÀN và TINH THẦN Ý HÒA ĐỒNG DUYỆT mà .. hay là chúng ta cứ tự thử xem .. trả lời câu hỏi của THÀY VQ vừa nêu ra chẳng hạn ..

một thời gian thôi, KLL rất tự tin .. chúng ta sẽ tự hiểu nhau hơn ... tui bảo đảm lời tui nói, khỏi cần dị nghị



KLL
 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,979
Điểm tương tác
620
Điểm
113
PHẦN IV

Vậy chúng ta nương vào Pháp Thiền quán nào để "Nhập Chân Như Môn" ?

Sau đây mời các Bạn cùng thảo luận.



Kính Thày VQ:

Phương pháp của KLL thực hành do LÃO CA dạy cho là "SỬ DỤNG CHƠN TÂM luôn" trong việc ĐỨNG TRƯỚC SINH TỬ NHỊ KHÍ mà CHUYỂN TÂM.

Có nghĩa là mỗi lần:

- tức giận .. lập tức đem "NGŨ UẨN, LỤC NHẬP, THẬP NHỊ XỨ, THẬP BÁT GIỚI, THẤT ĐẠI" ra sử dụng ... hồi đó LÃO CA chỉ dạy sử dụng với phương pháp "TẬP TRUNG và làm cái gì ưa thích" tức là "SƠ THIỀN"

- thất ý,

- biến cố phải lo âu.. phải tự học cách "DỤNG TÂM" tách mình ra khỏi ...

- sau này .. từ đó .. KLL đi luôn vài bước tự mình luôn .. ĐEM CÁI GÌ ƯA THÍCH RA XÀI như là pháp hữu đối ... tức là ĐỊNH và CHỈ ...

- rùi từ đó một thời gian lạc sang AN TRÚ .. tức là LẠC ... và cũng bị trì trệ ở đó một thời gian .. SƯỚNG MÀ sao bỏ [smile] ??


*** À có một kinh nghiệm .. cái giai đoạn này thiệt là khổ .. TĂNG KÝ .. là bởi vì đầu óc con người, mỗi ngày hoạt động tâm trí có thể đốt trung bình là khỏa 600 + --> gần 1000 kcal.... hình như tới giai đoạn này .. đầu óc KLL không đốt nhiều năng lượng nữa .. ồ my GOODNESS .. không muốn ĂN CHAY cũng phải chuyển sang ĂN RAU .. ha hahahahahah


Sau này, có một thời gian ... chỉ dừng lại như thế thôi .. cho tới khi có một lần KLL dọc lại một số lời CHƯ TỔ thiền TÔNG nói về:

- Hải Huynh

- Nguồn Tâm

- Diệu Tư --> TƯỞNG

- Một câu đủ trăm vị

- Đại Bi Tâm của kinh Lăng Già

- Chơn Tâm Thường Trú của kinh Thủ Lăng Nghiêm

....


và từ đó, KLL mò được tới PHÉP TU THẬP TƯỞNG và đặc biệt là PHÉP TU TỬ TƯỞNG của KINH ĐẠI NIẾT BÀN và cũng tự biết kết hợp với CÁCH SỬ DỤNG "CHƠN TÂM" để quán TỨ NIỆM XỨ đối với "các THỨC"

và cách đây độ ba năm, KLL mò tới KINH TRƯỜNG BỘ, và khi tới KINH TU BÀ cái đoạn: SỬ DỤNG TÂM ĐỊNH TĨNH, NHU NHUYỄN, BẤT CẤU, DỄ SỬ DỤNG ... thì lúc đó mới hiểu được: À thì là LÃO CA TÂM TƯ sao mà khôn dò trầm tĩnh và sâu quá ... KÍNH PHỤC .. và thử hỏi: còn làm sao NGHI LỜI HÒA THƯỢNG TRONG THIÊN HẠ nổi ?? [smile]

và đương nhiên là đứng ở một VỊ TRÍ QUÁ THÍCH HỢP đúng là vị trí mà Kinh Thủ Lăng Nghiêm dạy để ĐẶT TÂM đó .. thiệt là HẾT XẢY .. và từ đó, những gì KLL biết cũng trình bày cho thày và các bạn nghe luôn hết rồi đấy.

