4 Pháp Ấn

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Kính thưa quý Thiện Hữu Tri Thức Quý Đạo Hữu trên diễn đàn Phật Pháp kính mến.

Nhân có một số bạn trẻ tâm sự rằng: Kinh sách Phật giáo quá nhiều, nhưng lại khó nắm bắt được những điều "cốt lõi" để tu tập cho "Đúng" và "Nhanh" trên lộ trình "Thành Phật", theo đường hướng của chư Phật, Chư Tổ Thiền Tông.

Để phần nào đáp ứng nguyện vọng này, VQ cố gắng cô đọng Giáo lý kinh điển lại cho giản tiện, và chắt lọc phần "cốt lõi" đã được Chư Tổ Ấn chứng là ĐÚNG CHÁNH PHÁP để phục vụ các Bạn có nhu cầu tu học Phật Pháp.

Chủ đề này sẽ được VQ lập thành 4 Phần:

* Tổng quan.

- Phần I: Nói về Đệ nhất Pháp Ấn. Chư Hành Vô Thường

+ Những gì là " Chư Hành" ?

* Thường Kiến và Vô Thường.

* Nghĩa và Tướng của Vô Thường.

* Tu tưởng về Vô thường.

+ Phương diện tích cực của Vô thường.

+ Sự tương tác giữa Vô Thường và Thường.- Vô Thường thị Thường.

- Phần II: Nói về Đệ Nhị Pháp Ấn.- Chư Pháp Vô Ngã.

+ Lược trích Duy Thức Luận.

+ Ngã là gì ?

+ Quan niệm "Đại ngã và tiểu ngã" của Bà La môn Giáo.

+ Khái niệm về Ngã và Huyễn Ngã.

+ Lý nhân duyên Sanh.

+ Ngũ Ấm ( Uẩn ) Vô Ngã.

+ Chấp Ngã là cội gốc sanh tử luân hồi.

+ 4 tướng.
+ Sanh diệt diệt dĩ.


+ Chơn Ngã- Phi Ngã.

- Phần III: Nói về Đệ Tam Pháp Ấn - Niết Bàn Tịch Diệt .

* Sanh từ đâu đến ? Tử lại đi về đâu ?


* Tổng quan về Niết Bàn.

* Đường dẫn đến Niết Bàn.

* Câu chuyện Đốn Ngộ.

* Quá trình tu chứng A la Hán và Phật (Phần chứng tức Phật)

* Quả Tư Đà Hoàn.

* 7 lần sanh diệt (chuyện Câu Hy La).

* Quả Tu Đà Hàm.

* Quả A na Hàm.

* Quả A- La- Hán.

* Nẽo về Tịch Diệt Niết Bàn của Vị A- La- Hán.

* Diệt Tận Định, Diệt Thọ Tưởng Định.

* Kết luận phần III.



- Phần IV: Nói về Đệ Tứ Pháp Ấn - NHƯ NHƯ Thật Tướng

Trong quá trình giải bày, cấu trúc này có thể thay đổi thêm bớt chút ít.

Kính mong quý Thiện Tri thức và quý ĐH bổ sung và thảo luận.

Kính thỉnh.


******************************************

Bài viết này có tham khảo từ các nguồn:

- Bài giảng Đại Trí Độ Luận của Hoà Thượng Pháp Sư Thích Thiện Trí.

- Bài giảng kinh Đại Bát Niết Bàn của Hoà Thượng Pháp Sư Thích Từ Thông.

- Bài giảng kinh Như Lai Viên giác của Thượng toạ Tiến sĩ Thích Hạnh Tuệ (tại chùa Phước Hải. Q10)

- Trang web: https://thuvienhoasen.org/a21469/7-lich-su-ket-tap-kinh-dien-va-truyen-giao-ty-kheo-thien-minh

- Trang web: https://thuvienhoasen.org/a13295/tam-phap-an-giao-ly-trong-dao-phat

- Phân tích Ngũ Uẩn.- HT. Thích Thiện Siêu .- https://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbpha605.htm

- Tư liệu từ Thư viện Hoa sen.

- https://suttacentral.net/vn/ps1.2

- Luận Đại Thừa Bách Pháp.

- https://vi.wikipedia.org/

- Thắng Pháp Tập Yếu Luận.

- Thành Thật Luận.

- VŨ TRỤ VẠN HỮU BẢN THỂ LUẬN

 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
* Tổng quan.

+ Đạo Phật.- Đạo là con đường dẫn đến. Phật là người Giác ngộ. Thành Phật là giác ngộ hoàn toàn (Đấng Toàn Giác).

+ Giáo chủ: Đạo Phật, được đức Thích Ca Mâu Ni Phật truyền dạy từ cách đây hơn 2560 năm, tại xứ Ấn Độ. Trải qua quá trình truyền thừa đi khắp thế giới, Đạo Phật được các đệ tử phân lập thành 2 hệ phái chính:

a)- Hệ phái Nguyên Thỉ Phật giáo. còn gọi là Tiểu thừa hay Nam Tông Phật giáo.

b)- Hệ Phát triển, còn gọi là Bắc Tông hay Đại thừa Phật giáo.

+ Giáo lý kinh điển: Lời dạy của Đức Phật được viết lại bằng 2 loại văn tự Pali (văn tự Nam Ấn) và Sankrit (văn tự Bắc Ấn).- Qua 6 lần kiết tập kinh điển, bởi Giáo Hội Tăng già.

Được phân loại thành 12 bộ kinh.- Đại thừa đủ 12 bộ kinh, tiểu thừa 9 bộ kinh. Gồm:

1) Kinh (Khế kinh): những bài kinh chính căn bản Phật nói bằng văn xuôi, ngắn gọn, súc tích,khế cơ và khế lý tức là những lời Phật dạy khế hợp với chân lý với từng căn cơ của chúng sinh.

2) Trùng tụng (Ứng tụng): những bài kinh hoặc kệ tụng được đức Phật nhắc đi nhắc lại nhiều lần để các đệ tử ngài thuộc lòng.

3) Thụ ký: kinh Phật thụ ký, chứng nhận quả vị cho những đệ tử và những việc xảy ra về sau.

4) Ký chú (Phúng tụng): những bài kinh thuộc thể thơ ca không diễn xuôi

5) Tự thuyết (Tán thán): bài pháp Phật thuyết không cần sự thưa thỉnh

6) Nhân duyên (Quảng thuyết): kinh nói về nhân duyên pháp hội, nhân duyên của nhân sinhvà vũ trụ.

7) Thí dụ (Diễn thuyết giải ngộ): kinh Phật dùng thí dụ để giảng thuyết những giáo lý cao thâm cho dễ hiểu.

8) Bản sự kinh (Như thị pháp hiện): kinh Phật nói “tu nhân, chứng quả” của hàng đệ tử trong quá khứ và vị lai.

9) Bản sinh kinh: kinh Phật nói về tiền thân của Phật và hàng Bồ tát dẫn đến câu chuyện của đời hiện tại, sự liên hệ giữa tiền kiếp và hậu kiếp…

10) Phương quảng (Phương đẳng): kinh điển đại thừa, nói về pháp tu rốt ráo

11) Hy pháp (Vị tằng hữu): kinh Phật nói về thần lực của Phật và hàng thánh đệ tử, nói về cảnh giới vi diệu của quả tu.

12) Nghị luận (Cận sự thỉnh vấn): kinh vấn đáp, biện luận giữa Phật và hàng đệ tử hoặc giữa các hàng đệ tử với nhau để lý giải rốt ráo chính tà…

* Phật Giáo Tiểu thừa, bỏ ra bớt 3 bộ:

1) Vô vấn Tự thuyết

2) Bản sinh kinh

3) Phương quảng (Phương đẳng)

Gọi là 9 bộ kinh.

+ Pháp Ấn: Để tránh tình trạng "tam sao thất bản" sai lệch Chánh Pháp Phật. Đức Phật dạy Kinh Pháp Ấn.

* – XUẤT XỨ KINH PHÁP ẤN :

Kinh Pháp Ấn ( 經法印 ) do Thiền Sư Thi Hộ đời nhà Tống chuyển dịch từ Phạn ngữ sang Hán văn. Kinh này thuộc về Kinh Bộ A Hàm, là Kinh số 104 của Đại Tạng Tân Tu . Ngoài ra trong Đại Tạng cũng còn có hai Kinh nói về Tam Pháp Ấn , đó là Phật Thuyết Thánh Pháp Ấn Kinh ( Kinh số 103 ) và Kinh số 80 của bộ Tạp A Hàm ( Kinh số 99 của Đại Tạng Tân Tu. Kinh này do Thiền Sư Câu Na Bạt Đà La dịch cũng vào đời nhà Tống )

Trong Kinh tạng Pàli , đề tài Pháp Ấn được nói đến trong kinh số 43 của Trung Bộ ( Najjhima Nikaya ) và trong bộ Patisambhidàmaggo. Nội dung của ba bộ kinh đại khái tương đồng, ít có phần dị biệt. Song đứng về phương diện mạch lạc và ý tứ thì Phật Thuyết Thánh Pháp Ấn Kinh khúc chiết và súc tích hơn, còn kinh văn thì cũng ngắn gọn hàm súc hơn.

Ngoài các bộ kinh nói về Tam Pháp Ấn thì các bộ Luận của Đại thừa cũng có đề cập đến Tam Pháp Ấn , tiêu biểu là Đại Trí Độ Luận quyển 22 do Bồ Tát Long Thọ viết vào thế kỷ thứ II .

(còn tiếp)
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
* Tổng quan.(tt)

+ Pháp Ấn gì ?

- Ấn là con dấu để chứng nhận. ví dụ như các cấp chính quyền dùng con dấu trong các công văn để biểu hiện đây là quyền lực không bị giả mạo. con dấu có nhiều cấp bậc như phường, quận, Thành phố, Quốc gia từ nhỏ đến lớn. Pháp Ấn cũng vậy kinh văn nào mang dấu ấn của Tam Pháp Ấn hoặc Tứ Pháp Ấn là biểu hiện Phật pháp không bị giả mạo, đẳng cấp từ tiểu thừa đến Đại thừa.

- Tam Pháp Ấn gồm:

1/. Chư Hành Vô Thường.

2/. Chư Pháp Vô Ngã.

3/. Niết Bàn tịch tĩnh.

Riêng Ấn thứ 3 Niết Bàn tịch tĩnh. được giải rộng ra thành Ấn thứ 4

4/. Nhất Chân Thật tướng Ấn, hay NHƯ NHƯ Thật Tướng Ấn.