Đây chính là hai Kinh Thủ Lăng Nghiêm mà KLL học được từ Pháp Sư Thích Từ Thông qua bài giảng kinh LĂNG NGHIÊM của ông, và tới bi giờ, vẫn sử dụng mỗi ngày:


Tất cả thế gian
sống, chết nối nhau
sống theo đường thuận
chết theo đường khác

khi vừa mệnh chung
chưa dứt hơi ấm
thiện, ác một đời
đồng thời hiện ra
cái thuận của sống
cái nghịch của chết

hai luồng tập khí
xen kẽ lẫn nhau


cho nên CHỈ CẦN ĐẶT "MỘT CÁI TÂM" ĐỨNG Ở VỊ TRÍ "THUẬN NGHỊCH NHỊ KHÍ" để mà QUAN SÁT:

- CHẾT đi đâu

- THUẬN thì NÍU KÉO và NGHIỆP LỰC ra sao .. mạnh yếu thế nào .. năng minh và sở minh có giá trị gì .. và NĂNG TÙY CẢNH DIỆT ra sao .. năng trục cảnh trầm thế nào

và tại sao: CHƠN TÂM là THÁI HƯ [smile]



ii. Tất cả thế gian
lầm mình là VẬT
bỏ mất tâm, tánh
nếu biết CHUYỂN VẬT
thì đồng với NHƯ LAI
thân tâm viên mãn sáng suốt
nơi đạo trường bất động đó
dù là cọng cây, ngọn cỏ
cũng ngầm chưa thập phương quốc độ


đoạn này .. chính là chỗ CHUYỂN TÂM .. mà là DÙNG TÂM CHUYỂN TÂM VẬT .. cũng là nhờ hơn chục năm trước, DOCCODEN [cu ĐEN .. ha hahaha] thân tặng cho ... và KLL nhớ chép vào một cuốn sổ tay tơi giờ hỏng giữ kỹ, giấy VÀNG KHÈ cũ rích luôn .. ha ha ahhahahah


đương nhiên là con đường NỤ CƯỜI ĐỦ TRĂM NGHĨA cũng dài mà ... đâu có phải là một sớm một chiều đâu. Phải lượm được đủ cả trăm nghĩa .. lượm thêm cả vài chục món nhỏ .. thêm một muối cho mặn, .. bỏ ít đường cho vui .. A ha ha ahahahahhahahahahahahahah

cũng vì KLL tự biết con đường miên mật này cho bản thân KHÁ DÀI .. và cũng mang lại cho bản thân nhiều lợi ích...đặc biệt là nơi "PHÁP GIỚI" của KLL đang sống ... nên thật lòng muốn vào đây chia sẽ một số những CÂU TRUYỆN THUẦN LÝ về những "CÂU NÓI CÓ ĐẶC TÍNH CHÌA KHÓA"

hy vọng có người có duyên đủ .. sẽ hiểu được mà có thể TỰ LỢI .. LỢI THA ...

điều KLL biết chỉ có vậy thôi .. và kính trình thày hết [smile]

KLL
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,466
Điểm tương tác
1,741
Điểm
113
Phần IV

Chân Như là gì ?

Ở Đại Thừa Khởi Tín. Tổ Mã Minh dạy:

Tâm chân như môn bổn giác.


Tâm Chân như tức Bản thể Nhất pháp giới đại tổng tướng gọi là Tâm tính bất sinh bất diệt.

Tất cả pháp đều y Vọng niệm nên có sự sai khác, nếu rời Vọng niệm tức khắc không còn tướng sai biệt.

Thế nên tất cả pháp từ xưa nay đều rời tướng ngôn thuyết, rời tướng văn tự, rời tướng tâm duyên, tuyệt đối bình đẳng không bao giờ biến dị, cũng không thể phá hoại, duy Nhất tâm vì thế gọi là Chân như.

Tất cả những ngôn thuyết đều giả danh không thật, tùy theo Vọng niệm nên thật sự là Bất khả đắc.

Dù gọi Chân như nhưng Chân như không có tướng. Đây là chỗ cùng cực của ngôn thuyết, dùng ngôn ngữ phủ định ngôn ngữ.

Tuy nhiên Bản thể Chân như tuyệt đối không thể phủ định, bởi vì tất cả các pháp đều là Chân, cũng không thể thành lập bởi vì tất cả các pháp đều là Như. Vì thế nên gọi Chân như.