4 Pháp Ấn này cũng là phiên bản "rút gọn" của Tứ Diệu Đế.- Nên là nền tảng, là căn bản , là cốt lõi của Đạo Phật.- Vô Thường, Vô Ngã nhiếp về Khổ Đế và Tập Đế. Niết Bàn, Như Như nhiếp về Diệt Đế và Đạo Đế.

Người nắm giữ Tứ Pháp Ấn là Tăng Đoàn đệ tử Phật, là trưởng tử của Như Lai, được Tổ Tổ tương truyền và dùng đó mà Hoằng Pháp lợi sanh.

Tóm lại:

Phật là mục tiêu đi đến của người đệ tử Phật.

Tăng là người nắm giữ và truyền thừa 4 Pháp Ấn.

Pháp là 4 Pháp Ấn, là phương tiện để thực hiện tiến trình thành Phật.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Phần I:

* Đệ nhất Pháp Ấn. Chư Hành Vô Thường


Kinh Đại Niết Bàn Đức Phật kể câu chuyện như sau:

Này Thiện nam tử ! Về thuở quá khứ, thời kỳ không có Phật ra đời, lúc đó ta làm Bà la môn tu hạnh Bồ tát, có khả năng thông suốt tất cả kinh luận của ngoại đạo. Ta tu hạnh tịch diệt, đầy đủ oai nghi, tâm thường thanh tịnh không bị các dục nhiễm tác động, trừ bỏ tam độc, thọ trì pháp môn Thường, Lạc, Ngã, Tịnh. Khắp nơi ta tìm cầu kinh điển Đại thừa mà chưa hề được nghe tên kinh.
Rồi,Thích Đề Hoàn Nhơn biến mình thành quỷ La Sát, dung mạo thấy rất đáng sợ, bay xuống núi Tuyết đến gần người khổ hạnh cất tiếng thanh nhã, tuyên nói nửa bài kệ của Phật quá khứ:

Các hành pháp vô thường
Vì là pháp sanh diệt

Nói nửa bài kệ xong, quỉ La Sát liếc mắt ngó tìm bốn phía. Người tu khổ hạnh nghe hai câu kệ ấy lòng thanh thản và rất vui mừng, như người bệnh gặp lương y, như người trôi dạt trên biển gặp thuyền bè...

Này Thiện nam tử ! Người khổ hạnh được nghe nửa bài kệ rồi, liền đứng dậy, tay vuốt tóc vén lên, ngó tìm bốn phía nói rằng: "Chẳng biết ai vừa nói hai câu kệ ?" Ngó quanh tìm mãi, chợt thấy có quỷ La Sát, chẳng có ai khác. Người khổ hạnh nói: "Ai khai môn giải thoát như vậy ? Ai có thể ở trong giấc ngủ sanh tử mà riêng được giác ngộ xướng lên lời đó vậy ? Ai có thể ở chốn núi thẳm, rừng xanh, quạnh quẽ, cô liêu này, đem đạo vị vô thượng chỉ dạy cho chúng sanh đang đói khát trong ngục tù sanh tử ưu bi ? Ai có thể làm thuyền lớn cứu vớt vô lượng chúng sanh đang nổi chìm lặn hụp trong biển sanh tử ? Ai có thể làm minh sư, nói hai câu kệ ấy khai ngộ tăm tối, như trăng vừa mọc, như sen hé nở ?

Người khổ hạnh thầm nghĩ: Có lẽ nào quỉ La Sát nói hai câu kệ ấy chăng ? Lại nghĩ rằng: Quỉ này hình thù đáng sợ có lẽ nào nói ra được những lời trong sáng làm cho ai nghe được đều phải thanh thoát nhẹ nhàng ? Có lẽ nào trong lửa mọc được hoa sen. Trong ánh nắng mặt trời sanh được nước mát ! Rồi người khổ hạnh lại tự trách: Ta thật là vô trí. Biết đâu quỉ La Sát này đã được gặp chư Phật trong quá khứ nên được nghe nửa bài kệ ấy ! Vậy ta nên hỏi ý nghĩa của lời kệ ấy. Suy nghĩ rồi liền đứng trước quỉ La Sát nói rằng: Lành thay ! Lành thay ! Đại sĩ ! Ngài ở đâu mà học được nửa bài kệ của Phật quá khứ như vậy ?

Quỉ La Sát liền đáp: Này Bà la môn ! Ông chẳng nên hỏi ta về việc ấy, vì ta đã nhiều ngày không được ăn, đói khát khổ não, tâm ý mê loạn. Ta đã tìm cầu khắp nơi mà chẳng được thức ăn, vì thế nên ta nói những lời như vậy".

Người khổ hạnh nói với quỉ La Sát: Nếu Đại sĩ có thể vì tôi nói trọn bài kệ, tôi xin trọn đời làm đệ tử hầu hạ phục vụ ngài. Kệ của Đại sĩ vừa nói chưa đủ, nghĩa chưa trọn, sao Đại sĩ chẳng nói cho trọn ? Luận về tài thí thì có cạn hết, còn pháp thí không thể cùng tận. Mong Ngài vì tôi nói cho trọn nghĩa tôi nguyện trọn đời làm đệ tử phục vụ cho Ngài !

Quỉ La Sát nói: Ông tham thái quá ! Chỉ biết tự thương thân mình mà chẳng nghĩ đến người. Ta đang đói khổ, thật chẳng thể nói được !

Người khổ hạnh nói: Xin phép được hỏi: Thức ăn của Đại sĩ là vật gì?

Quỉ nói: Ông đừng hỏi, nếu ta nói ra, mọi người ắt phải kinh sợ!

Người khổ hạnh nói: Giữa đây chỉ có mình tôi, không có người nào khác. Tôi không sợ. Ngài cứ nói thật ra đi !

Quỉ La Sát nói: Tôi chỉ ăn thịt người tươi và uống máu còn nóng của người. Vì ta phước mỏng nên chỉ ăn những thứ đó. Khổ nỗi, ta tìm khắp nơi mà chẳng được thức ăn như vậy. Trong cõi đời dù có người đông, nhiều, nhưng mỗi người đều có phước đức của họ, ta không đủ sức bắt họ để ăn !

Người khổ hạnh nói: Xin Ngài nói đủ bài kệ. Tôi nghe xong bài kệ rồi, sẽ đem thân này dâng cho Ngài dùng. Thưa Đại sĩ ! Xin Ngài nhận lời tôi vì tôi biết rằng lúc tôi chết, thân này chẳng dùng vào việc gì, sẽ bị cọp, sói, kên kên, quà quạ, ăn mổ không được mảy may phước đức, chẳng có chút lợi ích cho ai. Nay tôi vì cầu Vô Thượng Bồ đề, xả thí thân vô thường chẳng bền chắc này để đổi lấy thân thường trụ bền chắc.

Quỉ nói: "Ai tin được lời nói của ông. Chỉ vì nửa bài kệ mười chữ mà thí bỏ thân đáng tiếc !".

Người khổ hạnh nói: "Tôi đem thân vô thường mục bở làm việc bố thí để đổi lấy thân Kim cang bất hoại mà ngài nói "ai tin được lời tôi" ư ? Tôi đem đồ sành sứ, đất nung để đổi lấy đồ thất bảo. Thế mà Ngài còn nói: "ai tin được lời tôi" ư ?

Các vị Bồ tát tu hạnh Đại thừa, lợi ích chúng sanh chứng biết lời tôi. Thập phương chư Phật, chứng biết cho tôi. Tôi vì mười chữ, nửa bài kệ, vui lòng đổi sinh mạng của tôi.

Quỉ nói: Nếu ông chịu xả thí thân mạng như vậy, thì nên lóng nghe cho kỹ ta sẽ vì ông nói nửa bài kệ mười chữ phần sau !

Người khổ hạnh nghe quỉ hứa nói vui mừng hớn hở, liền cởi tấm y da nai đang mặc trên thân, trải làm tòa, rồi mời quỉ: Bạch Hòa thượng ! Xin cung thỉnh Hòa thượng lên ngồi tòa này !

Quỉ ngồi xong, người khổ hạnh quỳ dài, vòng tay thưa: Mong Hòa thượng vì tôi nói nửa bài kệ còn lại cho được đầy đủ.

Quỉ La Sát liền truyền kệ rằng:

Diệt ý niệm sanh diệt
Được cái vui tịch diệt

Quỉ La sát nói hai câu kệ xong, bảo rằng: Này Đại Bồ tát ! Nay ông đã nghe đủ nghĩa của bài kệ, lòng mong muốn của ông đã đầy đủ, nếu ông muốn lợi ích chúng sanh, giờ đây ông nên thí thân cho ta !

Người khổ hạnh suy nghĩ kỹ nghĩa lý bài kệ, chép lên vách đá, trên da cây bên đường đi và tự cột áo xiêm, để sau khi chết thân khỏi lõa lồ. Rồi leo lên cây cao.

Thọ thần bảo người khổ hạnh: Nay ông muốn làm gì mà leo lên cây cao thế này ?

Người khổ hạnh đáp: Tôi muốn thí xả thân này để trả giá bài kệ.

Thọ thần nói: Bài kệ như vậy có lợi ích gì ?

Người khổ hạnh đáp: Những câu kệ ấy là lời thuyết pháp của chư Phật ba đời. Trong đó chỉ dạy đạo pháp tịch diệt chơn không. Tôi vì pháp này mà và muốn đem lợi ích cho chúng sanh mà thí xả thân mạng.

Tôi không vì cầu lợi danh, không vì cầu địa vị Chuyển Luân Thánh Vương hay Phạm Thiên, Đế thích, càng không cầu quả lạc thú của người, của trời.

Nói xong, người khổ hạnh buông mình từ trên cao rơi xuống. Thân chưa tới đất, trong hư không vọng ra các thứ tiếng, thấu đến cõi trời sắc cứu cánh. Lập tức quỉ La Sát hoàn lại nguyên hình Thiên Đế Thích hứng lấy thân người khổ hạnh nhẹ nhàng để xuống đất.



Chư HÀNH VÔ THƯỜNG,
Thị sanh diệt pháp.
Sanh diệt diệt dĩ,
Tịch diệt vi lạc.
 

Ba Tuần

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
28 Tháng 7 2016
Bài viết
1,524
Reaction score
485
Điểm
83
Kính thầy vienquang6,

Câu kệ:

Sanh diệt diệt dĩ,
Tịch diệt vi lạc.


Không nên dịch là:

vienquang6 nói:
Diệt ý niệm sanh diệt
Được cái vui tịch diệt.
Tại sao ?