Nên biết tất cả chư pháp không thể nói, không thể suy nghĩ, vì tất cả pháp đều là Chân như.
Chơn Như không thể nói được, vì có 2 nguyên do:

I/. Vì Chơn như là Bản Thể Uyên nguyên của tự tánh. Căn bản các pháp đều vọng sanh từ chơn như.

* Thế nào là Bản Thể Uyên nguyên của tự tánh ? Đó là chỗ qui thú của các pháp, nó là vô sở hữu. Tâm hành của chúng sanh là vô sở trú , nghĩa là chơn tâm không chỗ trụ.

+ Ở nơi vô trú uyên nguyên đó nảy sanh một niệm trú chấp, niệm trú chấp đó là tướng của tâm.
+ Tướng của Tâm là ở mắt thì thấy, ở tai thì nghe, ở mũi thì ngữi, ở lưỡi thì nếm, ở thân thì xúc chạm, ở bộ não thì suy nghĩ phân biệt.

Ở mục ngưu đồ có nói về tranh " Tìm trâu phải tìm dấu" .

Tìm trâu cần phăn dấu
Học đạo cốt vô tâm
Dấu đâu thì trâu đó
Vô tâm đạo dễ tầm.

Nghĩa là muốn tìm tâm thì theo dấu vết của tâm, đó là " niệm khởi ".

+ Niệm khởi là lúc căn và trần duyên tác với nhau thì khởi niệm. Chỗ khởi niệm này gọi là đệ nhất sát na, gọi là tri thức đầu nguồn. Ngay nơi đây sẽ có 2 trường hợp:

1/. Khởi niệm mà Chánh niệm là tùy duyên ứng pháp, trực nhận được bản tâm thì gọi là tri kiến vô kiến. Nếu chúng ta thấy một pháp mà không bị tâm hữu vi sanh diệt xen vào, nghĩa là chỉ thấy pháp đó như vậy là như vậy chứ không thêm bớt ý niệm chủ quan của mình vào, thì pháp đó mới trọn vẹn với tánh, tướng, thể, dụng… đúng như bản nguyên của nó. Đây là chỗ THỊ tiếp giáp nguồn CHƠN. Nơi đây vô ngôn, tuyệt lự, vô niệm, vô tu, vô chứng.

2/. Khởi niệm mà vọng niệm là chạy theo chấp niệm, để rồi bị 5 ấm che ngăn đó mà niệm niệm sanh diệt, đó là tri kiến lập tri tức vô minh bổn.

“Nhất niệm bất sanh toàn thể hiện
Lục căn tài động thị vân già”.

Nếu lục căn này bị động loạn lên thì liền lập tức thế giới thân-tâm-cảnh bị mây vô minh, ái dục che phủ hết. Còn nếu mặt trời tuệ mà sáng suốt chiếu soi thì: “Chơn giác vô công, căn trần hà tội?”. Giác thì không có ngã nên chẳng có công lao gì hết và căn trần (lục căn, lục trần) cũng chẳng có tội gì nếu không có bản ngã, vô minh, ái dục trói buộc.

II/. Chơn Như không thể nói được. Vì Niệm khởi mà kiên cố thì kết tạo thành Ngôn ngữ, văn tự. Do đó ngôn ngữ, văn tự chỉ có thể dùng để chỉ cho vọng tâm sanh diệt, mà không thể nói đến chỗ uyên nguyên tỉnh lặng Chơn như bất biến. Đây là chỗ bất túc nghèo nàn của ngôn ngữ.

Vì những ý nghĩa trên đây, nên chư Phật chư Tổ không thể dùng lời nói mà chỉ bày chỗ chân lý tuyệt đối Đệ nhất nghĩa đế cho chúng sanh, chỉ có thể dùng Tục Đế để hiển bày.- Đó là Nghĩa Như Thị. từ Như mà thị hiện đó.

* NHƯ THỊ:

HT Pháp Sư Thích Thiện Trí trong tác phẩm 6 Pháp Thành tựu Ba la mật. Nói:

Như là THỂ, mà Thị là DỤNG. "NHƯ" là Vô Sanh, mà "THỊ" là duyên sanh. Nên trong nhà Phật thường nói VÔ SANH SANH, chữ Sanh đi sau là "tùng duyên sanh", chữ sanh ở trước là "NHƯ".

Như vậy chữ "NHƯ" là Thể của các pháp, chữ "THỊ" là tuỳ duyên sanh, theo duyên mà sanh, theo duyên mà diệt.