Kinh Pháp Bảo Đàn - phẩm Bát Nhã nói:
Nếu thấy tất cả pháp tâm không nhiễm trước gọi là VÔ NIỆM, dùng thì khắp nơi, cũng chẳng dính mắc ở khắp nơi, hễ sạch được bổn tâm, khiến lục thức ra cửa lục căn, đối với lục trần mà chẳng nhiễm chẳng trước, đi lại tự do, ứng dụng vô ngại tức là BÁT NHÃ TAM MUỘI, tự tại giải thoát, gọi là hạnh VÔ NIỆM.

Chứ chẳng phải như người lầm tưởng cho là trăm điều chẳng nghĩ, chỉ cho niệm tuyệt, ấy là pháp trói buộc, tức là biên kiến.
Kinh Pháp Bảo Đàn - phẩm Định Huệ nói:
Nếu là trăm điều chẳng nghĩ, làm cho niệm tuyệt, một niệm tuyệt liền chết, thọ sanh nơi khác, ấy là cái lỗi lầm lớn, người học đạo nên xét kỹ!
Ngoài ra: "diệt" cái này, được cái "kia"; ấy là pháp sinh diệt, cũng tức là "chư hành vô thường". Cho nên phải biết, cái "tịch diệt vi lạc" này chẳng phải do diệt "sanh diệt" mà sinh ra vậy.

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Kính thầy vienquang6,

Câu kệ:

Sanh diệt diệt dĩ,
Tịch diệt vi lạc.


Không nên dịch là:

vienquang6 nói:
Diệt ý niệm sanh diệt
Được cái vui tịch diệt.
Tại sao ?

Kinh Pháp Bảo Đàn - phẩm Bát Nhã nói:
Nếu thấy tất cả pháp tâm không nhiễm trước gọi là VÔ NIỆM, dùng thì khắp nơi, cũng chẳng dính mắc ở khắp nơi, hễ sạch được bổn tâm, khiến lục thức ra cửa lục căn, đối với lục trần mà chẳng nhiễm chẳng trước, đi lại tự do, ứng dụng vô ngại tức là BÁT NHÃ TAM MUỘI, tự tại giải thoát, gọi là hạnh VÔ NIỆM.

Chứ chẳng phải như người lầm tưởng cho là trăm điều chẳng nghĩ, chỉ cho niệm tuyệt, ấy là pháp trói buộc, tức là biên kiến.
Kinh Pháp Bảo Đàn - phẩm Định Huệ nói:
Nếu là trăm điều chẳng nghĩ, làm cho niệm tuyệt, một niệm tuyệt liền chết, thọ sanh nơi khác, ấy là cái lỗi lầm lớn, người học đạo nên xét kỹ!


Ngoài ra: "diệt" cái này, được cái "kia"; ấy là pháp sinh diệt, cũng tức là "chư hành vô thường". Cho nên phải biết, cái "tịch diệt vi lạc" này chẳng phải do diệt "sanh diệt" mà sinh ra vậy.

Kính Đh Ba tuần. Trên đó là nguyên văn Trực Chỉ của HT. Thích Từ Thông (Ân sư VQ)

Tuy nhiên chữ "diệt" ở đó không phải là chỉ cho "tiêu diệt" mọi ý nghĩ (thuộc về Vô tưởng Định). Mà Diệt là Diệt Đế tức Niết Bàn.

Vấn đề này chúng ta sẽ bàn sâu hơn ở Phần II

Ở bài này chúng ta bàn về "Chư Hành Vô Thường".

Kính.
 

Bình Đẳng Giác

Moderator
Thành viên BQT
Tham gia ngày
4 Tháng 10 2015
Bài viết
538
Reaction score
222
Điểm
43
Sanh diệt diệt dĩ có phải là diệt tưởng định không ạ
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Sanh diệt diệt dĩ có phải là diệt tưởng định không ạ
Vâng. Thưa ĐH gần giống như vậy. Vấn đề này chúng ta sẽ thảo luận ở Đệ Nhị Pháp Ấn.- Vô ngã, phần 4 tướng.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
- Phần I:

+ Những gì là " Chư Hành" ?



Hành là sự vận hành của Vũ trụ, mà cũng là Hành Uẩn, một trong 5 Uẩn tạo thành con người.

Hòa Thượng Thích Thiện Siêu phân tích về Hành Uẩn như sau:

Hành uẩn (Samskãraskandha): Chữ Hành có hai nghĩa là Thiên lưu và Tạo tác.
* Thứ nhất là nghĩa thiên lưu: Các pháp hữu vi cứ thiên lưu, biến dịch mãi, trôi chảy mãi, như một dòng nước chảy, không đứng yên một chỗ cho nên gọi là hành. Chữ hành cũng có nghĩa "Chư hành vô thường, chư pháp vô ngã". Hai câu này có hai ý nghĩa khác nhau:
- Chư hành vô thường: Đứng về mặt thời gian mà nói, tức là các pháp hữu vi sinh rồi diệt, diệt rồi sinh, cứ trôi mãi như dòng nước chứ không đứng yên một chỗ cho nên gọi là Hành.
- Chư pháp vô ngã: Đứng về mặt không gian, nhân duyên hòa hợp tạo thành các pháp mà nói.
Hành và Pháp, hai cái đó chính là một. Như nói ngón tay ta là chư hành vô thường cũng là nó mà chư pháp vô ngã cũng là nó, chứ không phải chỉ hai thứ riêng biệt. Cả hai đều chỉ tất cả pháp chứ không phải chỉ cái gì khác. Tuy vậy, nếu suy nghĩ kỹ hơn thì chúng ta thấy chữ pháp còn có nghĩa rộng hơn, gồm cả pháp hữu vi và vô vi, còn chữ Hành thì chỉ riêng pháp hữu vi.
* Hành còn có nghĩa là tạo tác: Khi chúng ta nói cái gì, làm cái gì, suy nghĩ điều gì, đều gọi là Hành. Sự tạo tác của thân, sự tạo tác của miệng, sự tạo tác của ý, đều là sự tạo tác, cho nên gọi là Hành.
4. Hành: Như trên đã nói hành uẩn là thiên lưu và tạo tác. Tạo tác này lấy tư tâm sở làm chủ yếu. Tư đây là lý chí. Tưởng mới là ý nghĩ thôi; còn khi quyết định làm, hành động là thuộc về hành, thuộc về Tư.

Về nghĩa hai chữ thiên lưu và tạo tác trong hành uẩn.
Hành uẩn gồm có hai nghĩa: Thiên lưu và tạo tác như trước đã nói. Tạo tác này là tư tâm sở trong các tâm sở. Trong kinh Phật nói có tư, có hành mới thành nghiệp. Tâm ta chú ý hành động mới thành nghiệp, còn vô tâm thì không thành nghiệp. Tư ở đây là có ý chí. Tư có 3 giai đoạn:
- Thẩm lự tư: Thẩm là đắn đo, suy nghĩ.
- Quyết định tư: Suy nghĩ rồi quyết định.
- Phát động tư: Quyết định rồi phát động ra nơi ngũ căn để hành động.
Trong cả ba giai đoạn đều có tư cả.
Vì sao gọi tư là hành uẩn? Vì thiên lưu chỉ chung cho tất cả các tâm sở. Còn tạo tác là chỉ cho tư tâm sở. Nó là chủ yếu, vì thế hành uẩn nhấn mạnh đến tư tâm sở.


https://www.budsas.org/uni/u-vbud/vbpha605.htm
Kinh Niết-bàn quyển hạ đức Phật đã dạy:
Chư hành vô thường Các hành vô thường
Thị sinh diệt pháp Là pháp sinh diệt
Sinh diệt diệt dĩ Sinh diệt, diệt rồi
Tịch diệt vi lạc Tịch diệt là vui.

Qua bài kệ này đức Đạo sư nói lên được tính bất tòan của mọi sự vật nói chung của mọi hiện tượngcùng muôn vật hiện hữu tại thế gian này nói chung và, chỉ cho năm thủ uẩn nói riêng, chúng bị luật vô thường chi phối, nên chúng kinh qua hai trạng thái sinh-diệt biến đổi, tạo ra đau khổ, nếu hành giảchúng ta muốn đạt đến mọi sự an vui Niết-bàn giải thóat thì, chúng ta phải vượt qua khỏi sinh-diệt (sống-chết), có nghĩa là chúng ta giải thóat khỏi khổ đau phát sinh từ các hành thì, sự giải thóat (tịch diệt) đó là an vui.
Các hành ở đây được đức Đạo sư định nghĩa như Kinh Khởi thế nhân bổn 9 (Đ. 1, trang. 412c) dạy: “Các Tỳ-kheo, các hành là vô thường, phá hoại, ly tán, lưu chuyển, biến diệt, không trường tồn, chỉ trong chốc lát như vậy, đáng chán, đáng lo, nên tìm cách giải thóat.” Các hành ở đây chỉ cho tất cả các pháp hữu vi hiện khởi có hình tướng mà mắt chúng ta có thể thấy và phân biệt chúng với nhau, có thể đụng chạm vào nhau. Nói chung là chỉ cho mọi hiện tượng cùng vạn vật đang hiện hữu giữa thế gian này; nhưng những hiện tượng cùng muôn vật chúng bị lệ thuộc vào vô thường cho nên chúng luôn luôn ở trong trạng thái sinh khởi và biến diệt không dừng nghỉ. Từ trạng thái này biến sang trạng thái khác: Từ đứa bé mới lọt lòng cho đến khi trăm tuổi, tuy rằng phải trải qua một thời gian là trăm năn hay ít hơn, nhưng trong thời gian này chúng luôn thay đổi trong biến dịch trong từng giây từng phút, từng sát-na một nên con người mới có hiện tượng lớn lên và già đi và cuối cùng là biến dịch. Hiện tượng thay đổi này có được là nhờ sự xúc tác của vô thường nên mới có thay đổi, nếu không có vô thường thì sẽ không có bất cứ một sự thay đổi nào hết. Do đó vô thường luôn luôn hiện hữu trong cuộc sống của chúng ta và cũng nhờ có vô thường mà chúng ta mới có sự sáng tạo đổi khác trong tư duy, trong cuộc sống và cuộc sống càng trở nên có ý nghĩa.
“Các hành tức là chỉ cho các hành của sắc tâm, chúng có mặt trong ba đời và, vô thường có năm nghĩa: Một vô thường diệt mất. Hai vô thường xa nhau. Ba vô thường biến khác, hay hồi chuyển. Bốn vô thường hữu phần. Năm vô thường tự tánh.” Đây chính là hiện tượng giả hợp của sắc (đất, nước, gió, lửa) có được nhờ các nhân duyên, duyên nhau mà sinh khởi và biến dịch, còn mặt thật bản chất (tâm) của chúng là không vì sự hiện hữu của chúng là do duyên, nên bản chất của chúng là không và chúng có mặt khắp trong ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai).
Như trong luận Du Già sư địa 18, Đ. 30, trang. 0378c đã nói: “Các hành vô thường là chỉ cho các hành kia vốn không, nhưng vì duyên sinh khởi nên hiện hữu (sinh), khi đã hiện hữu rồi thì phải biến diệt (tùy duyên)” Thật ra các hành ở đây như kinh trên đã nói thì chính là năm uẩn gồm có sắc và tâm (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Các hành này là vô thường biến đổi không chắc thật, không tồn tại, vĩnh cữu mà chúng luôn luôn biến dịch, có mặt khắp trong ba đời. Nhưng sự hiện hữu của chúng như luận Du Già đã nói là không. Vì vậy cho nên hành giả khi tu tập thì phải như luận A-tỳ-đạt-ma tập dị môn túc 16, Đ. 26, trang 0435b thì chúng ta phải siêng năng quán sát chúng trong khi tu tập để diệt trừ chấp ngả chấp phápmà hòan thành cứu cánh Niết-bàn tịch tĩnh trong hiện quán: “Hiện tại chúng ta nên siêng năng quán sát, các hành là vô thường, là hữu lậu, là khổ. Tất cả pháp là không, là vô ngã. Khi chúng ta nghĩ đến chúng như vậy rồi thì chúng ta sẽ siêng năng quán sát.”
Qua những kinh luận ở trên cho chúng ta biết được thế nào là các hành? Thế nào là vô thường? để từ đó hành giả chúng ta biết được phạn trù vô thường đối với kinh luật luận chúng luôn hiện hữu, nếu kinh luật luận nào không mang ý nghĩa đạo lý này thì đó không phải là kinh luật luận củ Phật giáo.

Hành’’, nguyên gốc là nghĩa lưu hành chuyển biến. Đức Phật cho rằng, thế gian vạn vật đều do nhân duyên hòa hợp mà sanh, do vậy thế gian nhất thiết tạo tác mà sản sanh nên hiện tượng, bao gồm luôn tất cả vật chất hiện tượng, hoạt động tâm lý và khái niệm hình thức. Không có một vật nào là không lưu hành biến chuyển, đây gọi đó là "Hữu vi pháp"."Hữu vi pháp" lưu hành biến chuyển, do vậy cũng được gọi là "hành", tức là "chư hành", ý chỉ tất cả thế gian đều do nhân duyên hòa hợp mà sanh, do đó hiên tượng và sự vật thì chuyển lưu biến đổi. "Vô thường" tức là biến hóa. Cho nên những gì gọi là "chư hành vô thường", tức là nói đến tất cả hiện tượng thế gian đều biến hóa vô thường, sự vật trên thế gian không có vĩnh hằng bất biến.

Hành cũng có nghĩa là trôi chảy, lưu chuyển, biến đổi liên tục.
Chư hành có nghĩa vô số lượng các pháp hữu vi trong đó có con người do nhân duyên sinh ra (duyên khởi) nên chúng thường hằng biến đổi, lưu chuyển trong ba đời gọi là Chư hành.
Chư hành vô thường có nghĩa là vạn vật và con người thường biến đổi nên gọi vạn vật và con người là pháp sinh, diệt. Vì sinh diệt nên chuốc lấy khổ đau, sinh tử luân hồi.
Hành là phản ứng của tâm, Đức Phật dạy:
“Này Rādha, một cá nhân được gọi là satta bởi vì họ tham ái, dính mắc một cách mạnh mẽ vào hành uẩn (các phản ứngcủa tâm)”.
Có hai loại hành uẩn (tâm phản ứng):
1. Hành uẩn đóng vai trò là quả, nghĩa là "chịu điều kiện" của cái khác.
2. Hành uẩn đóng vai trò là nguyên nhân, nghĩa là "tạo ra điều kiện".
Hành uẩn hay phản ứng của tâm là kết quả của bốn yếu tố: nghiệp, tâm, thời tiết, và thức ăn.

Thật ra hành uẩn không có cốt lõi, không có linh hồn, tự ngã. Sự biểu hiện của hành uẩn qua thân, khẩu, ý chỉ là những tiến trình tự nhiên của nhân quả liên quan. Chẳng có gì là linh hồn, tự ngã trong tiến trình này. Mọi hiện tượng thân tâm đều bị định luật vô thường chi phối. Chúng sanh bị sự sinh diệtchi phối nên khổ chứ chẳng có linh hồn, tự ngã trong hành uẩn.
Vì thân cận những người bạn xấu, người hướng dẫn xấu hoặc có sự suy tư không sáng suốt về những chuyện xảy ra nên người ta tạo ra những hành động, lời nói và ý nghĩ sai trái, bất thiện. Những hành động bất thiện về thân, khẩu, ý là những hành động đáng bị chê trách trong hiện tại bao gồm những hành động phạm luật khác như rượu chè, cờ bạc v.v... Do tham và sân làm điều kiện tạo duyên nên con người gây ra những nghiệp xấu và bị trả quả trong hiện tại, bị luật pháp trừng trị, mất bạn bè, mất tài sản, cuộc sống gặp nhiều bất hạnh. Do nhận quả bất thiện của những hành động xấu đã làm trong kiếp trước, kiếp này bị sinh vào bốn đường ác. Do nhận quả bất thiện của những hành động xấu đã làm trong kiếp này, kiếp sau bị sinh vào bốn đường ác. Muốn tránh những hậu quả tai hại phải hiểu biếtrằng:
“Tất cả mọi tác động của chúng ta đều bị chi phối bởi hoạt động của hành uẩn, của sự cố ý (tác ý hay nghiệp)”.
hành uẩn chẳng có tôi, ta trong đó. Đức Phật đã ví hành uẩn như thân cây chuối, mới nhìn qua thấy thân cây chuối có vẻ cũng đẹp, nhưng thật ra chẳng có cốt lõi. Nếu lột các lớp thân chuối ra chẳng thấy có gì bên trong, chỉ là những bẹ chuối xốp lớp này chồng lên lớp kia mà tạo thành. Hành uẩn chẳng khác nào thân cây chuối, hành uẩn không có cốt lõi.
Hành uẩn gồm có năm mươi tâm sở đứng đầu là tác ý (Cetanā).

Tất cả những tác động qua thân, khẩu, ý được tác động bởi tâm sở tác ý. Tâm sở này đã chi phối, điều khiển, hướng dẫn phần lớn các pháp hữu vi. Tuy nhiên, người ta thường thấy hậu quả của hành uẩn là lời nói và hành động.
Tà kiến cho rằng:
“Tất cả mọi tác động đều do tôi làm, khởi sinh từ các hành uẩn này”.
Bởi vậy Đức Phật dạy:
“Khi chúng sanh tham ái, dính mắc vào hành uẩn, Như Lai gọi đó là chúng sanh “Satta”.
Vậy chúng sanh (Satta) là những kẻ còn tham ái, dính mắc vào hành uẩn
Hành uẩn (Sankhàra-khandha): Hành là từ gọi cho mọi hiện tượng sinh diệt như trong câu kệ «Chư hành vô thường«. Hành uẩn ở đây có nghĩa là các hiện tượng tâm lýmang tính chất tạo tác nghiệp, có năng lực đưa đến quả báo của nghiệp, nói cách khác là tạo động lực tái sinh. Hành uẩn là những hiện tượng tâm lý còn được gọi là tâm sở. Duy thức học chia thành 51 tâm sở gồm cả thọ, tưởng, tức là cảm giác và tri giác cũng gọi là hành. Nhưng ở đây không xếp cảm giác và tri giác vào nhóm hành vì chúng (thọ và tưởng) không có khả năng tạo nghiệp và quả của nghiệp.
Hành uẩn cũng có sáu loại do sự tiếp xúc giữa sáu giác quan và sáu đối tượng, hành còn gọi là Tư. Đức Phật dạy: «Này các Tỳ kheo, thế nào là hành? Có sáu tư thân này: sắc tư, thinh tư, hương tư, vị tư, xúc tư và pháp tư. Đây gọi là hành« (Tương Ưng Bộ kinh III). Tư là động lực quyết định, là ý chí, ý muốn; tâm sở này tạo động lực dẫn dắt tâm ý theo xu hướng thiện, bất thiện. Một số tâm sở có tác động mạnh mẽ để hình thành nghiệp hay hành như: dục, xác định, niềm tin, tinh tấn, tham lam, sân hận, ngu si, kiêu mạn, tà kiến... Hành uẩn bao gồm mọi hiện tượng tâm lý, Đức Phật dạy: «Này các Tỳ kheo, phàm hành gì thuộc quá khứ, hiện tại hay vị lai, nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần, như vậy là hành uẩn« (sđd). Tất cả những hiện tượng tâm lý, sinh lý hiện tại là kết quả của hành trong quá khứ, nghĩa là hành tạo nên một năng lực tiềm ẩn điều khiển thúc đẩyở trong chiều sâu tâm thức mà trong kinh thường gọi là «phiền não tùy miên«, hay trong luận gọi là «câu sanh phiền não«. Chúng làm nền tảng và lực đẩy để hình thành một năng lực hành mới, dẫn dắt con người đi tới tương lai.
Hành uẩn tồn tại nhờ các điều kiện do duyên sinh nên chúng vô thường, trống rỗng và biến động bất tận.
(Trích từ Thư Viện Hoa Sen)
Tóm lại: Hành là sự vận hành của NGÃ và PHÁP theo qui luật Nhơn- quả. Năng lượng của Hành là Vọng Tâm. Hành là tiền đề của Vô Thường sanh diệt, biến dị.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Phần I.-

* Thường Kiến và Vô Thường.

Do bị Hành Uẩn sai sử nên con người sanh ra các kiến chấp sai lệch. Trong đó quan trọng nhất là Thường kiến và Đoạn kiến.

+ Kiến là gì ?

- Sự cố chấp và bám víu là kiến.

+ sự cố chấp và bám víu là kiến là (có ý nghĩa) thế nào?

- Sự cố chấp và bám víu về sắc rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.

- Sự cố chấp và bám víu về thọ rằng: ‘Cái này là của tôi … về tưởng rằng: ‘Cái này là của tôi … về các hành rằng: ‘Cái này là của tôi … về thức rằng: ‘Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi’ là kiến.