Chữ "NHƯ" là ở "Chơn Như Tánh", chữ "NHƯ" là "như hư không bất động", chữ "NHƯ" là "như như bất động".

Chư "THỊ" là phương tiện.

Nếu chữ "NHƯ" là Chơn Tâm, thì chữ "THỊ" là hiển bày, là phương tiện.

Cho nên "đương thể tức Như, đương hạ tức Thị".

Đương ở cái Thể là "NHƯ", đương chỉ bày thì gọi là "THỊ".

Cái thể "NHƯ" không thể nói được, nhưng mà "THỊ" thì có chỗ để chỉ bày.

Nói không hết, nói không được, nói không tới.- Đó là "NHƯ".

Còn ta dùng một ý ta để nói, nhưng không phải nói như vậy là hết ý đâu. Nhưng chỉ dùng một ý chính thôi. Một ý chính đó trong vô lượng ý, cái đó gọi là "THỊ".

Còn chữ "NHƯ" kia là vô lượng nghĩa, là không có nghĩa để nói.

Như vậy chữ "NHƯ" đó, chữ "THỊ" đó là Trung Đạo Đế, là Thể- Dụng không hai, không có lằn ranh giữa thiện ác.
Tất cả kinh điển, lời dạy của Đức Phật, như 37 phẩm trợ đạo, Tứ Diệu Đế hoặc các kinh điển Đại thừa đều mang ý nghĩa này. Nên nói Đạo Chỉ có Một.- Đây là Đệ Nhất nghĩa Đế, là Chân Đế của Đạo Thánh Đế.
Vì Chơn Như là không thể nói, là Vô lượng nghĩa. Nhưng lại là con đường trở về, là mục đích tối hậu của người tu Phật. Do vậy trong kinh có nhiều thuật ngữ để chỉ Chân như chúng sanh. Như là:

Chân như Tâm, Niết Bàn, Pháp Giới, Chơn Tâm, chân Đế, Vô Thượng Bồ Đề, Kiến Tánh, Thật Tánh, Bản Lai diện mục, là Tâm Ấn, là Nhất Chân Thật Tướng Ấn v.v...
 

khuclunglinh

Moderator
Staff member
Tham gia
26 Thg 12 2017
Bài viết
2,979
Điểm tương tác
620
Điểm
113
Kính thày VQ:

[[[[KLL kính trình thày đoạn này nhờ thày duyệt lại xem có đúng Phật Lý không ... nếu có gì không đúng, KLL nguyện học hỏi thêm ]]]]


Chơn Tâm là nguồn gốc của vạn tượng như lời Tam Tổ Tăng Xán viêt trong Tín Tâm Minh:

Nhất không đồng Lưỡng
tề hàm vạn tượng

** điều này dễ thấy nhất ờ nơi: CHẾT theo đường khác, vị trí tâm ở tử tưởng mà kinh Thủ Lăng Nghiêm miêu tả ***

quy căn đắc chỉ
tùy chiếu thất tông

tu du phản chiếu
thắng khước tiền không



Nhưng thông thường, điều này rất khó nhận ra .. vì khi người ta quay về BÊN TRONG "tức là về NGUỒN ĐƯỢC CHỈ" người ta cũng không biết cách luôn. Và vấn đề này được Thượng Trung Tuệ Sỹ viết trong bài thơ Chí Đạo Vô Nan:

Chí đạo vô nan mạc đạo nan,

Hồi đầu chuyển não giác man can.

Tương tâm khướu hướng cầu tâm tiệm,

Đại tự niêm ngư thướng trúc can.



Dịch nghĩa

Đạo lớn không khó đừng nói khó,

Quay đầu, động não, cảm thấy mờ mịt.

Nếu lại đem lòng mình hướng vào tìm ma quỷ ở trong lòng,

Thì có khác gì con cá măng nhảy lên ngọn trúc.