Mười tám cơ sở xâm nhập của kiến là gì?

Kiến (tạo nên) thiên lệch, kiến (tạo nên) nắm giữ, kiến (tạo nên) hiểm độc, kiến (tạo nên) mâu thuẫn, kiến (tạo nên) dao động, kiến (tạo nên) ràng buộc, kiến (tạo nên) xuyên suốt, kiến (tạo nên) áp chế, kiến (tạo nên) vướng bận, kiến (tạo nên) trói buộc, kiến (tạo nên) sa đọa, kiến (tạo nên) ngủ ngầm, kiến (tạo nên) thiêu đốt, kiến (tạo nên) thống khổ, kiến (tạo nên) khúc mắc, kiến (tạo nên) chấp thủ, kiến (tạo nên) cố chấp, kiến (tạo nên) bám víu.
Đây là mười tám cơ sở xâm nhập của kiến.

https://suttacentral.net/vn/ps1.2

Đại Trí Độ Luận dạy: " Phật thuyết vô thường nhằm dạy chúng sanh đoạn các chấp về thường kiến"

Thế nào là "Thường kiến" ? Thường kiến là kiến chấp cho rằng vạn vật là có thật, là thường hằng, con người có một linh hồn bất diệt, người chết rồi linh hồn bay ra khỏi thể xác, rồi lại tái sanh làm người v.v...

Đại Luận Trí Độ dạy:

Hạng người không trí huệ,
Do chẳng rõ vô thường.
Chấp sắc thân làm ngã,
Có thật và kiên cố.
Thân này chẳng tự tại,
Do các duyên hợp sanh,
Khi vô thường đã đến,
Toàn thân đều hủy hoại,
Thân này chẳng ai thọ,
Tức là thân vô chủ.
......

Chúng sanh và thế gian,
Hết thảy đều vô thường,
Núi cao cùng rừng rậm,
Rồi cũng sẽ tán hoại.
Sông sâu cùng biển lớn,
Rồi cũng sẽ cạn khô,
Đến trú xứ chư Thiên,
Đến thời, cũng tự diệt.
Vậy ở thế gian này,
Chẳng có gì vĩnh cửu,
Duy chỉ có Như Lai,
Pháp thân thường bất động.


 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Phần I.-

* Nghĩa và Tướng của Vô Thường.

vô thường có năm nghĩa: Một vô thường diệt mất. Hai vô thường xa nhau. Ba vô thường biến khác, hay hồi chuyển. Bốn vô thường hữu phần. Năm vô thường tự tánh.” Đây chính là hiện tượng giả hợp của sắc (đất, nước, gió, lửa) có được nhờ các nhân duyên, duyên nhau mà sinh khởi và biến dịch, còn mặt thật bản chất (tâm) của chúng là không vì sự hiện hữu của chúng là do duyên, nên bản chất của chúng là không và chúng có mặt khắp trong ba đời (quá khứ, hiện tại, vị lai).

Như trong luận Du Già sư địa 18, Đ. 30, trang. 0378c đã nói: “Các hành vô thường là chỉ cho các hành kia vốn không, nhưng vì duyên sinh khởi nên hiện hữu (sinh), khi đã hiện hữu rồi thì phải biến diệt (tùy duyên)” Thật ra các hành ở đây như kinh trên đã nói thì chính là năm uẩn gồm có sắc và tâm (Sắc, thọ, tưởng, hành, thức). Các hành này là vô thường biến đổi không chắc thật, không tồn tại, vĩnh cữu mà chúng luôn luôn biến dịch, có mặt khắp trong ba đời. Nhưng sự hiện hữu của chúng như luận Du Già đã nói là không. Vì vậy cho nên hành giả khi tu tập thì phải như luận A-tỳ-đạt-ma tập dị môn túc 16, Đ. 26, trang 0435b thì chúng ta phải siêng năng quán sát chúng trong khi tu tập để diệt trừ chấp ngả chấp phápmà hòan thành cứu cánh Niết-bàn tịch tĩnh trong hiện quán: “Hiện tại chúng ta nên siêng năng quán sát, các hành là vô thường, là hữu lậu, là khổ. Tất cả pháp là không, là vô ngã. Khi chúng ta nghĩ đến chúng như vậy rồi thì chúng ta sẽ siêng năng quán sát.”

(Trích từ thư viện hoa sen)

+ Tướng của Vô thường là: THÀNH, TRỤ, HOẠI, KHÔNG là SANH, TRỤ, DỊ DIỆT, là SANH, GIÀ, BỆNH, CHẾT.
 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Phần I.-


* Tu tưởng về Vô thường.

Có người thấy được Vô Thường chẳng sanh nhàm chán mà trái lại còn cố bám víu các lạc thú ở trên cuộc đời này.

Trong kinh có chép mẫu chuyện:

Có một bà hoàng hậu ở một nước nọ chết sớm khiến vị vua sanh sầu, buồn khổ. Quần thần khuyên giải rằng :"Đại vương chớ buồn khổ nữa. Hoàng hậu trước khi sinh ra đời đã là KHÔNG, nay ngài chết đi cũng trở về KHÔNG vậy. Chẳng ai có thể thoát được cảnh chết cả".

Nhà vua đáp :"Ta cũng biết như vậy nhưng ta chỉ lo thời gian trôi qua nhanh quá rồi đây tuổi trẻ cũng sẽ từ bỏ ta".

Như vậy là có người biết Vô Thường lại càng sanh thêm nhiều kiết sử nữa. Vì sao nói :"Biết được Vô Thường sẽ sanh nhàm chán; biết được Vô Thường sẽ trừ được các kiết sử ?"

Đáp:Biết rõ lý Vô thường chưa đủ. Phật dạy :"Muốn thể nhập lý Vô Thường phải tu tưởng về Vô Thường".

Hỏi:Thế nào là "Tu tưởng về Vô Thường" ?

Đáp:Tu tưởng về Vô Thường là tu quán các pháp hữu vi đều niệm niệm sanh diệt, như gió thổi bụi trần, như nước tuôn xuống dốc. Lại quán các pháp hữu vi đều là như huyễn, như hóa, chẳng bao lâu sẽ tán hoại.

Quán như vậy là vào được cửa KHÔNG, là được Vô Sở Đắc.

(Trích ĐTĐL)

Vô thường, anitya hoặc anityatā, có nghĩa là tất cả các pháp hữu vi ở thế gian không có gì tồn tại mãi mãi, cái gì cũng thay đổi, biến hóa, sanh diệt không dừng. Tất cả các pháp hữu vi đều do nhân duyên mà sanh và đều có bốn tướng trạng: sanh, trụ, dị, diệt, gọi là tứ tướng vô thường. Bốn tướng này sanh diệt trong từng sát-na, sanh đó liền diệt đó.
Luận Đại trí độ, quyển 43, nói vô thường có hai loại, là niệm niệm vô thường và tương tục vô thường.
- Niệm niệm vô thường: Trong mỗi niệm, trong mỗi sát-na, các pháp hữu vi trải qua bốn tướng trạng sanh, trụ, dị, diệt; niệm này vừa sanh liền diệt, vừa diệt liền sanh, liên tục không gián đoạn.
- Tương tục vô thường: Vô thường tiếp nối vô thường tạo thành một dòng chảy vô thường tương tục: sanh, trụ, dị, diệt, rồi lại sanh, trụ, dị, diệt…
Luận Biện trung biên, quyển trung, phân tích vô thường thành ba loại: vô tính vô thường, sanh diệt vô thường và cấu tịnh vô thường.
- Vô tính vô thường: Còn gọi là vô vật vô thường. Tính biến kế sở chấp (các pháp vốn không có tự tính, do chúng sanh suy diễn, vọng tưởng [biến kế] rồi chấp vào đó mà cho là có tự tính), vì tính của nó là thường Không. Thành duy thức luận thuật ký giải thích: Vì thể tính thường không, tức là cái tính ban đầu, mà luậnBiện trung biên gọi là Vô hữu vật (không có vật gì cả), thật sự thì không có gì vô thường cả (vì không có vật thì làm gì có vật vô thường?), cho nên nói các hành vô thường chỉ là một cách nói tạm thời.
- Sanh diệt vô thường: Còn gọi là khởi tận vô thường. Các pháp nương vào nhau mà sanh khởi, nương vào cái khác mà sinh khởi (y tha khởi), tức là đều do duyên mà sanh, cho nên nó cũng sẽ do duyên mà diệt tận, vì vậy mà gọi là sanh diệt vô thường.
- Cấu tịnh vô thường: Còn gọi là hữu cấu vô cấu vô thường. Các pháp viên thành thật cũng chuyển biến vô thường, bản chất của nó không có dơ hay sạch. Nếu ở trong dòng sanh tử mà nói thì gọi là dơ, nếu cắt đứt dòng sanh tử rồi thì gọi là tịnh, cho nên cấu hay tịnh đều vô thường.
Ngoài ra, luận Thuận trung, quyển hạ, cũng nói vô thường có ba loại là niệm niệm hoại diệt vô thường, hòa hợp ly tán vô thường và tất cánh như thị vô thường. Đại thừa nghĩa chương, ở quyển 2 và quyển 18 cũng đề xuất ba loại vô thường là phân đoạn vô thường, niệm vô thường và tự tánh bất thành vô thường. Về mặt tên gọi vô thường trong hai bộ luận vừa nêu khác nhau nhưng ý nghĩa thì tương đồng.
Luận Hiển dương thánh giáo, quyển 14 thì đề xuất sáu loại và tám loại vô thường. Sáu loại vô thường là:
a) Vô tính vô thường: Nghĩa là tất cả các pháp tính vốn không, là tính biến kế, chứ không phải thật có, như hoa đốm giữa hư không, tính của nó là thường không (thường không có thật).
b) Thất hoại vô thường: Các pháp đều hoại diệt và biến mất vô thường.
c) Chuyển dị vô thường: Chuyển dị là thay đổi thành cái khác, biến thành cái khác. Các pháp thường đổi khác như thế, giống như đứa bé trong bào thai luôn chuyển đổi trong suốt mười tháng hoài thai thì mới lớn lên thành người được.
d) Biệt ly vô thường: Có hợp có tan.
e) Đắc vô thường: Hiện tại thọ cái quả vô thường là do cái nhân vô thường đã tạo.
f) Đương hữu vô thường: Các pháp đang hiện hữu nhưng thực chất đang chuyển hóa liên tục qua bốn tướng trạng thành, trụ, hoại, không.
Tám loại vô thường là: 1. Sát-na vô thường, 2. Tương tục vô thường, 3. Bệnh vô thường, 4. Lão vô thường, 5. Tử vô thường, 6. Tâm vô thường, 7. Khí vô thường, 8. Thọ dụng vô thường. Trong đó, sát-na và tương tục là hai loại vô thường có mặt khắp mọi nơi; bệnh, lão, tử là ba loại vô thường ở nơi sắc thân; tâm vô thường là chỉ cho tâm thức luôn thay đổi; khí và thọ dụng là hai loại vô thường ở nơi sắc bên ngoài thân.
Liên quan đến tướng trạng vô thường, các kinh luận phần nhiều dùng những hình ảnh để diễn tả, như kinhKim cương bát-nhã, dùng hình ảnh giấc mộng, ảo thuật, bọt nước, cái bóng, hạt sương, tia lửa điện để thuyết minh tất cả các pháp hữu vi đều vô thường, không thật.
Đại tạng pháp số, quyển 46, thì căn cứ vào Tông cảnh lục liệt kê tám thí dụ là nước xuôi về đông, mặt trời xế bóng, chớp lòe đá lửa, bóng câu qua khe cửa, đèn chong trước gió, sương đầu ngọn cỏ, cây khô vách núi, chớp lòe trước mắt để chỉ tính chất vô thường của các pháp.
A-tỳ-đạt-ma tạp luận, quyển 6, cũng nêu các tướng trạng vô thường, tóm lược có 12 loại, đó là tướng không có thật, tướng hoại diệt, tướng biến dị, tướng biệt ly, tướng hiện tại, tướng tự nhiên, tướng sát-na, tướng tương tục, tướng bệnh yếu, tướng tâm hành mỗi mỗi thay đổi, tướng hưng suy, tướng thế gian thành rồi hoại.
Ngày nay, khoa học tự nhiên dường như đã làm sáng tỏ thêm khái niệm vô thường của Phật giáo. Hồi trước, người ta cho rằng, nguyên tử, đơn vị vật chất nhỏ nhất, là bất biến, không thay đổi; nhưng ngày nay người ta đã chứng minh được nguyên tử cũng thay đổi, không phải là bất biến, và cũng không phải là vật chất nhỏ nhất. Bên trong hạt nguyên tử còn có điện tử, trung tử… chúng có thể tính luôn luôn vận động kết hợp mà thành. Vật chất nhỏ bé nhất có thể nói là lạp tử, nhưng lạp tử cũng không phải là một vật chất cố định, bất biến; nó cũng thường xuyên biến hóa. Những khám phá mới của khoa học này ngày nay ai cũng biết. Vật chất hình thành từ những nguyên tử phức hợp, từ vật chất nhỏ nhất cho đến vật chất cực lớn như thiên thể vũ trụ, đều hình thành từ những hạt cơ bản có tính chất vật lý, hóa học biến hóa không dừng. Sự khám phá khoa học này đã thêm một lần nữa chứng minh giáo lý ‘chư hành vô thường’ của Phật giáo luôn là chân lý.
Tuy nhiên, Phật giáo không dựa vào khoa học để tồn tại! Phật giáo nhận thức các pháp vô thường không phải bằng phương pháp phân tích của khoa học mà bằng thực nghiệm hiện lượng hay trực giác chứng ngộ.

(Trích Thư viện hoa sen)

Không chỉ là hiểu biết suông. Mà thường tư duy, quán chiếu như vậy.- Đó là "Tu tưởng về Vô thường"

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Phần I.

+ Phương diện tích cực của Vô thường.


Nói đến Vô thường, thường làm người ta liên tưởng đến mặt tiêu cực: Vô thường là "già", Vô thường là "Chết", Vô thường là "bệnh", Vô thường là "xa lìa". Vô thường là "mất mát", Vô thường là "khổ" v.v...

Nhưng Vô thường vẫn có mặt tích cực của nó.- Nếu không có vô thường thì hạt giống mãi là hạt giống không thể thành cái cây to cho ra hoa thơm quả ngọt, Nếu không có vô thường thì nồi cơm nấu mãi không chính, Nếu không có vô thường đứa bé mãi mãi nằm trong nôi và Nếu không có vô thường thì không có sự "Tái sanh" vì chết mãi mãi là chết ...

Đó là Sự tương tác giữa Vô Thường và Thường.- Vô Thường thị Thường.- Nghĩa là Vô thường nhưng không bao giờ bị mất hẳn đi, mà là sự chuyển biến.

Ví như nước chịu vô thường biến thành hơi, hơi nước thành mây, mây lại thành mưa.- Đó là sự luân hồi tuần hoàn của vũ trụ.

Cổ đức nói:

Vô thường thị thường, Thế Tôn thượng song lâm diệt độ ;

Tịch diệt phi diệt, Đạt Ma tằng chích lý tây quy.

Sanh tự hà lai, tử tùng hà khứ ?


Nghĩa là: Vô thường mà là Thường, nên đức Thế Tôn nơi rừng Song Lâm diệt độ.- Diệt mà chẳng diệt. Tổ Đạt ma Thị Tịch. Tịch mà chẳng tịch mà còn quảy dép về Tây.

Sanh từ đâu mà đến. Tử lại về đâu ư ?


Tổ Huyền Giác đối với vấn đề Sanh Tử (vô thường) , ngài nói:

Kỷ hồi tử, kỷ hồi sinh

Sinh tử du du vô định chi!

Ngã sư đắc kiến nhiên đăng Phật

Đa kiếp tằng vi nhẫn nhục tiên.


Dịch nghĩa:

Việc sinh tử kể sao cùng số…

Tử rồi sinh, sinh tử lững lờ trôi

Bổn sư ta vô lượng kiếp phát tâm lành

Làm tiên nhẫn nhục, tu hành từ thời NHIÊN ĐĂNG cổ Phật.

Tóm lại:

Qua những kinh luận ở trên cho chúng ta biết được thế nào là các hành? Thế nào là vô thường? để từ đó hành giả chúng ta biết được phạm trù vô thường đối với kinh luật luận chúng luôn hiện hữu, nếu kinh luật luận nào không mang ý nghĩa đạo lý này thì đó không phải là kinh luật luận của Phật giáo.

[MOVRIGHT]Chư Hành Vô Thường là Đệ Nhất Pháp Ấn.[/MOVRIGHT]
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Phần II: Đệ Nhị Pháp Ấn.- Chư Pháp Vô Ngã.


Đức Phật dạy: Tất cả Pháp Vô Ngã.

+ Thế nào là tất cả Pháp ?

- Lược trích Duy Thức Luận.

Duy thức luận dạy: Tất cả các pháp tuy nhiều nhưng tóm lại có một trăm pháp, chia làm 5 loại:
I. Tâm Vương: có 8 món
II. Tâm Sở Hữu Pháp: có 51 món
(59 món này thuộc về Nhân)

III. Sắc Pháp: có 11 món
IV. Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp: có 24 món
V. Vô Vi Pháp: có 6 món

(41 món này thuộc Pháp)
Định nghĩa Pháp:

Pháp gọi là Quỹ trì.

Qũy nghĩa là có khuôn mẫu nhất định, dể khiến người ta hiểu biết được.

Trì là giữ gìn tính chất của nó chưa bị hư mất.

Ví dụ: Cái bàn, Cái ghế…mỗi thứ là một pháp, không cái nào lẫn lộn với cái nào.

Mỗi Pháp có 3 đặc điểm : Thật, Đức và Nghiệp.

a.Thật : có sự thật, thật có.

b.Đức : Tính chất , mỗi pháp đều có tính chất riêng.

c.Nghiệp : dùng làm gì?
....

Hết thảy các pháp lược có 5 loại:

Một là tâm pháp

Hai là tâm sở hữu pháp

Ba là sắc pháp

Bốn là tâm bất tương ứng hành pháp

Năm là vô vi pháp

(trích Duy Thức luận)

Ở đây chúng ta có thể phân chia Tất cả Pháp làm 2 loại:

- Nhân :. Tâm Vương: có 8 món
Tâm Sở Hữu Pháp: có 51 món

- và Pháp: Sắc Pháp: có 11 món
Tâm Bất Tương Ưng Hành Pháp: có 24 món
Vô Vi Pháp: có 6 món

(trong đó Nhân cũng là một Pháp).

+ Thế nào là Vô ngã ?

Như vậy, chúng sanh chấp thân và tâm này là thật , là ta nên gọi là nhân ngã, chấp núi sông, đất liền , tất cả sự vật bên ngoài đều thật có, như thế gọi là pháp ngã .

Theo lời dạy của đức Phật, và theo sự quán sát thực tế thì nhơn không thật mà pháp cũng không thật có , nên Phật gọi là tất cả pháp vô ngã.

Duy Thức Học thuyết minh, ngã và pháp đều do Duy thức biến hiện.


 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Phần II: Đệ Nhị Pháp Ấn.- Chư Pháp Vô Ngã.

* Ngã là gì ?

Trước khi đi vào nghĩa của "Ngã" trong giáo lý Phật giáo. Chúng ta khảo sát sơ qua tư tưởng của Bà la môn giáo qua vấn đề này.

+ Quan niệm "Đại ngã và tiểu ngã" của Bà La môn Giáo.


Theo Bà La Môn Giáo Ấn Độ (cỗ).- Ngã là khái niệm quan trọng để tín ngưỡng và tu hành .

Theo họ:

a/. Đại ngã: Brahman là vị thần linh, chúa tể sinh ra vạn vật trong đó có cả loài người,

b/. Tiểu ngã: Atman tức là linh hồn, bất tử, nếu tu hành đắc quả thì khi thân xác chết đi, Atman sẽ được hòa nhập vĩnh viễn vào Brahman.

Brahman và Atman tuy tên gọi khác nhau, nhưng cùng thể chất và nhập vào nhau theo thuyết Brahman-Atmanailkyam (H. Phạm ngã đồng nhất)

trích Đi tìm tự ngã trong văn hóa Ấn Độ:

“Đại ngã hoặc Tự ngã thâm nhập vào trong thế giới tới tận những đầu ngón tay ngón chân, như một lưỡi dao cạo, hoặc như lửa có thể hoàn toàn vừa khít trong chỗ của lửa.