Đó là hiện tượng QUÁN CHIẾU không đúng cách, cứ ngỡ mình "CỨ QUAY LẠI - TU LÀ SỬA LỖI MÌNH",

Đó là hiện tượng QUÁN CHIẾU không đúng cách, cứ ngỡ mình "CỨ QUAY LẠI - TU LÀ SỬA LỖI MÌNH",

- vì sự quán chiếu đó kẹt trong đường "tâm THỨC" cuối cùng vẫn là chỉ là: ĐỨNG Ở NGỌN mà QUÁN TÂM. Đó là hiện tượng QUAY ĐẦU ĐỘNG NÃO = nhưng là chỗ mà kinh Lăng Già đã nói:

TRÍ bất đắc: hữu vô

và không phải là:

Nhi hưng: đại bi tâm


Thực chất, đó vẫn là TÙY CHIẾU ở bên trong THỨC là VÔ MINH chứ không phải là TU DU PHẢN CHIẾU.

Có một vị thiền sư nói, đại đa số những người TỰ HỌC THIỀN mà không có người hướng dẫn "CHỈ TÂM" tức sẽ đi vào con đường: LẦM TƯỞNG MÌNH QUY CĂN VỀ NGUỒN, nhưng thực chất vẫn chỉ là như CÁ MĂNG NHẢY NGỌN TRÚC như lời Thượng Trung Tuệ Sỹ miêu tả.



Một vị thiền sư khác, Thiền Sư Khuông Việt, đứng ở vị trí của NHƯ LAI VIÊN GIÁC TÁNH, tức là chỗ lấy "HAI CÂY CỦI" cọ vào nhau, lửa phát gỗ cháy tro bay khói diệt mà nhìn thấy TÂM chính là NGUỒN = CÓ MUÔN VẠN CẶP CÂY CỦI như thế, và ông miêu tả tâm trạng đó như sau:

Mộc trung nguyên: hữu hoả

Nguyên hoả: phục hoàn sinh

Nhược vị mộc vô hoả

Toản toại hà do manh?

(Lửa có sẵn trong cây Vơi đi, chốc lại đầy Ví cây không sẵn lửa Xát lửa sao bùng ngay)


Và lối miêu tả này đúng thiệt với lời mà Đức Phật dạy tôn giả Anan trong kinh Đại Niết Bàn:

Này Ananda, hãy tự mình là ngọn đuốc cho chính mình




Rất nhiều người sau này chỉ còn chép được và hiểu được nghĩa đó phải là: TỰ GIÁC, TỰ NGỘ ngay nơi tâm mình,

nhưng ý nghĩa của "CHƠN TÂM, CHƠN NHƯ" là cái nguồn gốc của hiện tượng VẠN PHÁP = tức là VÔ LƯỢNG NGHĨA đã hoàn toàn biến mất .. và vì thế:

- đã đánh mất Ý NGHĨA của VÔ LƯỢNG NGHĨA của Chơn Tâm.


*** có lẽ, đây là điều mà các hành giả TỰ HỌC THIỀN QUÁN cần phải quan tâm .. mà nếu không tự tu tập đầy đủ các phạm hạnh, nhiều khi bước lên THIỀN QUÁN không đúng cách cũng dẫn đến NHIỀU SAI LẦM trong đời sống thực tế luôn .. vì con đường THANH TỊNH ĐẠO là THỰC TƯỚNG GIẢI THOÁT mà.


KLL
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Staff member
Tham gia
6 Thg 2 2007
Bài viết
6,466
Điểm tương tác
1,741
Điểm
113
Phần IV

* Một số thuật ngữ Đồng nghĩa Chân Như.

Chân Như còn được gọi là :

- Phật Tánh

_Thường, Lạc, Ngã, Tịnh.

_Đại Niết Bàn

_Bản Thể của Tâm

_Bản Lai Diện Mục

_Tánh Thiên Chân

- Thể tánh tịnh minh.

- Chân Tâm thường trú.

- Tỳ lô giá Na Pháp Thân.

- Pháp Thân.

- Pháp giới Tàng thân A Di Đà Phật.

- Đạo.

- Tánh không.

- Thật Tướng.

- Như Như.

- Như Lai

- Thiên Chân Phật

_Tánh Thực

_Chân Tánh

_Tự Tánh

_Tánh

_Chân Tâm

_Tự Tâm

_Diệu Tâm

_Tâm Vương

_Kiến Tinh ( thuật ngữ dùng trong Kinh Lăng Nghiêm)

_Chân Ngã

_Chân Không Diệu Hữu (Chân Không + Diệu Hữu)

_Như Lai Tạng

- Cực Lạc.

- bản thể.

- Tâm Ấn.

- Nhất chân thật tướng Ấn.

. . .
 
Bên trên