Không thể nhìn thấy Ngài vì chỉ có thể thấy một phần nào đó của Ngài mà thôi. Khi thở, tên Ngài là hơi thở, khi nói, tên Ngài là lời nói, khi nhìn tên Ngài là mắt, khi nghe, tên Ngài là tai, khi suy nghĩ, tên Ngài là tâm trí (…)
Quan niệm "Hữu ngã" này, đã bị đức Phật bác bỏ bằng giáo lý " Nhân Duyên sinh". Nghĩa là vạn vật và con người do nhân duyên hoà hợp mà có, chứ không do một đấng thần linh nào cả.- Do vậy Đạo Phật là tôn giáo "phi hữu ngã" (Vô ngã).
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Phần II:

* Khái niệm về Ngã và Huyễn Ngã.


Duy thức luận dạy: Chữ ngã gọi là chủ thể. Thông thường, chữ ngã nghĩa là: Ta, Tôi thuộc ngôi thứ nhất của đại danh từ, tức là chỉ một con người nào đó được gọi là chủ tể. Chủ là tự tại, Tể là sai xử phán đoán.

Người đời chấp có ngã như chấp có thân mạng sống, thấy mình được tự tại, tự chủ và tự quyền sai khiến phán đoán.

Theo Thánh giáo, cái được gọi là Ngã cần phải hội đủ những yếu tố sau đây:

- Chủ tể: Nghĩa là không bị chi phối và lệ thuộc bất cứ một thế lực nào.

- Cái đoán: Tự nó là tự nó, không một lý do nào, một sự kiện nào làm cho nó tốt hoặc xấu đi được.

- Bất biến: Vô thỉ cũng thế mà vô chung cũng thế. Không có lúc sanh cũng không có lúc diệt.

- Tự tại: bất động, như như.

Như vậy chữ ngã theo Thánh giáo hoàn toàn thoát ra khỏi sự chi phối của vô thường, biến dị của không gian và thời gian.
+ Huyễn Ngã.

Chúng sanh, do vô minh, mà bị thấy điên đão: Không có Ngã mà thấy là Ngã. Vô minh do khởi niệm chấp niệm, do vậy nhận lầm niệm tưởng làm ngã.- Như vậy là "Huyễn ngã".

Ngã là một sự chấp mắc sai lầm của tâm thức, là một ão tưởng do tâm khởi niệm tương tục và chấp niệm tương tục đó làm "Ngã".- Như vậy là "Huyễn ngã".

Tất cả pháp do duyên sanh, chúng chỉ nương gá nhau mà tồn tại mà sanh diệt. Chúng sanh chỉ nhận tướng duyên hợp đó là tự ngã.- Như vậy là "Huyễn ngã".

v.v...

Sự chấp mắc về Ngã của chúng sanh rất kiên cố, khó phá vở, chấp nhiều lớp, nên kinh điển lấy Núi Tu Di để so sánh.

Chỉ có tu quán "Vô ngã", mới muội lượt được Ngã chấp, và đến khi chứng quả A la Hán, mới được hoàn toàn hết Ngã Chấp.

 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Phần II:

* Lý Nhân Duyên.

Tổ Long Thọ, ở Trung quán Luận dạy:

Các Pháp nhân duyên sanh,
Ta nói tức là KHÔNG.
Cũng gọi là giả danh,
Cũng là nghĩa trung đạo.

- Chưa từng có một pháp,
Chẳng từ nhân duyên sanh.
Thế nên tất cả pháp,
Không gì chẳng là KHÔNG.


Pháp từ các nhân duyên sanh ta nói tức là KHÔNG. Tại sao? Các duyên đầy đủ, hòa hợp thì vật sanh. Vì vật ấy thuộc các nhân duyên nên không có tự tánh.

Vì các pháp do nhân duyên sanh, nên chúng không có tự Ngã, không tự tại, chúng nương gá nhau mà có, chúng bị vô thường chi phối, chúng không có tự chủ. Nên các Pháp là VÔ NGÃ.

Con người cũng vậy. Là pháp do nhân duyên sanh, nên con người chúng ta không có tự Ngã, không tự tại, chúng ta nương gá 5 Uẩn mà có, nên Uẩn bị vô thường chi phối, chúng ta không có tự chủ. Nên con người chúng ta là VÔ NGÃ.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Phần II:

* Ngũ Ấm Vô Ngã.


Kinh Bát Đại Nhân giác. Phật dạy:

Đệ nhất giác ngộ:

Thế gian vô thường,
Quốc độ nguy thúy.
Tứ đại khổ không,
Ngũ ấm vô ngã.
Sanh diệt biến dị,
Hư ngụy vô chủ.
Tâm thị ác nguyên,
Hình vi tội tẩu.
Như thị quán sát,
Tiệm ly sanh tử.

DỊCH:

Điều thứ nhất phải thường giác ngộ:
Đời vô thường quốc độ bở dòn.
Khổ không tứ đại thon von,
Năm ấm vô ngã có còn chi đâu.
Đổi đời sanh diệt chẳng lâu,
Giả dối không chủ lý mầu khó tin.
Tâm là nguồn ác xuất sanh,
Thân hình rừng tội mà mình chẳng hay.
Người nào quán sát thế này,
Lần hồi sanh tử sớm chầy thoát ra.


Người thế gian chấp thân này là TA (ngã). Nhưng dưới sự quan sát của người đệ tử Phật, thì thấy rõ thân này là sự duyên hợp của 5 ấm: Sắc, thọ, tưởng, hành, thức.

5 Ấm, hoặc 5 Uẩn là các thành tố để cấu tạo thành một con người. Ấm nghĩa là ngăn che. Uẩn nghĩa là chứa nhóm. Trong đó Sắc là thuộc về "Hình" tức là thân, 4 ấm kia thuộc về "Tâm".

Trong mỗi ấm đó lại do nhiều nhân duyên mới thành. Do vậy Phật nói "Ngũ ấm vô ngã".


Sau đây là một câu chuyện rất có ý nghĩa để chứng minh sự Vô ngã của thân người:

Một khách bộ hành lỡ đường vào trọ trong một ngôi nhà bỏ hoang. Ðêm đến, anh ấy thấy một con quỷ tóc xanh, vác một cái thây ma mới chết vào, định xé xác ra ăn. Bỗng một con quỷ khác, tóc đỏ, xô cửa bước vào. Hai con quỷ tranh nhau cái xác chết, con nào cũng nói của mình bắt được trước. Chúng sắp xăn tay áo đánh giết nhau, để giành cái xác. Bỗng chúng nhìn thấy anh chàng bộ hành đang nằm run sợ trong góc phòng; chúng vội vã kéo anh ta ra làm trọng tài, hỏi xem trong hai chúng, ai là kẻ đáng làm chủ cái xác. Anh bộ hành sợ hãi quá, nhưng cứ tình thật nói rằng: cái xác thuộc về con quỷ tóc xanh vì chính anh ta thấy nó mang xác vào trước. Con quỷ tóc xanh được xác, mừng rở cảm ơn rối tít anh bộ hành; nhưng con quỷ tóc đỏ mất miếng mồi ngon, tức giận lôi đầu anh ta ra quyết ăn tươi nuốt sống cho hả giận. Nó đè anh ta xuống, rứt một cánh tay bỏ vào miệng nhai ngấu nghiến...Con quỷ tóc xanh thấy thương tình anh bộ hành và để tỏ lòng tri ân, rứt cánh tay của cái xác chết lắp vào cho anh ta. Con quỷ tóc đỏ lại rứt cánh tay kia của anh bộ hành ăn tiếp; và con quỷ tóc xanh chắp tay của xác chết vào cho anh ta. Cứ như thế, hể con quỷ tóc đỏ rứt một phần nào trong thân thể anh bộ hành để ăn, thì con quỷ tóc xanh lại lấy một phần của thây ma điền vào cho thân anh ta...Sau khi ăn hết cả thân thể của anh bộ hành, con quỷ chùi miệng đầy máu me, rồi bỏ ra đi. Con quỷ tóc xanh cũng đi theo.

Người khách bộ hành bàng hoàng như vừa tỉnh một cơn ác mộng và cứ phân vân tự hỏi: không biết cái thân hiện tại anh đang mang đó là của anh hay của ai ? Trong thân này. Cái gì là TA ?


Ngày nay, với y khoa hiện đại, người ta có thể thay thế từng phần cơ thể của con người, kể cả ngũ tạng. lục phủ v.v... và như thế chúng ta thấy, mỗi phần đều không phải là TA.

Như vậy Ngũ Ấm là Vô Ngã.
 

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Phần II:

* Chấp Ngã là cội gốc sanh tử luân hồi.


Chấp Ngã là chấp 4 tướng ngã, nhơn, chúng sanh và thọ mệnh. Sự chấp này diễn biến từ thô đến tế:

- Chấp nhận cái thân ngũ uẩn này là ta, gọi là Ngã tướng.

- Chấp 5 Ấm của người, khác với mình gọi là Nhân tướng.

- Chấp toàn chúng sanh đều có 5 ấm gọi là Chúng sanh tướng.

- Chấp có thời gian chân thật, nên mạng sống theo thời gian mà có "yểu" "thọ" gọi là Thọ giả tướng.


Kinh Như Lai Viên giác Phật dạy: Này Tịnh Chư Nghiệp Chướng ! Tất cả chúng sanh từ vô thỉ kiếp vì vọng tưởng, khởi chấp nặng sâu về bốn tướng: ngã, nhơn, chúng sanh và thọ mệnh.

Bốn tướng đó, vốn không có cái ngã thể chơn thật. Thế mà chúng sanh điên đảo vọng chấp không rời.

Từ vọng chấp sanh ra ý niệm ghét thương. Từ ghét thương chồng thêm vọng chấp khác. Vọng lại sanh vọng cứ thế mà nhân lên đến đỉnh cao cứu cánh, vọng thành tham, sân, si, mạn, các nghiệp hữu lậu.

Từ đó vọng thấy có luân hồi sanh tử. Người khởi tâm nhàm chán sanh tử lại vọng thấy Niết bàn.

Do vậy, chúng sanh không vào được cảnh giới Viên Giác thanh tịnh.

Không vào được, không phải cảnh giới Viên Giác ngăn cản không cho mà tại chúng sanh đánh mất tiêu chuẩn, cho nên không đủ điều kiện để vào. Vào hay không do người, Viên Giác thanh tịnh không có tướng vào ra.

Nên biết, chúng sanh khởi niệm hay ngưng niệm đều thuộc phạm trù mê muội !

Bởi vì tất cả chúng sanh không có tuệ nhãn để cho vô minh sanh khởi từ vô thỉ làm chủ tề đời mình, cho nên thân tâm trở thành công cụ biểu hiện của vô minh, khó mà trừ diệt, ví như con người, không ai nở tự giết chết mệnh sống của mình.

Vì vậy, nên biết! Có yêu bản ngã thì người ta nuông chìu theo bản ngã. Nếu ai không thuận chìu bèn sanh lòng oán ghét. Lòng yêu ghét lại nuôi lớn vô minh thêm, cho nên tu hành cầu đạo thì nhiều mà ít người thành Phật.

* Ngã tướng là thế nào? Ngã tướng là cái tướng mà chúng sanh cho rằng do công tu hành của mình mà mình được CHỨNG. Ví như người thân thể khỏe mạnh, chợt quên lửng mình, chẳng màng để ý mình là ai. Một hôm trái gió trở trời, lương y đến châm cứu, người bệnh có cảm nhận "ta" đau. Cho rằng mình được CHỨNG là lúc hành giả tỏ lộ "bản ngã" chấp mắc của mình.

Này, Tịnh Chư Nghiệp Chướng ! Khởi tâm cho rằng được CHỨNG là một "ngã tướng". Dù cho "chứng đắc" Vô thượng Bồ đề, Vô thượng Niết bàn cũng đều là một hình thức "ngã tướng" mà thôi.
* Nhơn tướng là thế nào? Nhơn tướng là cái tâm NGỘ, cái tâm nhận thức rằng "ngã tướng" là cái không có thật, không nên chấp mắc "ngã tướng". Tâm tỏ ngộ đó chính là "nhơn tướng". Tâm tỏ ngộ đó, dù ngộ Niết bàn viên mãn cũng là bản chất từ ngã tướng, cho nên gọi đó là "nhơn tướng".
* Chúng sanh tướng là thế nào? Chúng sanh tướng là cái vượt sâu hơn tướng "chứng" và "ngộ" trên. Nhận thức và phán đoán hai tướng "chứng" và "ngộ" đều phát xuất từ bản chất "ngã tướng" chưa đúng chân lý "ưng vô sở trụ". Chúng sanh tướng ở đây, tức là tướng LIỄU, vì tánh chất LIỄU TRI sâu sắc của nó, đối với quá trình CHỨNG, NGỘ.

• Thọ mạng tướng là thế nào? Thọ mạng tướng là cái tâm thanh tịnh sáng soi tĩnh GIÁC. Tâm tĩnh GIÁC nầy sâu thẳm, có khả năng nhận thức cả tánh chất "LIỄU TRI" vi tế thuộc phạm trù "chúng sanh tướng" ở trên. Khả năng nhận thức thẳm sâu đó gọi là GIÁC. Vì vậy, thọ mạng tướng tức là tướng GIÁC vi tế thẳm sâu, ví như mạng căn trong một con người.

Tâm "tĩnh giác" sáng soi dù vi tế cũng vẫn chưa rời trần cấu. Bởi lẻ còn "giác" thì còn có "năng giác" "sở giác" hiển nhiên. Phải học cách tư duy chân lý, như người nhìn cảnh tượng băng tan trong vạc nước sôi. Băng tan hết rồi, không còn gì lưu lại. Nếu còn sót lại ý niệm biết băng tan, ý niệm đó còn lệch lạc chưa viên dung vào thực tướng. Tánh GIÁC để nhận biết CHỨNG, NGỘ, LIỄU là chưa phải chân lý, nhưng tánh Giác đó vẫn chưa hòa tan cùng chân lý. Vì vậy GIÁC là thọ mạng tướng trong tứ tướng. Nó vẫn là pháp chướng ngại khiến cho con người cần khổ tu hành nhiều kiếp mà không được thành Thánh quả. Vì nhận "ngã" là Niết bàn, vì cho rằng có CHỨNG có NGỘ, ví như người nhận giặc làm con, của cải trong nhà sẽ bị mất hết. Bởi vì có ái "ngã" thì cũng ái "Niết bàn", bởi vì Niết bàn do trừ diệt gốc "ái" mà hiển hiện. Ghét "ngã" thì cũng ghét sanh tử. Ghét sanh tử cũng không gọi là giải thoát.

Chúng sanh không biết nguồn gốc sanh tử chính là "ái". Vì vậy, trong quá trình tu tập được thanh tịnh chút ít cho là "chứng đắc". Điều đó nói lên cái chất "ngã tướng" chưa được dứt trừ. Vì thế, cho nên nếu có ai khen thì vui mừng phấn khởi, nếu bị bài báng thì giận dữ hận thù. Dựa trên tâm lý và hành động ấy mà biết rằng "ngã tướng" của người nầy còn tiềm phục trong tàng thức, du hí qua các căn không lúc nào gián đoạn.
 
Chỉnh sửa cuối:

vienquang6

Ban Cố Vấn Chủ Đạo Diễn Đàn - Quyền Admin
Thành viên BQT
Tham gia ngày
6 Tháng 2 2007
Bài viết
6,343
Reaction score
1,692
Điểm
113
Phần II:

* 4 Tướng.
* Sanh diệt diệt dĩ.


Kính ĐH Ba Tuần cùng quý ĐH. Đã hỏi:

Kính thầy vienquang6,

Câu kệ:

Sanh diệt diệt dĩ,
Tịch diệt vi lạc.


Không nên dịch là:

vienquang6 nói:
Diệt ý niệm sanh diệt
Được cái vui tịch diệt.
Tại sao ?

Kinh Pháp Bảo Đàn - phẩm Bát Nhã nói:
Nếu thấy tất cả pháp tâm không nhiễm trước gọi là VÔ NIỆM, dùng thì khắp nơi, cũng chẳng dính mắc ở khắp nơi, hễ sạch được bổn tâm, khiến lục thức ra cửa lục căn, đối với lục trần mà chẳng nhiễm chẳng trước, đi lại tự do, ứng dụng vô ngại tức là BÁT NHÃ TAM MUỘI, tự tại giải thoát, gọi là hạnh VÔ NIỆM.

Chứ chẳng phải như người lầm tưởng cho là trăm điều chẳng nghĩ, chỉ cho niệm tuyệt, ấy là pháp trói buộc, tức là biên kiến.
Kinh Pháp Bảo Đàn - phẩm Định Huệ nói:
Nếu là trăm điều chẳng nghĩ, làm cho niệm tuyệt, một niệm tuyệt liền chết, thọ sanh nơi khác, ấy là cái lỗi lầm lớn, người học đạo nên xét kỹ!
Ngoài ra: "diệt" cái này, được cái "kia"; ấy là pháp sinh diệt, cũng tức là "chư hành vô thường". Cho nên phải biết, cái "tịch diệt vi lạc" này chẳng phải do diệt "sanh diệt" mà sinh ra vậy.

Đến đây, mượn ý nghĩa 4 tướng trong đoạn kinh Viên giác trên. VQ xin trả lời ĐH rằng:

+ Diệt đi ý niệm sanh diệt, có ý là:

Tất cả chúng sanh từ vô thỉ kiếp vì vọng tưởng, khởi chấp nặng sâu về bốn tướng: ngã, nhơn, chúng sanh và thọ mệnh.

Bốn tướng đó, vốn không có cái ngã thể chơn thật. Thế mà chúng sanh điên đảo vọng chấp không rời.

Từ vọng chấp sanh ra ý niệm ghét thương. Từ ghét thương chồng thêm vọng chấp khác. Vọng lại sanh vọng cứ thế mà nhân lên đến đỉnh cao cứu cánh, vọng thành tham, sân, si, mạn, các nghiệp hữu lậu.

Từ đó vọng thấy có luân hồi sanh tử. Người khởi tâm nhàm chán sanh tử lại vọng thấy Niết bàn.(trích kinh Viên giác)

Như vậy chúng sanh chấp lấy "Vọng niệm" mà làm tự ngã. Vọng niệm sau dày nên có 4 tướng và 4 bệnh, - là biểu hiện Ngã Chấp từ thô đến tế, cần phải hoá giải. tức là "Diệt" nó đi, là tịnh hoá nó đi, là xã chấp nó đi... Một khi đã hết vọng, thì không còn thấy sanh tử luân hồi, nên gọi là thoát ly sanh tử luân hồi, là Tịch Diệt vi lạc.

Các tướng sanh diệt đó là:

1. Ngã Tướng.

Người phàm phu nhìn nhận tứ đại sắc thân cho là ta, tham sống sợ chết gọi là Ngã Tướng; Do có Ngã Tướng nên cho là mình có "chứng đắc" các quả vị. Vì vậy cần phải quán chiếu thấu suốt để đưa nó vào Vô Dư Niêt Bàn. Khi Ngã tướng đã suy yếu thì quán tiếp tướng Nhân.

2. Nhân tướng.

Lòng còn thương ghét, ý chẳng bình đẳng gọi là có Nhân Tướng; Do có Nhân tướng, nên cho rằng mình có "Ngộ Đạo". Vì vậy cần phải quán chiếu thấu suốt để đưa nó vào Vô Dư Niêt Bàn. Khi Nhân tướng đã suy yếu thì tiếp tướng Chúng sanh.

3. Chúng Sanh tướng.

Niệm tưởng theo cái lòng muốn của phàm phu nó dẫn dắt chẳng cần giải thoát là có Chúng Sanh Tướng; Do có Chúng Sanh tướng, nên cho rằng mình có "Liễu Đạo".cần phải quán chiếu thấu suốt để đưa nó vào Vô Dư Niêt Bàn. Khi Nhân tướng đã suy yếu thì tiếp tướng Thọ giả.

4. Thọ giả tướng.

chẳng ngộ được cái pháp vô sanh chân không thật tánh, chấp rằng thời gian là thật có. Cho rằng người sống trăm tuổi là Thọ, cho là người chết trẻ là yểu, nhẫn đến chấp rằng mạng người chỉ trong hơi thở cũng đều là chấp thọ giả tướng. Do có Thọ giả tướng, nên cho rằng mình có "Giác".

Người đã nhận ra Viên giác Tánh, thì biết rằng. Thật tướng sanh mạng của con người, không phải là trăm năm, cũng không phải trong hơi thở, mà là niệm niệm tương tục, nó sanh diệt diệt sanh không có lúc dừng nghỉ như "Bộc lưu". Nhưng "Bọc lưu" đó cũng chỉ là ý niệm sanh diệt, là vọng niệm, là như mộng huyễn bào ảnh.Tánh của Viên giác là chưa từng sanh, chưa từng diệt, chưa từng đến, chưa từng đi. Như như bất động.

Đưa mọi ý niệm Chấp 4 tướng vào Viên Giác Diệu Tâm.- Đó là

Sanh diệt diệt dĩ.

Tịch diệt Vi lạc.


Mến
 
Top